Thời Nắng Lịm

Lượt đọc: 133 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NĂM 1959

❊ ❊ ❊

Vô cùng.

Thằng Achim Schliepner bảo không đếm được đến vô cùng.

Alexander nằm trên phản, mơ đếm được đến vô cùng. Nó mơ nó sẽ là người đầu tiên đếm được như thế. Đếm như thế nào thì nó biết cách rồi. Nó sẽ đếm, đếm mãi. Đếm tới những số to chóng mặt. Một triệu. Một nghìn triệu. Một ức triệu. Một nghìn ức triệu... Rồi bỗng nhiên, đến vô cùng! Tiếng vỗ tay rầm rầm. Giờ thì nó nổi tiếng. Nó sẽ đứng trên một chiếc Chaika đen, mui trần, thứ xe tuyệt vời của các quan chức Liên Xô, nhiều chỗ mạ kền bóng loáng, đuôi xe có cánh như cánh tên lửa. Xe chạy chầm chậm qua các phố. Hai bên đường toàn người với người, đông nghịt như ngày mồng Một tháng Năm, ai nấy reo hò, vẫy chào nó bằng những lá cờ nhỏ ba màu đen-đỏ-vàng trên tay.

Bỗng bốp một cái, nó bị cuốn sách đập vào đầu. Đấy là sách của bà giáo Remschel, bà ấy canh bọn trẻ ngủ. Đứa nào không ngủ bà đập bốp sách lên đầu.

Mẹ đến đón nó. Trời đã sâm sẩm tối. Chỉ lát nữa ông thợ thắp đèn đường sẽ qua đây.

- Mẹ ơi, bao giờ mình đến bà ngoại?

- Giời ơi, Sashenka, còn lâu.

- Tại sao cái gì cũng còn lâu hả mẹ?

- Con cứ mừng là cái gì cũng còn lâu đi đã. Bao giờ con lớn, tự nhiên mọi thứ lại rất nhanh.

- Sao lại thế?

- Thì nó thế. Càng già, ngày tháng càng nhanh.

Đến lạ.

Rồi hai mẹ con về đến cửa hàng hợp tác xã Konsum. Cửa hàng nằm ở giữa quãng đường về. Đường khá xa, nhất là vào buổi sáng. Nó thấy đường về có vẻ gần hơn. Nó băn khoăn, không biết có phải vì đến chiều là nó đã già thêm một tí rồi không.

- Con có vào đây với mẹ không, mẹ hỏi nó, hay đứng đợi ngoài này?

- Con vào với mẹ, nó nói.

Ở cửa hàng Konsum có sữa tươi bán theo phiếu. Cô bán hàng dùng muỗng múc sữa vào can đựng. Hồi trước là cô Blumert, nhưng rồi cô ấy bị bắt đưa đi mất. Nó còn biết tại sao cô ấy bị bắt nhé: vì cô ấy bán sữa không thu phiếu. Thằng Achim Schliepner nó bảo thế. Nghiêm cấm bán sữa không thu phiếu. Bởi thế, Alexander thấy hoảng khi nghe cô bán hàng mới nói to:

- Không sao, chị Umnitzer ạ, mai chị mang phiếu ra cũng được.

Mẹ nó vẫn cố lục lọi trong ví.

- Con không thích sữa đâu, Alexander vùng vằng.

- Sao cơ?

Nó thấy nghèn nghẹn trong cổ, không cất ngay thành lời được. Đoạn, nó nói nhỏ:

- Con không uống sữa đâu.

Mẹ nó đỡ can sữa từ tay cô bán hàng.

- Con không uống sữa á?

Ra khỏi cửa hàng, chân nó cứng đơ không cất nổi một bước. Mẹ cúi xuống hỏi nó:

- Sao thế hả con?

Nó dằn từng tiếng nói mẹ biết nỗi lo lắng của nó. Mẹ nó cười to.

- Sashenka, chẳng ai bắt mẹ đâu!

Thế là nó mếu máo khóc. Mẹ bế nó lên cao, hôn vào má.

Mẹ gọi nó là cún, cún con[1].

Ở cửa hàng bánh nó được thưởng miếng bánh mật ong. Mật ong ngọt hòa lẫn ở đầu môi với vị mặn trong nước mắt của nó. Nhờ thế, mọi sự ở đời lại dần dần đâu vào đấy.

- Nhưng cô Blumert bị bắt thật, nó nói.

- Vớ vẩn! mẹ nó trợn tròn mắt. Đây có phải Liên Xô đâu.

- Sao lại thế?

- Chà, đấy là mẹ chỉ nói quấy thế thôi, mẹ nó nói. Không khéo con lại mách bà nội, mẹ bảo ở Liên Xô người ta bắt dân bỏ tù, thì khốn.

Nhà nó ở phố Steinweg. Bà với ông Wilhelm ở dưới, nhà nó ở trên: mẹ nó, bố nó, và nó.

Bố nó là doktor. Không phải bác sĩ, nhưng vẫn là doktor, ghi trên trang giấy bố đánh bằng máy chữ. Bố nó rất cao to và cái gì bố cũng biết. Mẹ thì không phải cái gì cũng biết. Đến tiếng Đức mẹ nói còn chẳng đúng nữa là.

- Thế “kryssa” (con chuột) tiếng Đức là gì nào?

Chỉ thế thôi, là mẹ đã chịu thua rồi.

Cơ mà hồi chiến tranh mẹ đi đánh nhau thật nhá, đánh nhau với bọn Đức.

- Mẹ có bắn chết thằng nào không?

- Không, Sashenka, mẹ có bắn súng lúc nào đâu. Hồi ấy mẹ làm cứu thương.

Thế nhưng nó vẫn hãnh diện lắm. Mẹ nó thắng, bọn Đức thua. Chỉ lạ một điều là bố cũng người Đức.

- Bố đánh nhau với mẹ à?

- Không, lúc chiến tranh nổ ra bố đã ở Liên Xô rồi.

- Sao lại thế?

- Vì bố phải chạy khỏi nước Đức.

- Sau rồi sao?

- Bố đi đốn gỗ.

- Rồi sao nữa?

- Rồi bố gặp mẹ.

- Thế rồi sao?

- Bố mẹ đẻ ra con.

Đẻ! Nó tưởng tượng đẻ là khoan thành lỗ sâu xuống đất[2]. Giống như máy phun nước tưới vườn của bà nội. Một cái cọc dài, nhọn đầu, cắm sâu xuống đất. Sau đó là thế nào thì chưa rõ. Nhất định có dính dáng đến đất.

o0o

Cứ sáng Chủ nhật là nó lại chui vào giường bố mẹ nó nằm. Nó thọc ngón tay vào lỗ đít rồi nói:

- Bố ngửi này.

- Phù, bố nó kêu lên rồi vùng dậy.

Thật là lạ, cứt của nó mà cũng thối.

Sau đó cả nhà tập thể dục buổi sáng, cùng lắc vòng.

- Môn này bây giờ hợp thời lắm, mẹ nó bảo thế.

Mẹ nó lúc nào cũng hợp thời. Bố thì không hợp thời mấy.

Lúc nào bố cũng muốn giữ nguyên quần áo hay đồ đạc cũ.

- Đôi giày vẫn còn tốt chán, bố bảo thế.

Nhưng mẹ lại bảo:

- Nhưng lỗi thời rồi.

Mùi khét, là cái mùi xộc vào mũi lúc nào mẹ thui lông gà.

Điều nó thấy tiện lợi là bố thích ăn thịt ức.

Điều nó không thể hiểu là tại sao bố mẹ tự nguyện đi ngủ trưa.

Sau đó là đoạn chơi cờ. Bố chấp nó hai con xe, nhưng rồi vẫn cứ thắng.

- Hồi còn nhỏ, Morphy mới sáu tuổi đã hạ được bố ông ấy rồi, bố nó bảo vậy.

Cũng chẳng ngại lắm. Giờ nó mới bốn tuổi; phải lên năm cái đã, rồi thì vẫn còn kịp, để thắng bố ván cờ.

Trong tuần có mấy ngày, thứ Hai đến thứ Sáu. Nó còn biết thứ Sáu đầu tháng khác thứ Sáu giữa tháng. Cứ thứ Sáu giữa tháng là nó được xuống với bà nội.

Trước khi xuống, phải tắm. Chải đầu, rồi - nó biết ngay - thể nào mẹ nó cũng lôi kéo cắt tóc ra.

- Cứ bao giờ xuống bà là mẹ lại cắt tóc con.

- Ngồi yên nào.

- Cơ mà nhặm lắm!

Đúng thế - cái cảm giác Xuống-Thăm-Bà là vậy: tắm rửa thơm tho, khoác áo tắm, ngứa ngáy ở sau gáy.

- Thôi, con đi được rồi, cún con ạ, mẹ nó bảo.

Mẹ đứng trên, ở đầu cầu thang. Bà đứng dưới, cuối cầu thang.

- Nào xuống đây, chú chim sẻ của bà.

Nó quay lại vẫy mẹ. Vẫy như thế có nghĩa là, mẹ cứ vào đi. Nó không muốn mẹ nghe bà gọi nó là “chú chim sẻ”. Nó cũng không muốn bà nghe mẹ gọi nó là “cún con”.

Thế nhưng mẹ không chịu hiểu, cứ đứng nguyên đấy, lại còn gật gật đầu nữa chứ.

Nó bám thành cầu thang chầm chậm đi xuống, đến chỗ các bậc thang ngoặt dẫn xuống gian phòng ngoài rộng rãi, nơi mà cứ tối đến là cái vỏ ốc màu hồng to đùng lại bật sáng lên. Chẳng ai biết ông Wilhelm làm cách nào gắn được bóng điện vào trong.

Đây là thế giới của bà nội. Cái gì ở đây cũng khác một tí. Lời lẽ nó nói cũng khác ngay, rắc rối hơn thế nào đó.

- Bà ơi, hôm nay mình lại làm chuyện bí mật chứ?

- Nhất định rồi, chim sẻ ạ.

Trước hết phải dọn bàn. Alexander sốt sắng chạy đi chạy lại giữa bếp và phòng trà. Bà nội gọi phòng lớn như thế.

Cách dọn bàn (chỉ dùng cho tầng dưới thôi) là: khăn giấy lau tay, lồng trong cái vòng nhỏ bằng bạc, sắp ngoài cùng. Sau đến dao, tiếp theo là nĩa. Rồi đến cái thớt mỏng, bằng gỗ, dùng để cắt bánh mì. Dưới này, bà nội dùng thớt để ăn. Như thế tiện hơn, vì trên mặt thớt dễ dùng dao cắt bỏ vỏ bánh mì. Ông Wilhelm không thích ăn vỏ bánh mì. Chiếc thìa con để phía trên cái thớt, dùng để ăn món kem chanh nổi tiếng của bà.

Kem chanh là món Alexander thích ăn. Nó chẳng biết do đâu lại thế; đúng ra thì nó chẳng thích kem chanh tí nào. Nhưng mà đó là món nó thích ăn - bà bảo vậy.

Ở chỗ bà nó còn uống cả trà hoa cúc, ăn pho-mát dẻo và pa-tê gan. Mấy thứ đó đều gắn với bà. Cũng như cảm giác ngứa ngáy ở gáy vậy.

Đĩa đựng bơ phải đặt làm sao để ông Wilhelm dễ với.

Thế là dọn bàn xong.

Trong lúc chờ đợi hai bà cháu làm chuyện bí mật.

Bí mật của hai bà cháu là ăn bánh mì cắt lát trong bếp. Gọi là bánh gặm. Làm thế là vì ông Wilhelm không chịu được bánh gặm. Người khác ăn ông cũng không chịu được; bà bảo thấy ai ăn ông lại nổi da gà. Cho nên hai bà cháu bí mật ăn bánh gặm với nhau trong bếp. Ăn với mứt.

Cho đến khi ông Wilhelm xuất hiện.

- Thế nào, hombre[3]?

Vừa hỏi ông vừa xòe cả bàn tay trùm lên mặt nó.

Ông Wilhelm đầu tuy nhỏ, nhưng đôi bàn tay lại to.

Vì trước đây ông là công nhân. Bây giờ ông sang trọng hơn, nhưng đôi bàn tay thợ vẫn to. Bàn tay to đến mức che kín mặt Alexander. Alexander suýt nghẹn, vì miệng đang ngậm đầy bánh.

- Nào, để xem hai bà cháu dọn món gì cho khỉ ăn nào, ông Wilhelm nói rồi khệnh khạng đi vào phòng khách.

- Ông đùa đấy, bà thì thầm với Alexander.

Alexander nghĩ bụng, ông Wilhelm buồn cười thế, có lẽ vì ông ấy không phải là ông nội thật của nó. Vì thế cho nên nó mới gọi ông là ông Wilhelm. Nhỡ gọi nhầm “ông nội” là ông lại nhe hàm răng giả ra. Làm Alexander ghê cả người.

Ăn tối có nhạc, từ máy quay đĩa. Máy quay đĩa là một cái hòm màu tối, phía trên có cái nắp hình bán nguyệt mở lên đóng xuống được.

Ông Wilhelm không thích nhạc.

- Lúc nào bà cũng thích nghe thứ của nợ ấy, ông cằn nhằn.

Thế nhưng, chỉ có ông mới biết sử dụng máy quay đĩa như thế nào. Cho nên bà phải nài nỉ:

- Ông ơi, ông mở nhạc cho bà cháu tôi nghe đi, cháu Alexander nó thích nghe Jorge Negrete[4] hát lắm.

Rốt cuộc ông cũng lôi một bao đựng đĩa nhạc trong tủ ra. Ông dốc cho chiếc đĩa nhựa trôi ra khỏi bao rối xòe tay đỡ lấy, rất thận trọng, cố làm sao cho các ngón chỉ chạm vành và tâm đĩa nhạc, tay kia ông cầm một chiếc chổi lông quét nhẹ, vòng vòng theo các đường rãnh nhỏ trên mặt đĩa. Chốc chốc ông lại giơ chiếc đĩa soi ra phía ánh sáng. Xong xuôi, ông sờ soạng tìm cái chốt thò ra trên mặt máy để đặt sao cho nó xuyên đúng tim đĩa; vì cái chốt nằm khuất phía dưới nên ông phải loay hoay mãi mới được. Phức tạp lắm. Cuối cùng, ông chỉnh tốc độ quay của máy rồi cúi người xuống, đầu nghiêng nghiêng khiến Alexander nhìn thấy cả đỉnh đầu hói của ông, và cẩn thận hạ đầu kim lên mặt đĩa. Mới đầu chỉ nghe khe khẽ tiếng xèn xẹt bí hiểm... trước khi tiếng nhạc vang lên.

Xương cá vàng![5] Alexander tưởng tượng ra một mẩu xương cá mạ vàng. Có điều, sao xương cá lại dính dáng đến nhạc thì nó không biết. Bố mẹ nó không có máy hát, cho nên bản “Xương cá vàng” là bản nhạc duy nhất nó biết. Nhưng hay ra phết:

México lindoy querido

Si muero lejos de ti

Que digan que estoy dormido

Y que me traigan aquí[6]

Nó chẳng hiểu gì; nhưng điệp khúc này chắc nó vẫn nhẩm theo được.

- Cháu có biết tại sao người ta gọi người da đỏ châu Mỹ là người Indian không? ông Wilhelm hỏi rồi ném bộp một khoanh bánh mì lên thớt.

Alexander biết tại sao người ta gọi người da đỏ là người Indian. Chính ông Wilhelm đã đôi lần cắt nghĩa cho nó. Cũng chính vì thế mà nó chần chừ.

- À ra thế, ông Wilhelm đắc thắng, ra chú mình không biết. Cái bọn trẻ này! Chẳng biết mô tê gì sất!

Ông phết tiếp một mẩu bơ lên khoanh bánh rồi miết một nhát.

- Ông Colombo gọi người da đỏ là người Indian vì ông ta tưởng mình đặt chân lên đất Ấn Độ, India. Comprende[7]? Và ta vẫn gọi họ mãi như thế. Thế có ngớ ngẩn không?

Ông phết thêm một lớp ngồn ngộn pa-tê gan lên khoanh bánh.

- Người da đỏ, ông nói tiếp, là thổ dân trên lục địa châu Mỹ. Châu Mỹ là của họ. Thế nhưng...

Ông đặt một quả dưa chuột muối lên khoanh bánh mì, đúng hơn là quẳng quả dưa lên bánh, nhưng trệch, quả dưa lăn xuống bàn.

- Thế nhưng, ông nói, hiện giờ họ thuộc hạng nghèo nhất. Bị tước đoạt, bị bóc lột, bị áp bức.

Ông cắt dọc quả dưa thành hai nửa, ấn ngập cả hai vào lớp pa-tê gan rồi nhồm nhoàm nhai.

- Đấy, ông lầu bầu, chính là chủ nghĩa tư bản đấy!

Ăn tối xong, Alexander theo bà vào nhà kính. Trong đấy vừa ấm áp vừa ẩm ướt. Có mùi gì ngòn ngọt, mằn mặn. Bồn phun nước trong chậu cảnh kêu rù rù. Giữa đám cây xương rồng, cây cao su cảnh lổn ngổn những thứ bà đem từ Mexico về: nào san hô, nào vỏ sò, vỏ hến, cả những đồ vật bằng bạc thật, bộ da rắn đuôi chuông chính tay ông Wilhelm dùng dao rựa hạ thủ; trên tường treo mũi kiếm của một con cá kiếm thật, dài gần hai thước, nhưng trông không thực, giống như cái sừng ngựa thần trong chuyện cổ tích. Song, ghê nhất vẫn là con cá mập con nhồi bông, lớp da sần sùi của nó lúc nào cũng làm Alexander sởn gai ốc.

Hai bà cháu leo lên giường ngồi. Giường của bà đặt ở đây vì chỉ có ở đây bà mới ngủ yên được. Rồi bà bắt đầu kể chuyện. Bà kể về chuyến đi dài, cưỡi ngựa mấy ngày liền, sau lại đi ca-nô; về giống cá cọp piranha hung dữ, có thể chén gọn một con bò; về những con bọ cạp chui vào giày của bà; về những giọt nước mưa to như quả dừa; về những cánh rừng nguyên thủy cây cối ken nhằng nhịt, dày đến mức phải dùng dao rựa chặt mới mở được lối đi, một lối đi khi quay lại, cây cối đã lại mọc che kín mất rồi.

Hôm nay bà kể về người Aztek. Lần trước bà kể người Aztek đi xuyên sa mạc. Bữa nay họ tìm thấy một thành phố bỏ hoang; vì không ai ở đấy cả, người Aztek bảo đây là nơi Thần Thánh cư ngụ và đặt tên thành phố này là Teotihuacán, nơi người sẽ hóa thành Thần.

- Bà ơi, cơ mà làm gì có Thần Thánh.

- Thật ra thì không có Chúa hay Thần Thánh gì, bà đáp. Rồi bà lại kể Thần Thánh đã tạo ra thế giới thứ năm như thế nào.

- Bởi vì thế giới, bà nói, đã bốn lần tiêu tan rồi; tối tăm, lạnh lẽo, không thấy mặt trời đâu nữa, chỉ còn độc một ngọn lửa trên đỉnh kim tự tháp Teotihuacán là vẫn cháy mà thôi. Các vị thần họp nhau bàn bạc và nhất trí, phải có ai đó trong số họ chịu hiến sinh thì mặt trời mới mọc được.

- Bà ơi, hiến sinh là thế nào hả bà?

- Có nghĩa là ai đó phải ném mình vào lửa để mặt trời mới mọc lên.

- Tại sao thế?

- Thì ai đó phải hiến mạng, để người khác sống.

Đến lạ!

Mẹ đưa nó lên giường ngủ.

- Hôm nay mẹ nằm đây với con chứ?

- Hôm nay không, mẹ nói khẽ, mẹ vừa uốn tóc.

Lúc mẹ đi ra, váy mẹ kêu sột soạt.

Hôm nay nó thấy người thế nào ấy. Trong bóng tối như có ma lượn lờ. Nó chợt nghĩ đến Thần vừa phải nhảy vào lửa. “Kipitalismus”[8], ông Wilhelm nói thế thì phải; nghe nóng ran: “kipit” tiếng Nga có nghĩa là “nước sôi”. Nó thấy cá cọp piranha bơi tung tăng trong bát canh đang sủi bọt. Đừng nhúng tay vào, bố nó bảo. Người Aztek nhảy múa trên sa mạc toàn cát, mặt mũi méo xệch vì đau đớn. Bà gọi to, ông Wilhelm, ông Wilhelm. Ông Wilhelm hiện ra, đổ nước từ lọ dưa muối lên cát cho khỏi nóng. Mẹ nó mặc váy rất đẹp, chia giày dép cho người Aztek. Giày nữ, đã cũ, lỗi thời, mấy người Aztek ngắm nghía ngạc nhiên lắm nhưng vẫn xỏ chân vào. Rồi họ đi tiếp, xuyên sa mạc, cát ướt đẫm nước dưa chuột muối. Giày họ bê bết bùn.

Alexander choàng tỉnh, nôn thốc tháo, ra toàn mùi kem chanh. Sau đó nó bị sốt suốt ba ngày.

Sang tháng Tư là sinh nhật nó. Nó được tặng chiếc xe trượt đẩy chân (bánh hơi hẳn hoi), phao bơi và một xe kéo bánh xích, chạy bằng pin.

Đến dự sinh nhật có mấy đứa bạn: Peter Hofmann, Matze Schoneberg, Katrin Mählich và Renate ít nói. Thằng Peter Hofmann ăn một lúc cả ba miếng bánh. Chúng nó chơi trò bịt mắt bắt dê.

Bây giờ, vì nó đã lên năm, nó lại hỏi mẹ nó:

- Mẹ ơi, bao giờ mình đi thăm bà ngoại Nadya hả mẹ?

- Đầu tháng Chín.

- Thế bao giờ đến tháng Chín hả mẹ?

- Giờ mới tháng Năm, hết tháng Sáu, tháng Bảy, tháng Tám rồi mới đến tháng Chín con ạ.

Alexander phát cáu.

- Mẹ bảo bao giờ con lớn thời gian sẽ trôi nhanh hơn cơ mà.

- Bao giờ con lớn hẳn cơ, Sashenka ạ. Thật lớn cơ.

- Thế bao giờ con mới thật lớn?

- Mười tám tuổi thì con thật lớn.

- Thế lúc ấy con sẽ cao bao nhiêu? Cao như bố à?

- Nhất định con sẽ cao hơn.

- Tại sao thế?

- Chà, con cái thường cao lớn hơn bố mẹ. Cũng là vì về già bố mẹ thường lùn đi một tí.

Rồi mẹ quay đi, nói tiếng Đức: cho tôi mua nửa cân thịt băm.

Trời chuyển sang hè.

Mới đầu nó còn phải mặc cả để được phép Mặc-Quần-Cộc. Nhưng rồi, chỉ ít ngày sau, mùa hè khỏe lên, lặng lẽ lan khắp nơi, len lỏi vào mọi ngóc ngách ở làng Neuendorf, xua hết hơi lạnh; bãi cỏ giờ ấm hẳn lên, không trung râm ran tiếng côn trùng và chẳng ai còn nhớ mấy ngày đầu, mặc quần cộc chạy ra ngoài còn sởn da gà; cũng chẳng ai nghĩ lúc nào đấy mùa hè sẽ trôi qua.

Nó trượt pa-tanh. Bánh xe bằng kim loại, rất mới, kêu rất to. Ông Wilhelm bước ra:

- Thật không chịu được. Trò khỉ gió!

Làm cung bắn nhau. Tên bẻ từ bụi cây gì đó, không biết bụi gì; buộc mũi tên nhọn bằng dây đồng. Thằng Uwe Ewald bắn tên vào mắt thằng Frank Petzold. Phải vào bệnh viện. Bị mắng một trận ghê người.

Lấy phấn vẽ lên mặt đường phố. Thằng Peter Hofmann mới đầu vẽ dấu thập ngoặc, nhưng sửa ngay thành cửa sổ - thêm mấy nét vẽ là được.

Bị nghiêm cấm chui vào lô cốt. Bọn trẻ lớn vẫn chui; bọn nhỏ cũng chẳng vừa. Alexander vừa chui vào đấy đã thấy ngay con gì như con ma: có đầu hẳn hoi, má đỏ, sáng như ngọn đèn. Hoảng quá, tóc gáy nó dựng cả lên. Nó lặng lẽ chuồn ngay.

Không ra cấm, nhưng hình như cũng không ra cho phép là trò kỵ sĩ cưỡi ngựa với bạn Renate Klumb. Chơi trò này, Renate phải nằm sấp xuống cỏ, váy kéo lên, nó cưỡi lên lưng. Renate không cần động đậy gì cả, chỉ cần chạm vào nhau đôi chỗ là được.

Nhá táo xanh với thằng Matze. Rồi bị ỉa chảy.

Con Katrin Mählich bị kẹt ngón tay vào ghế xếp.

Nghịch cát ở thùng cát nhà Hofmann, xây phố bằng cát cho bọ cánh lửa. Bọ cánh lửa giờ nhiều lắm. Mấy hòn đá do nắng chiếu vào ấm hẳn lên, chúng nó bò đàn đàn ra đấy sưởi, nằm yên không động đậy.

Đúng lúc mặt trời đứng yên trên trời cao, ngày nào cũng chói chang như ngày nào, thời gian, bất chấp mọi lời mẹ hứa hẹn, dường như dừng lại không trôi nữa và Alexander cũng gần quên khuấy đi rồi thì mẹ lại bảo:

- Tuần sau nhà mình đi thăm bà Nadya.

Alexander khoe:

- Tuần sau tao đi Liên Xô.

Thằng Achim Schliepner có vẻ không chú ý gì lắm.

- Liên Xô là nước lớn nhất thế giới đấy, Alexander lại nói.

Nhưng thằng Achim Schliepner lại nói:

- Nước Mỹ lớn hơn.

Lên đường. Toa xe màu lá cây. Toa giường nằm, dễ chịu như ngôi nhà trên bánh xe. Có thể uống cả trà nữa. Ly uống trà có hình điện Kremlin. Bay vòng quanh điện Kremlin là chiếc vệ tinh sputnik nhỏ tí ti.

Ở Brest, tàu hỏa đổi bánh xe. Đường ray ở Liên Xô rộng hơn.

- Mẹ ơi, Liên Xô là nước lớn nhất thế giới nhỉ.

- Đúng rồi.

Nó không nhớ gì, nhưng cái gì nó cũng biết. Thậm chí cả mùi xe taxi ở Moskva, vừa có mùi cao su cháy sém, vừa có mùi xăng. Cả thành phố Moskva hình như ám toàn mùi taxi.

Quảng trường Đỏ. Hàng người rồng rắn trước cửa Lăng.

- Không, con ạ; không kịp đâu.

Nhưng lại được ăn kem Eskimo. Mới lại sữa chua prostokvasha với đường.

Tàu điện ngầm. Đứng trước cầu thang cuốn nó hơi rờn rợn. Trước cửa quay còn kinh hơn.

Thêm ba ngày chạy trên tàu nữa. Đến Sverdlovsk[9] phải đổi tàu, chạy nửa ngày thì rốt cuộc cũng đến Slava.

Nhà ga nằm phía ngoài thành phố. Chiếc xe jeep đón mẹ con nó phải chạy vòng để tránh ổ gà trên đường. Không phải ổ gà thường, mà to, như miệng núi lửa.

Xóm dân cư. Hàng rào gỗ ván chạy dài. Nhà cửa cũng bằng gỗ; nhà nào nó cũng tưởng nhà bà ngoại Nadya.

Chú lái xe bóp còi, bà ngoại Nadya xuất hiện ở cửa.

- Sao bà lại khóc hả mẹ?

- Bà mừng nên bà khóc, mẹ nó đáp.

Ngôi nhà của bà khá nhỏ. Căn bếp, thêm một phòng nữa. Giữa nhà là cái lò sưởi. Bà ngoại ngủ trên lò, mẹ con nó ngủ giường.

Phía sau nhà là cái sân, có nhà tắm hơi nước và chuồng bò. Con chó khoang đen trắng bị xích ở sân là con Druzhba. Druzhba nghĩa là Hữu nghị. Hữu nghị sủa váng lên, xích kêu loảng xoảng. Bà quát nó:

- Hữu nghị! Im!

Trong chuồng bò là một con bò cái và một con lợn. Con bò màu nâu, tên là Marfa. Còn con lợn không có tên, chỉ gọi là lợn thôi. Cũng như ông Wilhelm chỉ là ông Wilhelm thôi.

Nó rất sợ con lợn. Lúc nào được thả ra là con lợn chạy tứ tung trong sân, kêu ầm lên. Con Hữu nghị cũng sợ lợn. Nhưng con Hữu nghị thì nó không sợ.

Không những thế, nó còn được dắt con Hữu nghị đi chơi. Nói cho đúng thì nó làm gì cũng được. Leo cả mái nhà. Đến như vũng nước nó cũng được lội. Chỉ không được vào rừng thôi.

- Cấm bước vào rừng nhé, bà dặn.

Vì trong rừng dễ bị lạc. Bị lạc thì chó sói ăn thịt.

- Rồi chỉ còn xương của cháu thôi, bà lại nói.

- Thôi mẹ đừng dọa cháu thế, mẹ nó can.

Tuy thế nó vẫn không được phép vào chơi trong rừng. Mẹ nó bảo:

- Vào đấy muỗi nó ăn thịt đấy.

Nhưng bị muỗi ăn thịt thì nó chẳng tin. Bị chó sói thì tin hơn.

Múc nước từ giếng lên rất hay. Bà ngoại Nadya đặt đòn gánh lên vai, bên trái bên phải, mỗi bên một thùng đựng nước, rồi hai bà cháu lên đường. Cái giếng không xa lắm. Treo thùng nước vào cái móc rồi thả ra là nó tự chạy xuống.

Alexander được phép giúp bà kéo thùng lên.

Mỗi tuần một lần có bán bánh mì. Hàng người xếp dài trước cửa hàng. Mỗi người được mua ba ổ. Alexander cũng được tính một suất. Ba người trong nhà được cả thảy chín ổ. Giá mỗi ổ là mười một cô-pếch. Ba ổ để ăn, sáu ổ còn lại cho bò. Nhúng nước cho mềm. Lúc ăn, con bò tóp tép rõ to. Khoái trá lắm.

Nhà bà có điện, nhưng không có khí đốt. Nấu gì bà cũng nấu trong cái ngách lò. Lúc nào pha trà thì bà bật ấm xa-mô-va lên. Lúc nào cũng trà đen, sáng, trưa, tối. Ấm xa-mô-va reo khe khẽ, còn bà ngoại chơi bài với nó.

Tối nào bác Pavel Avgustovich cũng ghé chơi, mặc com-lê, đeo cra-vat. Bác ấy lạ lắm, người gầy nhom, cổ lỗ, bác ấy hôn tay mẹ.

- Đúng là đáng xấu hổ, mẹ nói với bà. Gì thì anh ấy cũng tốt nghiệp nhạc viện.

- Thì biết làm sao được, bà đáp. Chúa đã định rồi.

Có hôm lại toàn các bà đến chơi, bà nào cũng choàng khăn trên đầu. Các bà hát với nhau đến tận đêm. Mới đầu hát bài vui nhộn. Ai nấy vỗ tay theo nhịp, có bà còn nhảy. Sau đến lượt hát các bài buồn. Các bà đều khóc. Cuối cùng các bà ôm nhau, người này lau nước mắt người kia.

- Tiếc thật, Alexander nói, nhà mình không ở chung một phòng.

Lại quay về nhà. Thứ Sáu xuống bà nội, nó có chuyện để kể.

- Cháu đi tàu mất năm ngày nhá!

- Hay nhỉ, bà nó nói. Nhưng có lẽ cháu để đến tối hẵng kể, cho ông Wilhelm cùng nghe. Ông cũng thích nghe những chuyện này lắm đấy.

Nó tỏ ra băn khoăn. Bà động viên nó:

- Bà cháu mình hẹn nhau thế này; bà sẽ gợi ý để cháu kể.

Gợi ý thế nào?

- Ví dụ nói về Liên Xô. Bà sẽ bảo, bà muốn sang Liên Xô nghỉ phép. Như thế là gợi ý để cháu kể chuyện Liên Xô.

Ông Wilhelm phết bơ lên khoanh bánh mì. Ông nói:

- Người da đỏ hiện nay là người nghèo khổ nhất. Bị áp bức, bị bóc lột, bị cướp đoạt đất đai.

Bà nói:

- Ở Liên Xô không có chuyện ai bị bóc lột hay bị áp bức

- Chuyện đó thì rõ rồi, ông Wilhelm nói.

Bà quay sang nhìn Alexander, rồi dài giọng nhắc lại:

- Ở Liên Xô không có chuyện ai bị bóc lột hay bị áp bức cả.

- À, phải rồi, cháu vừa đi Liên Xô về, ông Wilhelm sực nhớ ra. Kể xem nào!

Bỗng dưng Alexander quên tiệt hết cả.

- Thế nào, ông Wilhelm thúc, cháu không nói chuyện với người bình dân à?

- Ở chỗ bà ngoại Nadya, phải múc nước từ giếng lên.

Ông Wilhelm ho húng hắng.

- Thôi được, cứ cho là như thế. Lúc tôi với bà ở bên ấy, bà nhớ không, thậm chí ở Moskva cũng còn giếng. Ngay ở Moskva nhé, cháu tưởng tượng xem. Còn bây giờ thì sao? Cháu cũng đi qua Moskva, đúng không?

Alexander gật đầu.

- Thấy chưa, ông Wilhelm nói tiếp. Bao giờ cháu lớn lên thì không nơi nào ở Liên Xô phải dùng nước giếng nữa. Bao giờ cháu lớn như bố cháu bây giờ thì Liên Xô đã lên chủ nghĩa cộng sản từ lâu rồi - có khi khắp nơi trên thế giới rồi cũng nên.

Phải lấp hết giếng nước thì Alexander thấy cũng không hay lắm, nhưng nó không muốn làm ông Wilhelm buồn. Thành ra, nó lại nói:

- Liên Xô là nước lớn nhất thế giới.

Ông Wilhelm gật đầu, ra vẻ hài lòng và nhìn nó, như chờ nó kể chuyện tiếp. Cả bà cũng có vẻ chờ. Nó bèn nói thêm:

- Cơ mà thằng Achim Schliepner ngu lắm. Nó bảo nước Mỹ mới là nước lớn nhất.

- Thế à, ông Wilhelm nói to. Hay nhỉ.

Rồi quay sang phía bà, ông nói tiếp:

- Cái nhà Schliepner ấy, bầu cử cũng lại không đi đâu nhé. Nhưng rồi ta sẽ lôi cổ chúng nó đi thôi.

Đến nhà trẻ. Bây giờ nó đã lên nhóm lớn. Thằng Achim Schliepner chuyển đi nơi khác. Còn lại nó là đứa khôn nhất. Bằng chứng là:

- Tao đến Moskva rồi nhá.

Đến cả bà giáo Remschel cũng chưa đến đó nhá.

- Khi nào lớn, tao sẽ đi Mexico.

Bởi khi nào nó lớn thì khắp nơi đã là Komponismus[10]. Lúc ấy người da đỏ không còn bị bóc lột và áp bức nữa. Không ai phải hy sinh làm gì. Chỉ còn rắn đuôi chuông, chắc chắn thế. Và bọ cạp trong giày. Thế nhưng nó biết cách rồi: sáng sáng phải rũ giày cho kỹ. Có thế thôi; đấy là mẹo bà mách riêng cho nó.

Hôm nay Chủ nhật. Alexander đi ngoài đường với bố mẹ. Dọc phố Thälmann. Cây cối nhiều màu. Khắp nơi thoang thoảng mùi khói. Mọi người quét gom lá rụng thành đống nhỏ nhỏ rồi đốt. Ném quả dẻ vào lửa, lúc sau nó nổ đánh tách một cái.

Cả nhà đi ngay giữa lòng đường. Tay nắm tay, mẹ bên trái, bố bên phải. Alexander nói bố mẹ biết sự thể sẽ thế nào.

- Rồi con sẽ lớn nhá, còn bố mẹ thì nhỏ đi. Sau đến lượt bố mẹ lớn lại, còn con nhỏ đi. Cứ thế mãi.

- Không được, bố nó nói, không hẳn thế. Bố mẹ sẽ nhỏ lại chút ít, nhưng không trẻ lại. Bố mẹ sẽ già đi, rồi lúc nào đấy sẽ chết đi.

- Ai cũng chết à?

- Đúng rồi, Sasha ạ.

- Con cũng thế à?

- Ừ, cả con lúc nào đấy cũng sẽ chết, nhưng từ giờ đến lúc đó còn rất rất lâu, lâu vô cùng, con chưa cần nghĩ đến.

Đến lạ.

Vô cùng. Đằng xa kia, nơi mọi thứ mờ đi trong khói, nơi cây cối trông nhỏ dần, chắc là nơi vô cùng. Bố mẹ đang cùng đi với nó đến nơi ấy. Hơi lạnh mơn man gò má nó. Bước, bước mãi, nhẹ nhàng đến phát sợ, nhưng dường như vẫn không tiến được thêm chút nào.

Nếu nó có mỉm cười thì chỉ vì ngượng mà thôi: cái trò nó nghĩ ra khi nãy, lúc lớn lên lúc nhỏ lại, thật ngốc nghếch quá.

[1] Nguyên bản là lapotchka (tiếng Nga): bàn chân nhỏ.

[2] Alexander nhầm giữa “geboren” = đẻ/sinh ra, với “bohren” = khoan.

[3] Tiếng Tây Ban Nha: Anh bạn.

[4] Jorge Negrete (1911-1953), một trong những ca sĩ nổi tiếng nhất mọi thời ở Mexico.

[5] “Jorge Negrete”, Alexander lúc nhỏ tuổi, nghe ra thành “Goldene Gräte’, nghĩa là “xương cá (bằng) vàng”.

[6] Mexico thân yêu, nếu ta ngã xuống nơi xa, xin hãy nói họ hay ta chỉ nằm chợp mắt, thì may ra họ sẽ đưa ta về bên Người.

[7] Tiếng Tây Ban Nha: Hiểu không?

[8] “Kapitalismus” (chủ nghĩa tư bản), Alexander nghe nhầm thành “Kipitalismus”.

[9] Thành phố ở Đông Ukraina.

[10] Ông Wilhelm nói “Kommunismus” (chủ nghĩa cộng sản), Alexander nghe nhầm thành “Komponismus”.

Hoàng Đăng Lãnh dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.