Nó không thích nhìn cảnh mẹ nó đứng tỉa lông mày trước gương trong buồng tắm tí nào. Suốt từ nãy đến giờ nó đã để ý xem mẹ nó trang điểm và làm dáng thế nào. Mọi ngày mẹ chỉ đánh độc một chiếc sơ-mi ca-rô (thích nhất là áo của Jurgen - hồi Jurgen vẫn còn ở đây), thế mà bây giờ giày cao gót nhá, nó còn chẳng biết là mẹ có cái thứ giày cao gót như thế, lông chân mẹ cũng dùng cái thứ sáp gì đó phết trên băng giấy (giấy hành xác) lột đi rồi, bây giờ đến lượt tỉa lông mày, chồm cả người lên bồn rửa mặt khiến ai mà nhìn chắc thấy cả quần lót ở dưới chiếc váy ngắn, kinh quá đi mất, lộ hết cả ra thế kia. Mẹ định ăn mặc thế mà đến chỗ lễ sinh nhật, đến chỗ mà cả nó lẫn mẹ nó đều biết là bố nó cũng có thể có mặt. Có điều, cũng có cái mẹ không biết.
Có lẽ nó nên nói cho mẹ biết thì hơn nhỉ? Mẹ không hỏi chuyện ấy, chỉ hỏi vòng vo, nhưng nó thừa biết mẹ muốn hỏi gì: Kiểu như, thể bố có nấu gì cho hai bố con ăn không? Hai bố con có đi xem phim không? Có, cả ba đều đi xem phim. Tất nhiên nó không nói vậy. Đi với bạn gái mới của bố. Nó cũng không nói vậy. Đi với người tình mới của bố.
- Con đi thay quần áo đi, mẹ nó bảo.
Markus vẫn ngồi yên, không chút động đậy, liếc xem mẹ chuyển sang tô lông mi, mắt trợn ngược chỉ còn trông thấy lòng trắng và khi nước mắt chảy thì chớp chớp liên hồi. Nó lấy làm ngạc nhiên thấy mẹ làm những việc đó sao mà có vẻ nghề thế, cũng như bây giờ, nó ngỡ ngàng nhìn mẹ tô môi son thành thạo, rồi sau đó bặm hai môi trên dưới vào nhau và cũng làm bộ mặt y hệt cô tình nhân mới của bố, nó liếc mẹ nó xoa xoa thứ kem nhờn gì đó lên đầu ngón tay và phết phết lên mái tóc mới gội, để rốt cuộc lại xốc xốc hết cả lên và soi mình vào gương, bằng một ánh nhìn chéo từ dưới, y hệt ánh mắt cô tình nhân mới của bố. Nhưng, mặc dù nó ngạc nhiên về sự thành thạo của mẹ nó, mặc dù điều đó thậm chí còn làm nó phần nào thấy hãnh diện, nó vẫn không muốn tưởng tượng ra cái cảnh hai người, mẹ nó và cô tình nhân mới của bố, chiều nay sẽ gặp nhau tại buổi lễ sinh nhật ra sao.
- Nào, con mặc áo sơ-mi của con vào, mẹ nó giục, kẻo mình nhỡ xe buýt bây giờ.
- Con không mặc gì hết, Markus lầu bầu.
- Thôi vậy, mẹ nó nói, thì mẹ đi một mình vậy.
Vừa nói mẹ vừa dùng bông chấm chấm vào nơi lông mày mới tỉa xong. Markus quay người đi về phòng nó.
Để về đến phòng nó, lối gần nhất là đi qua sân sau, chỗ mẹ nó trưng bày đồ gốm cùng mấy cây hoa thục quỳ. Phòng nó nằm ở phần giữa của cái sân sau, tuy gọi là bốn mặt, nhưng sự thực chỉ có ba, ngay trên xưởng làm đồ gốm. Thỉnh thoảng vào buổi tối, nó vẫn nghe tiếng bàn quay đồ gốm quay rù rù. Nó lên cầu thang mười hai bậc, một mạch mỗi bước hai bậc và nằm vật xuống giường, tầng giường dưới vì giường có hai tầng, do Jurgen đóng cho nó, để Markus với Frickel bạn nó có thể ngủ qua đêm với nhau ở đây. Nhưng bây giờ thằng Frickel tếch rồi, cùng bố mẹ nó sang bên Tây Đức. Và từ ngày nó tếch đi, ở Groβkrienitz đây đâm ra vắng vẻ. Bọn con gái ngon nhất trong lớp nó đều ở Schulzendorf, muốn sang đấy phải có xe gắn máy mới được. Bao giờ nó mười bốn, có thể nó sẽ được cái xe, nếu nhà mình có tiền, mẹ bảo thế, nhưng bây giờ nhà mình phải dành tiền mua cái lò nung đồ gốm đã, sau đó, mẹ nói vậy, mình sẽ có nhiều tiền. Đúng ra thì mẹ đã nhiều lần nói như thế, mình sẽ làm được nhiều tiền, bây giờ Jurgen đem nốt cả xe ô-tô đi. Chuyện như vậy làm nó cáu, nhùng nhà nhùng nhằng, mà Groβkrienitz nằm đây đúng là xó xỉnh cùng trời cuối đất thật, từ đây đến Neuendorf phải những hai lần chuyển tàu cơ mà.
Nó dỏng tai, nghe xem có tiếng chân mẹ lên cầu thang không. Nếu mẹ đi một mình thật thì làm thế nào nhỉ?
Điều làm nó xiêu lòng là ý nghĩ về những thứ nó thấy ở nhà ông bà cố nội. Nó vẫn còn nhớ như in cái vỏ ốc khổng lồ đặt ở hành lang cũng như bộ da rắn hổ mang trong nhà kính (cố bà vẫn nhầm tưởng đấy là rắn đuôi chuông), vẫn nhớ cái lưỡi cưa con cá kiếm (đúng ra là cá đao) lẫn con cá nhám mèo nhồi bông. Nhưng nhớ nhất vẫn là con kỳ nhông con màu đen trên giá sách cố Wilhelm. Mọi thứ giống như trong Bảo tàng tự nhiên ở Berlin vậy. Cũng không được chạm tay vào bất cứ con gì.
Còn thì ông bà cố nó rất buồn cười. Một dạo, lâu lắm rồi, nghe đâu hai người đánh nhau với Hitler, bí mật thôi, ở trường chúng nó đã học qua về thời quốc xã, cố Wilhelm có lần đến lớp nó kể về ông Karl Liebknecht mới lại chuyện hai người ngồi ở ban công thành lập CHDC Đức. Đại loại thế. Cả bọn chúng nó chẳng hiểu mô tê gì, nhưng đứa nào đứa nấy, đến cả thằng Frickel, đều nể nó vì có ông cố tiếng tăm thế. Nhưng thực ra ông cố khùng khùng thế nào. Lúc nào cố cũng nói Ombre. Ombre là cái khỉ gió gì mới được chứ, còn bà cố thì cứ mưa nhé chứ không nói đi đái, cứ làm như nó mới lên ba không bằng, thế nhưng cố bà lại trố mắt ngạc nhiên thấy nó không biết thủ đô của Honduras là gì. Hê, hê, Honduras là cái gì vậy? Mác xe gắn máy chắc?
Bây giờ thì nó nghe rõ tiếng chân bước đến gần. Thì nó đã bảo ngay từ đầu mà lại, mẹ chỉ dọa thế thôi, chứ chả đi một mình đâu.
- Markus ạ, cố lên chín mươi rồi. Lần này, có khi là lần sinh nhật cuối cũng nên.
- Cuối con cũng kệ, Markus vùng vằng rồi thổi vào cái bùa bắt mộng nó treo ở giát giường trên.
- Con ăn nói như thế làm mẹ hơi buồn đấy, mẹ nó nói.
- Con chẳng có gì làm quà cả, Markus kêu váng lên.
- Ôi giời, không sao đâu.
- Có sao quá đi chứ!
Mẹ nó nghĩ ngợi trong chốc lát và, cũng như mọi khi, tìm ra ngay lối thoát:
- Thế thì tặng cố tranh mấy con rùa con vẽ ấy!
Làng Groβkrienitz nhỏ tí. Bến xe buýt đỗ chính là trung tâm của làng rồi. Khu nhà vườn hai mẹ con nó ở nằm rìa làng, thậm chí xa hẳn ra ngoài. Nó đi sau lưng mẹ nó, cách vài thước để đề phòng, nhỡ mẹ lại nắm tay nó đi thì ngượng chết.
Hai mẹ con đi qua đoạn đường ray bị bỏ hoang, ngang qua nhà xe hồi trước để xe cứu hỏa, giờ dùng làm kho chứa cái gì đó không rõ của hợp tác xã, đi qua công trường xây dựng, một nơi mà cứ đến cuối tuần lại thấy chiếc máy trộn bê-tông rù rù quay nhưng chẳng thấy có thay đổi gì, đi qua cái ao vịt ỉa đã gần đầy, qua cửa hàng tạp hóa mà nó với thằng Frickel thỉnh thoảng mua kem cây, đi qua những ngôi nhà cũ kỹ thấp tè của làng Groβkrienitz, những ngôi nhà mà nếu rèm cửa sổ không thỉnh thoảng động đậy thì có thể tưởng để hoang. Dĩ nhiên, nó chẳng thèm quan tâm đến chuyện tụi đần độn trong làng nghĩ gì, nhưng nó cũng mừng thầm rằng giờ mẹ nó ít gì cũng khoác chiếc áo có mũ trùm đầu ra ngoài, cho dù áo khoác cũng chỉ che phần trên váy thôi. Phía dưới là hai bắp chân mang quần tất hoa sáng màu của mẹ đưa lên đưa xuống theo nhịp đi và tiếng giày cao gót gõ lóc cóc trên lối đi bộ vốn đã hư hại nhiều của làng Groβkrienitz.
Markus ước, nếu từ đây đến bến xe mà nó không giẫm lên vết nứt nào trên mặt đường thì thể nào chuyến xe cũng bị hủy. Ở đây, việc chuyến xe nào đấy bị hủy là thường. Xe chạy tuyến này vẫn là xe buýt Ikarus cũ, máy lắp ở đít xe. Và nếu chuyến này bị hủy thì coi như xong, bởi vì Chủ nhật thì hai tiếng nữa mới lại có xe. Tuy nhiên, nó phải chú ý không giẫm phải phiến lát đường nào bị bật lên, vì chỗ bật lên như thế cũng là vết nứt vậy. Chuyện không dễ chút nào. Mẹ bước nhanh hơn, khiến Markus càng phải để ý.
Từ xa nó đã nghe thấy tiếng thử đàn từ phía nhà thờ vọng tới. Nó cũng chẳng cần ngước lên nhìn mà vẫn biết mẹ chào ai.
- Kìa, ông Klaus gọi to. Hai mẹ con vội đi đâu đấy?
Ông Klaus là mục sư ở nhà thờ đây.
- À, hai mẹ con em ra bến xe, mẹ đáp. Hôm nay sinh nhật mẹ em mà.
Markus ngạc nhiên ngước nhìn lên, một loáng thôi, nhưng đã giẫm ngay phải vết nứt rồi.
- Mẹ kiếp, Markus kêu lên.
- Nhưng tối nay, hai mẹ con đến dự buổi cầu nguyện cho hòa bình chứ? ông Klaus nói.
- Để em xem thế nào, sợ không kịp anh ạ.
- Thế thì tiếc nhỉ, ông Klaus gọi với theo. Lại đúng hôm nay.
Hai mẹ con đến bến thì xe cũng vừa tới.
Động cơ sau đít xe khẽ rồ lên khi xe lăn bánh. Chiếc xe Ikarus già nua nặng nề lấy đà. Bên ngoài vẫn là cảnh trí sáng nào nó cũng thấy, cách đồng trơ toàn gốc rạ, hàng cây thông và mấy cái tháp ủ thức ăn gia súc màu bàng bạc phía sau (thằng Frickel lúc nào cũng khăng khăng thật ra đấy là bệ phóng tên lửa hạt nhân của quân Nga).
Không rõ vì sao, tự dưng nó có cảm giác nó phải hỗ trợ mẹ nó.
- Con không đến chỗ bố nữa đâu, nó nói dõng dạc.
- Lại có chuyện gì thế nào? mẹ nó ngạc nhiên.
Nó cân nhắc nhanh trong đầu các hệ quả của phương án nó vừa nêu lên. Không đến bố, nghĩa là không đến Berlin, không đi xem phim, không thăm Bảo tàng tự nhiên nữa. Song, những lần như thế thật hiếm hoi, cho nên nó bỗng cảm thấy không có gì đáng ngại, nếu có phải từ chối không nhận cái ơn được-bố-đón-rồi-đưa-về (vả lại, đến lúc nào đó, cũng chẳng lâu la gì nữa, nó sẽ đủ lớn để tự đi Berlin một mình).
- Cái lão khỉ ấy, Markus lầu bầu.
- Markus, con không được nói thế!
- Cái lão khỉ ấy, Markus không chịu thôi.
- Markus, mẹ không bằng lòng con nói về bố con như thế.
Xe buýt dừng lại một lúc. Một bà cụ già bước lên xe, ngồi xuống hàng ghế đầu. Lúc xe chạy trở lại, mẹ nó nói:
- Mẹ với bố con lấy nhau, rồi đẻ ra con, là vì hồi ấy bố mẹ yêu nhau. Và việc bố mẹ chia tay nhau không liên quan gì đến con cả. Bố con bỏ mẹ, chứ đâu có bỏ con. Thế được chưa?
- Cứt. Đái. Mửa. Thối hoăng, Markus văng tục.
Cứ bao giờ mẹ bênh bố nó là nó lại nổi cáu. Bố nó bỏ rơi cả mẹ lẫn nó chứ, bỏ cả nó! Bố gây cho mẹ bao nhiêu là chuyện. Mặc dù nó còn nhỏ, không biết hết được, như mẹ nó vẫn nói, nhưng ít nhiều nó vẫn biết, vẫn nhớ bị bỏ rơi là thế nào. Nhớ kinh sợ là thế nào, bị hành hạ là thế nào. Nó nhớ tiếng mẹ khóc thút thít, cố nén để nó khỏi nghe thấy, nó vẫn nhớ bố nó làm gì với mẹ nó ở phòng bên, hình như là kéo tóc, kéo lê trên mặt sàn thì phải, bởi mẹ có lần bảo bố giỏi lôi kéo đàn bà mà lại. Bây giờ thì nó biết, nói thế là có nghĩa khác cơ, nhưng tiếng mẹ nó thút thít thì nó nhớ như in, cũng như cảnh nó nằm lặng ra đấy vì sợ, nó cũng nhớ, lúc còn bé, nó rất hay bị ốm, mọi sự đều do nó bị bỏ rơi, mẹ nó làm nghề tâm lý nên mẹ nó biết, hay tại sao, trước khi mẹ nó tặng nó cái bùa xua mộng, nó cứ hay mơ, đôi khi ngay giữa ban ngày, thấy toàn đầu cá chết.
Trụ sở hợp tác xã hiện ra trước mặt hai mẹ con. Một bãi đất rộng bỏ hoang, chất đầy các loại máy móc hoen gỉ giữa đám cỏ dại mọc cao. Tiếp đến là trại tập trung lợn, một công trình toàn bằng bê-tông thường cứ hiện lên trước mắt nó mỗi khi ở trường, chúng nó phải hát:
Tổ quốc ta, không chỉ là phố xá với làng quê...
- Tại sao lúc nãy mẹ bảo hôm nay sinh nhật bà?
- Ấy là nói thế, cho qua chuyện, mẹ nó đáp.
Nhưng nó thừa biết không phải chỉ là cho qua chuyện. Để ông Klaus biết mình đi dự sinh nhật cố Wilhelm, mẹ nó ngượng. Ông Klaus là người nhà thờ, cố Wilhelm người của đảng, chẳng thể hợp được nhau. Có điều, ông Klaus có biết cố Wilhelm là ai đâu (cả bà ngoại ông ấy cũng không quen), cho nên việc gì mẹ phải nói lảng như thế. Song, thay vì nói thế với mẹ nó, nó lại hỏi:
- Ông Klaus chống CHDC Đức, đúng không mẹ?
- Ông Klaus không chống CHDC Đức, mẹ nó đáp. Ông ấy muốn CHDC Đức tốt lên thôi, có nhiều dân chủ hơn.
- Thế sao ông ấy làm mục sư?
- Tại sao lại không chứ? mẹ nó nói. Ai cũng đấu tranh cho dân chủ được. Với lại, làm mục sư ông ấy dễ tổ chức cầu nguyện cho hòa bình hơn chẳng hạn.
Markus không thích tiếp tục câu chuyện, nó đánh hơi thấy mẹ nó lại định thuyết phục nó, nhưng chính nó, nó thấy các buổi cầu nguyện cho hòa bình ấy đến ghê cả người, cái trò mọi-người-nắm-tay-nhau-cùng-hát, cái trò ồn ào nhốn nháo ấy, rồi sau đó ai nấy lăn ra ngủ ở khu nhà vườn nhà nó, có người còn uống say rồi tè lên cà chua nhà nó: Vì một nước CHDC Đức tốt đẹp hơn! Làm thế nào để được như thế thì chịu, nghe cứ như câu đố.
Phía đằng xa là Tây Berlin, những ngôi nhà hộp mới xây màu trắng, trông cứ như là tương lai vậy. Thằng Frickel đang ở đấy.
- Sao mình không làm đơn xin xuất cảnh hả mẹ? nó hỏi.
- Nếu hôm nay mẹ con mình nộp đơn, giá đơn có được duyệt, thì chắc cũng phải đợi đến khi con mười tám, có khi hai mươi cũng nên, may ra mới xuất cảnh được.
- Hay mình trốn đi, Markus chợt nói.
- Nói khẽ chứ, mẹ nó ngăn.
Bỗng dưng nó thấy ý tưởng ấy thật tuyệt vời. Chỉ cần làm thế là mọi sự cũng cho qua nốt, cả làng Groβkrienitz lẫn xưởng đồ gốm của mẹ nó. Bố nó sẽ ngớ ra nhìn theo cho mà xem.
- Thế cậu định chuồn bằng cách nào hả cậu? mẹ nó hỏi.
- Mọi người làm sao, mình làm thế. Đi qua Hungari, chứ sao nữa.
- Chẳng dễ thế đâu, mẹ nói nhỏ, như thể mẹ sợ bà già ngồi phía trước là người của Stasi vậy. Muốn thế mình phải có giấy phép vào Hungari, nhưng bây giờ giấy không cấp nữa rồi. Với lại, con nghĩ mà xem, có sang bên ấy thì con sẽ chẳng bao giờ gặp lại bạn bè con cả.
- Có chứ. Thằng Frickel đấy thôi.
- Ừ, thì Frickel. Thế những đứa khác thì sao?
- Thằng Lars đằng nào cũng ở bên ấy rồi.
- Thế ông bà thì sao? Cả bố con nữa?
- Cái lão khỉ gió ấy, Markus đáp.
- Này Markus, mẹ nghiêm giọng, hay hai bố con có chuyện gì hả? Con có định nói mẹ biết không đấy?
- Cứt. Đái. Mửa. Thối hoăng, Markus nói lảng và nhìn theo mấy khối nhà màu trắng đang dần dần trôi qua.
Khoảng một tiếng sau, lúc đã đứng trước nhà ông bà có nó, nó nhớ lại mấy cái vòng bằng đồng thau để gõ cửa treo ở cánh cửa vào nhà. Cái vòng có hình con rồng kiểu Tàu, nhưng hàm rồng đúc giống hệt mấy cái đầu cá nó thường mơ. May quá - chắc là để trừ ma - phía dưới đầu cá có dán mảnh giấy viết dòng chữ: không gõ cửa! Markus chợt nhớ, nhiều mảnh giấy như thế dán khắp nơi trong nhà, kiểu như: chỉ dành cho khách hoặc công tắc bị hỏng, hoặc cắm chìa khóa phía trong, thậm chí Chú ý, lối xuống tầng hầm dán ở cửa cầu thang, như thể vì lo nhà quá lớn nên dễ quên mất lối xuống tầng hầm vậy.
Hai mẹ con chưa kịp bấm chuông thì cửa đã mở ra và trước mắt hai mẹ con là một người đàn ông mặc com-lê màu xanh da trời, trán hằn những nếp nhăn to như mấy khúc dồi.
- Đồng chí... là..., ông ta nói.
Ông ta rõ ràng không biết ai đang đứng trước mặt, nhưng vẫn làm bộ như thể chỉ không nhớ tên thôi.
- Tôi là Umnitzer, mẹ nó nói rồi chỉ vào Markus, đây là chắt của ông bà Wilhelm.
- Chắt cụ đến thăm ạ, người đàn ông nói lớn vào trong. Ông ta nắm tay Markus lắc lắc.
- Ghê thật, ông ta nói. Ghê thật!
Thật lạ lùng, ngay cả khi ông ta cười, những nếp nhăn to như mấy khúc dồi trước trán vẫn không hề nhúc nhắc. Ông ta nói với mẹ:
- Thưa đồng chí, tôi được trao nhiệm vụ đỡ giấy bọc hoa cho đồng chí.
Mẹ nó chẳng nói chẳng rằng đưa giấy gói hoa cho ông ta.
Trong hành lang, cái vỏ ốc khổng lồ tỏa sáng, đúng như nó vẫn còn nhớ, chỉ có điều căn phòng có vẻ tối hơn lần trước nó đến đây. Hai mẹ con đứng lạc lõng ở đó mất một lát thì bà cố hiện ra, như một bóng ma ngay trước mặt. Bà cố nhìn hai mẹ con có vẻ như dò hỏi khiến Markus đã nghĩ, không khéo cố không nhận ra mình. Song bà cố nói:
- Hai mẹ con đến thăm thật là tuyệt. Cố rất mừng!
Một người đàn bà bước tới, đỡ áo choàng cho mẹ nó.
- Nếu ở lối sau không còn chỗ thì đem áo xuống dưới tầng hầm nhá, bà cố nói theo bằng một giọng nghe như xoáy vào tai. Rồi bà cố lại quay về phía hai mẹ con.
- Khiếp quá đi mất, bà nói.
Markus không hiểu bà cố nói vậy là nghĩa làm sao.
- Tôi kiệt sức rồi, bà cố nói, đúng là hết sức rồi.
Bà cố đưa tay ôm lấy mặt, giữ yên như thế một lúc, lâu đến mức Markus bắt đầu thấy ái ngại. Chợt bà cố nói:
- Không nói gì nhá! Rõ chứ?
Giọng cố lại nhói lên gay gắt.
- Không nói gì về Hungari cả nhá! Không nói gì cả! Nhất định không nói nhá. Rõ chưa?
- Vâng, rõ ạ, mẹ nó đáp.
Bà cố cúi xuống, nói gần như thì thầm:
- Ông ấy không chịu được nữa đâu.
- Được rồi ạ, mẹ nó lại nói.
- Thế thì tuyệt, bà cố lại nói như sáo thổi rồi xoa đầu Markus. Cháu bây giờ lớn quá nhỉ.
- Cháu mười hai tuổi rồi đấy ạ.
Bà cố gật gật đầu.
- Cháu là Melitta hả? Melitta chứ gì, đúng không?
- Vâng, mẹ nó đáp. Đúng ạ.
Bà cố xoa đầu nó lần nữa, cười với nó lần nữa rồi đột nhiên, thậm chí hơi khùng khùng, lại đổi giọng nói:
- Vamos[1] !Nhớ không nói gì cả nhá!
Vừa bước vào phòng lớn nó đã nhớ ngay đến Bảo tàng tự nhiên, mọi thứ ở đây đều để trưng bày, đều có vẻ gì đó tiền sử và cái mùi ở đây cũng vậy, bụi bặm, nặng nề và nghiêm trang, xung quanh toàn giá sách màu đen có cửa kính, và nhìn chéo qua cánh cửa kéo nối hai phòng thành một phòng rộng như cái hội trường này, nó thấy khu nhà kính mùa đông, là nơi như nó vẫn biết, chứa chất phần lớn các báu vật ở nhà đây.
Ở giữa phòng là bàn tiệc ghép thành từ nhiều chiếc bàn khác nhau (và cao thấp cũng khác nhau nốt). Quanh bàn tiệc đã có khá nhiều người ngồi. Nó không thấy bố nó ngồi ở đấy. Thoáng nhìn qua nó cũng không thấy bà nội nó đâu. Ngồi quanh bàn hầu hết là người già, rất già. Markus nghĩ bụng, cảnh tượng này trông giống như cảnh một bầy khủng long tụ tập uống cà phê, ăn bánh ngọt và cãi vã với nhau. Có điều sao ai nấy đều có vẻ xúc động và tranh nhau nói, như thể họ vừa thức dậy từ giấc ngủ từ thời tiền sử đến giờ và thi nhau nói cho bằng được những điều mà cả triệu triệu năm trước họ chưa kịp nói vậy.
Cách xa bàn tiệc lớn, ở tít tịt góc trái còn độc một người, cũng một con khủng long nữa, dường như chưa tỉnh hẳn, đang ngồi khuất trong bóng do tấm cửa dẫn vào nhà kính hắt vào. Đúng vậy, bóng người gầy guộc, xương xẩu, ngồi co ro, hai đầu gối quá tai kia cùng đôi cánh tay tựa hai bên ghế ngồi cũng như cái mũi diều hâu to tướng làm nó nhớ đến phiên bản hóa thạch của một loài bò sát đã bị tuyệt chủng từ lâu, loài pterodactylus, thằn lằn bay, vốn vẫn làm Markus say mê nhất ấy.
- Cháu Markus, bà cố nói với con khủng long bay. Chắt ông đấy!
- Cháu mừng sinh nhật cố ạ, Markus nói lầm bầm rồi chìa bức tranh cho ông cố.
Con khủng long bay nghiêng nghiêng đầu, quay quay cái mũi diều hâu.
- Cố không nghe thấy gì nữa đâu, bà cố thì thầm vào tai nó.
- Con kỳ nhông, con khủng long bay nói khò khè.
- Con rùa nước đấy ạ, Markus nói to. Nó không muốn nói chính xác hơn làm gì (rằng thực ra, trên bức tranh là con đồi mồi).
- Cố cũng chẳng thấy gì nữa đâu, cố bà lại thì thào.
- Cháu Markus rất yêu động vật đấy ạ, mẹ nó nói chêm vào.
Con khủng long bay ngồi yên, không động đậy một lát, rồi nói:
- Này Markus, cố mà chết thì cháu được thừa kế con kỳ nhông trên giá sách kia.
- Cool, Markus nói.
Nó chưa bao giờ được “thừa kế” cái gì của ai, cho nên nó không chắc lắm, chả biết nó có phải cảm ơn, hay liệu nó có được phép vui mừng không. Nếu mừng thì chả hóa ra mừng vì cố Wilhelm chết à! Song cố Wilhelm bỗng nói:
- Tốt nhất mày cứ lấy đem về luôn đi.
- Ngay giờ ạ?
- Lấy luôn đi, cố Wilhelm nói, cố chẳng sống được mấy bữa nữa đâu.
- Nhưng con phải đi chào mọi người đi đã, mẹ nó nói với theo.
Markus ngoan ngoãn đi bắt tay người này đến người khác. Cái tiếng xì xào kèm theo Chắt của cụ đấy, chắt cụ đấy! dĩ nhiên, làm nó ngượng, nhưng cũng làm nó hãnh diện thế nào đó.
- Chà, tuổi thiếu niên, một bà tóc nhuộm vàng nói, giọng nghe phì phì.
- Da zdravstvuyet, một ông to béo, đầm đìa mồ hôi, mặt đỏ gay do nói nhiều, rống lên.
Mọi người nâng cốc mừng lớp thanh thiếu niên.
Ông nội Kurt còn ôm lấy nó - đây không phải chuyện ông hay làm đâu, vì mọi khi ông nội là người chẳng thích ôm ấp và, như thế, làm Markus rất khoái. Mà nói chung, nó rất quý ông nội và cứ thấy ái ngại cho ông, khi thấy ông mỗi lần nó đến chơi là lại cố dạy cho nó một trò chơi gì đó gọi là có ích cho cuộc đời sau này. Ông nội Kurt là thế, rất hiền, nhưng khó tính ra phết.
- Bà nội đâu ạ? Markus hỏi.
- Bà không được khỏe, ông nội đáp.
- Bà ốm ạ?
- Ừ, ông nội Kurt nói. Chắc phải nói bà ốm mới đúng.
Cuối cùng đến lượt cố Nadya. Nó hơi sợ bắt tay cụ. Cố Nadya ở bên kia, chỗ bà nội Irina, mỗi lần đến là nó lại phải vào phòng để chào cố, mà trong ấy có cái mùi gì kinh lắm, ngửi thấy ngòn ngọt, xộc vào mũi làm ngạt thở, khiến nó sau khi xong nghĩa vụ chào hỏi chỉ muốn chuồn ngay, nhưng bao giờ cái bẫy cũng sập rồi, tức là tay cố, tay bà già nhé, nắm lấy tay nó như gọng kìm, rồi trong khi nó sắp hết cả hơi, bà cố vừa tuôn ra những tràng tiếng Nga vừa kéo nó đến bên giường. Bàn tay như gọng kìm của cụ sẽ chưa mở ra đâu, nếu nó chưa chịu nếm của cụ một viên kẹo sô-cô-la nhân rượu mà nó rất ghét ấy.
Thì nó vẫn biết bà cố thương nó, rõ là như thế rồi, cho nên nó vẫn gắng để cụ không nhận ra vẻ gì khó chịu ở nó cả. Ngay cả lúc này, trong lúc chìa tay bắt tay cụ, nó bất giác chỉ thở bằng mồm nhưng vẫn làm bộ mặt vui vẻ và bụng bảo dạ sẽ bỏ ngoài tai tràng âm thanh khó hiểu mà thể nào cố cũng sẽ tuôn ra. Song, nó ngớ cả người, khi nghe cố Nadya chỉ nói có mỗi một tiếng duy nhất, tuy phát âm có sai (vì cụ đánh trọng âm vào âm cuối), nhưng nó lại hiểu được:
- Affidersin.
Auf Wiedersehen, chào tạm biệt, Markus thở phào đáp lại rồi bỏ ngay ra chỗ khác.
Trước hết nó đến ngắm con kỳ nhông giờ đã thuộc về nó. Đúng là một tiêu bản tuyệt vời, không hư hỏng chút nào, ngoài cái móng bị thiếu. Vảy con kỳ nhông hơi bám bụi và nó đã thấy vui vui vì khi về nhà nó sẽ được dùng chổi lông chải cho sạch. Không biết có nên đem con kỳ nhông cất vào chỗ nào chắc ăn hơn không, ai biết được ấy, chốc nữa cố Wilhelm lại quên hết mọi sự thì làm sao? Nhưng cất vào đâu bây giờ? Mà thôi không sao, đã có khối người làm chứng cố ông tặng nó con kỳ nhông. Nghĩ vậy, nó nhất định tiếp tục ngó nghiêng chỗ này chỗ nọ, bất chấp mẹ nó đang làm bộ điệu, mà không nói thành tiếng, bắt nó ngồi vào bàn uống cà phê với mọi người.
Phòng cố Wilhelm tuy không hấp dẫn bằng nhà kính, trừ con kỳ nhông, trừ luôn cả chiếc mũ sombrero to đùng cũng như sợi dây thòng lọng và chiếc thắt lưng tết bằng da (đeo cả bao súng lục nhá!) treo trong hốc tường xây bít một khung cửa cũ, nhưng Markus vẫn thong thả ngắm nghía mọi thứ ở đây lần nữa cho chắc ăn. Có mấy thứ bằng bạc, như bát tô to hay gạt tàn thuốc, nhưng cũng có thứ bằng vàng hoặc bằng pha-lê xanh, chắc là quý lắm, được cẩn thận phủ rèm để trong những ngăn riêng trên giá sách. Có hẳn cả một ngăn Nga, trong đấy là mấy con búp-bê gỗ có thể lồng vào nhau, mấy chiếc thìa gỗ sơn hoa nhiều màu, lại thêm khối gì đó bằng thủy tinh đặc, bên trong là mô hình điện Kremlin bé tí teo và nếu lắc lắc cái khối ấy lên sẽ có tuyết rơi. Ngoài ra, còn cái tượng đầu Lenin, bằng thạch cao, sứt một bên tai.
Mấy tấm ảnh đóng khung dựng trong ngăn tủ kính cao lưng lửng trông cũng hay hay. Một tấm chụp cố Wilhelm đứng cạnh một chiếc mô-tô cũ kỹ từ thời tiền sử (không biết bộ quần áo có mặc có phải quân phục không?), đội mũ da ôm khít đầu và đeo kính đen (nó nhận ra cố nhờ cái mũi), ngồi trong thùng xe bên cạnh là một người đàn ông mặc com-lê. Phải ông Karl Liebknecht không nhỉ? Song bức ảnh đã cũ, nhìn không rõ, vả lại, hồi ấy hình như ai cũng để ria xồm xoàm.
Một tấm khác chụp trên tàu thủy. Không biết đây là tàu đưa ông bà cố từ Mexico về hay tàu đưa các cụ đến đó nhỉ? Làm thế nào mà hồi ấy hai cụ trốn khỏi nước Đức được nhỉ?
Ngoài ra là ảnh một người đàn bà trẻ, đẹp, mái tóc đen và đôi mắt sáng. Và, chỉ dựa vào kiểu cách để tóc mà đến tận giờ bà vẫn giữ mới có thể nhận ra người trong ảnh cũng chính là người đang hớt hải bước vào và rít lên nhắc nhở khách khứa quanh bàn tiệc:
- Kìa, các vị, tôi xin các vị!
Nhưng chuông đã lại reng. Cố bà biến ra ngoài hành lang và tiếng chuyện trò tào lao ồn ào của đám khủng long, chợt lắng trong giây lát sau lời nhắc nhở, lại nổi lên nhao nhao. Bất chấp lời dặn, mọi người bàn tán về tình hình chính trị và về Hungari lẫn những của nợ khác kiểu như thế. Markus ngạc nhiên thấy đám khủng long này cũng đồng ý kiến với mục sư Klaus ở Groβkrienitz:
- Nhều rân trủ hơn, ông to béo mặt đỏ gay, hét to, ngọng nghịu. Túng ta cần nhều rân trủ hơn!
Nhưng cố bà đã trở vào, vỗ vỗ tay chen vào:
- Các đồng chí, cụ nói to, các đồng chí, đề nghị im lặng nào.
Một người đàn ông mặc com-lê màu xanh lơ bước vào. Trông ông này rất giống thầy Brietzke hiệu trưởng trường nó. Ông ta cầm trên tay một cái cặp giấy màu đỏ. Ai đó gõ vào thành cốc thủy tinh kêu leng keng. Markus nghĩ bụng, chắc bây giờ sang phần lễ chính thức, hình như sẽ có diễn văn. Không biết bố đâu nhỉ?
- Thưa các đồng chí, kính thưa đồng chí Powileit đáng kính, ông hiệu trưởng cất lời và giọng ông ta ngay từ đầu đã gây buồn ngủ, như mọi diễn văn khác đều vậy, khiến Markus đã nghĩ không biết nó có nên lợi dụng lúc vẫn còn lộn xộn để chuồn nhanh sang nhà kính không, nhưng đã muộn, nó đành phải chờ. Nó đang đứng bên cửa sổ, trước bàn giấy của cố Wilhelm, cũng là thứ đáng cho vào bảo tàng rồi, với vô số đồ vật thuộc mọi thời đại đang nằm trên bàn: dao mở thư (nhiều con một lúc), bút chì gỗ (màu đỏ) và chiếc kính lúp rất to. Trong lúc ông hiệu trưởng thuật lại tiểu sử cố Wilhelm, Markus chợt nhớ đến dạo ấy, dạo cố Wilhelm đến thăm lớp nó, cố cũng kể về “cuộc đảo chính Kap”[2] khiến nó rất ngạc nhiên, và mặc dù nó chẳng biết cái xứ ấy như thế nào, nó đã tưởng tượng thấy cố nội nó hồi xưa ở Kap Hoorn, đầu đội mũ sombrero, tay lăm lăm khẩu súng côn cưỡi ngựa xung phong và - đoàng một phát - cố ngã ngựa. Chắc chắn mọi sự không phải như nó tưởng tượng ra, Markus nghĩ bụng, có lẽ thủ lĩnh tên là “Kap” chăng? Có thể thủ lĩnh chính là người ngồi thùng xe mô-tô trong ảnh chăng? Ảnh chụp lúc hai người lên đường làm đảo chính chắc? Hay đấy là ảnh thời quốc xã nhỉ, tức là dạo cố Wilhelm, nói như ông hiệu trưởng đang kể lể, phải hoạt động bí mật, và hóa trang thành lính SA? Về sau, ông hiệu trưởng nói tiếp, cố Wilhelm phải trốn khỏi nước Đức, nhưng trốn bằng cách nào thì ông hiệu trưởng không nói lộ ra, khiến Markus lại phải tự hỏi lần nữa, chẳng lẽ hồi ấy ở Đức không có biên giới hay sao? Hay biên giới không có ai canh gác? Mà dạo ấy cố bà Charlotte ở đâu chứ?
- ... trao cho đồng chí Powileit yêu quý Huân chương Tổ quốc ghi công hạng Nhất, Markus nghe ông hiệu trưởng nói đến đoạn kết. Nghe ghê thật đấy, Huân chương Tổ quốc ghi công. Nghe có hơi hướm của thời Hoàng đế và chiến tranh, lại hạng nhất, bằng vàng nữa. Ai nấy vỗ tay và ông hiệu trưởng, tay cầm cái huân chương, bước về phía cố Wilhelm.
Nhưng cố Wilhelm chẳng buồn đứng dậy, chỉ giơ tay lên nói:
- Tôi đủ xèng trong hộp rồi.
Ai nấy cười, mỗi bà cố lắc lắc đầu. Rồi ông hiệu trưởng gắn huân chương cho cố Wilhelm và mọi người lại vỗ tay, còn đứng cả dậy, và dường như ai nấy tự dưng không biết làm sao để dừng, thành ra cứ vỗ tay, vỗ mãi, vỗ mãi, ngay cả đến lúc cố bà nói chen vào bằng giọng như sáo thổi vẫn còn chưa thôi ngay:
- Tiệc buffet bắt đầu đấy!
Bàn buffet đặt ở phòng bên. Markus chớp nhanh một khúc xúc xích nhỏ rồi lẩn ra phía nhà kính. Chưa gì nó đã như ngửi thấy cái mùi quen thuộc, đầu ngón tay nó như đã có cảm giác gai gai của da cá nhám, thứ da hợp thành từ vô vàn chiếc răng nhọn, cứ thường xuyên rụng cái cũ lại mọc cái mới ấy. Thậm chí nó đã cẩn thận phòng xa, chỉ cầm xúc xích một tay, tay phải thôi, nhằm giữ sạch tay trái để chốc nữa còn sờ da con cá nhám. Nhưng cửa vào nhà kính bị khóa. Có một mảnh giấy, như tờ giấy niêm phong, dán đè lên khe giữa hai cánh có thể đẩy ra đẩy vào về hai phía: cấm vào ! Markus chăm chú nhìn qua tấm cửa kính vào bên trong. Mọi thứ vẫn bày biện như nó nhớ. Kia là bộ da rắn hổ mang cùng mũi cá đao, ở góc khác là con cá nhám nằm lấp ló sau mấy tàu lá đa búp đỏ; chỉ có bồn phun nước nhỏ là không phun nữa. Và, kiễng chân lên, nó thấy sàn gỗ lát trước cánh cửa dẫn ra sân hiên bị ngấm nước cong vống lên, hình như còn bong cả ra. Tiếc thật, Markus nghĩ, không phải tiếc cái sàn gỗ lát, mà tiếc số đồ vật hay hay trông có vẻ bị quên lãng, chẳng ai ngó ngàng đến thế kia, và nó chợt tự hỏi, không biết liệu nó có được thừa kế bộ da rắn hổ mang lẫn mũi cá đao và con cá nhám không. Nhưng, chắc là, khi nào cố bà chết, thì đến lượt ông nội Kurt cái đã, khi nào ông nội Kurt chết thì đến lượt bố nó, dài quá, thứ tự dài quá là dài, cho nên hy vọng độc nhất có lẽ là may ra nó sẽ được tặng mấy thứ đó trước khi đến lượt. À, hay là xin bố nhường lượt cho mình nhỉ? Nhưng bố đâu mới được chứ? Markus nhìn quanh một lượt, nhưng dĩ nhiên chả thấy bố nó đâu. Cứ lúc nào nó cần đến bố thì bố lại vắng mặt. Như bây giờ chẳng hạn, lúc nó cần nhờ xin bà cố khó tính cho nó vào nhà kính! Có được ông bố mà chẳng bao giờ thấy mặt ông ấy đâu, rõ chán! Bọn bạn nó, bao giờ cũng thấy bố chúng nó ló mặt, độc mỗi nó, Markus Umnitzer, là trúng một ông bố chết tiệt, chẳng bao giờ thấy mặt đâu. Lão khỉ gió.
Nó quay lại bàn buffet, nhón thêm khúc xúc xích nhỏ nữa. Mẹ nó đang ngồi ở phòng bên kia, cạnh ông nội Kurt. Bởi mẹ không thích nó cứ ăn độc mỗi xúc xích, nên nó tránh mặt mẹ, cứ loanh quanh ở phòng buffet cái đã, lơ đãng ngắm nghía lô hiện vật của người da đỏ mà cố bà nó lúc nào cũng hãnh diện khoe, rồi, khi nghe thấy chuông cửa ngoài, kín đáo nhìn xem có phải bố nó đến không. Và, sau khi đã chén nốt xúc xích mà lão khỉ gió chết tiệt vẫn chưa đến, nó nhăm nhăm sẽ tự tìm cố bà để hỏi xem liệu có thể cho phép nó được ngoại lệ vào thăm nhà kính không. Song, lúc nó vừa chùi tay vào quần cho sạch và ngó nghiêng toan tìm cố bà thì ở phòng bên cạnh bỗng dưng im bặt, rồi một lát sau, nó nghe một giọng hát cao, khe khẽ cất lên, hơi cao để bảo là giọng đàn ông, hơi trong để bảo là giọng một loài khủng long gần tuyệt chủng, nhưng giọng hát đúng thật là của cố Wilhelm. Cố ngồi một mình trong góc, tối nhá nhem, mắt nhắm nghiền còn miệng thì hát, hát một mình những lời thoạt nghe cứ như là vớ vẩn cố vừa bịa ra. Ấy nhưng không phải. Đó là những lời hát gì về Lenin với Stalin. Có ai đấy thậm chí định hát theo, nhưng không thật thuộc lời, nên cố Wilhelm - con khủng long pterodactylus ấy, con thằn lằn bay còn mỗi da bọc xương, đeo huân chương trên ngực như nhà vô địch Thế vận hội ấy - cứ thế một mình, solo, hát hết bài.
Mọi người lại vỗ tay. Cố Wilhelm phẩy tay bảo thôi, nhưng chẳng ăn thua gì, mọi người vẫn vỗ tay không ngớt, như thể vừa xong một màn diễn tuyệt vời. Mỗi cố bà là nhăn mặt, rõ ràng là ngượng thay cho cố ông, và Markus chợt do dự không biết bây giờ có phải là lúc nên xin cố bà cho nó vào nhà kính không thì - thật ai mà tin được - một người khác, hay đúng hơn là một bà khác, cất tiếng hát. Đấy là cố Nadya. Bỗng dưng cụ lắc lư bên này bên kia theo nhịp và bằng một giọng trầm, khô khan, bắt đầu phát ra những âm thanh tiếng Nga khiến mọi người xung quanh lập tức chú ý. Họ suỵt soạt - khẽ nào - đến cả cố bà Charlotte cũng bị suỵt, và ai nấy hướng nhìn với vẻ khuyến khích về phía cố Nadya, một vài cái đầu thậm chí đã bắt đầu lắc lư theo nhịp. Đến lúc cố Nadya hát đến lần thứ hai hay thứ ba gì đó, như kiểu điệp khúc, trong đó có lẽ lời ca duy nhất mà mọi người đều hiểu là vodka, vodka thì lẻ tẻ bắt đầu có người hát họa theo, vào đúng đoạn vodka, vodka, còn cố Nadya vẫn tiếp tục nghiêm trang hát cho bằng hết đoạn này đến đoạn khác. Rốt cuộc, tất cả mọi người có mặt, mà to nhất là lão béo có bộ mặt đít khỉ đầu chó, cùng gào lên vodka, vodka và vỗ tay theo nhịp vodka, vodka. Khó mà tin được chuyện gì đang diễn ra ở đây. Cuộc liên hoan của loài khủng long! Thế là bố không được dự nhá, Markus nghĩ thầm và lại nhìn quanh, với ý nghĩ biết đâu bố nó đã đến từ lúc nào mà nó không hay. Song, thay cho khuôn mặt bố nó, nó lại nhìn thấy giữa đám những khuôn mặt hí hởn đến rồ dại ấy, giữa đám những khuôn mặt nhăn nhở, hở răng hở lợi và say mèm ấy, một khuôn mặt nghiêm nghị, hờ hững, hoàn toàn bàng quan trước mọi sự đang diễn ra xung quanh, một khuôn mặt gầy và méo mó, mang một vết nho nhỏ bị nhiễm trùng dưới lông mày.
Đúng lúc ấy ở phòng bên có tiếng gì loảng xoảng rồi tiếng ai đó kêu lên, và Markus phải khó nhọc mới len qua đám người bất chợt tràn sang đó để đến được chỗ mẹ nó.
- Có chuyện gì thế, hả mẹ? nó hỏi to.
- Mình đi về, mẹ nó nói.
- Sao bây giờ đã về?
- Ra ngoài kia rồi mẹ nói, Melitta đáp vội.
Hai mẹ con ra về, không chào tạm biệt cả ông bà cố nội. Nó mang con kỳ nhông về theo.
Đêm đến nó lại nằm mơ thấy đầu cá đã bị chặt rời khỏi thân.
[1] Tiếng Tây Ban Nha: Thôi, đi đi.
[2] Còn gọi là cuộc đảo chính Kapp-Luttwitz, là cuộc đảo chính bất thành vào ngày 13.3.1920 của phái quân nhân cũ toan lật đổ chính phủ Weimar do Gustav Bauer đứng đầu. Ở đây, Markus lẫn lộn tên người (Kapp) với tên địa danh (Kap Hoorn, Mũi Sừng), là điểm cực Nam của một quần đảo tại Nam Chile.