Ngay đến lớp tuyết trắng, phủ từ nhiều ngày nay vì dân tình không kịp dọn, cũng không làm khu phố này dễ nhìn hơn chút nào. Hai dãy nhà cho thuê cao ngất ngưởng bên trái bên phải đường phố trông đến thảm hại. Mặt ngoài trát vữa của những ngôi nhà này, trừ nơi nào vỡ bục để nhe ra lớp gạch xây, đều đen sạm vì khói lò sưởi than. Ban công, cái nào cái nấy trông như thể sắp đổ rơi xuống đầu người qua lại đến nơi.
Gây đổ nát không cần súng đạn, ông chợt nhớ câu chuyện tiếu lâm bảo đấy là khẩu hiệu của các sở nhà đất địa phương.
Bên kia, ở quận Wedding[1], có thể thấy một loạt những ngôi nhà mới xây trông tinh tươm đẹp đẽ vươn lên. Không biết dân Tây Berlin sẽ nghĩ gì nhỉ, khi nhìn qua bức tường Đông Tây thấy cảnh tượng khốn khổ này?
Nhà số 16 trông như thể không có người ở. Địa chỉ sai à? Cánh cửa chính dẫn vào nhà để ngỏ. Ông Kurt bước vào khoảnh hành lang chính đã tàn tạ của ngôi nhà. Trên nóc còn sót lại ít phù điêu hoa đắp nổi. Cứ như cung điện của công chúa ngủ trong rừng.
Mấy tấm biển cũ kỹ, nào cấm thú nuôi, nào cấm chơi bóng, nào cấm để xe đạp.
Cánh nhà bên phải. Thùng thư treo lủng lẳng, nắp mở toang. Cánh cửa mở rộng, không đóng lại được do một lớp băng dày trên nền nhà bịt kín mất ngưỡng cửa. Ống dẫn nước vỡ, ông Kurt nghĩ bụng, câu nói cửa miệng của thiên hạ vào mùa đông này. Sau lần nhiệt độ đột ngột tụt mạnh xuống vào dịp cuối năm, ống dẫn nước khắp nơi trong thành phố thi nhau vỡ toác.
Ông Kurt dò dẫm đi trên nền nhà phủ băng, leo cầu thang, gõ vào cánh cửa bên phải. Ông thầm hy vọng sẽ không ai mở. Thì ông sẽ có cớ để nói, ông đã gắng tìm. Nhưng, nếu có nói vậy thì lợi lộc gì cơ chứ? Irina sẽ cuống cuồng đi báo cảnh sát, hay kinh khủng hơn, tự mò đến đây. Lạy Chúa! Bà ấy mà thấy những thứ này thì thôi, hết chuyện.
Có tiếng sột soạt. Tiếng chân bước. Cửa mở và Sasha hiện ra. Anh mặc một chiếc áo len màu xanh da trời gớm ghiếc, vá víu lộ liễu. Tóc cạo trọc như tóc phạm nhân. Trông anh gầy guộc, gương mặt có vẻ mềm yếu lạ lùng và ánh mắt nhìn - có vẻ ngơ ngơ dài dại thế nào đó.
- Bố vào đi, Sasha nói và làm một cử chỉ như thể anh đang mời bố vào một lâu đài vậy.
Ông Kurt bước vào căn hộ trống không. Chẳng thấy có đồ đạc gì - mà cũng chẳng có đồ đạc gì thật. Hành lang trống trải đến rợn người. Bếp không có lấy chút bàn ghế nào. Mọi thứ đồ dùng trong bếp đều nằm hỗn độn trên mặt bếp lò. Trong căn phòng chính, nền trơ trụi, không trải thảm, quét sơn đỏ. Một bóng đèn trần trụi không chao, treo lủng lẳng. Một cái tủ. Một tấm nệm giường. Một chiếc bàn học sinh, loại thường dùng trong trường học, quét sơn màu xanh lơ, trên đó để chiếc máy chữ.
Sasha chỉ vào chiếc ghế độc nhất kê trong phòng.
- Bố ngồi đi, anh nói. Bố uống trà nhé?
Ông Kurt vẫn đứng, nhìn quanh.
Gạt tàn thuốc đầy ắp nằm trên bậu cửa sổ. Sách xếp lổn ngổn dưới nền nhà.
- Con chưa kịp sắp xếp mọi thứ cho thật ổn, Sasha thanh minh.
- Thế à, ông Kurt nói.
Ông nhìn xuyên qua cánh cửa sổ băng đóng thành vân như hoa, thấy mấy cây dương trong sân sau, cành đen ngòm hướng lên trời.
- Anh ở đây có giấy phép, hay cái gì đại loại như thế không vậy?
Sasha cười, lắc đầu.
- Vậy làm sao vào được đây? Chìa khóa đâu ra thế?
- Con lắp ổ khóa mới.
- Tức anh định bảo anh phá cửa vào chiếm nhà ở đây.
- Bố ơi, cái xó này bị bỏ hoang từ lâu. Có ma nào ngó đến đây đâu.
Ông Kurt ngắm nghía cái lò sưởi ốp gạch men. Đằng sau cánh cửa lò bằng gang hé mở, một ngọn lửa nhỏ đang bập bùng. Bên cạnh lò, một thùng các-tông nhỏ đựng than đốt. Thế này là phạm quy định sử dụng đây, ông Kurt nghĩ thầm. Nhưng ông lại nói to:
- Thôi được rồi, đi ăn cái gì đi.
Trời đã tối hẳn. Chỉ khoảng một nửa số cột đèn vốn đã có từ trước chiến tranh là còn sáng. Một thùng rác cháy, bốc khói mù mịt.
- Chỗ này đẹp đây, ông Kurt nói.
- Vâng, Sasha đáp, khu đẹp nhất Berlin đấy.
Hai bố con đi nối đuôi nhau, bởi chỉ có một lối đi hẹp, do người đi đường giẫm lên lớp tuyết dày mà thành. Sasha đi trước. Anh khoác trên người cái áo khoác có mũ trùm đầu của lính, sờn rách và quá mỏng manh. Áo paca, hình như thiên hạ gọi loại áo này như thế.
- Thế cái áo lông cừu đâu? ông Kurt hỏi.
- Vẫn ở chỗ Melitta, Sasha lầu bầu.
- Vẫn ở chỗ Melitta, ông Kurt cũng lầu bầu.
- Bố bảo sao? Sasha hỏi gặng.
- Không sao, ông Kurt đáp.
Cuối cùng hai người cũng ra đến đại lộ Schonhauser. Giờ bố con đi cạnh nhau.
- Mẹ anh lo lắm đấy, ông Kurt khơi chuyện.
Sasha nhún vai:
- Con ổn mà.
- Thế thì bố cũng mừng, ông Kurt nói. Vậy chắc anh cũng có thể nói bố rõ xem có chuyện gì chứ.
- Có chuyện gì đâu ạ. Con vẫn đây, vẫn sống đây. Mọi sự đều tuyệt vời.
- Melitta bảo anh muốn xin ly dị.
- Bố mẹ đến chỗ Melitta à?
- Cô ấy đến thăm.
- Hay quá nhỉ, Sasha nói.
- Thế Melitta không được đến thăm bố mẹ à?
- Ơ kìa, sao lại không! Con còn mừng là đằng khác, vì tự dưng bố mẹ lại đâm ra thân thiện với cô ấy.
- Ít gì Melitta cũng là mẹ thằng cháu nội của bố mẹ, ông Kurt nói. Mà bố mẹ cũng có muốn như thế đâu. Đấy là anh muốn vậy, anh muốn lấy vợ. Anh muốn có đứa con. Hồi ấy bố mẹ đã chẳng khuyên...
- Đúng rồi, Sasha thản nhiên nói, hồi ấy bố mẹ khuyên bọn con bóp cho nó chết đi.
- Bố mẹ chỉ khuyên anh chớ vội vàng cưới vợ, cưới một người anh chưa biết gì nhiều. Bố mẹ chỉ khuyên anh chưa nên có con lúc anh mới có hai mươi hai tuổi...
- Okay, Sasha nói, nếu bố muốn nghe con thừa nhận như thế thì, vâng hồi ấy bố nói đúng. Chúc mừng bố dạo ấy nói đúng. Được chưa ạ?
Ở góc phố Gleim có quán Vineta. Ngoài cửa có treo tấm biển viết tay: “Đóng cửa vì lý do kỹ thuật”.
Cả hiệu ăn bên kia đường cũng đóng cửa nốt. “Nghỉ thứ Hai”.
Hai bố con đi tiếp về phía trung tâm. Xe cộ chạy ầm ầm thành từng đợt lướt qua. Ông Kurt đợi một lúc để khỏi hét lên, rồi ông cố khơi chuyện lần nữa:
- Nào phải chuyện ai đúng ai sai. Bố chẳng trách móc gì anh. Thế nhưng, gì thì gì anh cũng đã lấy vợ, anh cũng đã đẻ một đứa con, thì giờ đây anh cũng phải có chút trách nhiệm nào đó chứ. Anh không thể chỉ vì một khó khăn nào đấy mà vứt hết, rồi bỏ chạy. Vợ chồng là thế, là đôi lúc có chuyện này chuyện nọ.
- Vợ chồng con nào có chuyện gì đâu, Sasha chống chế.
- Thế hả, vậy thì chuyện gì? ông Kurt hỏi.
Sasha lặng thinh.
- Bố xin lỗi, nhưng bố nghĩ, bố mẹ cũng có quyền được biết xem có chuyện gì. Anh cứ thế là biến đi hàng tuần, chẳng tin tức gì... Lẽ nào anh không nghĩ ở nhà sẽ như thế nào ư? Bà Nadya khóc suốt ngày. Mẹ anh thì sắp phát điên đến nơi. Bố chẳng biết mấy tuần vừa rồi mẹ anh già đi thêm bao nhiêu.
- Thôi, con xin bố, bố đừng bắt con chịu thêm cả tội làm mẹ già đi đấy.
Ông Kurt đã định nói đôi lời bác lại, song Sasha không để ông kịp nói nữa. Anh nói toáng lên.
- Đáng tiếc là con không sống theo ý mẹ con muốn được. Con có quyền được sống cuộc sống của riêng con chứ, con có quyền được có chuyện vợ chồng thế này thế nọ chứ, con có quyền được đau đớn...
- Sao bảo vợ chồng anh không có chuyện gì?
Sasha không nói gì.
- Anh có cô nào khác hả?
- Con tưởng Melitta kể hết rồi.
- Melitta không kể gì cả.
- Không, chẳng có cô nào khác cả, Sasha đáp.
- Thế thì là chuyện gì?
Sasha cất tiếng cười.
- Thế nhỡ Melitta có anh nào khác thì sao? Cũng có thể như thế chứ! - Ở đây có gà nướng nguyên con này.
Hai bố con đang đứng trước cửa hàng Goldbroiler ở góc phố Mila. Ông Kurt đã chẳng thiết ăn gà nướng nguyên con, lại càng không thích ngồi dưới đèn nê-ông bên mấy cái bàn nhựa sprelacart[2]. Song, ông ngán nhất phải đứng xếp hàng giữa trời lạnh giá. Dân tình xếp hàng ra tận cửa kia thôi.
- Còn gì gần đây không?
- Bên kia là Cà phê thành Viên, Sasha đáp.
- Ở đấy có gì ăn không?
- Độc bánh ngọt thôi.
- Ở đâu đây chắc phải có cái gì ăn được chứ, ông Kurt càu nhàu.
- Thịt nướng Balkan, Sasha đáp và chỉ tay về hướng quảng trường Alex.
Hai bố con lại đi tiếp.
Gió thổi mạnh. Một đoàn tàu điện ngầm U-Bahn ầm ầm chạy qua. Ở đoạn này, tàu điện ngầm chạy lên cao, như tàu treo, trong khi tàu nhanh S-Bahn lại chạy xuyên phía dưới qua phố. Thế giới lộn ngược, ông Kurt nghĩ bụng.
Ông cố bình tâm, thử hình dung Melitta bỏ Sasha đi ngoại tình. Bảo rằng Sasha bội tình Melitta, thì chắc ông sẽ chẳng bất ngờ. Nhưng nếu ngược lại? Đó quả là điều đáng ngạc nhiên và, thật lòng mà nói, ông còn cảm thấy, vâng, ít nhiều hả dạ. Vâng, vợ chồng thời hiện đại! Vâng, bình với đẳng! Trong chuyện này, cứ kiểu vợ chồng cổ điển mà diễn, ông còn sướng bằng vạn.
Ông nói to:
- Bố hiểu, chuyện như thế chắc chắn làm con buồn.
- Bố hiểu thì hay rồi, Sasha đáp.
- Bố hiểu, ông Kurt nói tiếp, dù con có không tin hay không tin cũng vậy. Ít gì thì bố cũng có chút ít kinh nghiệm ở đời. Có điều bố không hiểu sao con lại chui vào cái xó ấy mà ở?
- Thế bố bảo con ra sở thú ở à?
- Vậy anh nói tôi biết, sao anh không ở trong căn hộ của anh.
- Thì con chả nói với bố rồi thôi. Vì Melitta ở đấy, với...
Sasha phẩy tay.
- Sao - hắn ta cũng ở đấy à?
Sasha không đáp.
- Nhưng anh không thể cứ thế là bỏ căn hộ được.
- Kìa bố, đằng nào thì tòa cũng chia căn hộ cho Melitta cơ mà.
- Thế nhưng anh sẽ mất quyền lợi của anh chứ.
- Bây giờ bố đang lo chuyện gì nào? Lo về căn hộ à?
- Xin lỗi nhá, ông Kurt nói. Cũng đáng lo chút ít về căn hộ đấy. Mẹ anh đã lo giúp vợ chồng anh căn hộ ấy, vì Melitta mang thai nên mẹ anh còn giúp anh dán giấy lên tường. Giờ anh bỏ mặc tất cả và mẹ anh lại chạy lo cho anh căn hộ khác hả.
- Bố thấy chưa, sự tình chính là đấy đấy! Sasha đứng dừng lại, nói gần như hét lên.
- Phải rồi, ông Kurt nói. Sự tình chính là đấy đấy.
Sasha lại phẩy tay, bỏ đi tiếp.
- Bố không hiểu sao anh lại không biết nghĩ gì cả thế, ông Kurt nói với theo.
Sasha vẫn chẳng nói chẳng rằng đi tiếp.
- Còn chuyện này bố nói để anh biết, nếu chuyện anh phá cửa để vào đấy mà lộ ra... Như thế là phạm pháp, anh biết chứ? Thì chuyện học hành đại học của anh cũng xong luôn.
- Chuyện đại học của con cũng coi như xong rồi, Sasha nói rồi mở cửa bước vào tiệm Thịt nướng Balkan.
Chẳng còn cách nào hơn, ông Kurt đành miễn cưỡng bước vào theo.
Trong tiệm, ngay sau cửa ra vào đã lố nhố mấy người đứng chờ đến lượt được xếp chỗ. Sasha cùng ông Kurt cũng đứng xếp vào hàng, để chờ. Tiệm ăn đúng là chật ních khách. Một gã chạy bàn béo mập, tóc đen - ông Kurt nghĩ ngay, tay này chắc người Bulgari - lăng xăng chạy đi chạy lại làm khung cảnh càng có vẻ chộn rộn. Gã mặc com-lê đen và chiếc áo sơ-mi trông không được sạch sẽ cho lắm. Cái bụng gã trồi lên bên trên thắt lưng, còn cái đầu có vẻ như sưng lên do quá căng thẳng.
- Cho hai xa-lát shopska, hai thịt rán kebab nhá, gã rống lên bằng giọng sệt Berlin về phía bếp.
Gã là người duy nhất ở đây tự cho phép gây ồn ào. Khách ăn hạ giọng nói chuyện có vẻ nhún nhường và chỉ lên tiếng rụt rè mỗi khi gọi thêm món. Ông Kurt chợt nghĩ đến lớp chỉnh huấn đảng hằng năm diễn ra chiều nay, một loại lớp học ngu xuẩn, gọi là hằng năm nhưng tháng nào cũng bắt con nhà người ta học. Đề tài nêu ra hôm nay là Lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của công tác tiếp tục xây dựng cộng đồng xã hội chủ nghĩa phát triển.
- Ông bà đợi ở đây bao lâu rồi ạ? Sasha hỏi hai người đứng trước anh trong hàng.
Đấy là hai người cỡ tuổi trung niên. Họ thoáng nhìn nhau, như thể để ngầm thỏa thuận câu trả lời mà người đàn ông sẽ chịu trách nhiệm phát ngôn, còn người đàn bà chỉ mấp máy môi đánh vần theo, đồng thanh, bằng giọng vùng Sachsen:
- Ba mươi phút rồi.
Hai người gật gật đầu.
- Ở đâu cũng đóng cửa, một người đàn ông khác chen vào, giọng Berlin. Do khủng hoảng năng lượng đấy. Còn có cái này mở là may rồi, ông ơi.
Cặp kia lại gật gật.
- Các vị biết chuyện tếu này chứ, ông người Berlin vì lý do gì đó chợt hứng lên thì thầm hỏi mọi người đứng quanh. Bốn kẻ thù chính của chủ nghĩa xã hội là gì, biết không?
Hai ông bà kia liếc nhanh nhìn nhau.
- Bốn mùa! Xuân-Hạ-Thu-Đông, ông kia nói, rồi khúc khích cười.
Cặp kia liếc nhìn nhau.
Sasha cười to.
Ông Kurt biết chuyện này rồi. Tay Gunther kể ông nghe trước phiên họp chi bộ hôm nay.
Mươi mười lăm phút sau hai bố con bỏ đi. Thôi thì ít nhất họ cũng sưởi ấm được chút đỉnh.
- Bên kia đường có cửa hàng Stockinger, Sasha nói. Nhưng đắt lắm.
- Ôi giời, cứ sang đi.
Hai bố con chuyển sang bên kia đại lộ Schõnhauser. Cửa hàng ăn Stockinger đúng là vẫn còn mở thật. Hơn nữa, một vài bàn vẫn còn trống. Thế nhưng, treo ngay ở cửa là tấm biển ghi:
XIN KHÁCH CHỜ XẾP CHỖ.
Một lát sau, một tay tiếp viên thắt nơ ở cổ hiện ra.
- Chúng tôi đi hai người, Sasha nói.
Tay tiếp viên nhìn Sasha từ đầu đến chân. Áo choàng vá víu, quần jean loang lổ, đôi giày thể thao xây xước và lấm bẩn.
- Hiện nay chỗ ngồi đều đặt trước hết rối, tay tiếp viên nói.
- Sao không thấy có biển ghi để trên bàn, hả anh? Sasha hỏi vặn.
- Tôi đã bảo chỗ ngồi đều đặt trước hết rồi mà lại. Các ông thử sang bên Thịt nướng Balkan xem sao.
Sasha không nói không rằng, cứ thế đi thẳng vào trong.
- Sasha, thôi, đừng làm thế, ông Kurt ngăn.
Tay tiếp viên chạy theo Sasha, toan nắm tay anh.
- Xin anh đừng động vào người tôi, Sasha nói to.
- Mời anh ra khỏi cửa hàng ngay, tay tiếp viên lên giọng.
Sasha ngồi xuống bên một bàn ăn còn để trống, tay vẫy vẫy gọi ông Kurt:
- Bố, vào đây bố.
Một tay tiếp viên thứ hai bước đến, lát sau, thêm tay thứ ba. Ông Kurt bỏ ra, đứng chờ ở ngoài. Một lúc sau Sasha cũng chạy ra.
- Sao lại thế, sao bố không vào trong ấy?
- Thôi, con ạ, bố không muốn có chuyện lôi thôi, ông Kurt nhăn nhó. Mình đi tìm chỗ khác.
- Ở đây chẳng tìm được gì nữa đâu. Quán Bắc Kinh là quán đồng tính. Dưới ga tàu điện ngầm, may có xúc xích luộc là cùng.
Hai bố con tiếp tục đi dọc theo phía trái đại lộ Schonhauser về phía quảng trường Alex. Ông Kurt đợi một lúc, trước khi đặt lại câu hỏi làm ông băn khoăn suốt từ nãy đến giờ.
- Này, anh bảo chuyện đại học của anh coi như xong nghĩa là sao?
- Có nghĩa là con không đi học nữa.
- Anh viết xong luận văn tốt nghiệp rồi à?
- Không, con không viết luận văn tốt nghiệp.
- Này, anh hóa điên rồi hay sao đấy?
Sasha không nói gì.
- Học sắp xong, sao anh lại quẳng hết đi. Không có bằng tốt nghiệp thì anh định làm gì? Ra công trường hay sao?
- Con không biết, Sasha đáp. Nhưng con biết con không muốn cái gì. Con không muốn suốt đời cứ phải nói dối.
- Vớ vẩn, ông Kurt đáp. Thế anh bảo cả đời tôi, tôi chỉ nói dối à?
Sasha lặng im.
- Chính anh, tự anh chọn môn anh học, ông Kurt tiếp. Không ai buộc anh học sử cả. Ngược lại...
- Vâng, bố ngăn con, con biết. Con làm gì bố chả ngăn. Bất cứ là cái gì! Con nên mừng bố không ngăn con tồn tại ở đời mới phải.
- Đừng ăn nói hồ đồ thế, ông Kurt gắt.
Song ý nghĩ ấy có vẻ làm Sasha khoái chí.
- Nhưng con vẫn sống đây này. Vẫn sờ sờ ra đây này.
Ông Kurt đứng dừng lại. Ông cố giữ giọng thật bình tĩnh.
- Anh nghe tôi nói đây, ít nhất anh hãy nghe tôi lấy một lần. Giờ anh đang lúc hoang mang. Đã lúc hoang mang thì đừng quyết định gì cả.
- Con hoàn toàn tỉnh táo đấy chứ, Sasha đáp. Con chưa bao giờ tỉnh táo như bây giờ.
Anh thở phì phì, nhìn bố chằm chằm. Lại ánh mắt ngơ ngơ dài dại ấy!
- Thôi được, ông Kurt nói. Tùy, anh muốn làm gì cứ việc. Nhưng rồi...
- Nhưng rồi sao ạ? Sasha hỏi gặng.
Ông Kurt chả biết nói thế nào hơn:
- Thì sẽ tiêu mọi chuyện chứ sao.
- Ô hô, Sasha kêu lên. Ô hô!
- Anh điên rồi, ông Kurt nói.
Lời ông nói chìm đi trong tiếng ồn của xe hơi chạy qua. Ông nhắc lại, hay đúng hơn là gào lên:
- Mày điên thật rồi!
- Bố, Sasha cũng rống lên, trỏ ngón tay vào ông Kurt, bố can con đừng học sử, nhưng chính bố lại là dân sử học! Vậy thì ai điên đây ạ?
- Thôi, thôi. Giờ anh lại định dạy tôi đấy. Như thế là hết chỗ nói rồi! Anh mà phải sống như tôi thì anh đã tiêu từ lâu!
- À, bây giờ sang chuyện đó, Sasha nói, giọng đột nhiên trở nên bình thản.
- Đúng rồi, bây giờ đến chuyện đó, ông Kurt hét. Và, mặc dù tiếng xe cộ chạy đã bớt ồn, ông vẫn hét to. Anh cứ như chuột sa chĩnh gạo! Mẹ anh lo nhà lo cửa cho anh, bố anh trả bảo hiểm xe hơi cho anh...
Sasha tháo một chiếc chìa khóa khỏi chùm rồi chìa ra trước mặt ông Kurt.
- Đây, con trả bố chìa khóa xe đây.
- Giời đất ạ, ở nơi khác người ta chết đói, chết khát.
Sasha ném chiếc chìa khóa xuống đất, quay người bỏ đi.
- Đúng thế đấy, ở nơi khác thiên hạ phải chịu đói, chịu khổ.
Gió thổi ào ào.
Một người đàn bà đi bộ về phía ông Kurt, lúc đến gần chị ta làm một vòng rộng tránh xa ông ra.
Lại một chuyến tàu điện ngầm chạy qua, về hướng quảng trường Alex. Hành khách trong các toa ngồi bất động - trông cứ như mấy hình nộm bằng bia. Đoàn tàu chạy dần dần từ trên cầu cao xuống, cứ thế từ từ biến mất vào lòng đất. Cùng tất tật số hình nộm kia. Xéo hết cả xuống mồ đi, ông Kurt thầm rủa, nhưng cũng không rõ rủa ai.
Chiếc chìa khóa Sasha vứt xuống dưới chân ông, giờ đã chìm biến vào trong tuyết. Ông Kurt lôi kính ra đeo. Lớp tuyết ố vàng, trông bẩn thỉu, khiến ông ngại thọc tay xuống. Ông lấy chân dò dò tìm chiếc chìa, nhưng không thấy. Rốt cuộc, ông vẫn đành thọc tay xuống mò mẫm tìm. Nhưng chìa khóa đã biến đâu mất. Cũng xuống nốt dưới mồ rồi chắc!
Ông Kurt lại đi tiếp, đuổi theo con trai. Ông đi nhanh, nhưng không chạy. Từ chỗ tàu điện ngầm chui xuống lòng đất trở đi, đại lộ Schonhauser biến thành một khu trơ trụi. Chẳng hàng quán gì. Không một khung cửa kính trưng bày hàng quảng cáo nào. Không một bóng khách bộ hành nào, trừ cái bóng gầy gò, trơ trọi của con trai ông, chừng năm sáu chục thước phía trước.
Cả ngoái lại nhìn nó cũng không, cứ thế lầm lũi đi.
Phía bên trái bây giờ là nghĩa địa Do Thái, đúng hơn là bức tường dài bao lấy khu nghĩa địa phía trong. Ông chưa vào đây bao giờ mà cũng chẳng bao giờ muốn vào. Thật tình mà nói, ông thấy ghê ghê các nghĩa địa. Điều đáng ngạc nhiên là ở đây chẳng khi nào thấy người ra vào. Kỳ quặc hơn nữa là tàu điện ngầm ở đây chạy sát sạt nghĩa địa, hẳn cũng là để đưa hành khách đi thử một chuyến xuống lòng đất, chắc chắn là ngang tầm mắt với người chết nằm đây.
Ông Kurt sực nhớ lời Melitta mới kể rằng gần đây, Sasha say sưa đọc Kinh Thánh. Cô ấy còn quả quyết, Sasha quay ra tin Chúa thế nào ấy nữa cơ...
Phải đấy là lý do vì sao trong mắt nó có vẻ gì ngơ ngơ dài dại không nhỉ?
Đối diện là khu nhà có cổng vòm kỳ quái đã bị hư hại. Ông Kurt hoàn toàn không biết xuất xứ lẫn mục đích của khu nhà này là gì, ông chỉ biết ở đâu đó đằng sau, trong sân sau của nó là nhà in báo Nước Đức mới. Và, cái sự thật là ở đó, thỉnh thoảng các ý nghĩ của ông lại tuồn qua một cái máy in nào đấy để lên mặt báo, làm ông vui vui, mặc dù các bài trên ND - mà phần lớn là do người ta mời ông viết nhân một dịp kỷ niệm nào đấy - chắc chắn không nằm trong số công trình khoa học sáng chói của ông.
Thì anh cứ đọc cho biết tôi đã viết thế nào nào.
Không được, vớ vẩn. Thử tìm cách nói khác xem sao.
Anh cứ đọc hết những thứ tôi viết đi đã, rồi hẵng phán gì thì phán.
Nghe được hơn. Phải nhớ lấy, có dịp sẽ nói.
Cột đèn ở phố Wilhelm Pieck[3] chuyển sang đỏ. Sasha dừng lại chờ. Kể cũng lạ là cu cậu vẫn tuân thủ luật giao thông.
Ông Kurt đuổi kịp Sasha trước lúc đèn chuyển sang xanh. Rồi hai bố con sánh vai đi qua đường. Ông Kurt thoáng nghĩ trong giây lát, chả biết có nên khơi chuyện “Chúa” ra không. Song, khơi ra làm gì? Vả lại, khơi thế nào bây giờ? Chả lẽ ông phải thật sự nghiêm túc hỏi Sasha xem cậu ta có tin Chúa không à? Riêng cái từ “Chúa”, nếu đúng là ông định hỏi về Chúa thật, nghe đã điên rồ rồi.
Hai bố con đi ngang nhà hát kịch nói Volksbuhne, sân khấu nhân dân. Ở đây đang diễn vở Thằng ngốc.
Họ lặng lẽ đi tiếp. Quảng trường Alex vẫn đang xây. Gió rít lên giữa các giàn giáo. Gọng kính của ông Kurt lạnh buốt, đến mức hai bên thái dương cũng đau nhức. Ông bỏ kính ra, kéo khăn quàng cổ lên kín mũi và bỗng lấy làm ngạc nhiên, làm sao mà hồi ấy ông lại chịu đựng nổi. Chưa đến ngưỡng ba mươi lăm độ âm thì họ vẫn còn phải ra ngoài trời, vào rừng taiga làm lao công.
Gió mà mạnh, thì chỉ âm ba mươi.
Hai người đã xuyên qua cái khe giữa tòa nhà khách sạn cao tầng và cửa hàng bách hóa Warenhaus rồi đi xéo qua quảng trường trống, mà ông Kurt vẫn chẳng biết sao lại đi như thế và đi đâu. Gió thổi xoáy, xốc từng cơn vào người vào mặt họ làm chảy cả nước mắt nước mũi. Ông Kurt lấy tay che mắt, gồng mình ngược gió, loạng choạng, mò mẫm tiến tới trên mặt đất gồ ghề đóng băng trơn. Ông chẳng biết con trai ông còn đi bên cạnh không, ông cũng chẳng ngoái nhìn về phía con ông, ông không nghe thấy gì sất, chỉ thấy cảm giác đau buốt bất chấp cả đôi găng tay lông cừu vẫn lan dần đến mấy đầu ngón tay, và ông tưởng tượng ra cảnh, lúc về đến nhà, ông sẽ phải thú nhận vừa để lạc Alexander ở ngoài quảng trường Alexander, đúng quảng trường trùng với tên nó, như thể trời đã định sẵn quảng trường này sẽ nuốt chửng con ông, như thể số phận đã chọn trước nơi đây làm nơi Sasha tan vào không trung hoặc chim xuống đất. Đầu óc đến vớ vẩn, ông Kurt nghĩ thầm. Chỉ sểnh một cái đã nảy bao nhiêu ý nghĩ thật điên rồ.
- Mình đi đâu thế này nhỉ? Sasha bỗng hỏi.
Hai bố con đang đứng dưới chân đồng hồ thế giới, ở New York là mười hai rưỡi, ở Rio - ba rưỡi. Xung quanh loáng thoáng vài bóng người co ro lạnh cóng đã bất chấp giá buốt hẹn hò nhau ở đây. Dân tình chả thích hẹn gặp nhau ở đây, bên đồng hồ thế giới này mà lại, làm như thể tại đây họ sẽ cảm nhận được chút gì đó của thế gian bao la rộng lớn ở ngoài kia.
- Xuống mồ, ông Kurt buột miệng.
- Đúng rồi, chỗ ấy đang mở cửa đấy. Bố con mình vào đấy, kẻo con cóng hết người đây này.
Ý Sasha nói là cửa hàng tự phục vụ ở tầng dưới nhà lầu Alexanderhaus. Ông Kurt đã từng đến đó một lần duy nhất. Mười năm trước, lúc mới khai trương, cửa hàng ăn này từng là cửa hàng sang trọng bậc nhất. Hiện giờ nó đã bị một lớp gỉ đồng nhầy mỡ và hôi hám phủ kín. Những bóng người tối tối tạt vào đây, sao trông mặt mũi ai nấy đều dữ dằn, thô thiển, và ông Kurt luôn có cảm giác họ tàn phế suốt cả lượt.
Khách khứa tự chọn lấy thức ăn từ một loạt máy tự động kê thành dãy. Trên mặt quầy có đặt nồi xúp thịt kho nóng, tám mươi nhăm xu một suất. Ông Kurt chẳng nghĩ ngợi lâu, múc ngay một bát tô. Từ ngày dạ dày bị cắt mất một phần, ông đã bỏ thói quen nếm xem món ăn có cay hay mặn quá không. Ông ăn tất và ăn thế nào cũng thấy ngon miệng. Sasha cũng chọn xúp thịt. Hai bố con cùng đến bên một chiếc bàn đứng, xúc xúp lên miệng. Ăn cũng được chứ không đến nỗi dở. Ông Kurt thấy khoan khoái trở lại ngay, nghĩ đi nghĩ lại xem có nên múc suất nữa không, nhưng rồi tự kiềm chế, nghe theo lời bác sĩ đã dặn ông, ăn mỗi bữa ít thôi, nhưng nhiều bữa.
Ăn xong món xúp thịt, hai bố con còn lưu lại một lúc bên bàn. Qua tấm cửa kính rộng ông Kurt dõi theo luồng xe chạy phía ngoài, bên mép quảng trường Alexander và trong đầu ông nảy ra ý nghĩ thật cám dỗ, lát nữa sẽ bắt taxi về nhà, hay ít nhất cũng đến Karshorst. Ông chợt nhớ ra số tiền đã đếm sẵn, nãy giờ vẫn nằm trong túi áo măng-tô. Ông lôi xấp giấy bạc ra, tất cả hai trăm mác, rồi toan đưa cho Sasha, khuất dưới gầm bàn.
- Còn cái này cho anh đây, ông nói.
- Con không cần đâu, Sasha đáp.
- Thôi, không phải thế! Cứ cầm lấy.
- Con có hết những thứ con cần mà, Sasha vẫn một mực.
Ông Kurt lưỡng lự, chả biết có nên cứ thế nhét xấp tiền xuống dưới bát xúp cho Sasha rồi bỏ đi không. Nhưng rồi ông lại nhét tiền vào túi.
Hai bố con chia tay trước cửa hàng ăn, ôm vai nhau như mọi khi rồi gật gật đầu tạm biệt. Đoạn, Sasha quay về theo đường lúc nãy họ vừa đi, còn ông Kurt đi về phía nhà ga. Đang leo cầu thang dẫn lên chỗ đợi tàu nhanh S-Bahn, ông chợt dừng lại, nghĩ bụng, ối giời, kệ, bắt taxi về đã chết ai. Ông quay người, theo cầu thang đi xuống.
Tại bãi đậu taxi cạnh nhà ga, đúng vẫn còn một chiếc đang chờ khách thật. Ông Kurt lên ngồi ghế sau. Xe Volga, rộng rãi, đệm ngồi êm và có mùi xe Nga như mọi loại xe Nga khác, một thứ mùi luôn làm ông ít nhiều liên tưởng đến Moskva. Loại xe taxi Pobeda hồi xưa cũng có mùi na ná thế này.
- Cho về Neuendorf, phố Am Fuchsbau số bảy, ông Kurt nói rồi chờ tài xế thế nào cũng hỏi lại. Về đâu cơ? Neuendorf là đâu thế? Fuchsbau nào nhỉ?
Nhưng không, anh tài lẳng lặng gập tờ báo đang đọc rồi nổ máy cho xe chạy.
Trong xe rất ấm. Ông Kurt bỏ áo măng-tô ra, lấy hai trăm mác trong túi áo (cầm số tiền trên tay lúc này, ông có cảm giác như mới nhặt được dọc đường) và cho lại vào ví... Không biết nói lại với Irina thế nào đây?
Chiếc xe Volga phóng dọc theo đại lộ Adlergestell với tốc độ hơi cao hơn được phép một chút. Ông Kurt điểm lại trong đầu các chi tiết diễn ra trong buổi chiều không vui vừa qua. Ông cân nhắc, liệu ông có thể giảm nhẹ hay bỏ qua chi tiết nào đặc biệt khó chịu mà vẫn không mang tiếng cố tình giấu nhẹm hay không. Ông như đang nghe thấy cái giọng cố ý nhẹ nhàng và gắng vẻ ôn tồn của chính mình khi kể lại mọi sự cho vợ nghe.
Ông hình dung ra khuôn mặt bà; hình dung ra màu son bôi môi của bà, thứ son vẫn để lại vết trên đầu lọc điếu thuốc bà hút ấy. Ông thấy rõ đôi môi vợ, đôi môi gần đây không được chăm chút lắm và vẫn giần giật run lên mỗi khi bà bắt đầu mở một tràng xỉ vả mới nhằm vào Melitta...
Ông Kurt tính nhanh trong đầu, nhờ đi taxi ông sẽ dư ra được khoảng một tiếng. Ông đi với Sasha bao lâu thì khó có ai dò cho đúng được. Bây giờ là bảy giờ tối... Thôi kệ, ông Kurt chậc lưỡi. Mẹ kiếp, kệ mẹ nó.
- Anh biết phố Garten ở Potsdam không? ông hỏi anh tài.
- Phố rẽ từ đại lộ Lenin vào, phải không ạ.
- Đúng rồi. Anh đưa tôi đến phố Garten.
- Không về Fuchsbau nữa ạ? tài xế hỏi lại.
- Thôi, ông Kurt đáp. Phố Garten, số hai bảy.
[1] Một quận ở Tây Berlin cũ, giáp Đông Berlin.
[2] Nhãn hiệu thời CHDC Đức của loại vật liệu chế tạo từ giấy bìa tẩm nhựa ép lại với nhau.
[3] Tên phố thời CHDC Đức; nay là phố Tor.