Cái nắng mùa hè nện xuống thủ đô Washington, D.C. cứ như thể thiên nhiên vừa đọc nhầm kịch bản và đinh ninh rằng thành phố này đã được bốc dời tới giữa lòng sa mạc Sahara. Malone thầm nghĩ, mặt trời có vẻ lú lẫn thật rồi. Nếu đây là Sahara, thì rõ ràng chẳng có lý do gì mà con sông Potomac lại cứ hiên ngang chảy qua đây cả. Tuy nhiên, lão thái dương vẫn đang cố gắng sửa chữa sai sót nhỏ này bằng cách trút thêm nhiệt lượng, nuôi một mộng ước bá vơ là làm khô cạn luôn dòng sông.
Mưu đồ ấy ít nhiều cũng đang thành công. Sông Potomac vẫn ở đó, nhưng phần lớn lượng nước của nó thì đã chẳng còn nằm yên trong lòng sông nữa. Thay vào đó, chúng đã bốc hơi lên không khí—thứ không khí ẩm đặc quánh đến mức Malone dám thề là mỗi lần hít vào, anh đều nghe tiếng nước túa ra bên trong buồng phổi của mình. Nén lại cái ý định lăn ra bơi ếch, anh đứng trơ trọi dưới cái nắng gắt gỏng ngay sát Tòa nhà Văn phòng Thượng viện. Anh nheo mắt nhìn sang Tòa nhà Quốc hội đối diện, cố chống chọi lại thứ ánh sáng chói lọi hắt lên từ mái vòm của nó.
Dù sao đi nữa, ngắm Tòa nhà Quốc hội vẫn còn đỡ chán hơn là phải nhìn Thomas Boyd cùng một nhúm đặc vụ đang hành xác hai tay kỹ thuật viên. Cuộc tra khảo đó đang diễn ra tưng bừng trong Tòa nhà Văn phòng Thượng viện, và Malone qua đây là để hóng hớt cái màn kịch này. Mọi thứ được dàn dựng theo cái cách mà Malone cho là rắc rối và lằng nhằng hết chỗ nói. Một căn phòng lớn đã được biến thành phòng chiếu phim, nơi những cuộn băng cứ lặp đi lặp lại không ngừng. Mấy thước phim ấy, do đám camera giấu kín chĩa thẳng vào lũ thư ký-máy tính chộp lại được, đã tóm tang tang hai tên kỹ thuật viên đang tay chân lóng ngóng gõ mấy dòng lệnh lỗi vào máy. Lắm lấy cơ hội này như chộp được vàng, Boyd cùng chiến hữu lập tức lôi mấy thước phim đó ra tra tấn tinh thần hai gã, liên tục đặt câu hỏi dưới ánh đèn chói chang nhằm bẻ gãy ý chí của bọn chúng.
Nhưng xem chừng đám đặc vụ chẳng khá khẩm hơn ông mặt trời đang biến Washington thành Sahara là bao. Malone tự nhủ, lau vầng trán đang đầm đìa mồ hôi, dẫu sao thì ở Washington cũng có làm gì có Kim Tự Tháp nào cơ chứ. Anh cố nghĩ xem câu vừa rồi có ngọn ngành gì không, nhưng phức tạp quá nên đành bỏ qua. Anh quay lại săm soi chuyện của gã Boyd.
Mấy gã kỹ thuật viên vẫn cứ khăng khăng bài ca con cá rằng đám lỗi lầm kia chỉ là tai nạn nghề nghiệp thuần túy. Malone thấy lý do đó nghe cũng lọt tai phết; suy cho cùng, ai chẳng có lúc phạm sai lầm. Hơn nữa, đám FBI trong tay chẳng có nổi một mẩu bằng chứng xác thực nào để buộc tội hai gã này chơi trò phá hoại có chủ đích cả. Thế nhưng Boyd nào chịu bỏ cuộc. Hết lần này đến lần khác, hắn bắt hai gã phải khai lại từ đầu, căng mắt soi mói từng câu từng chữ xem có chỗ nào hớ hênh hay mâu thuẫn không. Hết lần này đến lần khác, hắn tua đi tua lại mấy cuộn phim quay lại lỗi lầm của bọn chúng, bới lông tìm vết hòng vớ lấy một manh mối, dẫu chỉ là một cọng rơm cứu mạng.
Malone buồn rầu tự nhủ, thà ngắm Tòa nhà Quốc hội còn hơn phải chứng kiến thêm bất kỳ ngón đòn điều tra "hạng nặng" nào nữa của lão Boyd.
Anh lủi thủi đi ra ngoài để tĩnh tâm suy nghĩ. Bất chấp thực tế phũ phàng đi ngược lại hoàn toàn, anh vẫn tin sái cổ rằng những ý tưởng thiên tài nhất của mình thường loé lên khi đang đi bộ. Mà dù sao đi nữa, đây cũng là cách hay để trốn khỏi bốn bức tường ngột ngạt cùng ánh mắt soi mói và vẻ mặt lo âu của đám cấp trên. Anh khẽ thở dài, sụp chiếc mũ phớt lên đầu rồi bước ra ngoài.
Anh thầm nhủ, chắc chỉ có thằng khùng mới đi đội mũ trong cái thời tiết oi bức như cái lò thiêu này. Thế nhưng những kẻ đi lướt qua anh trên cái hành trình vô định ấy lại chẳng mảy may để ý; họ giữ khoảng cách khá lịch sự, không phải vì họ nghĩ anh bị điên đâu, mà vì Malone thừa biết, họ thừa nhận anh là một "cớm" chính hiệu của FBI.
Đó là hậu quả nhãn tiền từ mấy cái quy định củ chuối của cái cơ quan này. Tất cả các đặc vụ đều bắt buộc phải đội mũ. Malone cũngchả hiểu vì sao, và mớ chất xám ít ỏi của anh chỉ đúc rút ra được mỗi một lý do củ chuối: đội mũ để phòng hờ có ai đó nhờ nhét tạm thứ gì vào dưới vành mũ chăng. Nhưng đã là luật của FBI thì đố ai dám cãi. Bất kể thời tiết có ra sao, một đặc vụ là phải đội mũ. Malone cay đắng nghĩ bụng, thà anh đeo luôn một cái biển đèn neon nhấp nháy ba màu đỏ trắng xanh ghi rành rành ba chữ "FBI" to tướng, kèm theo cả một còi hụ hú inh ỏi còn hơn. Mà ngặt nỗi, Cục Điều tra Liên bang có phải là cái ổ mật vụ bí mật gì cho cam, mặc cho thiên hạ có chê bai mỉa mai thế nào đi nữa. Và mấy cái mũ phớt này, ít ra là trong cái tiết trời như thiêu như đốt này, chính là bằng chứng sờ sờ không cần bàn cãi cho bất kỳ ai.
Malone cảm thấy nước từ trên đầu bắt đầu ngấm qua mũ, chảy đầm đìa xuống da đầu. Anh vội vàng cất mũ đi, dùng khăn tay lau khô mồ côi rồi lại tròng lên đầu, có cảm giác như mình vừa được ẩn thân mấy giây ngắn ngủi. Chiếc mũ đã ngự trị trở lại trên đầu, mang theo cái vẻ quan cách khó ưa nhưng lại vô cùng khốn khổ, và tình trạng của khẩu súng lục ổ quay Smith & Wesson .44 Magnum đạn dược đầy ắp giắt ở bao da dưới nách cũng chẳng khá khẩm hơn là bao. Bộ dây đai cứ cọ xát vào vai và ngực đau rát, còn sức nặng của khẩu súng quả là một gánh nặng trời giã vô cùng phiền toái.
Nhưng dẫu có tháo súng và cởi mũ ra đi chăng nữa, Malone cũng chẳng thấy khá lên được chút nào. Áo sơ mi và áo lót của anh giờ đã dính liền làm một, hòa quyện với nhau bởi dòng mồ hôi tuôn ra không lối thoát, bết bát dính chặt vào da thịt trông đến là nhếch nhác. Ống quần ẩm ướt bám chặt lấy bắp chân và đùi, ma sát sòn sọt theo từng bước chân, cứ mỗi lần gập gối là ống quần lại bám dính lấy da rồi bứt ra với cái nhịp điệu nhớp nháp khó chịu hệt như đòn roi tra tấn. Trong giày của Malone, tất đã ướt sũng nước, mỗi bước đi lại phát ra tiếng lách chách nhão nhoét. Thật khó mà nói chắc được, nhưng dường như có một con cá nhỏ nào đó đang bơi trong chiếc giày bên trái của anh. Anh tự nhủ, biết đâu đấy chỉ là một hòn sỏi nhỏ hoặc nếp gấp của đôi tất. Nhưng anh dám thề là nó đang bơi ngược dòng nước đấy.
Và bản tin dự báo thời tiết, anh cay đắng nghĩ, cho biết trời sẽ tiếp tục... ấm áp như thế này.
Anh gạt phăng mớ phiền muộn cá nhân ra khỏi đầu để tập trung vào đại cục của FBI, cụ thể là mớ rắc rối trước mắt. Dù phải cố gắng rất nhiều nhưng anh vẫn nhíu mày bước tiếp, và chỉ cách một dãy nhà sau đó, anh đã có thể tập trung trở lại vào năng lực tâm linh (psi).
Malone tự nhủ, chính cái thứ năng lực psi ấy là thủ phạm đứng sau toàn bộ mớ hỗn độn này. Mặc kệ sự từ chối đến rợn tóc gáy của Boyd khi phải đối mặt với một chuyện nhảm nhí như vậy, Malone vẫn chắc như đinh đóng cột. Dĩ nhiên là ba năm trước, anh cũng chẳng thèm đếm xỉa gì đến mấy thứ vớ vẩn này đâu. Nhưng từ dạo ấy, bao nhiêu chuyện động trời đã xảy ra, và tầm mắt của anh cũng được mở rộng đáng kể. Suy cho cả một cục, việc tóm gọn một nhúm người có năng lực ngoại cảm chính hiệu nhưng lại bị điên nặng trôi dạt từ các nhà thương điên khắp cả nước về một mối, cũng đủ để mở mang tầm mắt cho bất kỳ kẻ nào rồi.
Rồi sau đó, lại xuất hiện thêm lũ nhóc ranh bất hảo. Bọn chúng cũng chỉ là những cô cậu thiếu niên choai choai bình thường như bao đứa khác, chuyên nghề trộm ô tô và đấm vêu mồm vài chú cảnh sát đi lạc. Chỉ có điều là, mấy đứa nhóc ấy lại vô tình... giải được bài toán dịch chuyển tức thời. Chuyện đó tự nhiên khiến bọn chúng trở thành những cá thể hơi bị bất thường một chút.
Trong quá trình tóm cổ bọn chúng, Malone cũng vô tình học được luôn cái bí kíp dịch chuyển tức thời ấy. Khác với lão Boyd hay gã Burris, ý niệm về năng lực siêu tâm lý chẳng làm anh phải lăn tăn nhức đầu gì cho cam. Suy cho cùng, cái gọi là quang phổ tâm lý (nếu thực sự nó là một dạng quang phổ) cũng chỉ là một hiện tượng tự nhiên bình thường hệt như trọng lực hay từ tính mà thôi.
Chỉ là có vài người cảm thấy hơi khó thích nghi với nó một chút mà thôi.
Và dĩ nhiên là anh cũng đâu có hiểu rõ mười mươi nó vận hành ra sao hay vì lý do gì. Điều đó khiến anh rơi vào cái hoàn cảnh, anh tự nhủ, chẳng khác gì một thổ dân Úc châu cả. Anh thử tưởng tượng ra cảnh một thổ dân Úc đội mũ phớt trong một ngày trời nắng cháy da cháy thịt, rồi tự kết luận rằng gã thổ dân đó thừa khôn ngoan để không làm thế, và thế là anh lại dạt ý nghĩ đó đi nơi khác.
Tuy nhiên, anh thầm nghĩ với vẻ mặt nghiêm nghị, gã thổ dân Úc ấy chí ít vẫn có một cái kính lúp nhặt được từ xác tàu đắm nào đó. Bằng cách dùng cái kính đó—giả sử như kinh nghiệm thực tế, hoặc một vị mục sư tốt bụng nào đó đã dạy cho gã cách làm—gã có thể nhóm lên một ngọn lửa, tận dụng chính quá trình nhiệt hạch của mặt trời để làm trò đó. Malone nghi ngờ không biết gã thổ dân có mảy may khái niệm gì về quá trình nhiệt hạch hay không, nhưng chắc chắn gã vẫn có thể châm lửa bằng cách đó.
Thực ra mà nói, anh tự nhủ, gã thổ dân kia cũng cóc hiểu gì về quá trình oxy hóa đâu. Nhưng một khi đã châm được lửa rồi thì gã vẫn cứ xài ngon ơ. Bất chấp việc dốt đặc cán mai, gã thổ dân vẫn có thể tận dụng ngọn lửa đẹp đẽ, nóng rực và đang bùng cháy ấy...
Malone vội vàng bứt mớ suy nghĩ của mình ra khỏi đám thổ dân và cái nóng chảy mỡ, tập trung tư tưởng vào việc khác. Anh thầm nghĩ, bản thân anh có hiểu gì về mấy cái tiến trình tâm lý này đâu; nhưng ngặt một nỗi, ngoài kia có ma nào hiểu nổi đâu cơ chứ, theo như những gì anh biết. Thế nhưng anh vẫn xài chúng được đấy thôi.
Và hiển nhiên là, có kẻ khác cũng đang xài chúng.
Chỉ là, thứ sức mạnh nào đang được vận dụng ở đây nhỉ? Phải cần đến loại năng lực tâm lý cỡ nào mới có thể khiến ngần ấy con người trên khắp đất nước Mỹ đổ đống ra làm những trò hề như hiện tại?
Malone tự nhủ, đó là một câu hỏi rất hay, một câu hỏi cốt lõi và vô cùng quan trọng. Anh thấy tự hào về bản thân vì đã nghĩ ra được điều đó.
Đáng tiếc là, anh đél có sẵn câu trả lời.
Nhưng anh nghĩ mình biết cách để tóm lấy câu trả lời ấy.
Quả thực là chẳng có mấy ai nắm rõ năng lực tâm lý hoạt động theo cơ chế nào. Ngẫm cho kỹ thì cũng chẳng ai hiểu tường tận về cơ chế vận hành của trọng lực cả. Dù vậy, người ta vẫn thu lượm được một vài thông tin nhất định, và trong trường hợp của năng lực tâm lý, Malone biết tỏng nó trốn ở xó xỉnh nào.
Nó nằm ở Yucca Flats, bang Nevada.
Dĩ nhiên là Nevada thừa hưởng cái nóng có khi còn khủng khiếp hơn cả Washington, D.C. Nhưng Malone buồn rầu tự nhủ, chẳng còn cách nào khác; hơn nữa, cái vẻ lạnh lùng như băng đá của chính vị chuyên gia kia có khi lại giúp hạ nhiệt bầu không khí đi ít nhiều. Malone nghĩ đến Tiến sĩ Thomas O’Connor, chuyên gia tâm lý học của hãng Westinghouse, và nhăn mặt. O’Connor đích thị không phải là cái loại người dễ gần cho cam.
Nhưng hắn ta lại là kẻ am hiểu về năng lực tâm lý hơn bất kỳ ai mà Malone có thể nặn óc ra nghĩ tới. Sự trợ giúp của lão ta đã từng vô giá trong việc phá giải hai vụ án liên quan đến năng lực tâm lý trước đây mà Malone từng tham gia.
Có một thoáng anh lóe lên ý định nhấc máy gọi cho O’Connor, nhưng rồi lại quả quyết gạt phăng ý nghĩ đó đi. Bất chấp cái nóng như hỏa diệm sơn ở Yucca Flats, anh vẫn phải thân chinh đến gặp trực tiếp lão ta. Anh lại mường tượng ra cái bản mặt lạnh như tiền của O’Connor, và tự hỏi liệu nó có thực sự phát huy tác dụng trong việc chống lại cái nóng này hay không. Nếu có thật, anh tự nhủ, anh sẽ áp tải luôn lão ta về Washington và nhét thẳng vào hệ thống điều hòa không khí cho rồi.
Anh thở dài sườn sượt, thầm nghĩ đến một điếu xì gà nhưng rồi lại tiếc nuối gạt đi ngay giữa chốn đông người qua lại thế này, thể nào cũng lọt vào mắt thiên hạ. Thay vào đó, anh đảo mắt nhìn quanh, phát hiện ra mình chỉ cách một cửa hàng tiện lợi lớn sáng trưng ánh đèn neon chừng một dãy nhà và liền rảo bước tiến tới. Chưa đầy một phút sau, anh đã chui tọt vào trong buồng điện thoại.
Đám tổng đài viên trên khắp cả nước có vẻ như đều đang vật vã vì ngất xỉu vì trời nóng, và Malone cũng chẳng buồn trách họ làm gì. Mặc dù vậy, anh vẫn mất toi vài phút mới nối được máy tới văn phòng của Tiến sĩ O’Connor, và phải tốn thêm khoảng một phút nữa mới có thể thuyết phục được mụ thư ký đang ngẩn ngơ vì bảo mật rằng, suy cho cùng thì anh đâu có rảnh hơi mà cho bay xác O’Connor qua một cuộc điện thoại đường dài.
Cuối cùng thì mụ thư ký cũng chịu thở dài một cái đầy miễn cưỡng, bảo rằng để ả check xem Tiến sĩ O’Connor có đang rảnh rỗi không. Malone đứng chờ trong buồng điện thoại, cứ vài giây lại đẩy cửa ra hóp lấy hóp để một ngụm không khí. Cái buồng điện thoại có gắn điều hòa nhiệt độ đấy, thế nhưng vì một lý do tâm linh quái quỷ nào đó mà nhiệt độ trong đây vẫn cao hơn chục độ so với điểm sôi của cơn thịnh nộ trong lòng Malone.
Cuối cùng thì cái mặt dài và tái mét của Tiến sĩ O’Connor cũng xuất hiện trên màn hình. Lão ta chẳng thay đổi gì kể từ lần gặp trước của hai người. Trông lão vẫn y hệt như—và hành xử cũng chẳng khác gì—một trong số những ông giáo sư luật đáng ghét nhất đời sinh viên của Malone.
– A, – vị khoa học gia cất giọng lạnh lùng và chuẩn xác. – Anh Malone. Rất tiếc vì những biện pháp an ninh của chúng tôi, nhưng anh cũng hiểu là quy tắc bảo mật thì không thể xem nhẹ được.
– Chắc chắn rồi, – Malone đáp gọn lỏn.
– Là một đặc vụ FBI, hiển nhiên là anh phải hiểu rõ điều đó hơn ai hết, – Tiến sĩ O’Connor tiếp lời, sắc mặt biến đổi đôi chút và giọng nói ấm lên suýt soát chạm đến điểm sôi của ni-tơ lỏng. Rõ ràng câu nói vừa rồi chính là định nghĩa của O’Connor về một trò đùa nhạt nhẽo, và Malone đành cười lịch sự gật gù. Vị khoa học gia có vẻ như cũng có chút thiện cảm với Malone, dù rất khó để xác định chắc chắn điều đó. Nhưng ngặt nỗi Malone từng mang về cho lão mấy món "hàng mẫu" tuyệt hảo để nghiên cứu—những kẻ ngoại cảm và dịch chuyển tức thời, dẫu mang thân xác con người thì đối với một bộ óc khoa học chuẩn mực kia cũng chẳng khác nào đám sinh vật thí nghiệm là mấy—và lão có vẻ biết ơn sự chăm chỉ cùng nỗ lực của Malone trong việc lùng sục ra những đối tượng nghiên cứu kỳ thú nhường ấy.
Xem chừng việc Malone ban đầu chẳng hề có ý định đi lùng bắt bọn chúng cũng chẳng ảnh hưởng gì mấy đến thái độ của lão.
– Vậy thì, – O’Connor nói, quay trở lại với tông giọng nghiêm túc thường ngày. – Tôi có thể giúp gì cho anh đây, anh Malone?
– Nếu ông có thời gian, thưa Tiến sĩ, – Malone nói với vẻ cung kính, – tôi muốn trao đổi với ông một lát. – Anh chợt có cái cảm giác kỳ cục rằng O’Connor sắp sửa bảo mình nán lại sau giờ học tới nơi, nhưng vị khoa học gia chỉ khẽ gật đầu.
– Cuộc gọi của anh tới đúng lúc lắm, – lão nói. – Vừa khéo là tôi đang rảnh rỗi dăm ba giây đây, anh Malone.
– Tốt quá, – Malone nói.
– Tôi rất sẵn lòng trao đổi với anh, – O’Connor nói, mà cái mặt thì vẫn lạnh tanh chẳng có lấy chút nào gọi là vui vẻ hơn mọi khi.
– Tôi qua liền đây, – Malone nói. O’Connor lại gật đầu một cái, rồi màn hình vụt tắt. Malone ngắt máy, hít một hơi thật sâu cái thứ không khí hầm hập phả ra từ buồng điện thoại. Có một thoáng anh cân nhắc đến chuyện khởi hành ngay từ bên ngoài buồng điện thoại, nhưng làm thế thì mạo hiểm quá—nếu không hại gì đến Malone thì cũng dọa cho đám dân lành khiếp vía. Năng lực tâm lý đâu phải là thứ ai ai cũng biết, và cái cảnh Malone bỗng dưng bốc hơi đi Nevada chắc sẽ tống cổ vài công dân ngay vào nhà thương điên mất. Mà ngặt nỗi, anh thầm đánh giá, đó chẳng phải là chỗ lý tưởng để chui vào trong một ngày thời tiết nóng nực thế này.
Anh nhắm nghi mắt lại trong tích tắc. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, anh tái tạo lại từ ký ức hình ảnh chi tiết, không gian ba chiều và đầy đủ màu sắc về căn phòng làm việc của Tiến sĩ O’Connor trong đầu. Mọi ngóc ngách đều hoàn hảo không tì vết; anh kiểm tra lại một lượt trong tâm trí rồi dồn toàn lực, tung ra một cú hích tâm lý đủ để thực hiện màn dịch chuyển.
Khi mở mắt ra, anh đã đứng chình ình trong văn phòng của O’Connor, ngay trước chiếc bàn làm việc rộng thênh thang của lão. Anh thầm cầu mong lúc nãy không có ai nhìn vào buồng điện thoại đúng cái khoảnh khắc anh biến mất, nhưng anh cũng khá chắc chắn là mình đã trót lọt qua mắt thiên hạ. Suy cho cùng, có ai rảnh hơi đâu mà đi rình mò trong buồng điện thoại, và anh cũng chẳng thấy bóng dáng ai.
O’Connor ngẩng phắt đầu lên mà chẳng hề tỏ vẻ ngạc nhiên. – Ồ, – lão nói. – Ngồi xuống đi, anh Malone. – Malone đảo mắt tìm chiếc ghế, thứ vốn là một cọc tra tấn có phần tựa lưng thẳng đứng đến nhức cả mình mẩy, rồi thận trọng đặt mông ngồi xuống. Nhớ lại những lần ghé thăm O’Connor trước đây, anh thấy biết ơn ngay cả cái chút ít không gian thoải mái mà món đồ gỗ cứng ngắc này mang lại. O’Connor mới gần đây mới chịu hạ mình ban ơn cho thêm một chiếc ghế phụ trong phòng để tiếp khách, và hình như là đặc biệt dành riêng cho Malone. Biết đâu đấy, Malone thầm nghĩ, đó là biểu hiện của lòng biết ơn đối với mấy món hàng mẫu tuyệt đẹp kia chăng.
Malone vẫn thấy bứt rứt không yên, nhưng cố gắng hết sức để che giấu điều đó. Anh cũng thấy hơi chột dạ, hệt như mọi lần khi anh cứ thế đường đột xông vào phòng làm việc của O’Connor mà lười biếng chẳng thèm tuân thủ quy trình di chuyển hợp pháp ngoài không gian. Suy cho cùng, theo luật định thì mỗi lần ghé thăm Yucca Flats, anh phải khai báo ra vào ở cổng chính của khu căn cứ chính phủ được bảo mật siêu cấp này. Nhưng làm thế thì tốn thời gian và rườm rà quá. Malone đã tự biện minh cho bản thân như thế đấy, và anh chọn cách làm nhanh gọn lẹ cho xong chuyện dẫu trong lòng vẫn còn chút gợn lăn tăn chưa thực sự thoải mái. Suy cho cùng, anh thầm nhủ với vẻ mặt cứng rắn, bất cứ thứ gì tiết kiệm được thời gian và công sức đều góp phần nâng cao hiệu suất làm việc của FBI, tính ra thì cũng đáng đồng tiền bát gạo cả.
Anh nuốt khan một cái. – Thưa Tiến sĩ O’Connor... – anh cất lời.
O’Connor lại ngẩng đầu lên. – Gì thế? – lão hỏi. Lão đã có thừa kinh nghiệm trong việc chứng kiến người ta đột ngột biến mất rồi lại xuất hiện, từ chỗ Malone cho đến đám hàng mẫu mà Malone mang tới; giờ thì lão đã miễn nhiễm với mọi cú sốc hay ngạc nhiên rồi.
– Tôi đến đây để nói chuyện với ông, – Malone mở lời lại từ đầu.
O’Connor gật đầu, có chút thiếu kiên nhẫn. – Ừ, – lão nói. – Tôi biết chuyện đó rồi.
– Thì là... – Malone vắt óc suy nghĩ. Đem toàn bộ vụ án này ra bầy bày trước mặt O’Connor là điều bất khả thi; nó quá rắc rối, và có khi lại dính dáng đến mấy quy định bảo mật tối mật của chính phủ ở chỗ này chỗ khác nữa. Anh quyết định gói gọn nó lại thành một tình huống giả định. – Thưa Tiến sĩ, – anh nói, – tôi biết là mọi biểu hiện khác nhau của năng lực tâm lý đã được nghiên cứu và đặt tên từ lâu trước khi các nhà khoa học chân chính bén mảng đến lĩnh vực này.
– Điều đó, – O’Connor đáp với vẻ hơi miễn cưỡng, – là sự thật. – Lão trông có vẻ buồn rầu, hệt như thể lão ước gì người ta chịu chờ đến khi lão lọt lòng và bắt đầu nghiên cứu rồi hẵng đặt tên cho mấy cái hiện tượng tâm lý ấy. Malone thử tưởng tượng ra cảnh ai đó làm một việc gọi là "O’Connor hóa", và thầm cảm ơn lịch sử vì đã không để chuyện đó xảy ra.
– Vậy thì... – anh tiếp lời.
– Ít ra thì, – O’Connor ngắt lời, – điều đó đúng theo một cách khá mơ hồ và chung chung. Anh thấy đấy, anh Malone, bất kỳ mô tả chính xác nào về một hiện tượng tâm lý cũng phải chờ cho đến khi một thứ siêu ngôn ngữ ra đời để bao hàm nó; nghĩa là, cho đến khi sự hiểu biết và tri thức đạt đến cái ngưỡng mà những mô tả cẩn thận và chuẩn xác có thể thực hiện được.
– Ồ, – Malone đành chịu trận. – Chắc chắn rồi. – Anh tự hỏi liệu những gì O’Connor vừa phán có ý nghĩa quái gì không, và tự kết luận rằng chắc là có đấy, nhưng ngặt nỗi là anh đéo muốn bận tâm tìm hiểu làm gì cho nhức đầu.
– Dù chúng ta vẫn chưa chạm tới cái ngưỡng đó, – O’Connor nói, – nhưng trong các thí nghiệm của mình, chúng tôi đang tiến sát lại gần nó rồi. Tôi kỳ vọng rằng, trong một tương lai không xa...
– Thì đấy, – Malone tuyệt vọng ngắt lời. – Vâng. Chắc chắn rồi. Dĩ nhiên là thế.
Tiến sĩ O’Connor có vẻ phật ý. Nhiệt độ trong phòng dường như tụt xuống vài độ, và Malone nuốt khan một cái, cố nặn ra cái vẻ mặt thật lấy lòng và ngoan ngoãn hệt như một đứa học trò trong sổ đầu bài toàn điểm A.
Chưa để O’Connor kịp nối lại đứt đoạn câu chuyện, Malone đã xí xọn nói tiếp: – Ý tôi muốn nói là thế này cơ. Việc tóm bắt sóng tư duy của kẻ khác thì gọi là thần giao cách cảm. Lơ lửng trên không trung thì gọi là bay lượn. Di chuyển đồ vật bằng ý nghĩ là mộc kịch tâm lý (psychokinesis). Vèo một phát từ chỗ này sang chỗ khác ngay tức khắc gọi là dịch chuyển tức thời. Cứ thế thế...
– Ngôn từ anh dùng, – O’Connor vẫn đang hờn dỗi nói, – quá ư là xuề xòa. Tôi thậm chí còn có thể khẳng định rằng những phát ngôn của anh thực chất chẳng có chút ý nghĩa nào sất do thiếu đi tính chặt chẽ cần thiết.
Malone hít sâu một hơi. – Thưa Tiến sĩ O’Connor, – anh nói, – ông thừa hiểu ý tôi là gì cơ mà, đúng không?
– Tôi tin là thế, – O’Connor đáp, với cái điệu bộ của một vị vua đang ân xá cho một thần dân có bề ngoài gớm ghiếc nhất ở tầng lớp hạ đẳng cùng đinh.
– Vậy thì, – Malone nói. – Có hay không?
O’Connor nhíu mày. – Có hay không cái gì cơ? – lão hỏi.
– Tôi... – Malone chớp chớp mắt. – Ý tôi là, mấy cái thứ đó đều có tên gọi cả mà, – cuối cùng anh cũng thốt lên. – Tất cả các biểu hiện tâm lý khác nhau đều có tên gọi rành mạch.
– À, – O’Connor lên tiếng. – Chà. Tôi cho là... – Lão chụm các đầu ngón tay lại với nhau, đăm đăm nhìn lên một điểm trên trần nhà trắng phau trong giây lát. – Đúng vậy, – cuối cùng lão cũng thốt lên.
Malone thở phào nhẹ nhõm. – Tốt quá, – anh nói. – Đó là điều tôi muốn xác nhận. – Anh chồm người về phía trước. – Và nếu tất cả chúng đều có tên gọi, – anh tiếp lời, – thế thì người ta gọi hiện tượng một nhóm đông người bị ép buộc phải hành động theo một khuôn mẫu nhất định là gì?
O’Connor nhún vai. – Bị ép buộc? – lão hỏi.
– Bị ép buộc bởi sức mạnh tinh thần, – Malone nói.
Một thoáng im lặng trôi qua.
– Thoạt đầu, – O’Connor nói, – tôi có thể liên tưởng đến một vài ví dụ: hành vi của một đám đông cuồng loạn chẳng hạn, hay mấy màn biểu diễn thả thừng thần kỳ của người Ấn Độ, hoặc có lẽ là chiêu trò bán một sản phẩm bỏ đi thông qua tivi hay các hình thức quảng cáo khác. – Lại một lần nữa cái cơ mặt của lão chuyển động, nhẹ đến mức tối thiểu, tạo ra cái thứ mà lão đinh ninh là một nụ cười. – Tên gọi thông thường cho hiện tượng kiểu đó là ‘thôi miên tập thể’, anh Malone ạ, – lão nói. – Nhưng nói một cách chuẩn xác thì đó hoàn toàn không phải là hiện tượng tâm lý học psi gì sất. Các nghiên cứu về lĩnh vực đó thuộc về phạm trù tâm lý học đám đông; chúng không nằm trong tầm ngắm chuyên môn của tôi. – Lão tỏ ra bề trên với tất cả mọi thứ và bất cứ thứ gì nằm ngoài vùng phủ sóng chuyên môn của mình. Malone dồn toàn lực tập trung vào việc tạo ra cái bộ mặt tiếp thu và hiểu biết.
– Thế ạ? – anh thốt lên.
O’Connor ném cho anh một cái nhìn khiến Malone có cảm giác như mình vừa bị tóm quả tang đang quay cóp trong phòng thi, nhưng vị khoa học gia chẳng thèm bồi thêm lời nào để chứng minh cho cái nhìn ấy. Thay vào đó, lão nói tiếp: – Tôi thừa nhận rằng trong những trường hợp như vậy có thể đã xảy ra hiện tượng khuếch đại năng lực thần giao cách cảm ở những cá thể bình thường.
– Hay quá, – Malone bán tín bán nghi đáp.
– Sự khuếch đại kiểu đó, – O’Connor tiếp tục hệt như thể lão chẳng thèm nghe thấy gì, – sẽ lý giải cho cái gọi là... ơ... sự liên kết tinh thần bề ngoài khiến cho một đám đông có vẻ như hành động hệt như một thể thống nhất trong những khoảng thời gian... ơ... căng thẳng nhất định. – Lão làm vẻ mặt đăm chiêu suy tính trong giây lát rồi gật đầu. – Tuy nhiên, – lão nói tiếp, – ngoại trừ điều đó ra, tôi nghi ngờ chuyện có bất kỳ thứ năng lực tâm lý nào nhúng tay vào đây.
Malone mất độ một hai giây để tiêu hóa câu trả lời của O’Connor.
– Chà, – cuối cùng anh cũng lên tiếng, – tôi không chắc là ý mình muốn hỏi thế này. Ý tôi là, tôi không chắc mình định hỏi câu hỏi đó. Nó không giống như một đám đông, nơi mà mọi người cùng tắp lự làm một việc giống hệt nhau tại cùng một thời điểm. Nó giống một nhóm người hơn, tất cả đều bị tách rời, chẳng có sợi dây liên kết mập mờ nào giữa bọn họ cả. Và tất cả bọn họ đều đang hướng về một mục tiêu chung. Đều làm những việc khác nhau, nhưng chung một đích đến. Hiểu ý tôi chứ?
– Dĩ nhiên là tôi hiểu chứ, – O’Connor đáp cụt lủn. – Nhưng những gì anh đang ám chỉ... – Lão nhìn thẳng vào Malone. – Anh đã từng có kinh nghiệm thực tế với cái... hiện tượng này rồi phỏng?
– Kinh nghiệm á? – Malone ngẩn người.
– Tôi tin là anh đã có rồi đấy, – O’Connor quả quyết. – Một khái niệm như thế không thể tự nhiên chui ra trong đầu anh một cách lý thuyết suông được. Chắc chắn anh đang phải nhúng tay vào một tình huống thực tế sát rạt với cái thứ mà anh vừa miêu tả.
Malone nuốt khan. – Tôi á? – anh hỏi.
– Anh Malone, – O’Connor thong thả. – Tôi xin mạn phép nhắc nhở anh rằng đây là Yucca Flats đấy nhé? Rằng các khâu kiểm tra an ninh ở đây ngặt nghèo chẳng kém gì bất cứ xó xỉnh nào trên thế giới này? Rằng chính bản thân tôi cũng nắm giữ quyền hạn bảo mật tối cao cho rất nhiều dự án đặc biệt? Anh không cần phải rào trước đón sau khi ở đây đâu.
– Chẳng liên quan gì đến bảo mật cả, – Malone nói. – À mà không hẳn chỉ là chuyện bảo mật. Chỉ là mọi chuyện rắc rối phết.
– Tôi đảm bảo với anh, – O’Connor nói, – rằng tôi dư sức thấu hiểu ngay cả những sự việc mà anh cho là phức tạp.
Malone lại nuốt khan một bãi nước bọt, lần này thì nghẹn đắng. – Ý tôi không phải thế... – anh định bẻ lại.
– Thôi nào, anh Malone, – O’Connor nói. Giọng lão lạnh lẽo hơn bình thường. Malone chợt có dự cảm chẳng lành rằng lão sắp sửa thu hồi luôn cái ghế phụ rồi đấy. – Nói tiếp đi, – O’Connor ra lệnh. – Tự giải thích đi xem nào.
Malone hít một hơi thật sâu. Anh bắt đầu tuôn ra toàn bộ những dữ kiện mà Burris đã cung cấp cho mình, rồi một lèo kể tuốt tuồn tuột đến mấy màn tra khảo hai gã kỹ thuật viên thư ký-máy tính của đội Boyd.
Mất khối thời gian mới kể xong ngần ấy thứ. Đến lúc anh dứt lời thì O’Connor trông chẳng còn chút nào vẻ lạnh giá đóng băng nữa; hình như lão quên béng không duy trì hoạt động của mấy cuộn dây làm lạnh thì phải. Thay vào đó, trên mặt lão bộc lộ rõ sự ngơ ngác đến tột độ cùng một sự tò mò vô bờ bến. – Tôi chưa từng nghe đến chuyện quái quỷ gì thế này bao giờ, – lão nói. – Chưa bao giờ. Chưa từng thấy ở bất kỳ thời điểm nào.
– Nhưng mà...
O’Connor lắc đầu nguầy nguậy. – Tôi chưa từng nghe nói đến một biểu hiện tâm lý nào mang tầm vóc như thế cả, – lão nói. Có vẻ như đây là một sự thừa nhận đầy đau đớn đối với lão. – Một thứ có thể khiến một nhóm người ngẫu nhiên phối hợp nhịp nhàng với nhau theo cái kiểu đó—choác thật, đúng là chuyện mới lạ chưa từng thấy.
– Thế á? – Malone thốt lên, thầm tự hỏi không biết sau khi được điều tra và mô tả cặn kẽ, liệu cái hiện tượng này có được đặt tên là "O’Connor hóa" hay không. Rồi anh lại tự hỏi không đời nào người ta có thể xắn tay vào điều tra và mô tả nó nổi, và thế là anh càng lún sâu hơn vào vũng lầy u ám.
– Mới lạ hoàn toàn, – O’Connor khẳng định chắc nịch. – Anh cứ tin lời tôi đi. – Rồi từ từ, sắc mặt lão bắt đầu tươi tỉnh trở lại, lấp lánh thứ ánh sáng lạnh lẽo của những tinh thể băng mới hình thành. – Thực ra mà nói, – lão cất giọng, nghe giống với tông giọng thường ngày của mình hơn, – thực ra mà nói, anh Malone, tôi cho là điều đó bất khả thi.
– Nhưng nó đã xảy ra rồi cơ mà, – Malone cãi. – Nó vẫn đang tiếp tục diễn ra kìa. Khắp mọi nơi luôn.
Môi O’Connor mím chặt lại. – Tôi đã đưa ra quan điểm của mình rồi, – lão tuyên bố. – Tôi không tin là một chuyện như thế có thể xảy ra được. Chắc chắn phải có lời giải thích nào khác hợp lý hơn.
– Được thôi, – Malone hùa theo với vẻ dễ dãi. – Chiều ý ông luôn đấy. Thế nó là cái quái gì nào?
O’Connor nhíu mày. – Cái thói cợt nhả của anh, – lão quạt, – thật chẳng đúng lúc đúng chỗ chút nào.
Malone nhún vai. – Tôi đâu có ý định... – Anh khựng lại. – Dù sao đi nữa, tôi chẳng có ý định tấu hài đâu, – anh tiếp lời. – Nhưng tôi thực sự muốn có một lời giải thích khác cho nguyên nhân gây ra mớ hỗn độn này.
– Các học thuyết khoa học, – O’Connor nghiêm giọng huấn giáo, – không được đẻ ra bừa bãi chỉ trong một phút bốc đồng. Chúng chỉ ra đời sau một quá trình tư duy dài dằng dặc và cẩn trọng.
– Ý ông là ông chịu chết chứ gì, chẳng nghĩ ra nổi cái quái gì sất, – Malone chọc ngoáy.
– Chắc chắn phải có một nguyên lý giải thích khác, – O’Connor khăng khăng. – Dĩ nhiên rồi, vì ngần ấy dữ kiện vừa mới được tống lên bàn tôi, nên việc bắt tôi phải ngay lập tức trưng ra một học thuyết hoàn chỉnh là bất khả thi.
Malone lững thững gật đầu. – Được rồi, – anh nói. – Thế ông có chút manh mối nào không? Bất cứ ý tưởng quái quỷ gì cũng được?
O’Connor lắc đầu. – Không có gì sất, – lão đáp. – Nhưng tôi đặc biệt khuyên anh, anh Malone, nên kiểm tra lại mớ dữ liệu của mình đi. Lỗi hoàn toàn có thể nằm ở chính cái cách anh giải thích mớ sự thật rành rành đó đấy.
– Tôi không nghĩ vậy đâu, – Malone phản đối.
O’Connor nhăn mặt. – Còn tôi thì có đấy, – lão cãi chày cãi cối.
Malone khẽ thở dài một tiếng thật nhẹ. Anh cựa quậy người trên ghế và lần đầu tiên nhận ra chiếc ghế này ngồi chán đời đến mức nào. Anh cũng chợt thấy hơi ớn lạnh, và cái cảm giác lạnh ngắt ấy đang lan rộng dần. Anh tự nhủ, đó chính là hậu quả của cái "hiệu ứng Tiến sĩ O’Connor" chứ đi đâu mà thiệt. Giờ thì anh chẳng còn cảm thấy hối hận vì đã đội mũ nữa. Thậm chí có một thoáng, anh còn thèm thuồng nghĩ đến một chiếc áo khoác nhẹ nữa là đằng khác.
Anh thầm kết luận, O’Connor đích thị là cái loại người lạnh lùng, xa cách và vô ơn bạc nghĩa.
– Vậy thì, – anh nói, cố gắng nén lại cảm giác ớn lạnh trong giây lát, – biết đâu lại có ai khác thì sao? Kẻ nào đó am hiểu sâu hơn về năng lực tâm lý, và có khi lại nảy ra mấy ý tưởng khác về cái vụ này...
– Thôi nào, anh Malone, – O’Connor ngắt lời. – Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ sẽ đời nào thèm chọn tôi nếu bản thân tôi không sở hữu những năng lực độc tôn trong lĩnh vực của mình chứ.
Malone lại thở dài. – Ý tôi là, biết đâu lại có sách vở nào viết về chủ đề này thì sao, – anh nhỏ nhẹ lên tiếng, hy vọng nghe có vẻ khôn khéo một chút. – Biết đâu có tài liệu nào đó tôi có thể tự tra cứu được.
– Anh Malone ạ. – Malone nhận ra nhiệt độ trong văn phòng đang giảm xuống rõ rệt. Mấy cuộn dây làm lạnh tích hợp sẵn trong người O’Connor đang phải tăng ca tăng kíp hết công suất rồi đây, anh tự nhủ. – Lĩnh vực năng lực tâm lý học này còn quá non trẻ đến mức tôi có thể ngạo nghễ khẳng định rằng mình nắm rõ mọi thứ từng được viết ra về chủ đề này. Dĩ nhiên là tôi đang ám chỉ các công trình nghiên cứu khoa học nhé. Tôi không dám chắc là Hiệp hội Nghiên cứu Tâm linh Mỹ chẳng hạn, có hàng đống mấy cuốn sách nhảm nhí của bọn hoang tưởng mà tôi chưa từng đọc qua, hay thậm chí chưa từng nghe tên bao giờ. Nhưng trong lĩnh vực khoa học thuần túy, tôi phải tuyên bố rằng...
Lão khựng lại, nheo mắt soi mói Malone với vẻ mặt thoạt nhìn thì giống sự quan tâm lo lắng, nhưng ngó kỹ lại thì giống sự nản lòng và chán ngắt hơn nhiều.
– Anh Malone, – lão hỏi. – Anh đang bị ốm à?
Malone ngẫm nghĩ một lát. Anh phát hiện ra là mình cũng đéo chắc nữa. Cái lạnh cóng trong phòng đang hành hạ anh ngày một dữ dội hơn, và khi nó lan rộng ra, anh bắt đầu hoài nghi không biết tất cả có phải hoàn toàn là do ảnh hưởng từ lão O’Connor hay không. Bỗng nhiên một cơn rùng mình rõ rệt khởi phát từ đâu đó quanh vùng vai rồi lan dọc theo cơ thể anh.
Một cơn nữa nối tiếp theo sau, rồi đến cơn thứ ba.
– Anh Malone, – O’Connor gọi.
– Tôi á? – Malone đáp. – Tôi... tôi ổn mà.
– Trông anh có vẻ như đang nhiễm lạnh đấy, – O’Connor nhận xét.
Cơn rùng mình thứ tư bám đuổi theo ba cơn trước.
– Tôi... chắc thế, – Malone ú ớ. – Tôi c-c... có vẻ như đang h-h... hơi bị lạnh thật.
O’Connor gật đầu. – À, – lão bảo. – Tôi đoán thế mà. Dẫu cho việc bị cảm lạnh ở mức nhiệt độ bảy mươi hai độ F này quả là một chuyện quái đản hết chỗ nói. – Lão đảo mắt nhìn cái nhiệt kế gắn ngay ngoài cửa sổ phòng làm việc rồi quay lại nhìn Malone. – Xin lỗi nhé. Là bảy mươi mốt phẩy sáu độ.
– Ch-chỉ có thế thôi á? – Malone trố mắt. Bảy mươi mốt phẩy sáu độ, hay thậm chí là bảy mươi hai độ đi chăng nữa, nghe có vẻ chẳng ăn nhập gì với cái lò thiêu sa mạc Nevada mà anh hằng mường tượng cả.
– Dĩ nhiên rồi, – O’Connor đáp. – Mới có chín giờ sáng, ai lại đi trông chờ cái oi bức cắt da cắt thịt cơ chứ. Sa mạc ban ngày thì nóng bỏng mông thật đấy, nhưng về đêm thì hạ nhiệt nhanh lắm; tôi cứ đinh ninh là anh phải nằm lòng mấy cái định luật quản lý hệ thống thời tiết này chứ nhỉ.
– Chắc chắn rồi, – Malone đáp. – Ch-chắc chắn chứ.
Cơn rùng mình chẳng có dấu hiệu thuyên giảm chút nào. Chúng vẫn tiếp tục hành trình lên xuống dọc cơ thể anh với cái nhịp điệu trang nghiêm hệt như mấy chuyến tàu hỏa chở khách của hãng Đường sắt Pennsylvania.
O’Connor nhíu mày trong giây lát. Rõ ràng là đôi mắt sắc bén mang tầm vác khoa học của lão đang săm soi hiện tượng kỳ lạ này và chuyển dữ liệu về cho bộ óc khoa học siêu việt xử lý. Chỉ trong vòng chưa đầy một giây, bộ óc siêu việt ấy đã nảy ra đáp án, và Tiến sĩ O’Connor cất giọng bằng cái tông chuẩn khoa học nhất của lão.
– Lẽ ra tôi phải cảnh báo anh trước mới phải, – lão thốt lên, chẳng mảy hối hận mảy may lộ ra trong giọng nói. – Câu trả lời đơn giản đến mức lãng xẹt, anh Malone ạ. Anh rời Washington vào buổi trưa.
– Chỉ hơi trưa một chút thôi, – Malone đính chính. Nhớ lại cái nắng cháy da cháy thịt lúc đó, anh bồi thêm: – Giữa trưa luôn. Nắng gắt cực kỳ.
– Chuẩn xác, – O’Connor phán. – Và không chỉ có nhiệt độ khắc nghiệt đâu; tôi đoán là độ ẩm lúc đó cũng cực kỳ cao nữa.
– Quá cao luôn ấy chứ, – Malone hoài niệm. Anh lại run lên bần bật.
– Ở Washington, lúc đó là giữa trưa, – O’Connor phân tích. – Còn ở đây bây giờ mới là chín giờ sáng, và chẳng nóng nực gì cho cam. Bầu không khí ở đây cực kỳ khô cằn, và nhiệt độ thấp hơn khoảng hai chục độ so với cái lò xông hơi ở Washington mà anh vừa trốn thoát.
Malone ngẫm nghĩ một lúc, cố phớt lờ mấy trận run lẩy bẩy. – Ồ, – cuối cùng anh cũng thốt lên. – Thế mà từ nãy đến giờ tôi cứ đinh ninh thủ phạm là ông đấy.
– Gì cơ? – O’Connor chồm người về phía trước.
– Không có gì đâu, – Malone vội vã chữa cháy. – Không có gì sất.
– Gợi ý của tôi là, – O’Connor lại chụm mấy đầu ngón tay vào nhau, – anh nên cởi cái đám quần áo đang ẩm ướt lướt thướt kia ra, rồi...
Dĩ nhiên là Malone đời nào mang theo quần áo dự phòng nào đến Yucca Flats để mà thay. Và khi anh thử mường tượng ra cảnh mình đang tròng lên người một bộ đồ thừa thãi của Tiến sĩ O’Connor, hình ảnh đó tuyệt đối không tài nào khớp nổi. Hơn nữa, cái ý tưởng cởi trần lột đồ nửa mùa ngay trong hoặc gần khu vực văn phòng của O’Connor quả là một viễn cảnh vô cùng gớm ghiếc và chẳng hấp dẫn chút nào.
– Chà, – anh chậm rãi cất lời, – đa tạ ý tốt của ông nhé Tiến sĩ, nhưng xin khiếu. Tôi có kế hoạch khả thi hơn nhiều rồi.
– Khả thi hơn? – O’Connor lặp lại.
– Vâng, tôi... – Malone hít một hơi thật sâu rồi nhắm nghiền mắt lại.
Anh nghe thấy tiếng Tiến sĩ O’Connor vọng lại: – Chào anh nhé, anh Malone. Tạm biệt và chúc may mắn.
Ngay sau đó, căn phòng làm việc ở Yucca Flats biến mất tăm, và Malone thấy mình đang đứng chình ình giữa phòng ngủ trong căn hộ của chính anh, ở vùng ngoại ô Washington, D.C.