Người Xô Viết Đã Chiến Đấu Vì Điều Gì

Lượt đọc: 145 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương VIII: Tiêu thổ

❊ ❊ ❊

Những vùng đất rộng lớn mênh mông, bằng một nửa châu Âu, hàng ngàn thành phố, hàng chục ngàn thôn làng, trong những tháng dài tưởng chừng như nhiều năm, sống trong chờ đợi. Hàng triệu người đã nghe đồn về tình hình trên các mặt trận, đọc những tờ truyền đơn được thả từ máy bay và các tập tin của Phòng Thông tin Liên Xô do quân du kích sao chép nhân bản lên, cố tìm câu trả lời cho câu hỏi chính đang giày vò mỗi người: sắp sửa chưa?

Sự cai trị của Đức Quốc xã sẽ sớm kết thúc?

Hồng quân sắp đến chưa?

Niềm hy vọng được giải phóng đã giúp người ta sống sót. Thoát khỏi bị lùa đi lao động khổ sai, trốn trong rừng khỏi đội quân tiễu phạt, chống chọi với đói khát và bệnh tật, giúp đỡ những người còn trong tình trạng tồi tệ hơn, người ta mơ về một ngày khi nỗi kinh hoàng của ách chiếm đóng sẽ bị bỏ lại phía sau lưng, khi những người lính mệt mỏi, bụi bặm, không quen biết nhưng thật thân thương sẽ hành quân qua những con đường về phía tây, khi tình trạng sống còn đã kết thúc và cuộc sống quay trở lại.

Niềm tin mãnh liệt, cháy bỏng vào ngày giải phóng đã không sai, không thể nào sai được. Ngày 19/11/1942, các đơn vị Soviet, bằng hết sức mình, đã bảo vệ những tàn tích Stalingrad, đã nghe thấy tiếng đại bác gầm rú xa xa. Như thể những loạt sấm từ phía bắc và phía nam vọng tới, những người lính trong đống đổ nát đến tận bờ sông Volga của thành phố một thời huy hoàng đã khóc vì vui sướng khi nghe âm điệu tuyệt vời ấy. Khúc ca Giải phóng đã bắt đầu như thế.

Mặt trận Sông Đông của tướng Rokossovsky[1] và Mặt trận Tây Nam của tướng Vatutin[2], xuyên thủng hàng phòng thủ yếu ớt của quân Đức, đi về phía tây, khép vòng vây xung quanh tập đoàn quân Đức bị chôn chân tại Stalingrad. Mặt trận tại khúc ngoặt của sông Đông đã bị phá vỡ; thành phố Rostov trên sông Đông, một cứ điểm then chốt khép con đường đến Kavkaz, đang bị đe dọa. Nếu quân Liên Xô tiến vào Rostov thì các đơn vị quân Đức tại Kavkaz sẽ bị mắc kẹt và toàn bộ mặt trận phía Nam sẽ sụp đổ.

Thống chế Erich von Manstein, nổi tiếng vì những chiến thắng tại Crimea và các nước Baltic, đã nhanh chóng được gọi đến để cứu vãn tình thế. Được bổ nhiệm làm tổng tư lệnh Tập đoàn quân Sông Đông do chính mình thành lập, ông ta đã trấn giữ Rostov và khôi phục lại mặt trận. Nhưng không thể làm quá sức người: quân đoàn 6 của tướng Friedrich Paulus đã bị đánh tan, bị bao vây tại Stalingrad, và quân Đức phải rút lui khỏi Kavkaz càng nhanh càng tốt.

Kavkaz và Kuban trở thành những tỉnh đầu tiên được giải phóng trong tiến trình cuộc tấn công mùa đông 1942-1943. Mặc dù quân chiếm đóng chỉ ở đây một thời gian ngắn, nhưng sự cai trị của chúng đã được ghi nhớ rất lâu. Tại Mineralnye Vody, sau khi quân Đức rút đi, đã tìm thấy nhiều xác chưa vùi lấp của người lớn và trẻ em trong hố vôi, chưa xác định được đã bị giết bằng cách nào. “Người ta nói rằng rất nhiều cư dân bị quân Đức sát hại. 2.500 người đã bị giết trong rừng Armenia, tại nhà máy thủy tinh và nhiều địa điểm khác gần nơi đấu súng của nhà thơ Lermontov phía sau nhà máy gạch…”. Phóng viên chiến trường Konstantin Simonov đã viết những dòng này trong nhật ký của mình khi đi đến thành phố Pyatigorsk được giải phóng. Một ghi chép mới xuất hiện trong nhật ký:

Tôi đứng trong đám đông, tụ tập tại một cuộc mít tinh tưởng niệm. Những con người kiệt sức, rách rưới. Cuộc mít tinh kéo dài khá lâu. Tại thành phố có nhiều người bị quân Đức bắn và treo cổ, hết người này đến người kia được kể tên trong bài phát biểu này đến bài phát biểu khác. Cuối cùng, một cô bé độ 13 tuổi xuất hiện trong chiếc áo lính với vạt được cắt ngắn. Quân Đức đã treo cổ cha mẹ cô, và cô kể về họ như đang nói đến những người còn sống: mẹ em, ba em.

Tôi không rõ, suy cho cùng, có lẽ không nên để đứa trẻ này nói chuyện tại cuộc mít tinh. Cô bé kể bằng một giọng đều đều, mỏng mảnh và rõ ràng, nghe đáng sợ không chịu nổi. Trước đó đám đông xung quanh tôi đứng im phăng phắc, đến lúc này bắt đầu nhúc nhích và nức nở.[3]

Simonov đã đến thành phố Krasnodar được giải phóng hầu như ngay sau khi quân Đức rút đi. Dấu vết tội ác của quân chiếm đóng vẫn còn hiện diện khắp nơi. Tại các ngã tư đường, người ta gỡ xác của những người bị treo cổ xuống; bên các xác chết những tấm biển từng đeo trên ngực họ còn nằm lăn lóc trên tuyết.

Bên một xác người, tại góc phố Voroshilov và Shaumyan, là tấm biển “Vì tội phao tin đồn thất thiệt”. Người khác, một cậu bé 16 tuổi: “Tội ăn cắp tài sản của quân đội Đức”. Người nữa, một người lớn tuổi, tại góc phố Đỏ gần quảng trường: “Tội kích động chống lại quân đội Đức”.

Một phụ nữ nói về người chết rằng đấy là một bác sĩ quen của cô.

Một xác phụ nữ khác. Trên tấm biển bị xé rách có ghi: “Đã đầu độc hai lính Đức và hai đứa con của chính mình”. Tôi nhìn tấm biển này và nghĩ, có lẽ đúng như đã được viết. Đằng sau những dòng ghi trên tấm biển là tấn thảm kịch mà không ai có thể kể về nó bây giờ.[4]

Khi rút lui khỏi thành phố, quân Đức đã thiêu sống các tù binh bị thương. Trong khi ngôi nhà cháy, đội quân tuần tra đã không cho người dân đến gần; họ chỉ biết nhìn lính Hồng quân bị chết trong lửa mà không thể giúp gì được. Tuy nhiên, phía sau tòa nhà, những người phụ nữ đã phá hàng rào và kéo ra được một số thương binh bị phỏng. “Khi họ bắt đầu kéo thêm người ra”, những người chứng kiến thảm kịch kể lại, “quân Đức biết được và bắn chết hai phụ nữ”.[5]

Có quá nhiều đau thương trong thành phố đến mức thậm chí người ta không còn khóc nổi. Nhưng đối với người dân thành phố Krasnodar và các làng thuộc tinh Kuban được giải phóng, mọi thứ đã ở phía sau. Tại Ostrogozhsk bị chiếm đóng, Maria Kaidannikova, một người dân thành phố, đã thấy bọn lính Hungary lùa một nhóm tù nhân vào tầng hầm của một cửa hàng trên đường Medvedovsky. Chẳng mây chốc tiếng thét đã vọng lên từ đó. Maria thận trọng ngó qua cửa sổ. “Một đống lửa sáng rực. Hai tên người Hungary nắm vai và chân người tù rồi từ từ hơ bụng và chân anh ta trên lửa. Chúng nhấc cao lên rồi lại hạ xuống đống lửa, khi anh ta không còn la thét nữa, chúng ném anh ta úp mặt xuống đống lửa. Đột nhiên người tù lại co giật. Khi đó một gã người Hungary vung tay đâm lưỡi lê vào lưng anh ta”.[6]

* * *

Tổng hành dinh của Hitler tại Đông Phổ được mệnh danh là “Wolfshanze” – “Hang Sói”. Sáng sớm ngày 02/02/1943 hầu cận riêng của Quốc trưởng là Heinz Linge thấy chủ mình rời khỏi boong ke. Vẻ mặt của Quốc trưởng khiến người hầu cận ngạc nhiên: đôi mắt lồi ra, lưng còng xuống, cổ áo khoác dựng lên. Vài giờ sau, trong một cuộc họp với quan chức quân đội, Hitler thấp giọng: “Đêm nay tôi có cảm giác quân Nga sẽ bắt Paulus làm tù binh”.[7] Linh cảm đã lừa dối Quốc trưởng một chút: thực tế là tướng Friedrich Paulus, chỉ huy quân đoàn 6 cùng ban tham mưu bị bao vây gần thành phố Stalingrad đã đầu hàng vào sáng ngày 31/01. Paulus bị bắt đã trải qua toàn bộ cuộc chiến với tư cách là một vị tướng, thậm chí sắp được phong thống chế; quyết định phong chức đã được Quốc trưởng ký vào đêm 31/01. Ngày 02/02 các đơn vị cuối cùng của quân Đức tại Stalingrad đã đầu hàng. Bộ chỉ huy Liên Xô khá ngạc nhiên về số tù binh mà họ bắt giữ.

Đế chế đã tuyên bố quốc tang ba ngày cho quân đoàn 6 đã hy sinh. “Những chiến sĩ dũng cảm quân đội Đức dưới sự chỉ huy của thống chế Paulus đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và tất cả đã hy sinh”, hãng thông tấn Đức đã ra thông báo.[8] Quốc tang được kỷ niệm bằng việc tàn sát hàng loạt tù binh chiến tranh và thường dân. Tại các trại tập trung nằm trên lãnh thổ Đế chế, những con lợn Nga bị bắn, bị lột trần trong đêm giá rét; ở Mặt trận phía Đông, quân Đức đã trả thù những người không có khả năng phòng vệ không kém phần tàn bạo vì sự thất bại của chúng.

Tại thành phố Mariupol ở Ukraina, các bệnh nhân và tù binh bị thương đã bị nhốt trong 18 toa chở hàng đưa đến ngõ cụt Crimea và bỏ lại đó cho chết rét. Để dân chúng khỏi giúp đỡ, chúng vẽ hình đầu lâu xương chéo lên thành toa và viết dòng chữ: “Không đến gần, lây nhiễm”.[9]

Tại làng Efrosimovka ở Kursk, 15 tù binh Hồng quân bị móc mắt, rạch bụng và chặt ngón tay. Nông trang viên 65 tuổi M. A. Golubyatnikova có hai con trai là lính Hồng quân, bị tưới xăng và thiêu sống; ngược lại, bà M. P. Baranovskaya, 70 tuổi, bị lột trần và vùi trong tuyết cho chết rét.[10]

Tại những ngôi làng gần Kursk bắt đầu các vụ bắt giữ hàng loạt. Chúng bắt toàn bộ gia đình những người tình nghi và đưa đến trung tâm huyện Srebnoe. Trường huyện đã trở thành nhà tù nhốt 700 người. “Chúng không cho thức ăn nước uống, không đủ không khí để thở”, một tù nhân nhớ lại. Mọi người bắt đầu gõ cửa sổ. Một phụ nữ đã xin cảnh sát xúc cho một xẻng tuyết qua cửa sổ để cho lũ trẻ uống, và được đáp lại bằng một viên kẹo đồng.

Đêm 23/2 những cánh cửa bật mở và mọi người được lệnh ra ngoài. Những ai gần cửa hơn đã ra ngoài đường. Họ xếp thành ba hàng và được dẫn đến một huyệt đã đào. Có khoảng 90 người trong nhóm này.

Tại đấy, cạnh huyệt họ được lệnh cởi hết quần áo và giày, sau đó mỗi đợt ba người bị dẫn đến gần hố và bị dí súng máy vào người rồi bắn.

Tiếng súng nghe rất rõ ở trường học. Bằng tất cả những gì có thể, người ta chặn hết các cửa và dùng gạch từ các lò sưởi bị vỡ để chống lại đội bảo vệ trong một cuộc chiến không cân sức.

Đầu tiên, lựu đạn được ném qua cửa sổ, đạn bắn từ súng máy và súng liên thanh. Nhưng điều này dường như còn chưa đủ. Chúng tưới xăng rồi châm lửa đốt trường. Ngôi trường bằng gỗ được trát vữa cháy như một ngọn đuốc.

Đó là địa ngục trần gian… Nhiều người lao qua các cửa sổ, nhưng họ bị bắn ngay tại đó, bên cửa sổ là hàng núi xác…[11] Cả thảy 682 người đã bị thủ tiêu tại Srebny, trong đó có cả trẻ đang bú mẹ.

Tuy nhiên, việc trả thù những người không có khả năng phòng vệ không thể ngăn cản được bước tiến công của Hồng quân; tình hình của quân Đức tại mặt trận ngày càng tồi tệ hơn.

* * *

Trong boong ke chắc chắn của “Hang Sói”, Quốc trưởng đang lắng nghe báo cáo của tổng tham mưu trưởng Kurt Zeitler về tình hình ở Mặt trận phía Đông. “Tình hình tại Donets Hạ trở nên căng thẳng hơn. Kursk, Kharkov và Rostov đang bị đe dọa trực tiếp. Tại Kuban tình hình vô cùng nguy cấp. Các lực lượng chính của quân đội ta tại Kuban có nguy cơ bị cắt đứt”. Trên các bản đồ do tổng tham mưu trưởng mang đến thật khó tìm thấy chiến tuyến: khắp nơi đều bị bao vây, các mũi thọc và đột kích của quân Nga. Tốc độ tấn công của Liên Xô thật đáng kinh ngạc:

“Từ Stalingrad đến cứ điểm này khoảng 500 km. Quân Nga lấy đâu ra lực lượng như vậy? Theo tính toán của tôi thì lẽ ra chúng phải kiệt sức từ lâu rồi. Tôi không hiểu điều này”, Quốc trưởng đã bối rối. Rồi ông ta bỗng trở nên giận dữ: “Các ông tướng này! ít ra họ cũng phải cho nổ tung mọi thứ trong khi rút lui chứ! Tôi có cảm giác là họ chạy mà không dám ngoái đầu nhìn lại, để lại cho bọn Nga nhiều thứ còn chưa phá hủy. Tôi yêu cầu mọi thứ phải bị phá hủy và đốt trụi! Từng ngôi nhà!”

Zeitler trấn an Quốc trưởng: tất nhiên là mệnh lệnh phá hủy mọi thứ trên đường rút lui đã được thực hiện.[12]

Quả thật là như vậy. Quân đoàn SS đang trấn giữ Kharkov buộc phải rút lui trước đợt tấn công mãnh liệt của quân Liên Xô. Trong các báo cáo của bộ chỉ huy các đơn vị Liên Xô đều ghi: quân SS thực hiện chính xác lệnh của Hitler. Khi rút lui, các đơn vị SS đã có những hành vi tàn bạo chưa từng thấy đối với thường dân: giết chết đàn ông, người già và trẻ em, cho nổ và phá hủy mọi cơ sở công nghiệp và nhà ở trong thành phố, đốt cháy toàn bộ các ngôi làng”.[13]

Bọn lính Wehrmacht cũng không chịu thua kém quân SS. “Khi rút lui khỏi Kursk”, hạ sĩ Arno Schwager thuộc sư đoàn 9 thiết giáp nhớ lại, “chúng tôi nhận được lệnh phóng hỏa mọi điểm dân cư bỏ lại. Nếu người dân thành phố không chịu rời nhà, thì họ sẽ bị nhốt trong nhà và bị đốt luôn”.[14]

Quân Đức đã cố bắt người dân địa phương cũng như các tù binh đi theo. Nếu không bắt được thì chúng thủ tiêu. Những thông tin này được lưu lại rất nhiều trong các kho lưu trữ. “Khi rút lui khỏi quận Chernyansky, các đơn vị quân Đức-Hungary đã bắt theo 200 tù binh Hồng quân và 160 người yêu nước Soviet bị giam giữ trong trại tập trung. Trên đường đi, bọn man rợ phát xít đã nhốt toàn bộ 360 người này trong tòa nhà trường học, tưới xăng và phóng hỏa. Những ai cố thoát ra đều bị bắn”.[15]

Nhưng không thể nào kìm hãm được bước tiến của Hồng quân. Dưới nguy cơ của một cuộc bao vây mới, ngày 14/2 quân Đức đã rút lui khỏi Rostov; hai ngày sau, các đơn vị Soviet đã tiến vào Kharkov, thủ đô thứ hai của Ukraina.

Một ngày sau khi mất Kharkov, ngày 17/02, Hitler đã chạy như bay vào chỉ huy sở Tập đoàn quân “Nam” của thống chế Maximilian von Weichs tại Zaporozhye. Nhưng ngay khi Quốc trưởng vừa bắt đầu cuộc họp thì viên sĩ quan tùy tùng đã xông vào phòng.

“Xe tăng Nga xuất hiện tại sân bay Zaporozhye! cần phải khẩn trương!”

Trên thực tế, xe tăng của quân đoàn vệ binh số 1 Soviet đã vào cách thành phố 60 km; tuy nhiên, sau đợt tấn công liên tục kéo dài ba tháng của quân Nga, mọi thứ đều có thể xảy ra với quân Đức. Kết thúc nhanh cuộc họp, Hitler lập tức bay đến tổng hành dinh gần Vinnitsa. Ở đó, ông ta bổ nhiệm thiếu tướng Stahel làm tư lệnh khu vực phòng thủ Zaporozhye. Stahel khét tiếng vì sự tàn bạo với người dân địa phương, đó chính là lý do vì sao Quốc trưởng chọn ông ta.

“Bay đến đó ngay lập tức”, Hitler ra lệnh, “ông phải giữ vững Zaporozhye! Đưa hết binh lính vào vị trí! Lùa hết dân Nga, bắt chúng xây dựng công sự cật lực sao cho móng tay của chúng tóe máu ra!”

“Thẩm quyền của tôi là gì?” Thiếu tướng hỏi.

“Toàn quyền!”, Quốc trưởng trả lời. “Bất cứ điều gì ông muốn. Không được phép ủy mị!”[16]

* * *

Chờ đợi thời cơ, thống chế Erich von Manstein, tư lệnh Tập đoàn quân Sông Đông, đã cố ngăn chặn cuộc tấn công của quân Liên Xô bằng một đợt phản công mạnh mẽ. Nhận được các sư đoàn thiết giáp mới, ông ta tung chúng cùng các đơn vị SS theo đường vòng qua Kharkov. Ngày 10/3 thành phố đã bị tấn công từ ba phía. Tương quan lực lượng không đồng đều; chỉ huy quân đoàn 3 thiết giáp đã báo cáo với tư lệnh mặt trận Voronezh.

Tình hình rất nghiêm trọng, thành phố được các lực lượng sư đoàn 19 bộ binh và lữ đoàn 17 NKVD trấn giữ, ngoài ra còn có các đơn vị chưa sẵn sàng chiến đấu, tôi e không giữ nổi. Không có lực lượng dự bị.

Quân địch có thể cắt mọi lối thoát. Đạn dược sắp hết, nhiên liệu không có.

Trong thành phố tôi có hơn 3.000 thương binh. Không thể chuyển đi được.[17]

Ngày 13/3, các đơn vị quân Đức lại tiến vào Kharkov. Nạn nhân đầu tiên của chúng là những thương binh, những người không thể sơ tán được. “3 xe tải lính sư đoàn ‘Adolf Hitler’ đã đến bệnh viện (bệnh viện sơ tán số 1 của quân đoàn 69). Chúng phá cửa khu số 8 và ném lựu đạn vào trong. Khi những thương binh cố chạy trốn, nhảy qua cửa sổ, họ đã bị bắn bằng súng máy. Ngày hôm sau chín lính SS đến, chúng đã đuổi các nhân viên y tế ra ngoài và bắn hết mọi người trong buồng bệnh”. Vợ của một thương binh, đến bệnh viện ngày 15/3, đã tìm thấy “thi thể đẫm máu bị biến dạng của chồng mình giữa các giường bệnh. Đầu anh ấy bị vỡ, một mắt lòi ra ngoài, tay bị gãy, máu vẫn rỉ ra từ vết thương”. Tổng cộng 800 người bị bọn SS sát hại chỉ trong một bệnh viện.[18]

Nhận được báo cáo của Erich von Manstein về việc chiếm được Kharkov, tổng tham mưu trưởng đã cảm thấy nhẹ nhõm khi thừa nhận với thống chế Goering:

“Rất gần đây, tôi nghĩ rằng mình sắp bị lãnh đủ nếu như phải nghe thêm tin xấu”.[19]

Tướng Zeitler sẽ không còn được nếm hương vị chiến thắng nữa. Cuộc tấn công của Erich von Manstein gần Kharkov là đợt cuối cùng mà các nhiệm vụ quyết định được đặt ra. Nhưng vô ích, tuy Manstein đã chiếm được Kharkov, nhưng không thể tiến sâu thêm nữa, phải dừng quân trên sông Bắc Donets. Sau mùa xuân 1943 mọi hy vọng chiến thắng quân Liên Xô của Bộ tư lệnh Đức đã không còn. Một cơ hội nhỏ nhoi là không tiếp tục thất bại nữa cũng biến mất.

* * *

Vài tháng sau, quân Liên Xô sau khi đẩy lùi cuộc tấn công của quân Đức vào Kursk, đã tiến vào Oryol. Niềm vui mà người dân thành phố đón chào đoàn quân giải phóng lớn lao và chân thật đến mức có thể ghi nhớ suốt đời.

“Tôi đã vào Oryol sáng ngày 05/8,” tướng Sobennikov, chỉ huy tương lai của thành phố, đã nói với các phóng viên. “Hãy hình dung một bức tranh: bừng sáng, xung quanh những ngôi nhà vẫn đang cháy, súng và xe tăng của quân ta tiến vào thành phố – phủ đầy hoa, từ loa phóng thanh vang vọng âm thanh “Cuộc Chiến tranh thần thánh”, các bà già và trẻ em chạy giữa những người lính, dúi hoa vào tay họ, hôn họ. Ở một số nơi vẫn tiếp tục giao chiến. Tôi nhớ một bà lão. Bà đứng ở góc phố Pushkinskaya và làm dấu thánh, khuôn mặt nhăn nheo đầm đìa nước mắt. Một phụ nữ đứng tuổi khác, có học, thể hiện qua cuộc trò chuyện, chạy đến bên tôi, đưa hoa ra và ôm cổ tôi, nói, nói, và nói không ngớt lời. Do xung quanh quá ồn ào, tôi không nghe được bà nói gì, tôi chỉ hiểu bà đang nói về con trai mình, một chiến sĩ Hồng quân”.[20]

Tất cả cư dân thành phố đều ra đường: hoa, nụ cười, mắt ướt đẫm vì hạnh phúc. Mặt trái của niềm vui là nỗi buồn – khi rút lui, quân Đức gần như phá hủy thành phố. “Con đường đầu tiên tiếp theo tuyến đường sắt khiến ta sững sờ vì số lượng lớn những ngôi nhà bị đốt cháy và nổ tung”, L. F. Raikhman, Cục phó Cục 2 của KGB, đã ghi trong nhật ký tối hôm ấy. “Hầu như mọi con đường đều là những đống đổ nát. Thậm chí điều này đã không xảy ra ở Kursk, nơi quân Đức đã đặc biệt thẳng tay phá hủy mọi thứ trước khi rút đi… Quân Đức đã lấy đi mọi thứ, kể cả đồ đạc từ một số tòa nhà cơ quan. Điều đặc trưng là tại những ngôi nhà bị chúng làm nổ tung trước khi rút đi, các tay nắm cửa, chốt cửa và các thiết bị kim loại khác đều bị gỡ bỏ”.[21]

Nhưng Đức Quốc xã không thể che đậy hết dấu vết tội ác của chúng. Trong số 114.000 cư dân của Oryol, đến thời điểm giải phóng, chỉ còn 30.000 người; phần còn lại đã bị sát hại, bị bắt sang Đức, bị chết đói.[22] Mỗi người dân thành phố sống sót đều có thể kể không dứt lời về tội ác của bọn chiếm đóng, và những câu chuyện này có thể khiến máu đồng lạnh trong huyết quản kể cả những người đã biết nhiều thông tin.

“Một năm rưỡi qua, tôi đã đọc kỹ hàng ngàn báo cáo từ các khu vực được giải phóng về sự tàn bạo do quân Đức gây ra, nhưng những câu chuyện của người sống còn rõ hơn bất cứ báo cáo nào”, Raikhman đã viết. “Sự chuyên quyền khủng khiếp đã ngự trị tại các ngôi làng. Người chỉ huy có thể bắn bất cứ ai, theo ý mình, bất cứ lúc nào… Một phụ nữ đứng tuổi đã chỉ cho tôi một bà cụ 80 tuổi bị quân Đức hãm hiếp và kể tôi nghe một loạt chi tiết vô cùng khủng khiếp”.[23]

Ngoài những câu chuyện của các nhân chứng, còn có những bằng chứng khác không thể phủ nhận: rất nhiều mồ chôn tập thể trong đó là những nạn nhân của bọn chiếm đóng. Nơi xử bắn hàng loạt người Do Thái, tù binh chiến tranh, công dân bình thường không khó để tìm thấy.

“Hôm nay, giáo sư Burdenko bắt đầu khai quật những con mương này. Buổi trưa, khi tôi đến đó, người ta đã đào đến thi thể người chết. Một con mương dài tới 20 m (có cả thảy 5-6 con mương như vậy phía sau nhà tù) đã được đào khá sâu, bên dưới đầy xác chết. Thật khó xác định số lượng chính xác, nhưng chúng rất nhiều”, Raikhman đã ghi lại, cố giữ đúng giọng điệu biên bản. Sau đó, viên thanh tra Chekist đã không kiềm chế nổi và mô tả theo ấn tượng riêng của mình: “…Nói chung, một cảnh tượng vô cùng khủng khiếp. Một đống xác đàn ông, phụ nữ, trẻ em nằm lộn xộn trong hố. Trên một số khuôn mặt chưa bị phân hủy hoàn toàn còn thấy dấu vết của sự đau đớn khủng khiếp mà những người này phải chịu trước khi bị bắn”.[24]

Mọi người đều hiểu rằng những tội ác như thế không thể không bị trừng phạt. Liên Xô đã không đáp trả các vụ thảm sát của Đức Quốc xã bằng cách thủ tiêu tù binh chiến tranh và thường dân Đức. Sự trả thù đã bị từ chối nhân danh công lý; mùa đông năm 1943, phiên tòa đầu tiên xét xử tội phạm chiến tranh đã diễn ra tại thành phố Kharkov được giải phóng. Các sĩ quan Wehrmacht và SS, cũng như bọn phản bội, hợp tác với địch người địa phương, đã ra trước vành móng ngựa chỉ toàn là bọn cò con; số nạn nhân chết dưới tay chúng chỉ cỡ hàng trăm, chứ chưa tới hàng ngàn hay hàng chục ngàn. Nhưng dù sao chăng nữa, sự khởi đầu đã được tiến hành.

“…Có cảm giác như chúng tôi đã nắm bắt được đúng đầu mối của sự việc vô cùng khủng khiếp vẫn đang ở đâu đó, đằng sau cánh cửa còn đóng sập lại trước mặt chúng tôi”, một nhà báo được giao nhiệm vụ trong chuyến hành trình nhớ lại. “Chúng tôi kéo đầu mối này, nhưng không thể kéo nó ra được! Ngay sau đó, đi vào ký ức của tôi là những gì tôi tận mắt chứng kiến – Majdanek và Auschwitz – và những gì tôi đã đọc và nghe nói – những tập hồ sơ của phiên tòa Nürnberg, hàng chục cuốn sách, hàng nhiều ngàn thước phim được các nhà quay phim ghi lại ở hầu hết các địa điểm chính xảy ra những vụ giết người hàng loạt – tại Nga, Ukraina, Belarus, các nước Baltic, Ba Lan. Những lò thiêu, mương xói, hộp sọ, xương cốt, mai táng, khai quật…

Nhưng khi đó tại Kharkov mới chỉ có một mẩu cụt ngủn của tất cả những thứ được tiết lộ sau đó: không phải Hitler, không phải Himmler, cũng không phải Kaltenbrunner, mà là một đại úy Wilhelm Langheld nào đó, số người chết dưới tay y không phải hàng triệu, mà chỉ vài ngàn người, và một thiếu úy SS Hans Ritz nào đó, không nhớ chính xác bao nhiêu người đã bị giết ở Taganrog theo lệnh của y – 200 hay 300 gì đó. Đã cố gắng trả lời trung thực các câu hỏi nhưng rốt cuộc vẫn không nhớ 200 hay 300 gì đó. Và câu nói đùa của một kẻ còn chưa bị bắt với một trong những người đã bị bắt trên đống xác người trong khe núi: “Đây là những hành khách của buồng hơi ngạt ngày hôm qua”. Những nếp nhăn trên trán, những ngón tay xòe ra ngơ ngác của một người thật thà cố ngồi nhớ lại cụ thể ai đã bị y giết chết: “Không, tôi không nhớ những cái tên Nga ấy”. Và sự tôn trọng đối với kỹ thuật hơi ngạt có trong tay: “Tôi cho rằng việc hành quyết ấy là nhân đạo”. Và việc xử bắn một lúc 450 bệnh nhân tâm thần, và một tiếng kêu từ đó, từ đám người bị bắn: “Bọn điên kia, các người làm gì thế!”…

Sau đó, vào những năm 1944 và 1945, chúng tôi đã có nhiều khám phá khủng khiếp đến mức đôi khi đờ đẫn cả người vì thói quen đáng sợ của những điều khó tin.

…Tôi đã hết sức khó khăn khi viết thư về trong suốt hành trình, không thể diễn tả được những gì tôi cảm thấy, không thể tìm được lời và nói chung là không muốn nói, không viết thư, không ghi nhật ký – không muốn làm gì”.[25]

…Khi các phóng viên của các tờ báo trung ương được cử đến đi qua hành trình Kharkov, lần đầu tiên họ được chứng kiến vùng đất bị chiếm đóng. Konstantin Simonov đã sửng sốt khi viết trong hồi ký của mình:

Ngay sau Tula là vùng đất kéo dài đến tận Kharkov, nơi quân Đức đã đặt chân, – những thành phố bị thiêu rụi, những nhà ga bị đập tan tành, những trạm bơm nước bị nổ tung, những bộ khung xương của các toa tàu cháy sém bị ném xuống từ đường ray, những cột trụ bị nhổ tung, những đường ray bị xoắn vặn vì nổ mìn, những đường ống bị đứt khúc từ nhà máy, từ những ngôi nhà bị cháy.

Tất cả những điều này tôi đã thấy quá nhiều trước đây, nhưng bây giờ mọi thứ lại diễn ra liên tiếp, không hể gián đoạn, trong khi chúng tôi đi qua và dừng chân khá lâu tại các nhà ga và trạm dừng. Cảm giác dường như trên con đường dài đến Kharkov, mọi thứ xuất hiện hai bên đường là một cuộc diễu hành ảm đạm vô tận của nỗi đau và sự hủy hoại chưa từng thấy. Tôi đã đi qua tất cả những thứ này, và một nơi nào đó tận đáy tâm hổn tôi còn đọng lại sự căm hận nặng nể với quân Đức. Cảm giác ấy, dường như văn còn mãi về sau, cho đến chết. Sau đó tại Kharkov, vào buổi sáng đầu tiên khi chúng tôi gặp nhau trong một khách sạn, nhớ về con đường này, Tolstoy cũng nói rằng anh có cảm giác như bị đẩy qua một hàng người, bị đánh không đến mức bật máu, nhưng đau thấu thịt thấu xương, và bị chửi rủa những lời nặng nề u ám. Và tôi hiểu ra rằng không chỉ mình tôi, mà cả những người khác cũng đã đi qua và trải nghiệm điều y hệt như tôi.[26]

Cả Simonov lẫn Alexey Tolstoy đều không biết rằng Đức Quốc xã chưa kịp thực hiện triệt để chiến thuật ‘tiêu thổ’ trên các vùng đất mà chúng đi qua. Đấy mới chỉ là những sự phá hủy thông thường do ách chiếm đóng và chiến tranh gây ra; chính sách ‘tiêu thổ’ mà những người lính Hồng quân sớm phải nhìn thấy còn khủng khiếp hơn nhiều.

…Thời kỳ ngẫu hứng đã kết thúc; từ lúc ấy chiến thuật “tiêu thổ” được các binh đoàn Wehrmacht đang rút lui thực hiện với sự chính xác và tỉ mỉ vốn có của người Đức. Những thành phố bị phá hủy, làng mạc bị đốt cháy, dân chúng bị bắt theo hoặc bị thủ tiêu. Các biện pháp do quân đội thực hiện có quy mô lớn đến mức thậm chí sau chiến tranh các tướng lĩnh Đức cũng không thể yên ổn với ký ức của họ. Họ phải nói dối một cách trơ tráo. Trong hồi ký của thống chế Erich von Manstein, người mà quân của ông ta vào thời gian ấy rút lui khỏi tả ngạn Ukraina, toàn là dối trá chất chồng dối trá.

Trong khu vực trước Dniepr 20-30 km, mọi thứ đều bị phá hủy, hoặc đưa về hậu phương, tất cả những gì có thể giúp quân địch lập tức tiếp tục tấn công trên mặt trận rộng lớn bên kia sông, nghĩa là mọi thứ có thể xuất hiện để địch tập trung lực lượng trước vị trí trú ẩn của ta tại Dniepr hoặc một điểm đóng quân, và tất cả những gì có thể tạo điều kiện cho việc cung cấp của địch, đặc biệt là cung cấp lương thực cho quân địch.

Đồng thời, theo mệnh lệnh dặc biệt từ ban tham mưu kinh tế của Goering, phải chuyển đi từ khu vực ta rút quân những tài nguyên, tài sản và máy móc sản xuất có thể được sử dụng cho sản xuất quân sự. Tuy nhiên, biện pháp này do tập đoàn quân thực hiện chỉ liên quan đến khí tài quân sự, kim loại màu, ngũ cốc và cây công nghiệp, cũng như ngựa và gia súc. Tất nhiên, không thể có chuyện “cướp bóc” tại những khu vực này. Trong quân đội Đức – ngược lại với các quân đội khác – hành vi cướp bóc không được phép. Việc kiểm soát nghiêm ngặt được thiết lập để loại trừ khả năng chuyển về bất kỳ hàng hóa bất hợp pháp nào. Nhân đây, tài sản hoặc tài nguyên mà quân ta chuyển đi từ các nhà máy, kho tàng, nông trường, v.v. là tài sản nhà nước, không phải của tư nhân.

Vì quân Soviet tại các khu vực chúng chiếm lại của ta ngay lập tức sẽ huy động tất cả đàn ông dưới 60 tuổi có khả năng phục vụ trong quân đội và sử dụng toàn bộ dân chúng, không ngoại lệ, ngay cả trong khu vực chiến đấu, cho công tác quân sự, Bộ Tổng tư lệnh quân đội Đức đã ra lệnh chuyển qua Dniepr toàn bộ dân địa phương. Trong thực tế, biện pháp cưỡng chế này đã được mở rộng; tuy nhiên, chỉ những người còn độ tuổi nghĩa vụ quân sự sẽ được động viên ngay lập tức. Nhưng một phần đáng kể dân chúng đã tự nguyện đi theo các đơn vị rút quân của ta để trốn thoát quân Liên Xô mà họ lo sợ. Hình thành các cột danh sách dài, mà sau này chúng ta có dịp thấy tại Đông Đức. Quân đội đã tiến hành mọi hỗ trợ cần thiết cho họ. Họ không bị “bắt đi” mà được chuyển đến các khu vực phía tây Dniepr, nơi bộ tham mưu Đức đảm trách việc bố trí chỗ ở và cung cấp lương thực. Người dân chạy trốn có quyền mang theo ngựa và gia súc, tất cả những gì có thể mang theo. Trong phạm vi khả năng chúng tôi còn cung cấp phương tiện vận chuyền cho người dân. Không thể bác bỏ việc chiến tranh đem lại nhiều đau khổ và mất mát không thể tránh khỏi. Nhưng không thể so sánh với những gì dân chúng tại Đức phải hứng chịu từ các vụ đánh bom khủng bố, cũng như với những gì sau đó đã diễn ra ở miền Đông nước Đức. Trong mọi trường hợp, tất cả những biện pháp do phía Đức thực hiện đều có thể được giải thích là nhu cầu quân sự.[27]

Trong thực tế, bộ tham mưu Tập đoàn quân Sông Đông từ hồi tháng 01/1943 đã ra lệnh chuẩn bị phá hủy hoàn toàn mọi cơ sở kinh tế và chuyển ngay về hậu phương toàn bộ gia súc. Hai tháng sau, bộ tham mưu quân đoàn 6 được giao nhiệm vụ thi hành lệnh này đã báo cáo: đặc biệt lưu ý đến việc áp dụng rộng rãi các biện pháp thủ tiêu hoàn toàn, trong đó toàn bộ các xí nghiệp công nghiệp cũng như nông nghiệp và thủ công đều bị phá hủy. Tất cả các kho lớn, dự trữ ngũ cốc và các thực phẩm khác không thể bàn giao cho quân đội, đều bị phá hủy. Thậm chí các nhà máy xay xát công suất nhỏ nhất và các kho ngũ cốc nhỏ đều bị đặt thuốc nổ hoặc thiêu hủy. “Nói chung”, bộ tham mưu quân đoàn 6 đã báo cáo với tinh thần hoàn thành nghĩa vụ, “có thể nói rằng không có gì còn lại mà không bị phá hủy”.

Tiếp theo, những binh đoàn dưới quyền Manstein đều hành động theo tinh thần đó. “Nếu trong khi rút lui, quân đội bắt gặp gia súc trên đường mà không thể đưa về hậu phương, thì phải bắn chết chủng.

Những khu dân cư và nơi trú ngụ không thể phá hủy được thì phải dùng lửa đốt”, thống chế đã ra lệnh.[28]

Những lời của Erich von Manstein về việc “không có sự cướp bóc nào” nghe chừng như một sự nhạo báng cay độc. Theo số liệu của trưởng phòng nông nghiệp ủy ban chính quyền chiếm đóng[29] “Ukraina” Helmut Kerner, hơn một triệu đầu trâu bò đã bị tịch thu. Khoảng 3.000 đoàn tàu hỏa với các thiết bị nhà máy, máy móc và nông sản đã được chở từ Donbass và các tỉnh miền Đông khác của Ukraina sang Đức.[30]

Ngoài bộ tư lệnh tập đoàn quân, việc này còn do tướng Otto Stapf, chỉ huy bộ tham mưu kinh tế”Ost” thực hiện. Lực lượng SS đã giúp đỡ ông ta. Himmler đã chỉ đạo cho người đứng đầu SS và cảnh sát Ukraina: “Tướng lục quân Stapf sẽ có những chỉ dẫn đặc biệt liên quan đến tỉnh Donetsk. Hãy lập tức liên lạc với ông ấy. Tôi giao cho các anh nhiệm vụ hỗ trợ ông ấy bằng mọi nỗ lực. Cần phải đạt mục tiêu khi rồi khỏi các khu vực Ukraina, sẽ không còn một người nào, không một đầu gia súc nào, không một tạ hạt nào, không một đoạn đường sắt nào; sẽ không còn nguyên vẹn một ngôi nhà nào, một hầm mỏ nào mà không phải mất nhiều năm để xây dựng lại; sẽ không còn một giếng nước nào không bị nhiễm bẩn. Kẻ địch sẽ phải thấy một đất nước thật sự bị đốt cháy và hủy hoại hoàn toàn. Hãy thảo luận ngay những vấn đề này với Stapf và hãy làm mọi thứ trong khả năng của mình để thực hiện điều này…”.[31]

Hợp lực cùng nhau, quân SS, Stapf và Manstein đã đạt được những thành công đáng kể. Quân Liên Xô tiến lên giữa đống đổ nát, xác người và gia súc. “Rất nhiều những con bò bị giết bên lề đường”, một sĩ quan Soviet ghi trong nhật ký. “Quân Đức không thể bắt chúng theo nên đã bắn chúng. Những người phụ nữ ngồi xổm gần xác vài con bò chết và cất giọng nguyền rủa quân Đức ghê gớm”.[32]

Liên quan đến người dân địa phương, bọn chiếm đóng đã đưa họ đi theo. “Tôi muốn nói và nghĩ rằng với những ai mà tôi nói điều này đều hiểu rằng chúng ta phải tiến hành chiến tranh và chiến dịch của chúng ta với ý tưởng tốt nhất là làm thế nào tước đi nguồn nhân lực của người Nga, dù sống hay chết”, Himmler đã chỉ thị không bao lâu trước khi rút lui. “Chúng ta làm điều này khi chúng ta giết hoặc bắt chúng và buộc chúng phải làm việc thật sự, khi chúng ta cố làm chủ khu vực chiếm đóng và khi chúng ta để lại cho địch lãnh thổ không có người. Hoặc là họ phải bị bắt sang Đức và trở thành sức lao động, hoặc là bị chết trong trận chiến. Còn nếu để lại người cho quân thù thì chúng lại có lực lượng lao động và quân sự, nói chung là tuyệt đối sai lầm. Điều này không được cho phép xảy ra.

Và nếu đường lối hủy diệt con người này liên tục được thực hiện trong chiến tranh, thì tôi tin chắc rằng khi đó người Nga sẽ tiêu hao sức lực và mất máu trong năm nay cũng như mùa đông tới”.[33]

Chính hành động bắt người đi theo này mà Erich von Manstein cố trình bày như một cuộc “di tản tự nguyện”. Chiến dịch dồn dân được thực hiện như sau: các tiểu đoàn cảnh sát và đơn vị Wehrmacht lập sổ đăng ký dân cư sơ tán, rồi sau đó, khi đã thu thập khoảng 1.000 người trong các cột, chúng đã đưa dân đến nơi được gọi là các trại tiếp đón. “Được giả định trong mỗi cột sẽ có khoảng 50% người có khả năng lao động. Trẻ em từ 10 tuổi trở lên được coi là người lao động”.[34] Mệnh lệnh được trích dẫn là của thống chế Georg von Kũhler, tư lệnh Tập đoàn quân “Bắc”; tuy nhiên, không ngờ gì, Erich von Manstein cũng đã hành động giống như đồng sự của mình. Đồng thời, theo các hồ sơ của bộ tham mưu quân đoàn 6, chúng không phát thức ăn cho phụ nữ, trẻ em, người già bị bắt theo, để họ qua đêm ngoài trời – tóm lại, đối xử với họ bằng cách thức tương tự như để hủy diệt tù binh Hồng quân vào năm 1941.[35]

Và đây là những gì quân Liên Xô đã thấy khi tiến lên theo sau các đơn vị của Erich von Manstein:

Đêm hôm 13, chúng tôi chiếm lại ngôi làng và đến sáng mới thấy những gì chúng đã làm ở đó: bắn chết thường dân, thiêu sống những người bị thương, những ngôi nhà đẩy xác trẻ em, người già.[36]

Điều này gợi nhớ đến những bức tranh địa ngục, bất ngờ tái hiện trên mặt đất. Nơi đó từng là làng hoa, giờ đây chỉ còn lại tro tàn, tàn tích với những xác dân lành vô tội.

Về chuyện ở đây đã từng có một ngôi làng, điều này chỉ được nhắc nhở bằng những bếp lò, đứng sững như những đài tưởng niệm trên nấm mộ là những ụ của đống gỗ cháy dở – những bếp lò lớn làm bằng đất sét đã gần hỏng hết và còn ám khói với miệng lò toang hoác và hốc lò vuông vức… Quanh bếp lò ngổn ngang những chiếc giường sắt tự chế quằn quại trong lửa cháy với những đầu giường chạm trổ cong oằn. Những chậu gang và chậu đất lớn nhỏ nằm bừa bộn đó đây. Ở hai bên và phía trước của bếp lò, qua muội than có thể thấy những hình vê ngây thơ và ngộ nghĩnh được nguệch ngoạc bằng bút mực hóa học: “Những giỏ hoa hướng dương”, “Anh bạn trẻ với cô gái của mình”, “Những chú mèo con với quả bóng”, “Những chú gà chọi”, “Bụi cải cần với những chú gà con”… Chúng tôi từ từ di chuyển dọc con đường.

Ở giữa làng, như bất cứ ngôi làng nào, một cần gàu đứng đó với chiếc xô bằng gỗ trống rỗng treo trên cao. Chúng tôi vội đến chỗ giếng với hy vọng kiếm được ngụm nước tươi mát… Chúng tôi hạ thùng gỗ xuống. Thùng đập vào thứ gì đó không sao hiểu được, nhưng không phải là mặt nước, như thể cái giếng đã khô cạn. Chúng tôi kéo thùng lên và thấy máu trên đó… Mọi thứ đều rõ ràng, quân Đức đã ném xác người xuống giếng…

Cách giếng nước không xa lại thấy xác của những phụ nữ hoàn toàn trần truồng, thậm chí cả xác những cô gái nhỏ. Chúng tôi cởi áo choàng ra phủ lên họ rồi đi tiếp, hoàn toàn chán nản…

Trong một bếp lò tôi thấy một con mèo lớn, lông màu xám và hơi cháy sém. Nó nằm sấp trong tư thế cổ điển, đặt chân xuống dưới thân mình và cái đuôi xù bên cạnh. Cái nhìn buồn bã của nó hoàn toàn thờ ơ với cả thế giới xung quanh.

Con mèo không mảy may chú ý đến tôi và cũng không định trốn. Tôi đâm ra ngờ ngợ: “Nó còn sống hay không?” Đột nhiên tôi thấy nước mắt chảy ra từ đôi mắt nó. Nghĩa là còn sống… Tôi rất muốn vuốt ve con mèo này, nhưng không dám, vì thấy mình không xứng đáng với nó…

Ở cuối đống tro tàn, chúng tôi thấy một bóng phụ nữ tựa như bóng ma, đột nhiên xuất hiện trong làn khói rồi biến mất. Rõ ràng, cô ấy đã đợi chúng tôi ở đây từ lâu trên lề đường. Chúng tôi tiến đến gần và dừng lại… Người phụ nữ, mặc dù vô cùng kiệt sức, nhưng vẫn đứng thẳng. Mái tóc dợn sóng, dày, có màu xám tro của cô dài đến thắt lưng, cho thấy cô ấy vẫn còn trẻ. Đầu và mặt cô như phù một lớp da giấy trải dài trên hộp sọ. Mũi khoằm nhọn và mỏng, đôi mắt trũng sâu, cánh tay xương xẩu buông thõng xuống hết sức lực, đôi chân mảnh mai gợi lên ý nghĩ trước mặt là một người bước ra gặp ta từ thế giới bên kia. Chúng tôi e ngại hỏi cô về bất cứ điều gì vì trong cô có vẻ như không còn mấy hơi ấm của cuộc sống. Một người lính đứng tuổi vẫn còn nước rót vào ly và đưa cho cô. Cô cầm cái ly nhỏ bằng những ngón tay mỏng manh và run rẩy rồi chậm rãi uống nước với sự thích thú. Sau đó, cô trả lại chiếc ly rỗng, nói từng lời: ‘Cám ơn, nhưng các anh đến muộn’. Nói xong, cô ngã vào người lính đứng gần cô nhất. Đầu cô rũ ra sau với đôi mắt vẫn mở và hai cánh tay thõng xuống như hai tay áo rỗng. Chúng tôi biết rằng cô ấy đã chết…

Cuối cùng, chúng tôi đã ra ngoài rìa làng và nghĩ rằng mọi thứ đều ở phía sau. Nhưng ở đây chúng tôi mới thấy điều khủng khiếp nhất. Họ – tất cả dân làng từ lớn đến nhỏ đều nằm la liệt bên đường. Những người lính bộ binh đều nhấc mũ ra, từ từ di chuyển qua vài trăm xác phụ nữ, người già, trẻ em bị bắn. Chúng tôi cảm thấy nặng nề và xấu hổ. Tôi khóc nấc lên, nghẹn ngào vì giận dữ và phẫn nộ.[37]

Vì sự giận dữ ấy, vì lòng căm thù kẻ giết người, vào đầu tháng 10/1943 quân Liên Xô đã lập tức vượt qua sông Dnieper, được bộ chỉ huy quân Đức tuyên bố là “tuyến phòng thủ mùa đông”. Sau đó, các sĩ quan Đức bị bắt làm tù binh đã phàn nàn: người Nga đã vượt sông “không theo quy luật”. Trên những chiếc bè được kết từ thùng, trên những thuyền đánh cá, trên những súc gỗ, trên những cánh cổng nhà, lính Liên Xô bơi qua một sông rộng; và khi quân Đức tỉnh lại thì các đơn vị tiên phong đã đứng vững trên hữu ngạn. Thành phố Kiev xinh đẹp, thủ phủ của Ukraina đang đón chờ đoàn quân giải phóng.

…Thống chế Erich von Manstein khi kết thúc chiến tranh bị người Anh bắt giữ. Tòa án quân sự kết án ông ta 18 năm tù – ít đến mức không chấp nhận được, nếu so với số thường dân bị thủ tiêu theo chỉ đạo của thống chế. Nhưng thậm chí Erich von Manstein cũng không phải thụ án đầy đủ; sau hai năm rưỡi ông ta được thả vì “lý do sức khỏe”. Được tự do, Erich von Manstein ngay lập tức phục hồi sức khỏe tốt và sống thêm 21 năm nữa. Khi các đồng minh phương Tây thành lập Cộng hòa Liên bang Đức, một trong những nhà tư vấn cho việc thành lập quân đội Tây Đức mới (Bundeswehr) – lại là cựu thống chế của Hitler. Rốt cuộc, ông không chỉ là một đao phủ, mà còn là nhà lãnh đạo quân sự giỏi nhất của Đức trong Thế chiến thứ hai.[38]

* * *

Đầu mùa thu năm 1943, làn khói đen bốc mùi thịt người còn lơ lửng trên thành phố Kiev vẫn còn bị quân Đức chiếm đóng. Tại Babi Yar, nơi hàng trăm ngàn công dân Soviet đã bị sát hại, những thi thể bị đốt cháy trên những đống lửa. Lính SS đã phi tang dấu vết tội ác của chúng. Năm 1941, đại tá SS Paul Blobel đã ra lệnh cho lính thực hiện vụ giết hại người Do Thái Kiev. Hai năm sau hắn lại xuất hiện tại thành phố – lần này là chỉ huy trưởng của Sonderkommando 1005. Thống chế SS đã nhìn xa trông rộng hơn các tướng Wehrmacht, dùng phụ nữ và trẻ em bị giết để chặn đường rút lui. Himmler không muốn mọi người biết những tội ác do SS thực hiện; để phi tang dấu vết, y lập ra Sonderkommando Blobel. “Blobel có nhiệm vụ tìm kiếm tất cả các hố chôn tập thể ở Mặt trận phía Đông, tổ chức việc moi thi thể lên, đốt xác và phi tang dấu vết”, trung tá SS Adolf Eichmann nhớ lại. “Với mục tiêu này, ông ta chuyển đến trước mặt trận đang rút lui dần về phía tây, và thực hiện nhiệm vụ của mình”.[39]

Có khoảng nửa tá lính SS ở Sonderkommando 1005, chúng chỉ giám sát công việc. Những tù nhân của các trại tập trung đều phải thực hiện mọi công việc bần thỉu, bọn cảnh sát phụ trợ địa phương canh gác họ. Sau khi hoàn thành công việc, cảnh sát bắn chết tù nhân; sau đó, lính SS cũng thủ tiêu chính bọn cảnh sát.[40]

* * *

Smolensk, pháo đài cổ từng bảo vệ đất nước khỏi các cuộc xâm lăng từ phía tây đã được giải phóng ngày 25/10/1943. Đó chỉ là một trong hàng trăm thành phố được giải phóng trong cuộc tấn công mùa hè. Bộ máy tuyên truyền Đức đã tuyên bố rằng quân Nga chỉ có thể chiến đấu giữa mùa đông tuyết trắng và băng giá. Sao chứ! Rõ ràng Hồng quân đã thể hiện điều ngược lại.

Nhưng gần Smolensk và cả các thành phố khác được giải phóng khác, quân đội Liên Xô đều thấy duy nhất một bức tranh.

Chúng tôi đi qua một thế giới bị biến dạng, bị nổ tung, bị đốt cháy, qua vùng đất bị biến dạng vì các vụ nổ mìn, qua những cánh đồng lỗ chỗ như bệnh đậu mùa, những hố bom chẳng ra hình thù gì, qua những con đường mà quân Đức khi rút lui đã cắt thành từng mành như thân người, đã cho nổ tung những cây cầu.

Những vùng đất Smolensk trở thành hoang mạc. Thật hiếm hoi mới bắt gặp một bà già lưng còng trên con đường, kéo lê chiếc xe trượt tuyết, hai tay nài đặt trên đó với một chiếc nắp ấm samovar thò ra. Chúng tôi đi qua hết làng này đến làng khác, và những ai còn sống sót đứng giữa những ngôi nhà trống rỗng của họ, trên đống đổ nát của ngôi nhà họ.[41]

Những động cơ mà quân Đức khi rút lui đã để lại phía sau chúng vùng đất bị tàn phá và thiêu rụi được một hạ sĩ quan giấu tên của Wehrmacht nêu rất rõ. “Nếu chúng tôi di chuyển đến biên giới”, anh ta đã ghi trong nhật ký, “thì người Nga từ Volga đến biên giới Đức sẽ không còn một thành phố nào, một ngôi làng nào. Và có lẽ họ sẽ không chịu nổi điều đó. Phải, “chiến tranh toàn diện” ở mức độ hoàn hảo cao nhất đang ngự trị ở đây. Những gì đang diễn ra ở đây là điều chưa từng có trong lịch sử thế giới. Và chắc chắn, điều này có ý nghĩa quyết định đối với kết quả của cuộc chiến, mà cụ thể là có lợi cho chúng ta”.[42]

Nhưng điều chủ yếu trong chiến thuật ‘tiêu thổ’ không phải là phá hủy nhà cửa, không phải là đốt cháy mùa màng. Điều chủ yếu là giết hại thường dân. Tất nhiên, Đức Quốc xã đã muốn bắt người cho việc lao động cưỡng bức, nhưng Hồng quân đã tiến công quá nhanh.

Khi rút lui ở gần Rzhev, quân Đức đã lùa dân của một ngôi làng đến nhà thờ. Xung quanh là tiếng nổ ầm ầm, nhà cửa bị đốt cháy, và người dân sau hơn hai năm đã hiểu rõ bản chất của bọn chiếm đóng, đều biết chắc chắn: giờ đây chúng sẽ đốt nhà thờ. Cái chết sắp sửa đến. Ai đó hét lên, ai đó khóc lóc. Mọi người ôm nhau, tha thứ cho nhau những hờn giận từ lâu, nói lời tạm biệt cuộc sống.

Rồi đột nhiên xung quanh trở nên yên lặng. Mọi người nghĩ rằng cái chết đã đến, và lao đến những cửa sổ bị đóng chặn từ bên ngoài. Nhưng không có lửa; trên tuyết, trong những áo choàng ngụy trang màu trắng, những người lính đang đi về phía nhà thờ. Họ lặng lẽ bước đi, như những thiên thần, và những ngôi sao đỏ tỏa sáng trên mũ của họ.

“Đấy là sự phục sinh”, một phụ nữ nhớ lại. “Chúng tôi ôm nhau, hôn nhau. Nước mắt và tiếng khóc. Rất trang trọng. Phục sinh từ cõi chết. Đấy là sự phục sinh”.[43]

Nhưng ít người được may mắn như vậy.

Tại một ngôi làng gần Vyazma, những người lính Hồng quân bỏ mũ xuống, nhìn vào Idle núi. Trong khe núi, xác người già và phụ nữ bị quân Đức giết hại nằm ngổn ngang, còn chưa cởi trói. Một phụ nữ còn ôm đứa bé.

“Không thương xót cả trẻ thơ”, một lính công binh trung niên thì thầm. “Đến trẻ thơ cũng không thương xót”.[44]

Khi rút lui khỏi thôn Drachevo, huyện Gzhatsky, trợ lý của đội trưởng hiến binh Đức, trung úy Bos, đã dồn 200 người từ làng Mishino lân cận vào một ngôi nhà, khóa cửa lại và đốt nhà. Trong số những người bị chết cháy có rất ít đàn ông – phần lớn là người già, phụ nữ và trẻ em.[45]

Khi quân Đức cầm đuốc xuất hiện gần làng, ông lão 95 tuổi Kirill Matveevich Krivenkov đã không chịu chạy trốn. “Tôi nói với ông lão: ‘Hãy đi cùng tôi vào rừng, chúng sẽ đốt nhà ông đấy’. – ‘Chúng mà đến thì ta sẽ dùng chĩa ba đâm chúng! Rồi muốn đốt gì thì đốt’, bà hàng xóm kể lại sau đó. “Khi bọn Đức đốt làng, mọi người chạy vào đầm lầy. Quân Đức đến gần nhà ông lão, ông bước ra sân với cây chĩa ba. Một tên Đức ôm bó rơm đến nhà ông để đốt. Ông đâm cây chĩa vào bụng hắn. Bọn Đức đã bắt giữ ông. Ông la hét khoảng 15 phút: ‘Thử đánh tao xem!’ Chúng bẻ gãy tay ông đến tận xương, rồi dùng súng lục bắn vào tai ông. Và đốt nhà…”.[46]

…Nhiều năm sau, một cậu bé sống ở một trong những ngôi làng này nhớ lại cậu đã ngồi với mẹ và các bà hàng xóm trong một khe núi gần làng. “Từ khe núi có thể trông thấy ngôi làng và thấy rõ quân Đức khi rút lui đã đốt hết nhà này đến nhà khác. Những phụ nữ, nhìn thấy cảnh tượng này, đã cầu nguyện Chúa và làm dấu thánh. Đó là thể hiện lòng biết ơn vì họ vẫn còn nguyên vẹn, thần chết đã lướt qua họ, họ không còn nghĩ gì về những ngôi nhà nữa”.[47]

Cuối cùng khi quân Liên Xô đã đến, những người sống trong đống đổ nát của chính ngôi nhà mình ra đón họ. “Một ngôi làng ở Bryansk vừa được giải phóng”, một người lính Hồng quân nhớ lại. “Một căn hầm với mái lợp bằng thân cây ngô, và sống ở đó, dưới đất, là những gia đình “chung”, nghĩa là những ai còn sống sót – đứa trẻ nhà ai đó, ông lão nhà ai đó. Một người phụ nữ từ dưới hầm dùng tay chỉ cho tôi một người đàn ông – hắn là một cảnh sát. Trước mắt dân làng, hắn ta đã khoét một ngôi sao trên ngực đứa con trai 14 tuổi của cô, móc mắt nó, và khi hắn bắt đầu chặt một ngón tay thì thằng bé chết. Người phụ nữ nói mà không khóc”.[48]

Mùa đông đã tới thật tàn nhẫn với những người mất nhà cửa, tránh cái lạnh trong đống đổ nát của chính mình. Không có quần áo ấm, không có thức ăn. Bất chấp sự giúp đỡ của quân đội và chính quyền dân sự, phần nhiều trong số những người bất hạnh đã không qua nổi mùa đông ấy.

“Phát xít Đức đang vô vọng nói về ý nghĩa quân sự của các “vùng hoang mạc”, Erenburg viết đầy phẫn nộ. “Việc đốt cháy làng mạc không ngăn được xe tăng Nga từ Lgov đến Zhytomyr. Hồng quân đã quen với việc hành quân đêm trong rừng: bình tĩnh hơn – không có mục tiêu nào cho máy bay địch. Lính Nga trang bị đủ ấm. Họ sẽ xoay xở được mà không cần vào nhà. Người già và trẻ em sẽ chết.

Ukraina nổi tiếng về táo. Tôi thấy những vườn táo bị đốn và chặt. Ý nghĩa quân sự gì ở đây? Thật là một trò đùa ngu ngốc! Đốn 100 cây táo trong làng – và điều này sẽ trì hoãn bước tiến của Hồng quân?

Tôi thấy hàng ngàn con bò sữa bị quân Đức bắn… chẳng lẽ việc giết bò, cừu, lợn sẽ làm chậm bước tiến của Hồng quân? Một con bò không phải là một thùng nhiên liệu. Nhưng bò là sữa cho trẻ em”.[49]

Và bộ chỉ huy Đức đã “sáng chế” ra ngày càng nhiều cách mới để làm suy yếu quân Nga. Chẳng hạn, có thể bắt không chỉ những quân nhân, không chi phụ nữ và người già, mà cả trẻ nhỏ: từ 10 tuổi trở xuống. Trong các hồ sơ của Wehrmacht có chỉ ra: “Trong khi thực hiện hành động này, không chỉ nói về việc ngăn chặn sự gia tăng trực tiếp sức mạnh quân sự của kẻ địch, mà còn về việc làm giảm sức mạnh sinh học của địch trong tương lai xa. Ngoài ra, trẻ em được đưa đi là một phương tiện thuận lợi để đảm bảo việc sơ tán có tổ chức dân số trưởng thành”.[50]

* * *

Không còn chuyện tù binh nào cũng có thể bị thủ tiêu: không phải quân Đức bắt được Hồng quân, mà là Hồng quân bắt quân Đức làm tù binh. Nhưng nếu một tù binh rơi vào tay quân Wehrmacht, thì cái chết dữ dội đang chờ đợi anh ta.

Theo hướng Vitebsk, các đơn vị Liên Xô đã đẩy bật quân Đức ra khỏi ngôi làng tiếp theo; đi giữa những ngôi nhà đổ nát, trinh sát Evgenyi Cherepanov nhận thấy những người lính đang đứng hơi cách xa một công sự của Đức.

Khi đến gần, tôi nhận thấy ngay những khuôn mặt ảm đạm của họ. “Ở đây có chuyện gì thế, các bạn?” Tôi nhanh nhẹn hỏi.

“Cứ vào trong công sự, trung sĩ”, ai đó trong những người lính trà lời. “Cứ vào rồi sẽ biết…”.

Tôi nhanh chóng đi xuống một nơi được trang bị tốt với vách che dày ba lớp và nhìn quanh. Trên các bức tường lót ván treo những khẩu hiệu tiếng Đức và bức chân dung của Hitler. Gần bức tường bên phải, tôi thấy một cây thập tự bằng gỗ lớn, và trên đó là một người bị đóng đinh. Đầu, tay và chân anh ta bị đóng đinh vào thập tự bằng những chiếc đinh lớn. Anh ta bị lột trẩn truồng, ngực bị đâm bằng lưỡi lê hoặc dao găm, còn khuôn mặt bị biến dạng một cách khủng khiếp vì những trận đòn nặng nể. Rõ ràng anh ta đã bị tra tấn dã man…

Như bạn biết đấy, lính trinh sát không phải là loại nhát cáy, nhưng tin tôi đi, khi thấy toàn bộ cảnh tượng này, gai ốc chạy dọc sống lưng tôi.[51]

Lính trinh sát đi trước các đoàn quân và vì vậy họ là những người đầu tiên chứng kiến những hình ảnh khủng khiếp về tội ác của Đức Quốc xã; nếu rơi vào tay quân Đức, họ không thể nào hy vọng vào lòng thương xót. Sĩ quan tình báo quân đội Vasily Knyazev nhớ lại, có lần cấp dưới của anh mất tích trong một cuộc trinh sát tình báo. Anh ta được tìm thấy chỉ vài ngày sau đó. “Sau khi đánh bật phát xít, chúng tôi tìm thấy thi thể của người anh hùng trinh sát. Cánh tay bị bẻ gãy ở vai, tai bị cắt đứt, trên lưng là dấu vết một ngôi sao cháy sém, móng tay bị rút…”.[52]

…Tại thành phố Kremenchug bên sông Dnieper, quân Liên Xô đã giải phóng một trại tập trung tù binh chiến tranh. Giá treo cổ ở đấy không phải loại bình thường – người ta bị treo bằng những móc sắt: móc vào xương sườn, vào chân, vào tay, vào tứ chi cùng một lúc, vào hàm. Khi Hồng quân tiến vào trại, khoảng 100 người còn đang treo trên móc sắt. Bắt chấp mọi cố gắng, chỉ 12 đến 15 người được gỡ xuống còn sống sót.[53]

* * *

Truyền đơn được rải xuống vùng hậu phương quân Đức, hướng tới những kẻ hợp tác với địch các loại. Nội dung của chúng na ná như nhau.

Lực lượng cảnh sát! Hồng quân sẽ sớm đến đây. Hãy gột rửa bản thân khỏi những vết ô nhục, hãy chuộc lỗi trước Tổ quốc, đừng sợ quân du kích, mà hãy sợ quân Đức. Chúng sẽ lừa dối các bạn. Đừng để quân Đức bắt nhân dân ta sang Đức và lấy đi điều tốt lành, hãy chống lại việc tuyển mộ, giúp dân chúng lánh nạn, hãy tổ chức dân chúng – các bạn được vũ trang, hãy bảo vệ dân chúng khỏi sự trấn áp của quân Đức, hãy đánh lại bọn giặc Đức, cùng với dân cư và các đoàn xe đến chỗ chúng tôi, lực lượng du kích. Nếu có thể liên hệ với chúng tôi, hãy tự mình hành động. Hãy dũng cảm nhân danh Tổ quốc Liên Xô![54]

Như ai đó bị tác động trước lời nhắc nhở cần phải cứu lấy cuộc sống, và ai đó trước những lời kêu gọi yêu nước hướng về Tổ quốc; như có thể, cảnh sát và binh lính của “tiểu đoàn phía Đông” đã đào ngũ khỏi bọn chiếm đóng với số lượng lớn đến mức du kích quân khó lòng mà tiếp nhận hết được.

Tại mặt trận, “các đơn vị phía Đông” cũng không thể hiện tính ổn định đặc biệt. Chỉ có nỗi khiếp sợ mới khiến họ không chuyển sang đầu hàng quân Liên Xô: các chiến sĩ tiền tuyến giận dữ vẫn có thể kiềm chế được khi thấy các tù binh Đức, nhưng những kẻ phản bội Tổ quốc sẽ bị thủ tiêu ngay lập tức – bất chấp mọi nỗ lực của các chính trị viên và việc mất nguồn thông tin quý giá từ bọn “gián điệp”.[55]

Tuy nhiên, khi quyền tự xét xử đã được kịp thời ngăn chặn, kết quả thật đáng kinh ngạc. Ngay từ đầu năm 1943, Hội đồng Quân sự của Mặt trận Tây Nam đã chỉ ra:

Trong các trận giao tranh trước đây với đơn vị chúng tôi, quân Đức cảm thấy thiếu hụt lớn về nguồn nhân lực, cũng như đề bảo vệ lực lượng của chính mình, chúng đã tung vào chiến trận các đơn vị bảo vệ và các đơn vị riêng biệt được thành lập từ các tù binh chiến tranh người Nga, người Kazak và những kẻ phản bội. Một nghiên cứu về vấn để này cho thấy trong phần lớn trường hợp, các đơn vị này được quân Đức thành lập bằng cách đe dọa và lừa dối. Sự ổn định nào đó, được các đơn vị riêng biệt thể hiện qua các trận đánh, được biết đến từ lời khai của các tù binh, được giải thích là do sự đe dọa từ quân Đức và nỗi sợ hãi bị quân ta bắn khi bị bắt làm tù binh…

Tại khu vực thôn Popovka, huyện Bogucharsky, thiếu tá Tatarenko đã thả tù binh trở lại đơn vị. Người này sau đó đã dẫn 130 người đầu hàng phía chúng tôi.

Tại thôn Verlyudovka, trung tá Lobanov đã thả tù binh trở lại đơn vị, người này sau đó đã dẫn theo 63 người…

Tôi ra lệnh:…Sau khi kiểm tra và loại bỏ khỏi chúng những kẻ tổ chức và phản bội, các đơn vị riêng biệt nên được thử thách ở các trận đánh tại những khu vực khó khăn nhất.[56]

Đến năm 1944, thậm chí các đơn vị Baltic, trước đây vốn là đồng minh trung thành nhất của quân Đức, đã bắt đầu chuyển sang phía Liên Xô. Tất nhiên, lực lượng tiễu phạt, những kẻ đã tắm máu toàn bộ lãnh thổ bị chiếm đóng, không thể trông mong vào sự tha thứ; tuy nhiên, những người Baltic bị tuyển mộ vào những năm 1943-1944 không muốn hiến mạng sống cho Đế chế Đức.

“Người đứng đầu chính phủ Estonia, tướng Dankers, bày tỏ sự ủng hộ hoàn toàn cuộc đấu tranh vì tự do của quê hương. Quả thật, ông ta đã không thể ngăn được việc ngày càng nhiều binh lính Estonia, trong đó gồm toàn bộ các đơn vị cảnh sát, bắt đầu chạy sang phía bên kia”. Werner Haupt, nhà biên niên sử của Tập đoàn quân “Bắc” mỉa mai.[57] Chỉ trong vòng một tháng, từ các trung đoàn biên giới số 4 và số 6 của Estonia, 6 sĩ quan và 923 binh sĩ đã chạy sang phía Liên Xô.[58]

Tình hình không có gì khả quan hơn tại Latvia. Ở đây, chỉ huy của Tập đoàn quân “Bắc”, cùng với Abwehr, đã quyết định lập ra một đơn vị đặc biệt cho các hoạt động phá hoại quy mô lớn ở hậu phương Liên Xô. Tướng Kureils của Latvia được chỉ định làm chỉ huy đơn vị, người có mối quan hệ lâu dài và bền vững với Abwehr. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau khi thành lập, đơn vị đã bị giải tán. Lý do rất tầm thường: trong số những tình nguyện viên bày tỏ mong muốn chiến đấu ở hậu phương Liên Xô, đa số chỉ muốn được qua “phe bên kia” càng nhanh càng tốt. Quân Đức đã bắt 595 sĩ quan và binh lính, còn tướng Kureils được gửi sang Đế chế.[59]

Tháng 5/1944, quân Đức đã phải bắt giữ và giải giáp toàn bộ lực lượng cảnh sát Litva “vì tuyệt đối không thể hy vọng gì được nữa”. Gebietskomissar[60] thành phố Novogrudok của Belarus đã viết: “Vào những ngày di tản, lực lượng phòng thủ hậu phương đã hoàn toàn từ chối. Phần lớn các lực lượng có vũ khí trong tay đều đã qua phía bên kia. Điều tương tự cũng liên quan đến lực lượng an ninh Belarus. Chỉ một tỷ lệ nhỏ cùng với lực lượng cảnh sát Đức, đi về phía tây”.[61]

Tuy vậy, nhiều người Baltic do Abwehr huấn luyện vẫn ở lại trong rừng để chiến đấu ở hậu phương Liên Xô. Cả bọn Bandera tại Tây Ukraina cũng chuẩn bị chiến đâu với Liên Xô. Mặc dù thái độ của quân Bandera đối với bọn chiếm đóng là rất tiêu cực, UPA[62] – quân đội khởi nghĩa Ukraina – lại do Roman Shukhevich, một sĩ quan về công tác đào tạo của Abwehr chỉ huy, vì vậy những kế hoạch của bọn dân tộc chủ nghĩa rất phù hợp với chiến lược của Đức.

Trong khi chờ Hồng quân tiến vào, bọn Bandera đã tiến hành một cuộc thanh trừng tại các khu vực do chúng kiểm soát, thủ tiêu những kẻ tình nghi. Nạn nhân đầu tiên của bọn dân tộc chủ nghĩa Ukraina là cựu tù binh chiến tranh tại các ngôi làng. Một số được thả ra khỏi các trại vào năm 1941, một số đã bỏ trốn, nhưng trong mọi trường hợp, những người tù này có thể tiết lộ hệ thống và phương thức hành động của các tổ chức Bandera. Vì vậy đường dây biên giới ra lệnh thủ tiêu tất cả bọn họ. “Những vụ giết người mang bản chất tàn bạo nhất”, sử gia Aron Shneer đã viết. “Nội trong một quận Goshansky thuộc tỉnh Rovenskaya, khoảng 100 tù nhân đã bị tra tấn và giết chết. Xác của người chết, trong một số trường hợp cả những người sống, với hòn đá buộc vào cổ, đã bị bọn Bandera ném xuống sông Goryn. Hàng ngàn tù binh là chiến sĩ và chỉ huy của Hồng quân đã bị thủ tiêu, trong đó có người Ukraina ở các khu vực phía Đông”.[63]

* * *

Kiev được giải phóng vào dịp lễ Cách mạng Tháng Mười. Mái vòm vàng, những khu vườn, nhà cửa và hoa. Những người lính Soviet đi trên các con đường của một thành phố cổ tưng bừng. Đây là đỉnh cao của cuộc tấn công trong năm tháng liên tục. Từ Kharkov đến Dnieper giờ đây lại là đất của Liên Xô! – và toàn bộ Ukraina sẽ sớm được tự do.

Quân Liên Xô dừng lại, lập hậu phương, tiếp nhận và bổ sung khí tài mới, chuẩn bị cho cuộc tấn công sắp tới. Chiến dịch mùa đông đã mang lại nhiều thắng lợi thậm chí khiến bộ tư lệnh Liên Xô phải ngạc nhiên: đến tháng 4/1944, toàn bộ Ukraina, ngoại trừ các khu vực xung quanh Lvov, lại thuộc về Liên Xô.

Một người đặc biệt được nhớ đến: vóc người nhỏ, gương mặt đẩy những nếp nhăn hằn sâu, tóc bạc trắng.

“Bà ơi, có nước uống không?” Các chiến sĩ hỏi.

“Sao lại gọi tôi là bà. Tôi mới 25 tuổi”.

Mọi người ồ lên! Hóa ra cô gái Ukraina này làm việc tại một nhà máy hóa chất ở Đức… Cô lấy một bức ảnh từ trong nhà ra. Để cho thấy trước khi lao động khổ sai tại Đức Quốc xã trông cô thế nào. Trên tấm hình là một gương mặt trẻ trung, đẩy đặn, đôi mắt nâu vui vẻ nhìn đời. Còn bây giờ trông cô phải ngoài 50, không thể ít hơn.

“Tôi làm việc 16 đến 17 giờ một ngày. Ăn uống kém, bị đánh đập. Cô bạn tôi, Marusya, đã treo cổ tự tử. Không thể chịu nổi sự nhạo báng…”. Cô gái tóc bạc thì thầm kể lại.[64]

Khi quân đội tiến vào ngôi làng Ukraina được giải phóng kế tiếp, những phụ nữ đã ra đón họ.

* * *

Đến lượt Belarus. Đầu mùa đông 1944, quân của nguyên soái Rokossovsky đã cố xuyên thủng vào Vitebsk và Polotsk, nhưng quân Đức chống trả quyết liệt, sau khi chuyển các sư đoàn từ Tập đoàn quân “Bắc” sang. Thắng lợi của Hồng quân dẫn đến kết quả ở ngoại ô Leningrad, dưới sức ép của quân Liên Xô, thống chế Georg von Kuhler buộc phải rời khỏi tuyến phòng thủ được xây dựng kỹ lưỡng trong gần ba năm và rút lui về Pskov. Việc phong tỏa Leningrad đã được đỡ bỏ.

Quân Liên Xô tiến công ở phía bắc thường xuyên gặp phải các trại tập trung những người bị bọn chiếm đóng giam giữ. “Hơn 1.000 người ngồi ngoài trời. Cần bố trí chỗ ở, thức ăn cho họ, hỗ trợ hồi phục sức lực để sắp tới họ trở về quê hương”, một sĩ quan Soviet nhớ lại. “Chủ yếu là dân cư các tỉnh Leningrad, Pskov và Novgorod. Trong hơn ba năm, họ đã bị bọn phát xít Đức giày vò, uốn nắn theo tinh thần nô lệ của ‘trật tự mới’. Thật khủng khiếp khi nhìn vào khối người này đã bị biến dạng bởi bọn bạo hành phát xít. Mọi người đã được đào tạo tinh thần khúm núm luồn cúi, bị đánh đập, sợ hãi, đến mức thậm chí chúng tôi đã phải tự hỏi: ‘Có phải đây là người của chúng ta không? Có phải là người Soviet không?’ – không thể tin nổi trong một thời kỳ lịch sử ngắn ngủi như vậy lại có thể làm biến dạng một con người đến thế. Người dân Soviet của chúng tôi, khi gặp chúng tôi, các sĩ quan Liên Xô, theo quán tính tiếp tục rụt rè nhảy lên, bỏ mũ ra, khúm núm cúi thấp người xuống – họ đã định cúi chào chúng tôi!”[65]

Tuy vậy, đấy còn chưa phải là điều khủng khiếp nhất. Các thành phố và làng mạc được giải phóng của tỉnh Leningrad hầu như không còn một bóng người đến tận gốc rễ. Chỉ ít hơn một phần ba dân số ở đây trước thời chiếm đóng còn sống sót để thấy quân Liên Xô tiến vào. Khoảng 1,2 triệu người đã bị thủ tiêu và bị bắt đi lao động khổ sai.[66] Và những người lính đã khóc, ở đây cũng như ở đó, khi gặp những mồ chôn tập thể…

Trong khi đó tại Belarus, Rokossovsky tập hợp lại quân đội của mình, vào cuối tháng 2 đã chiếm lại Rogachev và Bykhov, rõ ràng đang nhắm đến Mogilyov.

Giao tranh vẫn tiếp tục diễn ra gần Rogachev, khi cư dân thành phố Zhlobin được tập trung tại ga xe lửa cách đó vài chục km về phía nam. Các thanh niên được chọn và đưa đi; không ai biết chuyện gì xảy ra với họ. Những người còn lại được lùa lên các toa chở súc vật. “Chúng tôi không biết mình bị đưa đi đâu, nhưng mọi người đều linh cảm được điềm xấu”, một phụ nữ nhớ lại. “Chúng cho người xuống buổi tối ngày 15/3. Ban đêm chúng tôi lội bùn đến tận đầu gối để vào trại. Từ trại này, chúng tôi lại chuyển sang trại thứ 2. Trên đường, quân Đức đánh chúng tôi, bắn những người tụt lại. Một phụ nữ có ba con nhỏ. Một đứa bé ngã xuống, quân Đức bắn chết. Khi người mẹ và hai đứa con khác kinh hoàng quay lại nhìn, bọn lính lại lần lượt bắn họ. Người mẹ cắt lên một tiếng kêu não nuột, và tiếng kêu này tắt lịm vì tiếng súng. Mẹ con nhà Bondareva đi trên đường. Đứa trẻ không đi nổi vì mệt và ngã xuống. Người mẹ cúi xuống, muốn nói lời an ủi con mình… Quân Đức đã bắn họ”.[67]

Việc bắt dân được thực hiện theo hướng dẫn do bộ chỉ huy quân đoàn 3 thiết giáp ban hành vào tháng 02/1944.

Không được sơ tán về hậu phương một miệng ăn thừa hay một gánh nặng nào cho cư dân, nhưng phải huy động càng nhiều càng tốt, nghĩa là, chỉ những người có khả năng lao động, khỏe mạnh và hoàn toàn phù hợp… Những người tàn tật, già cả ốm yếu, các bà mẹ có con nhỏ, trong đó hơn một nửa dưới 10 tuổi, được đưa đến một khu định cư mới dành cho các cộng đồng bị cấm được chỉ định đặc biệt theo lệnh… Những ngôi làng được quy định theo lệnh riêng dành cho các cộng đồng bị cấm đều nằm cách xa đường chính và dành cho những người không có khả năng lao động.681

Một trong những người bị bắt theo là Ulyana Manko, 30 tuổi. Câu chuyện của cô thật đơn giản và khủng khiếp.

Tôi đang mang thai và hai con tôi, Tatyana, năm tuổi và Maria, hai tuổi, bị quân Đức dồn vào trại tập trung gần khu định cư Dert vào một ngày tháng 02/1944 với nhiều người cùng làng khác. Trên đường đi chúng tôi không được cho ăn, các con tôi khóc vì đói, tôi muốn nhặt vài củ khoai trên cánh đồng. Thấy tôi nhặt một củ khoai đông lạnh, một tên lính Đức chạy tới và đá vào bụng dưới tôi. Tôi bất tỉnh, và chẳng mấy chốc tôi bắt đầu sinh non. Đứa bé sơ sinh chết vào ngày thứ hai, còn tôi, ốm yếu, đau khổ, bị đẩy đi xa tiếp đến trại.

Trong trại chúng tôi sống ở ngoài trời, ngủ ngay trên tuyết. Các con tôi đau khổ vì lạnh và còn khổ hơn vì đói. Chúng tôi không được cho đồ ăn nóng, thỉnh thoảng mới được ném cho bánh mì qua hàng rào thép gai. Nhưng quá nhiều người muốn có được một mẩu bánh mì, còn tôi quá ốm yếu, chỉ hai lần xoay xở để có được vài mẩu bánh mì nhỏ xíu. Có lần tôi muốn nhặt ít cành cây để đốt lửa sưởi ấm cho các con. Nhưng bọn Đức không cho tôi làm điều này và đánh tôi bằng gậy.

Tôi và các con mình phải chịu đau khổ như thế trong một trại tập trung. Chẳng bao lâu, các con tôi bị sưng hết chân và tay. Chúng kêu khóc: “Mẹ ơi, lạnh quá! Mẹ ơi, cho con ăn!” Nhưng tôi không thể làm gì cho các con gái mình. Vào ngày thứ năm của đời tôi trong trại, con gái Maria của tôi chết vì đói, ngày hôm sau Tatyana cũng lìa đời.682

Trại tập trung, nơi cư dân thành phố Zhlobin bị dồn vào, là một trong nhiều trại được lập ra cho các công dân Soviet bị bắt theo. Vài ngày sau, tại Polesye, tiền tuyến phòng thủ của quân Đức, các đơn vị Liên Xô đã phát hiện ba trại tập trung, trong đó nhốt hơn 33.000 người. Những dân cư không có khả năng lao động như người già, phụ nữ, trẻ em đã được dồn vào đó.

Một báo cáo được gửi đến Moskva cho phép hình dung về trò mới của quân chiếm đóng.

Việc dồn dân vào các trại tập trung được phát xít Đức bắt đầu từ nửa đầu tháng 3/1944. Phụ nữ đang nuôi con bú, ông già bà lão, thiếu niên và trẻ em bị áp tải đưa vào đấy. Đó là những người Soviet đã bị quân Đức bắt đi theo từ các thành phố và làng mạc của ta khi chúng rút lui. Tại trại số 1 có tới 9.000 người, trại số 2 lên tới 10.000 người, trong đó không ít hơn 70% là người già và trẻ em…

Trong các trại là chế độ chuyên quyền phát xít man dã nhất và điều kiện sống phi nhân tính. Người dân bị dồn vào nơi không đào được đất làm nhà, không có bất cứ thức ăn nào, đã bị chết dẩn chết mòn. Trại nằm dưới sự canh gác nghiêm ngặt của lính Đức, mọi nỗ lực đào thoát nhỏ nhất đều bị bắn bỏ hoặc bị đánh đến thừa sống thiếu chết. Trong điều kiện mùa đông, mưa và bão tuyết, phụ nữ, người già và trẻ em phải ở ngoài trời. Thậm chí phát xít Đức còn cấm đốt lửa. Trong các trại có nhiều sự kiện về dịch bệnh, chết cóng. Không có bất kỳ sự hỗ trợ nào cho các bệnh nhân. Kiệt sức vì đói, run rẩy vì lạnh, ẩm ướt trong đầm lầy, người dân chết mỗi ngày…

Những con người kiệt sức đến mức không thể đào huyệt mộ, thi thể người chết nằm la liệt trên mặt đất trong trại nhiều ngày hoặc bị phát xít Đức ném xuống con mương gần hàng rào thép gai… Quân Đức đã giết người Soviet chẳng vì duyên cớ gì. Chúng bắn cậu bé 12 tuổi, Misha Gusanov, người làng Kozlovichi, huyện Domanovichi, chỉ vì cậu đã đi ra khỏi trại để lấy nước cho gia đình, còn ông lão Glutsky Ivan, 82 tuổi, người thành phố Zhlobin, phát xít đã bắn ông chỉ vì muốn đốt lửa để sưởi ấm cho các cháu nhỏ. Pogodina Apollinaria Maximovna có con nhỏ bị bệnh. Cô đã yêu cầu được giúp đỡ, phát xít Đức đã bắn cô cùng với hai đứa trẻ. Xác một cô gái khoảng 15-17 tuổi bị phát xít Đức hãm hiếp đã được tìm thấy trong phạm vi trại. Vú của cô đã bị xẻo, mũi bị cắt, má bị rạch, toàn thân bị biến dạng. Trên đường đến trại cũng có hàng loạt xác của phụ nữ, người già và trẻ em bị quân Đức thủ tiêu.683

…Cuộc tấn công thành công của Rokossovsky đã chấm dứt thời kỳ tan băng. Bị mắc kẹt trong khu vực đầm lầy Belarus, quân Liên Xô đã dừng lại cho đến mùa hè.

Cuối cùng, giờ đã điểm. Ba năm sau cuộc xâm lăng của quân Đức, ngày 23/6/1944, Hồng quân bắt đầu giải phóng Belarus. Thậm chí bước tiến công của quân Liên Xô vào năm 1944 còn thần tốc hơn của Wehrmacht vào năm 1941. Gần Bobruisk, quân Đức lâm vào vòng vây; một tuần sau khi bắt đầu tấn công con số tù binh Đức lên tới hàng chục ngàn. Hậu phương của quân Đức đã bị nhiều lực lượng du kích giải tán, đã cho nổ tung những cây cầu và đường sắt, các nhà ga bị cô lập và các doanh trại bị phá tan. Xe tăng Liên Xô tiến lên đến nơi dường như không thể vượt qua; quân du kích và dân địa phương đã chỉ đường cho họ. Đi qua các khu rừng, lính tăng của Rotmistrov bất ngờ xuất hiện ở Minsk, phía bắc và phía nam của thành phố đã bị các gọng kìm của quân Liên Xô khép chặt.

Về phía đông của thủ đô nước Cộng hòa Belarus, quân Đức không kịp rút lui đã rơi vào một vòng vây mới. Trận đánh Belarus đã thực sự kết thúc vào ngày thứ 12.

Các chiến sĩ giải phóng đã thấy một cảnh tượng khủng khiếp. Tuy cuộc tấn công thần tốc đến mức các đơn vị quân Đức đang tháo lui không kịp biến vùng đất chúng bỏ lại thành “vùng hoang mạc”, song những dấu vết của ba năm chiếm đóng kéo dài đã hiện diện khắp mọi nơi. Những ngôi làng bị đốt cháy, những thành phố đổ nát và những hố chôn xác. Rất nhiều mồ chôn tập thể.

“Khi quân ta tiến vào Borisov, họ thấy một núi xác chết cháy. Trong một trại tập trung của SD. Ở đó quân Đức giam giữ 1.500 dân, đàn ông, đàn bà, người già, trẻ em. Ngày 28/6, vào đêm trước khi rút lui, quân Đức đã thiêu hết tù nhân. Chúng đã đưa một phần tù nhân đến Berezina trên một xà lan, tưới xăng lên xà lan rồi đốt cháy… Tại Borisov, các chiến sĩ đã đi qua Razuvayevka, nơi quân Đức bắn chết 10.000 người Do Thái, gồm phụ nữ, trẻ em, bà già, trong vòng ba ngày. Khi tới Minsk, những người lính đã thấy một trại người Soviet tại Komarovka; ở đó, quân Đức đã giết 4.000 người… Đây là thôn Brusy. Từng là một ngôi làng, còn bây giờ là tro tàn. Những người lính vây quanh ông lão Alexei Petrovich Malko. Ông kể: ‘Hôm qua… Chúng đốt, lũ khốn kiếp… Chúng đã đốt hai đứa con gái ta – Lena và Glasha’.

…Gần Minsk có một địa điểm khủng khiếp – Bolshoi Torostyanets. ở đó, quân Đức đã giết hơn 100.000 người Do Thái. Họ được cho vào buồng hơi ngạt. Để phi tang dấu vết tội ác, quân Đức ở Bolshoi Torostyanets đã đốt các thi thể, đào xác đã chôn lên rồi đốt. Trên đường tháo chạy, chúng đã giết đợt cuối cùng rồi đốt xác, vì vội vã nên chưa kịp đốt cháy hết. Tôi đã thấy những thây người còn cháy dở – đầu một cô gái, thân hình một phụ nữ và hàng trăm, hàng trăm xác chết. Tôi đã thấy nhiều thứ trọng đời, nhưng sẽ không che giấu – tôi đã không thể nhúc nhích nổi vì đau đớn và giận dữ”.684

Erenburg đã mô tả cảm giác mà tất cả các chiến sĩ Soviet đã trải nghiệm. Miền đất quê hương đã được giải phóng, quân Đức bị đẩy bật ra khỏi biên giới, và cái ngày hạnh phúc ấy được nhìn thấy rõ ở phía trước, khi ngọn cờ đỏ Chiến thắng phấp phới trên thành phố Berlin chiến bại.

Nhưng kể cả một Chiến thắng được chờ đợi rất lâu cũng không thể nào làm nguôi ngoai những gì bọn chiếm đóng đã làm trên đất Liên Xô. Khi đó là năm 1944, không ai nhớ ngày tháng chính xác. Nhưng mỗi binh lính và sĩ quan đã trải qua những trận đánh từ Stalingrad và Moskva đến tận biên giới đều biết về những nỗi đau khổ khó lòng nghĩ ra, khó lòng tưởng tượng nổi, mà ách chiếm đóng phát xít đã mang lại cho người dân. Có thể xây lại nhà, có thể trả thù bọn giết người, nhưng làm sao có thể trả lại cuộc sống cho tất cả những ai còn vùi thây trong vô số những mương xói, cho những nạn nhân bị bắn, tro cốt của họ trộn lẫn với tro tàn của những ngôi nhà bị đốt cháy, tất cả những ai bị giết bằng đạn đồng, bằng hơi ngạt hay chết đói?

Trẻ thơ sẽ chẳng bao giờ được học nói, khi đầu nó bị đập vỡ vào góc nhà.

Cậu bé chết trong lao động khổ sai tại Đế chế sẽ không còn biết cười.

Cô gái sẽ không còn gặp chồng sắp cưới của mình, sau khi bị bọn lính Wehrmacht hãm hiếp rồi cắt cổ.

Ông lão tóc bạc sẽ không còn nuông chiều các cháu mình, trong hỏa ngục của ngôi làng bị hủy diệt bởi đoàn quân tiễu phạt cả người già lẫn trẻ em đều chết hết.

Các ngôi làng bị đốt cháy cùng với dân làng. Các giếng nước đầy xác chết. Tại các giao lộ ở thành phố đèn đường không thắp sáng, thây người chết treo ở đó. Xung quanh các thị trấn và thành phố mặt đất bị lõm xuống, dấu hiệu của những hố chôn tập thể.

Chứng kiến toàn bộ những điều này quả là quá sức chịu đựng của con người.

“Một đại úy của chúng tôi qua đời vào ngày đầu tiên khi chúng tôi đặt chân lên đất Đức”, nữ y tá Tamara Kuraeva nhớ lại nhiều năm sau đó. “Tất cả những người thân của anh đã chết. Đó là một người dũng cảm, anh đã chờ đợi… Cái ngày ấy… Khi anh sẽ được thấy vùng đất của họ, sự bất hạnh, nỗi đau của họ. Họ sẽ khóc ra sao. Những tàn tích của họ… Anh ấy chết đơn giản thế, không bị thương, không sao cả. Đã đến, đã nhìn, rồi chết…”.685

Những tiếng nói chân thực (6): “Bọn ăn thịt người với vẻ ngoài lành mạnh…”.

Tháng 8/1944, các tù binh Đúc được giải đi trên đường phố Kiev. Trong báo cáo được gửi tới Moskva về vấn đề này đã trích dẫn những câu nói điển hình của người dân Kiev về bọn xâm lược. Tài liệu được đăng trên số phát hành kỷ niệm 60 năm ngày Chiến thắng của tạp chí Tổ quốc.

“Moskva

Kính gửi đồng chí Iosif Vissarionovich Stalin

VỀ VIỆC ÁP GIẢI TÙ BINH ĐỨC QUA THÀNH PHỐ KIEV

Ngày 16/8 năm nay đã tiến hành áp giải qua thành phố Kiev một đoàn tù binh Đức gồm 36.918 người, trong đó có 549 sĩ quan. Trong số các tù binh này: 21.249 người do quân đoàn 1 và quân đoàn 2 mặt trận Ukraina bắt; 7.927 người do quân đoàn 1 và quân đoàn 2 mặt trận Belarus bắt; 2.700 người do quân đoàn 1 mặt trận Baltic bắt, 5.042 người còn lại được đưa đến từ các trại của NKVD.

Những hàng dài tù binh đã đi qua các đường phố Kiev trong vòng 5 giờ đồng hồ – từ 10 giờ sáng đến 15 giờ chiều. Tổng chiều dài của tuyến đường qua thành phố từ nơi tập trung đến nơi đưa lên các đoàn tàu là 21 km.

Trong quá trình di chuyển tù binh, tất cả các đường phố, cửa sổ và ban công các tòa nhà đều chật kín người dân địa phương. Trong thời gian các hàng dài tù binh xuất hiện trên đường phố, dọc theo tuyến hành trình của chúng, hơn 150.000 cư dân thành phố đã tập trung. <…> Cư dân thành phố, những người đã chịu nhiều đau khổ vì quân xâm lược phát xít, đã đi theo các tù binh và hô vang những lời căm thù và nguyền rủa về phía lính Đức.

Tôi xin trích dẫn một số những câu nói đặc trưng:

Một phụ nữ lớn tuổi nói: “Những bàn tay bẩn thỉu của chúng đã vấy máu chúng ta. Bây giờ hãy để chúng làm việc”.

Rybalov, một thương binh của cuộc chiến tranh vệ quốc, đã hét lớn trong đám đông: “Đồ chó! Bọn sát nhân đáng nguyền rủa! Vì sao bọn bay treo cổ vợ và con gái ta, vì sao lại chặt tay cháu trai Volodya của ta rồi ném nó xuống hầm mỏ? Giờ đây bọn bay phải trà lời về mọi chuyện!”

Markovich, giáo sư viện Động vật học thuộc Viện hàn lâm khoa học Cộng hòa Ukraina, đã nói: “Thật căm thù khi nhìn vào bọn khốn này, đã gây ra cho chúng tôi biết bao đau thương, bọn tội đồ của biết bao tàn phá và chết chóc. Đám rước này làm gương cho nhiều người. Người dân Kiev giờ đây đã thấy bộ mặt khác của quân Đức, từng một thời cai trị Kiev như chúa tể”.

Bác sĩ Gorozhai cho biết: “Tôi đã phải kiềm chế để không hét vào mặt bọn súc vật ấy. Khi nghĩ về những gì bọn khốn đáng nguyền rủa ấy đã làm, lòng căm thù bọn chúng lại sôi lên”.

Rol, viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm khoa học Cộng hòa Ucraina, trong lúc trao đổi những ấn tượng của ông với các nhà khoa học khác, đã nhấn mạnh: “Vẻ ngoài khốn khổ của những con người ‘bách chiến bách thắng’ của châu Âu. Thật dễ chịu khi nghĩ rằng một số trong bọn chúng đã đến Kiev trong tư cách những người chiến thắng, còn giờ đây bị bắt làm tù binh. Điều này sẽ buộc chúng phải suy nghĩ lại”.

Vlasova, một hộ lý bệnh viện, đứng trên đường và nói với những người phụ nữ khác: “Mong muốn duy nhất của tôi vào đúng lúc này là ném một quả bom vào chúng. Biết bao người cha người mẹ bất hạnh đã chứng kiến bọn dã thú ấy cướp và giết con mình”.

Pikovskaya, kế toán của xí nghiệp liên hợp gốm sứ Ukraina cho biết: “Bọn ăn thịt người với vẻ ngoài lành mạnh. Tôi nhớ lại những tù binh Hồng quân bị áp giải trên đường phố Kiev trông như thế nào. Tuy họ giống như những người chết rồi, trần truồng, đói khát, không giày dép, nhưng trên mỗi khuôn mặt đều có thể cảm nhận được sức mạnh và lòng căm thù. Còn bọn này đi như một bẩy cừu. Phong thái trước đây của chúng đâu rồi?’’

Goman, nhân viên tốc ký của ủy ban Công nghiệp Cộng hòa Ukraina, đã phát biểu: “Thật tuyệt khi nhìn vào những hàng dài bọn thú săn mồi đã bị thuần hóa, nhổ hết móng vuốt và nhốt trong cũi. Chúng đã đối xử với chúng ta như những con chó. Thật đáng tiếc là không thể nhổ vào mặt những kè ‘giải phóng’ ấy”.

Một ông lão hét theo một hàng dài tù binh đi qua: “Đồ chó, hãy nhìn kỹ và run sợ đi, người Nga không phải là nô lệ. Chúng tao vẫn sống, chúng tao sẽ cho chúng mày thấy, quân kẻ cướp!”

Tại nhiều nơi, nhất là trên phố Kreshatyk bị tàn phá, đã nghe thấy những câu hô vang: “Đồ khốn, hãy nhìn hậu quả việc làm khốn kiếp của chúng bay đi. Bọn tao sẽ bắt chúng bay làm việc cả ngày lẫn đêm, để chúng bay ghi nhớ suốt đời và quên đường đến chỗ bọn tao đi!”

Rất nhiều những lời tương tự như thế. Cũng có nhiều tiếng la hét đại loại như: “Máu của người Ukraina đã đổ. Bây giờ đến lượt chúng bay”, “Chúng bay muốn ăn trứng à?”, “Tiêu diệt Hitler!”, “Bọn giết người nhục nhã!”, “Tiêu diệt phát xít!”, “Bọn hành hạ chúng ta”, “Đã biết mùi thất bại chưa”, “Phải bắn hết bọn chúng”, “Chúng bay thích Ukraina chứ?”

Bất chấp những tiếng la hét và đe dọa, dân chúng có thái độ rất kiềm chế và đoàn diễu hành của các tù binh không gặp phải hành động thái quá nào.

Tuy nhiên, đã có những ý định từ các cá nhân riêng lẻ và chủ yếu là các thương binh của cuộc chiến tranh vệ quốc, len qua hàng rào hộ tống để tấn công các tù binh.

Những ý định như thế đã bị ngăn chặn quyết liệt. Chỉ có bốn tù binh ở những nơi khác nhau của tuyến đường bị bốn người đánh bằng nạng, gậy và gạch đá. Tuy nhiên, chúng cũng không gây ra tác hại đặc biệt. Một phụ nữ, tiến đến đoàn người, nhổ nước miếng vào mặt một sĩ quan Đức. Những hành động ấy được đám đông cổ vũ tán thưởng.

Tại khu vực chợ, những phụ nữ trẻ ném vỏ trứng vào hàng dài tù binh Đức và hô vang: “Chúng bay muốn trứng thì sẽ được trứng”.

Một số người dân thành phố và quân nhân bày tỏ sự không hài lòng về cách đối xử nhân đạo với các tù binh Đức. Một bà lão bước đến gần đội hộ tống và chỉ tay về phía tù binh Đức, hét lên: “Chúng đã tra tấn người dân và tù binh chúng ta, còn ta lại nuôi chúng! Cứ đưa chúng đây, chúng tôi sẽ dạy bằng những hòn đá”.

Một số phụ nữ riêng lẻ, cố lách đến hàng dài tù binh, giận dữ hét lên: “Bọn khốn, chúng bay đã tra tấn và bắn chết người của bọn tao”, rồi hướng về phía lính canh, họ nói: “Cứ đánh chúng, đừng tha!”

Sokolov, viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm khoa học Cộng hòa Ukraina, cho biết: “Tôi so sánh cảnh tượng này với những gì đã chứng kiến vào năm 1941, khi quân Đức áp giải tù binh Liên Xô. Tôi cho rằng chúng ta hành xử không đúng khi đối xử tốt như thế với bọn fritz”.

Kopailov, một nhân viên của Bộ dân ủy Giáo dục Ukraina, đã nói: “Hồi trong quân đội, tôi đã cố tiêu diệt quân Đức càng nhiều càng tốt. Giờ đây tôi thấy rằng nhiều tù binh Đức bị bắt sống và chính phủ ta phải bận tâm về chúng: chuyện ăn, chuyện mặc. Cần đối xử với chúng nghiêm khắc hơn để chúng nhớ cách chúng hành xử với lính Hồng quân chúng ta”.

Kirichenko, một nhân viên của xí nghiệp liên hợp kim khí điện máy, đã nói: “Sao họ phải tăng cường bảo vệ bọn vô lại ấy như vậy chứ? Nếu không thì dân chúng sẽ đối xử với chúng khác ngay. Thật kinh tởm khi nhìn vào những bộ mặt đần độn ấy. Thật kinh hãi khi nghĩ về chuyện người dân ta phải sống dưới ách bọn chúng. Những con người tội nghiệp chết vì đói”.

Linh mục Sobolev trong một cuộc trò chuyện với các giáo sĩ khác đã nói: “Tôi ngạc nhiên vì sự khách sáo như thế. Nó quá hậu hĩnh cho bọn kẻ thù của ta sau biết bao đau thương và nước mắt mà chúng đã để lại ở Ukraina này”.

Giáo sĩ Timofei có mặt tại đó đã phát biểu: “Tôi cảm thấy phẫn nộ vì bọn chúng được đối xử quá đàng hoàng. Còn chúng đã áp giải các tù binh của ta như thế nào? Không, chính quyền làm không đúng, chúng đáng bị dẫn đi như khi chúng giải tù binh của ta. Đánh bằng roi. Những gì chúng đã gieo, hãy đề chúng gặt”.

Một công nhân cho biết: “Chúng đã lùa các thương binh của ta đi như súc vật, còn ta lại cho bọn súc sinh này đổ ăn, mỗi bước lại cho nước uống, cử người bào vệ. Tôi sẽ không chơi sộp với bọn này đâu, chúng chỉ đáng vài xu.” Nhưng một người phụ nữ trà lời: “Người Nga nhanh chóng quên những điều xúc phạm”.<…>

Nikita Khrushyov

17/8/1944

[1] Simonov K. M. Những ngày chiến tranh khác. Quyển 2. Trang 183.

[2] Như trên. Quyển 2. Trang 188.

[3] Như trên. Trang 189.

[4] Shneer A. Tù binh… Trang 232.

[5] Hitler bi an. Trang 145.

[6] Andryanov V. I. Quấn đảo OST. Trang 65.

[7] Melnikov D. E., Chyornaya L B. Băng chuyền tử thần. Trang 408; Shneer A. Tù binh… Trang 293-294.

[8] ”Vòng cung lửa’ Trang 249.

[9] Tôi đã thấy điều này. Trang 199-200.

[10] Hitler bí ẩn. Trang 148-149.

[11] RAVO. Tập 15 (4). Quyển 3. Trang 119.

[12] Chiến tranh hủy diệt ở Mặt trận phía Đông. Trang 46.

[13] ”Vòng cung lửa”. Trang 75.

[14] Hitler bí ẩn. Trang 150-151.

[15] RAVO. Tập 15 (4). Quyển 3. Trang 115.

[16] Messenger c. Vệ sĩ của Hitler. Trang 182. Tham khảo thêm: Shneer A. Tù binh… Trang 293-294; Melnikov D. E., Chyornaya L. B. Bàng chuyên tử thẩn. Trang 408.

[17] Hitler bí ẩn. Trang 153.

[18] Vert A. Nước Nga trong chiến tranh… Trang 418.

[19] ”Vòng cung lửa”. Trang 100-101.

[20] Vert A. Nước Nga trong chiến tranh… Trang 416.

[21] ”Vòng cung lửa”. Trang 123.

[22] Như trên. Trang 108.

[23] Simonov K. M. Những ngày chiến tranh khác. Quyển 2. Trang 292-294.

[24] Như trên. Trang 292.

[25] Manstein E. von. Chiến thắng vuột mất. Trang 573-574.

[26] Muller N. Wehrmacht và sự chiếm đóng… Trang 306-307.

[27] Như trên. Trang 310.

[28] Dashichev V I. Chiến lược của Hitler… Tập 4. Trang 14; Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 232; Tiết lộ và thú nhận.Trang 297-298.

[29] ”Vòng cung lửa”. Trang 248.

[30] Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 103-104.

[31] Muller N. Wehrmacht và sự chiếm đóng… Trang 320.

[32] Như trên. Trang 322.

[33] Tôi đã thấy điều này… Trang 141.

[34] Abdulin M. Từ Stalingrad đến Dniepr. Trang 216-218.

[35] Liên quan đến vấn đề ân xá các tội phạm Đức Quốc xã khỏi hình phạt xứng đáng, cần nêu một số dữ liệu thực tế. Ngay từ năm 1951, John McCoy, Cao ủy của lực lượng chiếm đóng Hoa Kỳ tại Đức, đã tuyên bố về việc ân xá cho các tội phạm Đức Quốc xã chịu mức án ít hơn 15 năm. Năm 1952, sau khi thành lập Cộng hòa Liên bang Đức, một làn sóng ân xá mới lan tràn khắp đất nước. Sau đó, những nỗ lực trừng phạt tội phạm Đức Quốc xã đã bị chính quyền Đức ngăn cản. Hơn 90.000 hồ sơ Đức Quốc xã đã bị ngưng lại, chỉ 200 vụ án được đưa ra xét xử và các bị cáo đã nhận được mức án tối thiểu. Một trong những kẻ thuộc đội tiễu phạt, bị buộc tội giết 526 người, đã nhận mức án 3 năm – tòa án đã xét đến việc trong các vụ xử bắn, y đã “giữ được một thái độ đàng hoàng”. Một kẻ khác đã giết 423 người, nhận mức 4 năm, bởi lẽ, theo các thẩm phán, y đã có “một tính cách bất ổn” vào thời thơ ấu (Drozhzhin S. Bóng ma của chủ nghĩa phát xít mới: Made in New Europe. M.: Algorithm, 2006. Trang 146-154). Như ta thấy, chẳng cần phải nói về công lý làm gì. Do đó, lập luận phổ biến của những người xét lại trong nước “tòa án đã tha bổng một vị tướng Đức như vậy – nghĩa là ông ta không phạm tội” có thể được ném vào giỏ một cách an toàn. Họ được biện minh bởi vì đó là “người phe mình”, còn công dân Liên Xô bị thủ tiêu là “người lạ”

[36] Lang J. von. Biên bản Eichman. Trang 253-254.

[37] Như trên. Trang 253-254.

[38] Simonov K. M. Những ngày chiến tranh khác. Quyển 2. Trang 210.

[39] Mục tiêu tội ác… Trang 144.

[40] Rzhevskaya E. M. Những lối vào gần. Trang 178.

[41] Simonov K. M. Những ngày chiến tranh khác. Quyển 2. Trang 211.

[42] Melnikov D. E., Chyornaya L. B. Băng chuyền tử thần. Trang 405.

[43] Simonov K. M. Những ngày chiến tranh khác. Quyển 2. Trang 275.

[44] Như trên. Quyển 2. Trang 257.

[45] Tôi đã thấy điều này… Trang 253.

[46] Erenburg I. G. Chiến tranh, 1941-1945: Những bài báo / Tập hợp, Lời tựa, Bình chú B. Ya. Frezinsky. M.: AST; Astrel; Olymp, 2004. Trang 524.

[47] Muller N. Wehrmacht và sự chiếm đóng… Trang 323.

[48] Qua ngọn lửa của trận đánh vĩ đại… Trang 104-105.

[49] Như trên. Trang 138.

[50] Abdulin M. Từ Stalingrad đến Dnieper. Trang 230.

[51] Kovalev B. N. Sự chiếm đóng của Đức Quốc xã… Trang 135.

[52] ”Vòng cung lửa”. Trang 314.

[53] RAVO. Tập 15 (4). Quyển 3. Trang 208-209.

[54] Haupt V. Tập đoàn quân ”Bắc”. Trang 267.

[55] Như trên. Trang 255.

[56] Như trên. Trang 343.

[57] Muller N. Wehrmacht và chế độ chiếm đóng… Trang 297.

[58] Shneer A. Tù binh… Trang 204. Tham khảo thêm: Không được quyền minh oan. Quyển 2. Trang 122.

[59] Demin N. S. Chiến tranh và con người: Những ghi chép ngoài mặt trận. Tashkent: Uzbekistan, 1966. trang 153.

[60] Lyashenko N. I. Chiến tranh từ hồi chuông này sang hồi chuông khác. Trang 430.

[61] Ivanchenko N. Yu. Hậu quả của ách chiếm đóng phát xít tại lãnh thổ tỉnh Leningrad: Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử. St. Petersburg, 2005. Trang 18.

[62] MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 170-171.

[63] Các Ostarbeiter người Belarus: Hồ sơ và tư liệu. Minsk: Cục lưu trữ quốc gia Cộng hòa Belarus, 1997. Quyển 2. Trang 40-42.

[64] Những con tin của Wehrmacht. Trang 73.

[65] Những con tin của Wehrmacht. Trang 33, 35; Tội ác của quân chiếm đóng phát xít tại Belarus. Trang 143-144.

[66] Erenburg I. G. Chiến tranh, 1941-1945. Trang 627-628. Tham khảo: ErenburgL G. Con người, những năm tháng, cuộc sống. Tập 2. Trang 404-410.

[67] Alexievich S. Chiến tranh không mang khuôn mặt phụ nữ.Trang 302.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận (1)

saomai1268
saomai1268 23.08.2026 05:41
🔗 Xem tác phẩm: Người Xô Viết Đã Chiến Đấu Vì Điều Gì

Một dân tộc đã trải qua tất cả những điều này đang làm một hành động tàn ác tương tự với chính anh em mình, trên mảnh đất cũng từng bị đức quốc xã giày xéo. Thật không hiểu tại sao họ lại hành xử như vậy? những cái chết trên đất ukraina và đất Nga trong thế kỉ 21 này thật vô nghĩa, chẳng biết họ nhân danh cái gì để hàng ngày, hàng đêm dội tên lửa vào đầu nhau và ngồi đếm chiến tích là sự tàn phá, chết chóc. Họ đang làm kiệt quệ chính mình, vả những cái tát vào chính những gì mà họ từng tự hào, gìn giữ... Đáng thương thay cho dân tộc Nga và Ukraina. Năm phút mặc niệm cho những người đã nằm xuống và sẽ nằm xuống vì cuộc chiến ngu xuẩn này.
Xem trên diễn đàn »
Đăng nhập để tham gia bình luận.