Thời Nắng Lịm

Lượt đọc: 173 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NĂM 2001

❊ ❊ ❊

Anh nằm trên võng, đung đưa nhè nhẹ bằng cách chốc chốc chống ngón tay vào lan can sân thượng đẩy võng ra. Giọng miền Nam Đức từ chiếc bàn lớn, nãy giờ vẫn rời rạc vọng sang, đã lặng hẳn. Cả tiếng hò reo, tiếng cười nói thỉnh thoảng từ trong làng lọt ra đây, lẫn tiếng động cơ xe hơi, cả tiếng đài phát thanh nghe có vẻ ma quái văng vẳng lúc xa lúc gần không rõ từ đâu đến, lẫn tiếng xôn xao vang từ căn bếp nhà khách, cũng im nốt. Đến cả mấy tàu lá cọ cũng thôi không sột soạt nữa. Trong giây lát, giữa cơn nóng cực điểm của buổi chiều mùa hạ này, trời đất dường như trở nên bất động.

Duy chỉ tiếng kẽo kẹt đều đều của dây thừng căng võng còn dư lại. Và tiếng rì rầm xa xôi, vô tình của biển cả mà thôi.

Một sự trống trải đến bao la. Một trạng thái bất động nguyên sơ.

Về sau, sau khi anh đã thức dậy từ giấc ngủ mơ màng, sau khi anh uể oải vươn người thoát được sức hút nhẹ nhàng mà khó cưỡng, chỉ muốn đè chặt anh xuống võng ấy, sau khi anh đã đi lấy ly cà phê và, lúc đi ngang, ngẩng đầu chào hai khách du lịch đeo ba-lô vừa mới đến, cũng y hệt như anh lúc đầu, đang đứng trên sân thượng ngẩn người say ngắm phong cảnh bày trước mặt - về sau, anh sẽ ngày nào cũng như ngày nào, ngồi xuống chiếc ghế băng sau bức tường quét vôi màu theo kiểu Frida Kahlo, từ chỗ có thể nhìn xuống những mái lều lượn sóng của đám nhân viên nhà trọ Eva & Tom này - để giở báo ra đọc.

Bao giờ cũng độc một tờ báo ấy. Bao giờ cũng tờ báo in hình chiếc máy bay đâm vào một cao ốc. Anh chậm rãi đọc, đọc đi đọc lại một bài báo, cho đến khi anh hiểu được đôi phần nội dung.

Anh không hiểu được hết.

Anh hiểu Tổng thống Hoa Kỳ tuyên bố loài người đang bước vào trận sống mái chống lại cái ác. Và, nước Mỹ là ngọn hải đăng sáng nhất của tự do.

Anh hiểu, một phần dân chúng Mỹ La-tinh còn bị đói, một phần phải sinh sống bằng nghề bới rác.

Anh hiểu việc chuẩn bị đưa đồng euro vào sử dụng đang ở giai đoạn gấp rút và thị trường chứng khoán trên thế giới đang chịu thiệt hại nặng nề.

Điều anh không thể hiểu là, vì sao thị trường chứng khoán bị thiệt hại nặng nề? Giá trị, ví dụ của cổ phiếu bưu điện chẳng hạn, liên quan thế nào đến việc hai ngôi nhà chọc trời ở Mỹ bị sập? Từ giờ trở đi người ta sẽ ít chuyển thư gửi từ cho nhau hay sao?

Điều nữa anh không hiểu, và cũng sẽ không thể hiểu - dù cho chiều nay anh có đọc bài báo viết về sự nghèo đói của châu Mỹ La-tinh đến ba bốn lần đi nữa, hay, ít nhất là những gì anh hiểu được cũng sẽ khó tin đến mức khiến anh phải nghi ngờ, không biết anh hiểu có đúng hay không, rằng trên các núi rác khổng lồ tại các thủ phủ ở châu Mỹ La-tinh, đã hình thành một giống người lùn tịt. Dường như giống người này dễ thích nghi hơn với điều kiện quanh các núi rác để có thể sinh sống ở đó vậy.

Đọc báo xong, anh sẽ lần nữa ra bãi biển, sẽ ngồi xuống ngắm mặt trời lặn, trên chiếc ghế nằm bằng gỗ, có cắm cái ô màu xanh da trời mà ngay ngày đầu, anh đã tốn bộn tiền thuê (để sau đó cứ mặc nó nằm chỏng chơ trên cát).

Cảnh mặt trời lặn cũng sẽ như mọi khi. Anh đã nhận rõ một điều: Ở Thái Bình Dương, mặt trời lặn ở đâu cũng như đâu, to tướng, đỏ chói và dửng dưng, một kiểu dửng dưng anh chưa biết sẽ an ủi hay gây bất an.

Marion yêu quý. Gần đây, anh hay nhớ đến em. Thường là do những nguyên cớ rất chi nhỏ nhặt và đôi khi, anh thú thật, hết sức khó hiểu. Bảo rằng anh nhớ đến em khi mặt trời lặn thì anh còn hiểu được. Song tại sao anh lại nghĩ đến em khi nhìn chiếc ô che nắng màu xanh da trời, mặc dù em nào có thích màu xanh da trời đâu? Tại sao anh lại nhớ em khi thấy một bầy chim đậu trên đường dây điện cùng cất cánh bay vù đi? Tại sao anh lại mong nhớ em mỗi khi tay anh đặt lên mặt cát âm ấm này?

Lúc mặt trời đã lặn xuống biển đến mức không sao vớt lên được nữa, thì anh sẽ là khách hàng duy nhất còn ngồi ăn cá bên chiếc bàn nhựa trắng của quán Al Mar. Anh sẽ uống một ly vang trắng. Anh sẽ nhìn theo thứ ánh sáng long lanh như ngọc trai phản chiếu từ phía chân trời, thứ ánh sáng gần giống hệt như màu ở mặt trong chiếc vỏ ốc to, có lắp bóng đèn, của bà nội Charlotte anh.

Anh sẽ lấy làm ngạc nhiên, vì sao trăng lưỡi liềm lại treo nghiêng như thế. Anh sẽ lại thử định vị các chòm sao nằm kế bên (song, thường chẳng mấy khi định vị nổi).

Khi trời tối hẳn, anh sẽ thong thả leo bậc thang lên nhà trọ Eva & Tom, nơi nhóm người, như mọi khi, vẫn đang ngồi quanh chiếc bàn kê ngoài hiên ồn ào trò chuyện bằng giọng miền Nam Đức. Đấy toàn là người quen của Eva, bà squaw chủ nhà trọ, hằng năm, cữ này, vẫn tụ tập ở đây. Một người đàn ông tóc hoa râm, miệng hút thuốc liên hồi, hết điếu này châm điếu khác và mặc chiếc sơ-mi hoa hòe hoa sói rộng thùng thình, một gã trẻ hơn chút ít, đầu hói, ngủ chung phòng với ông hút thuốc không ngừng kia, một người đàn bà sún răng, mặc áo in hoa thủ công, thêm một tay đàn ông nữa mà Alexander mệnh danh là Mũ rơm, bởi hắn suốt ngày đội một chiếc mũ rơm đã tả tơi, rất hợp bộ quần áo vải lanh, vốn dĩ màu trắng, đã nhàu nát của hắn, và sau rốt là một tay thành viên băng đảng mô-tô, tai xuyên một lô khuyên lủng lẳng.

Tay chơi mô-tô (về sau lộ diện là trưởng phòng nhân sự một nhà thương thành thị cỡ lớn ở Đức) đã kể Alexander nghe rằng họ, trừ gã hói đầu, quen nhau ở đây từ những năm bảy mươi và Eva cùng với Tom đóng chốt lại chốn này, rồi từng bước từng bước dần dà dựng lên cái nhà khách đây, từ một nhà trọ ám mùi cần sa cho đủ hạng người. Và, trước khi tay mô-tô nói anh biết Tom đã mất từ lâu, thì Alexander cứ đinh ninh gã Mũ rơm chính là Tom vậy, có thể vì hắn luôn to mồm tính chuyện sửa cái này, chữa cái kia, xây chỗ này, phá chỗ nọ, đồng thời không ngớt ca cẩm về tính khí không đáng tin cậy lẫn thói ù lì của dân Mexico.

- Chỉ thằng Mexico nào chết rồi mới là thằng Mexico ra hồn thôi, hắn sẽ nói, lúc Alexander tối nay từ cầu thang bước lên sân thượng. Và, gã đàn ông mặc áo rộng thùng thình, hoa hòe hoa sói nọ sẽ lại cười khúc khích, như người ta thường vẫn khúc khích khi nghe một chuyện tiếu lâm quen thuộc và có thể tự kể vậy. Cái bụng dưới vạt áo rộng in đầy hoa kia sẽ nhún nhảy lên xuống theo nhịp gã cười.

Tệ nhất - tệ nhất ư? - là đêm đêm, những lúc anh nằm trong màn tránh muỗi và nghe tiếng chuyện trò của đám hippie quá lứa đang ngồi ôn chuyện cũ ngoài kia lọt qua vách ngân khốn khổ của túp lều anh thuê đây, thì anh chỉ nghĩ đến em. Không rõ vì sao lại đúng vào lúc đó? Vì anh cảm thấy bị lẻ loi ư? Vì anh có cảm giác không cùng cánh với họ ư? Nhưng cả đời anh, lúc nào anh chả cảm thấy không thuộc cánh nào cả. Mặc dù cả đời anh, anh cũng muốn nhập cánh với ai đó lắm chứ, nhưng cả đời anh, anh chưa bao giờ tìm ra bầy đoàn cho anh có thể nhập cuộc. Có phải như vậy là bệnh hoạn không? Có phải cơ thể anh thiếu một gien nào đó không? Hay cái đó dính dáng thế nào đó đến tiểu sử của anh? Tiểu sử gia đình anh? Nếu anh phải nói thật thì, đúng là chẳng có gì lôi kéo anh, đang nằm trong màn đây, ra ngoài kia, đến ngồi cùng bàn với họ. Thế nhưng, nghe họ cười nói với nhau, anh vẫn thấy trong lòng cồn cào niềm thương nhớ.

Anh sẽ giũ chăn nệm, theo lời bà squaw dặn. Trong lúc làm anh sẽ nhớ đến con bọ cạp anh bắt gặp trên sân thượng cách đây mấy hôm. Bọ cạp vùng này cắn không chết người, nhưng to phải bằng lòng bàn tay chứ không ít, và đẹp đến mê hồn. Đứng trước sản phẩm mảnh mai ấy của tạo hóa, anh cảm thấy động lòng, đến mức anh không đủ sức đạp chết nó. Bà squaw thì, chẳng chút nể nang nào, đạp thẳng cánh bằng dép lê bà ta mang. Từ lần ấy, anh đoán vậy, bà ta khinh anh ra mặt.

Tối nay, anh sẽ còn phải nghe những tiếng nói kia rất lâu đây. Gã đàn ông mặc áo rộng, in hoa hòe hoa sói sẽ cười khùng khục trong bụng. Tay Mũ rơm sẽ không ngớt phàn nàn về tính cách không đáng tin cậy cũng như thói ù lì của dân Mexico. Và đến một lúc nào đó người đàn bà sún răng sẽ lôi ghi-ta hát một bài của Joan Baez[1] và những người kia sẽ hát hòa theo, bằng một nhiệt tình chân thật, nhưng cũng dữ tợn làm sao.

Rồi, vào một lúc nào đó giữa đêm khuya, sẽ chỉ còn nghe thấy những cơn ho của gã đàn ông mặc áo hoa thỉnh thoảng nổi lên cùng tiếng dế kêu như tiếng còi, và Alexander sẽ nằm trong màn, lựa tiếp những lời viết gửi Marion:

Đôi lúc anh nghĩ, có lẽ anh chẳng được phép viết thư cho em. Anh nên cứ thế mà lẳng lặng biến khỏi đời em thì hơn. Giờ đến lúc anh phải tự mình hứng chịu những gì anh đã gây ra. Làm sao anh có thể vào lúc lâm bệnh thế này, chui vào giường cùng đắp một chăn với em được? Làm sao lúc này anh lại mong nhớ em được? Song, đúng là anh thương nhớ em thật. Và điều kỳ lạ là ở chỗ, cái đó không có gì là tệ cả. Không, đúng là tệ, nhưng cũng lại là niềm an ủi. An ủi ở chỗ, có em trên đời này. Niềm an ủi chính là được nhớ đến mái tóc đen dày của em. Được nhớ đến mùi thơm ở gáy em, mỗi khi anh nằm ôm lưng em. Hay được nhớ tiếng em rên khoan khoái lúc nửa tỉnh nửa mê.

Khoảng bảy rưỡi sáng anh sẽ trở dậy và đặt cô nhân viên người Mexico - người duy nhất giờ này đã loay hoay trong bếp - pha cho anh ly cà phê. Anh sẽ ngồi một lúc ngoài hiên, tay cầm tách cà phê còn nóng hổi để nhìn một ngày mới đang đến và lắng nghe hơi thở của chính mình phả ngược trở lại từ lòng tách cà phê.

Hay là nhớ đến tiếng sột soạt phát ra từ quần áo lót của em lúc em đứng sau cánh cửa tủ để thay. Hay nhớ đến miệng em mở ra thế nào khi hứng tình.

Một con chim ruồi sẽ đậu một lúc lâu giữa các bông hoa râm bụt trông giống như một con sâu to. Và trên cao, giữa bầu trời lúc ban mai, vài con chim đen đen trông như kền kền cứ lượn vòng, lượn vòng.

Hay nhớ đến cơ bắp của em (lúc đầu cứ làm anh phát ngượng). Hay nhớ đến bụng em. Hay đến lòng bàn tay, do công việc, mà hơi thô của em.

Rồi, trên cầu tàu khổng lồ, xây bằng bê-tông kia sẽ xuất hiện những người đi câu đầu tiên. Trong giây lát, Alexander sẽ tự hỏi, sao chẳng bao giờ thấy ai cập bến ở cầu tàu này. Anh sẽ nghĩ, như thể công trình này được xây chỉ cốt để cái làng nhỏ bé này được xứng với tên “Puerto”, bến cảng, ghép vào mà thôi. Như thể ai đó tưởng có thể dùng cầu tàu này để mồi chài tàu bè biển cả ghé vào cập bến vậy.

Hay đến đón em từ nơi em làm việc. Nhớ em trong bộ quần áo làm việc lẫn giữa những bụi cây xanh cao ngang đầu gối, nhớ em lấy mu bàn tay gạt mồ hôi trên trán ra sao.

Hay nhớ đến thói quen lề mề chậm chạp của em - anh đã nói với em chuyện đó chưa nhỉ?

Hay cái lối em nhăn mũi rồi nói “Hm”.

Hay ánh tinh ranh vẫn hay bừng lên trong mắt em.

Hay gương mặt em - không biết có được nói thế không? - gương mặt em lúc khóc.

Chỉ thoáng một giây khắc thôi, anh sẽ thử tìm cách ghi lại những gì anh vừa nghĩ, phòng khi, đến lúc nào đó anh sẽ viết thư thật. Song, anh e, không chừng chỉ cái việc lục tìm cây bút, phải, chỉ một việc nhỏ nhặt như thế thôi, cũng có thể làm anh mất hết cả hứng thú.

Đúng vậy, được nhớ đến em như thế là anh được an ủi và, đôi khi anh tự hỏi: Có lẽ, chỉ thế là đủ? Một mặt anh thấy đau xót rằng, khi xưa em gần sát bên anh thì anh lại cẩu thả, vô ý, trong mọi chuyện. Mặt khác, chính lúc này anh hiểu ra một điều thật lạ lùng, rằng con người ta không nhất thiết phải sở hữu cái gì mình yêu quý. Một mặt anh khao khát được về bên em để trao cho em tất cả những gì đáng ra đã phải trao cho em từ trước. Mặt khác anh e rằng, sau khi y học đã chẩn đoán như thế cho anh, anh sẽ chỉ biết đón nhận tình yêu của em mà thôi. Một mặt, anh muốn viết tất cả những ý nghĩ này gửi em. Mặt khác anh lại lo ngại em sẽ tiếp nhận những lời ấy như một kiểu lời cầu hôn - Mà cũng đúng là lời cầu hôn thật, em ơi.

Uống xong tách cà phê, anh sẽ xỏ giày thể thao chạy một vòng vài cây số. Anh mua đôi giày chạy này ở Pochutla. Mới đầu anh chỉ định đi dạo. Như ông Kurt, bố anh vậy. Anh bật cười khi bắt gặp mình đang nghĩ, người ta có thể sẽ mổ được cho anh, như trường hợp ông bố, nếu anh bắt chước lối sống của ông. Thế nhưng, chẳng mấy chốc anh phát hiện ra vùng này không đi dạo được. Vùng đất sâu trong đất liền, anh thấy lúc ngồi trong taxi, trông chẳng mấy hấp dẫn. Chỉ bãi cát ven biển là có vẻ mời gọi người ta di dạo, nhưng lại bị các vách đá không thể vượt qua chia thành nhiều vịnh nhỏ. Phải theo đường cái mới từ vịnh này sang vịnh khác được. Mà con đường trông đến là nhàm chán. Thì chạy vậy.

Hôm nay, cũng như mọi khi, anh sẽ chạy đều đều về hướng Bắc, theo con đường lát nhựa, hẹp và uốn khúc, anh sẽ chạy lên dốc thật thong thả, sao cho nhịp tim đập không quá nhanh, vừa ở mức anh có cảm giác có thể chạy mãi, chạy không bao giờ dừng lại nữa.

Thỉnh thoảng sẽ có vài chiếc xe hơi chạy qua. Khách ngồi trong taxi sẽ ngoái đầu nhìn anh. Khách bộ hành ở đây rất hiếm, cho nên, lúc nhìn thấy hai người đàn ông đi ngược về phía mình, anh sẽ lại bất giác tự hỏi, nếu họ muốn trấn lột anh, thì anh làm thế nào có thể giải thích họ hiểu rằng anh chỉ mang theo người độc hai chục peso mà thôi.

Hóa ra, đấy là hai người đàn ông ở độ tuổi trung niên, vạm vỡ, da ngăm ngăm đen, trông y hệt số công nhân cách đây mấy hôm tụ tập trước cơ quan hành chính của Puerto Ángel phản đối tình trạng nước uống quá tồi tệ ở địa phương đây. Hai người sẽ lặng lẽ nhưng vui vẻ chào anh, theo kiểu chỉ đàn ông với đàn ông mới chào thôi và Alexander, đến anh cũng chẳng biết tại sao, chỉ vì thế mà cảm động đến rớm nước mắt.

Rồi thị trấn Zipolite hiện ra trước mặt. Ông chủ quán sách báo và đồ uống giải khát sẽ từ xa vẫy vẫy tay hơi quá nhiệt thành (và thật ra, cũng hoàn toàn vô cớ) ra hiệu đã để sẵn nước cho anh. Bởi dần dà Alexander cũng thành thói quen, lúc về mới mua nước uống, để khỏi đeo thêm chai nước nửa lít chạy hết cả quãng đường. Thế nhưng, nay chưa phải lúc quay về, nên chưa đến chỗ quán báo, anh đã rẽ trái, hướng ra biển.

Thêm vài trăm thước anh sẽ đến vịnh Zipolite. Đây là vịnh dân hippie, trải dài chừng hai cây số, và trái ngược với cái vịnh nhỏ hơn ở Puerto Ángel kia còn có cả dân bản xứ xuống tắm, ở đây tuyền đám du khách trẻ nước ngoài. Giá trông họ không ít nhiều hơi trau chuốt quá, hơi sang trọng quá, thì với những kiểu tóc tai, trang phục, dây chuyền đủ loại lủng lẳng như thế kia, cũng có thể tưởng họ là dân hippie thật.

Vào giờ này, đám du khách ai nấy đều vẫn còn nằm trên võng cả. Chả là họ ngủ hết ngoài bãi tắm, dưới những mái chòi lợp lá cọ, gọi là palapa, mà các quán bar hay khách sạn nhan nhản bên bãi tắm kia cho thuê - anh đoán thế - với giá rẻ rề. Tuy nhiên, một gã trông hơi đẫy đà và sang trọng, mắt xanh và tóc nhợt màu vì nắng, sẽ đột nhiên chạy nhập hội với anh, và Alexander, mặc dù chẳng có dụng ý gì xấu, sẽ vô tình dấn bước thêm một chút.

- Hi, gã đẫy đà sẽ hỏi. Where’re you just coming from? (Anh vừa ở đâu đến thế?)

- Puerto Ángel, Alexander sẽ đáp và gã đẫy đà sẽ nói:

- Wow, great! Ghê nhỉ.

Mới được vài trăm thước gã đẫy đà nọ bắt đầu thở hồng hộc. Rồi, chưa chạy hết vịnh, gã đã đầu hàng, chịu bỏ cuộc.

- Wow, great, gã nhắc lại và đưa tay lên chào, còn Alexander, như thể được chắp cánh nhờ chiến thắng knockout ngon ơ và bất ngờ đó, sẽ quyết định chạy tiếp đến Mazunte.

Anh đã có lần đến Mazunte, bằng xe taxi đón người dọc đường. Anh từng thăm bảo tàng các giống rùa ở đây. Anh nào có để ý đến rùa riếc gì đâu, song tay chơi mô-tô cứ nằng nặc bảo anh nên xem bảo tàng ấy, đến mức anh mà không đi, hẳn hắn ta sẽ phật ý. Trước đây, hắn ta kể anh nghe, nghe đâu có một nhà máy chuyên bắt giống rùa nước vốn vẫn hằng năm đúng hẹn lại về bãi biển Mazunte đẻ trứng - chúng chỉ kéo nhau về độc một nơi này mà thôi - rồi làm thịt chúng một cách hết sức dã man để nấu xúp đóng hộp. Đến nay, nạn giết hại rùa vô tội vạ rồi cũng bị cấm và người ta chuyển sang lo chuyện nuôi dưỡng và bảo vệ giống bò sát này. Alexander quả nhiên đã bỏ cả tiếng đồng hồ xem xét chu kỳ sinh nở của giống rùa nước, ngắm nhìn một lô rùa to nhỏ trong các bể nước và rất lấy làm cảm động trước cảnh những người nuôi rùa chăm sóc rùa cẩn thận ra sao. Họ chữa cho chúng khỏi bệnh rồi lại thả xuống biển, thậm chí còn gom nhặt số trứng rùa mẹ vùi không kỹ xuống cát đem về trạm, ấp cho nở ra. Anh quyết định xếp địa danh này vào một số nhỏ nhoi những thí dụ cho thấy nhân loại đang tốt dần lên, đối lại với vô vàn những thí dụ cho thấy điều ngược lại.

Lúc anh chạy vào thị trấn Mazunte, mặt trời sẽ lơ lửng chừng gang tay tính từ chân trời. Nhà cửa ở Mazunte sẽ tối lại, hắt bóng sắc gọn xuống mặt đường và, lúc Alexander chạy qua bãi cát rộng, xuyên qua đế giày, bàn chân anh sẽ cảm thấy cả hơi nóng của lớp cát bọn rùa biển vẫn đến vùi trứng. Vịnh Mazunte rộng hơn vịnh Zipolite, rộng hơn, hoang dã, vắng vẻ hơn. Biển ở đây, người ta bảo anh thế, nguy hiểm hơn. Và bầu trời dường như cũng rộng hơn, nếu đấy không phải là ảo giác do liều endorphin[2] cơ thể anh sinh ra, sau chừng mười cây số liên tục chạy. Gương mặt anh sẽ nở một nụ cười. Đôi chân anh cứ thế mà tự chạy, đôi bàn chân cứ thế mà tự đạp lên dải cát cứng, rất hẹp, chạy giữa mặt cát quá ướt với mặt cát quá khô, giữa nước biển và đất cát. Biển cả sẽ bập bùng theo chân anh, sẽ làm anh say sưa. Anh sẽ reo hò, tuy không thành tiếng, nhưng thật to trong cơn say sưa ấy. Anh sẽ nhẹ nhàng, với những bước chân đều đều, vòng qua những đợt sóng liếm lên mặt cát. Anh sẽ như bị mê hoặc bởi những cử động chính xác của chính mình. Anh sẽ có cảm giác anh không điều khiển mà chính cơ thể anh chủ động giữ vai điều khiển, như thể nó dần dần tách ra khỏi sự điều khiển của chính anh và, ngay trong giây khắc đó, giây khắc chơi vơi đó, một ý nghĩ sẽ len vào nhận thức của anh rằng, tất tật, sự tồn tại nói chung, đã tan biến hoàn toàn và không hoàn lại. Rồi, ý nghĩ đó lóe lên với sức mạnh dữ dội, đến mức anh phải khó nhọc lắm mới không mất đà ngã gục.

Hôm nay, khi quay về đến Puerto Ángel, thì anh đã chạy được hai mươi bốn cây. Anh sẽ lên cầu thang với cảm giác căng căng thường thấy ở gân gót chân, anh sẽ thấy đau đau ở bắp chân sau và nhưng nhức ở các khớp xương do bị dội lên dội xuống hàng trăm, hàng nghìn lần. Anh sẽ kiên nhẫn tập các động tác dãn gân dãn cốt bên bức tường dựng gần phòng anh ở, anh sẽ gập người lên xuống cho thẳng lưng đến lúc xương sống khoan khoái kêu răng rắc, và sẽ không khó nhọc lắm để xua đi niềm hy vọng lại chợt lóe lên rằng lời người ta chẩn đoán bệnh tình của anh là sai. Với chai nước uống trong tay và chiếc áo ngắn tay ướt đẫm mồ hôi trên người, anh sẽ ngồi dựa vào hàng lan can rộng xây bằng đá quanh sân thượng và tận hưởng một lúc lâu cái cảm giác dễ chịu do mấy cột chống lan can rắn chắc áp vào lưng mình.

Hai người khách du lịch ba-lô hôm qua vừa đến, sẽ từ phòng họ đi ra. Hai con người trẻ tuổi và vui vẻ, vừa tốt nghiệp trung học. Nàng con gái xinh đẹp không thể chê vào đâu và một chàng thanh niên cao lênh khênh, hơi gầy. Họ sẽ đi ra khỏi phòng và hỏi Alexander, anh có biết có chỗ nào cho thuê ống thở để lặn hay không.

Alexander không biết chỗ nào để mách cho họ.

Hai người sẽ vội nói thôi thôi, không sao, không sao. Họ sẽ hỏi trong làng xem có ai biết không.

Lúc rời đi, họ sẽ vẫy tay chào anh như chào người quen cũ và Alexander sẽ vẫy tay đáp lại. Anh sẽ nhìn theo họ, thấy họ lững thững theo lối đi rồi rẽ xuống cầu thang, rồi dừng lại ở bậc trên cùng, nói với nhau chuyện gì mà Alexander không nghe được. Nàng con gái xinh đẹp sẽ hơi cau trán. Chàng thanh niên sẽ đưa tay nắm lấy tay nàng. Hai bả vai chàng trai sẽ hằn qua chiếc áo cộc tay màu đất như đôi cánh cụp lại.

Rồi Alexander sẽ đi tắm. Anh sẽ đứng chống hai tay lên tường, để dòng nước ấm chảy lên lưng, rồi xuống hai chân mình rất lâu, lâu đến khi nào bình đun nước tắm cạn hết nước mới thôi.

Đoạn, anh lấy bàn cờ vua gập lại được của bố anh, cặp vào nách, và tuy trời nóng nực, anh vẫn hơi co ro, đi xuống bãi tắm. Anh sẽ ngồi xuống chiếc ghế nằm kê dưới cái ô màu xanh da trời và, trước khi bắt tay vào việc vẫn làm mỗi sáng, anh mua đôi thứ để ăn sáng của người đàn bà Mexico bán hàng rong ở bãi tắm đây.

Bao giờ anh cũng chỉ mua của chính người đàn bà ấy đúng từng ấy thứ mà thôi, tức là một bát nhựa đầy hoa quả gọt sẵn và ba chiếc bánh tortilla. Thế nhưng, người đàn bà, sau khi chờ một lúc cho phải đạo, sẽ xuất hiện bên cạnh chỗ anh ngồi và bày số hàng hóa ít ỏi của bà ta ra trước mặt anh, và bao giờ cũng ngước nhìn anh bằng ánh mắt dò hỏi (chứ hoàn toàn không phải cầu xin). Sau khi anh đã chọn bát hoa quả và bánh bột ngô, bà sẽ lại tính nhẩm trong đầu và xướng một cái giá nghe mỗi ngày một khác. Alexander cho rằng sự khác biệt về giá cả ấy là do thành phần hoa quả trong bát nhựa mỗi hôm một kiểu (chẳng hạn, hôm nay có xoài, dứa và dưa hấu), nhưng thật ra điều đó chẳng có ý nghĩa gì, bởi tổng số tiền, cộng thêm ít tiền boa anh đưa cho bà ta, rốt cuộc ngày nào cũng như ngày nào. Alexander đoán, có lẽ bà ta làm thế chỉ cốt để anh - hay chính bà ta - hiểu rằng, đây là cuộc mua bán giữa hai bạn hàng bình đẳng, mặc dù sự thật hoàn toàn không phải thế. Không có gì hiển nhiên hơn mối quan hệ bất bình đẳng giữa họ với nhau, một sự bất bình đẳng, theo như anh hiểu, không hề dựa trên cơ sở nào khác, ngoài vài tờ giấy bạc anh cuỗm được.

Bởi thế, hay có lẽ cũng còn vì cơn đói dấn dấn làm anh bồn chồn nữa, Alexander quyết định rút ngắn nghi lễ và toan dúi tiền vào tay bà kia. Nhưng lại thôi, chờ bà ta loay hoay chọn một trong ba bát đựng hoa quả và ba trong số sáu chiếc bánh tortilla đặt lên cái đĩa bằng bìa rồi ngẩn mặt cộng nhẩm tổng số tiền. Anh sẽ ngồi ngắm đôi tay đen đủi - nhưng lòng bàn tay lại hồng hồng son trẻ - của bà, ngắm gương mặt nhỏ nhắn, nghiêm nghị trùm dưới tấm khăn màu xanh lơ đùng đục. Rồi anh sẽ tự hỏi, không biết bà này bao tuổi. Năm mươi? Ba mươi? Tuổi thọ trung bình ở xứ Mexico này là bao nhiêu nhỉ? Hay câu hỏi đúng hơn phải là: Tuổi thọ trung bình của đàn bà thuộc tầng lớp dưới trong xã hội Mexico thực sự là bao nhiêu?

Mặc dù người anh do thiếu đường huyết bắt đầu run run, anh sẽ vẫn đợi cho người đàn bà chân giẫm lún xuống cát chầm chậm lùi ra xa. Rồi anh sẽ dùng nước uống rửa cẩn thận chỗ hoa quả lần nữa.

Anh sẽ làm một lúc hết sạch chỗ hoa quả. Anh sẽ ăn, người run lên vì tham, và lúc ngắm nghía mấy ngón tay bên bết, dinh dính đường hoa quả đang giơ lên như thề thốt, anh không thể không nhớ đến ông Kurt, bố anh, lúc này chắc đang mò mẫm trong ngôi nhà dần dần mục rữa ở đâu đó phía bên kia địa cầu. Anh sẽ tự hỏi, không biết ông Kurt có nghĩ đến anh, đến Alexander này không, dù chỉ là lờ mờ, loáng thoáng mà thôi. Rồi sau đó, khi đã đánh sạch chỗ bánh tortilla, anh sẽ rửa ngón tay với ít cát và nước rồi mở hộp cờ ra. Trong đấy anh lưu xấp giấy tháo từ cặp hồ sơ có mang dòng chữ GIẤY TỜ RIÊNG của ông Kurt.

Anh tìm thấy lại xấp giấy này khi lần đầu đánh cờ với tay chơi mô-tô. Lúc đầu anh tưởng, đây chỉ là thư cũ ông Kurt gửi bà Irina, mẹ anh. Song, thật ra xấp giấy gồm nhiều thứ. Một phần quả là thư thật, vài lá thư gửi mẹ cũng như thư mẹ gửi bố, hoặc thư bố gửi anh, gửi Alexander. Và, đúng kiểu ông, bao giờ ông cũng giữ một bản lưu, qua giấy than. Phần khác là các ghi chép bố anh luôn ghi - ở mặt sau các hóa đơn cũ hoặc giấy loại - bằng nét chữ gầy guộc quen thuộc. Ghi chép - để làm gì? Ghi những gì?

Thoạt đầu Alexander chỉ vội vã đọc thoáng qua và lộn xộn. Nét chữ bố anh, thoáng nhìn cứ tưởng cẩn thận, nhưng đúng ra rất khó đọc. Những trang giấy sin sít chữ làm anh ngán. Chúng đặc vẻ trang nghiêm, chúng sặc mùi bố anh. Anh có cảm tưởng, từ những dòng chữ ấy đang toát ra tất cả những đòi hỏi, những ý định thâu tóm, những ham muốn thống lĩnh mà, đối với anh, bố anh là hiện thân vậy.

Nhiều đoạn không thể hiểu được, dù anh có nhận rõ hết mặt chữ cũng vậy, như thể bố anh đã cố tình làm ra thế, để che đậy nội dung thực của những gì ông muốn ghi lại.

Một đoạn viết về cuộc họp chi bộ đảng. Về vụ “kết tội tay Rohde”. Về một ủy viên Ban chấp hành trung ương khiến ông Kurt nhớ đến (anh đọc không ra tên ai). Về một chiếc xe Trabbi màu xanh da trời, cửa kính mờ do bám hơi nước, ông bắt gặp trong rừng.

Thỉnh thoảng có những đoạn viết bằng tiếng Nga, rất khó hiểu, lại viết tắt nhiều, khiến Alexander rất lâu mới vỡ lẽ đoạn này viết về cái gì. Tức là về các cuộc tình ái. Sao bố lại ghi lại? Sao ghi bằng tiếng Nga?

Dễ đọc là đôi lời than phiền về bà nội Charlotte, vừa viết bài gì đó về tình hình phát triển kinh tế ở Mexico.

Chẳng có chút hiểu biết gì. Ngày gọi điện bảy tám lần. Để hỏi xem một triệu có mấy số không.

Ở mặt sau một số tờ thỉnh thoảng cũng đọc được chuyện kỳ lạ. Thư khiếu nại về hóa đơn khí đốt cao gấp trăm lần. Hoặc thư nói về tiền nhuận bút cho nhóm tác giả của một loại “chuyên luận nhiều tác giả” xuất bản tại Nhật Bản, trong đó phần ông Kurt được hưởng là bốn mươi bốn mác, một nửa trả bằng ngoại tệ nếu ông có tài khoản ngoại tệ, bằng không sẽ trả bằng séc Forum[3]. Xin đồng chí trả lời gấp. Thư do Viện trưởng và Viện phó ký.

Cũng có cả những ghi chép về anh, có điều những gì bố nhớ và ghi lại khác xa đến lạ lùng với những gì chính anh nhớ. Anh không hề nhớ mình đã tự nguyện mặc quân phục đi thăm ông Wilhelm bị ốm bao giờ. Anh cũng ngạc nhiên đọc bố anh nhận xét em Christina tóc vàng, thông minh nhưng hơi cuồng tín. Anh tự hỏi, không biết anh ở đâu lúc mẹ anh, khi nhác trông thấy con trai mặc quân phục liền òa khóc, vì, như bố anh viết đây, bà nhớ tới chuyện cấp trên từng có lần ra lệnh bà phải bắn phát đạn ban ơn cho một tên lính Đức bị thương. Bà đã từ chối, không tuân lệnh, bất chấp tội bất tuân thượng lệnh có thể bị xử tử hình. Mở ngoặc: lấy vào phần mô tả nhân vật.

Cái gì đây? Phác thảo tiểu thuyết ư? Là phần hai của hồi ký, về đoạn đời diễn ra ở CHDC Đức chăng?

Hôm nay, sau khi chạy đến Mazunte rồi quay về, Alexander sẽ lục được phần ghi chép về tháng Hai năm 1979. Dĩ nhiên anh còn nhớ mùa đông năm ấy. Song, mãi đến khi lần đọc ra được những dòng chữ kia, anh mới vỡ lẽ đây là ghi chép về anh:

Nó có vẻ phát điên thì phải.

Rồi đoạn tiếp theo:

Toan mở mắt cho mình, rằng đời mình chỉ là một chuỗi dài dối trá.

Tiếp theo, ở phía dưới (và cũng đáng ngạc nhiên hơn): Theo lời Melitta thì gần đây nó còn đi nhà thờ nữa kia.

Bức tranh ấy sẽ hiện ra, bức tranh đại lộ Schonhauser. Mép tuyết bẩn thỉu bên đường. Bố anh đi cạnh anh. Song đi đâu nhỉ? Hai bố con đi đâu nhỉ?

Hình ảnh tái hiện khá rõ. Bố anh đột nhiên đứng dừng lại, hét lên và Alexander sẽ cảm thấy, rõ vớ vẩn, như thể anh đang nghe rõ mồn một bố anh hét vậy:

Ở châu Phi người ta đang chết đói chết khát!

Rồi đến một loạt các chi phí tính bằng tiền mà anh, Alexander, đã nhận vào tháng Mười hai năm 1978, kể cả tiền mua quà Giáng sinh (tổng cộng đâu hai nghìn hai trăm mác), thêm đôi dòng về chuyện mẹ anh - vì anh - mà đau lòng ra sao. Còn một câu rất khó đọc về cuộc đời mà bố anh, nếu anh đọc không nhầm, không muốn để bất cứ ai phá hại.

Buổi chiều, vào lúc những giờ nóng nực nhất trong ngày sắp đến, Alexander sẽ lại xếp chỗ giấy rời rạc vào hộp bàn cờ và leo lên nhà trọ. Gã chơi mô-tô, khi nhìn thấy anh cắp nách bàn cờ tiến tới gần, sẽ thách anh đấu một ván. Alexander sẽ gật đầu chịu chơi, mặc dù cơn buồn ngủ buổi chiều kéo đến đang làm mắt anh díp lại.

Như mọi khi, như những lần họ đánh cờ trước đây, để không bị ai quấy rầy, hai người sẽ lôi nhau ra chiếc ghế băng sau chái nhà sơn màu theo kiểu Frida Kahlo, nơi Alexander vẫn ngồi đọc tờ báo phát hành ngày 12 tháng Chín. Họ ngồi cạnh nhau, mặt quay cùng một hướng, bàn cờ đặt giữa, hơi nghiêng, theo độ nghiêng của ghế.

Alexander sẽ ra quân trước, nước f2-f4, một lối chơi tấn công hơi nhẹ dạ mà dạo đầu anh vẫn thường thành công khi chơi với bố anh. Gã chơi mô-tô sẽ bình tĩnh đáp lại bằng nước d7-d5 và Alexander, để chặn con hậu nhảy lên h4, sẽ đẩy con mã - quân cờ do một tù nhân đẽo từ gỗ thông Siberi cách đây hơn nửa thế kỷ, và từ lúc Alexander đủ lớn để biết nghĩ đến giờ, vẫn bị sứt mũi - lên vị trí f3.

Đằng sau hàng rào lưới sắt, lũ gà do đám nhân viên người Mexico nuôi sẽ thì nhau mổ mổ xuống bãi cát khô cằn.

Trong lúc chơi như máy, bước hai... c5, bước ba: e3 e6, bước bốn: b3 Mc6, bước năm: Tb2 Mf6 và bước sáu Td3, ý nghĩ trong đầu anh lại lần nữa quay lại, như trong phim, với cái ngày mùa đông năm xưa ấy, với các lối đi đóng băng trên đại lộ Schonhauser, với cuộc dạo chơi kỳ quặc và vô mục đích ấy, với cảnh châu Phi đói... Song, bộ phim bỗng dưng chiếu tiếp, đến quảng trường Alexander, gió lạnh. Cảnh nhà hàng tự phục vụ đã biến mất từ lâu, vốn nằm bên trái, cạnh cột đồng hồ thế giới. Có thể như thế không nhỉ?

Gã chơi mô-tô, đúng ra, tên là Xaver ấy, sau bước nhập thành của cả hai sẽ chồm người xuống bàn cờ, đến mức đầu gã che gần hết nửa bàn. Để không phải nhìn mãi vào lớp da đầu hơi đo đỏ của gã phơi ra dưới lớp tóc thưa, Alexander sẽ đưa mắt nhìn ra xa. Và trong lúc đấu gã bắt đầu đung đưa với vẻ đầy suy tư, anh chợt nhớ đến các chi tiết, nhớ đến những chiếc bàn đứng bằng nhựa sprelacart hồi đó thuộc loại tân thời nhưng đã bị xây xước nhiều, đến quầy hàng ốp nhôm tấm, đến mùi xúp thịt kho, không biết có phải nấu trong nồi tráng men không? Anh thấy lại bố anh, người mặc áo choàng lông cừu, đầu đội chiếc mũ lông xoàng xĩnh đang đứng ăn xúp bên chiếc bàn bằng nhựa ấy. Anh sẽ thấy lại chính anh, đầu cạo trọc, áo paca sờn rách trùm đầu và - thật không thể tin nổi, anh vẫn nhớ! - và chiếc áo len xanh da trời pha thêm nhiều màu không hề hợp nhau mà hồi ấy anh thấy cần phải mặc, chỉ vì trong lòng anh nung nấu một nhu cầu không thể lý giải là, cố làm sao cho có vẻ đáng ghét.

Gã chơi mô-tô sẽ đi nước hậu b6 và, ngay trong giây khắc gã đẩy quân cờ, Alexander sẽ cảm thấy ngay, anh không đủ tập trung để chống đỡ đòn tấn công thật ra rất xấc xược, nhưng không lấy gì làm nguy hiểm, nhằm vào con vua của anh, do bước f2-f4 lúc khai quân mà bị hở sườn ấy.

Xong ván cờ mà anh sau mười bảy bước phải đầu hàng ấy, anh sẽ lại nằm trên võng treo trước cửa phòng. Anh sẽ lại dùng ngón tay chống vào lan can sân thượng đẩy võng ra, sẽ cảm thấy cơ bắp, gân cốt mệt mỏi sau cuộc chạy và trong lúc trọng lực như ôm níu lấy anh thì bao nhiêu ý nghĩ sẽ nhảy loạn xạ trong đầu anh. Anh sẽ nghĩ đến Colombo, người đã mang võng về phổ biến ở châu Âu. Và, ý nghĩ rằng, rất có thể đây chỉ là một trong những hiểu lầm lớn nhất giữa hai nền văn minh mà thôi, vì Colombo, khi nhìn thấy chiếc võng của người da đỏ, có lẽ đã chẳng nghĩ đến cái gì khác ngoài biện pháp ông có thể dùng để xếp thêm chỗ nằm cho thủy thủ trên tàu. Ý nghĩ ấy lóe lên như một phát hiện lớn vậy. Rồi anh sẽ tự hỏi, phải chăng, lẽ ra anh nên đi con tượng d5 thì hơn; đoạn, đầu óc anh lại nhảy sang chiếc áo len đáng tởm, pha nhiều màu không hợp nhau, và anh sẽ tự hỏi, tại sao lại dễ chịu thế, thậm chí thấy được an ủi như thế, khi hồi tưởng lại những ngày xa xưa ấy.

Rồi những tàu lá cọ sẽ ngừng sột soạt. Tiếng hò reo, cười nói trong làng cũng như tiếng lạch cạch trong căn bếp nhà trọ đây cũng sẽ lắng đi. Tiếng động cơ sẽ im, cả tiếng đài, vốn suốt ngày vọng từ mấy chiếc loa của một chi nhánh ngân hàng vừa khai trương, cũng câm nốt.

Duy chỉ tiếng kẽo kẹt đều đều của dây thừng căng võng còn dư lại. Và tiếng rì rầm xa xôi, vô tình của biển cả mà thôi.

[1] Ca sĩ dân ca Mỹ nổi tiếng, sinh năm 1941. Do bà đồng thời cũng là thành viên tích cực của các phong trào bảo vệ hòa bình, bảo vệ quyền công dân, chống chiến tranh và chống phân biệt chủng tộc, bà từng được mệnh danh là “lương tâm và tiếng nói của những năm 60”.

[2] Một loại hoạt chất có tác dụng kích thích do cơ thể người tự sản sinh trong quá trình hoạt động.

[3] Một loại séc thanh toán được phát hành năm 1979 tại CHDC Đức. Công dân CHDC Đức không được phép sử dụng ngoại tệ làm phương tiện thanh toán. Những ai có ngoại tệ (mác Tây Đức, đô-la Mỹ v.v.) đều phải đổi lấy séc Forum tại Ngân hàng Nhà nước CHDC Đức mới có thể sử dụng để thanh toán được.

Hoàng Đăng Lãnh dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.