Trong Khách Sạn

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3

❊ ❊ ❊

Trước đó chừng mười lăm phút, khi Peter McDermott ra khỏi thang máy để tới cụm phòng Tống thống thì người trực tầng nhăn nhở cười với Christine:

- Cô Francis, cô đi làm nhiệm vụ thám tử à?

- Nếu như người phụ trách an ninh có mặt ở đây - Christine bảo anh ta - thì tôi đâu phải làm việc này.

Bác trực tầng Jimmy Duckworth là người lùn mập, trán bắt đầu hói, có thằng con đã lấy vợ và đang làm ở bộ phận tài vụ của khách sạn StGregory, nói vẻ khinh thường: “Hắn thế đấy!” Một lát sau thang máy dừng lại ở tầng mười bốn.

- Bác Jimmy, phòng 1439 đây rồi - Christine nói và cả hai người lập tức rẽ về bên phải. Cô nhận ngay ra có sự khác biệt trong cách thức hai người nắm được cách bố trí của khách sạn: bác trực tầng thì quá nhiều năm đưa khách trọ từ dưới phòng tiếp tân lên buồng của họ, còn cô thì qua hàng loạt những điều cô hình dung ra trong óc ứng với sơ đồ từng tầng của khách sạn StGregory.

Cô nghĩ thầm: cách đây năm năm giá như có ai ở Đại học Tổng hợp Wisconsin hỏi cô Christine Francis hai mươi xuân xanh, một nữ sinh viên thông minh có năng khiếu ngôn ngữ hiện đại rằng năm năm sau cô sẽ làm gì thì dù có táo bạo đến đâu, cô cũng không dự đoán đến khả năng cô làm việc tại một khách sạn New Orleans. Cách đây lâu rồi, cô không hề biết chút gì về cái thành phố đang trỗi dậy này và cô cũng chẳng tha thiết gì với nó. Hồi ở trường cô được biết về sự kiện mua lại Louisiana([1]) và cũng đã từng xem vở kịch Chiếc xe điện tên gọi Desire([2]). Nhưng khi cô, cuối cùng đã tới đây, thì vở kịch trở thành lỗi thời. Xe điện đã được thay bằng xe buýt chạy diezel và Desire là một đường phố tối tăm ở phía đông thành phố mà du khách ít khi lai vãng.

Cô cho rằng có lẽ phần nào vì sự thiếu hiểu biết này mà cô đã tới New Orleans. Sau cái tai nạn ở Wisconsin, buồn chán và chỉ vì quá mơ hồ, cô đã tìm đến một nơi mà có lẽ ở đó không ai biết cô và đồng thời nơi đó cũng thật là xa lạ đối với cô. Những gì quen thuộc, từ quang cảnh đến tiếng động đều làm cho cô đau lòng. Tất cả những cái đó cứ bủa vây, đầy kín lúc cô thức và xâm nhập vào cô lúc cô ngủ. Một điều thật kỳ lạ và có phần nào đấy nó đã làm cô thấy tủi thẹn một dạo, đó là việc cô không bao giờ có những cơn ác mộng, mà chỉ có những sự kiện tuần tự diễn ra như cái ngày đáng ghi nhớ đó tại phi trường Madison.

Cô ra đó để đưa tiễn gia đình sang châu Âu. Má cô vui vẻ phấn khởi, cầm theo một cành phong lan mà một người bạn đã gửi tới để chúc lên đường may mắn. Ba cô thì ung dung thư thái một cách dễ chịu bởi trong một tháng tới những nỗi đau thật và tưởng tượng của các cơn bệnh của ông sẽ có người khác quan tâm. Ông rít tẩu thuốc và khi người ta gọi đến chuyến bay thì ông đập tẩu xuống gót giầy. Babs, người chị của cô, ôm hôn cô; và ngay cả cậu em Tony, kém cô hai tuổi, không thích bộc lộ tình cảm trước đám đông cũng đồng ý để cho cô hôn.

- Tạm biệt "Giăm bông" nhé? - Babs và Tony ngoái lại, nói to. Christine mỉm cười vì cái tên thân mật, ngộ nghĩnh mà họ gán cho cô lại được dùng đến lúc này, chẳng là vì cô lọt vào giữa hai người như miếng giăm bông trong bánh xanđwich vậy. Rồi tất cả mọi người còn hứa sẽ viết thư, mặc dù cô cũng sẽ sang Paris với họ chỉ sau đó hai tuần, khi học kỳ kết thúc. Cuối cùng, má cô ôm cô rất chặt và dặn dò cô phải giữ gìn sức khỏe. Vài phút sau chiếc máy bay vừa cánh quạt vừa phản lực đã lăn bánh, rồi cất cánh với một tiếng gầm đầy oai vệ. Mặc dù đã dứt khỏi đường băng, nó lại rơi trở lại. Một cánh của nó chúc xuống thành một vòng pháo hoa, quay tròn nhào lộn, đồng thời một đám bụi bốc lên một lúc, sau đó là cả một bó đuốc lớn, và cuối cùng là một đống những mảnh vụn câm lặng, lẫn trong đó có máy móc và những phần còn lại của da thịt con người.

Chuyện đó đã cách đây năm năm. Vài tuần sau, cô rời Wisconsin và không bao giờ trở lại nữa.

Tiếng bước chân của cô và của người trực tầng nhỏ hẳn đi trên hành lang có trải thảm. Jimmy Duckworth bước lên một bước, nhắc lại:

- Phòng 1439, vẫn cái lão Wells cũ. Cách đây mấy hôm chúng tôi đã cho lão ta chuyển khỏi phòng ở góc tầng.

Phía trước, cuối hành lang, một cửa phòng bật mở và một người ăn vận sang trọng, khoảng bốn mươi tuổi ló ra.

Y khép cửa lại và định bỏ chìa khóa vào túi. Y ngập ngừng đưa mắt nhìn Christine vẻ hau háu. Y định nói nhưng người trực tầng biết ý, lắc đầu. Christine không để sót một cử chỉ nào khi họ đưa mắt cho nhau, cô hiểu rằng cô bị người ta lầm tưởng là gái làng chơi. Cô nghe đồn trong danh sách của Herbie Chandler có cả những hạng gái buôn son bán phấn.

Sau khi họ đi qua, cô hỏi:

- Tại sao lại phải chuyển phòng của ông Wells?

- Cô ạ, tôi nghe nói đã có người dùng phòng 1439 và làm om sòm lên. Và thế cho nên họ mới phải chuyển nhanh.

Bây giờ Christine nhớ ra phòng 1439 rồi. Trước đây đã từng có nhiều người phàn nàn về căn phòng này. Nó nằm ở cạnh cầu thang dùng cho nhân viên và hình như là chỗ tập trung của toàn bộ các ống dẫn của khách sạn. Hậu quả là chỗ này rất ồn và nóng không thể chịu được. Khách sạn nào cũng có ít nhất một phòng như vậy. Có người đã gọi đó là phòng cười ha hả, thường không ai thuê cả trừ phi các phòng khác đã đầy chật.

- Nếu như ông Wells đã có một phòng tốt hơn thì tại sao lại bảo ông ta chuyển đến đây làm gì?

Người trực tầng nhún vai:

- Cô nên đi hỏi người phụ trách xếp phòng về chuyện đó.

Cô vẫn căn vặn:

- Nhưng ông biết lý do cơ mà.

- Vâng, tôi đoán là vì lão già không bao giờ ca cẩm. Lão ta đã đến đây thuê phòng nhiều năm mà chẳng bao giờ nặn được ở lão cái gì. Một số người hình như coi đó là chuyện kỳ cục. - Đôi môi Christme mím lại trong khi Duckworth tiếp tục nói - ở nhà ăn tôi được biết người ta giành cho lão một cái bàn cạnh cửa bếp, không ai muốn ngồi chỗ đó. Thế mà hình như lão ta cũng chẳng bận tâm về chuyện này.

Christine cay nghiệt nghĩ rằng: "Sáng mai sẽ có người lưu tâm đấy", cô cam đoan là như vậy. Khi cô nhận thấy rằng một người khách thường xuyên, hơn nữa lại là người trầm tĩnh, hòa nhã, mà đã bị người ta đối xử tàn tệ như vậy, cô cảm thấy phẫn nộ. Được, rồi xem. Cả khách sạn này đều không lạ gì tính cô, và theo như cô biết có một số người nói rằng tính khí đó phù hợp với mái tóc rực rỡ đỏ như lửa của cô. Mặc dù cô đã cố kiềm chế nhiều, thỉnh thoảng tính nóng cũng góp phần đạt được mục đích và làm cho công việc chạy.

Họ rẽ vào một góc và dừng trước cửa buồng số 1439.

Bác trực tầng gõ cửa. Họ đứng đợi và nghe ngóng. Không có tiếng đáp, bác Jimmy lại gõ lần nữa, lần này mạnh hơn.

Lập tức có tiếng đáp. Đó là tiếng rên rỉ, lúc đầu như một tiếng thở dài, tăng lên dần đến đỉnh cao, rồi kết thúc đột ngột giống như lúc bắt đầu.

- Dùng chìa khóa vạn năng của bác - Christine ra lệnh - Mở cửa nhanh lên!

Cô đứng lùi lại trong khi bác nhân viên bước lên phía trước. Dù trong tình trạng khủng khoảng rõ rệt, khách sạn nào cũng có những luật lệ cần phải tôn trọng. Căn phòng tối mò và cô thấy Duckworth bật ngọn đèn trên trần và rẽ khuất vào một góc. Ngay sau đó bác ta cất tiếng gọi:

- Cô Francis, cô vào đây.

Khi Christine bước vào, căn phòng nóng ngột ngạt, mặc dù nếu nhìn vào bộ phận điều chỉnh nhiệt độ thì ta ở chữ "mát". Cô chỉ kịp nhìn từ có vậy, trước khi quan sát thân hình đang vật vã, nửa nằm nửa ngồi trên giường.

Con người nhỏ nhắn như chim chích đó chính là ông Albert Wells mà cô từng biết. Bộ mặt ông xám ngoét, đôi mắt lồi ra, cặp môi run run của ông đang cố thở hổn hển khó khăn.

Cô đi vội đến bên giường. Cách đây nhiều năm, đã có một lần ở phòng của ba cô, cô nhìn thấy một bệnh nhân trong tình trạng nguy ngập, thở gấp gáp như vậy. Lúc đó ba cô đã làm nhiều động tác mà bây giờ cô không thể làm được, nhưng có một việc cô còn nhớ. Cô bảo Duckworth một cách quả quyết:  - Bác mở ngay cửa sổ ra. Chúng ta cần nhiều không khí trong buồng.

Đôi mắt của bác trực tầng dán vào bộ mặt của người đàn ông nằm trên giường. Bác ta nói run run:

- Cửa sổ bị gắn lại rồi. Họ phải làm như thế để dùng máy điều hòa nhiệt độ.

- Vậy phải phá ra. Nếu cần thì đập vỡ kính.

Cô đã nhấc ống điện thoại bên giường. Khi nhân viên điện thoại trả lời, Christine nói luôn:

- Tôi là Francis đây. Bác sĩ Aerons có mặt ở khách sạn không?

- Không, cô Francis ạ. Nhưng ông có để lại số điện thoại. Nếu gặp trường hợp khẩn cấp, tôi có thể liên hệ với ông.

- Đây là một ca khẩn cấp. Báo cho bác sĩ Aerons lên phòng số 1439, khẩn trương lên nhé. Hỏi xem bao lâu nữa ông ta đến được, sau đó gọi lại cho tôi ngay.

Đặt ống điện thoại xuống, Christine quay lại nhìn cái thân hình đang vật vã trên giường. Người đàn ông đã có tuổi thở yếu ớt, vẫn khó nhọc như trước và cô nhận thấy sắc mặt ông ta cách đây mấy phút có màu xám thì nay chuyển sang tím ngắt. Tiếng rên mà họ đã nghe thấy lúc đứng ngoài cửa bây giờ lại nổi lên, đó là sự cố gắng thở hắt ra, song rõ ràng phần lớn sức lực kiệt dần của người bệnh đang bị chính sự gắng sức tuyệt vọng của ông ta tiêu hủy.

- Ông Wells ơi! - Cô nói, và cố truyền cho ông một niềm tin mà chính cô cũng không cảm thấy là có - Nếu ông nằm yên thì ông có thể thở dễ dàng hơn.

Cô nhận thấy bác trực tầng đã mở được cửa sổ. Bác ta dùng một cái mắc treo áo để phá vỡ một cái hãm trên chốt cửa và bây giờ đang dịch dần phần dưới lên phía trên.

Con người nhỏ thó đã thôi vật vã, dường như để đáp lại lời của Christine. Ông mặc một chiếc áo ngủ bằng vải flanen kiểu cổ. Christine đặt tay lên vai ông và cảm thấy đôi vai gầy gò của ông dưới làn vải thô. Cô quờ quạng tìm chiếc gối, nhét nó xuống đằng sau để cho ông dựa vào, đồng thời dựng ông ngồi dậy. Đôi mắt ông chăm chú nhìn vào mắt cô. Đôi mắt đó như đôi mắt nai, cô nghĩ, đang cố tìm cách biểu lộ sự biết ơn. Cô nói để an ủi:

- Tôi đã cho tìm một bác sĩ, ông ta sắp đến bây giờ.

Trong lúc cô nói thì người trực tầng lầm bầm cố thêm một chút nữa, cửa sổ bỗng bật mở toang. Lập tức một cơn gió mát ùa vào phòng. Như vậy là cơn bão đã di chuyển xuống phía nam, Christine thầm cảm ơn. Trước khi bão tới sẽ có đợt gió mát và nhiệt độ bên ngoài chắc sẽ giảm xuống thấp trong nhiều ngày. Nằm trên giường, Albert Wells hít lấy hít để không khí mới. Điện thoại réo vang. Cô ra hiệu cho người trực tầng thay thế cô ngồi bên cạnh người bệnh để cô ra trả lời điện thoại.

- Cô Francis, bác sĩ Aerons đang trên đường trở về - Nhân viên điện thoại cho biết - ông ấy đang ở Paradis và nhắn tôi báo cho cô biết là hai mươi phút nữa ông sẽ có mặt tại khách sạn.

Christine ngần ngừ. Paradis ở phía bên kia sông Mississippi, quá thị trấn Algiers. Cứ cho rằng ông ta có phóng nhanh thì hai mươi phút cũng là hơi cường điệu. Hơn nữa, đôi khi cô đã từng hoài nghi về năng lực của anh chàng bác sĩ Aerons người đẫy đà, nghiện rượu được cư ngụ không mất tiền trong khách sạn để khi cần thì có mặt ngay với tư cách là bác sĩ của khách sạn. Cô báo với người nhân viên điện thoại:

- Tôi không biết liệu ta có thể đợi lâu được như thế không. Chị thử kiểm tra lại danh sách khách trọ xem có ai là bác sĩ không?

- Tôi đã làm rồi - Có vẻ gì đó huênh hoang trong lời đáp này, như thể người nói đã từng nghiên cứu kỹ các giai thoại về những điện thoại viên dũng cảm và quyết tâm giữ vững truyền thống của họ - Có bác sĩ Konig ở phòng 221, bác sĩ Uxbridge ở phòng 1203.

Christine ghi lại số phòng lên tập giấy đặt cạnh điện thoại:

- Được, gọi hộ số 221 đi - Các bác sĩ đăng ký ở khách sạn thường chờ những ca tư và sẵn sàng đáp ứng. Mặc dù thỉnh thoảng trường hợp khẩn cấp cũng cho phép người ta phá các quy định chính thức.

Có vài ba tiếng tích tích khi chuông điện thoại tiếp tục kêu. Sau đó có tiếng ngái ngủ với âm sắc Teutonic([3]) đáp lại:

- Vâng, ai gọi đấy?

Christine tự giới thiệu:

- Xin lỗi tôi phải quấy rầy bác sĩ Konig, song chúng tôi đang có một người khách bệnh nặng.

Mắt cô nhìn lại chiếc giường. Cô nhận thấy vẻ tái tím trên bộ mặt ông Wells đã biến mất, nhưng còn nhợt nhạt và hơi thở vẫn khó khăn như cũ. Cô nói thêm:

- Bác sĩ có thể tới được không?

Ngừng một lúc, rồi vẫn giọng nói nhẹ nhàng êm ái đáp:

- Tiểu thư thân mến ơi, thật vô cùng hạnh phúc cho tôi nếu tôi có thể giúp gì được cho cô. Thế nhưng trời đất ơi, đáng tiếc là không được - Một tiếng cười nhẹ nhàng - Tôi là tiến sĩ([4]) âm nhạc, tôi đến thành phố xinh đẹp của cô là do tôi được mời làm chỉ huy dàn nhạc giao hưởng tuyệt vời của thành phố này, theo cách nói chính xác là như vậy.

Mặc dù đang lúc khẩn cấp, Christine vẫn không thể không bật cười. Cô xin lỗi:

- Xin lỗi là đã quấy rầy ông.

- Thôi, cô đừng quá lưu tâm. Tất nhiên, nếu như ông khách bất hạnh kia, biết nói thế nào nhỉ? - à, loại bác sĩ kia cũng không đủ khả năng cứu nổi thì tôi sẽ mang chiếc viôlông đến chơi cho ông ta nghe - Có tiếng thở dài trong máy điện thoại - Phút lâm chung mà được nghe một bản adagio của Vivaldi hoặc Tartini, chơi thật da diết ấy thì còn gì bằng.

- Cảm ơn ông. Hy vọng điều đó không cần thiết - Bây giờ cô đang bồn chồn muốn gọi điện thoại tiếp.

Bác sĩ Uxbridge phòng số 1203 trả lời ngay lập tức bằng một giọng trịnh trọng. Đáp lại câu hỏi đầu tiên của Christine, ông nói:

- Vâng, tôi là bác sĩ y học đây, bác sĩ nội khoa.

Ông chăm chú lắng nghe không bình luận gì trong khi cô tả lại tình huống, sau đó ông nói ngắn gọn:

- Vài phút nữa tôi sẽ tới.

Người trực tầng vẫn đang đứng bên cạnh giường.

Christine ra lệnh:

- Ông McDermott đang ở cụm phòng Tổng thống. Bác xuống đó, đợi khi nào ông ta xong việc thì báo ông ta lên ngay trên này - Cô lại nhấc ống điện thoại - Cho tôi gọi kỹ sư trưởng.

Thật may là ít khi phải lo đến khả năng ông ta vắng mặt ở khách sạn. Đốc([5]) Vickery là một người sống độc thân, ở ngay trong khách sạn và có một niềm say mê những thiết bị cơ khí của StGregory trải dài từ dưới nền lên đến tận mái nhà. Hai mươi lăm năm nay, kể từ khi rời vùng biển và quê hương Clydeside, ông đã phụ trách trang thiết bị của phần lớn khách sạn và trong những thời kỳ túng bấn vì thiếu tiến mua thiết bị thay thế, ông tìm cách kéo dài tuổi thọ của những máy móc đã rệu rã. Viên kỹ sư trưởng này là một người bạn của Christine và cô biết rằng cô là một trong những người được ông quý mến. Lát sau, giọng nói Scotland của ông đã vang trong máy:

- Gì thế?

Cô kể vắn tắt cho ông nghe về Albert Wells:

- Bác sĩ chưa tới, song ông ấy có lẽ thiếu oxy. Ở khách sạn ta có một bình xách tay, phải không?

- Phải, chúng ta có những bình ôxy, Christine ạ, song chúng tôi dùng vào việc hàn hơi cơ mà.

- Oxy là oxy Christine lý luận. Có một số điều ba cô bảo cô trước đây bây giờ cô nhớ lại - Anh đựng ôxy ở đâu không thành vấn đề. Anh hãy ra lệnh cho một nhân viên trực đêm của anh mang những dụng cụ cần thiết lên đây.

Người kỹ sư trưởng càu nhàu đồng ý:

- Thôi được, cô em, mặc quần xong anh sẽ làm ngay, sẽ lên ngây đây. Anh mà không tới, vô phúc có thằng thộn nào đó đem mở bình axêtylen cho bố ấy ngửi thì chắc chắn là ngỏm ngay. 

- Nhanh lên nhé. - Cô đặt máy xuống, quay trở lại giường.  Đôi mắt của người đàn ông nhỏ thó vẫn nhắm nghiền.

Ông ta không vật vã nữa, và có vẻ như cũng không thở nữa.

Có tiếng gõ nhẹ vào cánh cửa vẫn mở và một người cao gầy từ ngoài hành lang bước vào. Ông này có bộ mặt xương xương, tóc hai bên thái dương đã điểm bạc. Bộ com lê xanh thẫm cắt theo kiểu cũ không che giấu được bộ pyjama màu be thò ra bên dưới.

- Uxbridge - ông ta tự giới thiệu bằng một giọng nhỏ nhẹ cương quyết.

- Bác sĩ ạ - Christine nói - ông đến rất đúng lúc...

Người mới đến gật đầu, nhanh nhẹn lấy ống nghe từ trong chiếc túi da đặt ở trên giường. Không để lãng phí thời gian, ông đưa ống vào dưới chiếc áo ngủ bằng flanen của bệnh nhân, nghe ngực, nghe lưng. Sau đó ông quay lại chiếc túi, và bằng hàng loạt động tác chính xác, lấy ra một ống tiêm, lắp kim, rồi đập vỡ cổ một ống thuốc nhỏ. Khi đã rút hết chất nước từ ống thuốc vào xyranh, ông cúi xuống bên giường, kéo ống tay áo ngủ lên, xoắn nó lại thành một cái garô đơn giản. Ông ta bảo với Christine:

- Cô giữ chặt chỗ đó nhé.

Bác sĩ Uxbridge dùng miếng gạc thấm cồn lau chỗ cẳng tay phía trên một mạch máu rồi ấn xyranh vào. Ông gật đầu ra hiệu nới garô:

- Bây giờ cô nới nó ra - Đoạn ông vừa nhìn đồng hồ vừa tiêm thuốc chậm chạp.

Christine quay lại, nhìn vào mặt bác sĩ thăm dò. Bác sĩ vẫn không ngước lên, nói tiếp:

- Aminôphyhn, thuốc trợ tim.

Ông lại xem đồng hồ, tiêm từ từ lượng thuốc. Một phút rồi hai phút qua. Xyranh đã hết một nửa. Đến lúc này vẫn chưa có phản ứng gì.

Christine thì thào:

- Bệnh gì vậy?

- Viêm phổi nặng do hen biến chứng. Có lẽ trước đây ông ấy đã bị những cơn như thế này.

Đột nhiên ngực của người đàn ông nhỏ thó phập phồng. Sau đó ông ta thở chậm rãi hơn trước nhưng đầy hơn, sâu hơn. Đôi mắt ông mở ra.

Không khí căng thẳng trong phòng đã giảm đi. Bác sĩ rút ống tiêm và bắt đầu tháo ra.

- Ông Wells - Christnee gọi - ông Wells, ông có nghe thấy tôi nói không?

Cô được đáp lại bằng hàng loạt cái gật đầu. Đôi mắt nai lại nhìn chằm chằm vào mắt cô như trước.

- Ông Wells ạ, khi chúng tôi đến chỗ ông thì ông mệt nặng quá. Đây là bác sĩ Uxbridge đang trọ tại khách sạn này đã tới đây giúp đỡ ông.

Đôi mắt chuyển sang nhìn bác sĩ, sau đó với sự gắng sức ông nói: - "Cảm ơn" - Hai tiếng đó chỉ nghe thấy thều thào nhưng là những tiếng nói đầu tiên của người ốm. Một thoáng ửng hồng đang trở lại trên sắc mặt ông.

- Nếu cần cảm ơn ai ở đây trước thì người đó phải là cô gái này - Bác sĩ mỉm cười gượng, rồi nói với Christine - ông ấy còn mệt, cần phải được chăm sóc thêmLời khuyên của tôi là cần chuyển ngay đi bệnh viện.

- Đừng, đừng? Tôi không muốn thế! - Người đàn ông luống tuổi nằm trên giường vội đáp lại một cách khẩn thiết. Ông nhổm dậy khỏi gối, đôi mắt linh lợi, hai tay giơ ra khỏi tấm đắp mà Christine đã đặt lên lúc trước. Sự thay đổi trạng thái của ông trong vòng vài phút qua thậtđáng lưu ý, cô nghĩ ông vẫn còn thở khò khè, đôi khi khó nhọc, song tình trạng nguy kịch đã qua rồi.

Lần đầu tiên Christine có đủ thì giờ để quan sát vẻ bề ngoài của ông ta. Thoạt đầu cô cho là ông đã ngoài sáu mươi, bây giờ cô điều chỉnh sự phỏng đoán của cô thêm năm, sáu tuổi nữa. Vóc người ông ta mảnh, thấp, cộng thêm những nét hom hem gợi cô nghĩ ngay đến dáng dấp của một chú chim sẻ. Mớ tóc ông, còn lại thưa thớt, thường được chải thành những sợi bạc lơ thơ, bây giờ rối bời và ướt đẫm mồ hôi. Bộ mặt ông thường giữ một vẻ hòa nhã, không làm ai mếch lòng, hầu như luôn nhận lỗi, mặc dù ẩn sâu bên trong, cô cho rằng, có một nghị lực thầm lặng, quyết liệt.

Cách đây hai năm lần đầu tiên cô gặp ông Wells. ông rụt rè đi tới cụm phòng quản lý của khách sạn, thắc mắc về việc hóa đơn thanh toán của ông không khớp mà ông không thể giải quyết được với văn phòng phía ngoài. Cô nhớ số tiền là bẩy mươi lăm cent và trong những trường hợp thường gặp, nếu khách đôi co về những món tiền nhỏ thì thủ quỹ trưởng đề nghị miễn thu món tiền đó, thế nhưng ông Wells lại muốn chứng tỏ rằng ông không nợ tiền như thế. Sau khi kiên nhẫn trao đổi, Christine chứng minh rằng người đàn ông nhỏ nhắn này đúng và cô thấy có cảm tình và kính trọng ông vì ông có lập trường riêng như vậy mặc dù chính cô cũng có lúc thỉnh thoảng nổi máu tủn mủn, so kè trong lúc nếp quen của cô là tiêu pha vung tán tàn. Qua hóa đơn khách sạn của ông cô thấy sự tiêu pha rất khiêm tốn và qua bộ quần áo ông mặc, mà rõ ràng là thứ hàng may sẵn, cô cũng suy luận rằng ông thuộc loại người có thu nhập ít ỏi, có lẽ là một người sống bằng lương hưu và những chuyến đến New Orleans hằng năm của ông là những đỉnh cao trong đời ông.

Albert Wells tuyên bố.

- Tôi không thích vào bệnh viện. Tôi chưa bao giờ đến bệnh viện.

- Nếu ông cứ nằm đây - Bác sĩ ngập ngừng - ông sẽ phải được chăm sóc về y tế và ít nhất là cần một hộ lý trong hai mươi bốn giờ, ông cũng sẽ phải tiếp nhiều đợt ôxy nữa.

Con người nhỏ thó vẫn nằn nì:

- Khách sạn có thể bố trí cho tôi một hộ lý được không, hả cô? - ông hỏi Christine.

- Có thể được.

Rõ ràng là ông Wells căm ghét bệnh viện lắm. Chính lúc này sự căm ghét đó đã khiến ông dẹp bỏ thói quen là không muốn gây phiền hà cho người khác. Tuy nhiên, cô tự hỏi không hiểu ông có biết dịch vụ hộ lý tư sẽ tốn kém như thế nào không.

Có tiếng động cắt ngang từ hành lang vọng tới. Một người thợ máy bước vào, đẩy theo một bình ôxy đặt trên xe. Sau anh ta là ông kỹ sư trưởng thân hình vạm vỡ, mang theo một cuộn ống cao su dài, dây thép và một cái túi platic.

- Christine ơi, đây không phải loại ôxy bệnh viện đâu - Kỹ sư trưởng nói - Tuy nhiên, tôi thấy nó cũng được việc - ông ta ăn mặc vội vàng: chiếc áo vét tông với một chiếc quần cũ bằng vải tuýt, áo sơ mi bên trong chưa kịp cài cúc, để lộ một bộ ngực nở nang đầy lông lá. Chân ông ta xỏ một đôi dép lùng nhùng và phía dưới cái trán hói tròn trịa là một cặp kính gọng bự nằm trễ ở chỏm mũi. Lúc này ông ta đang dùng dây thép nối giữa ống và túi nhựa platic. Ông ra lệnh cho người thợ máy đang lóng nga lóng ngóng:

- Bố trẻ ơi, đặt cái bình bên cạnh giường. Mau tay lên, tớ nghĩ là cậu cần tiếp ôxy mới đúng.

Bác sĩ Uxbridge có vẻ ngạc nhiên. Christine giải thích ý kiến độc đáo của cô là có thể cần đến ôxy, và giới thiệu người kỹ sư trưởng với bác sĩ. Ông kỹ sư, hai tay đang bận bịu, gật đầu, liếc nhanh qua cặp kính. Một lát sau, nối xong ống, ông ta tuyên bố.

- Những chiếc túi nhựa này đã làm vô khối người bị ngạt thở. Vì thế cũng dễ hiểu tại sao người ta không dùng đến chúng. Theo bác sĩ thì liệu có ăn thua gì không?

Thái độ xa cách của bác sĩ Uxbridge lúc trước đến đây đã biến mất:

- Có lẽ sẽ kết quả tốt đấy - ông liếc mắt nhìn Christine - Khách sạn này xem ra có được nhiều nhân viên rất năng nổ đây.

Cô cười:

- Đến lúc chúng tôi dính sâu vào chuyên môn của ông thì ông sẽ thay đổi ý kiến.

Bác sĩ trở lại giường:

- Ông Wells, ôxy sẽ làm cho ông thấy dễ chịu hơn. Có lẽ trước đây ông đã có lần bị viêm phổi rồi.

Albert Wells gật đầu, giọng khàn khàn:

- Tôi bị viêm phổi từ khi còn là thợ mỏ. Sau đó thì bị hen - ông ta đưa mắt nhìn Christine - cô tha lỗi cho những chuyện này nhé.

- Tôi cũng phải xin lỗi, song chủ yếu là về việc đã chuyển buồng của ông.

Người kỹ sư đã nối xong đầu rời của ống cao su với bình ôxysơn xanh. Bác sĩ Uxbridge bảo ông ta:

- Ta bắt đầu nhé, cứ năm phút mở ôxy, lại năm phút ngắt.

Họ cùng nhau lắp chiếc mặt nạ tự tạo lên mặt người bệnh. Tiếng xì xì đều đều chứng tỏ rằng ôxy đã tuôn ra.

Bác sĩ nhìn đồng hồ, sau đó hỏi:

- Cô đã cho mời bác sĩ địa phương chưa?

Christine trình bầy về bác sĩ Aerons.

Bác sĩ Uxbridge gật đầu tán thành:

- Khi nào ống ấy đến, ông ấy sẽ tiếp quản ca này. Tôi ở Illinois và không có gì phép hành nghề ở Louisiana - ông cúi xuống hỏi Albert Wells - ông thấy dễ thở hơn rồi chứ?

Người đàn ông nhỏ thó dưới chiếc mặt nạ nhựa gật đầu xác nhận.

Có tiếng bước chân rắn rỏi đi về phía cuối hành lang, và Peter McDermott bước vào, thân hình to lớn của anh che kín cả lối vào cửa:

- Tôi được tin báo của côAnh nói với Christine, mắt nhìn về phía giường - Liệu ông ấy có khá hơn không?

- Hy vọng là như vậy, tuy nhiên tôi thấy chúng ta mắc nợ ông Wells đây - Cô ra hiệu cho Peter đi ra hành lang rồi thuật lại chuyện đổi phòng mà người trực tầng đã kể cho cô nghe. Khi thấy Peter cau mày, cô nói thêm:

- Nếu như ông còn trọ ở đây thì chúng ta phải chuyển sang một phòng khác, và theo tôi thì chúng ta có thể dễ dàng kiếm cho ông ấy một hộ lý.

Peter gật đầu tán thành. Có một máy điện thoại nội bộ khách sạn ở buồng riêng của đầy tớ gái ở phía bên kia hành lang. Anh đi tới đó và hỏi phòng tiếp tân.

- Tôi đang ở tầng mười bốn đây - Anh báo cho nhân viên xếp phòng đang trả lời qua điện thoại - ở tầng này hiện nay còn phòng nào trống không. Có thể thấy rõ là anh ta đã lặng đi một lúc. Nhân viên xếp phòng đêm nay là một người đã từng làm việc lâu năm do Warren Trent chỉ định. Ông ta có một cách làm việc chuyên quyền mà hiếm người dám đặt vấn đề chất vấn.

Một đôi lần ông ta đã bộc lộ rõ thái độ cho Peter thấy rằng ông bất mãn với những người mới đến làm ở khách sạn, đặc biệt nếu đó lại là người ít tuổi hơn, mà có vai vế hơn ông, và từ miền Bắc xuống.

- Thế nào? - Peter hỏi - Có còn phòng nào trống không?

- Có phòng 1410 - người nhân viên nói bằng giọng của dân trồng trọt miền Nam - Nhưng tôi sắp bố trí nó cho một ông hiện lúc nãy đã đăng ký vào khách sạn rồi - ông ta nói thêm - Thế anh không biết là khách sạn chúng ta đã đầy chật rồi sao.

Phòng số 1410 là một phòng mà Peter rất nhớ. Đó là phòng rộng, thoáng đãng, quay mặt ra Đại lộ StCharles.

Anh thận trọng hỏi:

- Nếu tôi lấy phòng 1410 thì bác có tìm được phòng nào khác cho ông kia không?

- Không, anh McDermott ạ. Tôi chỉ còn độc một cụm phòng nhỏ nữa thôi, và ông này không muốn trả giá cao hơn.

Peter quả quyết:

- Thôi, xếp cho ông ấy vào cụm phòng đó trong đêm nay với giá tiền của một phòng. Đến sáng mai ta sẽ bố trí lại sau. Đồng thời tôi sẽ chuyển người ở phòng 1439 sang 1410, bác sai một người bồi đưa chìa khóa lên đây ngay cho tôi.

- Hượm đã, anh McDermott - Vừa rồi giọng người nhân viên có vẻ bàng quan thì bây giờ gay gắt ra mặt - Cách xử lý của ông Trent bao giờ cũng là...

- Nhưng bây giờ đang nói về cách xử lý của tôi - Peter cướp lời - Và nhớ thêm một điều: trước khi bác hết phiên trực thì nhắn với các nhân viên trực ban rằng ngày mai tôi muốn được giải thích rõ tại sao ông Wells lại bị chuyển từ phòng cũ của ông ta sang phòng 1439, và bác nhớ nhắc họ phải nêu lý do thật chính xác đáng.

Anh nhăn mặt với Christine khi đặt ống điện thoại trở về chỗ cũ.

❀ ❀ ❀

[1] Năm 1803, Hoa Kỳ mua của Pháp thuộc địaLouisiana, bổ sung vào lãnh thổ Hợp chủng quốc.

[2] Tên một vở kịch nổi tiếng của nhà viết kịch Mỹ nổi tiếng Tennesse Williams được giải thưởng Pulitzer - nay còn có một danh thắng ở khu Vieux Carré ở New Orleans mang tên phố Desire.

[3] Âm của người gốc Đức.

[4] Bác sĩ và tiến sĩ đều cùng một từ doctor, nên ở đây có sự nhầm lẫn.

[5] Cách gọi sưồng sã học vị doctor, còn có nghĩa là "gã, thằng cha".

ngồi đó, ông ấy mới gọi tôi vào và bắt đầu đọc thư cho tôi đánh máy, sau đó ra những chỉ thị để tôi truyền đạt lại cho các nhân viên khác trong khách sạn. Đến lúc có thêm mấy người nữa đến xin việc thì tôi đã làm việc nhiều giờ rồi, và chí
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.