Phòng Tranh Anh Quốc Nhỏ

Lượt đọc: 35 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
George Farquhar (1677–1707)

❊ ❊ ❊

Tại thành phố Dublin, ẩn mình phía sau khu Lower Blind Quay, có một con phố Essex Street West hẹp và tối tăm kéo dài từ Phố Fishamble đến Cổng Essex. Những người cao tuổi vẫn quen gọi nó bằng cái tên thân thuộc trước năm 1830: Smock Alley. Nằm ở phía bắc con phố ấy là nhà thờ thánh Michael và thánh John với kiến trúc khá ư thô kệch. Lối đi có mái vòm nay vẫn được sử dụng, chạy song song với gian giữa của nhà thờ này, vốn từng là lối vào của một nhà hát nằm trên cùng khu đất; còn nơi nay là hầm mộ chôn cất từng là khu vực ghế quây trước sân khấu, chật kín những gương mặt hân hoan và náo nhiệt. Nhà hát được xây dựng vào khoảng năm 1660, trải qua một lịch sử lâu dài, sóng gió và đầy biến động, đã được xây dựng lại vào năm 1735, rồi sau đó bị biến thành nhà kho, rơi vào cảnh tàn tạ trước khi bị thay thế bởi một công trình mang vóc dáng khác. Nhưng khi nó vẫn còn giữ nguyên vẹn hình hài xưa, nơi đây từng rất vĩ đại và được mến mộ. Cứ đến mỗi tối, con hẻm giữa Trinity College và lối đi vòm cổ kính lại nghẹt thở bởi dòng thanh niên trai tráng hớn hở đổ về – những kẻ, như lời Tổng giám mục King từng đầy cay đắng phàn nàn, hình như còn ham mê kịch nghệ hơn cả chuyện đèn sách! Trong số những kẻ lai vãng quanh Smock Alley như những con hàu bám chặt lấy mạn tàu vào những năm 1694 và 1695, có một chàng trai tên là George Farquhar, con trai của William, một mục sư nghèo dòng Tin Lành ở Londonderry; một thiếu niên mặt dài có vẻ ngoài hiền lành nhưng khí chất ngút ngàn. Chàng đã rời bỏ phương bắc, nhờ sự bảo trợ của giám mục, để rồi phải khoác lên mình bộ trang phục kỳ quặc giữa những người có địa vị cao hơn trong xã hội, làm công việc quét dọn và bê những vại bia lớn phục vụ các bậc túc nho trong hội trường; và nhân tiện, tự mình hấp thụ tinh hoa tri thức của bao thời đại. Bước ngoặt lớn trong cuộc đời chàng là thay vì thức thâu đêm suốt sáng để nghiên cứu tác phẩm De Pace của Isocrates, chàng đã lén trốn đi xem Robert Wilkes cùng đoàn kịch thường trực biểu diễn, để rồi nhận ra rằng nghề diễn viên – hay theo cách châm biếm mà sau này chàng định nghĩa là “vắt kiệt buồng phổi để kiếm sống” – mới chính là con đường dành cho mình.

Thế là, khi vừa tròn mười tám tuổi, hoặc là vì vị ân nhân của chàng là Giám mục Wiseman xứ Dromore đã qua đời, hoặc là – theo một lời đồn đoán không mấy đáng tin – vì chàng bị đuổi học, thiếu gia Farquhar đứt gánh giữa đường, bèn tìm đến Quản đốc Ashbury của Nhà hát Dublin. Chàng thành công đến mức chẳng bao lâu sau đã có thể đàng hoàng bước lên sân khấu trong một vai diễn không hề tầm thường: Othello. Chàng có chất giọng yếu và dáng vẻ rụt rè, nhưng khán giả vẫn nhiệt tình cổ vũ. Một trong những vai diễn đầu tiên của chàng là Guyomar, em trai của Montezuma, trong vở bi kịch The Indian Emperor của Dryden. Đến hồi thứ năm, ngay sau khi cất lời ngâm nga đầy vang dội với Vasquez rằng:

“Kết giao với kẻ đã giết Odmar ư?

Dù đê hèn, hắn vẫn là anh ta ta!

Nhưng một khi máu hắn đã rửa sạch tội lỗi,

Tự nhiên buộc ngươi phải đền mạng vì giọt máu đã đổ ra,”

chàng liền lao tới một cú quyết liệt nhằm vào người đối thủ vốn đang tỏ ra quá ư hòa hiệp, đúng theo chỉ dẫn trên sân khấu. Chẳng may, Guyomar lại cầm nhầm một thanh gươm thật, khiến Vasquez suýt chút nữa thì bỏ mạng thật sự. Cuối cùng người đàn ông đó cũng hồi phục; nhưng qua đó mới thấy Farquhar vốn là kẻ nhạy cảm đến mức nào, khi sự hoảng loạn và dằn vặt trong tâm trí chàng suốt khoảnh khắc tin rằng mình đã tước đi sinh mạng của một đồng loại đã đổi thay cả dòng chảy cuộc đời chàng. Chàng rời khỏi sân khấu và quyết không quay lại nữa. Quả thực, khoảng tám năm sau, chàng có ghé thăm Dublin một lần nữa và diễn vai Sir Harry Wildair trên tấm ván sân khấu xưa để quyên góp cho suất diễn của chính mình; nhưng đó là lúc chàng phải gạt bỏ mọi sĩ diện để nắm bắt bất cứ cơ hội kiếm tiền nào có thể, xuất phát từ nỗi lo lắng đến cháy lòng dành cho gia đình.

Wilkes và vợ trở về London, và chàng thanh niên Farquhar cùng đi với họ. Chàng nhận một chức sĩ quan quân đội từ Bá tước xứ Orrery; làm nhiệm vụ ở Hà Lan trong một phần năm 1700, rồi trở về Anh với chiếc áo đỏ binh nhữ sớm nhất trên lưng, trong đoàn tùy tùng của vị quân vương vô cùng kính mộ William III. Nhờ sự thúc giục không ngừng nghỉ của Wilkes, chàng đã viết xong hai vở kịch đầu tay và chứng kiến chúng gặt hái thành công vang dội tại Drury Lane; chàng cũng từng vô cùng hào hứng khi nghe lén tại Quán rượu Mitre ở Chợ St. James, khi cô thiếu nữ mồ cõi mười sáu tuổi Nance Oldfield, cháu gái của chủ quán, đang đọc tác phẩm The Scornful Lady ở phía sau quầy bar. Đại úy Vanbrugh ngay lập tức được nghe kể về sự thích thú và ngưỡng mộ của Farquhar, và dựa vào đó đã giới thiệu cô gái với Rich – người hiếm khi làm được việc gì tốt đẹp hơn trong đời như khi đưa cô lên sân khấu với mức lương mười lăm shilling một tuần. Chẳng bao lâu sau, nữ diễn viên lỗi lạc kiêm người phụ nữ hào phóng ấy – người được định mệnh ban tặng sự vui tươi và dáng vẻ kiều diễm để thổi hồn vào những nữ nhân trong kịch của Farquhar – đã làm rộn ràng cả thị thành trong vai diễn lừng lẫy Sylvia của vở The Recruiting Officer, một người có thể “phi ngựa cả buổi sáng theo tiếng còi săn, và cả buổi tối theo tiếng đàn vĩ cầm.”

“Đôi khi người ta nghe tiếng Farquhar,” Leigh Hunt viết trong một đoạn tổng kết rất hay, “ở xứ Essex, đi săn thỏ (không phải theo phong cách của một kẻ sành sỏi); lúc khác, ở Richmond, trong trạng thái ốm đau; và lần khác nữa, ở Shropshire trong một chuyến tuyển quân, nơi chàng đối đãi vô cùng hiếu khách và tìm thấy chất liệu cho một trong những vở kịch hay nhất của mình.”

Vở Love and a Bottle đã mở đầu cho thời hoàng kim của dòng hài kịch Farquhar; và Wilkes – cái tên mang lại sự ưu ái và vị thế ở London – chính là Roebuck trong dàn diễn viên. Những vở tiếp theo gồm The Constant Couple (với cốt truyện được chuyển thể từ tác phẩm thời trẻ Adventures of Covent Garden của chính tác giả) và phần tiếp theo mang tên Sir Harry Wildair, lại được “người bạn thân thiết và không mệt mỏi” Wilkes hậu thuẫn khi hóa thân thành những chàng lãng tử hào hoa quyến rũ, đã được công diễn dài ngày và củng cố vững chắc danh tiếng của tác giả. Năm 1702, Farquhar cho ra mắt vở The Inconstant (được chàng phóng tác từ vở Wild Goose Chase của Fletcher, như thể đang tìm kiếm một bối cảnh hoàn hảo cho hồi cuối tuyệt diệu do chính mình sáng tạo ra); và nối tiếp The Inconstant là vở The Twin Rivals. Vở The Stage Coach, một kịch vui một hồi có sự hợp tác của một đồng tác giả, ra mắt năm 1704, và The Recruiting Officer vào năm 1706; còn The Beaux’ Stratagem được viết vào mùa xuân năm 1707. Đây là một bảng thành tích lao động nghệ thuật chỉ vỏn vẹn trong vòng chưa đầy chín năm; nó đại diện cho một bước tiến nghệ thuật vững chắc và liên tục; và đáng lẽ nó phải mang lại cho người nghệ sĩ kiên nhẫn ấy một điều gì đó tốt đẹp hơn là cái đặc quyền được chết khi còn trẻ, trong cảnh “tan nát cõi lòng,” như cách chàng thú nhận với Wilkes, “và trong túi không còn một xu.”

Farquhar chỉ có khoản thu nhập cỏn con từ tiền lương sĩ quan để nuôi sống người vợ và hai cô con gái nhỏ. Chàng dường như không tìm kiếm bất kỳ bổng lộc chính trị nào, và những người bảo trợ đông đảo của chàng cũng chẳng mướn công toan tính để nâng đỡ chàng, mặc dù đây chính là thời điểm mà những nhà văn được trọng vọng chen chân vào bộ máy công quyền. Thỉnh thoảng, chàng nhận được mười lăm đồng ghini cho một vở kịch – khi đó là một số tiền rất hậu hĩnh. Có lẽ, giống như những gã lãng tử bốc đồng trong tác phẩm của mình, chàng có “cái đầu để kiếm tiền, và một trái tim để tiêu xài.” Chàng vô cùng mong muốn thành công, vì lợi ích của những người chưa từng phai mờ trong tâm tưởng; và chàng đã phàn nàn cay đắng khi những nghệ sĩ nhào lộn và đi dây người Pháp đã cướp đi sự chú ý của những kẻ ăn chơi ở London dành cho vở The Twin Rivals, giống y như cách mà tội nghiệp chàng họa sĩ Haydon sau này phàn nàn về đám đông đổ xô đến phố Piccadilly, hoàn toàn không phải để chiêm ngưỡng bức tranh “Chúa vào thành Jerusalem” của ông, mà là để ngắm Tướng quân Tom Thumb đang thiết triều dưới cùng một mái nhà.

Khi sức khỏe của Farquhar dần suy sụp và nợ nần bắt đầu bao vây chàng, có vẻ như Bá tước Ormonde, vị tướng quân của chàng, đã giục chàng bán tước hiệu sĩ quan để thanh toán nợ nần, và đồng thời hứa trao cho chàng chức đại úy. Hoặc, xét theo một khả năng cao hơn nữa – dựa trên thực tế là Farquhar lúc bấy giờ đã được gọi bằng danh hiệu đại úy – chàng được thúc giục từ bỏ quân ngũ, đổi lại lời hứa chắc như đinh đóng cột rằng một vị trí thăng tiến khác đang chờ đón chàng. Khi mọi nỗ lực lao động miệt mài khác nhằm đảm bảo cuộc sống cho bốn miệng ăn đều đổ sông đổ biển, chàng vui vẻ thực hiện phần thỏa thuận của mình, để rồi chỉ nhận lại sự trì hoãn phũ phàng từ phía Ngài Ormonde – người lúc bấy giờ đã mải bận tâm đến những chuyện lớn lao hơn. Cuối cùng, lời hứa suông đã đâm thẳng vào tim vị sĩ quan cấp dưới; chàng gục ngã, suy sụp hoàn toàn từ khoảnh khắc ấy, vì đau khổ và u uất. Nhà in Lintott và người bạn già Wilkes đã đứng cạnh chàng một cách đầy trượng nghĩa, một người ứng trước khoản thù lao hào phóng, người kia tận tình giúp đỡ và gửi quà; nhưng Farquhar đã chẳng thể gượng dậy được nữa. Ai cũng biết, chính gửi Wilkes mà chàng đã viết nên di chúc đầy xúc động này: “Bob thân mến, ta chẳng có gì để lại cho ngươi làm kỷ niệm ngoài hai đứa trẻ bơ vơ. Hãy thỉnh thoảng đoái hoài đến chúng! Và hãy nhớ đến người đã luôn là của ngươi, cho đến tận giây phút cuối cùng của cuộc đời.” Hơi thở cuối cùng khép lại vào khoảng ngày 29 tháng 4 năm 1707, khi George Farquhar vừa tròn ba mươi tuổi.

Trong lúc chàng đang hấp hối tại Soho, vở hài kịch cuối cùng và cũng là hay nhất của chàng đang được công diễn tại nhà hát tráng lệ Haymarket mới, và người ta kể rằng khán giả đã rơi lệ vì chàng bằng một thứ lòng trắc ẩn phù phiếm – nét tính cách vốn không lạ gì ở giống loài con người vô tâm này. Chàng được chôn cất tại nghĩa trang giáo xứ St. Martin-in-the-Fields, nơi tro cốt đầy hối hận của Nell Gwynne đang yên nghỉ, và nơi những tiếng chuông do nàng để lại đã ngân vang tiễn đưa linh hồn chàng.

Tên tuổi của Farquhar luôn được đặt cạnh Congreve, Wycherley và Vanbrugh, mặc dù về mặt tinh thần cũng như thời đại, chàng đứng tách biệt khỏi những ảnh hưởng đã nhào nặn nên họ. Nhiều nhà phê bình, nổi bật nhất là Hazlitt, Macaulay và Thackeray, là những người ít nhắc đến chàng nhất trong số bốn người, nhưng thực chất chàng lại là nhà viết kịch xuất sắc nhất trong nhóm; và đó là một niềm vinh dự lớn lao cho một thời kỳ đầy vết nhơ nếu lấy chàng làm đại diện. Chàng có sự hoạt bát trào dâng của Vanbrugh, sự duyên dáng của Congreve, và biệt tài tạo cao trào của Wycherley. Wycherley, khi lui về ở ẩn vào lúc Farquhar ra đời, đã sống để chứng kiến sự cáo chung của chàng; Etherege lúc đó đang ở thời kỳ đỉnh cao; vở All for Love của Dryden đang nằm trên bàn thợ in; và Otway, khi chuẩn bị cho ra mắt hai tác phẩm lớn, đang lủi thủi trở về trong bộ dạng rách rưới từ Flanders: Otway – người mà những cuộc phiêu lưu thuở nhỏ trên sân khấu cùng nghiệp lính sau đó sẽ được Farquhar dõi theo sát gót.

Pope, và một nhà quan sát ôn hòa hơn là Steele, cho rằng lời thoại của Farquhar mang tính “bình dân,” và quả thực nó phải nghe có vẻ như vậy nếu đặt giữa những âm hưởng cường điệu dũng mãnh còn sót lại của dòng bi kịch thời Jacobean với giọng điệu trầm bổng của Cato hay The Revenge. Một tài năng thực tế như Farquhar chắc chắn sẽ chuốc lấy những lời chê bai cay nghiệt từ Pope – kẻ luôn né tránh phong cách tự phát của chàng – và Steele – người không thể chấp nhận những chủ đề thô tục mà chàng đã thừa hưởng. Về sự tao nhã thuần túy, một số phân cảnh trong The Way of the World chưa bao giờ bị vượt qua; chúng chứng minh rằng người ta không thể giữ chân khán giả trên sân khấu chỉ bằng lời nói suông. Thật may mắn cho Farquhar khi chàng không thể noi theo những nét đồi bại được văn minh hóa một cách tinh tế thuộc về nàng thơ chốn đô thị của Congreve. Nhưng đối với thị hiếu hiện đại, lời thoại của chàng аж chẳng hề “bình dân”; nhìn chung, chúng mang một sức sống mộc mạc, tự nhiên, vượt trội hơn hẳn so với thứ ngôn từ hoa mỹ rườm rà của đầu thế kỷ mười tám. Tuy nhiên, ngay cả chàng đôi khi cũng sa đà vào việc gào thét và rơi vào lối hùng biện sáo rỗng, hễ cứ khi nào các nhân vật tình nhân của chàng quỳ sụp xuống một gối. Rõ ràng hơn bất kỳ tác giả đương thời nào, ta thấy trong tác phẩm của Farquhar ánh hào quang của văn học thời Stuart đang phai nhạt dần, và hơi thở của cuộc sống thực tại đang thổi vào. Một chủ nghĩa dân tộc thuần tính Kháng Cách bắt đầu bám rễ sâu vào nước Anh dưới thời William và Mary, mang lại những thay đổi tinh tế đối với nghệ thuật, thương mại, thể thao và cung cách ứng xử của người dân. Trong các vở hài kịch của Farquhar, ta bắt gặp hình ảnh phản chiếu của một thời đại đang chậm lại và mạnh mẽ hơn; những nét kỳ quặc của ba triều đại trước hầu như đã biến mất; những bộ trang phục theo phong cách Vandyck không còn lướt thướt xủng xẻng nữa. Lời ăn tiếng nói trở nên sắc sảo và thiết thực hơn, với vốn từ vựng thu hẹp hơn; đời sống đang dần mang tính bình dân hóa – tức là gần gũi với con người hơn – và xích lại gần hơn với những trăn trở đời thường không mộng mị. Thế giới của Farquhar hoàn toàn vắng bóng những sinh vật phi thực tế một cách tinh tế như Millamant – người ngập tràn hơi lửa, sương mai và hương thơm, người không thể chịu nổi cảnh mái tóc mình được uốn bằng những tờ giấy viết văn xuôi, và tự thân nàng là một sự minh oan cho điều mà ông Allibone lấy làm thích thú khi gọi là “tiểu luận ngụy biện và đầy tai họa của Lamb.” Cùng với chàng, bất chấp việc cái môtíp kinh doanh tình ái cũ rích vẫn lặp lại, nét phóng túng, sự kiêu kỳ và ảnh hưởng kiểu Pháp đã vơi bớt đi đáng kể. Ngay từ đầu, chàng đã phản ánh những gì chính mắt mình cảm nhận; các vở kịch của chàng giống như những nét ký họa tốc ký, dù còn mang nét rụt rè, về một thời đại quá độ và đậm chất phơi bày thực tế. Đoàn nhân vật của chàng được cấu thành từ những cá thể mà chàng từng nhìn thấy dưới muôn vàn góc độ tại các quán Spread Eagle và Rummer; tại Inner Temple và Công viên St. James; trong các doanh trại trong nước lẫn nước ngoài; và tại chính quê hương nơi những kẻ phiêu lưu, với tài hùng biện rặt giọng Londonderry thuần khiết, lảo đảo bước đi trong hơi men và những ý tưởng ngập tràn.

Chàng tiên liệu trước một số khía cạnh về tình yêu mãnh liệt dành cho London của binh nhì Ortheris, và khắc họa chàng Dicky lưu vong của mình như thể “vừa chết vì bệnh lao, cho đến khi làn khói ngọt ngào của Cheapside và hương thơm thân thương của mương Fleet tái sinh anh ta thành một con người mới.” Chính trong sự thấu cảm đầy tiếng cười và trìu mến đối với những giá trị mang tính địa phương và thời đại ấy lại ẩn chứa toàn bộ sức mạnh cũng như điểm yếu của Farquhar. Đôi khi, từ các nhà thơ thời kỳ Khôi phục, người ta bất ngờ bắt gặp một vài vần thơ lạc lõng phảng phất ý thức về vẻ đẹp tự nhiên, hay thậm chí sự thừa nhận luật trời; nhưng Farquhar không phải là nhà thơ, và thứ tinh chất sâu thẳm ấy hoàn toàn vắng bóng trong chàng. Chàng chẳng hề nhận thức được điều gì nằm ngoài thực tại, và cũng chẳng mở ra bất kỳ ô cửa hay khe nheo nào để trí tưởng tượng có thể thong thả bay bổng trong chốc lát rồi

—“kiêu hãnh bước ra cõi vô biên.”

Sự thiếu hụt ấy sẽ chẳng đáng bận tâm ở những nhà văn đồi trụy và giả dối vừa bước qua trước chàng. Thế nhưng, kể từ chính thời điểm chàng bắt tay với các nhà quản lý ở London, chủ nghĩa lý tưởng đã tràn ngập khắp nơi, và một kẻ có thiện cảm với “những giá trị cao cả hơn” sẽ chẳng còn phải sợ hãi việc bộc lộ chúng nữa, bởi vì triều đình và nhân dân – nếu không muốn nói là tầng lớp trí thức thống trị thị thành – đều đang đứng về phía chàng. Farquhar không có đủ sự thức tỉnh về mặt đạo đức lẫn ý chí, dù chàng thừa khả năng, để góp một tay vào công cuộc tốt đẹp đang chờ đón kẻ thức thời. Chàng còn trẻ, lớn lên trong môi trường tỉnh lẻ; chàng bị cuốn theo những truyền thống sân khấu. Dẫu vậy, tâm trí chàng giống như chiếc vạc của Medea, từ đó mọi thứ tuôn ra đều trở nên trong sạch và lành mạnh hơn. Bất chấp nguồn năng lượng tràn trề như loài vật của các nhân vật, họ vẫn giải quyết những rắc rối điên rồ của mình bằng sự khôn ngoan và điều độ; họ ngầm tuyên bố rằng bản thân chỉ đang “quẩy hết mình” trong một thời gian ngắn, giống như đi câu cá vào mùa nước thuận, và có lẽ sẽ quay lại lối sống chuẩn mực của một công dân từ ngày mai trở đi. Dưới những lề thói tồi tệ cũ kỹ vẫn được duy trì, họ phát triển những phẩm chất xứng đáng gần bằng Người hùng theo đạo Cơ đốc. Họ “nhìn trước ngó sau.” Họ được xếp vào hàng ngũ trung lập và vô danh, bởi vì họ mang tất cả vẻ nghênh ngang của những bậc tiền bối phóng túng, nhưng lại chẳng có chút bản chất ma quỷ nào trong đó. Về mặt nghề nghiệp, họ thuộc về một dòng họ, nhưng đồng thời lại mang sự tương đồng trêu ngươi đối với dòng họ khác. Bản thân Farquhar, có lẽ khi ấy chưa nhận thức được rằng lập trường kiên định tốt hơn sự thỏa hiệp, đã có một cú liều lĩnh táo bạo nhằm giành lấy vòng nguyệt quế cả về tâm linh lẫn thế tục. Bắt chước nghệ thuật tiền bối như bản tính muôn thuở của những kẻ mới vào nghề, chàng ôm lấy thứ danh vọng được phê chuẩn mà nghệ thuật thuở trước chưa từng mơ tới. Ngay trong phần lời tựa vô cùng xuất sắc của vở The Twin Rivals (vốn luôn được lòng các nhà phê bình hơn là khán giả), chàng tự đứng ra làm kẻ trừng trị thói hư tật xấu, và ngỏ ý xoa dịu “các quý bà cùng giới tu sĩ,” điều mà ở một mức độ nào đó có thể đã lọt vào mắt xanh của những kẻ siêu hình hơn trong số họ. Bạn của chàng, ông John Hopkins – tác giả của vở Amasia, đã thay mặt vở The Constant Couple để cầu xin sự ca ngợi từ Collier. Vị kiểm duyệt cởi mở đó có lẽ đã nhìn thấy với niềm hoan hỉ trong xu hướng chung của các sáng tác từ Farquhar những tia nắng ngày càng rõ rệt của sự đoan trang thời đại Augustan. Mặc dù Farquhar không sống đủ lâu như Vanbrugh và vị đại ân nhân Dryden để thừa nhận sự lạm dụng của một tài năng rồi hối hận về nó, nhưng trong số các nhà soạn kịch hạng trung, chỉ có mình chàng là luôn giữ được một thứ lương tâm phủ định nào đó – dẫu sao vẫn còn hơn là không có gì. Bản năng của chàng liên tục vượt lên trên không chỉ hoàn cảnh sống mà cả thực tiễn sáng tác của chính mình. Những nỗi bứt rứt, hoài nghi luôn nằm ẩn sâu dưới lớp vỏ bọc vật chất đời thường của chàng. Xét cho cùng, chàng nghĩ tốt nhất là nên từ bỏ sự cám dỗ vươn tới tầm vóc siêu việt để bám lấy những niềm vui trần thế; và quả thực, chàng có một tài năng thiên bẩm xuất chúng đối với những niềm vui trần thế ấy. Những gì được ca ngợi tài tình về Hogarth – bậc thầy vĩ đại – cũng hoàn toàn đúng với mọi nhà thực hành thuộc trường phái của ông: “Ông có cảm xúc mãnh liệt và khả năng làm chủ tuyệt đối đối với những ấn tượng của giác quan và thói quen, của tính cách và đam mê, cả bi lẫn hài; nói một cách ngắn gọn, là tự nhiên dưới góc độ quan sát của chính ông, hay khi nó bước vào phạm trù trải nghiệm thực tế của ông. Nhưng ông có rất ít khả năng vươn ra ngoài phạm trù đó, hay sự đồng cảm với những gì chỉ tồn tại trong ý tưởng. Ông đã ‘hòa mình vào thế giới này, chứ không hề chuyển hóa nó.’” Hoặc, như Leigh Hunt trong cuốn hồi ký tuyệt đẹp của mình đã bổ sung một cách đầy sắc sảo về chính Farquhar: “Chàng có thể biến những gì mình từng trải nghiệm trong đời sống thường nhật thành thứ vốn liếng quý giá nhất, nhưng trong mọi trường hợp, chàng đều cần đến sự hỗ trợ của những mối liên hệ thông thường, và không tài nào phóng chiếu linh hồn mình vượt ra ngoài những giới hạn ấy.” Nói tóm lại, Farquhar thiếu đi trí tưởng tượng. Tuy nhiên, bù lại, chàng có một cái nhìn sâu sắc thuộc tầm mức khác – điều mang lại cho chàng niềm vinh quang và phân biệt chàng với tất cả những đồng nghiệp khác: đó là sự đồng cảm và lòng bác ái.

Vết nhơ lớn nhất trong văn học sân khấu Anh thời kỳ này không phải là lối sống tự do phóng túng, mà chính là sự vô cảm đến tột cùng đi kèm với nó. “Sự kiêu ngạo” (như Erasmus từng dẫn lời vị học giả khổ hạnh Dean Colet nhắc nhở các giáo sĩ của mình) “còn tồi tệ hơn cả trăm bà vợ lẽ.” Những nét chấm phá rời rạc hiếm hoi về sự dịu dàng, lòng trắc ẩn, sự hào hiệp vô vụ lợi mà người ta phải nhọc công tìm kiếm trong tác phẩm của Congreve, nay lại hiên ngang bước vào trang viết của Farquhar và tràn ngập khắp các kịch bản của ông. Các phân cảnh của Vanbrugh chẳng dựa vào đâu ngoài thứ châm biếm cay độc và quá đà. Nếu các nhân vật của Congreve mang sự hóm hỉnh không phân biệt đối tượng, thì nhân vật của Vanbrugh lại mang sự hoài nghi phổ quát, nhàm chán, và điều đó được trả giá bằng chính danh dự của họ lẫn toàn xã hội. Những phụ nữ thuộc tầng lớp thượng lưu của ông hoàn toàn không có cá tính; họ mang những nọc độc chung một khuôn mẫu. Tuy nhiên, hình tượng mộc mạc và sắc sảo của mụ vật chất Mrs. Amlet trong vở The Confederacy lại thực sự xứng đáng sánh ngang với Farquhar, và chắc chắn ngay cả bản thân Congreve cũng chẳng thể nhào nặn bà ta xuất sắc hơn thế. Nhân vật Người hợp thời tiêu biểu của Etherege là một sự pha trộn giữa giả dối, lạnh lùng và khinh miệt dưới lớp y phục hoàn hảo; một cảnh tượng thật thê thảm. Nghĩ đến những con quái vật diêm dúa ấy, Macaulay đã tuôn ra những lời chỉ trích nổi tiếng nhắm vào các tác giả tạo ra chúng: “Trán bằng đồng, tim như cối đá dưới, và lưỡi châm lửa bởi hỏa ngục!” George Farquhar hoàn toàn có thể được miễn trừ khỏi lời ca ngợi xứng đáng này. Trong thế giới hư cấu của chàng có sự vui vẻ chân thành, có tinh thần trách nhiệm, có tình yêu đích thực, có những người phụ nữ tốt đẹp; có tình bạn chân thành giữa Roebuck và Lovewell, giữa Trueman và Hermes Wouldbe, giữa Aimwell và Archer, và giữa chàng Tummas ngốc nghếch trong The Recruiting Officer với Costar – người mà chàng không tài nào bỏ lại phía sau. Sylvia, Angelica, Constance, Leanthe, Oriana, Dorinda, dù có ăn nói phóng khoáng đến đâu đi nữa, họ vẫn tỏa sáng rực rỡ biết bao, mang theo sự tươi mới của buổi sớm mai giữa những bông hoa huệ vằn của cái khu vườn tà ác mang tên kịch nghệ thời Khôi phục! Những nữ anh hùng này là một sự đổi mới, bởi vì họ là những thiếu nữ còn son trẻ chứ không phải những người phụ nữ đã có chồng. Còn về những chàng lãng tử đội tóc giả bất tử – những kẻ theo đuổi họ – họ là “những quý ông thực thụ,” theo cách gọi của Hazlitt – người vốn dành nhiều tình cảm cho Farquhar, “và chỉ là những kẻ giả mạo trá hình;” hay trích lời biên tập viên gần đây nhất của Farquhar, ông A. C. Ewald, họ “luôn là con người chứ không bao giờ là lũ hoang dã yahoos.” Tác giả của họ chẳng có chút hứng thú nào trong việc “tôn sùng cái ác và biến đức hạnh thành ra tẻ nhạt, đáng khinh.” Lời ngợi ca dành cho họ có thể chỉ mang tính phủ định, nhưng nó vạch ra một ranh giới cách biệt lớn lao giữa họ với lũ công tử bột và bọn đểu cáng mà họ từng bị đánh đồng. Trong những cuộc trò chuyện lấp lánh châm ngôn và trào lúng ấy, sự thù hằn không hề tồn tại; họ không hề chế giễu hay xâm phạm bất kỳ đức hạnh nào; và ở mỗi ngã rẽ của một chiến dịch ích kỷ, họ luôn tìm thấy cơ hội để cư xử một cách cao thượng. Từ miệng của những con người từng trải thế tục ấy cất lên tiếng châm biếm đanh thép, nóng hổi nhắm thẳng vào thói đời vụ lợi; bởi vì Farquhar mang đậm tính luân lý – nếu chưa muốn nói là thuần đạo đức – trong giới hạn mà chàng dám vươn tới. Vài kẻ kém thu hút nhất trong số đó, những kẻ tham lam và mưu mô nhất, lại có những khoảnh khắc cất lên những lời lẽ kỳ quặc đầy ngọt ngào và lạc quan. Cứ như thế, Benjamin Wouldbe – kẻ mưu phản chống lại người anh cả trong vở The Twin Rivals – đã cất lời cất biệt theo phong cách của một trang lãng tử thực thụ: “Ta khinh cái lòng tốt ban ơn chết dã của ngươi! Nếu mưu kế của ta thành công, ta đã chẳng cho ngươi dù chỉ một mẩu bánh xốp, thế nên ta cũng sẽ chẳng nhận bất cứ thứ gì từ ngươi.” Nhân vật ấy lại tiếp tục thăng hoa trong một góc nhìn viển vông đầy thi vị: “Hãy chỉ cho ta thấy kẻ khắc kỷ kiêu ngạo nào có thể chịu đựng được thành công và rượu sâm-panh đi! Triết học có thể nâng đỡ chúng ta trong nghịch cảnh, nhưng ai mà giữ nổi sự kiên nhẫn khi đang sung túc?” Đối với những nhân vật nam nữ ở tuổi trung niên, Farquhar nán lại với sự mãn nguyện hoàn toàn xa lạ với các đồng nghiệp của chàng – những người vốn coi các bà mẹ, người giám hộ, người chồng và những con rồng canh giữ táo ấy đều nực cười và đáng ghét như nhau. Thẩm phán Balance hấp dẫn chẳng khác nào ngọn lửa sưởi ấm trong đêm tháng Mười Hai; và Lady Bountiful cũng vậy. Đối với Fairbank – người thợ kim hoàn tốt bụng, Farquhar tỏ ra khá ư đa cảm, và cho phép ông thốt lên những câu thơ mười âm tiết một cách vô thức, giống như tác giả tiểu thuyết đồng quê của tác phẩm Lorna Doone. Những kẻ phản diện của chàng chỉ mang tính chất phản diện theo nghĩa nhẹ nhàng hơn; trong bức tranh toàn cảnh của hắn, dẫu những kẻ ác ôn xuất hiện rồi biến mất, thì điều đó cũng chỉ diễn ra trong chốc lát nhằm phục vụ cho một hiệu ứng kịch nghệ nào đó. Chàng dành những lời tán dương cho các nhân vật chính khi họ xứng đáng, và khi họ không xứng đáng, bạn vẫn có thể tin tưởng rằng chàng sẽ tìm ra một lý do đầy trắc ẩn; giống như khi nàng Leanthe tội nghiệp đầy cảm xúc thốt lên về người yêu rằng “những thói hư của chàng được xây dựng một cách lỏng lẻo trên những nguyên tắc danh dự, nơi chính cái nền móng ấy lại góp phần khoét sâu phá hủy cấu trúc.” Ngay cả Squire Sullen, với sự đần độn của mình, cũng được giải thoát mà không vấp phải sự nhạo báng nào, trong một âm vang tiếng cười vô hại. Quả thực, Farquhar ngập tràn sự dịu dàng và lòng nhân ái. Chàng mang thái độ ưu tư của một nhà hài văn chân chính đối với thế giới mà chàng từng chế giễu; các nhân vật của chàng thốt ra những lời lẽ uyên thâm vượt quá tầm hiểu biết của những khán giả thời bấy giờ.

Thật kỳ lạ khi chính một nhà soạn kịch thời Khôi phục mang trái tim “như cối đá dưới” lại ban tặng cho chúng ta một bức tranh mô tả ngắn gọn và hoàn hảo nhất về đời sống hôn nhân lý tưởng. Trong phân cảnh hồi thứ tư của vở Sir Harry Wildair, khi Lady Lurewell với “vẻ làm hàng hóa đá” đang cố gắng trêu chọc Sir Harry đến mức tận cùng về người vợ của anh ta (người mà anh ta tin là đã mất tích hoặc đã chết) cùng mức độ tình cảm anh từng dành cho cô ấy, anh đã đáp lại rằng: “Trái tim tôi tự thì thầm với tôi những khát khao của nàng, bởi vì chính nàng đang hiện diện nơi đó; chẳng có cuộc tranh chấp nào từng xảy ra ngoại trừ cuộc đấu tranh ngọt ngào xem ai là người biết chiều chuộng nhau nhiều hơn – chẳng có sự om sòm nào về quyền lực, bởi vì chẳng ai chịu cúi đầu hạ lệnh ở nơi mà cả hai đều coi việc vâng lời là vinh quang.” Câu thoại này được ngâm lên một cách dồn dập, không thiếu đi sự thiếu nhấn mạnh đầy trêu ngươi; nhưng nó lại là một viên ngọc trai sáng ngời biết bao khi được đặt giữa đoạn hội thoại mang tính châm biếm cay độc tột cùng! Lịch sử hiệp sĩ Anh quốc và văn học Anh chẳng có thêm một đoạn văn vàng ngọc nào khác tương tự trong các bộ quy tắc của họ, ngoại trừ lời ca ngợi nổi tiếng dành cho Lady Elizabeth Hastings rằng “yêu nàng chính là một nền giáo dục khai sáng,” hoặc câu hát không thể nào quên của Lovelace:

“Ta nào yêu em nhiều đến thế,

Nếu chẳng yêu Danh dự hơn nhiều!”

Đoạn văn này mang một vẻ đẹp ngẫu nhiên vô cùng lớn khi ta nhớ lại rằng vào thời đại và không gian ấy, việc viết ra nó đòi hỏi một sự dũng cảm nhường nào. Cũng thật đặc trưng cho Farquhar khi câu nói ấy được đưa vào ngay giữa cao trào của một cuộc trò chuyện sôi nổi và bão tố, rồi lập tức bị cuốn phăng đi như thể để chứng minh rằng chàng hiểu rõ cả nghệ thuật của mình lẫn khán giả của mình. Mối quan hệ vợ chồng giữa những kẻ dẫn đầu xu hướng thời trang vẫn là một chủ đề để người ta đùa cợt và giễu nhợt. Đại úy Vanbrugh – người mà chẳng ai có thể mong đợi sự giáo huấn nào từ ông – từng đặt vào miệng nhân vật Constant của mình trong một vở kịch rất được Garrick yêu thích một chút nhận thức và sự chân thành mà Hunt đã trích dẫn rất xứng đáng: “Dù hôn nhân là một vế xổ số trong đó có vô vàn những tờ vé trắng, nhưng vẫn tồn tại một giải thưởng vô giá mang tên thiên đường duy nhất trên cõi đời.” Và thêm rằng: “Có khả năng yêu một người còn hơn là sở hữu một ngàn người.” Điều này diễn ra vào năm 1698, và do đó Farquhar không phải là người đầu tiên, cũng chẳng đơn độc trong việc dám cất lên tiếng nói bảo vệ cho định chế hôn nhân đang bị chế giễu. Steele chẳng mấy chốc sẽ xuất hiện như một nhà vô địch thực thụ của đời sống gia đình; và sự hóm hỉnh của người Anh kể từ khi ông viết ra những dòng ấy chưa bao giờ sống bằng cách chế giễu những điều kiện tạo nên

—“những ngày tháng quây quần trong tổ ấm và sự kính trọng gia phong.”

Thế nhưng, chính Farquhar mới là kẻ cất lên lời nói đáng nhớ nhất của thế hệ mình để bảo vệ những giá trị đó. Sau bằng chứng cao cả ấy về con người mà chúng ta có lý do để nghi ngờ, thật tốt biết bao khi có thể tìm hiểu, theo cách tốt nhất có thể, xem George Farquhar thực chất là người như thế nào. Và trước tiên, hãy cùng trích dẫn một số đoạn từ chính lời tự nhận xét về bản thân chàng, “thẳng thắn và khiêm nhường,” như cách gọi của Hunt.

Chàng cho chúng ta hiểu rằng mình sở hữu một tâm hồn nồng nhiệt, được kìm hãm bởi xu hướng suy ngẫm nội tâm, sự bận thẹn tự nhiên và thói quen biết nghĩ cho người khác. Chân dung ấy được phác họa từ một bức thư trong tập Miscellanies, miêu tả “một tâm hồn và thân hình thường khoác lên mình bộ đồ đen,” và nó hoàn toàn có thể bước ra một cách duyên dáng từ trang sách của tờ The Spectator. “Tôi chẳng có tài sản gì ngoài những thứ nằm gọn dưới vành mũ của mình . . . và nếu không may bị mất đầu, tôi chẳng đáng giá nổi một xu.” “Tôi hiếm khi bị làm phiền bởi những thứ mà thế giới gọi là điệu bộ và sự thất thường, và tôi nghĩ đó là lời ngụy biện ngu ngốc của một kẻ ngốc khi thốt lên câu: ‘Đó chỉ là tâm trạng của tôi.’” “Tôi không tài nào tập trung nổi vào bất kỳ môn học nào không mang lại niềm vui trong quá trình ứng dụng.” “Sự chờ đợi dài đẵng đẵng luôn làm cho niềm hạnh phúc vơi đi một nửa đối với tôi; tôi đánh mất sự bùng nổ vĩ đại của sự ngạc nhiên.” “Tôi là một kẻ sành ăn chính hiệu; vì lý do đó, tôi căm ghét mọi niềm vui phải đổi lấy sự đau đớn quá mức. Tôi không thể tận hưởng một trò đùa mà ở đó mang lại nỗi bực bội cho người khác. Tóm lại, nếu tôi có lỡ gây ra một tổn thương cố ý nào, thì đó chắc chắn phải là một tổn thương rất lớn.” “Tôi có rất nhiều người quen, rất ít bạn thân, nhưng chẳng có nổi một người bạn tri kỷ; ý tôi là theo lối lãng mạn cổ điển.” “Tôi chẳng giữ bí mật nào nặng nề đến mức không thể tự mình gánh vác trong lồng ngực.” “Tôi muốn niềm đam mê của mình, nếu không được dẫn dắt, thì ít nhất cũng phải được chờ đợi bởi lý trí.” Luận điểm cuối cùng này, được Farquhar lặp lại ở những nơi khác, là phiên bản tương đương với câu nói trong tác phẩm Arcadia của Sir Philip Sidney, mang lại sự tấu thú khi thốt ra từ miệng của một đứa con thuộc “thời đại khiêu vũ, chè chén và vô tư lự.” Gương mặt của Farquhar trong những bức tranh khắc cổ thực sự hòa quyện một cách kỳ lạ với những lời tự thuật đáng yêu ấy: một gương mặt trẻ tuổi khôi ngô, nhân từ, hằn in nỗi nhọc nhằn và u sầu – hoàn toàn trái ngược với hình mẫu đương thời về một gã lãng tử chơi bời chốn thị thành. Thể chất của chàng, ngay cả lúc khỏe mạnh nhất, cũng vô cùng mong manh. “Em đối với anh quý giá biết bao,” chàng viết một cách đầy bi thương gửi người Penelope của mình, “cũng như niềm hy vọng được thức dậy trong trạng thái khỏe mạnh vào sáng mai vậy.”

Một giai thoại đã được đông đảo các nhà phê bình và tiểu sử tiếp nhận mà không hề hoài nghi, rằng các nhân vật chính của chàng – tất cả đều được đúc chung từ một khuôn mẫu tràn đầy sức sống – thực chất chỉ là những cái tên ẩn danh của chính tác giả. Quả thực, họ có thể là những phiên bản phóng chiếu rực rỡ của chính chàng, với những nét tính cách tiềm ẩn bị thổi phồng lên và những sự kìm nản trong tâm trí được cởi trói. Công chúng – những kẻ luôn yêu thích việc đồng nhất hóa – khăng khăng đòi tìm thấy hình bóng chàng được phơi bày qua các nhân vật Archer và Sir Harry. Dù các nhà soạn kịch thời bấy giờ có mang cáiông kính có phần thiên lệch theo phong cách Rembrandt là tự tô vẽ chính mình vào tiền cảnh hay không, thì họ vẫn bị phỏng đoán một cách cứng nhắc rằng họ đang làm thế, với Etherege trong vai Young Bellair, với Otway trong vai Jaffier. Nhưng nguyên mẫu Farquhar ngoài đời thực

—“lịch thiệp, cởi mở, ngọt ngào,

Căm ghét cái thói uy quyền và kiêu ngạo nghiêm nghị,”

với sự kín đáo, bộ trang phục giản dị, chất giọng trầm ấm dễ chịu, danh tiếng từ thuở hàn vi ở đại học vì tính cách lạc lõng, luôn hành xử bằng một tinh thần cao thượng có ý thức trong mọi tình huống mà chúng ta có thể lần theo, hoàn toàn cách xa khỏi khí chất của những sáng tạo bồng bột và vui tươi của chính chàng. Chàng muốn xóa bỏ ấn tượng rằng mình từng là nguyên mẫu cho chính các nhân vật; bởi vì chàng đã cẩn trọng đề tặng vở The Inconstant cho người bạn cùng lớp Richard Tighe, và ca ngợi anh ta có mối liên hệ mật khẩu với Mirabel, “một chàng trai trẻ hào hoa, rực rỡ, phóng khoáng, rộng lượng và tuyệt vời;” tóm lại là hiện thân được ca tụng của tất cả những gì mà các anh hùng của Farquhar hướng tới. Hơn nữa, để tránh bị coi là một kẻ theo chủ nghĩa hiện thực cuồng nhiệt như Tiểu thư de Scudéry – người từng nhồi nhét ba trăm bảy mươi người quen của mình vào giữa các trang sách của tác phẩm Clélie, Farquhar đã thêm vào lời đề tặng đầy nhiệt huyết của vở The Recruiting Officer dòng cảnh báo này gửi “tới tất cả những người bạn quanh vùng Wrekin”: “Một vài nét biến tấu hài hước mà tôi bắt gặp ngay dưới bóng của ngọn đồi nổi tiếng ấy đã khơi nguồn cho vở hài kịch này; và mọi người lo sợ rằng, noi theo gương của một vài kẻ khác, tôi sẽ mang thị trấn ra làm trò cười trên lưng của những điền chủ nông thôn. Nhưng họ đã quên mất rằng tôi viết hài kịch chứ không phải viết đơn tố cáo.” Chàng phủ nhận ở mọi nơi, với cùng một vẻ quả quyết tinh nghịch, những cách lý giải được gán ghép cho các dự định và hành động của mình bởi cái thế giới gồm những đứa trẻ to xác mà chàng từng phục vụ. Được ban tặng lòng dũng cảm và sức hút cá nhân mạnh mẽ, chàng có rất ít cơ hội để khẳng định tên tuổi trên chiến trường, và phần lớn thời gian chỉ tỏa sáng tại các bữa ăn chung trong doanh trại; nhưng chàng đã trải qua một cuộc đời không thiếu những phiêu lưu, bao gồm cả những sự kiện đậm chất kịch tính với một chút huyền bí để tăng thêm phần hấp dẫn đối với những kẻ tò mò. Farquhar từng đi du lịch, và mang theo một tâm hồn cởi mở chứ không hề khép kín kiểu người xứ đảo; theo lời thú nhận của chính chàng, chàng có một sự gắn bó sâu sắc với rượu vang và những chú sơn ca của vùng Spring Gardens – những kẻ cất tiếng hót át cả “tiếng chuông nửa đêm, thưa ngài Shallow”; tóm lại, dẫu mang “nỗi sầu muộn như thể chiếc áo mặc thường ngày,” chàng vẫn sống động và xông xáo như một đảng viên Whig trung kiên của cuộc Cách mạng, rụt rè trước sự chú ý của các quý bà cho đến khi nó đến, và tự hào về điều đó mãi về sau. Khi xuất bản tác phẩm The Adventures of Covent Garden vào năm tuổi thứ hai mươi mốt, chàng đã đính kèm một câu châm ngôn ngạo mạn của tuổi trẻ: Et quorum pars magna fui. Nhận định ấy dường như đã bám theo chàng chặt hơn mức mà chàng cảm thấy thoải mái. Chàng phàn nàn không chút vô cớ, trong bài tiểu luận văn xuôi về nghệ thuật kịch, rằng công chúng luôn cho rằng bất kỳ vai diễn nào được cấu thành từ “kẻ ăn chơi thực tế và quý ông suy ngẫm thì mười mươi đó chính là tính cách của tác giả.” Đối với sự kiện mang lại những phân cảnh kết thúc đầy kịch tính cho vở The Inconstant, Farquhar có lẽ chẳng có chút liên hệ nào; chàng cẩn trọng khẳng định rằng nhân vật chính trong đó là Hiệp sĩ de Chastillon, y như thể chàng đang sợ người ta lại nhầm lẫn giữa chính mình – một con người gan dạ và nhanh trí – với những “tên côn đồ mạ vàng” trong trí tưởng tượng của chàng. Lời đồn đại đánh đồng họ với chàng hoàn toàn chẳng có lấy một căn cứ xác thực nào để bấu víu. Sự may mắn, thời trang, sự liều lĩnh và tính trơ trẽn không phải là những vì sao chiếu mệnh cho sự ra đời của Farquhar. Những phẩm chất ngoại lai và mang tính sử thi có thể nở rộ dưới những yếu tố ấy, chẳng hạn như những gì tô điểm cho các chàng dã nhân đáng yêu mà chàng miêu tả, chắc chắn thuộc về chính con người chàng; và thói quen sống tách biệt, để mặc cho thị thành bàn tán đã củng cố vĩnh viễn niềm tin rằng chàng đã khai thác triệt để bản thân một cách gián tiếp trên sân khấu. Một số phẩm chất của Farquhar, một số cuộc đình chiến dũng cảm được thiết lập với những nghịch cảnh, buộc người ta phải nhìn nhận chàng bằng sự chú ý và tôn trọng lớn hơn cả những gì ngòi bút rực rỡ của chàng mời gọi. Thật đáng quý khi thấy chàng vẫn giữ được vẻ rụt rè và hiếu học giữa một xã hội chè chén say sưa, cùng sự nhạy cảm đến mức chỉ một sơ suất nhỏ thời niên thiếu cũng đủ khiến chàng thề không bao giờ đấu kiếm nữa; thế nhưng, đặc điểm nổi bật nhất của chàng – điều tách biệt chàng khỏi các nhân vật mang áo choàng thêu kim tuyến – chính là lòng tận tụy bền bỉ nổi tiếng dành cho hạnh phúc gia đình và cách hành xử đáng ngưỡng mộ liên quan đến cuộc hôn nhân kỳ lạ từ thuở hàn vi của mình.

Năm 1702, Farquhar cho phát hành một ấn phẩm tạp văn vô cùng duyên dáng và ít người biết tới mang tên Love and Business, được mô tả là “tuyển tập thơ tùy hứng và văn xuôi thư tín.” Những sáng tác thơ ca không mang lại giá trị lớn; nhưng những dữ liệu còn lại (vốn tồn tại như một sự cản trở nhiều hơn là sự trợ giúp đối với các nhà tiểu sử) lại có giá trị vô cùng xác thực. Đủ mọi phỏng đoán vô ích đã được đổ dồn vào việc xác định danh tính nàng Penelope của chàng. Chẳng một kẻ mò mẫm nào có thể gọi đúng tên nàng một cách chắc chắn; nhưng bất chấp những lời đồn thổi nơi hậu đài – lúc bấy giờ cũng như bao giờ hết, luôn sẵn sàng thêu dệt những câu chuyện lãng mạn quanh cái tên George Farquhar – các bằng chứng nội tại đều chống lại giả thuyết cho rằng nàng chính là Anne Oldfield. Thế nhưng, đó lại là phỏng đoán của hầu hết các biên tập viên của chàng. Khi bình luận về một đoạn văn đề cập đến một mưu đồ đồi bại nào đó mà Farquhar kể rằng ông đã cứu được một người bạn ở vùng đất thấp, một người bạn mà sau đó ông đã chia sẻ nỗi buồn về một vụ cướp mà cô từng gánh chịu, Leigh Hunt bổ sung rằng người phụ nữ đó rất có thể chính là người mà Farquhar đã cưới làm vợ sau này. Một người phụ nữ góa chồng tên là Margaret, nhưng ta biết quá ít về bà đến mức không thể xác định liệu bà là người Anh hay lớn tuổi hơn chàng đáng kể, đã đem lòng yêu đắm đuối Farquhar, và tìm cách để tai tiếng lọt đến tai chàng từ nhiều hướng không chỉ rằng bà có thiện cảm với chàng, mà việc cầu hôn bà sẽ rất có lợi cho sự nghiệp mới chớm nở của chàng, bởi vì bà sở hữu nhiều điền trang và lợi tức. Cuối cùng, sau không biết bao nhiêu lần do dự vốn là bản chất của một tâm hồn cầu kỳ, chàng đã ngỏ lời cầu hôn và được chấp thuận, để rồi chẳng mấy chốc người ta vỡ lẽ ra rằng cô dâu cũng trắng tay chẳng kém gì chàng. Hunt không tiếp tục theo đuổi manh mối của chính mình về vụ cướp, mặc dù câu hỏi đó, khi được cân nhắc kỹ lưỡng, mang một ý nghĩa sống động. Nếu nạn nhân thực sự là người phụ nữ mà Farquhar kết hôn sau đó, và nếu bà thực sự bị cướp, thì điều đó có nghĩa là khi ấy bà phải sở hữu một khối tài sản nào đó, do đó thông tin đến tai Farquhar ít ra cho đến thời điểm đó không phải là một lời nói dối. Mặt khác, những kẻ biện hộ theo chủ nghĩa casuistry phải quyết định xem liệu – giả sử nạn nhân được Hunt nhận diện chính xác – vụ cướp đó có phải là một sự bị đặt nhằm mục đích, sau khi Farquhar đã tuyên bố trung thành, khơi gợi lòng trắc ẩn của chàng và làm dịu bớt cú sốc từ lời thú nhận sắp tới rằng vụ cướp ấy chưa bao giờ xảy ra do một lỗ hổng trong các tiền đề! Còn rất nhiều điều khác trong các bức thư khiến người ta bối rối và mâu thuẫn. Chúng rời rạc đến mức, và thay đổi quá nhiều về tông giọng lẫn phong cách, đến mức dấy lên nghi ngờ rằng liệu chúng có thực sự nhắm đến một cá nhân cụ thể nào không, nếu chúng không hoàn toàn là sản phẩm tưởng tượng. Một quý bà được thông báo là đã trả lại chúng để xuất bản; nàng mặc đồ tang, và lúc ở lục địa, lúc ở London hoặc ở vùng quê; người theo đuổi nàng tuyên bố rất rõ ràng rằng ông đã dài dòng nài nỉ xin bàn tay nàng nhưng vô vọng; và cuối cùng, với những lời từ biệt cùng sự chia tay đột ngột không lời giải thích, ông từ bỏ cuộc săn đuổi, thừa nhận rằng mình đã mất nàng và trái tim nàng “không còn chỗ cho ông.” Việc người nhận được những bức thư tín này, dù là Anne Oldfield hay ai khác, lại mang trả chúng nhằm mục đích thương mại trong khi không bị chinh phục bởi tình yêu chân thành bộc lộ ở một số phần trong đó, nghe có vẻ hơi kỳ lạ; nhưng việc chấp nhận sự thật rằng chính Farquhar đã đòi lại những bức thư này từ tay nàng và in chúng nguyên trạng dưới những điều kiện đó là điều vô lý, không thể hòa hợp với những hiểu biết của chúng ta về nhân cách của chàng từ các nguồn tin khác và trước đó. Hunt gợi ý thêm rằng tập Miscellanies được gom góp lại trong lúc gặp khó khăn tài chính; và tựa đề của nó quả thực ngầm chứa một sự kỳ vọng quái dị rằng Tình yêu, sau khi được gắn ách và tung hoành để khơi gợi sự tò mò của độc giả, có thể quay trở lại trụ sở dưới dạng Tiền bạc. Thế nhưng, Farquhar trong những ngày độc thân sở hữu một khoản thu nhập khá, và sẽ chẳng dễ gì nghe thấy tiếng tru của con sói đói trước cửa nhà như những năm tháng sau này – khi âm thanh ấy đánh thức trong chàng một nỗi sợ hãi không chỉ đe dọa riêng bản thân. Có lẽ cuốn sổ đăng ký kết hôn chưa được tìm thấy mang mốc thời gian 1702 hoặc thậm chí 1701; nếu quả thực như vậy, điều đó có thể giải thích cho sự ra đời của cuốn sách duy nhất không mang hình hài kịch của chàng cùng tình huống cấp bách đã gọi nó ra đời. Thật khó để có thể cho rằng, mặc dù sự e ấp hiện đại trong những vấn đề này vào thời điểm đó là một ẩn số tương đối, chúng ta đang cầm trên tay những bức thư tình đích thực nóng hổi vừa ra lò từ ngòi bút. Vào một buổi sáng tháng Tám chín năm sau, Steele đã chèn vào tờ The Spectator dưới danh nghĩa thư của một người thứ ba sáu bức thư tình của chính ông gửi cho vị hôn thê xinh đẹp và quý phái Mary Scurlock. Nhưng Farquhar không có sự nghiêm túc và tình yêu dành cho sự thật chi tiết như Steele, cũng chẳng có niềm đam mê chỉ trích đạo đức. Hay việc xuất bản này chính là dạng công việc mà chàng có khả năng làm vì một mục đích không hề tầm thường? Phải chăng thực chất chàng còn ngốc nghếch và lầm đường lạc lối hơn cả cô nàng Fanny Brawne? Thà rằng chúng ta tin rằng những bức Thư ấy là một tác phẩm hư cấu, và chỉ được xây dựng dựa trên phần lớn những tâm trạng lẫn sự kiện quá khứ trong hai năm trước đó – những thứ vì lý do này hay lý do khác có thể thu hút người mua. Giống như bản tường thuật gửi “Sam thân mến” về đám tang kỳ quặc của Dryden – một bản tổng kết có sắc thái hùng biện quá sắc bén để có thể được viết ngay vào ngày hôm sau, hoặc những cái nhìn chu đáo và hợp lý về người Hà Lan. Những bức thư tình, với chất men thực tế của chúng, có lẽ đã được biên tập đến mức không thể nhận ra. Chúng không tạo ra ấn tượng rõ rệt; không tiến triển về phía trước; che giấu một cách không thể xuyên thủng những đặc điểm của người nhận thư – kẻ được khắc họa như một nữ thần vô tình đang biến mất, điếc lác và mù lòa trước những lời nài nỉ tha thiết nhất của George Farquhar. Dù sự thật là gì đi chăng nữa, cách phản ứng lại chúng vẫn rất hào hiệp. Hãy giả định trong chốc lát rằng người vợ đứng đằng sau toàn bộ những bức thư tín này, hoặc chí ít là phần sau của chúng, thì điều thoạt trông giống như một sự phản bội nhỏ nhặt mang khiếu thẩm mỹ tồi tệ nhất hóa ra lại chỉ là một trò đùa vô hại. Dĩ nhiên là “quý bà” ấy (hoặc một trong các quý bà) đã cho nhà in mượn các bản thảo; dĩ nhiên Farquhar đã bịa ra – nhằm tô điểm cho cái vỏ bọc giả dối về sự giàu có của phu nhân Farquhar cùng cảnh ngộ nghèo túng chung của họ sau đó – một vụ trộm cắp vĩ đại nhắm vào một nạn nhân chưa bao giờ bị trộm và không thể bị trộm! Người ta có thể hình dung cả hai người họ, ngồi trên những chiếc ghế cứng ngắc trong căn phòng trống hoác, cười vang sảng khoái giữa những giọt nước mắt hy vọng đầy lo âu rằng yếu tố mang tính cá nhân trong tập Miscellanies có thể mang lại cho họ từ các sạp sách Covent Garden một bó củi và một bữa tối.

Gác lại mọi suy đoán lý thuyết, thật vui mừng khi biết rằng cuộc sống chung của họ là một cuộc sống hạnh phúc. Sự đồng thuận của tất cả các nhân chứng, trong sự vắng bóng đầy ý nghĩa của bất kỳ tiếng nói trái chiều nào, khẳng định rằng Farquhar, dẫu rơi vào bẫy, vẫn ứng xử như một quý ông thực thụ. Hai đứa trẻ ra đời mang lại ánh sáng, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng nỗi buồn cho cuộc đời ngắn ngủi và chăm chỉ của chàng. Gánh trên vai những mối lo chồng chất, chàng đã làm tất cả những gì tốt nhất trong khả năng vương giả của mình; từ đầu đến cuối, chàng chẳng hề thốt ra một lời trách móc nào gửi đến người vợ vì hành vi lừa dối của bà.

“Niềm vui thầm kín của hành động hào hiệp

Chính là phần thưởng lớn nhất của tâm hồn vĩ đại.”

Phảng phất hương thơm của niềm tin, sự kiên nhẫn và lòng trắc ẩn hy sinh quên mình, câu chuyện gia đình của họ gần như có thể sánh ngang với câu chuyện thiêng liêng của Charles và Mary Lamb.

Người vợ góa của Farquhar – kẻ từng yêu chàng – có vẻ như vẫn giữ nguyên tình yêu ấy dành cho ký ức về chồng. Bà không sống lâu hơn chồng mình bao nhiêu năm; bởi vì có lý do để cho rằng bà đã qua đời trước năm 1719 trong cảnh túng quẫn. Kẻ khốn khổ Farquhar từng tuyên bố rằng nỗi sợ gia đình mình phải chịu cảnh túng thiếu còn cay đắng hơn cái chết gấp bội. Vào tháng 5 năm 1708, Wilkes đã tổ chức một suất diễn từ thiện tại nhà hát của mình dành cho Margaret Farquhar, và mười hai năm sau, ông đóng vai trò là người ủy thác cho hai thiếu nữ Mary và Anne Margaret – những người có khoản tiền trợ cấp được tờ Encyclopædia Britannica ghi nhận là lên tới ba mươi bảng Anh; khoản tiền này có được nhờ những nỗ lực của Edmund Challoner – người mà cha của họ từng đề tặng tập Miscellanies. Wilkes có vẻ như đã tiếp tục giúp đỡ cả hai đứa trẻ mồ côi khi chúng đến tuổi trưởng thành. Một người kết hôn với một thương gia khiêm nhường và qua đời sớm; người kia vẫn còn sống vào năm 1764 trong hoàn cảnh hoàn toàn mù chữ, và – theo một vài nguồn tin ít ỏi – làm nghề hầu gái. Các nhà biên tập và viết tiểu sử đời đầu của Farquhar như Ware, Genest, Chetwood cùng những người khác, viết sách trong lúc cô con gái này còn sống, dường như hoàn toàn không hay biết gì về sự tồn tại của cô; nhưng hình ảnh đứa con của người cha quá cố, già nua, bị bỏ rơi và làm công việc tôi đòi, đã khiến Leigh Hunt tức giận mãi cho tận năm 1842.

Nỗi sợ hãi và dự cảm về những gì rất có thể sẽ giáng xuống đầu Farquhar – kẻ bơ vơ và chán nản vào tháng Tư năm xưa, khi chàng đang hấp hối vì bệnh lao, và khi với một sự kiên cường đã nâng đỡ chàng vượt qua nỗi thất vọng cay đắng trong sáu tuần liền, chàng đã viết và hoàn thành vở hài kịch kiệt tác The Beaux’ Stratagem. Khi tiến đến gần đoạn kết của hồi thứ hai, chàng được thông báo rằng không còn hy vọng gì nữa; thế nhưng hồi thứ hai lại khép lại bằng màn đối đáp sắc sảo nổi tiếng giữa Cherry và Archer cùng đoạn thơ hay nhất mà tác giả từng viết; và hồi thứ ba mở màn bằng tiếng cười sảng khoái ấm áp – tiếng cười của Anne Oldfield – thuộc về “sinh vật kiệt xuất ấy, Mrs. Sullen.” Trên cái nền tảng của đau khổ, Farquhar đã làm giàu cho London bằng một di sản của niềm vui bất tận. Sức bật không bao giờ cạn kiệt trong các vở kịch của chàng, vượt lên trên và song hành cùng giá trị nội tại đích thực của chúng, giải thích cho mức độ nổi tiếng to lớn và chưa bao giờ bị tước đoạt của chúng. Chúng lưu truyền đến với chúng ta, gắn liền với những thành tựu trí tuệ của những cái tên thân yêu và rực rỡ nhất trên sân khấu Anh quốc; chúng chuyển động trên đôi cánh của trí tuệ và lòng tốt; chúng “mang lại niềm vui và không gây tổn hại.” Chúng tràn ngập những người lính – những hình tượng từng ngầm bị cấm đoán khỏi các sân khấu vì gợi lại quá nhiều nỗi đau từ Nội chiến. Chúng bắt đầu bằng tiếng lách cách của giày đinh, tiếng đóng cửa sầm, sự huyên náo của những giọng nói trêu chọc trong một “tràng cười chế giễu.” Trung sĩ Kite xuất hiện, theo sau là đám đông mà chàng trút vào đó thứ ngôn ngữ ngọt ngào, khích lệ đầy lôi cuốn; Roebuck bước vào trong cuộc đối thoại kỳ quặc với một kẻ ăn mày; Sir Harry băng qua đường, cất tiếng hát theo sau là lũ đầy tớ, trong khi Vizard chỉ tay giới thiệu anh ta với Standard như “niềm vui của nhà hát và sức sống của công viên, Sir Harry Wildair, vừa mới từ Paris trở về”; vở The Twin Rivals mở màn bằng một tràng châm ngôn; sự kéo rèm của vở The Beaux’ Stratagem hé lộ lão chủ quán ranh mãnh Boniface và cô nàng khéo léo Cherry đang gọi và chạy, chạy và gọi, trong một bầu không khí náo nhiệt báo hiệu sự khùng điên và tiệc tùng. Những trang viết của Farquhar không dành cho việc đọc nhấm nháp trong phòng kín; chúng có rất ít sức hút thụ động; việc trích dẫn từ chúng – dẫu ngập tràn những câu châm ngôn quen thuộc hầu hết do chính chàng sáng tạo ra – là điều không công bằng chút nào. Sự thông minh bẩm sinh của chàng xuất phát từ tình huống trớ trêu và bất ngờ chứ không phải từ sự kiêu ngạo hay ý thức về quyền lực; nó mang tính toàn vẹn chứ không chỉ là màn đối đáp thông thường; và nó chẳng bao giờ ra hiệu dừng lại cho hành động kịch diễn ra. Đúng như Charles Cowden Clarke từng nhận định, “không có cái bẫy nào dành cho những trò đùa” trong tác phẩm của Farquhar; “không có đường ray nào được giăng sẵn để kích hoạt sự lập lờ.” Sự vui vẻ trong sáng, bùng nổ bất ngờ qua từng cuộc hội thoại này đến cuộc hội thoại khác, qua từng biến cố này đến biến cố khác; những màn giả trang mang đậm phong cách Molière diễn ra liên tiếp; hàng ngàn vấn đề nhỏ nhặt phụ thuộc vào diễn xuất ngoại vi và nguồn cảm hứng nhất thời; phạm vi thu hẹp và chiều sâu cảm xúc ngày càng tăng của cốt truyện, giống như một bí mật được trao cho các diễn viên, chỉ được kể trọn vẹn cho những khán giả đồng điệu nhất với họ – tất cả những điều đó ca ngợi những vai diễn sinh động của Farquhar đối với các diễn viên, khiến chúng vừa trở nên khó khăn vừa đầy ao ước. Từ bờ môi của một diễn viên, những lời ngợi ca đa dạng và rực rỡ của chàng dành cho các sân khấu mới thốt ra làm sao đầy cảm xúc biết bao! Thật là một bức tranh đẹp đẽ làm sao, một khoảng không gian rộng lớn nhuốm màu hồng tía và trắng, mà chàng có thể tái hiện lại từ cánh gà nhìn vào nội thất nhà hát: “Có một sự hối hả của niềm vui đưa ta bay bổng; sự nhộn nhịp, ồn ào, phong nhã, xe cộ, dây nịt, lông vũ, tóc giả, cái cúi đầu, nụ cười, cái liếc mắt, tình yêu, âm nhạc và những tràng pháo tay!” Và ở một khoảnh khắc khác, với một tâm trạng khác: “Nhà hát chính là nguyên tố của thơ ca, bởi vì đó là miền đất của vẻ đẹp; tôi có cảm giác các quý bà mang một bầu không khí truyền cảm hứng và khải hoàn hơn ở các lô ghế so với bất cứ nơi nào khác. Họ ngồi ngự trị trên ngai vàng của mình, với tất cả những bề tôi nô lệ vây quanh; những bộ cánh đẹp nhất, diện mạo rạng ngời nhất; trang sức lấp lánh, ánh mắt ngời sáng; những báu vật của trần gian thu gọn trong một vòng tròn.” Và Mirabel – kẻ đang cất lời – kết thúc bằng một tiếng thở dài ngất ngây: “Tôi ước gì toàn bộ cuộc đời mình mãi mãi là đêm công diễn đầu tiên của một vở kịch mới!”

Đây là một sự thụt lùi, hoặc vươn lên, so với Congreve và những hình mẫu trừu tượng mang tính quý tộc của ông. Farquhar, trong thời niên tuổi trẻ, từng lấy hài kịch của Congreve làm khuôn mẫu cho mình, và có thể coi là người hoàn thiện cơ chế mà thiên tài Congreve đã đưa lên ngôi. Chàng chưa bao giờ – và cũng không tài nào – đạt được sự tao nhã mang tính học thuật về tỷ lệ cùng nghệ thuật dùng từ tuyệt đỉnh của Congreve. Nhưng chàng có được niềm hạnh phúc khi không phải là một nhà soạn kịch thuần túy văn chương; chàng có kiến thức kỹ thuật và kỹ năng vững vàng. Chàng đã đưa những người hùng đương thời cùng bọn đầy tớ mưu mô, những cô hầu gái lẳng lơ đa nghĩa, những quý cô xinh đẹp vui vẻ, đeo mặt nạ và không có lấy một chút lương tâm thoát khỏi ánh trăng râm ran mập mờ để bước vào bầu không khí hài hước trong lành; và qua quá trình chuyển dịch ấy, chàng đã bồi đắp thêm một chút tinh chất đáng yêu bình dị – thứ sẽ mãi mãi giữ cho những kiệt tác của chàng tồn tại trên sân khấu.

Trí tuệ nguyên bản của Farquhar chỉ mang giá trị tương đối; người ta có thể coi chàng là người thầy của Goldsmith hơn là môn đồ của Congreve. Goldsmith hiểu rất rõ về Farquhar – người đi trước ông sáu năm trên cương vị là một sinh viên nghèo tại Trinity; và cũng giống như chàng, ông được cho là từng bị đuổi học vì một trò hề ngớ ngẩn. Hai người con của các mục sư này (Arcades ambo, theo cả điển tích Virgil lẫn dòng thơ vô tội của Byron) hẳn đã trở thành những người bạn thân thiết biết bao! Scrub, tên đầy tớ của Squire Sullen trong vở The Beaux’ Stratagem – kẻ “vào thứ Bảy thì ký trát tòa, còn Chủ nhật thì rót bia” – từng là một vai diễn mà Goldy khao khát được thủ vai một thời. Khi bước chân vào nghiệp viết kịch, ông cũng tìm kiếm những hình mẫu quen thuộc để nhào nặn và cải thiện. Tony và người mẹ vô song của ông khó lòng xuất hiện nếu thiếu đi hình bóng chưa hoàn thiện của họ trong vở The Plain Dealer mang đậm dấu ấn (và bị đánh cắp) của Wycherley; còn Young Marlow và Hastings chính là phiên bản tái hiện thẳng thắn của Archer và Aimwell trong một hoàn cảnh tinh tế hơn rất nhiều. Miss Hardcastle hy vọng rằng trong bộ váy tạp dề của mình, nàng có thể trông giống như Cherry. Và dường như chẳng ai lần tìm được một phân cảnh nổi tiếng trong vở The Vicar of Wakefield quay về với lời nhắn của Lady Howdye gửi Lady Allnight được lặp lại bởi Archer (người trong cùng phân cảnh này đã giới thiệu bài hát “thời sự” trên sân khấu hiện đại), hay xuất phát từ tấm gương của nàng Bisarre đầy mưu mô trong Hồi II, Cảnh I của vở The Inconstant. Chắc chắn rằng, “những hình thức bắt nguồn từ việc liệt kê đơn thuần và dễ bị vô hiệu hóa bởi một phản ví dụ” đã cung cấp nguyên bản độc nhất cho thứ ngôn ngữ phi lý từng làm lu mờ tội nghiệp chàng Moses. Lời ăn tiếng nói của Clincher Junior và Tim, của Kite, Bullock, Scrub, Lyric và cô ả vô danh Parly, của viên cảnh sát chỉ chiếc giường lớn cho Hermes Wouldbe – tóm lại là ngôn ngữ của tầng lớp bình dân trong tác phẩm của Farquhar – phơi bày một thứ hài hước hoàn toàn thuộc về điều mà ta có thể gọi là phong cách Goldsmith: sự nghịch lý mộc mạc, kỳ quặc và lố bịch, nảy sinh từ sự bất hợp lý mang chất Ai-len và lòng nhân ái đối với con người.

Vào năm thứ sáu triều Nữ hoàng Anne, khi Farquhar qua đời, Steele đã kết hôn với nàng “Prue” của mình, và sau khi chứng kiến vở kịch mang tính cải cách thứ ba của ông bị “chê bai vì quá đà đạo đức,” ông đã tìm kiếm sự đồng thuận và hợp tác từ Joseph Addison để rồi bắt tay phác thảo tờ The Tatler. Fielding vừa chào đời, Johnson vẫn đang nằm nôi, Pope đang tập tễnh thử sức với những bài Thơ đồng quê đầu tiên; Defoe – cựu sinh viên của nhà tù Newgate – đang tự mở đường vươn ra biển lớn; Swift, lúc bấy giờ vẫn là đảng viên Whig, chỉ được biết đến qua tác phẩm A Tale of a Tub. Những dòng nước tươi mát đang dâng lên từ mọi phía để hồi sinh vùng đất thấp đang tơi tả của thời kỳ suy đới. Các vương quốc có một bài học bị lãng quên, và mất nhiều thời gian để học tập, được đặt trước mặt họ: lấy lại sự độc lập trong tư duy và sự giản dị làm nền tảng cho những kết quả chính đáng; phụng sự nghệ thuật vì chính nghệ thuật, và đạt được, thông qua chủ nghĩa hình thức phản động của thế kỷ mười tám mới chớm nở, sự tự do cùng một cái nhìn đạo đức rộng mở. Tựa hồ như Hài kịch, trong những nét hoàn mỹ lẳng lơ quyến rũ của mình, buộc phải chết đi để văn xuôi tiếng Anh có thể trường tồn. Thật quá đủ đối với một thiên tài chưa trưởng thành thuộc hàng ngũ thứ ba sinh ra dưới triều đại vua Charles thứ hai khi đã phác họa mơ hồ về một sự thay đổi chính đáng và cấp bách. Farquhar chắc chắn đã phác họa điều đó, dẫu với cái mà các nhà thần học gọi là sự thiếu vắng ý định cần thiết.

Chàng viết những bài tựa và lời đề mở màn vô cùng xuất sắc. Bài tiểu luận Discourse upon Comedy trong tập Miscellanies đã thực hiện công việc tiên phong cho lý thuyết của chàng – thứ vốn sau này được giải thích bởi những nhà phê bình có thẩm quyền hơn và được thế giới Anh đón nhận – rằng việc tuân thủ hay không tuân thủ các quy tắc thống nhất kịch nghệ tùy thuộc vào ý muốn của người khôn ngoan, và để được định hướng trong tất cả những vấn đề như vậy, các nhà soạn kịch nên nhìn vào Shakespeare thay vì Aristotle. Bài tiểu luận ấy, thông qua phong cách trong trẻo, tươi vui, mộc mạc và đầy sức mạnh của Farquhar, mang lại vinh dự cho chàng và xứng đáng được tái bản. Sức hút lớn nhất của chàng nằm ở chỗ chàng không thể trở thành một kẻ ra vẻ giáo điều. Sự thuyết phục của chàng mạnh mẽ bậc nhất, nhưng chàng sở hữu sự tự ý thức của mọi tâm hồn nhạy cảm và phân tích, giúp chàng giữ được sự tự do ở đây cũng như ở bất cứ đâu khỏi bất kỳ giả định độc đoán mờ ám nào. Thật là sảng khoái biết bao, khi đối diện với cái thói quất roi không ngừng nghỉ vào độc giả mà Lesage đang thiết lập như một mốt thời thượng đương thời, lại bắt gặp lời chào hỏi nhẹ nhàng đầy hài hước của Farquhar: “Nếu bạn thích cuốn sách của tác giả, bạn có tất cả sự khôn ngoan mà ông nghĩ bạn có; nếu bạn không thích nó, bạn còn khôn ngoan hơn cả những gì ông nhận ra!” Nếu chàng sống lâu hơn, hoặc muộn hơn một chút, chúng ta hẳn đã tìm thấy chàng, với khả năng tâm lý chiến trận của mình, hòa mình giữa các nhà tiểu luận và tiểu thuyết gia. Tồn tại trong chàng một độ chín muồi và một sự nồng nhiệt phát huy tối đa trong các sáng tác mang tính chủ quan rõ rệt. Rốt cuộc, Farquhar đã không hoàn thành trọn vẹn bản thân, bởi vì chàng chạy theo một xu hướng thẩm mỹ đang tàn lụi thay vì thúc đẩy một xu hướng mới đang đơm hoa kết trái. Không ai có thể kìm lòng tiếc nuối khi phải trao chàng cho thời kỳ mà chàng từng tô điểm. Chàng xứng đáng được thăng hoa trong một ngày mai nam tính hơn, và nắm giữ một vị thế lịch sử cùng những người tái tạo thị hiếu công chúng ở nước Anh. “A, hãy treo cổ ngươi lên đi, hỡi Crillon dũng mãnh của ta, bởi vì tại Arques chúng ta đã có một trận chiến, và ngươi lại KHÔNG có mặt ở đó!” Người ta có thể tưởng tượng Sir Richard Steele mãi mãi lặp lại câu nói đó với Đại úy George Farquhar, từ một khung cửa sổ câu lạc bộ rộng rãi ở chốn thiên đường.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.