Thời Nắng Lịm

Lượt đọc: 165 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NĂM 2001

❊ ❊ ❊

Trong lúc chờ xe chuyển bánh, một ý nghĩ bất chợt làm anh kinh hãi. Tay mestizo[1] mập, lùn, bộ dạng nhà quê, đang vừa dùng tăm xỉa liên hồi hàm răng hở toang hoác vừa ồn ào nhóp nhép hít hà kia mà đến ngồi cạnh mình thì chết dở. Người đàn ông quả nhiên tiến mỗi lúc một gần tới chỗ Alexander đang ngồi, ngó nghiêng lâu đến sốt cả ruột so số từng ghế ngồi với số ghi trên tấm vé của ông ta. Mãi đến lúc một hành khách khác giúp ông ta tìm thì mới vỡ lẽ ông đã lần đi quá chỗ cần tìm ở phía trước khá xa.

Vậy là ghế ngồi cạnh Alexander vẫn trống. Nhưng thay vào đó là một loại hình tra tấn khác. Chả là, xe vừa chạy thì ông tài liền cho bật máy video trên xe và mới được vài phút đã bắt đầu chiếu bộ phim tự quảng cáo, trong đó một con thỏ hồng to quá cỡ nói giọng nheo nhéo giả tạo đóng vai chính.

Chuyến đi nghe nói sẽ kéo dài những sáu tiếng. Thế mà, mới khoảng một tiếng thì nỗi khó chịu ban đầu của Alexander về sự ồn ào xung quanh đã kịp biến thành căm tức thật sự. Trước hết là căm lão tài mà anh cho là chủ ý bật máy video chiếu phim, nhưng cũng tức cả những người ngồi cùng xe vì họ đều chẳng mảy may để ý đến bộ phim kia, người lên giọng tiếp tục nhao nhao trò chuyện, người mắt vẫn dán vào màn hình nhưng lại gật gà gật gù thiu thiu ngủ, có người, thật không thể tin được, lại thật sự ngủ ngon lành.

Đêm qua Alexander chẳng ngủ được mấy. Hai nút bịt tai nhét dưới chiếc gối, lúc đầu còn mới nguyên, sau bị anh vò nhàu ấy, lúc anh đi Teotihuacán về đã biến mất tự bao giờ. Cô bé hầu phòng lúc thay chăn nệm chắc đã quẳng đi đằng nào. Anh mất công tìm mãi trên chiếc bàn kê bên giường ngủ, lục lọi trong buồng tắm, thậm chí bới cả thùng rác, nhưng vô ích, hai thỏi chất dẻo con con màu vàng ấy đã biến đâu mất. Bực điên người vì tiếng sủa tiếng hú của hai con chó trên nóc nhà, sáng anh dậy sớm. Rồi, sau khi nghe tay thanh niên mặt mày nhẵn nhụi ở quầy lễ tân cam đoan không còn phòng nào trống để đổi cho anh, anh quyết định lên đường ngay. Anh ăn sáng trước khi hai cô Thụy Sĩ kịp xuất hiện, lấy ba-lô, rồi trong tiếng rền rĩ phát ra từ loa của đám bán CD rong, xuống tàu điện ngầm ra bến xe khách trung tâm, gọi là bến TAPO, mua vé xe ca đi Veracruz[2].

Veracruz. Anh không biết tí gì về thành phố này cả, chỉ biết bà nội anh hồi xa xưa từng đi tàu thủy cập bến ở đây. Và, anh biết câu chuyện về người đàn ông từng nhảy xuống nước ở cảng. Và, như anh còn nhớ, cái gã Hernán Cortés ấy đã cùng khoảng hai trăm lính đổ bộ nhằm chinh phục lãnh thổ của người Mexika. Ngoài ra, anh chẳng biết gì hơn.

Lẽ ra anh có thể xem thêm trong quyển Backpacker, giá anh còn đem nó theo. Nhưng anh không mang nó theo, anh cố tình để nó nằm lại trên mặt bàn bên giường ngủ trong khách sạn.

Xe chạy được hai tiếng thì bộ phim con thỏ hồng đến hồi kết thúc. Đến lượt bộ phim khác. Đến một lúc nào đó thì Alexander đành chịu thua. Anh đã tính nhất quyết không nhìn vào bất cứ cái nào trong số bốn màn hình, vâng, như cố tình chĩa vào anh, và lục lại trong đầu vài câu tiếng Tây Ban Nha cần thiết để khi đến Veracruz sẽ đòi hãng xe ca trả lại một phần tiền vé (ít nhất cũng phải lấy phần gọi là vé bổ sung hạng nhất - hay phần bổ sung hạng nhất chính là lối chiếu phim vô tội vạ được xem là “ưu tiên” này đây?). Vâng, trong lúc đầu óc anh bắt đầu hiểu ra sự vô ích của việc tranh cãi với một tay nhân viên hãng xe mặc đồng phục nào đấy thì trên bốn màn hình chĩa về phía anh, chuyện phim bắt đầu. Một anh lính đi tàu hỏa làm quen với một cô gái trẻ. Chả biết thế nào mà vài phút sau anh lính đã đeo vào ngón tay cô gái chiếc nhẫn cưới anh ta vô tình mang theo trong hộp kẹo nhân rượu. Gần như cùng lúc đó, một người đàn ông xuất hiện sau bụi nho rồi giương súng bắn hai người. Hóa ra đó là ông bố cô gái. Đoạn còn lại diễn ra trong vườn nho, xoay quanh chuyện gia đình. Anh lính yêu cô gái, ông bố gây rối, hộp kẹo nhân rượu đã được chia cho một lô một lốc cô chú, bà con. Cảnh trong phim cho thấy thu hoạch nho vui nhộn biết bao và, chiếu theo kịch bản, xuất hiện phong cảnh hùng tráng hoặc tiếng nhạc làm nền cho tâm trạng các nhân vật trong phim. Rồi ông bố vô tình châm lửa đốt vườn nho, lửa khói ngùn ngụt như napalm... Đến đây thì ông tài tắt máy video, dừng xe cho khách nghỉ giải lao đi tiểu.

o0o

Từ bến xe ca Veracruz, anh bắt taxi đi tiếp. Anh không hỏi tay lái xe về bất cứ khách sạn nào, mà để phòng hờ, chỉ nói tên phố có cái khách sạn ở centro histórico anh vừa thấy trên tấm quảng cáo ở bến xe.

- Phố Miguel Lerdo.

- Khách sạn Imperial phải không ạ? tay tài hỏi.

- Không, Alexander đáp gọn lỏn.

Anh làm bộ hằm hằm, dữ tợn. Anh quyết liều một chuyến. Xe chạy dọc một đại lộ hai bên trồng cọ đến một đoạn đường bị ùn tắc. Tay tài xế cho xe chạy ngoằn ngoèo qua khu phố cổ. Nhà cửa ở đây trông xinh xắn, phần lớn ba tầng quét màu tùng lam do nắng chiếu mà nhạt đi. Người bộ hành chen chúc. Trời nóng nực, oi bức. Khi chạy qua các hẻm phố hẹp, đủ thứ mùi lọt qua cửa sổ xe mở rộng vào trong, mùi dầu rán, mùi nước cống, mùi nước hoa toát ra từ một cửa hiệu làm đầu, mùi khí thải xe hơi, mùi bánh tortilla mới ra lò. Và ở một đoạn phố xe phải dừng lại chờ mấy anh thợ đang bốc lô túi vải nhựa từ một xe tải xuống, thì quả thật, có mùi phân đạm như trong nhà kính bà nội anh.

Alexander trả tiền taxi, cố che kỹ ví tiền để chờ gã lái cho xe chạy khuất hẳn mới thôi. Sát bên khách sạn Imperial là một khách sạn nhỏ, giản dị, giá phòng hai trăm peso một đêm. Anh trả trước tiền phòng cho cả tuần để nhận căn phòng ở tầng hai, cửa sổ trông ra khu quảng trường xinh xắn có tháp chuông ở giữa và trồng nhiều cọ. Xung quanh là các tòa nhà sơn màu tùng lam. Có thể do những cổng vòm liên tiếp nhau, ban bóng mát cho vô số những quán nước, hàng ăn mà Alexander nghĩ đây là kiểu kiến trúc Âu châu thời thuộc địa. Song, anh chợt nghĩ, không chừng tiếng ồn ào từ hàng quán kia, nhất là từ phòng ăn của khách sạn bàn ghế kê ngay dưới cửa sổ phòng anh sẽ làm anh mất ngủ. Anh bèn nói hai cô gái ở quầy lễ tân đổi cho anh căn phòng yên tĩnh và biệt lập hơn. Mặc dù hai cô đều như một nghiêm trang thề thốt chắc như đinh đóng cột rằng về đêm khu quảng trường rất yên ắng, Alexander vẫn đòi đổi phòng cho bằng được. Thay cho căn phòng sáng sủa, rộng rãi có cửa sổ trông ra khu quảng trường lúc nãy, bây giờ anh nhận một căn phòng nhỏ, không cửa sổ, ánh sáng nhợt nhạt chiếu xuyên qua mấy khối thủy tinh xây lẫn vào tường và khí trời lọt vào trong nhờ máy lạnh. Anh đoán căn phòng không xứng với số tiền anh đã trả, thế nhưng giấc ngủ đối với anh quý hơn cảnh đẹp bên ngoài.

Anh dùng bữa trong một nhà hàng gọi là restaurante familiar. Cậu bồi bàn, một thanh niên chừng hai nhăm tuổi mặc áo phông có cổ màu xanh da trời, để quyển sổ tay đã mở sẵn lên bàn cho anh tự ghi mã số của món ăn anh chọn vào đấy. Rồi anh ta đem sổ đến quầy, trao cho một người đàn bà trẻ lăng xăng bận rộn. Chị này giải mã món ăn anh đặt rồi chuyển cho hai người đàn bà khác, lớn tuổi hơn. Hai bà này nhanh nhẹn làm món ăn ngay trước mặt mọi người. Món xa-lát tôm trộn rau anh gọi rất tươi và ngon tuyệt. Và, dù khăn trải bàn chỉ bằng vải nhựa lòe loẹt, dù ghế ngồi chỉ bằng nhựa trắng, dù cửa rả toang hoác, dù trên trần nhà chỉ là mấy ống đèn nê-ông cháy sáng ngay giữa ban ngày, hiệu ăn này vẫn toát ra một vẻ gì ấm cúng, thân thiết của gia đình, khiến anh thấy nghèn nghẹn trong giây lát. Lý do có thể nằm ở bầu không khí hài hòa sau quầy hàng, nơi hai người đàn bà, người này mới đứng tuổi, người kia đã già hơn, đang làm món cá cho anh. Song, cũng có thể là do cử chỉ kín đáo của anh bồi bàn. Số là, sau khi thận trọng lượn giữa các bàn ăn, đem món nộm tôm trộn rau đựng trong một chiếc đĩa to đến chỗ anh ngồi và đặt lên bàn mà ngón tay không hề đụng đến vành đĩa, anh ta hơi cúi mình rồi, thậm chí dịu dàng, khẽ chạm tay vào vai anh.

Bóng tối sập xuống rất nhanh và gần như đúng lúc sáu giờ tối. Alexander đảo một vòng ra khu đi dạo chiếu đèn sáng trưng bên bến cảng. Không khí bây giờ đã trở nên dễ chịu, đại dương phả hơi mát lên mặt anh. Song, ngay gió trời ở đây cũng đượm vẻ u sầu, khiến Alexander chỉ dám thở nhè nhẹ, không dám hít sâu, như để tránh không cho nó thấm quá sâu vào thân thể mình.

Ra đến bờ kè, lúc gặp một nhóm cảnh sát súng ống đầy người lảng vảng phất phơ như một băng đảng thiếu niên, anh quay lại nhìn về phía thành phố Veracruz, xem cảnh phố xá từ phía biển nhìn vào ra sao. Trừ ngôi nhà bốn tầng mới xây ngay sát bờ kè, chắc là cảnh trí đã phơi ra như thế này đây trước mắt đám dân di cư từ châu Âu sang, khi tàu cập bến. Chắc là họ đã đứng trên boong tàu đêm này qua đêm khác nhìn xuống khu bến cảng, nhìn sâu vào đất liền, vào mảnh đất đã trở thành niềm hy vọng cuối cùng của họ. Alexander móc nối các mẩu chuyện bà nội từng kể anh nghe thành câu chuyện dài về những con người này. Hàng năm trời ròng rã, họ đã phải chạy trốn, lúc khốn cùng đã may mắn chuồn khỏi trại giam của quân Pháp, đã kịp nhanh chân để không rơi vào tay các đơn vị quân Đức đang tiến về Marseille, đã lăn mình trải qua các cửa quan để xin giấy tờ cho phép quá cảnh hoặc quyền lưu trú, đã không một xu dính túi lưu lại hàng tuần hay hàng tháng tại một thành phố hoang tàn nào đó ở Bắc Phi để rốt cuộc gặp được con tàu chịu nhận họ lên boong làm khách hạng ba vượt đại dương. Rồi đến lúc cập được bến Veracruz, lại không được phép lên bờ, vì thủ tục giấy tờ chưa rõ ràng, vì giấy phép chưa được cấp. Một người không chịu nổi cảnh chờ đợi đó đã phát điên, đang đêm nhảy xuống nước đặng bơi vào bờ Mexico. Như lời bà anh kể, người đàn ông nọ chìm sâu ngay xuống nước chứ không thấy nổi lên nữa. Chẳng bao lâu sau, chỗ người ấy nhảy xuống đã thấy vây cá mập nhọn hoắt nhô lên, nhẹ nhàng rẽ nước lượn vòng vòng.

Lúc anh quay trở lại, quảng trường trước khách sạn không đông người lắm, không đến mức như anh e ngại, nhưng cũng vừa ở mức để anh không phải nuối tiếc vì đã vội đổi phòng. Thế nhưng, trong căn phòng ngột ngạt không cửa sổ này, anh chẳng còn cách nào hơn là phải bật máy điều hòa. Và, bây giờ anh mới biết, hóa ra máy điều hòa gắn vào khe thông gió, nên khi chạy, nó kéo cả luồng khói thuốc lá từ nơi khác vào theo. Thêm vào đó, cái máy điều hòa kêu rè rè mà mãi một lúc anh mới nghĩ ra nó gợi anh nhớ cái gì, và như một cuộc tái ngộ, anh phải bật đèn lên để xem lại cho chắc, rằng không phải mình đang nằm bệnh viện.

Sáng ra, đầu anh đau như búa bổ, trong người khó chịu. Anh cố không sờ đến mấy cái hạch sưng, anh cố tránh mọi thứ có thể làm anh nổi đóa. Anh bỏ cả lệ tắm nước lạnh đã thành thói quen từ nhiều năm nay và hơi loạng choạng theo cầu thang đi xuống. Lúc anh bước ra quảng trường, bầu trời Mexico mấy hôm nay vốn vẫn trong xanh bỗng kéo đầy mây.

Nếu không biết trước rằng mùa mưa ở Mexico mãi tháng Năm mới bắt đầu thì chắc anh đã tưởng trời sắp mưa.

Anh tìm thấy ngay một farmacia[3], không chút bận lòng tận hưởng cái tiện lợi mà sự hiện diện muôn nơi của các tổ hợp đa quốc gia đem lại. Bởi vì, anh chỉ văng ra một tiếng aspirin là có ngay thứ thuốc anh cần. Song, để tay dược sĩ hiểu được ý muốn tiếp theo của anh là gì lại khó khăn hơn rất nhiều. Anh rặn ra một câu:

- Quiero algo para tapar las orejas[4].

Gã dược sĩ nghiêng đầu bên này bên kia ra vẻ quan trọng rồi cất tiếng liến thoắng hỏi đi hỏi lại Alexander những câu khó hiểu. Rốt cuộc, mặc dù Alexander hầu như không chen nổi lời nào, gã dường như chợt hiểu để nhấn đi nhấn lại cái từ ferretería[5]. Sau đó Alexander phải nghe một hồi những lời chỉ dẫn đường đi rắm rối của gã, mặc dù đến lúc này thì anh cầm chắc gã hiểu sai anh. Bởi vì, không đời nào anh lại muốn nhét cái gì đó bằng sắt vào tai.

Anh tìm vào một quán cà phê to bên quảng trường. Trong quán, đông đảo một đám bồi bàn mặc âu phục màu nâu sô-cô-la, song, do cách họ làm thế nào mà anh không thể hiểu ra, mãi một lúc rất lâu anh mới gọi được ba món - một ly cà phê, một ly nước và một chiếc bánh sừng bò - ba món gọi của ba anh bồi bàn khác nhau. Lại chờ đợi, lâu đến bất tận, các món mới được mang đến, và rốt cuộc, phải mất thêm một lúc rất lâu nữa anh mới tìm được ai là người thu tiền để vẫy đến bàn anh ngồi. Lúc ra khỏi quán cà phê, đầu anh muốn nổ tung. Ra đến giữa quảng trường anh vẫn có cảm giác ngạt thở và cứ thế bước đi, chẳng thèm để ý là đi đâu. Chẳng mấy chốc anh đã lại ở trên lối đi dạo bên bến cảng và qua cánh mũi bị ngạt, căng ngực hít sâu làn gió từ biển thổi vào, mặc dù làn gió vẫn nặng nề, ẩm ướt và nồng thứ hương vị đáng ngờ như hôm qua.

Anh đi dọc theo bờ kè về phía Nam. Gió giật mạnh từng cơn, xoáy tung cát lên. Gần như tình cờ anh trông thấy một lũ trẻ Mexico, chắc chừng mươi mười lăm tuổi gì đó, đang tắm trong bến cảng. Chúng la hét ồn ào nhảy từ bờ kè xuống nước. Chẳng ma nào, kể cả cá mập, để ý đến bọn nó... Đi tiếp thêm một đoạn anh nhìn thấy cả một bãi tắm, dù chẳng có ai ở đấy. Thế nhưng, trời bắt đầu mưa, trong khi gió vẫn xoáy tung cát lên. Bầu không khí có vẻ lạ lùng, kích động thế nào đó. Xe cộ chạy thả hết ga. Có tiếng còi xe cứu hỏa và bỗng nhiên, không còn lấy một bóng người nào trên đường phố để Alexander hỏi đường. Thế nhưng, hỏi đường đi đâu chứ?

Chừng mười lăm hai mươi phút sau, cơn mưa đã thắng, đè cát nằm bẹp xuống mặt đất và xua tan niềm tin anh vẫn mang, rằng mùa này ở Mexico không có mưa to. Cả áo sơ-mi lẫn hai ống quần đều ướt sạch. Và, đột nhiên chẳng còn chiếc taxi nào còn trống cả. Lý do tại sao thì khi theo hướng vào trung tâm để bắt xe buýt quay lại anh cũng hiểu ra. Không còn chuyến xe buýt nào nữa, hay nói đúng hơn là không còn xe nào chạy trên tuyến anh cần. Anh đợi xe để đi vòng, nhưng cũng vô ích. Trên đường không thấy bóng chiếc xe taxi nào. Anh thấy ớn lạnh, đành bấm bụng cuốc bộ.

Dọc đường, ghé vào một hiệu thuốc, anh định lần nữa giải quyết cái họa nút tai của anh. Song, vừa bước vào hiệu thuốc với đôi giày và chiếc mũ ướt sũng, anh đã bắt gặp ngay ánh mắt không thiện cảm của ông chủ hiệu đang ngồi sau quầy ngước nhìn ra. Giống hệt con chó lông xù bị ướt - đúng một hình ảnh như thế thoáng hiện trong đầu anh - anh đến trước mặt ông già chủ hiệu thuốc để ấp úng rặn ra một câu hỏi. Chẳng thấy có tác động gì. Anh đứng yên vài giây, liếc thấy nước giọt từ vành mũ anh xuống sàn nhà, trong khi ông già lại cúi xuống đống giấy tờ đang mở trước mặt. Hay là lão đang cố đoán xem anh vừa hỏi cái gì? Alexander bỏ đi, không chờ xem kết cục thế nào.

Anh liều bước vào một hiệu thuốc thứ hai nữa. Tiếp anh ở đây là một người đàn bà trẻ. Chị này có vẻ hiểu anh là đằng khác, nghe loáng thoáng chị ta nói gì như tampón. Phải rồi, tampón nhét tai. Nhưng chị ta lắc đầu:

- No hay. No tenemos.

Không có. Cửa hiệu chúng tôi không bán. Mà có để làm gì cơ chứ? Cái xứ toàn dân nếu không to mồm thì điếc tai này, họ dùng nút bịt lỗ tai làm gì mới được chứ? Thứ dân cứ để mặc cho phim thỏ hồng chạy mà chẳng kêu ca phàn nàn lấy một tiếng ấy. Thứ dân đem xích hai con chó lên nóc nhà nắng chang chang, chỉ nhằm mỗi một mục đích để chúng nó sủa to, phá giấc ai muốn ngủ ấy...

Anh thôi, không thèm tránh các vũng nước dọc đường nữa, cũng không buồn nhảy qua những con suối reo reo chảy cắt ngang lối người đi bộ nữa. Đằng nào cũng ướt hết rồi. Mọi thứ đều ướt, cả da, cả thịt đắp dưới da. Tất tật, anh có cảm giác vậy, ướt sũng nỗi u sầu không ngừng thổi từ đại dương vào, nhận chìm mọi thứ trong thành phố này, khiến con người ta hóa điên, bắt người mới đến nhảy qua thành tàu xuống biển để biến đi, không để lại chút dấu vết nào. Anh vào một siêu thị supermercado mua hai chai nước và lập tức nghĩ trong đầu, không khéo rồi đến nước khoáng bán trong các siêu thị ở Veracruz này cũng đều bị nhiễm thứ u sầu ấy chứ chẳng chơi.

Rồi anh về nằm trong căn phòng không cửa sổ của anh. Anh cảm thấy người đang lên cơn sốt. Anh uống thuốc, bằng nước khoáng nghi bị nhiễm độc trong chai nọ. Máy lạnh chạy, rè rè chọc vào đôi tai thông thống của anh. Anh gượng dậy lần nữa để tắt nó đi, nhưng chẳng mấy chốc anh đã lại có cảm giác không còn khí để thở. Đầu mỗi lúc một nhức thêm. Anh nghe tiếng nói lao xao dưới quầy rượu khách sạn. Anh lại lồm cồm ngồi dậy bật máy lạnh, xé giấy đi cầu nhét vào tai, uống thêm viên thuốc nữa rồi nằm xuống, kéo chăn che kín đầu.

Anh nằm nghiêng bên phải, co ro. Cơn lạnh bắt đầu lan ra toàn thân anh, thoạt tiên mới chỉ một bên người. Trong bóng tối đen ngòm của tấm chán trùm đầu, anh dõi theo cơn lạnh đang lan dần ra. Lan từ thận lan ra, cái lạnh trùm trước hết lên phía hông bên trái, từ đó lan lên vùng tim, bò sang lưng rồi bùng lên trên đường lần đến gáy. Giả sử hệ miễn dịch đã bị hư hại của anh không chống nổi cơn tấn công của một thứ bệnh lạ nào đấy thì làm sao nhỉ? Máy thở ôxy kêu rè rè trong đầu anh. Bỗng dưng đấy là máy của chính anh. Bỗng dưng chính anh lại là người đàn ông già đang hấp hối bên chiếc máy thở rè rè nọ. Bỗng dưng anh cảm thấy thật hợp lý và đúng đắn, rằng anh sẽ chết ở đây, trong căn hầm cố thủ Veracruz này, hoàn toàn đơn độc, giấy đi cầu nhét trong tai. Nào anh có muốn gì hơn? Đây chính là hậu quả không gì hợp lý bằng của cuộc đời anh vậy.

Anh quay người sang phía bên kia, nhằm xua đuổi những ý nghĩ như thế đi. Nhằm đánh tan các hình ảnh nảy ra trong đầu. Anh tìm đôi hình ảnh khác. Anh cố nhớ đến một chuyện nào đó. Giữa các cơn sốt xô từng đợt như sóng biển đâm về phía anh, anh cố lục lọi trí nhớ xem có gì hay ho không. Song, anh chỉ thấy độc một cảnh anh đang lang thang lạc lõng trong các thành phố lạ hoắc, chỉ thấy có vậy, dường như trong đời anh chẳng có gì khác, toàn phố xá, toàn nhà cửa, toàn những khuôn mặt mà hễ anh chạm tay vào là sập đổ tan hoang. Trong lúc hai hàm răng lập cập đập vào nhau, anh nghĩ bụng, đây là bộ phim về đời mình, dù chỉ là trích đoạn vụng về và kém cỏi. Anh cố sao để răng đập vào nhau không thành tiếng ồn ào quá, tránh không làm đổ thêm nhà cửa. Mẹ kiếp, anh thầm nghĩ, anh sẽ phải đòi một phiên bản khác, dẫu gì anh cũng được quyền tự tay dựng cuốn phim về đời mình chứ. Anh cắn chặt răng, đến đau cả hàm. Rồi trời chuyển sang nóng ghê người, anh phải chạy, ai nấy cũng bỏ thành phố đi hết, anh chạy qua sa mạc, không khí cháy bỏng trong họng, anh vẫn chạy, tim đập nhanh không thể tưởng được, như thể nó đang run chứ không phải đập. Anh cứ như leo núi, leo ngược lên cao mãi mà chẳng thấy đỉnh đâu. Anh chợt hiểu, hóa ra sa mạc nghiêng, cứ thế cao lên mãi ở chân trời. Không làm sao mà vượt nổi dốc giữa trời nóng như lửa thế này, con tim nằm trong lồng ngực anh đây lại mắc khuyết tật, không mổ được. Anh biết, anh phải dừng lại ngay. Thế nhưng, phía sau lưng anh cảnh vật đang vỡ ra từng mảnh, rơi xuống đáy sâu. Không, đúng hơn là bay lên trời, một bầu trời hiện ra khắp nơi, cả trên lẫn dưới và xuyên qua bầu trời ấy là lớp vỏ mỏng manh, dày chỉ chừng một thước, tức là trái đất. Đến lạ. Rồi bố mẹ anh hiện ra bên anh, dùng cả hai tay dìu anh, một kẻ đau tim. Bố mẹ mặc quần áo mùa hè, bố mặc quần gập gấu theo mốt từ những năm năm mươi, mẹ đi giày cao gót và mặc chiếc váy trắng mà hồi nhỏ anh vẫn chui xuống dưới. Thế nhưng, cả hai không để tâm gì đến trang phục mà đều chạy, leo trèo, bò lên lớp vỏ trái đất mỏng manh đâm thẳng vào bầu trời ẩy, tuột xuống, lại leo lên và kéo theo sau anh, kẻ đau tim, thúc giục anh bằng một giọng bình tĩnh nhưng nghiêm nghị, như thể phải nhanh chân để kịp đến nhà trẻ cho đúng giờ, nhắc nhở anh đi tiếp, đừng quay lại nhìn mặt đất đang vỡ ra từng mảnh, từng mảnh rơi xuống đó, hãy trông lên phía trước hoặc trên cao. Ở đó, tít trên cao, nơi tận cùng của thế giới, một nhóm người da đỏ đội mũ lông chim đang nhảy múa. Đấy là năm sáu người bé nhỏ, bụng bắt đầu to, đang chân này đổi chân kia theo nhịp. Họ nhảy theo tiếng nhạc phát ra từ một cái hộp, như hộp mấy người bán rong trên tàu điện ngầm vẫn buộc dây đeo ở cổ. Đồ trang sức bằng lông chim họ vừa mua từ cửa hàng lưu niệm và trên tay họ, thay vì cầm dao, mỗi người lại nắm một con rùa tạc ra từ đá thủy tinh núi lửa màu đen.

Anh nằm ốm hai ngày liền. Giữa chừng, anh cố trở dậy một lần, co ro loạng choạng trong cơn sốt, mò ra siêu thị mua nước uống. Sang ngày thứ ba, anh gói ghém đồ đạc, nhờ lễ tân đặt taxi, rồi không buồn đòi lại số tiền đã trả trước, anh ra bến xe ca mua vé đi sang bờ Thái Bình Dương. Người đàn ông ngồi ở quầy vé đặt một tấm bản đồ khổ giấy A5 ra trước mặt anh. Alexander lấy ngón tay chỉ bừa vào một điểm nằm bên bờ đại dương bên kia, phía yên tĩnh, nơi thái bình.

- Pochutla, người đàn ông nói.

- Pochutla, Alexander nhắc lại, một địa danh mà anh chắc chắn trong đời chưa bao giờ nghe nhắc đến.

Xe ca đường dài khởi hành lúc bảy giờ tối. Đây là một chiếc xe hạng sang, có ghế nằm và yên tĩnh. Âm thanh phát ra từ máy video, giống như trên máy bay, phải dùng tai nghe mới nghe được. Nhờ thế, Alexander cũng ngủ yên được đôi tiếng đồng hồ.

Sáng ra, trời lại trong xanh, xanh đến kinh dị. Anh có cảm giác mọi màu sắc ở đây đều sặc sỡ hơn bờ đại dương phía Đông. Những căn lều nghèo nàn bên lề đường rực rỡ màu đỏ rồi màu lục trong nắng sớm mai, những tấm biển quảng cáo vẽ tay như vẫy chào anh lúc xe chạy qua, và anh không hề thấy lạ lùng khi trông thấy một người đàn ông đang gạt cát trước một cửa hàng ăn bé tí. Một cái gì đó - bầu không khí, nến trời, những ngôi nhà mong manh lợp mái tôn lượn sóng - báo hiệu bờ Thái Bình Dương sắp đến gần.

Sau đó là Pochutla. Từ trên xe, anh bước xuống trước một nhà để xe đã xây lại thành quán cà phê. Lúc xuống xe, đầu gối anh vẫn hơn run. Anh thấy người lâng lâng và có cảm giác như mới được lột da. Khí trời ban mai mơn man anh, tựa hồ muốn soi rạng lòng dạ anh. Nắng chiếu nhột nhạt trên làn da anh. Anh hỏi chị chủ cái quán cà phê xây từ nhà để xe đang quét dọn lối đi trước cửa xem ra biển đi đường nào. Còn những mười lăm cây nữa mới ra đến đấy. Phải đi taxi mới ra đó được, chị ta bảo anh, thế nhưng anh bạn chị lái xe taxi, chị ta nói vậy, và chị ta sẽ báo cho anh ấy biết đến đón anh. Anh có muốn ăn sáng đã không?

Alexander gật đầu và chị chủ quán - một người dù mang nét mặt người da đỏ, nhưng thế nào mà lại trông hao hao như các bà mẹ ở Prenzlauer Berg[6] xưa kia, trước Bước ngoặt, sáng sớm tinh mơ vẫn đèo con bằng xe đạp lặn lội giữa dòng xe cộ đông đúc - liền chạy vù sang cửa hàng bánh bên kia đường mua vài chiếc bánh mì con mới ra lò cho anh ăn sáng.

Anh ở lại ăn sáng là đúng, được uống cà phê, rồi ăn chiếc bánh mì con phết mứt ngon tuyệt vời. Anh ngồi đấy, thấy rõ các vết nứt trên mặt đường đối diện, cả lối đi chị chủ quán mới dọn sạch. Anh nhìn theo một người đàn ông vừa vẫy vẫy vừa chạy theo một chiếc taxi. Rồi lại thấy một người khác trông như con voi đực màu xanh, và một con voi cái màu trắng bám theo. Một đứa trẻ hiện ra, đứng yên một chỗ nhoẻn miệng cười.

Chuyến taxi tốn mất năm chục peso, theo thỏa thuận từ trước khi chạy. Con đường ngoằn ngoèo chạy dần xuống dốc, qua một vùng đất chẳng hề gây ấn tượng gì đặc biệt.

Nếu anh hiểu đúng thì chỗ này gọi là Puerto Ángel. Không thấy có bảng ghi địa danh. Phía bên trái, ngay trong tầm nhìn, là bãi tắm. Bên phải, ngay trước sườn núi cao có vài ngôi nhà xuềnh xoàng dựng sát vách vào nhau dưới một lô một lốc dây nhợ chằng chịt thường thấy ở nhiều nơi. Một cửa hàng rau quả. Một ferreteria. Một chi nhánh ngân hàng chắc đang lúc tân trang.

Không chờ Alexander hỏi, anh tài mách anh tên một khách sạn, một casa de huéspedes - nhà trọ - thì đúng hơn, bằng một giọng khiến anh nghĩ chắc tay này ăn phần trăm của nhà trọ. Nhà trọ mang tên Eva & Tom làm Alexander đã ngại chủ là người Đức. Song, do anh tài một mực thề thốt không phải đâu, không phải đâu, nên lúc sau, đầu gối vẫn còn run run, Alexander đã leo cầu thang vào cái nhà trọ Eva & Tom ấy.

Ai đó gọi ới vào phía trong. Chạy ra tiếp anh tại một nơi có thể tạm coi như lễ tân nằm khuất dưới mấy tàu lá cọ là một người đàn bà mập mạp, trông không còn trẻ lắm nữa, có nước da màu nâu đồng và mái tóc hoa râm dài tết lại nghiêm nghị khiến người ta có thể nghĩ ngay đây là một bà squaw[7]. Bà chủ đi dép lê, áo liền váy, vải đã sờn. Bà ta thờ ơ, thậm chí miễn cưỡng, lật lật quyển lịch làm việc và chẳng chút mào đầu cất lời nói tiếng Đức với anh, bằng một thứ giọng nặng của phương Nam, có lẽ là phương ngữ ở bên Áo. Sau đó bà ta cùng anh leo qua cầu thang lộ thiên đóng bằng gỗ ván thô kệch để lên các tầng trên của nhà trọ.

Tầng trên cùng nằm ngay giữa đỉnh đồi. Hoa râm bụt và cọ mọc xung quanh. Từ hiên nhà nhìn xuống có thể nhìn thấy cái vịnh, nước xanh cũng đến mức kinh dị như bầu trời úp bên trên, nằm lọt giữa những vách núi đá sừng sững bao bọc xung quanh.

Các phòng trọ ở đây đều nằm trên một khoảnh đất trống, bao bọc bởi bức tường quét vôi màu mè đúng theo kiểu Frida Kahlo (đỏ-xanh-lục). Và, trước khi bà squaw gốc Áo kịp chỉ cho anh căn phòng nhỏ, không cửa sổ (ánh sáng lọt vào phòng từ trên nóc, soi qua tấm nhựa con con gắn trên rui nhà, thay cho viên ngói), trước cả khi anh kịp đảo mắt nhìn vào căn phòng đơn sơ, kê độc một cái giường có treo màn chống muỗi, một cái bàn và một cái rương nhỏ, trước cả khi anh kịp hỏi giá phòng (năm mươi peso, tức năm đô-la), anh đã cảm thấy mê say cảnh tượng - giữa cơn nóng như rang của buổi chiều nay - anh sẽ ngả lưng trên chiếc võng căng ngay trước phòng anh đây, dưới bóng mát tàu lá cọ để ném cái nhìn xuống màu xanh đến kinh dị kia của Thái Bình Dương.

- Anh nhớ giũ chăn đi nhá, bà squaw gốc Áo nói thản nhiên. Ở đây có bọ cạp đấy.

[1] Người da trắng lai thổ dân Nam Mỹ.

[2] Nghĩa đen là “cây thập tự chính cống”, còn gọi là Puerto de Veracruz, cảng chính trong Vịnh Mexico bên bờ Đại Tây Dương.

[3] Tiếng Tây Ban Nha: Hiệu thuốc.

[4] Tiếng Tây Ban Nha (bồi): Tôi muốn có cái gì nhét tai.

[5] Tiếng Tây Ban Nha: Cửa hàng đồ kim khí.

[6] Một quận thuộc Đông Berlin trước đây, từ năm 2001 nhập vào quận Pankow.

[7] Squaw: người đàn bà (một từ thuộc ngôn ngữ Algonkin của người da đỏ Bắc Mỹ), ý chỉ một người đàn bà da đỏ.

Hoàng Đăng Lãnh dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.