Thời Nắng Lịm

Lượt đọc: 134 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NĂM 2001

❊ ❊ ❊

Cái sân bay trông giống nhà trọ dành cho kẻ vô gia cư. La liệt túi ngủ. Người xếp hàng dài trước các quầy vé. Trên bảng hiệu nhấp nháy tin báo các chuyện bay bị hủy. Ở đây thiên hạ dường như ai nấy đều đọc độc một tờ báo ấy thì phải. Bức ảnh trang đầu chụp một chiếc máy bay đăm thẳng vào tòa nhà chọc trời. Hay đấy là máy bay không người lái nhỉ? Hay tên lửa?

Máy bay đi Mexico cũng bị trễ.

Alexander mua một cuốn hướng dẫn du lịch (loại Backpacker nổi tiếng, dùng cho khách du lịch bụi), một cuốn từ điển Đức-Tây Ban Nha cầm tay, chiếc gối đỡ cổ thổi hơi và một tờ báo tiếng Tây Ban Nha, để nhập hội. Một từ, không cần từ điển cũng hiểu, là terrorista[1].

Rốt cuộc, rồi cũng được làm thủ tục lên máy bay. Lúc máy bay lăn trên đường băng chuẩn bị cất cánh, mấy cô tiếp viên múa may chỉ dẫn các biện pháp an toàn. Các cô vừa múa vừa mỉm cười, nếu có thể gọi đấy là cười, một cách nhẫn nại. Alexander thử hình dung khuôn mặt họ sẽ thế nào khi máy bay bị rơi thật.

Ý nghĩ ngay lúc máy bay cất cánh: thì ra vẫn còn khá nhiều cách để từ giã cõi đời này. Chỉ nghĩ thế đã thấy yên lòng, kể cũng buồn cười.

Anh gắng ngồi thật thoải mái, kẹp giữa một ông béo quá cỡ cổ đeo dây chuyền vàng và một bà mẹ mặt mũi nhợt nhạt, cố giữ yên đứa con luôn mồm đòi uống Cola. Anh không đọc gì, cũng không định ngủ, mắt không rời màn hình nhỏ treo ngay trước mũi, chỉ đường máy bay đang bay, độ cao tăng và nhiệt độ giảm dần.

Anh nhận tất tật, những gì họ đưa cho anh, cà phê, tai nghe, tấm bịt mắt để ngủ, bữa trưa, đến cả món tráng miệng bí hiểm đựng trong hộp nhựa anh cũng xơi trọn.

Khoảng hai ba giờ sau thì có chiếu phim. Một bộ phim hành động xoàng xĩnh nào đấy. Người đấm người, giẫm đạp nhau, ồn ào, đến mức anh còn nghe thấy qua cả tai nghe người ngồi cạnh. Thật ra, chẳng có gì đặc biệt, nhưng tự dưng anh không chịu được. Sao lại chiếu những thứ như thế? Để xem người hành hạ người thế nào sao?

Anh lấy tấm bịt mắt đeo lên, nhét tai nghe vào tai rồi dò suốt một lượt các chương trình.

Nhạc Händel. Một bản aria nào đấy trong số các bài nổi tiếng: dè dặt và u sầu đến đáng ngại. Anh rón rén nghe, sẵn sàng tắt máy bất cứ lúc nào, đề phòng lời ca chạm quá sâu vào lòng anh.

Nhưng không, chẳng có chuyện gì. Anh ngả lưng, thả hồn theo lời ca tiếng nhạc thần tiên - không, cũng chẳng thần chẳng tiên gì, mà ngược lại. Khác hẳn nhạc của Bach: đầy vẻ hạ giới, vẻ trần gian. Trần gian đến mức xót xa. Anh chợt hiểu, đây là nỗi đau vĩnh biệt. Nhìn cuộc đời, với con mắt kẻ từng trải, biết rõ đời rồi sẽ lụi tàn. Không biết lúc sáng tác bài ca tài tình này Händel bao nhiêu tuổi? Không biết thì hay hơn.

Không rõ thằng cha này đã tốn bao nhiêu thời gian để viết. Mà sao mọi sự lại nhẹ nhàng thế, rành mạch thế.

Ý nghĩ đó làm anh chợt nhớ đến vở kịch cuối cùng anh dựng ở K. Thì rồi, nếu muốn anh cũng có thể tự an ủi rằng lời phê tiếng bình không đến nỗi ghê gớm như anh ngại lúc đầu. Anh nhớ hôm khai trương anh đã ngồi bệt trên bậc thang thế nào, đã ngồi chết lặng nhìn đám diễn viên uốn éo, hò hét thủ vai ra sao. Phông màn rắc rối, lòe loẹt. Hệ thống đèn chiếu rối rắm (còn mua thêm cả chiếc đèn pha đắt kinh người)... Bề bộn quá. Nhọc nhằn quá. Rắc rối quá.

Có phải đấy không nhỉ? Nỗi nhọc nhằn, sự rắm rối ấy. Có phải đấy mới là căn bệnh ung thư của anh?

U lympho không Hodgkin... Rồi lão ta giảng giải cho anh về căn bệnh, miễn cưỡng ngật ngà ngật ngưỡng trên chiếc ghế xoay, tay mân mê chiếc thước kẻ bằng nhựa. Có đúng tay lão cầm thước kẻ không nhỉ? Lúc giải thích gì đó cho anh về tế bào T, là thứ sẽ làm anh chết dần chết mòn ấy, có phải lão cứ vẽ những quả cầu ngộ nghĩnh vào không trung không?

Chuyện ngược đời là ở chỗ, loại tế bào này vốn là tế bào kháng bệnh. Cứ theo như Alexander hiểu, thì tế bào hệ miễn dịch, vốn giữ vai trò chống đối các tế bào lạ xâm nhập, nay lại biến thành những tế bào độc hại khổng lồ.

Đêm hôm trước, đêm trước buổi chẩn bệnh, sau khi anh đã thao thức, nằm chong mắt hàng giờ và gần phát điên phát cuồng vì tiếng lạch xạch phát ra từ chiếc máy thở ôxy của ông già nằm giường bên cạnh, một thứ tiếng lạch xạch lì lợm xuyên qua cả núm bông bịt tai, vào khoảng ba giờ sáng, sau khi hết câu hỏi này đến câu hỏi khác, hết tình huống này đến tình huống khác đã đảo qua đảo lại trong đầu, anh vùng dậy, lần ra hành lang đứng trước tấm sơ đồ giải phẫu người để hoài công định vị xem căn bệnh mình nằm đâu... thì bỗng dưng trong đầu anh nảy ra ý nghĩ, dù nó là cái gì, dù nó nằm ở đâu thì người ta cũng sẽ cắt bỏ nó đi, và anh sẽ vật lộn, để sống ở đời này. Nói đến vật lộn, anh hình dung cảnh mình chạy vòng trong vườn hoa Humboldthain, chạy để sống, anh nghĩ bụng, chạy để rũ hết bệnh tật, chạy đến lúc không còn lại cái gì của anh sất, ngoại trừ cái lõi, cái bản chất của anh, chạy đến lúc giữa da với gân không còn dư chỗ nào cho thứ mô độc địa nọ...

Nhưng tuyệt nhiên không có gì để cắt bỏ, để định vị cả. Nó bắt nguồn từ chính anh, từ hệ miễn dịch của anh. Không, nó vốn là hệ miễn dịch trong người anh. Chính anh, chính anh là căn bệnh của mình.

Giọng lão bác sĩ trong tai anh vẫn đang mô tả cái gì đó cong cong. Tâng tâng, quạc quạc, cười cười...

Anh bỏ tấm bịt mắt, ngó quanh xem có ai thấy anh đỏ mặt không... Nhưng chẳng ai để ý đến anh. Ông béo cổ đeo dây chuyền vàng dán mắt vào màn hình trước mặt (dù sao ông ta cũng đã tìm được cách để không bị ung thư). Bà mẹ mặt mũi nhợt nhạt đang gắng ngủ, còn độc đứa trẻ là trân trân nhìn anh bằng cặp mắt sáng màu Cola.

Sân bay Mexico. Nóng như lò sấy hơi. Vừa đặt chân vào thành phố (mà đồng thời cũng là đặt chân lên một đất nước, lên một lục địa) anh thoáng nghĩ, ở đây không có mùi phân đạm như trong nhà kính của bà nội anh.

Anh bắt taxi. Tay lái xe chạy như chú heo con bị thui, ngồi nghiêng nghiêng trên ghế, ngả gần nửa người qua cửa xe. Chạy như trên cầu trượt hình số tám. Alexander ngồi ngả người ra sau. Chiếc xe phóng như bay trên đại lộ nhiều luồng, lái xe quay tay lái liên tục, chạy vòng vòng như bị sai đường, lách bạt mạng qua khe hẹp giữa các xe chạy trên đường. Xe cộ gào rống ầm ầm. Rẽ ngoặt sang phải, vào một đường phố hẹp, bên trái, bên phải toàn người là người. Đèn đỏ, nhưng tay lái xe không dừng lại. Và, đến lúc này mới thấy gã quay đầu nhìn bên này bên kia để trông chừng.

Khách sạn Borges, theo gợi ý từ cuốn hướng dẫn du lịch Backpacker, nằm ở Centro histórico[2], 35 đô-la một đêm. Tại quầy lễ tân, gã trai mặt búng ra sữa mặc com-lê màu xanh giảng giải gì đó anh không hiểu. El quinto piso, thì anh hiểu, có nghĩa là tầng năm. Căn phòng khá rộng. Bàn ghế sơn màu booc-đô, cũng không đến nỗi kệch cỡm lắm. Alexander buông người xuống giường. Làm gì bây giờ nhỉ?

Anh xuống gác, bước ra đường. Hòa mình cùng thiên hạ. Lúc này là tám giờ tối. Phố xá đầy người; anh bơi giữa đám đông, thở hơi thở người khác. Mấy viên cảnh sát người nhỏ thó thổi còi liên tục; mặc dù trời nóng nực họ vẫn mặc áo chống đạn dày cộp. Lúc bị thụt chân xuống một hố trũng rộng như miệng cống trên đường, anh ngã xô vào đám người đi ngược về phía anh. Mọi người vừa cười vừa đỡ anh, tay người Âu to lớn, vụng về này. Rồi anh lọt vào giữa một công viên. Người ta chào bán đủ thứ. Thịt lẫn rau trong những cái chảo to tướng. Chăn màn, đồ trang sức, máy điện thoại cũ, lưỡi cưa vòng, đồng hồ báo thức, bóng bì heo. Những thứ anh không biết là thứ gì, hay đúng hơn là thứ gì cũng có, mũ kết từ lông chim, hình nộm người, các loại đèn, thánh giá, bộ loa âm thanh nổi, các loại mũ...

Alexander mua một chiếc mũ. Anh biết mà, từ lâu anh đã muốn mua mũ để đội, nhưng chưa có cớ. Bây giờ thì anh có cớ để mua. Ở Mexico ai cũng đội mũ, để che nắng. Nhưng anh chẳng nói vậy. Anh mua chiếc mũ, vì thấy nó hay hay. Anh mua chiếc mũ để phá lệ anh buộc phải học từ xưa. Anh mua chiếc mũ, để khác với bố anh. Anh mua chiếc mũ để đảo ngược cả cuộc đời anh, vốn không đội mũ bao giờ. Tại sao nhỉ? Mọi thứ đều đơn giản thế này kia mà! Anh thấy buồn cười. Thậm chí anh cười thật. Không, dĩ nhiên không cười to, chỉ cười mỉm thôi. Anh thả mình theo dòng người. Giờ anh thuộc hẳn vào đám đông. Đầu đội mũ, anh là một người trong số họ. Bỗng dưng anh nói được tiếng Tây Ban Nha. Cái này giá bao nhiêu... Tôi muốn... Taco, tortilla?... Gracias, Señor... Señor! Anh cúi người kiểu cách, như người ta vẫn làm mỗi khi nhận bằng hay danh hiệu danh dự gì đó. Bà già bán hàng cười khúc khích, hàm răng còn độc một chiếc. Alexander đi tiếp. Lại ăn tortilla. Lại đi, lại dừng. Lại xe cộ. Lại gặp một đám cảnh sát người nhỏ con, thổi còi inh ỏi, trông có vẻ vô nghĩa; nhưng anh chợt hiểu: họ chỉ thổi thế thôi, chẳng có ý gì hơn. Như chim vậy. Chim thì tất phải hót vậy. Đến lạ! Họ hoa chân múa tay, vô nghĩa, vô lý, trong khi xe cộ vẫn tự vận hành theo một quy luật tự nhiên nào đấy.

Tiếng nhạc từ đâu đó vọng đến. Không phải còi, nhạc hẳn hoi. Nghe chưa rõ lắm, văng vẳng, lúc tiếng vĩ cầm, lúc tiếng kèn trumpet. Vĩ cầm với kèn trumpet! Cách phối nhạc điển hình ở Mexico, như anh từng nghe qua mấy đĩa nhạc bằng nhựa của bà nội Charlotte. Anh dấn bước, mỗi lúc một hồi hộp. Bây giờ thì nghe như thể một dàn giao hưởng khổng lồ nào đó đang thử dây đàn, các ca sĩ như đang thay nhau thử giọng. Có chuyện gì thế nhỉ? Alexander đang đứng giữa một quảng trường sáng trưng đèn điện. Anh không tin vào mắt mình nữa: quảng trường đầy người với người, hàng trăm nhạc công, lập thành nhiều ban nhạc lớn nhỏ mặc đồng phục, ban lớn chục người, ban nhỏ hai ba người, kẻ đội mũ sombrero rộng vành, kẻ đội mũ rơm mỏng, người này trang sức bằng dải đăng-ten bạc, hay bằng vạt áo gắn khuy cúc vàng, người kia đeo cầu vai có tua rủ, màu hồng, màu trắng hay xanh nước biển. Và tất cả đều chơi nhạc! Đồng thời! Thật khó hiểu! Thình lình xuất hiện ở đây như đám sâu bọ lạ lùng. Phải chăng đây là cuộc diễu hành rước thánh? Hay một cuộc bãi công? Hay họ đang hát hò chống ngày tận thế? Phải chăng đây là nơi duy nhất tiếng hát họ vọng được đến tai chúa?

Alexander như bị mê hoặc, lần từ nhóm nhạc công này đến nhóm nhạc công khác, dỏng tai nghe tìm tiếng nhạc của anh: Phía sau... Không phải. Đây rồi... nghe giống lắm. Suýt nữa anh vấp phải một trong số các ca sĩ. Anh ta mặc com-lê màu xanh, áo sơ mi trắng tinh bên trong, tóc đen, cổ thắt chiếc nơ to đùng.

- México lindo, Alexander nói.

Anh ca sĩ nói: Sí!

- Jorge Negrete, Alexcander lại nói.

Anh ca sĩ lại nói: Sí!

Mấy nhạc công đứng gần rít nốt hơi thuốc lá, bỏ chai rượu trên tay xuống, xốc quần lên, sửa mũ sombrero cho ngay ngắn; và bỗng nhiên, tiếng nhạc từ đĩa nhạc cũ kỹ của bà nội anh vang lên: Rum-tata-rum-tata... Voz de laguitarra mía... al despertar la mañana...

Alexander trân trân nhìn chàng ca sĩ, nghi hoặc. Chiếc nơ ngộ nghĩnh, mái tóc đen bóng, hàm răng trắng lấp lánh dưới bộ ria mép và những lời ca đúng như những lời từng cất lên từ chiếc đĩa nhạc ngàn năm trước đã vỡ tan thành hàng ngàn mảnh vụn ấy...

Tất nhiên mọi thứ đó đều không thực. Chắc chỉ là ảo tưởng mà thôi. Một trò bịp bợm gì đó.

México Undo y querido

si muero lejos de ti

que digan que estoy dormido

y que me traigan aquí

Bài ca kết thúc. Nước mắt lăn trên gò má anh. Mấy nhạc công cười, anh ca sĩ cất tiếng hỏi:

- Americano?

- Alemán, Alexander khẽ đáp.

- Alemán, anh ca sĩ nhắc lại, nhắc to, cho mấy người kia cùng nghe thấy.

- Ah, Alemán, họ đồng thanh.

Và, họ không cười nữa. Ai nấy gật gật đầu, vẻ kính nể, như thể anh đã cuốc bộ từ Đức đến tận đây vậy. Anh ca sĩ đập vai anh, nói:

- Hombre.

Alexander bỏ đi. Mấy nhạc công vẫy vẫy tay theo.

Anh bước chầm chậm. Anh cất tiếng hát. Giờ chỉ còn ít người đi lại trên phố. Anh mua một chai bia. Nước mắt trên má anh đã khô tự lúc nào. Anh hít sâu bầu không khí ban đêm giờ đã trở lạnh. Có lẽ chỉ vì không còn đám đóng nữa? Không còn nghe tiếng còi. Trời đêm không một vì sao. Anh đang ở Mexico. Bao nhiêu năm anh đinh ninh mình sẽ không bao giờ, không một lần trong đời đặt chân lên đất này nhỉ? Thế mà giờ anh đang ở đây, đang bước đi trong thành phố này. Tất tật đều là bịp bợm. Bức tường ấy. Ưng thư. Ai bảo mình bị ung thư chứ? Nghĩ lại, tự dưng anh có cảm giác mọi thứ đều điên rồ thế nào đó. Lời chẩn bệnh, chỉ là một lời nói khống. Bệnh viện, chỉ là một bộ máy điên khùng nhằm đặt ra đủ thứ tên bệnh. Đó là thứ bệnh gì mới được chứ? Một chỉ số pH nào đó, một thứ của khỉ nào đó. Tốt nhất là bỏ đi, dứt khỏi thế giới bệnh hoạn, thế giới sinh bệnh gây hoạn ấy...

Ta đây. Ta chào mi, thành phố mênh mông này. Ta chào bầu trời, ta chào cây cối, chào các ổ gà trên đường phố rải nhựa ở đây. Ta chào các bà các cô bán bánh bột ngô cùng các nhạc công. Ta chào tất cả các người, những người đã chờ đợi ta. Ta đây, ta đã sắm một chiếc mũ. Đây là khởi đầu vậy.

Lẽ ra anh phải cho tiền các nhạc công mới phải?

Đấy là ý nghĩ duy nhất khiến lòng anh ít nhiều không yên lúc mơ màng ngủ thiếp đi.

Sáng hôm sau, tiếng chó sủa làm anh thức giấc. Chó ở đâu nhỉ? Anh ngó qua cửa sổ nhìn ra ngoài. Đúng thật, trên nóc nhà bên cạnh có hai con chó lai, một con lòng xù, một con trụi. Chúng nó canh giữ gì ở đó nhỉ? Ống khói ư? Hay mái nhà?

Mới năm rưỡi sáng. Dậy bây giờ thì sớm quá (mặc dù lúc này bên Đức, anh nhẩm tính, mười hai rưỡi trưa rồi đây). Anh kéo chăn kín đầu. Không ăn thua. Cửa sổ một lớp kính, không ngăn nổi từng hồi tiếng chó sủa. Tiếng hú, sau đó đến tiếng sủa. Con này hú, con kia sủa. Hú trước, sủa họa theo: Hu hu - gâu gâu.

Anh nhổm dậy, xem con nào hú, con nào sủa. Con hú lông xù, con sủa trụi lông.

Ngưng một lúc. Đến anh bây giờ cũng chờ: Hu hu - tiếng gâu gâu đâu, sao không thấy?

Anh chợt nhớ ra nút tai Ohropax. Anh vẫn còn Ohropax trong túi, của Marion, dạo ấy Marion mang nút tai đến bệnh viện cho anh. Thứ nút tai Ohropax chế từ chất dẻo, thứ của nợ hợp thời trang ấy. Nhưng cũng hơn là không có.

Lúc nằm lại xuống giường anh sực nhớ. Marion! Anh quên không điện cho cô. Không phải quên, anh không kịp nữa... Miếng Ohropax két két trong tai, đầy trách móc. Thứ chất dẻo nở dần ra, muốn tuột khỏi lỗ tai... Rồi anh sẽ viết thư cho cô, anh tự nhủ. Marion yêu quý, anh sẽ mở đầu như thế, chắc em sẽ ngạc nhiên... Anh đang ở Mexico, bởi vì... Vì làm sao? Vì anh đang lần theo dấu vết bà nội... Chà, nghe đến là tuyệt... Marion yêu quý... Rồi giải thích cho cô ấy thế nào về việc anh không gọi điện?

Marion yêu quý, anh không cắt nghĩa được gì sất. Bỗng dưng anh đang ở Mexico. May mà anh có nút tai Ohropax, ở đây có chó trên nóc nhà... Nhưng thật tình, cứ ken két trong tai. Lần sau, nếu được thì anh xin... Hay là thuốc ngủ. Mà là thuốc ngủ cho chó... Hu hu... Con nào đấy nhỉ? Một con hú, con kia giờ nghe rất khẽ. Em nghe thấy không? Nghe xa xa, đằng sau tiếng ken két... Hu hu... Tiếng gâu gâu đâu rồi...

Anh tỉnh ngủ. Nắng chói lọi trong phòng. Vừa đúng tám giờ. Anh trở dậy, tắm rửa. Tự ngắm mình một lúc trong gương, ngần ngừ xem có cần cạo râu không. Đội mũ lên đầu. Anh thấy ai vậy?

Chà, còn ai nữa mới được chứ: một gã đàn ông đội mũ. Bốn bảy tuổi. Mặt mũi nhợt nhạt, râu ria lởm chởm.

Trông anh già hơn tuổi.

Trông dữ dằn hơn chính anh.

Bước đầu, thế là đủ cái đã.

Anh thấy phòng điểm tâm của khách sạn quá sạch sẽ tinh tươm. Tây quá. Anh sang ăn sáng ở quán cà phê đối diện. Một quán cổ, mang vẻ quán cà phê thành Viên, chỉ lạ một điều là mấy chiếc đèn ống trần trùi trụi, chiếu sáng trưng mọi thứ xung quanh. Cô bán hàng người da đỏ trông vàng khè dưới ánh đèn. Anh gọi bữa điểm tâm kiểu Mexico. Người ta dọn cho anh thức gì đó là lạ: sền sệt, đo đỏ trộn xanh lá cây. Cà phê tuy chỉ rót từ một chiếc bình nhôm xoàng xĩnh ra mà lại rất được, đặc quánh, phải pha thêm sữa mới uống được.

Sau đó là đến Mexico City giữa lúc ban ngày. Hồi trước anh cứ hình dung thành phố sặc sỡ lắm. Nhưng khu vực gọi là phố cổ lại xám xịt. Trông chẳng khác một thành phố cỡ lớn nào đó ở miền Nam Tây Ban Nha là mấy, chỉ có điều nhà cửa ở đây xiêu vẹo. Như anh đọc trong sách hướng dẫn du lịch Backpacker thì nền đất ẩm ướt ở đây đã từng làm cả dân Aztek hồi xưa cũng phải điêu đứng.

Ngoài ra, qua sách anh còn biết người Mexico không gọi thành phố này là Mexico City, mà gọi là DF - tức là Distrito Federal.

Anh cũng biết thêm về các ban nhạc mariachi trên quảng trường Plaza Garibaldi, họ sẵn sàng chơi một bản nhạc cho bất kỳ ai muốn nghe. Quảng trường này nghe đâu rất ưa dân du lịch. Giá cả, cũng vì thế mà cao một cách tương xứng vậy.

Trên quảng trường Zócalo người ta đang dựng tạm một cái hội trường rất lớn, lớn đến mức chắc ai cũng phải lo đoàn Holiday on Ice sắp đến dừng chân diễn ở đây. Anh vào thăm Catedral Metropolitana, thánh đường mà sách Backpacker giới thiệu là kiệt tác của kiến trúc ba rốc ở Mexico; anh lững thững lê chân qua gian nhà thờ hoành tráng, để rồi ngơ ngác đứng ngắm nhìn vẻ sặc sỡ đến trơ trẽn của ban thờ cao đến hai chục thước và dát vàng hết lớp này đến lớp khác đặt ở đó.

Bên cạnh thánh đường là Templo Mayor, ngôi đền lớn nhất trong thành phố xưa của người Aztek, hay nói đúng hơn là vết tích đáng thương của ngôi đền ấy. Bị hủy hoại, bị cướp phá, bị san bằng, ngôi đền cũng là bằng chứng của cuộc tranh chấp giữa hai nền văn minh, nền văn minh Cơ Đốc giáo chủ hòa với nền văn minh Aztek khát máu, một nền văn minh đã bị một Hernán Cortés[3], chỉ với hơn hai trăm lính (và, tất nhiên rồi, bằng kế liên minh khôn khéo) tiêu diệt hoàn toàn trong vòng vài tháng. Đứng từ đống đổ nát của ngôi đền có thể nhìn thấy lưng sau của thánh đường, và nhận ra mặt sau ấy được xây chính từ những mảnh đá lấy từ ngôi đền này vậy.

Bên mép quảng trường có thể thấy một người đàn ông da đỏ đội mũ lông chim đồ sộ. Miệng lầm rầm, tay ông huơ huơ hương trầm làm mê hoặc hai người bản xứ ngồi lọt giữa vòng tròn phấn trước mặt ông. Khoảng một hai chục người, già, trẻ, riêng rẽ hay cặp đôi đứng xếp hàng chờ. Không tính chiếc khố mỏng thì người đàn ông ở trần hoàn toàn. Ông ta lùn tịt, béo ị, cặp môi tím bầm.

Trong một ngõ hẻm anh bắt gặp bốn đứa trẻ. Bọn nó chơi nhạc. Đúng ra là ba đứa chơi, một đứa thổi kèn klarinette, hai đứa vụng về gõ trống và một bé gái nhỏ nhắn mặc quần hơi cộc đi vòng quanh, ngả mũ xin tiền khách bộ hành. Con bé chắc chưa đến năm tuổi, ánh mắt nó đầy vẻ hoang mang, dè dặt. Alexander đưa nó vài peso. Anh đắn đo, không biết có nên đưa nó đúng khoản tiền anh cho là đã nợ mấy nhạc công ở quảng trường Garibaldi hay không. Rồi lại thôi. Anh e bị chê cười. Nhưng ai chê mới được chứ?

Anh xuống tàu điện ngầm đến ga Insurgentes. Người bán rong lên lên xuống xuống, rao bán những chiếc CD ghi thứ nhạc ghê người, phát ra từ máy quay chạy pin họ mang theo. Alexander thấy bực mình, vì đã không cho mấy đứa trẻ thêm chút tiền nữa.

Giờ anh lại leo lên mặt đất, Đại lộ Nghĩa quân - Avenida de los Insurgentes. Đây là một đường phố thường, bình dân, bẩn thỉu, bụi bặm hơn khu trung tâm, nhưng cũng không như trong tưởng tượng trước đây của anh về Mexico City. Người đông, xe cộ rầm rầm. Nằm giữa hai luồng đường ngược xuôi là dải đất hẹp chưa đầy một thước, hàng cây con cằn cỗi mọc trên đó không rõ bằng cách nào mà sống sót. Nhà cửa hai bên hè phố là những bản sao vụng về các kiểu kiến trúc khác nhau, từng được các chủ nhân kiêu hãnh dựng lên từ một dạo xa xưa nào đó, nay bị bỏ hoang, dầm mưa dãi nắng, tróc sơn, phai màu, tường nhà gắn nhan nhản biển quảng cáo. Trên các mái nhà người ta dựng nhiều khung màn hình to tướng quảng cáo những mặt hàng giá 99 peso.

Anh đi dọc phố Insurgentes về phía Nam. Địa chỉ anh tìm đã vượt ra ngoài phần bản đồ in trong quyển Backpacker. Nhưng anh đã ngắm trước đường đi trên tấm bản đồ thành phố treo ở khách sạn. Anh bước chẳng nhanh lắm, cũng không quá chậm, qua những quán rượu, hàng ăn vừa mở lại sau giờ nghỉ trưa. Anh rảo qua các hàng tạp hóa, các hiệu ảnh, các vũng nước thải và công trường, xe máy hỏng, xe đạp gãy, đường ống bục. Thật ra, cái gì cũng hư, cũng hỏng.

Anh mua một chiếc bánh taco hay tortilla, hay bánh gì đó chẳng rõ, tại một quầy bán bánh rong, mặc dù anh đã đọc trong quyển Backpacker rằng không nên ăn quà vặt dọc đường. Anh kệ, vẫn ăn, nhưng chiếc bánh taco hay tortilla, hay bánh gì đó không rõ ấy bỗng có vị rất đáng ngờ. Ăn chưa hết nửa, anh đã quẳng đi. Khát nước, anh ghé vào một quán ăn xây theo kiểu McDonald’s mua một ổ burger và một cốc Cola. Bàn ghế bằng nhựa, cái nào cũng hỏng, xiêu vẹo, nứt nẻ. Một chiếc máy chơi game tự động kêu vo vo. Hai cậu thiếu niên bước vào, mặc áo phông có mũ trùm đầu, quần jean cạp trễ. Vừa ăn bánh anh vừa nghĩ, thật là lạ, khắp nơi trên thế giới, bọn thiếu niên, không phải tất cả thì cũng một loại thiếu niên nhất định nào đấy, đứa nào đứa nấy đều ăn mặc giống nhau. Hai cậu kia mua thứ gì đó, rồi trở ra.

Alexander nhìn theo hai cậu lê bước qua đường, nghênh ngang, khệnh khạng.

Được khoảng ba cây thì Alexander rẽ trái, thêm một đoạn lại rẽ trái, rồi rẽ phải, thì đến nơi, phố Tapachula. Một đường phố hẹp, không cây cối; thay cho cây cối là cột đèn và cột điện, nối với nhau bằng một mớ dây điện lằng ngoằng như mạng nhện. Nhà 56A, một ngôi nhà bề ngang rộng chưa tới bốn thước, hai tầng. Anh nhận ra hàng lan can sân thượng, nơi bà nội anh từ trên đó cúi nhìn xuống. Hình trong ảnh thôi, dù chỉ là ảnh đen trắng, nhưng sao anh thấy mọi thứ như nhuốm màu lá cây. Có vẻ nhiệt đới và khoan hậu thế nào đó.

Anh thận trọng nhìn vào trong qua cánh cửa sổ gài song sắt ở tầng dưới. Ngổn ngang một lô thùng gỗ, trông như nhà kho. Anh bấm chuông, nhưng không ai mở cửa. Anh qua lề đường đối diện, đứng ngắm nghía ngôi nhà. Thử cảm nhận chút gì đó. Song, thông thường người ta phải cảm nhận thế nào về nơi ở từ thời nảo thời nào của bà nội mình chứ?

Cảm nhận duy nhất là gan bàn chân anh đau nhức. Cả sống lưng cũng đau. Qua một dạo nằm viện, rõ ràng cơ bắp anh đã nhão ra.

Tại góc phố, anh vẫy một chiếc taxi loại “bọ hung” màu sơn vừa trắng vừa xanh lục, mặc kệ quyển Backpacker anh đọc khuyên không nên vẫy taxi dọc đường như thế. Trông tay lái xe niềm nở, lại mặc chiếc áo sơ mi trắng sạch sẽ thế kia. Trong xe, thấy có đồng hồ tính tiền hẳn hoi.

Tay lái xe rẽ phải, vào phố Insurgentes, nhằm hướng Bắc, tất cả đều rất chuẩn. Xe chạy bon bon, đồng hồ taxi nhảy đều đều.

Đột nhiên, tay lái xe quay xe rẽ trái, mặc dù trung tâm nằm bên phải mới đúng. Anh tự nhủ, chắc anh ta muốn tránh đoạn đông xe cộ trên phố Insurgentes. Song, thay vì rẽ phải để chạy song song với đường cũ, tay lái xe tiếp tục cho xe chạy ngoằn ngoèo khó lần và có vẻ mỗi lúc một rời xa nơi anh cần đến.

- Adónde vamos?[4] Alexander cất tiếng hỏi.

Tay lái xe nói gì đó đáp lại, tay vung lên, cười nhăn nhở qua gương chiếu hậu.

- Dừng lại, Alexander nói to.

- No problem, gã lái xe đáp bằng một thứ tiếng gì đó như tiếng Anh. No problem.

Nhưng hắn không dừng ngay.

Vài ba phút sau hắn mới dừng xe trong một ngõ cụt, ba phía tường cao, nhà mái tôn, rác rưởi đổ đống. Gã lái xe bóp một hồi còi ngắn, rồi bằng cả tay chân lẫn mồm miệng hắn ra hiệu bảo Alexander ngồi yên trong xe. Sau đó, hắn biến.

Alexander ngồi chờ một lúc, rồi mở cửa xuống xe. Song, vừa loay hoay chui ra khỏi cửa xe thấp tè, ngẩng đầu toan đứng thẳng dậy thì anh đã thấy hai bóng người đứng ngay trước mặt. Thoạt nhìn cặp mũ trùm đầu và đôi quần jean cạp trễ, anh đã tưởng đây chính là hai cậu anh gặp lúc trước ở quán burger, nhưng nhìn kỹ thì không phải, hai đứa này trẻ hơn, chắc chỉ nhỉnh hơn mười sáu tuổi là cùng, gầy, cao lêu nghêu. Đứa lớn mới mọc ria mép, trông cũng biết còn non. Nó nắm trong tay một con dao chạm trổ khá đẹp. Đứa kia nhỏ con hơn, có cặp mắt thông minh nhìn qua nhìn lại rất nhanh. Nó vừa chỉ chiếc xe taxi, vừa hỏi Alexander câu gì đó.

Alexander không hiểu nó nói gì, nhưng đoán ra ngay, nó hỏi đại loại, liệu anh có chịu trả tiền taxi không. Đúng là mánh ngớ ngẩn. Anh nói to bằng tiếng Đức:

- Tôi không hiểu gì cả.

- Dinero, peso, dollar, thằng nhỏ nói.

Alexander lôi ví ra, định bụng sẽ dứt khoát chỉ trả cho tụi nhỏ đúng số tiền hiện trên đồng hồ taxi thôi. Song, anh chưa kịp đếm thì thằng nhỏ đã giật phắt ví tiền trên tay anh và lùi ra xa, lục lọi. Alexander bất giác bước một bước về phía nó, nhưng thằng có ria mép vung dao, dứ dứ liên tục về phía anh. Thằng nhỏ lôi tiền trong ví ra, ba trăm đô-la cùng vài trăm peso gì đó, rồi quẳng chiếc ví về phía Alexander. Loáng một cái hai đứa đã biến đâu mất.

Không chần chừ lâu, anh cất bước đi. Anh chỉ muốn đi khỏi đây. Anh nghe tiếng ai gọi, rồi tiếng xe VW nổ máy, chạy theo anh. Gã lái xe vượt lên, chạy một lúc cạnh anh, nói gì đấy với anh, nhưng Alexander không thèm để ý đến hắn. Mắt nhìn thẳng, anh cứ thế bước đi, như đang xuyên đường hầm.

Mãi một lúc anh mới tìm ra cái từ “trấn lột”. Anh vừa bị trấn lột. Bởi hai thằng nhóc mười lăm mười sáu tuổi. Hai thằng nhãi ranh. Anh thấy nhục quá. Nhục vì ngọn dao thì ít, vì đôi mắt thông minh, nhanh, sắc sảo của thằng bé con thì nhiều, đôi mắt dường như nói cho anh biết anh thực sự là kẻ như thế nào: một gã da trắng ngốc nghếch, vụng về, đáng bị trấn lột. Không phải thế sao? Không phải anh là kẻ như thế à? Đúng rồi, anh là như thế. Anh cảm thấy điều đó. Anh cảm thấy sự dối trá đó.

Anh thất thểu bước tiếp trên con đường anh nghĩ sẽ phải đâm ra phố Insurgentes. Trời tối dần. Phố xá dần dần nhộn nhịp trở lại; nhà cửa lên đèn. Dân chúng kéo nhau ra đường, như thể chỉ để trân trân nhìn anh, gã da trắng đần độn, vụng về. Dối trá. Anh nhìn về phía các cửa hiệu, hàng ăn. Dối trá tuốt. Anh nhìn biển quảng cáo trên các nóc nhà, nhìn đàn xe taxi lăng xăng ngược xuôi dọc phố Insurgentes, cánh bán hàng rong mời chào anh mua nào trang sức nào kính râm. Giả dối cả. Thậm chí nhìn hàng cây tội nghiệp mọc trên dải đất giữa hai làn đường, những ngôi nhà vụng về sao chép, nhìn lối đi bị hư hại, hay những đoạn dây điện thoại rủ lòng thòng khắp nơi, những biển bảng rách thủng, những viên đá lát lề đường sơn vàng, những cần ăng-ten, dây điện, quán ăn xây nhại kiểu McDonald’s, hay gã đàn ông mặc áo trắng phau, với chiếc nhẫn to đùng trên ngón tay mũm mĩm đứng trước cửa nhà thổ đèn ống nhấp nháy kia, anh cũng thấy giả dối nốt. Và anh lấy làm ngạc nhiên sao mình không nhận ra điều đó sớm hơn. Anh đã bị lừa, suốt cả một đời anh, anh bị người ta dắt mũi (anh hớn hở nhận ra điều đó). Hóa ra mọi sự đều dối trá, lừa đảo hết, và anh chính là một gã da trắng ngờ nghệch, vụng về, đáng bị trấn lột. Chứ sao nữa?

Trời đất ơi, anh đã nghĩ ngợi thế nào chứ? Chẳng lẽ anh tin sẽ có ai chờ đợi anh ở đây? Chẳng lẽ anh đã tin Mexico sẽ dang tay đón anh như đón một người quen biết cũ? Chẳng lẽ anh đã nuôi hy vọng đất nước này sẽ - chà... sao nhỉ - chữa cho anh khỏi bệnh?... Phải, phải, đại loại thế... Tiếng gì đó khó chịu buột ra từ miệng anh. Anh cười nhăn nhở, anh thở hồng hộc. Nhưng chính anh lại chẳng biết gì. Chân anh bước đi như cái máy. Cơn giận dữ đẩy anh đi tiếp. Anh thấy khát nước, nhưng cứ tiếp tục bước đi. Anh thấy cổ họng khô khát, thấy khản hết cả tiếng vì nói nhiều, mặc dù chỉ là câm lặng tự nói-vào-trong-lòng. Giờ đến lượt gan bàn chân lại đau nhức, nhưng cái khát vẫn tệ hơn. Về chuyện này anh đã có kinh nghiệm do chạy marathon: cái đau sẽ qua, nhưng cái khát sẽ mỗi lúc một tệ hại. Anh lục túi quần moi ra vài đồng peso còn sót. Chẳng đủ mua chai nước; tuy chỉ thiếu ba peso, nhưng ba peso là ba peso, không xin ai được, sẽ chẳng ai cho anh, gã da trắng ngờ nghệch, vụng về này ba peso cả. Đến kẻ bị ung thư như anh cũng chẳng ai cho đâu. Anh ngồi xuống một chiếc ghế băng. Đầu anh quay cuồng. Anh chợt nhớ lần chạy marathon ở R. anh bị lôi giữa chừng ra khỏi cuộc đua vì cơ thể mất nhiều nước quá. Dạo ấy anh bất tỉnh, chẳng biết mình làm gì nữa. Còn hôm nay, anh nhẩm tính trong đầu, cả ngày độc tách cà phê với ly Cola. Trời nóng. Anh đã cuốc bộ hơn hai chục cây không ít. Trong bụng anh chỉ muốn ghé bừa vào quán cà phê nào đấy uống nước vòi cũng được. Nhưng sách Backpacker bảo không được làm thế. Anh phải đi tiếp, không ngồi lại, không ngả lưng ở đây được. Ngả lưng là chết. Gã da trắng ngờ nghệch, vụng về nằm chết ở đây. Anh hình dung mình sáng hôm sau nằm chết trên ghế băng, mũ bị lột, quần dài bị cuỗm... Đang có kẻ nào định tháo đôi giày Tiệp dã ngoại anh dùng từ mấy năm nay mà không phải thay dây.

- Ông làm gì đấy?

Phải mất một lúc anh mới vỡ nhẽ người đàn ông đang quỳ trước mặt loay hoay với chiếc giày chân phải của anh là người đánh giày.

- Không cần, Alexander nói to. Không!

Anh rụt chân khỏi chiếc ghế đẩu, đặt xuống đất. Người đàn ông vẫn tiếp tục đánh, I make verry gutt priced, ông ta nói rồi cười cười với Alexander, verry gutt price[5]. Alexander đứng dậy, song người kia vẫn đeo lấy chân anh. Alexander định bước đi thì ông ta lết theo, chặn đường anh, như một con nhặng vậy, verry gutt quallitie[6], con nhặng lẩm bẩm, không rõ ý nói việc ông ta làm hay đôi giày anh mang. Alexander chỉ muốn rời khỏi đây, xua con nhặng đi. Đến lúc này thì con nhặng đứng chắn trước mặt anh, thấp hơn anh hai cái đầu nhưng chắc nịch:

- You have to pay my work[7]. con nhặng nói.

Chưa gì, một nhóm những kẻ hiếu kỳ đã bao thành vòng quanh hai người. Alexander quay lưng, toan tháo thân về hướng khác.

- You have to pay my work, con nhặng gằn giọng nhắc lại.

Con nhặng dang cánh chặn đường anh, tay này cầm chiếc ghế đẩu, tay kia giỏ đồ nghề đánh giày. Alexander dấn tới, toan đấm. Nhưng không, anh không đấm, anh quát to. Anh quát rống lên, thẳng vào mặt ông đánh giày:

- I have no money[8].

Con nhặng ngớ người lùi lại sau.

- I have no money, Alexander lại hét. I have no money!

Thậm chí, anh hét cả bằng tiếng Tây Ban Nha:

- No tengo dinero[9].

Giơ cả hai tay lên cao mà hét.

- No tengo dinero!

Anh hét vào đám đông:

- No tengo dinero!

Anh quay vòng quanh, hét to:

- No tengo dinero!

Mọi người dãn ra, anh hét theo họ. Đám người chạy như đàn gà tan tác. Loáng một cái, chẳng thấy ai đứng quanh nữa, còn độc mỗi ông đánh giày, tay bên này cầm chiếc ghế đẩu, tay bên kia chiếc giỏ đồ nghề. Ông ta đứng sững đó, lặng im, trố mắt nhìn gã da trắng ngờ nghệch bỗng dưng hóa điên.

[1] Tiếng Tây Ban Nha: Khủng bố.

[2] Khu phố cổ ở trung tâm thành phố Mexico City.

[3] Tướng Tây Ban Nha (1485-1547) dẫn đầu đoàn quân đã tiêu diệt đế chế Aztek năm 1521 bằng cách liên minh với các bộ lạc bản địa khác, đổi tên thành phố thủ đô thành Mexico City và đích thân cai trị ở đây vài năm. Đây là một mốc lớn trong công cuộc thuộc địa hóa Nam Mỹ của người Tây Ban Nha.

[4] Tiếng Tây Ban Nha: Ta đi đâu đây?

[5] Tiếng Anh bồi: Giá rẻ thôi.

[6] Tiếng Anh bồi: Chất lượng tốt.

[7] Tiếng Anh bồi: ông phải trả công tôi.

[8] Tiếng Anh: Tôi không có tiền.

[9] Tiếng Tây Ban Nha. Không có tiền.

Hoàng Đăng Lãnh dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.