1
Peter McDermott nghĩ: Kể ra cũng không có gì khó hiểu khi vợ chồng Công tước Croydon cần phải lăn Ogylvie, người phụ trách an ninh khách sạn, đã bị bó tròn như quả bóng, ra tận mép mái nhà khách sạn StGregory.
Bên dưới, một biển người đang ngẩng mặt lên. Nhưng có một điều lạ khiến anh sửng sốt là cách đó mấy thước Curtis O’Keef và Warren Trent đang cầm hai thanh gươm đẫm máu đâm nhau chí mạng. Peter không hiểu tại sao đại úy Yolles đang đứng ở cửa cầu thang lại không tiến lại ngăn cản họ? Sau đó Peter để ý thấy người cảnh sát mải ngắm cái tổ của một con chim lớn, trong đó có một quả trứng sắp nở. Lát sau, từ bên trong quả trứng xuất hiện một chú sẻ to lớn khác thường, với bộ mặt hồ hởi của ông Albert Wells. Thế nhưng bây giờ Peter chuyển sang theo dõi việc xẩy ra ở nóc nhà. Christine cũng bị trói như Ogylvie, vùng vẫy tuyệt vọng. Marsha Preyscott đang giúp vợ chồng Croydon đẩy hai cái bịch mỗi lúc một gần đến vực thẳm ghê rợn kia. Đám đông bên dưới vẫn chăm chú theo dõi, trong lúc đại úy Yolles lại dựa vào trụ cửa, ngáp dài.
Peter nhận thấy nếu muốn cứu Christine thì chính anh phải hành động. Nhưng khi anh cố tiến lên, chân anh nặng như chì, người anh lao ra phía trước, chân vẫn không chịu bước. Anh cố thét to, nhưng cổ họng bị chẹn lại. Anh bắt gặp đôi mắt Christine im lặng, tuyệt vọng.
Đột nhiên vợ chồng Croydon, Marsha, O’Keef, Warren Trent dừng cả lại, chú ý lắng nghe. Con sẻ là Albert Wells vểnh một tai lên. Rồi đến lượt cả Ogylvie, Yolles và Christine cũng đều lắng nghe. Nhưng họ nghe gì vậy? Sau đó Peter nghe thấy tiếng lộn xộn chói tai như toàn bộ các máy điện thoại trên thế giới cùng vang lên một lúc.
Tiếng chuông réo mỗi lúc một gần, to dần, cho đến khi tiếng réo tưởng như nhấn chìm tất cả bọn họ. Peter giơ hai tay bịt chặt tai. Tiếng hỗn loạn tăng lên. Anh nhắm mắt, sau đó lại mở ra.
Anh đang nằm trong phòng của mình. Đồng hồ báo thức đặt cạnh giường chỉ sáu giờ ba mươi phút sáng. Anh nằm rốn thêm mấy phút nữa, lắc mạnh đầu như để xua đi giấc mơ dữ dội, lộn xộn. Sau đó anh vào buồng tắm, đứng dưới những tia nước mạnh cho đến lúc tỉnh hẳn mới bước ra. Anh mặc chiếc áo choàng vải bông khăn mặt, bắt đầu pha cà phê trong căn bếp nhỏ, rồi đến chỗ máy điện thoại và quay số của khách sạn. Anh được nối giây với máy của người trực đêm. Ông này cho Peter biết trong đêm qua không thấy có tin nhắn về chuyện tìm thấy vật nào ở lò đốt rác cả. Chưa, người trực đêm nói bằng một giọng mệt mỏi, đích thân ông ta chưa kiểm tra lại việc này. Vâng, nếu như ông McDermott muốn, ông ta sẽ xuống dưới lò ngay bây giờ và sẽ phôn báo kết quả. Tuy nhiên, Peter cảm thấy ông ta có vẻ hơi miễn cưỡng nếu phải làm thêm việc này vào lúc gần hết phiên trực đêm dài đằng đẵng và mệt bã người. Lò đốt rác ở đâu đó dưới tầng hầm, có đúng thế không? Peter đang cạo mặt thì có tiếng điện thoại gọi trở lại.
Người trực đêm báo cáo rằng ông ta đã nói chuyện với lão Graham, phụ trách lò đốt rác. Lão ta lấy làm tiếc vẫn chưa tìm thấy cái mẩu giấy mà Peter cần. Có lẽ xem chừng không thể tìm ra được. Phụ trách ca trực còn báo thêm là ca đêm của Graham cũng như của ông ta cũng sắp hết rồi.
Sau đó, Peter quyết định sẽ báo cho đại úy Yolles biết tin này hoặc nói cho đúng hơn là báo chưa có tin gì mới lạ.
Anh nhớ đêm hôm qua anh đưa ra ý kiến khách sạn đã làm mọi việc trên phương diện trách nhiệm với xã hội. Và ý kiến đó của anh cho đến lúc này vẫn còn giá trị. Những việc khác thuộc phạm vi trách nhiệm của cảnh sát.
Trong lúc ngồi nhấm nháp cà phê và sau đó mặc quần áo, Peter vẫn luôn nghĩ đến hai vấn đề đang ám ảnh anh.
Christine và tương lai của anh tại khách sạn StGregory này, nếu có.
Sau cái đêm hôm qua, anh nhận thấy dù số phận đặt ra trước mặt anh như thế nào chăng nữa thì điều quan trọng nhất mà anh mong muốn là Christine sẽ phải gắn chặt vào số phận của anh. Niềm tin đó đã manh nha trong anh và bây giờ trở thành xác định rõ ràng. Có thể nói anh đang yêu chăng? Tuy nhiên anh lại thấy phải dè dặt khi xác định những thứ tình cảm sâu xa, ngay cả với bản thân mình. Trước đây, đã có lần thứ tình cảm mà anh tin là tình yêu đó đã tan thành cát bụi. Có lẽ tốt nhất là nên bắt đầu bằng niềm hy vọng, để rồi lần lần dò dẫm tiến tới cái đích chưa định trước.
Peter nghĩ rằng nếu nói là anh cảm thấy đầy đủ tiện nghi bên cạnh Christine thì có lẽ không được lãng mạn.
Song điều đó là thật và xét ở mặt nào đó đã được khẳng định. Anh tin rằng cùng với thời gian mối quan hệ giữa hai người sẽ ngày một gắn bó bền chặt. Và anh tin rằng tình cảm của Christine cũng giống như của anh.
Anh nhận thức một cách bản năng rằng cái cảm xúc quan hệ sắp tới giữa hai người là thưởng thức, chứ không phải thứ cảm xúc ăn tươi nuốt sống.
Còn đối với khách sạn, anh thấy rằng ngay cả lúc này cũng khó có thể hiểu được một ông Albert Wells mà anh và Christine vẫn coi là một ông già nhỏ thó tầm thường, dễ dãi, lại có thể là một nhà tài phiệt đã nắm được quyền kiểm soát khách sạn StGregory vào ngày hôm nay.
Đứng về bề ngoài mà xét, dường như địa vị riêng của Peter cũng được củng cố thêm qua sự phát triển quan hệ bất ngờ. Anh đã thân mật với ông già bé nhỏ đó và đáp lại anh cảm thấy anh cũng được ông ta yêu mến. Nhưng cảm tình và tính quyết đoán trong công việc là hai điều hoàn toàn khác nhau. Những người rất tử tế lại có thể trở thành ương ngạnh, tàn bạo khi họ lựa chọn. Hơn nữa đích thân ông Wells có thể không điều hành khách sạn và người nào đó đại diện cho ông sẽ có những định kiến dựa trên các hồ sơ nhân sự thì sao.
Và rồi cũng giống như tình hình vừa qua, Peter quyết định không băn khoăn suy nghĩ về các sự kiện chừng nào chúng xảy ra hẵng hay.
Tiếng chuông đồng hồ báo hiệu bảy giờ rưỡi vang lên trên khắp thành phố New Orleans đúng lúc Peter đi tắc xi tới dinh thự nhà Preyscott ở phố Prytania.
Đằng sau hàng cột cao vút duyên dáng, ngôi nhà đồ sộ trắng toát đứng uy nghi dưới ánh nắng sớm mai. Không khí xung quanh ngôi nhà trong lành, mát mẻ còn vương dấu vết của sương mù buông xuống trước rạng đông.
Hương hoa mộc lan tỏa ngát và trên thảm cỏ còn đọng hơi sương.
Ngôi nhà và đường phố này vẫn còn yên tĩnh, mặc dù từ đại lộ St. Charles và các phố xa hơn người ta đã nghe rõ tiếng ồn ào của thành phố thức giấc.
Peter đi qua thảm cỏ theo con đường uốn quanh lát gạch cổ màu đỏ. Anh bước lên bậc thềm và gõ vào cánh cửa chạm trổ.
Ben, người đầy tớ trai đã phục dịch bữa ăn tối thứ tư vừa qua ra mở cửa và đon đả chào Peter:
- Chào ngài. Xin mời ngài vào - Anh ta nói từ bên trong nhà - Cô Marsha có nhắn tôi đưa ngài đi xem phòng tranhCô ấy sẽ rangay bây giờ.
Ben dẫn đường. Họ lên một cầu thang rộng uốn cong, rồi đi dọc hành lang lớn có những bức tranh tường mà Peter cùng Marsha đã đi qua trong cảnh tranh tối tranh sáng hôm thứ tư vừa rồi. Anh tự nhủ: - Thời gian trôi qua mới ngắn ngủi thế thôi ư?
Giữa ánh sáng ban ngày, gian hành lang vẫn tỏ ra ngăn nắp và hấp dẫn không kém gì hôm trước. Ở đây có những chiếc ghế nệm rất sâu, có những cây cảnh đầy hoa rực rỡ. Nhìn xuống khu vườn bên dưới Peter thấy một chiếc bàn đã được chuẩn bị cho bữa sáng và hai chỗ ngồi.
Anh hỏi:
- Phải chăng vì có tôi mà cả nhà dậy sớm như thế này?
- Thưa ngài, không phải - Ben khẳng định với anh - ở đây chúng tôi thường dậy sớm. Khi ông Preyscott ở nhà, ông ấy cũng không thích dậy muộn. Ông ấy vẫn thường nói rằng mỗi ngày có mấy thời gian đâu cho nên không được lãng phí phần đầu buổi sáng.
- Anh thấy chưa! Em đã bảo ba em có nhiều nét giống anh, đúng thế không?
Nghe tiếng Marsha, Peter vội quay lại. Cô đã lặng lẽ bước đến đằng sau họ từ lúc nãy. Anh có cảm tưởng đang đứng trước một đóa hồng còn đọng sương mai.
- Chào anh! - Marsha mỉm cười - Anh Ben, anh rót cho ông McDermott một ly rượu apxin - Cô khoác tay Peter.
- Ít thôi anh Ben ạ - Peter nói - Tôi biết bữa điểm tâm New Orleans phải có ly rượu apxin, song tôi vừa có một ông chủ mới. Tôi muốn gặp ông ta trong tình trạng tỉnh táo.
Người đầy tớ nhăn nhở cười:
- Thưa vâng.
Khi đã ngồi vào bàn, Marsha hỏi:
- Có phải vì thế mà hôm qua...
- Tôi biến mất như con thỏ trong tay nhà ảo thuật chứ gì? Không phải đâu. Đó lại là một chuyện khác.
Cô ngồi nghe, mắt mở to, theo dõi câu chuyện anh kể hết sức tường tận về vụ điều tra chiếc xe gây án rồi bỏ chạy. Nhưng anh không nhắc đến vợ chồng Croydon, tìm cách lảng tránh không để cho Marsha thắc mắc. Cuối cùng anh bảo:
- Dù thế nào chăng nữa, hôm nay cũng sẽ có thêm tin tức mới.
Anh thầm nhủ:
- Lúc này có lẽ Ogylvie đã về đến New Orleans và đang bị thẩm vấn. Nếu như vẫn bị câu lưu thì chắc chắn ông ta sẽ bị khép tội và nếu ông ta xuất hiện trước tòa, giới báo chí sẽ xôn xao. Nhất định người ta phải nhắc đến chiếc xe Jaguar và sau đó việc này sẽ hướng sang vợ chồng Croydon.
Peter nếm ly rượu apxin rất dịu đặt trước mặt anh.
Anh nhớ lại thành phần của rượu qua kinh nghiệm những ngày đứng pha chế rượu ở quầy. Nó gồm có thanh thảo, một cái lòng trắng trứng, kem, nước lúa mạch ướp hoa và một chút rượu anix. Anh ít khi được nếm rượu pha nào hơn thế này. Trong lúc đó Marsha ngồi đối diện bên kia bàn đang nhấm nháp nước cam.
Peter lại nghĩ: - Liệu vợ chồng Công tước Croydon đứng trước lời buộc tội của Ogylvie có còn tiếp tục giữ vững sự vô can của họ nữa hay không? Đó lại là một câu hỏi khác có thể sẽ được giải đáp trong ngày hôm nay.
Nhưng có điều chắc chắn là mảnh giấy của bà Công tước nếu quả thật có thực, đã tan biến rồi. Không có một thông báo gì thêm từ khách sạn, chí ít về vụ này và Booker Graham có lẽ cũng đã hết phiên trực đêm lâu rồi.
Ben đặt trước mặt Peter và Marsha món pho mát kem Crêol, có trái cây trang tríxung quanh.
Peter ăn rất thích thú.
- Vừa rồi - Marsha nói - anh có nhắc đến việc gì đó về khách sạn.
- À phải.
Miệng còn đầy pho mát và trái cây, Peter giải thích về vụ Albert Wells.
- Hôm nay người ta sẽ tuyên bố về ông chủ mới của khách sạn. Anh đã nhận được một cú phôn ngay trước lúc tới đây. Cú phôn này của ông Warren Trent. Ông đã báo Peter biết ông Dempster, đại diện tài chính cho chủ nhân mới của StGregory đang từ Montreal trên đường tới New Orleans. Ông Dempster đã có mặt tại New York, từ đây ông sẽ lên một chuyến bay của hãng Eastern Airlines đến New Orleans giữa buổi sáng hôm nay. Cần phải dành cho ông ta một cụm phòng và cuộc họp giữa hai nhóm quản trị cũ và mới dự định sẽ tiến hành vào lúc mười một giờ ba mươi. Ông chỉ thị Peter phải luôn luôn có mặt tại khách sạn - phòng khi cần triệu tập.
Có điều lạ là ông Trent không hề tỏ ra thất vọng chán ngán, và thực tế lại có phần phấn khởi hơn so với mấy ngày vừa rồi. Peter tự hỏi: liệu ông Trent có biết người chủ mới của StGregory hiện đã có mặt tại khách sạn rồi không. Peter nhớ đến trách nhiệm của mình là phải trung thành với ban quản trị cũ cho đến khi chính thức bàn giao, anh thuật lại cuộc nói chuyện tối hôm qua giữa anh, Christine và Albert Wells cho ông Trent nghe.
Ông nói:
- Phải, tôi biết rồi. Ông Emile Dumaire chủ Ngân hàng Thương gia công nghiệp, đến thương lượng cho ông Wells vào khuya đêm hôm qua đã gọi điện thoại báo cho tôi biết rồi. Hình như lúc đầu họ có ý muốn giữ bí mật. Bây giờ thì thôi.
Peter còn được biết Curtis O’Keef cùng với cô bồ Lash sẽ rời khách sạn StGregory cuối buổi sáng nay. Rõ ràng hai người sẽ đi hai tuyến khác nhau. Khách sạn giải quyết cả những dịch vụ vé máy bay cho khách và đã đặt cho cô Lash một chuyến bay về Los Angeles trong khi đó ông Curtis O’Keef đi Napoli, qua New York và Roma.
- Anh suy nghĩ nhiều chuyện quá đấy - Marsha nói - Giá như anh cho em biết vài chuyện thì hay biết chừng nào. Ba em thường muốn nói chuyện trong bữa điểm tâm, còn má em chẳng bao giờ chú ý. Em thì trái hẳn với má em.
Peter mỉm cười. Anh tâm sự với cô về những mong ước của anh đối với ngày hôm nay.
Trong lúc họ nói chuyện, món pho mát còn dở được thay bằng món trứng bốc khói thơm nghi ngút. Một cốc rượu vang đỏ xuất hiện trước mặt Peter, Marsha nói:
- Em hiểu anh nói hôm nay rất bận là nghĩa như thế nào rồi.
- Và anh cũng hiểu một bữa ăn điểm tâm truyền thống mà em nói tới là như thế nào - Peter chợt nhìn thấy bà quản gia Anne đang lởn vởn ở phía sau. Anh nói to: - Ngon tuyệt! - Và thấy bà ta mỉm cười.
Sau đó, anh kinh ngạc vì người ta mang ra món thịt thăn bò với nấm, bánh mì nóng và mứt cam.
Peter nói, vẻ hoài nghi:
- Anh không tin rằng…
- Sẽ còn có cả bánh crếp suzetle và cà phê nữa.
Marsha bảo với anh:
- Hồi ở đây còn là những đồn điền lớn người ta thường ních căng bụng vào bữa petit dejéuner([1]). Họ coi bữa điểm tâm là bữa ăn chính mà.
- Em cũng đã biến nó thành một bữa chính rồi - Peter bảo - Bữa ăn này cũng như nhiều chuyện khác, như được gặp em, được nghe những bài lịch sử và bây giờ ngồi cạnh em đây, anh sẽ không bao giờ quên.
- Làm như anh sắp chia tay với em không bằng.
- Đúng thế đấy, Marsha ạ.
Anh chăm chú nhìn vào tận đáy mắt cô, sau đó mỉm cười:
- Ngay sau khi ăn xong những chiếc bánh crếp này.
Im lặng một lúc, cô nói:
- Em tưởng rằng…
Anh đưa tay sang phía bên kia bàn, nắm lấy tay Marsha:
- Có lẽ cả hai đứa mình đều đã mơ mộng viển vôngAnh cho là như vậy. Nhưng đó là một giấc mơ đẹp anh chưa từng có bao giờ.
- Nhưng tại sao lại chỉ có vậy thôi?
Anh nhẹ nhàng đáp:
- Có nhiều điều em chưa thể giải thích được. Dù em có mến yêu ai đó bao nhiêu chăng nữa, vẫn còn phải nghĩ đến vấn đề nên quyết định hành động thế nào cho thuận nhất, còn việc cân nhắc đánh giá...
- Thế nhận định của em không có giá trị gì sao?
- Marsha ạ, anh phải tin rằng nhận định của anh là có giá trị đối với cả hai chúng ta - Nhưng chính anh lại đang tự hỏi: Có thật đáng tin cậy không? Trước đây, những nhận định có tính bản năng của anh đã tỏ ra không đáng tin cậy. Có thể vào thời điểm này anh đang phạm phải một sai lầm để rồi nhiều năm sau đây anh sẽ nhớ lại, đầy nuối tiếc. Làm thế nào khẳng định được một chuyện gì khi người ta phát hiện chân lý quá muộn.
Anh cảm thấy Marsha đang rưng rưng muốn khóc.
- Xin lỗi - Cô hạ giọng, rồi đứng dậy và vụt đi nhanh ra khỏi phòng hành lang.
Peter ngồi lại, thấy tiếc là anh đã nới ra quá thẳng. Đáng lẽ anh phải dùng lời lẽ nhẹ nhàng thông cảm với cô gái cô đơn này. Không biết cô có còn quay ra nữa không? Vài phút sau, Marsha vẫn không trở lại, bà Aune xuất hiện:
- Có lẽ ông sẽ phải kết thúc bữa sáng một mình thôiCô Marsha chắc không quay lại nữa đâu.
Anh hỏi:
- Cô ấy thế nào rồi?
- Cô đang khóc trong phòng - Bà Anne nhún vai - Đây chẳng phải lần đầu. Mà có lẽ cũng chưa phải lần cuốiHễ cứ không được vừa ý chuyện gì là cô ấy khóc như thế. - Bà thu dọn hai đĩa thịt bò. - Ben sẽ phục vụ ông đến hết bữa.
Anh lắc đầu:
- Thôi, xin cảm ơn. Tôi phải về bây giờ.
- Vậy để tôi mang cà phê.
Phía bên trong Ben đã tíu tít chuẩn bị và thân chinh bà Anne mang cà phê sữa ra đặt bên cạnh Peter.
- Ông cứ về đi, xin chớ băn khoăn gì nhiều. Khi nào cô ấy nguôi nguôi, tôi sẽ cố gắng nói cho cô ấy hiểu. Có lẽ cô Marsha có quá nhiều thời gian để nghĩ về bản thân. Giá như ba cô ấy ở nhà nhiều hơn thì sự thể đã khác rồi. Tiếc rằng ông ấy không mấy khi ở nhà.
- Bác hiểu hết rồi đó.
Peter nhớ đã có lần Marsha kể cho anh nghe về bà Anne. Hồi còn là một thiếu nữ, bà Anne đã bị gia đình ép gả cho một người mà bà hầu như chưa biết tí gì. Thế nhưng cuộc hôn nhân đó đã kéo dài đầy hạnh phúc trên bốn chục năm trời cho đến lúc chồng bà Anne mất cách đây một năm.
Peter nói:
- Tôi có nghe nói về bác trai nhà. Chắc bác là người tốt lắm.
- Chồng tôi ư? - Bà quản gia cười khúc khích - Tôi làm gì có chồng. Cả đời, tôi đã lấy ai bao giờ đâu. Coi như gái già cũng được.
- Thế mà Marsha kể rằng họ vẫn sống ở đây với cha con cô. Bác trai là một người rất tốt, rất hiền lành, cô chưa từng gặp một ai như thế bao giờ. Nếu như trên đời này có một cuộc hôn nhân nào hoàn hảo thì đó phải là cuộc hôn nhân của họ. Marsha đã vẽ ra một bức tranh như vậy để củng cố thêm lập luận của mình khi cô yêu cầu Peter kết hôn với cô.
Bà Anne vẫn khúc khích cười:
- Lạy Chúa! Cô Marsha đưa ra những chuyện bịa đặt để bẫy ông đấy. Cô ấy hay bịa nhiều chuyện lắm. Nhiều lúc cô thường đóng kịch chơi. Chính vì thế ông càng không cần phải suy nghĩ làm gì cho mệt.
- Thế à? - Peter không tin vào việc mình làm, tuy nhiên anh cũng thấy bớt băn khoăn.
Ben đưa anh ra cửa. Lúc này đã hơn chín giờ sáng và trời bắt đầu nóng nực. Peter đi bộ nhanh về phía đại lộ StCharles rồi từ đó quay về khách sạn. Anh hy vọng khi đi bộ sẽ trút được cảm giác buồn ngủ do bữa ăn cật lực kia gây ra. Anh thật sự nuối tiếc nếu như anh sẽ không còn gặp lại Marsha và cảm thấy buồn thương cô gái, vì lý do gì thì anh không thể hiểu thấu đáo được. Đối với phụ nữ, anh có khôn ra không? Anh chưa thể tin là như vậy.
2
Thang máy số bốn lại đang đi lên. Ông Sye Luin, đã luống tuổi, điều khiển thang vào ca ban ngày. Ông ớn cái thang số bốn lắm rồi, bởi vì tính khí thất thường của nó bắt đầu dở chứng cách đây hơn một tuần và xem ra ngày một tệ hại hơn.
Chủ nhật trước, chiếc thang đã mấy lần không chịu tuân theo sự điều khiển dù cả lồng và cửa đã đóng chặt hoàn toàn. Anh thợ cứu viện cho bác Sye biết là tình trạng này cũng đã xẩy ra vào đêm thứ hai, khi McDermott trợ lý giám đốc đang ở trong buồng thang.
Sau đó, vào hôm thứ tư, một sự cố đã làm cho thang số bốn phải ngừng hoạt động trong nhiều giờ. Bộ phận kỹ thuật cho biết khớp ly hợp không hoạt động đúng chế độ thế nào đó. Tuy đã sửa chữa rồi nhưng ngày hôm sau lại trục trặc. Có đến ba lần khác nhau thang số bốn không thể rời tầng mười lăm.
Còn hôm nay thang số bốn đang rung lên bần bật và dừng lại rất mạnh ở mỗi tầng lầu.
Việc thang trục trặc như thế nào, không thuộc trách nhiệm bác Sye Luin. Bác cũng không cần phải lo lắng gì lắm, kể cả khi nghe ông kỹ sư trưởng Doc Vickery làu bàu về chuyện "vá víu với chẳng vá víu, và ông ta còn phàn nàn là ông ta cần "một trăm ngàn đô la để dỡ bỏ hệ thống dây thang, làm lại từ đầu". Phải rồi, ai mà chẳng thích vớ được một món tiến lớn như vậy. Chính bác Sye Luin cũng vậy. Chẳng thế hàng năm bác dành dụm được bao nhiêu là mua một vé đánh cược, mặc dù bác thấy cũng chẳng bở béo gì.
Nhưng bác là một nhân viên kỳ cựu ở StGregory, bác phải được chiếu cố chứ. Và ngày mai bác sẽ đề đạt nguyện vọng sang phụ trách mấy chiếc thang bên kia thôi. Sao lại không được nhỉ? Bác đã làm hai mươi bẩy năm trời tại khách sạn và điều khiển thang máy trước cả lúc mấy gã trẻ ranh bằng nhắng kia cất tiếng chào đời. Từ ngày mai, hãy để cho đứa khác chịu đựng cái thang số bốn ương ngạnh này.
Lúc này đã gần mười giờ sáng, khách sạn đang nhộn nhịp. Sye Luin đưa một đám khách - đa số là đại biểu hội nghị có tên gắn trên ve áo - đi từ sảnh, dừng lại ở nhiều tầng khác nhau và cuối cùng tới tầng mười lăm, tầng chót của khách sạn. Khi thang đi xuống, buồng thang chật kín người từ lúc tới tầng chín và bác cho chạy thẳng xuống sảnh. Trong chuyến này bác để ý thấy thang không rung mạnh, vậy là dù có trục trặc gì chăng nữa, bác đoán chừng, rồi nó cũng lại đâu vào đấy.
Bác ta đã nhầm to.
Cao tít trên kia là buồng điều khiển thang máy, nằm như một tổ chim trên mái nhà khách sạn. Ở đó, trong bộ phận cốt lõi cơ khí của thang số bốn có một cái rơ-le điện nhỏ xíu đã đạt tới giới hạn tối đa của tuổi thọ. Nguyên nhân hỏng hóc không ai biết và cũng không ai ngờ tới lại là một cái cần đẩy nhỏ xíu, kích thước chỉ bằng một chiếc đinh thường dùng.
Chiếc cần đẩy này được bắt vít vào đầu một chiếc pittông nhỏ và chính nó phát động ba cái công tắc. Công tắc thứ nhất bóp và nhả phanh thanh máy, công tắc thứ hai cung cấp điện cho một mô-tơ làm việc và công tắc thứ ba điều khiển mạch điện của máy phát. Với ba chức năng này, buồng thang sẽ di chuyển lên trên và xuống dưới một cách nhẹ nhàng theo sự điều khiển. Nhưng nếu chỉ có hai công tắc hoạt động, còn cái không hoạt động lại là cái điều khiển mô-tơ thang máy thì buồng thang sẽ rơi tự do với sức nặng của nó. Chỉ cần một nguyên nhân đủ đưa tới sự cố này, đó là khi cần đẩy pitông căng hết mức.
Đã nhiều tuần nay chiếc cần đẩy làm việc lỏng lẻo. Với những chuyển động cực kỳ nhỏ bằng một trăm lần độ dày của một sợi tóc, đầu pitông từ từ, một cách lì lợm, xoay lỏng ra khỏi đường ren cần đẩy. Kết quả tăng lên gấp đôiCần đẩy và pitông tăng độ dài tổng cộng của chúng lên.
Công tắc mô-tơ vẫn còn đủ khả năng hoạt động.
Và cũng giống như giọt nước cuối cùng sẽ làm tràn ly nước, pitông chỉ cần vặn nhẹ thêm chút nữa sẽ hoàn toàn rời công tắc mô-tơ.
Sự trục trặc này là nguyên nhân thang số bốn hoạt động thất thường mà Sye Luin và nhiều người khác đã quan sát thấy. Một tổ công nhân bảo trì đã cố gắng truy tìm nguyên nhân hỏng hóc nhưng không có kết quả. Cũng không thể trách cứ họ được. Mỗi thang mấy có trên sáu chục rơ-le và toàn bộ khách sạn có tới hai mươi thang máy.
Ngoài ra cũng không ai nhận thấy hai thiết bị an toàn trên buồng thang cũng đã có phần nào kém đi rồi.
Vào lúc mười giờ mười phút sáng thứ sáu, thang số bốn, nói theo thực tế cũng như hình ảnh ví von, đã ở vào tình trạng ngàn cân treo sợi tóc.
3
Ông Dempster ở Montreal đăng ký vào khách sạn lúc mười giờ rưỡi. Peter đã được báo tin này, vội xuống ngay sảnh chính thức đón chào ông. Cho tới giờ này sáng hôm nay, cả ông Trent lẫn ông Wells đều không xuất hiện ở tầng dưới khách sạn. Nhất là ông Wells, càng không thấy ai nhắc tới.
Vị đại diện tài chính của ông Albert Wells có dáng oai vệ và lanh lợi, trông như giám đốc giàu kinh nghiệm của một chi nhánh ngân hàng lớn. Đáp lại câu bình luận của Peter về tốc độ diễn biến nhanh chóng đến kinh ngạc của các sự kiện, ông ta nhận xét:
- Ông Wells của chúng tôi thường gây cho người ta ấn tượng như thế đó.
Một phụ trách trực tầng đưa ông khách mới đến lên cụm phòng trên tầng mười một. Hai mươi phút sau, ông Dempster xuất hiện trong văn phòng của Peter. Ông cho biết ông đã đến thăm ông Wells và nói chuyện qua điện thoại với ông Trent. Cuộc họp vào lúc mười một giờ rưỡi sẽ tiến hành đúng như dự định. Trong khi chờ đợi, ông Dempster muốn gặp một vài người, trong đó có ông quản trị trưởng khách sạn và ông Trent đã mời ông cứ việc sử dụng cụm phòng quản trị. Ông Dempster tỏ ra là một người đã quen thực hiện uy quyền.
Peter đưa ông vào văn phòng của Warren Trent và giới thiệu cô Christine. Đối với Peter và Christine, đây là lần thứ hai họ gặp nhau sáng hôm nay. Vừa về đến khách sạn, anh đã vội tìm ngay Christine. Mặc dù giữa phòng quản trị đầy người và chỉ khẽ chạm tay nhau trong thoáng chốc nhưng họ vẫn cảm thấy rộn ràng, háo hức.
Từ lúc đến khách sạn, lần đầu tiên người ở Montreal kia mới mỉm cười:
- À phải rồi, cô Francis, ông Wells có nhắc đến tên côCủa đáng tội, ông đã nói về cô rất nồng nhiệt.
- Theo tôi nghĩ, ông Wells là một người tuyệt vờiTrước đây tôi cũng đã có ý kiến như vậy…- Cô ngập ngừng.
- Cô cứ nói tiếp.
- Tôi thấy hơi áy nấy về chuyện xảy ra tối hôm qua.
Ông Dempster gỡ đôi kính gọng bự, lau kỹ rồi lại đeo lên mắt:
- Nếu như cô muốn nhắc lại chuyện hóa đơn ở tiệm ăn, thì cô Francis ạ, chẳng cần phải nói nữa. Ông Wells đã kể tôi nghe hết rồi. Tôi xin nhắc lại lời ông ấy nhé? Đây là một chuyện thú vị nhất, tốt đẹp nhất mà người khác làm cho ông. Tất nhiên ông ấy hiểu hết mọi chuyện. Thường rất ít khi qua mặt ông được chuyện gì.
- Vâng - Christine nói - Tôi đã nhận ra điều đó.
Có tiếng gõ cửa ở văn phòng phía ngoài, rồi ông Sam Jakubiec phụ trách phòng ghi nợ xuất hiện:
- Xin lỗi - ông nói khi trông thấy nhóm người ở trong phòng và vội rút lui. Nhưng Peter gọi ông lại.
- Tôi đến kiểm tra một tin đồn - Jakubiec nói - hiện nay tại khách sạn đang lan truyền rất rất nhanh tin đồn ông già Wells...
- Không phải tin đồn đâu - Peter cắt lời - Sự thực đấy - Anh giới thiệu ông trưởng phòng ghi nợ với ông Dempster.
Jakubiec vỗ trán kêu lên:
- Lạy Chúa? Thế mà tôi lại kiểm tra kỹ số tiền nợ của ông ấy. Rồi nghi ngờ tấm séc, thậm chí còn gọi cả điện về Montreal nữa chứ!
- Tôi có biết về cú điện thoại của ông - Lần thứ hai ông Dempster mỉm cười - ở nhà băng họ lấy làm thú vị chuyện đó lắm,nhưng họ đã được chỉ thị không bao giờ được đưa ra tin tức gì về ông Wells. Ông ấy thường yêu cầu như vậy.
Jakubiec gần như rên rỉ.
- Tôi nghĩ nếu như ông không kiểm tra sổ nợ của ông Wells - người từ Montreal nói như muốn trấn an Jakubiec - thì ông sẽ còn phải lo lắng hơn nhiều. Ông Wells đánh giá ông cao qua chuyện này đấy. Ông ấy thường có thói quen viết hối phiếu vào những loại giấy kỳ cục làm cho nhiều người phải bối rối. Tất nhiên các tấm hối phiếu này đều có giá trị. Có lẽ đến bây giờ chắc ông đã biết rõ ông Wells là một trong những nhân vật giàu có nhất ở Bắc Mỹ rồi chứ?
Jakubiec vẫn chưa hết ngạc nhiên, chỉ lắc đầu hoài.
Ông Dempster nhận xét:
- Lẽ ra sự việc đơn giản hơn đối với các bạn nếu tôi giải thích thêm một số điều về ông chủ của tôi - ông tiếc nhìn đồng hồ - ông Dempster, giám đốc ngân hàng cùng một số luật sư sẽ có mặt ở đây bây giờ, tuy nhiên tôi tin chúng ta còn đủ thì giờ chuyện trò thêm.
Ông ngừng lại vì Royall Edwards vừa tới. Ông quản trị trưởng lễ mễ mang theo hồ sơ giấy tờ và một chiếc cặp căng phồng. Một lần nữa lễ nghi giới thiệu lặp lại.
Ông Dempster vừa bắt tay người quản trị trưởng vừa báo:
- Chúng ta sẽ nói chuyện phiếm một lát, sau đó tôi mời các ông tham dự cuộc họp lúc mười một giờ rưỡi với chúng tôi. Nhân thể xin mời cả cô Francis. Ông Wells đề nghị cô cũng có mặt và tôi tin là ông sẽ rất hài lòng về việc này.
Lần đầu tiên, Peter McDermott thấy lúng túng vì bị loại khỏi trung tâm công việc.
- Tôi định giải thích rõ một vài vấn đề có liên quan tới ông Wells - ông Dempster gỡ kính xuống, thổi vào mắt kính rồi lại lau một lần nữa.
- Mặc dù giàu có như vậy, ông Wells vẫn là một người có những sở thích hết sức giản dị. Điều này không có nghĩa ông keo kiệt. Thực tế, ông Wells là người hết sức hào phóng. Chẳng qua đối với bản thân, ông thích nếp sống khiêm tốn, kể cả trong trang phục, đi lại và chỗ ăn ở.
- Về chỗ ăn ở - Peter xen vào - Tôi dự định chuyển ông Wells vào một cụm phòng. Chiều nay ông Curtis O’Keef ra về sẽ trả cho chúng tôi một cụm phòng.
- Theo tôi, không cần như vậy. Tình cờ tôi được biết ông Wells thích căn phòng hiện nay. Tất nhiên không phải như căn phòng trước đây.
Peter bất giác giật mình nhớ lại căn phòng "ha ha" mà ông Wells đã trọ trước khi được chuyển sang phòng 1410 tối hôm thứ hai.
- Ông không phản đối việc nhân viên của ông có cả một cụm phòng. Hay lấy tôi đây làm ví dụ - ông Dempster giải thích thêm - Chẳng qua ông ấy cảm thấy không cần nhiều cho bản thân đến vậy. Chuyện của tôi có hấp dẫn không đây?
Những người đang nghe ông nói đều đồng ý là câu chuyện rất hấp dẫn. Royall Edwards thích thú:
- Nghe cứ như chuyện cổ tích của anh em nhà Grimm vậy!
- Có thể. Song các ông cũng đừng cho rằng ông Wells đang sống trong thế giới cổ tích nhé. Ông ấy còn thực tế hơn tôi nhiều.
Peter nghĩ thầm: không biết mấy người kia có nhận ra hay không? Ẩn sau những lời lẽ tao nhã kia là vẻ gì đó rất cứng rắn.
Ông Dempster tiếp tục:
- Tôi đã từng biết ông Wells rất nhiều năm. Trong thời gian ấy tôi thấy kính trọng sự mẫn cảm của ông trước công việc và con người. Ông có sự sắc sảo bẩm sinh mà người ta không đào tạo được ở trường Đại học doanh nghiệp Harvard.
Royall Edwards vốn tốt nghiệp đại học Harvard nghe đến đây đỏ bừng mặt. Peter băn khoăn tự hỏi, không biết câu nói này do vô tình hay xuất phát từ việc vị đại diện của Wells đã điều tra chớp nhoáng tiểu sử các viên chức cao cấp của khách sạn rồi. Rất có thể ông ta đã điều tra.
Và như vậy, ông ta cũng biết rõ Peter, kể cả vụ bê bối dẫn anh tới việc bị sa thải ở Waldoff và bị ghi sổ đen. Phải chăng đó là lý do Peter không được ông ta nhắc tới trong lời mời họp hội đồng cơ mật của khách sạn?
Royall Edwards nói:
- Có lẽ chúng tôi sẽ có rất nhiều sự đổi mới ở đây.
- Tôi cũng nghĩ vậy - ông Dempster lại lau kính. Thói quen này dường như không bỏ được ở ông - Điều thay đổi trước hết là tôi sẽ trở thành chủ tịch của công ty khách sạn. Chức vụ này tôi nắm hầu hết ở các công ty của ông Wells. Bản thân ông ấy không hề quan tâm đến chức vị.
Christine nói:
- Như vậy chúng tôi sẽ còn gặp ông luôn.
- Thực tế lại rất ít, cô Francis ạ. Tôi sẽ chỉ là một nhân vật danh dự thôi, không hơn. Ông phó chủ tịch quản lý sẽ có toàn quyền ở đây. Đó là chính sách của ông Wells và cũng là của tôi.
Peter nghĩ thầm: Rốt cuộc, tình hình đã diễn ra đúng như anh dự kiến. Ông Wells sẽ không trực tiếp tham gia vào công việc quản lý khách sạn. Do đó việc ông ta hiểu anh cũng chẳng mang lại lợi ích gì. Trên thực tế, con người nhỏ thó đó đã hai lần rời khỏi công việc quản lý trực tiếp, do vậy tương lai của Peter sẽ phụ thuộc vào ông phó chủ tịch phụ trách quản lý, dù ông ta là ai chăng nữa. Peter tự hỏi, người đó là ai? Nếu biết, tình hình có khả năng thay đổi nhiều. Lúc này, Peter tự nhủ và gần như khẳng định, anh sẵn sàng chấp nhận mọi tình huống, kể cả việc phải ra đi, nếu cần. Bây giờ, anh thấy anh tha thiết gắn bó với St. Gregory hơn lúc nào. Tất nhiên, Christine là một lý do.
Một lý do khác là StGregory sẽ tiếp tục tính độc lập dưới chế độ quản lý mới, hứa hẹn nhiều cải tổ đáng phấn khởi.
- Ông Dempster - Peter hỏi - Nếu không phải là điều tối mật, ông có thể cho biết ai sẽ làm phó chủ tịch quản lý ở đây?
Người từ Montreal bối rối. Ông nhìn Peter lạ lùng, sau đó nét mặt trở nên rạng rỡ:
- Xin lỗi, tôi tưởng ông biết rồi chứ? Người đó là ông!
4
Suốt đêm qua, trong lúc mọi người khách đang ngủ ngon lành, thời gian chầm chậm trôi, ông lão Booker TGraham vẫn một mình cặm cụi làm việc trong ánh sáng của lò đốt rác. Thực ra việc này không có gì khác thường.
Lão Booker vốn là một người đơn giản. Ngày đêm của lão tuần tự luân phiên giống hệt nhau như những bản đánh máy lót các-bon. Chính bản thân lão cũng không bao giờ thắc mắc tại sao đời lão lại như vậy. Nguyện vọng của lão cũng thật đơn giản, chỉ giới hạn vào việc làm sao có đủ thực phẩm, một chỗ trú thân và một tiêu chuẩn về nhân phẩm. Tiêu chuẩn này cũng mang tính bản năng và lão không tài nào giải thích được nó là cái gì.
Điều đặc biệt là đêm nay trôi qua rất chậm cùng với công việc của lão. Thường thường, trước khi ra về một lúc lâu lão Booker thu dọn đống rác ngày hôm trước lại, chọn ra những thứ lão gom lượm được rồi ngồi chừng nửa tiếng đồng hồ yên lặng, hút điếu thuốc vấn, cho đến khi có thể đóng hẳn chiếc lò lại. Thế nhưng sáng hôm nay phiên trực đã kết thúc, công việc của lão vẫn chưa hoàn tất. Ở vào thời điểm mọi khi đã ra về, đến nay lão vẫn còn hơn chục thùng rác nén chặt chưa được chọn lọc và thu dọn.
Booker chưa ra về vì lão cố tìm bằng được mảnh giấy mà ông McDermott đang cần. Lão đã hết sức thận trọng, thấu đáo, giành hết thời gian của mình. Song cho đến lúc này lão vẫn chưa đạt kết quả gì.
Lão Booker đã báo cáo lại tình hình đáng buồn đó cho người trực đêm khi ông ta xuống tận đây, đưa cặp mắt xa lạ nhìn khung cảnh dữ dội và nheo mũi trước mùi thối nồng nặc. Ông phụ trách trực đêm đã vội vã rời lò ngay lập tức Nhưng việc ông ta mò tới đây và chỉ thị ông ta mang đến cho lão chứng tỏ tờ giấy thất lạc kia đối với McDermott có một ý nghĩa quan trọng.
Dù có luyến tiếc chăng nữa cũng đến giờ Booker phải về rồi. Khách sạn phản đối việc trả tiền làm thêm ngoài giờ. Hơn nữa lão Booker được thuê để xử lý rác chứ không phải để quan tâm đến những vấn đề của quản trị, dù chỉ là một chút xíu.
Lão biết rằng trong ngày hôm nay, nếu nhận thấy vẫn còn rác, người ta sẽ phái một ai đó xuống lò, đốt thêm vài giờ nữa cho bằng hết. Nếu không, chính lão sẽ phải đốt hết chỗ rác kia khi quay trở lại làm ca đêm nay. Cách nào cũng phiền cả. Cách thứ nhất thì hết hy vọng tìm ra mảnh giấy còn cách thứ hai, nếu có tìm ra cũng quá muộn, không đáp ứng được yêu cầu.
Tuy nhiên, có điều đặc biệt là Booker muốn làm việc này cho ông McDermott. Nếu ai có ép lão nói ra lý do vì sao như vậy thì lão đành chịu. Lão không biết diễn đạt ý nghĩ của mình bằng những lời rành rọt. Thế nhưng, khi ông trợ lý giám đốc trẻ kia tới đây, lão Booker cảm thấy mình là một con người, một cá nhân hơn bất cứ lúc nào khác. Lão quyết định tiếp tục tìm kiếm.
Để tránh phiến phức, lão rời lò ra chỗ đồng hồ ghi phiếu báo giờ về. Sau đó Booker quay trở lại. Chắc chẳng ai chú ý đến việc này bởi lò đốt rác không phải là nơi hấp dẫn tính tò mò của mọi người. Lão làm thêm ba giờ rưỡi nữa, làm từ từ, thận trọng với ý nghĩ cái mảnh giấy lão đang tìm có thể không nằm trong đống rác hoặc có thể đã bị đốt trước khi người ta báo cho lão để ý tìm kiếm nó.
Tới giữa buổi sáng, lão đã mệt lả và chỉ còn một thùng nữa là đến thùng cuối cùng.
Khi đổ bô rác ra, lão thấy ngay "nó" lập tức. Tờ giấy sáp được vo tròn không giống như loại giấy gói bánh sanwich. Khi mở tờ giấy ra, lão thấy nó bên trong một mẩu giấy viết nhầu nhĩ giống hệt mẩu giấy mà ông McDermott đã tả lại cho lão. Lão đưa hai tờ giấy ra trước ánh đèn, so sánh xem có khớp không. Đúng rồi, không nhầm vào đâu được.
Mẩu giấy lão tìm được có dính mỡ và hơi ẩm. Ở một chỗ, chữ viết đã bị nhoè, nhưng chỉ chút ít thôi. Phần còn lại vẫn rõ ràng.
Lão Booker khoác chiếc áo dính đầy bụi và dầu mỡ lên người, không buồn đốt nốt chỗ rác còn lại, lên ngay tầng trên của khách sạn.
5
Trong văn phòng rộng rãi của Warren Trent, ông Dempster đã kết thúc cuộc trao đổi riêng với người quản trị trưởng. Rải quanh trên bàn trước mặt họ là những tờ quyết toán, chứng từ mà ông Royall Edwards đang thu dọn lại khi thấy mấy người khác vào phòng chuẩn bị dự cuộc họp lúc mười một giờ rưỡi. Ông chủ nhà băng Dumaire đến trước tiên, mặt đỏ bừng vẻ quan trọng. Theo sau ông là một luật sư dáng mảnh khảnh, nước da tái xám, phụ trách hầu hết mọi vấn đề pháp lý của khách sạn StGregory, rồi đến một luật sư trẻ ở New Orleans, đại diện cho Albert Wells.
Sau đó Peter McDermott tháp tùng ông Warren Trent.
Ông Trent mới rời phòng mình ở tầng mười lăm xuống trước đây một lúc. Một điều khác thường là bất chấp việc thất bại trong cuộc phấn đấu nhằm duy trì quyền làm chủ của mình tại khách sạn, ông chủ cũ tỏ ra thân mật, thoải mái hơn bất kỳ lúc nào trong mấy tuần vừa qua. Ông gài một bông hoa cẩm chướng vào khuyết áo và ân cần chào hỏi các vị khách, trong đó có ông Dempster mà Peter vừa giới thiệu.
Đối với Peter, các sự kiện diễn ra như ở tận đâu đâu.
Động tác của anh đầy tính chất máy móc còn lời nói thì như một phản xạ có điều kiện để đáp ứng lại một bài kinh cầu nguyện. Dường như một con người máy trong anh chi phối tất cả, cho đến khi anh hồi phục do cú sốc mà người từ Montreal đem lại.
Phó chủ tịch phụ trách quản trị. Điều quan trọng đối với anh là nội dung của chức danh chứ không phải bản thân chức danh. Được toàn quyền quản lý khách sạn St. Gregory, tức là được thực hiện mơ ước của anh. Với một niềm tin mãnh liệt, Peter biết rằng StGregory có thể trở thành một khách sạn tốt, có uy tín và có hiệu quả. Rõ ràng CurtisO’Keef, với những ý kiến có giá trị, cũng đã nhận định như vậy.
Cần phải có những phương tiện để đạt tới mục đích này. Trong đó bao gồm việc tăng vốn, tổ chức lại bộ máy, xác định rõ ràng phạm vi quyền hạn và thay đổi một số nhân viên. Người cho nghỉ hưu, người được đề bạt, người lấy từ nơi khác về.
Khi anh biết tin ông Albert Wells đã mua khách sạn này, và nó sẽ tiếp tục mang tính độc lập, Peter hy vọng có một người am hiểu và nhiệt tình thực hiện những thay đổi tiến bộ. Bây giờ thì chính anh được người ta trao cho cơ hội như vậy. Tương lai thật đáng phấn khởi nhưng cũng có phần đáng lo.
Sự đề bạt còn có một giá trị khác đối với Peter. Như thế nghĩa là nhân cách anh trong giới kinh doanh khách sạn đã được khôi phục. Nếu những ngày tới đây anh thành công ở StGregory thì chuyện cũ sẽ được lãng quên, tiểu sử anh được rửa sạch. Giới chủ khách sạn nói chung không thiển cận và cố chấp ác hiểm. Suy cho cùng, hiệu quả quản lý sắp tới là vấn đề sống còn của anh.
Peter suy nghĩ mung lung. Tuy vẫn còn bàng hoàng anh đã bắt đầu trấn tĩnh và cùng với mọi người ngồi vào chỗ của mình trong chiếc bàn dài đặt giữa căn phòng. Ông Albert Wells là người đến cuối cùng, ông bước vào vẻ ngượng ngùng, Christine đi kèm bên. Khi ông vào phòng, mọi người đang ngồi đứng cả dậy.
Ông già nhỏ thó lúng túng thật sự, vẫy tay bảo mọi người ngồi xuống:
- Ấy đừng, đừng làm thế!
Warren Trent tiến đến phía ông, mỉm cười:
- Ông Wells, tôi xin có lời chúc mừng ông đã tới khách sạn của tôi - Họ bắt tay nhau - Khi nó đã trở thành khách sạn của ông, tôi xin chân thành chúc những bức tường cũ kỹ này sẽ mang lại cho ông niềm hạnh phúc và mãn nguyện như có thời nó mang lại cho tôi.
Những lời này được nói ra một cách lịch thiệp, nhũn nhặn.
Peter nghĩ: nếu từ miệng một người khác thì có vẻ sáo rỗng hoặc khoa trương, nhưng từ miệng ông Trent thì những lời này chân thành khiến cho người ta xúc động.
Albert Wells chớp mắt.
Ông Trent vẫn với vẻ lịch thiệp như vậy, khoác tay ông Wells và thân chinh giới thiệu từng người trong phòng.
Christine khép cửa ngoài và quay vào ngồi cùng với mọi người.
- Tôi chắc là ông đã biết cô Francis, trợ lý riêng của tôi và ông McDermott.
Albert Wells cười khinh khích hóm hỉnh:
- Chúng tôi cũng đã có một chút quan hệ với nhau - ông nháy mắt với Peter - Và sẽ còn quan hệ nhiều nữa, phải không?
Émil Dumaire là người "khai hỏa", mở đầu chương trình nghị sự. Ông chủ ngân hàng vạch rõ điều kiện mua bán đã được thỏa thuận về cơ bản. Mục đích cuộc họp này, mà cả ông Trent và ông Dempster đều yêu cầu ông làm chủ tọa, nhằm xác định các thủ tục, bao gồm cảngày tháng bàn giao. Dường như không gặp khó khăn gì cả. Nợ thế chấp của khách sạn, đến hôm nay là hạn cuối cùng, protem (tạm thời) đã được Ngân hàng Thương gia Công nghiệp gánh chịu, dưới sự bảo lãnh của ông Dempster, đại diện cho ông Wells.
Peter chợt thấy ông Trent đưa mắt giễu cợt nhìn Dempster. Đã nhiều tháng nay ông Trent cố gắng đến tuyệt vọng xin người ta cho gia hạn nợ mà không được.
Ông chủ ngân hàng đưa ra một bản chương trình nghị sự, phát cho mọi người. Trước hết là cuộc trao đổi ngắn về nội dung, hai luật sư và ông Dempster tham gia. Sau đó họ đi vào từng điểm một của nội dung chương trình. Hầu như suốt buổi họp cả hai ông Trent và Wells, chỉ giữ vai trò quan sát viên. Ông Trent có vẻ mơ màng, còn ông Wells nhỏ thó ngồi sụp trong chiếc ghế của mình, dường như không muốn lộ mặt. Ông Dempster không hề nhắc tới Albert Wells một lần nào, thậm chí cũng không liếc sang phía ông. Rõ ràng con người Montreal này hiểu rằng ông chủ của mình không thích ai quá chú ý đến. Vả lại, hình như ông Dempster đã quen tự quyết định lấy mọi vấn đề.
Peter McDermott và Royall Edwards trả lời những câu hỏi có liên quan đến công việc quản lý và tài chính. Có hai lần Christine rời phòng họp đi lấy tài liệu trong tủ hồ sơ của khách sạn.
Ông chủ ngân hàng có vẻ dương dương tự đắc nhưng đã điều khiển cuộc họp rất tốt. Trong vòng không đầy nửa tiếng đồng hồ, công việc chính đã được giải quyết xong.
Ngày chính thức bàn giao khách sạn ấn định vào thứ ba tuần sau. Các chi tiết nhỏ khác sẽ nhường lại cho hai luật sư bàn soạn với nhau.
Émil Dumaire liếc nhanh một lượt khắp bàn:
- Nếu như không còn vấn đề gì nữa...
- Có lẽ còn một việc nữa đấy - Warren Trent ngồi thẳng người dậy, dáng điệu này của ông khiến mọi người phải chú ý - Giữa những người quân tử với nhau, việc ký kết các văn kiện chỉ làm trì hoãn việc thực hiện những điều đã cam kết danh dự - ông liếc sang Albert Wells - Có lẽ ông cũng đồng ý với tôi?
Ông Dempster đáp thay:
- Vâng, đúng thế.
- Vậy thì xin cứ bắt đầu thoải mái ngay từ bây giờ những hoạt động nào mà ông thấy cần thiết cho khách sạn.
- Cảm ơn ông - ông Dempster gật đầu tán thành - Có một số việc chúng tôi muốn bắt tay làm ngay. Sau khi hoàn tất mọi thủ tục, ông Wells muốn có một cuộc họp của ban điều hành, trong đó việc đầu tiên là đề nghị ông làm chủ tịch hội đồng điều hành đấy ông Trent ạ.
Warren Trent nghiêng đầu lịch sự đáp:
- Tôi rất vinh dự được nhận lời. Tôi sẽ cố gắng hết sức mình để xứng đáng với chức vị danh dự đó.
Ông Dempster gượng cười:
- Ông Wells còn mong muốn tôi sẽ giữ vị trí chủ tịch quản trị khách sạn.
- Tôi hiểu mong muốn của ông - Và ông Peter McDermott sẽ là phó chủ tịch quản trị.
Những người ngồi quanh bàn cùng chúc mừng Peter.
Christine mỉm cười. Cùng với mọi người, ông Trent bắt tay anh.
Ông Dempster đợi đến lúc tiếng trò chuyện lắng xuống, tiếp tục chương trình nghị sự:
- Còn một điểm nữa: Tuần này, khi đang ở New York, tôi được biết một vụ tai tiếng liên quan đến khách sạn chúng ta. Tôi muốn có một sự đảm bảo rằng chúng ta sẽ không để sự việc như vậy xảy ra lần nữa, chí ít cũng trước lúc thay đổi chế độ quản lý.
Căn phòng bỗng lặng hẳn đi.
Người luật sư già có vẻ lúng túng. Anh luật sư trẻ thì thào khá to, giải thích cho ông ta biết:
- Đó là vụ một khách da đen bị gạt khỏi khách sạn.
- À, ra thế. - ông luật sư già gật gù hiểu ra.
- Tôi xin làm rõ thêm một điều - ông Dempster lại gỡ kính xuống, lau cẩn thận - Tôi đề nghị sẽ không có những thay đổi cơ bản trong chính sách của khách sạn này. Là một nhà kinh doanh, quan điểm của tôi là phải tôn trọng cách nhìn và tập quán của địa phương. Điều tôi quan tâm là nếu một khi tình huống như vậy xảy ra, chúng ta sẽ không để đưa đến một hậu quả tương tự.
Lại im lặng. Đột nhiên, Peter McDermott cảm thấy mọi sự chú ý dồn cả vào anh. Anh lạnh toát người khi nhận thấy rằng, hoàn toàn không báo trước, một tình huống gây cấn đã nổ ra. Đây là tình huống đầu tiên và có lẽ cũng là quan trọng nhất trong chế độ quản lý và có lẽ cũng là quan trọng nhất trong trong chế độ quản lý mới của anh. Anh sẽ xử trí thế nào, tương lai của khách sạn và của anh sẽ tùy thuộc vào đó Anh im lặng đợi đến lúc hoàn toàn làm chủ được những điều định nói ra.
- Sự việc vừa được nhắc tới - Peter nói trầm tĩnh, gật đầu về phía ông luật sư trẻ - đáng tiếc là có thật. Một đại biểu của hội nghị tổ chức tại khách sạn này đã dành phòng trước nhưng lại bị khước từ không cho vào ở. Ông ta là một bác sĩ nha khoa, theo tôi biết là một người có uy tín, nhưng tình cờ lại là người da đen. Tôi lấy làm tiếc phải thừa nhận rằng chính tôi đã đẩy ông ta đi. Kể từ lúc đó, tôi đã có một quyết tâm mang tính cá nhân, là sẽ không bao giờ để sự việc như vậy lặp lại một lần nữa.
Émil Dumaire nói:
- Tôi không tin ông sẽ còn gặp tình huống như thế nữa, với tư cách phó chủ tịch quản trị...
- Tôi cũng không cho phép bất cứ nhân viên nào dưới quyền tôi được có hành động tương tự như vậy.
Ông chủ ngân hàng bĩu môi:
- Đó là một lời tuyên bố hết sức chung chung.
Warren Trent bực bội quay sang Peter:
- Chúng ta đã kết thúc những chuyện này rồi.
- Thưa các vị - ông Dempster lại mang kính - Tôi đã giải thích rõ là không có ý đưa ra bất kỳ sự thay đổi cơ bản nào.
- Thế nhưng tôi sẽ đề nghị , ông Dempster ạ - Peter nghĩ nếu cần phải bộc lộ bản lĩnh thì lúc này là tốt nhấtHoặc anh sẽ được quản lý hoặc không. Và đây là thời điểm tốt nhất mà anh phát hiện được.
Người từ Montreal nghiêng mình về phía trước:
- Tôi muốn được hiểu rõ lập trường của ông.
Một tiếng nói trong tiềm thức cảnh báo cho Peter biết anh đang thiếu thận trọng. Song anh mặc kệ:
- Lập trường của tôi rất đơn giản. Tôi kiên quyết đòi phải xóa bỏ hoàn toàn tệ phân biệt chủng tộc ở khách sạn này và coi đó là một điều kiện để cho tôi làm việc.
- Ông có phần nóng vội trong việc đưa ra điều kiện đấy.
Peter nói bình thản:
- Tôi cho rằng câu nói của ông hàm ý ông đã nắm được một số vấn đề thuộc cá nhân nào đó…
Ông Dempster gật đầu:
- Đúng thế.
Peter nhận thấy Christine đăm đăm nhìn thẳng vào mặt anh. Không biết cô đang nghĩ gì vậy?
- Nóng vội hay không - Anh nói tiếp - tôi cũng phải nói thẳng để các ông biết rõ lập trường của tôi.
Ông Dempster lại tháo kính ra lau lần nữa. Ông nói với tất cả một người:
- Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta đều tôn trọng một ai đó có niềm tin vững chắc. Dù vậy, tôi thấy vấn đề này thuộc loại cần phải tạm thời nhân nhượng nhau. Nếu như ông McDermott tán thành thì lúc này chúng ta có thể tạm gác việc đi tới quyết định. Một hai tháng nữa chúng ta sẽ xem xét lại vấn đề này.
“Nếu như ông McDermott tán thành”, Peter nghĩ thầm, bằng một thủ thuật ngoại giao, con người Montreal kia đã mở cho anh con đường rút lui.
Trình tự vấn đề đã được xác định. Đầu tiên là khăng khăng bảo vệ quan điểm, sau đó lương tâm thấy dễ chịu và người ta công khai bộc lộ niềm tin. Tiếp theo là sự nhân nhượng. Những người biết điều thường đi đến một sự thỏa hiệp hợp lý. "Chúng ta có thể xem xét lại vấn đề này"...
Liệu còn có cách giải quyết nào văn minh hơn, đúng mực hơn thế không? Đó chẳng phải là thái độ ôn hòa, không bạo lực mà nhiều người vẫn ủng hộ đó sao? Lấy trường hợp các bác sĩ nha khoa làm thí dụ. Bức thư chính thức của họ với nội dung phàn nàn về thái độ của khách sạn trong vụ bác sĩ Nicholas, đã gửi tới khách sạn trong ngày hôm nay.
Hơn nữa, thực ra khách sạn còn đang gặp nhiều khó khăn, chưa phải lúc đưa ra giải quyết vấn đề này. Việc thay đổi ban quản lý sẽ đặt ra hàng loạt vấn đề, phát sinh vấn đề mới. Có lẽ, chờ đợi là cách lựa chọn khôn ngoan nhất lúc này.
Nhưng nếu thế, Peter nghĩ, thời cơ để có được sự thay đổi quyết liệt sẽ không bao giờ trở lại. Người ta sẽ luôn luôn có những lý do để trì hoãn hành động. Peter nhớ ai đó đã nói với anh điều này. Ai nhỉ? À bác sĩ Ingram, ông chủ tịch Hội nha khoa tính nóng như lửa kia đã từ chức bởi ông tin tính nguyên tắc của ông quan trọng hơn nhiều so với tính trục lợi. Ông đã rời khách sạn StGregory đêm hôm qua trong cơn giận dữ chính đáng.
Bác sĩ Ingram đã nói: "Đôi khi người ta cũng phải cân nhắc lựa chọn giữa một bên là ước muốn với một bên là niềm tin. Anh McDermott ạ, anh đã có cơ hội nhưng anh không làm như tôi. Anh quá lo cho cái ghế của anh ở khách sạn này. Tuy nhiên nếu anh còn có một cơ hội nữa, anh hay giành lấy nó...".
- Ông Dempster à. - Peter nói - Luật về quyền công dân đã xác định rõ ràng. Dù chúng ta có trì hoãn hay vòng vo lẩn tránh một thời gian thì kết quả cuối cùng chỉ là một mà thôi.
- Theo tôi biết - người từ Montreal nhận xét - Hiện nay còn nhiều chuyện tranh cãi quanh luật dân quyền của nước ta.
Peter lắc đầu, sốt ruột. Anh đưa mắt nhìn một lượt quanh bàn:
- Tôi tin rằng một khách sạn tất cần phải thích ứng với thời thế đã đổi thay. Đây là những vấn đề nhân quyền mà thời đại chúng ta đã thức tỉnh. Tốt nhất, chúng ta nên chủ động nhận thức và chấp thuận những vấn đề đặt ra chứ đừng để rơi vào tình trạng bị động, bị bắt buộc phải thực hiện. Vừa rồi, tôi đã tuyên bố sẽ không bao giờ tán thành việc xua đuổi một người khách như bác sĩ Nicholas. Và tôi giữ vững lập trường này.
Warren Trent cười ha hả:
- Không phải tất cả bọn họ đứa nào cũng có tư cách như bác sĩ Nicholas.
- Ông Trent ạ, chúng ta có những tiêu chuẩn nhất định. Chúng ta sẽ tiếp tục duy trì các tiêu chuẩn đó, trừ trường hợp nào quá cá biệt.
- Tôi xin nhắc anh nhớ rằng: Làm như thế anh chỉ đưa khách sạn này đến chỗ lụn bại thôi.
- Có lẽ còn nhiều cách khác làm cho nó lụn bại chứ chẳng riêng gì việc đó.
Warren Trent đỏ bừng mặt khi bị Peter bốp chát lại như vậy. ông Dempster nhìn vào tay của mình:
- Đáng tiếc hình như chúng ta đã rơi vào một tình trạng bế tắc, ông McDermott ạ, theo quan điểm của ông, chúng ta có thể phải xem xét lại…- Lẩn đầu tiên người từMontreal lộ vẻ dao động, hướng cái nhìn cầu cứu về phía ông Albert Wells- ông già nhỏ bé kia đang ngồi thu lu trong ghế của mình. Xem chừng ông ta như rúm người lại khi mọi người hướng cả về ông. Nhưng ông đã bắt gặp cái nhìn của Dempster.
- Charles ạ - Albert Wells nói - Theo tôi, chúng ta nên để cho anh bạn trẻ làm theo cách của anh - Rồi ông gật đầu với Peter.
Ông Dempster không hể đổi nét mặt, tuyên bố luôn:
- Như vậy, điều kiện của ông đã được chấp thuận, ông McDermott ạ.
Nghỉ giải lao. Trái với sự ăn ý trước lúc vào buổi họp, không khí bây giờ có vẻ gượng gạo, lúng túng. Warren Trent hằn học, phớt lờ Peter. Ông luật sư già tỏ ra không tán đồng, còn ông luật sư trẻ không bộc lộ rõ lập trường của mình. Émil Dumaire bám lấy Dempster chuyện trò sôi nổi. Hình như chỉ có mình ông Albert Wells phần nào mãn nguyện với chuyện vừa rồi. Christine bước ra cửa trước nhất. Lát sau, cô quay lại ra hiệu tho Peter. Qua khung cửa anh nhận ra chị thư ký Flore đang đứng đợi ở văn phòng ngoài. Nếu biết tính Flore thì nhận ra ngay phải có chuyện gì quan trọng khác thường mới khiến chị tới đây tìm anh. Anh xin lỗi mọi người, ra ngoài.
Khi Peter đến cửa, Christine đút vào tay anh một mẩu giấy. Cô thì thầm:
- Để sau hẵng đọc.
Anh gật đầu, nhét mẩu đi vào túi.
- Anh McDermott - Flore nói - lẽ ra tôi không tới quấy rầy anh.
- Tôi biết. Có chuyện gì vậy?
- Có người đang đợi anh tại phòng. Ông lão bảo là ông làm việc dưới lò đốt rác và đã thu được một vật quan trọng anh đang cần tìm. Lão ta không chịu đưa tôi, kiên trì ngồi đợi chưa chịu về.
Peter thảng thốt:
- Tôi sẽ đến ngay bây giờ.
- Nhanh lên nhé!
6
Vài phút trước mười hai giờ trưa, anh thợ bảo dưỡng Billyboy Noble, người cao lêu đêu, động tác chậm chạp, thu mình chui xuống chiếc hố nông bên dưới trục của thang máy số bốn. Công việc hàng ngày của anh là lau chùi và kiểm tra. Sáng nay anh ta đã làm xong việc ở các thang số một, hai và ba. Khi tiến hành công việc người ta không cần phải dừng hoạt động của các thang. Vì thế, khi Billyboy làm việc, anh có thể nhìn thấy buồng thang số bốn lúc lên lúc xuống phía trên đầu anh.
7
Peter McDermott ngẫm nghĩ: Nhiều vấn đề quan trọng lại có thể phụ thuộc vào một sự đùa cợt hết sức vớ vẩn của định mệnh. Anh ngồi lại một mình trong văn phòng của mình. Ông lão Booker Graham sau khi được anh cảm ơn xứng đáng đã yên tâm ra về cách đây mấy phút.
Một sự đùa cợt hết sức vớ vẩn của định mệnh.
Nếu như lão Booker là một loại người khác, nếu như lão đã về nhà như mọi người sau khi hết giờ làm việc, nếu như lão không kiên trì tìm kiếm thì mảnh giấy mà Peter đang nhìn chăm chú đã bị tiêu hủy từ lâu rồi.
Chuỗi "nếu như" kéo dài vô tận. Và trong đó có cả Peter.
Chính những chuyến xuống thăm lò đốt rác, anh đã rút ra được những nhận định về con người ông lão Booker.
Sự có mặt của anh đã tác động, khích lệ lớn lao đối với lão.
Có lẽ sáng sớm hôm nay lão đã ghi giờ về rồi, song vẫn tiếp tục làm việc mà chẳng hy vọng sẽ được trả công ngoài giờ. Khi Peter gọi Flore lại, chỉ thị thanh toán tiền làm ngoài giờ, bộ mặt mẫn cán của Booker lộ rõ vẻ bối rối.
Nguyên nhân gì thì chưa rõ, song kết quả nằm đây rồi.
Mảnh giấy viết đề ngày cách đây hai hôm. Bà Công tước Croydon đã dùng loại giấy của cụm phòng Tổng thống viết giấy ủy quyền cho Ogylvie được lấy xe của vợ chồng bà ra khỏi ga ra khách sạn nào bất cứ lúc nào ông ta thấy tiện.
Peter cũng đã kiểm tra lại dạng chữ. Anh đề nghị Flore lấy hồ sơ của vợ chồng Croydon. Hồ sơ hiện đang mở trên bàn anh. Trong đó có thư đề nghị dành phòng trước.
Có vài chỗ do chính tay bà Công tước ghi chú. Chắc chắn một giám định viên tự dạng sẽ không thể nào nhầm lẫn được. Nhưng dù không có kiến thức chuyên môn của họ, những nét chữ tương đồng cũng không thể qua mắt anh được. Bà Công tước đã thề trước các thám tử cảnh sát rằng Ogylvie lấy xe đi mà không được bà cho phép. Bà phủ nhận cả việc Ogylvie quy kết ông bà đã thuê ông ta lái chiếc Jaguar đi khỏi New Orleans. Bà ta còn nêu ý kiến rằng chính Ogylvie, chứ không phải ông bà, đã lái chiếc xe này vào tối thứ hai vừa qua vào lúc xảy ra vụ đâm xe chết người rồi bỏ trốn. Khi được hỏi về mảnh giấy viết này, bà đã thách thức: - ông đưa ra đây cho tôi xem!
Bây giờ thì có thể đưa ra được rồi.
Những hiểu biết luật pháp của Peter chỉ giới hạn quanh những vấn đề có liên quan đến khách sạn. Song dù hạn hẹp như vậy, anh cũng thấy rõ mảnh giấy viết của bà Công tước sẽ dồn bà tới chỗ hết đường chối cãi. Peter thấy nhiệm vụ của anh phải báo ngay cho đại úy Yolles biết đã tìm thấy mảnh giấy chứng lý thất lạc kia.
Peter ngập ngừng đặt tay lên máy điện thoại.
Anh thấy không việc gì phải thương xót vợ chồng Croydon. Qua những chứng cớ thu thập được, rõ ràng họ đã phạm tội ác, sau đó lại đê tiện bỏ chạy và định dối trá chối sạch. Peter như thấy trước mắt nghĩa địa cổ Saint Louis với đám tang diễu qua, chiếc quan tài lớn bên cạnh chiếc quan tài nhỏ sơn trắng…
Vợ chồng Croydon thậm chí còn lừa kẻ đồng lõa của họ là Ogylvie. Tuy gã thám tử khách sạn béo ị đó cũng thật đáng khinh, song tội ác của hắn không nặng như của họ.
Thế mà vợ chồng Công tước đã bày binh bố trận đổ mọi tội ác và hình phạt lên đầu Ogylvie.
Những điều đó không làm cho Peter do dự. Lý do khiến anh ngập ngừng lại thuộc về truyền thống, về nguyên tắc của các chủ khách sạn đã hình thành nhiều thế kỷ nay: Thái độ lịch thiệp đối với khách.
Dù ông bà Công tước Croydon là hạng người nào chăng nữa họ vẫn là khách của khách sạn. Anh sẽ gọi điện cho cảnh sát. Nhưng trước hết, anh phải gọi điện cho ông bà Croydon.
Anh nhấc mấy hỏi xin cụm phòng Tổng thống.
8
Đích thân ông Curtis O’Keef đặt bữa điểm tâm đưa lên tận phòng. Suất ăn đã mang đến cách đây một giờ nhưng hầu như các món vẫn chưa được đụng tới. Cả ông lẫn Dodo cố gượng ngồi cùng ăn với nhau nhưng xem ra không ai có thể nuốt trôi được miếng nào. Một lúc sau, Dodo cáo lỗi quay về phòng để đóng gói hành lý. Hai mươi phút nữa cô phải ra phi trường. Ông CurtisO’Keef thì một giờ nữa.
Sự căng thẳng giữa hai người bắt đầu từ chiều hôm qua.
Sau khi nổi đóa bất ngờ, ông O’Keef lập tức ân hận thực sự. ông vẫn còn bực bội về việc mà ông coi là Trent đã tráo trở. Thế nhưng việc nặng lời với Dodo thì không thể tha thứ được và ông biết rõ như vậy.
Điều tệ hại hơn là chuyện này không còn cách sửa chữa. Dù cho ông có ra sức xin lỗi thì sự thực vẫn rành rành ra đó. Ông sẽ bỏ rơi Dodo và chuyến bay của hãng hàng không Delta đi Los Angeles sẽ cất cánh chiều nay.
Ông sẽ thay cô bằng một người đàn bà khác, Jenny La Marsh mà lúc này đang chờ ông ở New York.
Đêm qua, để tỏ lòng ăn năn, ông dành một buổi tối chu đáo cho Dodo. Trước tiên, ông đưa cô đi ăn một bữa thịnh soạn tại nhà hàng Commander Palace, sau đó khiêu vũ và giải trí ở Căn phòng Xanh trong khách sạn Roosevelt. Tuy vậy, tối hôm qua ông vẫn không thấy thoải mái. Điều đó chẳng phải lỗi của Dodo mà éo le thay lại chính vì nỗi lòng u uất của ông. Cô đã cố hết sức tỏ ra vui vẻ khi được ở bên ông.
Từ sau buổi chiều hôm qua, mà rõ ràng cô buồn ra mặt, hình như cô đã quyết tâm muốn dứt bỏ mọi tình cảm đau khổ và cố tỏ ra hấp dẫn như vẫn có.
- Ấy anh Curtie ạ - Dodo đã thốt lên trong bữa ăn - Khối đứa con gái sẵn sàng sang hiến thân để được một vai đóng phim như em đấy - Sau đó cô đặt tay lên tay ông - Curtie, anh vẫn là người tốt nhất của em. Mãi mãi sau này vẫn vậy.
Câu nói đã gây một hiệu quả sâu sắc trong ông và làm cho ông càng thêm buồn chán. Cuối cùng tâm trạng không thoải mái đó lan sang cả Dodo.
Curtis O’Keef cho rằng ông buồn chỉ vì đã mua hụt cái khách sạn, mặc dù với những việc như thế ông thường dễ nguôi ngay. Trong cuộc đời doanh nghiệp lâu dài, ông từng trải nhiều thất bại và đã có quyết tâm thua keo này bày keo khác chứ không phí thời gian vô ích để ngồi than vãn.
Thế nhưng trong trường hợp này, thậm chí đã qua một đêm ngủ say, tâm trạng buồn bực vẫn không xua tan được.
Ông đâm ra bực với Chúa. Lời cầu nguyện sáng nay của ông rít lên và có ý chỉ trích thật sự: Người đã chứng kiến khách sạn St. Gregory lọt vào tay kẻ khác…Chắc chắn rằng Người đã có mục đích riêng khôn lường trong sự việc này, thậm chí đến cả những kẻ người trần mắt thịt dày dạn kinh nghiệm như bầy tôi của Người đây cũng không thể hiểu được lý do vì sao…
Ông ngồi cầu kinh một mình, lần này ít hơn hẳn mọi lần. Sau đó ông quay vào, thấy Dodo đang sửa soạn va li cho ông và cho cô. Ông phản đối nhưng cô nói:
- Curtie, em thích như vậy. Mà nếu lần này em không làm thì còn ai vào đây?
Ông không muốn giải thích cho cô biết rằng tất cảnhững cô ả trước Dodo chưa một cô nào đóng đồ hoặc dỡ đồ cho ông cả và ông thường phải gọi nhân viên ở bộ phận quản gia của khách sạn làm việc này. Nhưng rồi ông không nói ra được ý nghĩ của mình.
Khi hai người ngồi xuống bàn, Dodo cố gợi chuyện:
- Curtie, việc gì phải sầunão? Cứ làm như không bao giờ còn thấy được nhau nữa. Rồi sẽ còn nhiều dịp chúng ta gặp lại nhau ở Los Angeles cơ mà.
Song ông O’Keef hiểu rằng họ sẽ không bao giờ gặp nhau nữa. Ngoài ra, ông cho rằng điều ông thực sự quan tâm không phải việc chia tay với Dodo mà đã để hụt mất cái khách sạn.
Thời gian dần trôi. Đã đến giờ Dodo ra đi. Hành lý của cô đã được hai người trực tầng mang xuống sảnh cách đây mấy phút. Bây giờ, người phụ trách trực tầng đến đem nốt hành lý xách tay và đưa Dodo ra xe hàng không thuê riêng cho cô.
Herbie Chandler biết rõ địa vị quan trọng của Curtis O’Keef, đồng thời cũng như mọi khi y nhạy cảm với những món puốc boa lớn, đã thân chinh lên tận nơi. Ông ta đứng đợi ở cửa ngoài hành lang dẫn vào cụm phòng.
O’Keef xem lại đồng hồ, bước ra chỗ cửa nối hai phòng:
- Còn rất ít thời gian đấy nhé!
Giọng Dodo cất lên từ trong phòng:
- Em phải đánh xong móng tay đã, Curtie ạ.
Tại sao đàn bà lại cứ để đến phút chót mới sửa móng tay nhỉ? Curtis O’Keef vừa nghĩ như vậy vừa đưa cho Herbie Chandler tờ năm đô la.
- Anh chia cho cả hai người kia.
Bộ mặt chồn của Chandler sáng lên:
- Xin đa tạ ngài - Nhưng ông ta nghĩ ngay chỉ chia cho hai thằng kia mỗi thằng năm mươi cent, còn bốn đô la thuộc phần mình.
Dodo từ phòng giữa đi ra.
Curtis O’Keef nghĩ thầm lẽ ra phải có nhạc đệm, kèn vang lên báo hiệu rồi tiếng đàn giây xao động. Dodo vận chiếc váy dài giản dị màu vàng, đội chiếc mũ rộng vành của họa sĩ mà cô dùng hôm tới đây ngày thứ ba. Mái tóc hung buông xõa xuống hai vai. Đôi mắt to xanh biếc nhìn ông đăm đăm.
Cô giang tay ôm lấy cổ ông và hôn ông nồng thắm. Không chủ định nhưng ông đã ôm ghì lấy cô.
Tự dưng Curtis có ý nghĩ kỳ quặc. Ông muốn ra lệnh cho gã phụ trách trực tầng mang va li của Dodo trở lại và cô sẽ không bao giờ ra đi nữa. Nhưng ông vội xua ngay cơn xúc động điên rồ. Dù sao Jenny La Marsh còn kia. Giờ này ngày mai...
- Tạm biệt, anh sẽ luôn nghĩ đến em, theo dõi chặt chẽ công việc của em.
Ra tới cửa, cô còn quay lại vẫy ông. Không tin là thật nhưng rõ ràng ông có ấn tượng cô đang khóc. Herbie Chandler đóng cửa ngoài lại.
Ở tầng mười hai, người phụ trách bấm chuông gọi thang máy. Trong lúc họ đứng đợi, Dodo dùng mùi xoa chấm lại son phấn trên mặt.
Sáng nay các thang máy có vẻ chậm chạp. Herbie Chandler nghĩ thầm. Ông ta lại sốt ruột nhấn nút chuông một lần nữa, lần này giữ lâu thêm vài chục giây. Ông ta cũng cảm thấy căng thẳng, ruột gan nóng như lửa đốt kể từ sau cuộc gặp McDermott hôm qua. Ông không biết đến bao giờ và như thế nào người ta sẽ gọi ông. Có lẽ lần này Warren Trent trực tiếp hỏi chuyện và như thế là chấm dứt sự nghiệp Herbie Chandler tại khách sạn StGregory.
Nhưng cho tới giờ này vẫn chưa thấy động tĩnh gì và sáng nay lại có tin đồn khắp nơi rằng khách sạn đã bán cho một lão già nào đó mà Herbie chưa nghe đến tên bao giờ.
Liệu việc thay đổi như thế có ảnh hưởng gì đến cá nhân Herbie không? Đáng tiếc, Herbie thấy sẽ không thuận lợi gì cho bản thân nếu McDermott ở lại, mà điều này xem chừng có thể. Việc sa thải ông phụ trách trực tầng sẽ tạm hoãn đôi ba ngày nhưng trước sau vẫn không thay đổi. McDermott. Cái tên đáng ghét kia cứ như một chiếc kim đâm nhói vào tim ông. Giá như mình bạo gan - Herbie nghĩ, mình đã cho thằng súc sinh đó một nhát dao vào cổ. -Ông ta chợt nghĩ ra một kế. Còn nhiều cách giải quyết khác tuy không dữ dội bằng song không kém phần đau đớn mà một thằng như McDermott đáng được nếm mùi.
Để làm được chuyện đó đương nhiên phải tốn kém. Nhưng đã có món tiền năm trăm đô la mà thằng McDermott khinh bỉ ném trả hôm qua. Hắn sẽ phải hối hận về chuyện đó. Herbie suy tính, món tiền này sẽ được chi một cách xứng đáng và ông ta sẽ đắc chí khi biết tin McDermott nằm quằn quại ở một rãnh cống nào đó, mình mẩy thâm tím, máu me đầy người. Đã có lần Herbie tận mắt trông thấy một kẻ như vậy sau khi ăn đòn hội chợ. Cảnh xảy ra thật ghê rợn. Người phụ trách trực tầng liếm môi. Càng nghĩ đến chuyện đó, Herbie càng bị kích động. Ông quyết định sau khi trở xuống tầng trệt sẽ gọi một cú phôn và mọi chuyện được thu xếp nhanh chóng. Có lẽ chỉ tối nay thôi.
Cuối cùng thang máy cũng tới. Cửa thang xịch mở.
Bên trong đã có vài người khách, họ lịch sự nhường chỗ cho Dodo. Herbie Chandler bước theo sau. Cửa buồng thang đóng lại.
Đó là thang số bốn. Mười hai giờ mười một phút trưa.
9
Bà Công tước Croydon có cảm giác đang chờ ngòi cháy tiến dần tới một quả bom vô hình. Chỉ đến khi nào dây cháy tới đích mới biết trái bom có nổ không và nổ ở đâu.
Người ta cũng không biết ngòi nổ còn phải cháy bao lâu nữa.
Đã mười bốn giờ trôi qua. Kể từ lúc đám cảnh sát rút lui tới hôm qua vẫn chưa thấy động tĩnh gì thêm. Những câu hỏi rối bời vẫn chưa được giải đáp. Cảnh sát đang tiến hành việc gì vậy? Ogylvie hiện đang ở đâu? Chiếc Jaguar ra sao rồi? Liệu có còn tang chứng nào bị bỏ qua mặc dù đã hết sức khôn khéo? Cho đến lúc này bà Công tước tin là không còn lại dấu vết gì.
Điều quan trọng nhất lúc này là trong lòng có căng thẳng thế nào chăng nữa, bề ngoài vợ chồng bà vẫn phải tỏ ra hết sức bình thường. Vì vậy, họ vẫn ăn sáng theo đúng thời gian hàng ngày của họ. Bà Công tước thúc ông chồng liên lạc với London qua điện thoại và cả Washington nữa.
Kế hoạch dự định của bà rời New Orleans vào ngày mai.
Vào giữa buổi sáng, như phần lớn những người khác, bà Công tước rời khách sạn, dắt đàn chó Bedlington đi tập luyện. Bà đã trở về cụm phòng Tổng thống cách đây nửa giờ. Lúc này đã gần mười hai giờ trưa. Vẫn chưa có tin tức gì liên quan đến cái tang vật duy nhất và gay cấn nhất.
Đêm qua, nếu xét về lôgíc thì địa vị của ông bà Croydon dường như không ai có thể đụng tới. Nhưng đến hôm nay, logíc ấy có phần đuối, không được đảm bảo cho lắm.
Ông Công tước đánh bạo lên tiếng:
- Bà cho rằng họ cố tình im lặng để đánh đòn cân não chúng ta chứ gì? - Ông đang đứng bên cửa sổ phòng sinh hoạt, nhìn ra ngoài như thói quen trong mấy ngày qua.
Trái với những hôm trước, giọng ông trong trẻo. Từ hôm qua ông đã kiêng rượu, mặc dù rượu vẫn còn đầy trong phòng. Bà Công tước đáp:
- Nếu đúng tình hình như vậy thì chúng ta phải tính đến khả năng...
Tiếng chuông điện thoại réo vang cắt ngang lời bà.
Cũng giống như mọi cú điện thoại khác gọi đến sáng hôm nay, tiếng chuông làm cho họ bồn chồn. Bà Công tước đứng cạnh điện thoại. Bà với tay định cầm máy rồi bất ngờ dừng lại. Một linh cảm cho bà biết rằng cú điện thoại này khác thường. Ông Công tước tỏ vẻ thông cảm:
- Để tôi trả lời vậy?
Bà lắc đầu, gạt sự yếu đuối trong chốc lát. Bà nhấc ống nói lên:
- Có chuyện gì đấy?
Ngừng một lát. Bà Công tước xác nhận:
- Vâng, chính tôi đây - Bà che ống nói quay lại báo cho chồng biết - McDermott, thằng cha người của khách sạn đã đến đây tối hôm qua - Bà lại nói vào máy - Vâng, tôi nhớ rồi, ông đã có mặt lúc người ta lố bịch buộc tội... - Bà bỗng ngừng lại. Lúc đang lắng nghe mặt bà tái đi, nhắm mắt rồi lại mở ra - Vâng - Bà nói chậm rãi - Vâng, tôi hiểu.
Bà đặt ống nghe vào chỗ cũ, tay run run.
- Tình hình không ổn rồi - ông Công tước nói giọng khẳng định chứ không cần hỏi han gì thêm.
Bà Công tước từ từ gật đầu:
- Mảnh giấy viết... - Giọng bà lạc đi, không còn nghe rõ. Cái mảnh giấy mà tôi viết họ đã tìm thấy. Giám đốc khách sạn đang giữ.
Ông chồng rời ô cửa sổ đi vào giữa phòng. Ông đứng sững, hai tay buông thõng, chờ cho cái tin kia lắng vào trong đầu. Cuối cùng ông hỏi:
- Thế hiện nay ra sao rồi?
- Hắn sẽ gọi cảnh sát. Hắn bảo hắn quyết định báo trước cho chúng ta biết - Bà đặt tay lên trán vẻ tuyệt vọng - Mảnh giấy viết là sai lầm tệ hại nhất của tôi. Giá như tôi không viết…
- Không - Công tước nói - Nếu không có tờ giấy thì cũng có một chứng cớ khác thôi. Bà không có lỗi gì trong việc này cả. Gây nên lỗi đầu tiên là tôi.
Ông bước đến tủ búp-phê dùng làm quầy rượu, rót một ly Scotch pha xôđa:
- Tôi chỉ uống một ly này thôi, không hơn. Có lẽ cũng còn lâu mới uống lại.
- Ông định làm gì bây giờ?
Ông uống ực một hơi:
- Nói đến phép tắc bày giờ muộn rồi. Nhưng nếu còn được chút nào, tôi sẽ cố - ông đi sang phòng ngủ bên cạnh, sau đó quay ra ngay lập tức, tây cầm chiếc áo mưa nhẹ và chiếc mũ Hamburg.
Ông nói:
- Nếu có thể, tôi sẽ đến sở cảnh sát trước khi họ đến tìm tôi. Tôi tin rằng như vậy là tôi đã tự nộp mình. Có lẽ chẳng còn nhiều thời gian, cho nên tôi phải nói hết những điều tôi cần nói.
Đôi mắt bà Công tước dán vào ông. Lúc này bà thấy phải cố gắng lắm mới nới được nên lời. Trong khi đó, ông Công tước khẳng định, bằng một giọng bình thản:
- Tôi muốn nói để bà rõ, tôi rất biết ơn bà về những việc đã làm cho tôi. Đây là sai lầm của cả hai chúng ta, song tôi vẫn thấy biết ơn bà. Tôi sẽ cố tìm mọi cách để bà không phải liên can đến vụ này. Còn nếu như tôi đã cố gắng hết mức mà bà vẫn phải liên lụy thì tôi sẽ khai rằng tất cả các ý kiến kể từ sau tai nạn kia xảy ra đều là của tôi và tôi đã thuyết phục bà phải làm theo.
Bà Công tước hững hờ gật đầu.
- Còn một việc nữa. Có lẽ tôi cần một gã luật sư bảo vệTôi muốn bà thu xếp cho việc đó, nếu có thể được.
Ông Công tước đội mũ lên đầu, dùng một ngón tay ấn nó xuống. Đối với một người mà toàn bộ cuộc đời và tương lai vừa sụp đổ không đầy vài phút vẫn còn giữ được bình tĩnh như vậy thật hiếm thấy.
- Bà sẽ cần tiền để thuê luật sư - ông nhắc - Có lẽ nhiều đấy. Cần thiết thì phải bắt đầu ngay bằng một món tiền trong mười lăm ngàn đô la mà bà tính mang lên Chicago ấy. Phần còn lại gửi trả ngân hàng đi. Lúc này người ta không chú ý đến việc đó nữa đau.
Bà Công tước không tỏ vẻ gì đang lắng nghe ông nói.
Ông chồng thoáng vẻ thương hại, phân vân nói:
- Có thể là một thơi gian dài nữa... - ông đưa tay về phía bà.
Bà Công tước lạnh lùng ngoảnh mặt.
Hình như ông Công tước muốn nói thêm gì nữa nhưng rồi ông đổi ý định. Ông khẽ nhún vai quay đi, lặng lẽ bước ra khỏi phòng, khép cửa ngoài lại.
Bà Công tước ngồi đờ đẫn hồi lâu, nghĩ về tương lai, về khả năng bị lôi ra ánh sáng và sự nhục nhã đang chờ trước mặt. Sau đó, theo thói quen, bà đứng dậy. Bà sẽ phải bàn tính với luật sư. Việc này phải làm ngay, không được chậm trễ: Bà bình tĩnh trở lại, tiếp tục suy nghĩ, kể cả khả năng tự vẫn.
Lúc này, trước hết phải cất số tiền mà ông Công tước vừa nhắc vào một chỗ an toàn hơn. Bà đi vào phòng ngủ.
Lúc đầu bà không tin, sau đó bà tìm kiếm loạn xạ. Rồi bà biết chắc chiếc vali ngoại giao đã không cánh mà bay.
Nguyên nhân chỉ có thể là bị mất trộm. Khi nghĩ đến chuyện đi báo cảnh sát, bà Croydon bỗng bật lên một tràng cười man dại, đau đớn.
Công tước Croydon nghĩ: Nếu mình càng muốn thang máy đi nhanh càng thấy nó chậm. Có lẽ ông đã phải đứng đợi ở đầu cầu thang tầng chín đến mấy phút rồi. Cuối cùng, ông nghe tiếng buồng thang từ trên cao di chuyển xuống. Lúc sau, cửa thang mở ra ở tầng chín.
Công tước ngập ngừng trong khoảnh khắc. Vừa rồi, tưởng chừng như ông đã nghe tiếng bà vợ khóc. Ông định quay lại nhưng rồi thấy phải đi ngay.
Ông Công tước bước vào thang số bốn.
Trong buồng thang đã có mấy người, kể cả một cô gái trẻ rất quyến rũ và người phụ trách trực tầng. Ông ta cũng nhận ra Công tước: Kính chào tôn ông.
Công tước Croydon hững hờ gật đầu. Cửa thang khép lại.
10
Suốt đêm qua và cả sáng hôm nay, Trùm Khóa Milne cứ bần thần không biết chuyện xảy ra là hư hay thực. Lúc đầu khi mới phát hiện số tiền tình cờ vớ được ở cụm phòng Tổng thống y tưởng như đang mơ. Y đi đi lại lại quanh phòng, cố làm cho mình tỉnh ngủ. Chẳng thấy gì khác cả.
Dường như y vẫn tỉnh táo giữa cơn mơ. Trùm Khóa cứ thức chong chong như vậy với những cảm xúc rối bời cho đến lúc rạng sáng. Sau đó y lăn ra ngủ. Một giấc ngủ sâu, không vướng víu gì. Cho đến giữa buổi sáng y vẫn chưa tỉnh dậy.
Thực ra Trùm Khóa có cái nết như thế sau một đêm hành động có kết quả. Một mặt y bán tính bán nghi vào vận may, mặt khác y phải vạch ra nhiều phương án đề phòng nếu đúng là y gặp may thật.
Chưa bao giờ một khối tiền mặt mười lăm ngàn đô la đến tay Trùm Khóa trong bằng ấy năm hành nghề. Lúc này, có lẽ chỉ còn hai việc phải tính. Một là thời điểm và cách thức rút êm khỏi StGregory. Hai là phương án chuyển gọn số tiền mặt ra làm sao.
Đêm qua, y đã đi đến quyết định về cả hai vấn đề.
Khi rời khách sạn y phải hết sức tránh bị người ta để ý. Nghĩa là y phải trả lại phòng một cách bình thường và thanh toán hóa đơn đầy đủ. Nếu làm khác đi, y sẽ dại dột bộc lộ chân tướng bất thường. Và như vậy chỉ tổ giúp người ta lần ra dấu vết y để săn lùng.
Y muốn trả phòng ngay lập tức. Song y phải cố nén chờ. Trả phòng giữa đêm khuya sẽ làm cho nhân viên phải bàn đến chuyện có tính tiền thêm một ngày nữa không. Và việc này chẳng khác gì đốt đèn giữa đêm đen. Thủ quỹ ca đêm sẽ nhớ đến y, có thể miêu tả lại hình dạng y đầy đủ.
Và nếu khách sạn yên ắng, điều này rất có khả năng lúc nửa đêm, thì còn nhiều người khác cũng sẽ nhớ ra mặt y.
Không được! Thời gian trả phòng tốt nhất phải là giữa buổi sáng hoặc muộn hơn, lúc có nhiều khách ra vào khách sạn. Chỉ có cách đó y mới không bị người ta để ý.
Tất nhiên càng nấn ná càng nguy hiểm. Ông bà Công tước Croydon sẽ phát hiện bị mất tiền và báo cảnh sát.
Nghĩa là cảnh sát sẽ mai phục dưới sảnh, xoi mói theo dõi từng khách ra về. Thế nhưng, mặt khác chẳng chứng cớ nào có thể buộc Trùm Khóa dính líu vào vụ trộm, thậm chí cả việc liệt y vào đối tượng tình nghi cũng không. Hơn nữa, dường như càng khó có chuyện cảnh sát mở tung hành lý của mọi khách ra về để lục soát.
Tuy vậy, vẫn còn một điều chưa rõ ràng. Tiềm thức nhắc cho Trùm Khoá nhớ rằng việc xuất hiện số tiền mặt lớn như vậy là một hiện tượng không bình thường, thậm chí đáng ngờ. Vậy liệu người ta có báo động không nhỉ? Cũng có thể là không. - Y tiếp tục suy nghĩ và nhận ta cứ đợi có lẽ bớt nguy hiểm hơn.
Vấn đề thứ hai là chuyển số tiền đi khỏi khách sạn.
Trùm Khóa tính đến đường bưu điện. Y sẽ dùng bưu điện khách sạn gửi số tiền theo tên của y ở một khách sạn khác tại một thành phố nào đó mà vài ngày nữa y sẽ đến.
Cách này y đã từng thực hiện có kết quả trước đây. Song y thấy nản ngay vì số tiền lớn quá cỡ. Y phải đưa nó thành nhiều gói để gửi. Và làm thế càng tăng thêm sự chú ý của người khác.
Số tiền nhất thiết phải chuyển khỏi khách sạn. Nhưng bằng cách nào? Rõ ràng không thể để mãi nó trong chiếc cặp ngoại giao. Muốn làm gì thì làm, trước hết phải tiêu hủy chiếc cặp cái đã. Trùm Khóa bắt tay vào việc này rất tỉ mỉ.
Chiếc cặp bằng da đắt tiền và đóng rất chắc. Y kiên trì tháo gỡ nó rời ra thành từng tấm, sau đó dùng dao cạo cắt vụn. Công việc chậm chạp, tẻ ngắt. Chốc chốc y dừng lại vứt những mảnh vụn vào bồn cầu rồi xối nước. Nhưng cũng phải lâu lâu mới dùng bồn cầu một lần để các phòng bên cạnh khỏi chú ý.
Việc làm này kéo đài hơn hai giờ đồng hồ. Cuối cùng chiếc cặp ngoại giao chỉ còn lại hai cái khóa và bản lề kim loại Trùm Khóa bỏ chúng vào túi. Y ra khỏi phòng, đi dọc một lượt khắp hành lang tầng tám.
Gần chỗ thang máy có mấy chiếc bình cát để dập tàn thuốc lá. Y dùng một ngón tay bới cát, dúi hai chiếc khóa và bản lề cặp vào trong, lấp lại. Cuối cùng có thể người ta cũng phát hiện ra chúng. Nhưng phải mất một thời gian lâu. Lúc đó, phải một hai giờ nữa trời mới sáng. Khách sạn rất yên ắng. Trùm Khóa trở lại phòng mình. Y đã đóng gói xong hành trang, trừ một vài thứ vặt vãnh còn cần đến trước lúc ra đi. Y sử dụng hai chiếc va li đã mang theo sáng hôm thứ ba. Cuốn kỹ mười lăm nghìn đô la vào mấy chiếc áo sơ mi bẩn, y nhét vào đấy chiếc va li lớn.
Sau đó y đi ngủ và vẫn trong tâm trạng sững sờ nửa tin nửa ngờ.
Y đã để đồng hồ báo thức lúc mười giờ sáng. Song y ngủ quên, không nghe tiếng chuông báo thức hoặc cũng có thể chuông không kêu. Khi y tỉnh giấc, ánh nắng chói chang tràn ngập gian phòng, đã gần mười một giờ rưỡi.
Giấc ngủ đã củng cố cho y một điều. Y tin những chuyện xảy ra đêm qua là có thực, không ảo mộng gì.
Khoảnh khắc tưởng là thất bại nhục nhã bỗng thoắt một cái như trong truyện cổ tích Lọ Lem, y đã đạt tới thắng lợi rực rỡ. Càng nghĩ y càng thấy tinh thần phấn chấn.
Y cạo mặt và mặc quần áo rất nhanh. Sau đó y soát lại hành lý, khóa hai chiếc va li. Y quyết định để hai chiếc va li trên phòng, một mình xuống sảnh thanh toán hóa đơn và thăm dò tình hình.
Trước khi đi, y phải thủ tiêu mấy chiếc chìa khóa phòng số 449, 641, 803, 1062 và cụm phòng Tổng thống.
Trong khi cạo mặt, y đã thấy một tấm nắp đậy ổ kiểm tra của thợ đường ống gắn trên tường, sát dưới sàn buồng tắm. Y dùng tuốc vít mở nắp, bỏ mấy chiếc chìa khóa vào trong. Y nghe rõ từng chiếc một rơi tới đáy ở phía xa bên dưới.
Y chỉ giữ lại chìa khóa phòng số 830 để trao lại cho nhân viên khách sạn. Xét về bất cứ phương diện nào, việc ra đi của Byron Meader khỏi khách sạn StGregory cũng phải bình thường.
Hoạt động ở sảnh vẫn tấp nập như mọi lần, không có một dấu hiệu gì khác lạ. Trùm Khóa thanh toán hóa đơn và đón nhận nụ cười thân thiện của cô thủ quỹ:
- Phòng của ông hiện nay đã thu xếp gọn chưa ạ?
Y tươi cười đáp:
- Vài phút nữa. Tôi phải trở lên lấy va li nữa là xong.
Y thấy hài lòng, quay trở lên phòng.
Y đứng giữa phòng số 830, cẩn thận nhìn lại một lượt khắp phòng. Y không để lại bất kỳ một thứ gì từ mẩu giấy nhỏ cho đến những vật tầm thường không đáng chú ý như cái vỏ diêm. Nghĩa là không một dấu vết nào sót lại để có thể lần ra tung tích của y. Với chiếc khăn mặt ướt y lau tất cả những mặt phẳng nào tỏ ra có khả năng lưu lại vết tay của mình. Sau đó, hai tay nhấc hai chiếc va li, y rời phòng. Đồng hồ của y lúc đó chỉ mười hai giờ mười phút.
Y nắm chặt chiếc va li lớn. Nghĩ tới lúc đi qua sảnh và bước ra khỏi khách sạn. Trùm Khóa thấy trống ngực đập thình thịch, hai bàn tay nhớp nháp mồ hôi.
Tại đầu cầu thang máy tầng tám, y bấm chuông gọi thang. Y đứng chờ và nghe rõ tiếng thang đi xuống. Nó dừng lại ở tầng trên, rồi chạy tiếp, sau đó cánh cửa thang số bốn mở rộng trước mặt Trùm Khóa.
Đứng ở phía trước buồng thang là Công tước Croydon.
Trong giây lát hoảng sợ. Trùm Khóa đã có ý định quay lui. Song y trấn tĩnh được. Cũng trong khoảnh khắc này, sự minh mẫn đã bảo cho y biết cuộc chạm trán chỉ là tình cờ. Y đảo mắt nhìn quanh để kiểm tra lại. Chỉ có một mình ông Công tước. Thậm chí ông ta chẳng hề chú ý đến Trùm Khóa. Nét mặt cho thấy ông ta đang mải nghĩ những chuyện đâu đâu. Điều khiển thang máy là một lão già. Đứng cạnh lão là ông phụ trách trực tầng của khách sạn mà Trùm Khóa nhận ra ngay vì đã gặp dưới sảnh. Ông ta gật đầu ra hiệu về phía hai chiếc va li:
- Ông để tôi xách giúp?
Trùm Khóa lắc đầu từ chối.
Khi y bước vào thang máy, ông Công tước Croydon và một cô gái xinh đẹp, tóc hung, dãn ra hai bên nhường chỗ cho y. Cửa thang đóng lại. Bác phụ trách Sye Luin đẩy cần điều khiển "xuống".
Bác vừa gạt xong chiếc cần thì một âm thanh kim loại rít lên khủng khiếp. Buồng thang lao nhanh xuống đất, mất khả năng điều khiển.
11
Peter xác định rằng chính anh đã trình bày đầy đủ cho ông Warren Trent biết rõ mọi chuyện có liên quan đến vợ chồng Công tước Croydon.
Peter thấy ông chủ khách sạn trong văn phòng ở tầng lửng. Những người khác sau khi họp xong đã ra về cả.
Aloysius Royce đang ở cạnh ông chủ. Anh ta giúp thu thập các giấy tờ riêng của ông, xếp vào những chiếc cặp bìa cứng Warren Trent bảo Peter:
- Tôi tưởng rằng tôi có thể gắn bó với nơi này. Bây giờ tôi chẳng cần đến cái văn phòng này nữa. Nó sẽ là nơi làm việc của anh. Giọng ông già không có vẻ gì thù oán, mặc dù họ mới va chạm với nhau cách đây nửa giờ.
Aloysius Royce tiếp tục lặng lẽ công việc của mình trong khi hai người kia nới chuyện.
Ông Trent chăm chú lắng nghe anh thuật lại những sự việc xẩy ra kể từ lúc anh vội vã rời nghĩa trang StLouis ra về chiều hôm qua, kể cả hai cú điện thoại anh gọi báo cho bà Công tước Croydon và cảnh sát New Orleans cách đây vài phút.
- Nếu như vợ chồng Croydon đã làm đúng như anh kể - Warren Trent tuyên bố - thì tôi không hề thương hại gì họAnh đã xử trí đúng - ông làu bàu nói thêm ý nghĩ của mình - Chí ít thì chúng ta cũng tống cổ được lũ chó khốn kiếp đó.
- Đáng tiếc là Ogylvie đã dính líu tương đối sâu vào vụ này.
Ông già gật đầu:
- Lần này thì hắn đã đi quá xa. Hắn phải hứng chịu mọi hậu quả có thể có - ông Trent ngừng lại. Có vẻ như ông đang cân nhắc điều gì. Cuối cùng ông nói: Chắc anh muốn biết lý do tại sao lúc nào tôi cũng gắn bó với Ogylvie như vậy?
- Vâng, đúng thế.
- Hắn gọi nhà tôi bằng cô. Thật ra tôi không hãnh diện gì chuyện đó và tôi bảo đảm với anh rằng giữa nhà tôi và hắn không có gì giống nhau cả. Nhưng cách đây đã lâu nhà tôi có yêu cầu tôi bố trí cho hắn một việc ở đây và tôi đã chấp nhận. Sau đó, có một bận nhà tôi tỏ ra lo lắng là hắn có thể bị đuổi. Tôi đã hứa với bà ấy rằng tôi đã thuê hắn làm việc suốt đời. Thực tế, tôi đã không bao giờ muốn sai lời hứa đó.
Warren Trent tự hỏi: - Làm sao giải thích được rằng trong lúc mối ràng buộc với người vợ quá cố đã trở thành mong manh, đứt đoạn vậy thì ông còn giữ quan hệ này làm gì?
- Xin lỗi ông - Peter nói - Tôi không biết là…
- Tôi đã có vợ, chứ gì? ông già mỉm cười - Nhiều người ở đây cũng không biết nhà tôi đã từng chuyển đến khách sạn này cùng ở với tôi. Hồi đó chúng tôi còn rất trẻ. Ngay sau đó bà ấy qua đời. Lâu lắm rồi thì phải.
Watren Trent nghĩ: nhắc đến điều này, ông lại liên tưởng đến tình trạng cô đơn mà ông đã chịu đựng bấy nhiêu năm trời, và sắp tới đây ông lại còn cô đơn hơn thế nữa.
Cửa văn phòng ngoài bỗng bật mở, không có tiếng gõ báo trước. Christine loạng choạng bước vào. Cô đã chạy vội, một chiếc giầy văng đi đâu mất, đầu tóc cô rồi bù. Cô thở hổn hển, mãi mới nói được vài lời:
- Vừa xẩy ra... tai nạn khủng khiếp. Ở một thang máy. Tôi đang đứng dưới sảnh... Kinh khủng quá! Có mấy người mắc nạn... Họ đang rên la.
Peter lao ngay ra cửa, gạt cô sang một bên. Aloysius Royce cũng chạy theo anh.
12
Có ba thiết bị lẽ ra có thể cứu được thang số bốn thoát khỏi bị tai họa.
Một là cái máy điều tốc đặt trên buồng thang. Nó được lắp đặt để hoạt động khi tốc độ thang vượt quá giới hạn an toàn cho phép. Trên thang số bốn mặc dù người ta không chú ý tới sự cố hỏng hóc thì bộ phận điều tốc vẫn đang hoạt động.
Thiết bị thứ hai gồm có bốn chiếc kẹp an toàn. Ngay khi bộ phận điều tốc nhả ra thì bốn chiếc kẹp này lẽ ra phải bám chặt lấy các thanh dẫn thang và dừng buồng thang lại. Thế nhưng do bộ phận điều tốc phản ứng chậm và cũng vì máy móc quá cũ kỹ, các chiếc kẹp không chẹn được nữa ở cả hai bên.
Song dù có xảy ra như vậy, thì hoạt động tức thời của bộ phận điều khiển nguy cấp bên trong buồng thang lẽ ra có thể ngăn chặn được tai họa. Đó là một chiếc nút đỏ.
Mục đích của nút là khi bị ấn xuống nó sẽ ngắt điện, làm tê liệt hoạt động của thang. Ở các thang máy hiện đại, nút ngắt khẩn cấp đặt trên cao, dễ thấy. Còn trong thang của StGregory và nhiều nơi khác, nút này lại đặt ở dưới thấp.
Sye Luin đã cúi xuống, lúng túng quờ quạng tìm nút và ông ta đã quá chậm mất rồi.
Khi chỉ có một bên kẹp phanh hoạt động còn bên kia thì không, buồng thang chuyển động oằn oại, lắc lư. Khối sắt thép bị giật xé ầm ầm dưới sức nặng và tốc độ của chính nó, cộng thêm với trọng lượng khối người bên trong.
Buồng thang bị vỡ từng mảnh, các tấm kim loại tách rời ra. Ở một phía, sàn thang xệ xuống thấp hơn so với phía bên kia, bởi sàn thang lúc này đã nghiêng theo một góc nhọn làm lộ ra một khoảng trống giữa sàn và vách buồng thang rộng đến hàng thước. Khách đi trong thang la thét điên cuồng, bấu víu vào nhau và trượt về phía khe hở.
Sye Luin, bác điều khiển thang đã có tuổi đứng gần khe hở nhất nên cũng là người đầu tiên ngã qua khe.
Tiếng hét trong lúc rơi chín tầng bị nghẹt lại khi người bác chạm xuống nền bê tông của tầng hầm bên dưới. Một cặp vợ chồng già ở thành phố Salt Lake rơi tiếp sau, tay vẫn nắm chặt tay. Cũng giống như Sye Luin, họ chết ngay, thân thể nát nhừ lúc chạm tới đất. Công tước Croydon loạng choạng rơi, người đập phải một thanh sắt ở bên cạnh trục máy, bị nó đâm xiên vào người. Thanh sắt gẫy, ông lại rơi tiếp. Ông chết trước khi chạm tới đất.
Không biết làm sao những người khác vẫn còn bám được vào thang. Trong lúc đó hai ổ kẹp hầm an toàn bật ra, buông rơi buồng thang đã bị vỡ lao thẳng đoạn đường còn lại xuống trục thang. Nửa chừng, một đại biểu còn trẻ dự đại hội nha khoa tuột ra khỏi lỗ hổng, cánh tay ông ta bị đập nát. Sau khi xảy ra tai nạn ông vẫn còn sống được thêm ba ngày mới chết vì chấn thương nội tạng.
Herbie Chandler may mắn hơn. Ông ta ngã bật ra ngoài khi buồng thang rơi gần hết đoạn cuối. Ông ta lộn nhào vào trục thang bên cạnh, chấn thương ở đầu sau này cũng khỏi, nhưng lại bị gẫy cột sống đưa đến tình trạng liệt hai chân và từ đó suốt quãng đời còn lại, ông không thể đi lại được nữa.
Một phụ nữ trung niên người New Orlean nằm rớt lại ở sàn thang, xương chày bị vỡ, hàm mặt nát bét.
Khi buồng thang chạm đến đáy, Dodo là người rơi cuối cùng. Một cánh tay và đầu của cô bị đập mạnh vào một thanh dẫn. Cô nằm mê man, gần như chết rồi, máu phun ra từ vết thương đầu rộng hoác.
Có ba người thoát nạn hết sức kỳ lạ, đó là hai vợ chồng một ông đại biểu dự hội nghị Cola Vương miện Vàng và Trùm Khóa Milne.
Bên dưới buồng thang vỡ tan là Billyboy Noble, anh thợ bảo dưỡng mà cách đó mười phút chui vào hố thang, đang nằm sóng soài, hai chân và một phần bụng dưới bị dập nát. Anh vẫn còn tỉnh táo, đang rên la giữa đống máu.
13
Peter lao xuống cầu thang tầng lửng với một tốc độ chưa từng thấy anh sử dụng bao giờ ở khách sạn.
Khi anh xuống tới sảnh thì một cảnh hỗn loạn đang diễn ra. Tiếng kêu thất thanh vang ra từ các cửa thang máy và của mấy phụ nữ đứng quanh đấy. Xen lẫn vào đấy có tiếng quát tháo. Đứng phía trước đám đông đang nhốn nháo là một trợ lý giám đốc mặt trắng bệch và một người trực tầng cố tìm cách bật mở các cánh cửa sắt để vào trục thang số bốn. Thủ quỹ, hầu phòng, nhân viên văn phòng bỏ cả bàn, cả quầy, túa ra sảnh. Khách ở các quán ăn, tiệm rượu cũng dồn cả về đây, bồi bàn, bồi rượu cũng chạy đổ xô theo sau khách. Ở phòng ăn chính, ban nhạc đang chơi vào giờ ăn trưa, ngừng ngay lại, và theo đám người hỗn loạn.
Một dòng người phục vụ trong bếp đổ ra qua cửa bếp.
Hàng loạt câu hỏi tới tấp đổ dồn vào Peter.
Anh cố hết sức hét lớn, át tiếng hỗn loạn:
- Trật tự!
Tiếng ồn ào lắng đi trong giây lát, anh nói thật to:
- Đề nghị mọi người lùi cả lại, chúng tôi sẽ cố giải quyết mọi cách - Anh bắt gặp cái nhìn của một nhân viên hầu phòng - Đã có ai gọi sở cứu hỏa chưa?
- Thưa ông, tôi không rõ. Có lẽ...
Peter cắt lời:
- Anh đi gọi ngay đi! - Anh chỉ thị cho một người khác - Liên hệ với cảnh sát. Báo cho họ biết chúng ta cần ngay xe cứu thương, bác sĩ. Cần có ngay một người giữ trật tự ở đây.
Cả hai nhân viên chạy biến đi.
Một người đàn ông gấy, cao lêu đêu mặc áo vét tông vải tuýt quần vải thô tiến lên phía trước: - Tôi là một sĩ quan hải quân. Xin ông cứ ra lệnh cho tôi.
Peter nói bằng giọng cảm kích:
- Cần phải dãn số người đang xúm đông ở giữa sảnh. Ông hãy dùng nhân viên khách sạn làm hàng rào ngăn một lối mở ra đến cửa chính. Dẹp các cửa quay lại.
- Xin tuân lệnh!
Người đàn ông cao ngẳng quay đi và bắt đầu cất tiếng chỉ huy. Mọi người tỏ ra tuân thủ sự lãnh đạo. Lập tức một hàng dài người đã hình thành gồm các bồi, bếp, nhân viên, trực tầng, nhạc công và cả một số khách tự nguyện kéo dài qua suốt sảnh dẫn tới cửa ra đại lộ StCharles.
Aloysius Royce đã tiếp tay người trợ lý giám đốc và người trực tầng phá cửa thang máy. Anh ta quay lại gọi Peter:
- Không có dụng cụ, không tài nào phá được đâu. Phải tìm chỗ khác để phá thôi.
Một người thợ bảo dưỡng mặc áo lao động chạy ùa vào sảnh. Anh ta gọi Peter:
- Chúng tôi cần thêm lực lượng trợ giúp ở dưới đáy trục. Một cậu bị buồng thang đè gãy người. Chúng tôi không tài nào kép được anh ta ra và đến gắn chỗ mấy người bị nạn khác.
Peter cắt lời:
- Chúng ta cùng xuống ngay dưới đó.
Anh lao vụt về phía cầu thang dẫn xuống hầm, Aloysius Royce theo ngay sát đằng sau.
Một đường hầm lát gạch xám, được chiếu sáng lờ mờ, dẫn tới trục thang. Đến đây, những tiếng kêu rên mà ở bên trên họ đã nghe thấy rõ bây giờ vang lên, nghe ghê rợn hơn. Buồng thang tơi tả ở ngay đằng trước mặt họ, nhưng lối vào đã bị chặn lại vì những mảnh sắt cong queo, méo mó bật ra từ buồng thang cùng với những thiết bị nó đã đập mạnh vào. Gần phía trước, các công nhân bảo dưỡng đang vật lộn với những thanh xà beng. Một số người khác đang đứng phía sau, không giúp được việc gì.
Tiếng gào, tiếng quát, tiếng máy móc rì rầm bên cạnh, hòa lẫn với tiếng rên rỉ đều đều từ bên trong buồng thang.
Peter quát bảo mấy người đứng không:
- Lấy thêm đèn xuống đây! - Có mấy người chạy ngược về cuối đường hầm.
Anh chỉ thị cho người công nhân mặc áo lao động đã lên sảnh:
- Quay lên trên đưa đội lính cứu hỏa xuống đây.
Aloysius Royce đang quỳ bên đống mảnh vụn thét to:
- Đưa thêm một bác sĩ xuống ngay.
- Phải - Peter nói - Cắt một người nào đó chỉ đường cho ông ta xuống. Cần phải ra một lời kêu gọi. Hiện nay đang có một số bác sĩ trọ ở khách sạn.
Người kia gật đầu rồi chạy trở lại con đường họ đã đi qua.
Thêm nhiều người nữa tới chỗ hành lang và bắt đầu làm nghẽn chỗ ấy. Kỹ sư trưởng Doc Vickery lách người đi vao.
- Lạy Chúa! - ông ta đứng trân trân nhìn quang cảnh trước mắt - Lạy Chúa! Tôi đã bảo họ rồi mà. Tôi đã cảnh cáo họ là nếu không chi tiền vào đây thì tai nạn như thế này... - ông ta nắm lấy tay Peter - Anh bạn trẻ, anh nghe tôi nói rồi đấy chứ? Tôi nói biết bao nhiêu lần rồi đấy chứ?Tôi nói biết bao nhiêu lần rồi...
- Ông kỹ sư -trưởng ạ, chuyện đó để sau - Peter gỡ tay ông ra -Bây giờ ông có cách nào đưa được những người đó ra không?
Ông ta lắc đầu, vô vọng: - Cần phải có những dụng cụ lớn như kích, cưa cắt sắt.
Anh thấy là ông kỹ sư không cần vào công việc này, anh chỉ thị:
- Ông cho kiểm tra mấy chiếc thang kia ngay. Nếu cần thì cho ngừng hoạt động. Đừng để lặp lại tình trạng như thế này. - Người kỹ sư già gật đầu, im lặng. Ông ta cúi đầu buồn bã bỏ đi.
Peter nắm vai một người kỹ sư đứng máy, tóc muối tiêu mà anh vừa nhận ra:
- Hãy dãn người ở khu vực này ra. Ai không có nhiệm vụ, ra khỏi đây ngay.
Ông kỹ sư gật đầu. Sau khi ông ra lệnh cho mọi người quay lui, đường hầm quang hẳn.
Peter quay trở lại chỗ trục của thang máy. Aloysius vừa quỳ vừa bò đã luồn được vào dưới một phần cái xác guồng thang và nâng được hai vai của anh thợ bị thương đang rên la dậy. Trong ánh đèn lờ mờ anh biết rõ khối mảnh vỡ còn đè lên đùi và phần bụng dưới của anh ta.
- Billyboy - Royce động viên - Cậu sẽ qua khỏi thôi. Tôi hứa với cậu là sẽ cứu cậu ra thoát bây giờ.
Chỉ có tiếng rên rỉ đau đớn đáp lại.
Peter cầm lấy tay người bị nạn:
- Anh ấy nói đúng đấy. Chúng tôi đã ở đây rồi! - Cứu thương cũng sắp tới bây giờ.
Xa xa phía trên anh đã nghe thây tiếng còi rền rĩ.
14
Người nhân viên xếp phòng đã gọi được điện thoại tới Sở Cứu hỏa thành phố. Anh ta chưa kịp nói hết thì những tiếng bíp bíp - tiếng báo động chính - đã vang lên ở mọi phòng cứu hỏa. Tiếp sau đó là giọng nói bình tĩnh của một người điều vận vang lên trong máy truyền thanh.
- Trạm không không không tám báo động có sự cố tại khách sạn StGregory, góc đường Carondelet và Canal.
Lập tức bốn trạm cứu hỏa đáp lại. Ở ba điểm, những người lính không thuộc phiên trực đang ngồi ăn trưa. Còn ở điểm trung tâm, bữa trưa sắp sửa chuẩn bị xong. Một người lính được phân công làm cấp dưỡng thở dài, tắt bếp ga phóng chạy ra xe cứu hỏa cùng với những người khác.
Cứ nhè vào cái giờ chó chết này mà báo động đi cứu mấy thằng cha giàu sụ ở giữa thành phố. Quần áo và giày bảo hộ đã có sẵn trên xe. Họ trút bỏ giày lại trèo lên xe trong khi các thiết bị đang kêu lên.
Không đầy một phút giữa hai tín hiệu báo động năm chiếc xe với đầy đủ phương tiện, hai thang và câu liêm, một chỉ huy kỹ thuật, nhiều đơn vị cấp cứu, tải thương, một phó chỉ huy và hai phụ trách khu vực đã lên đường tới StGregory, lái xe của họ chạy len lách giữa đường phố đông đúc buổi trưa.
Sách chỉ dẫn đã nêu rằng báo động cứu khách sạn được xếp vào loại quan trọng.
Ở các điểm cứu hỏa khác, đến khi phát tín hiệu lần thứ hai đã có mười sáu xe máy và hai thang có móc câu liêm sẵn sàng.
Phòng khiếu nại cảnh sát trong cơ quan Tòa án hình sự đã nhận được báo động qua hai nguồn: một từ Sở cứu hỏa và một trực tiếp từ khách sạn.
Ngồi dưới tấm biển ghi chú: Cần phải kiên nhẫn khi nhận điện thoại, hai cô nhân viên liên lạc ghi lại tin báo trên những phiếu trắng, và một lát sau họ trao hai tấm phiếu đó cho người phụ trách máy truyền tin. Tin phát đi như sau: Chuẩn bị xe cứu thương - Cảnh sát và Bệnh viện từ thiện - tới khách sạn StGregory.
15
Cách dưới sảnh của StGregory ba tầng lầu, trong đường hầm dẫn tới trục thang máy, tiếng ồn ào, tiếng quát ra lệnh vội vã, tiếng rên la gào thét vẫn tiếp tục. Lúc ấy có thêm tiếng bước chân khẩn trương mạnh mẽ. Một người vận bộ com lê vải sọc bước vào. Anh ta còn trẻ, tay xách túi cứu thương.
- Bác sĩ! - Peter gọi khẩn thiết - ông lại đằng này!
Anh ta khom mình bò tới chỗ Peter và Aloysius Royce.
Phía sau lưng họ, những dây đèn mới buộc vội vã đã chiếu sáng. Billyboy Noble lại rên rỉ. Anh quay mặt về phía bác sĩ, đôi mắt đầy vẻ đau đớn, tỏ ý cầu khẩn:
- Ôi trời ơi! Tiêm cho tôi thứ thuốc gì...
Người bác sĩ gật đầu, tay quờ quạng lục tìm trong túi thuốc. Anh ta lấy ra một ống tiêm. Peter kéo tay áo Billyboy lên, để lộ cánh tay anh ra. Người bác sĩ lấy gạc lau nhanh rồi ấn mạnh kim tiêm vào. Vài giây sau morphin đã ngấm. Đầu Billyboy ngả ra. Đôi mắt anh nhắm nghiền.
Người bác sĩ đưa ống nghe lên ngực Billyboy:
- Ở đây tôi không mang theo nhiều thuốc. Tôi mới đi phố về. Các anh có thể đưa nhanh anh ta ra ngoài được không?
- Có thêm cứu hộ đến bây giờ, chúng tôi đưa ngay ra thôi.
Lại có thêm những tiếng chân người chạy vào. Lần này là tiếng chân nặng nề của nhiều người. Lính cứu hỏa đội mũ bảo vệ đầy đủ tràn ùa vào. Họ mang theo đèn xách tay cực sáng, các thiết bị nặng như rìu, kích, cưa sắt, đòn bẩy.
Không nói năng nhiều. Thỉnh thoảng chỉ có vài tiếng ngắn ngủi, giật cục, vài ba câu lệnh gay gắt.Lại đây! Đưa kích xuống dưới chỗ này! Chuyển dịch cái khối sắt nặng này đi chỗ khác!
Ở phía bên trên có tiếng rìu bổ chan chát. Tiếng sắt bị đập vụn. Luồng ánh sáng lọt xuống dưới khi các cửa trục ở trên mặt sảnh mở ra được. Có tiếng hét:
- Thang đâu? Đưa xuống đây cho chúng tôi! - Một chiếc thang kéo dài kéo xuống.
Người bác sĩ nói như ra lệnh:
- Tôi cần phải đưa người này ra.
Hai lính cứu hỏa loay hoay tìm vị trí đặt chiếc kích.
Căng được kích thì sẽ nhấc được khối nặng đang đè trên người Billyboy. Họ vừa dò dẫm vừa chửi thề, loay hoay tìm chỗ trống mà chưa ổn. Chiếc kích rộng hơn đến vài ba inch. - Tìm cho chúng tôi một chiếc kích nhỏ hơn. Lấy kích nhỏ hơn thay chiếc lớn này! - Yêu cầu đó được nhắc lại trong máy bộ đàm - Mang chiếc kích nhỏ ở xe tải dụng cụ cứu người xuống đây!
Giọng của bác sĩ lại khẩn thiết:
- Tôi cần phải đưa người này ra ngay !
Peter nói:
- Kia có một thanh sắt chặn! Cái thanh cao ấy nếu đưa đi chỗ khác, sẽ nhấc theo thanh thấp đủ chỗ trống để đặt được kích vào đấy.
Một người cứu hỏa cảnh cáo:
- Trên đầu chúng ta lúc này là hai mươi tấn. Di chuyển cái gì dưới này, toàn bộ khối đó có thể ập xuống đây. Cho nên khi bắt tay vào, ta cứ phải làm thật từ từ, thận trọng.
- Nào, thử xem sao! - Aloysius Royce nói.
Royce và Peter, vai sát vai, tay ghì chặt tay, lưng đặt dưới thanh sắt trên cao. Nâng lên nào! Không được. Cố lên nào! Vẫn không nhúc nhích. Lồng ngực như vỡ tung, máu trào ra, các giác quan chới với. Thanh sắt chỉ hơi nhúc nhích chút ít. Cố thêm nữa nào! Chẳng lẽ lại không được sao? Đầu óc đã hoa lên. Cảnh vật đã mờ đi. Chỉ còn lại một đám sương mù đỏ. Gắng sức nào! Chuyển nào! Bỗng có tiếng kêu to:
- Đặt được kích rồi!
Sự căng thẳng kết thúc, trùng xuống. Kích đã quay và nhấc được xác buồng thang lên.
- Ta đưa anh ấy ra được rồi.
Giọng bác sĩ trầm hẳn xuống:
- Thôi cứ làm từ từ. Anh ấy chết rồi.
Những người chết và bị thương được thang đưa lên lần lượt từng người một. Lúc này sảnh trở thành một trạm điều phối, cấp cứu cho những người còn sống, đồng thời cũng là nơi công bố người nào đã chết. Đồ đạc đã được dọn quang. Cáng tải thương để đầy khu vực giữa. Đằng sau hàng rào người, đám đông đang im lặng, áp sát. Có nhiều tiếng phụ nữ kêu khóc, vài ba người đàn ông quay mặt đi.
Bên ngoài, một dãy xe cứu thương đang đợi. Đại lộ StCharles và Carondelet, giữa các phố Canal và Gravier giao thông bế tắc. Có nhiều đám đông tập hợp sau hàng cảnh sát chặn ở hai đầu. Chỉ có các xe tải thương là được đi qua. Đầu tiên là xe đưa Herbie Chandler, sau đến xe đưa ông bác sĩ nha khoa đang hấp hối, một lát sau là xe chở người phụ nữ New Orleans bị thương ở chân và ở cằm. Các xe tải thương khác đi chậm hơn về phía nhà đại thể của thành phố. Bên trong khách sạn, một đại úy cảnh sát đang thẩm vấn các nhân chứng và tìm hiểu tên tuổi các nạn nhân.
Trong số những người bị thương thì Dodo được chuyển đi cuối cùng. Một bác sĩ xuống tận dưới hầm băng chặt vết thương đầu vỡ toác cho cô. Cánh tay cô cũng được bó bột.
Trùm Khóa Milne không quan tâm đến việc người ta hỏihan chăm sóc y, ngồi bên cạnh đỡ Dodo, sau đó lại hướng dẫn cho những người cứu nạn tới chỗ cô đang nằm vật.
Trùm Khóa là người lên sau cùng. Đi trước y là ông đại biểu hội nghị Cola Vương miện Vàng và vợ ông ta. Một người lính cứu hỏa đã chuyển va li của Dodo và Trùm Khóa từ giữa đống sắt vụn lên trên sảnh. Một người cảnh sát mặc sắc phục đã tiếp nhận và đang trông giữ đống vali. Peter McDermott cũng đã trở lên sảnh lúc Dodo được chuyển lên. Cô ta nằm bất động, người trắng bệch, bê bết máu, vòng băng trên đầu đẫm máu. Khi cô ta được đặt lên cáng có hai bác sĩ đến khám vết thương chớp nhoáng. Một người còn trẻ là bác sĩ thực tập, người kia lớn tuổi hơn.
Người bác sĩ trẻ lắc đầu.
Có sự rối loạn sau hàng rào người. Một ông mặc áo sơmi trắng, giọng kích động đang hét toáng lên:
- Để cho tôi vào!
Peter ngoảnh lại, sau đó ra hiệu cho người sĩ quan hải quân. Hàng rào dãn ra cho Curtis O’Keef lao nhanh qua.
Mặt không còn thần sắc, ông bước đi bên cạnh chiếc cáng. Khi Peter quay nhìn lần nữa thì ông đã ra đến ngoài phố và xin được đi theo xe tải thương. Người bác sĩ nội trú gật đầu. Cửa xe đóng sầm. Tiếng còi rú lên và xe chạy biến mất.
16
Trùm Khóa vẫn còn bàng hoàng, không tin được là mình đã thoát nạn, y trèo lên thang trong trục thang. Một lính cứu hỏa đi theo sau. Nhiều bàn tay chìa xuống giúp y trèo lên thang. Rồi lại những cánh tay dìu y đi vào sảnh.
Trùm Khóa nhận thấy y có thể đi đứng bình thường, không cần ai giúp cả. Cảm giác của y cũng đã trở lại bình thường. Một lần nữa, y thấy phải cảnh giác. Quanh y đầy cảnh sát. Y thấy ớn bọn họ.
Hai chiếc vali đâu rồi? Nếu chiếc to bị bật tung thì hết đường... Thế nhưng chưa làm sao cả. Hai chiếc vali của y vẫn nằm cạnh những chiếc khác. Y tiến lại chỗ đó.
Một tiếng nói từ phía sau y:
- Thưa ông, ngoài kia có xe cứu thương đang đợi - Trùm Khóa quay lại, thấy một anh cảnh sát trẻ.
- Tôi không cần…
- Ai cũng phải đến kiểm tra. Để bảo vệ cho ông thôi mà.
Trùm Khóa phản đối:
- Tôi phải lấy những vali của tôi đã.
- Ông sẽ lấy sau. Người ta sẽ bảo quản chúng cho ông.
- Không, tôi phải lấy ngay bây giờ.
Một giọng khác cắt ngang:
- Lạy Chúa! Nếu ông ta muốn lấy vali thì cứ để cho ông ta lấy. Ai đã thoát rồi đều có quyền...
Anh cảnh sát trẻ xách hai chiếc va li và đưa Trùm Khóa ra cửa Đại lộ StCharles:
- Ông đợi ở đây, tôi đi gọi xe cứu thương - Anh ta đặt vali xuống.
Khi người cảnh sát quay đi, Trùm Khóa xách vội vali lẩn vào đám đông. Không ai để ý lúc y chuồn khỏi đóY tiếp tục bước thong thả tới bãi đỗ xe ngoài trời mà y đã gửi ôtô hôm qua sau khi vớ bẫm ở ngôi nhà tại khu Lakeview. Y cảm thấy yên ổn, vững tin. Bây giờ sẽ không có chuyện gì xảy ra với y nữa.
Bãi xe rất đông nhưng Trùm Khóa nhận ngay ra chiếc xe Ford của y nhờ tấm biển của bang Michigan sơn xanh trên nền trắng. Y chợt nhớ hôm thứ hai y đã băn khoăn cho rằng những tấm biển này có thể gây sự chú ý. Rõ ràng là y đã lo lắng không đâu.
Chiếc xe vẫn đỗ nguyên chỗ cũ. Theo lệ thường, máy nổ ngay khi y vừa mới chạm tay vào nút khởi động.
Từ trung tâm, Trùm Khóa lái xe thận trọng trở ra môtel ở trên quốc lộ Chef Menteur. Ở đây y đã giấu số của cải lấy trộm được hôm trước. Giá trị của những món đó thật là nhỏ bé so với khối tiến mười lăm ngàn đô la, tuy nhiên vẫn có cái giá của nó.
Khi về đến môtel, y lùi chiếc Ford của y vào sát phòng đã thuê và mang hai chiếc vali lấy được từ StGregory vào ngay trong phòng. Y kéo tấm rèm che trước khi mở chiếc vali to kiểm tra xem số tiền có còn trong đó khôngVẫn nguyên vẹn.
Hôm trước y đã chất đầy các thứ đồ dùng cá nhân trong phòng, bây giờ phải xếp lại mấy chiếc vali để lấy chỗ cho món mới. Cuối cùng, y thấy còn để ở ngoài hai chiếc áo lông, một chiếc bát và chiếc khay bằng bạc lấy trộm được tại nhà ở khu Lakeview. Vẫn chưa đủ chỗ chứa, phải dỡ ra xếp lại.
Trùm Khóa thấy cần phải làm cho xong. Nhưng vài phút vừa qua, y mệt bã người, có lẽ đó là hậu quả của những sự kiện căng thẳng xẩy ra hôm nay. Tuy nhiên, thời gian đã trôi qua, điều quan trọng bây giờ là y phải chuồn khỏi New Orleans, càng nhanh càng tốt. Y cho rằng cứ để hai chiếc áo và mấy thứ đồ bằng bạc ở thùng xe, không cần bỏ vào va li, cũng chẳng nguy hiểm gì.
Sau khi kiểm tra không thấy bị ai để ý, y xếp các vali vào xe, đặt hai chiếc áo và chiếc khay bạc bên cạnh.
Y trả lại phòng cho môtel, thanh toán sòng phẳng hóa đơn. Khi lái xe đi, y cảm thấy đã có phần nào bớt mệt mỏi.
Đích sắp tới của y là thành phố Detroit. Y vạch một chương trình chạy xe thành nhiều chặng và dừng lại ở nơi nào thấy thích. Trên đường đi y sẽ suy nghĩ nghiêm chỉnh về tương lai của mình. Đã nhiều năm nay Trùm Khóa tự hứa với bản thân rằng đến khi nào đã kiếm được một số tiến tương đối khá, y sẽ dùng nó để mua một xưởng nhỏ sửa chữa xe hơi. Tại đó y sẽ cắt đứt đoạn đường tội lỗi, an cư lạc nghiệp, làm ăn lương thiện cho đến lúc mãn đời. Y có tay nghề khá. Chiếc xe Ford dưới tay y là một bằng chứng và mười lăm ngàn đô la cho bước khởi đầu cũng là một vốn liếng khá. Vấn đề là đã đến lúc đó chưa?
Trùm Khóa tiếp tục đấu tranh tư tưởng khi lái xe qua vùng Bắc New Orleans, hướng về xa lộ Pontchartrain là con đường đưa y tới tự do.
Có nhiều lý lẽ khiến y thiên về khuynh hướng định cư một chỗ. Y đâu còn trẻ trung gì nữa cho cam. Những pha liều lĩnh căng thẳng đã làm cho y mệt mỏi lắm rồi. Lần này tại New Orleans, y sợ hú vía.
Thế nhưng những sự kiện xảy ra trong ba mươi sáu giờ vừa qua lại củng cố hy vọng cho y, khiến y càng phấn chấn. Vụ lẻn vào nhà ăn trộm, tiếp đó có được món bẫm tình cờ như Aladin, cuối cùng thoát chết trong tai nạn thang máy cách đây một giờ, tất cả các sự kiện đó đối với y như những dấu hiệu của một khả năng không bị thất bại.
Phải chăng tất cả là điềm báo rằng y hãy tiếp tục hành động?
Trùm Khóa suy tính: Có lẽ y cứ tiếp tục con đường đang đi một thời gian nữa. Cái chuyện ga ra kia hãy xếp lại sau cũng được. Còn khối thời gian.
Y đã đi từ quốc lộ Chef Menteur vào đại lộ Gentilly, vòng quanh công viên thành phố, qua mấy hồ nước mặn có hàng sồi già trải dài. Bây giờ y đang đi trên Đại lộ Công viên thành phố, đến gần đường Metari. Đây là nơi tập trung hàng loạt nghĩa trang của New Orleans, các mộ chí kín ngập cả một vùng mênh mông như biển. Ở phía trên cao là xa lộ cao tốc Pontchartrain. Trùm Khóa lúc này đã trông thấy xa lộ, nó như một thành lũy chắn ngang trời.
Chỉ ít phút nữa là y đã chạy xe trên đó.
Khi đến gần đoạn cuối phố Canal và đại lộ Công viên thành phố, điểm cuối cùng trước khi tới đường dốc dẫn vào xa lộ, Trùm Khóa để ý thấy đèn hiệu tự động bị hỏng. Một cảnh sát đang đứng giữa đường phía phối Canal để điều khiển giao thông.
Chỉ còn vài thước nữa tới chỗ đường giao nhau thì Trùm Khóa cảm thấy một chiếc lốp xe của y bị xì hơi.
Anh cảnh sát giao thông thành phố New Orleans Nicholas Clensy đã có lần bị ông trung sĩ rỉa rói thậm tệ là thằng cớm ngố nhất, không còn thằng nào ngố hơn.
Lời kết tội này quả không ngoa. Mặc dù đã từng làm việc lâu năm trong ngành, Clensy chưa một lần nào được thăng trật, thậm chí cũng chẳng bao giờ được người ta nhắc đến việc cho lên lương. Thành tích của anh ta chẳng vẻ vang gì. Anh ta hầu như chưa tóm được một vụ nào ra trò mà có chộp được cũng chỉ là những vụ lặt vặt. Nếu như Clensy có rượt đuổi theo xe nào thì kẻ lái xe có thể yên chí là sẽ chạy thoát. Có lần, trong cuộc hỗn chiến, một sĩ quan cảnh sát túm được một kẻ tình nghi và giao cho anh ta còng khóa tay hắn lại. Đến khi tên tội phạm xa chạy cao bay rồi, Clensy vẫn còn đang loay hoay vùng vẫy tìm cách gỡ hai tay mình bị khóa chằng vào thắt lưng. Một lần khác có một tên cướp nhà băng, sau khi bị truy lùng ráo riết đã chịu bó giáp quy hàng Clensy ngay trên đường phố. Tên cướp trao cho Clensy khẩu súng của hắn thì Clensy lại làm rớt xuống đất. Súng nổ đoàng một phát khiến cho tên cướp giật mình hoảng hốt, vội thay đổi ý kiến và chuồn mất. Phải mất thêm một năm với sáu vụ trấn lột nữa hắn mới bị bắt lại.
Trong bằng ấy năm trời, Clensy sở dĩ không bị đuổi việc chỉ vì bản chất anh ta rất tốt không ai chê trách vào đâu được lại thêm vẻ mặt tồi tội của một anh chàng cục mịch, ý thức được nhược điểm của mình.
Đôi khi trong những lúc chỉ có một mình, Clensy ước ao có thể lập được một công trạng gì, chỉ cần một lần sao cho thật xứng đáng, nếu không xóa hẳn được thành kiến thì ít nhất cũng bớt điều tai tiếng. Cho đến nay anh vẫn chưa làm nên trò trống gì.
Có một công việc thuộc trách nhiệm cảnh sát mà Clensy không thấy chán, đó là việc hướng dẫn giao thông.
Anh rất thích công việc này. Giá như anh có thể đảo ngược được lịch sử, ngăn không cho người ta phát minh ra đèn hiệu giao thông tự động thì anh sẽ vui mừng làm ngay.
Cách đây mười phút, thấy đèn báo ở phố Canal và đại lộ Công viên thành phố không hoạt động, anh đã dùng máy bộ đàm báo tin về trạm rồi đỗ xe mô tô lại và quản lý luôn đoạn đường này. Anh tin rằng cũng phải mất một thời gian nữa đội sửa chữa đèn đường mới đến đây.
Clensy đứng ở bên kia đường, trông thấy chiếc xe Ford màu ghi chậm dần rồi dừng lại. Anh cũng từ từ tiến sang.
Trùm Khóa vẫn ngồi không nhúc nhích cho đến khi xe dừng hẳn.
Clensy quan sát thấy bánh xe sau đã hết hơi.
- Thủng lốp phải không?
Trùm Khóa gật đầu. Giá như Clensy tinh mắt thì anh sẽ nhận thấy những khớp ngón tay đặt trên vô lăng kia trắng bệch. Trùm Khóa cay đắng tự trách mình khi nhớ ra rằng trong lúc vạch kế hoạch rất tỉ mỉ thì y lại bỏ qua một chi tiết hết sức đơn giản: chiếc lốp xơ cua và cái kích lại để trong thùng sau xe. Muốn lấy chúng, y phải mở nắp thùng lật tung đống áo lông, chiếc khay, cái bát bằngbạc, và cả mấy chiếc vali nữa.
Y ngồi đợi, mồ hôi toát ra như tắm. Viên cảnh sát không tỏ dấu hiệu gì sẽ đi khỏi đây:
- Ông phải thay lốp chứ?
Trùm Khóa lại gật đầu. Y tính toán có thể làm việc này rất nhanh. Nhiều nhất là ba phút thôi. Kích lên, dùng mỏ lết tháo các êcu ra. Tháo bánh cũ! Tra bánh với vào. Xiết lại. Ném chiếc bánh xe xẹp, chiếc kích và mỏ lết vào chỗ ngồi đằng sau! Đóng thùng xe lại! Thế là có thể phóng xe trên xa lộ. Chỉ mong sao thằng cớm mau mau cuốn xéo đi cho rồi.
Phía sau chiếc xe Ford, nhiều xe khác đang đi chậm dần, một số đã phải dừng lại để chuyển vào làn đường giữa. Một chiếc xe chuyển làn quá sớm. Phía sau y tiếng bánh xe rít lên, rồi một tiếng còi phản đối. Viên cảnh sát nắm tay vào cửa xe, nhô người về phía Trùm Khóa.
- Chỗ này xe cộ nhiều đấy.
Trùm Khóa nuốt nước bọt:
- Vâng.
Gã cảnh sát đứng thẳng người, lấy tay mở cửa xe:
- Phải giải quyết cho xe đi mau lên.
Trùm Khóa rút chùm chìa khỏi công tắc. Y từ từ bước xuống đường, cố gượng cười:
- Vâng, thưa ông sĩ quan. Tôi sẽ giải quyết xong ngay bây giờ.
Trùm Khóa nín thở chờ gã cảnh sát quay lại theo dõi hoạt động ở trên đường.
Clensy cởi mở:
- Tôi sẽ giúp ông một tay.
Trùm Khóa đã chợt nảy ra ý nghĩ bỏ xe đấy mà chạy.
Rồi y dẹp nó chuyện đó lại vì làm thế cũng vô vọng. Y miễn cưỡng tra chìa khóa mở thùng xe.
Không đầy một phút sau, y đã đặt kích vào vị trí, tháo xong ê cu của bánh xe, và đang nâng cái đỡ phía ngoài.
Mấy chiếc vali, áo lông và bát, khay bạc đang chất ở một phía trong thùng xe. Đang làm, y thấy gã cảnh sát cứ ngắm nghía đống đồ. Thật là lạ, cho đến phút này gã ta vẫn chưa lên tiếng.
Một điều mà Trùm Khóa không biết được là muốn cho chìa khóa của Clensy vận động cũng phải mất một thời gian.
Clensy cúi xuống chỉ vào chiếc áo lông.
- Những của này mặc bây giờ thì hơi nóng - Nhiệt độ trong bóng râm tại thành phố này trong mười ngày gần đây vẫn quanh quẩn chín mươi lăm độ ([2]).
- Bà xã nhà tôi... thỉnh thoảng vẫn thấy lạnh.
Ê cu đã tháo hết rồi, chiếc lốp cũ đã rời ra. Trùm Khóa bằng một động tác mở bật cửa sau của xe và ném chiếc bánh xe đó vào trong.
- Bà xã không đi với ông?
- À tôi…tôi sắp đi đón đây mà.
Hai tay Trùm Khóa cử động rối rít để tháo chiếc bánh xơ cua ra. Ổ giữ cứng quá. Y đã gẫy cả một móng tay, trầy cả da tay mới tháo được chiếc bánh. Mặc cho đau đớn, y nhấc bổng chiếc bánh xơ cua ra khỏi thùng xe.
- Những của này trông kỳ quá đấy!
Trùm Khóa sững cả người. Y không dám cử động nữa.
Trực giác cho y thấy đã đến lúc tận số.
Định mệnh đã tạo cho y một cơ hội, rồi chính y lại vứt bỏ nó đi. Dù cái ý định của y mới chỉ nằm trong óc thôi, thì cũng chẳng khác gì. Định mệnh rất nhân từ với y, thế mà y lại bài xích. Và định mệnh đã nổi giận, quay lưng lại với y.
Y hoảng hốt nhớ mới cách đây mấy phút y đã sẵn sàng quên đi cái giá ghê rợn phải trả cho một dự định, đó là nhũng năm tháng tù đày kéo dài mà lần này là suốt đời.
Có lẽ tự do mới là cái quý giá hơn bất cứ điều gì. Xa lộ ngay sát đây rồi thế mà cứ như cách xa nửa vòng trái đất.
Cuối cùng Trùm Khóa hiểu ra rằng những điềm báo trong một ngày rưỡi vừa qua là có ý nghĩa thật sự. Chúng đã tạo cho y một cơ hội giải thoát, tìm đến một cuộc đời mới lương thiện, chạy trốn khỏi quá khứ, tiếc rằng y đã không hiểu được như vậy. Ngược lại, y còn hiểu sai những điềm báo này. Y vẫn cứ trâng tráo, kiêu căng cho rằng sự nhân từ của Định mệnh lại là khả năng không bị thất bại của y. Y đã quyết định theo ý mình và đây là kết quả. Bây giờ thì muộn quá rồi.
Đúng không nhỉ? Muộn quá rồi, không còn hy vọng thoát được! Trùm Khóa nhắm mắt lại.
Y cầu nguyện, và với một quyết tâm sắt đá là nếu có được cơ hội nữa, y sẽ giữ lời nguyện đến cùng. Y nguyện rằng nếu cơ hội duy nhất này cho y thoát được thì suốt cuộc đời y sẽ không làm thêm bất kỳ một việc bất lương nào khác.
Trùm Khóa mở mắt ra. Viên cảnh sát đang tiến đến phía chiếc ôtô vừa đỗ lại để hỏi đường.
Bằng những động tác nhanh nhẹn mà chính bản thân y cũng không tin được, Trùm Khóa lắp chiếc bánh xe mới vào, xiết các ê cu lại, tháo chiếc kích ra, ném nó vào thùng xe. Cho đến lúc này, với bản năng của một thợ máy cẩn thận, Trùm Khóa xiết thêm một lượt các ê cu, khi bánh xe đã nằm trên mặt đường. Y xếp thùng xe đâu vào đấy thì viên cảnh sát quay trở lại.
Clensy gật đầu hài lòng, quên khuấy mất ý nghĩ lúc trước:
- Xong rồi phải không?
Trùm Khóa đóng nắp thùng xe lại. Và lần đầu tiên viên cảnh sát giao thông Clensy trông thấy tấm biển đăng ký của bang Michigan.
Michigan. Xanh trên nền trắng. Từ trong sâu thẳm của ký ức, Clensy mang máng nhớ lại: Không biết hôm nay, hôm qua hay hôm kia gì đó?... Trong lúc đi tuần tra, viên chỉ huy trung đội của anh đã đọc to bản tin mới nhất. Có cái tin gì nhắc đến xanh và trắng.
Clensy nhớ mãi mà không ra. Có quá nhiều thông báo lắm rồi về những bọn phải truy nã, người bị mất tích, ô tô ăn cắp rồi các vụ cướp bóc, trấn lột. Hàng ngày bọn lính trẻ hăng hái, đầu óc minh mẫn vẫn ghi vội vào sổ tay, cố ghi nhớ mọi thông tin. Clensy cũng đã nhiều lần cố gắng làm như vậy. Nhưng không ổn, giọng người trung úy thì nhanh mà chữ viết của Clensy lại chậm, ghi không xuể.
Xanh và trắng. Tiếc là anh không nhớ được.
Clensy chỉ vào biển số.
- Michigan hả?
Trùm Khóa gật đầu. Y nín lặng, chờ đợi. Tưởng chừng như con người không còn đủ sức chịu đựng lâu hơn nữa.
- À xứ sở của hồ ao! - Clensy nhìn tấm biển liên hệ sang chuyện truyền thống - Nghe nói trên đó nhiều cá nóc lắm thì phải?
- Phải... nhiều lắm.
- Mình cũng muốn cóngày lên đó. Mình là dân câu cá mà.
Từ phía sau có tiếng còi xe hơi hối thúc. Clensy còn giữ cánh cửa đang mở, chợt nhớ ra mình là cảnh sát đang làm nhiệm vụ:
- Thôi mau giải phóng cho làn đường này đi - Xanh và trắng. Ý nghĩ đó vẫn cứ luẩn quẩn ám ảnh anh.
Xe nổ máy. Trùm Khóa lại tiến lên, Clensy ngắm nhìn theo. Với một sự chính xác, không quá nhanh cũng không quá chậm, Trùm Khóa quyết tâm đưa chiếc xe lên đường dốc để vào xa lộ.
Xanh và trắng. Clensy lắc đầu và quay lại với công việc điều khiển giao thông. Người ta có mệnh danh cho anh là "thằng cớm ngố nhất, không còn thằng nào hơn" kề cũng không ngoa.
17
Từ Đại lộ Tulane, chiếc xe tải thương của cảnh sát sơn hai màu xanh da trời và trắng, với ánh đèn xanh lấp loáng dễ thấy đã chạy thẳng vào cổng cấp cứu Bệnh viện từ thiện. Xe dừng lại, cửa mở nhanh. Chiếc cáng chở Dodo được đưa ra, đặt lên xe đẩy, dẫn vào một cửa có tấm biển BỂNH NHÂN NGOẠI TRÚ NGƯƠI DA TRẮNG.
Curtis O’Keef theo sát ngay bên cạnh, gần như phải chạy mới kịp.
Một nhân viên đi trước hô to:
- Tránh ra! Cấp cứu đây! - Một đám người đang tụ tập ở phòng nhập viện và xuất viện lùi lại nhường chiếc xe đẩy đi qua. Nhiều cặp mắt tò mò nhìn theo. Có người còn chăm chú nhìn vào bộ mặt trắng bệch như sáp của Dodo.
Hai cánh cửa xoay có dòng chữ PHÒNG XỬ LÝ TAI NẠN đã mở ra để đón chiếc cáng vào. Bên trong thấy có các bác sĩ, y tá, hộ lý và nhiều chiếc cáng nữa. Một nhân viên nam ngăn ông O’Keef lại:
- Xin ông đợi ở ngoài này.
O’Keef phản đối:
- Tôi muốn được biết…
Một chị hộ lý đang đi vào, vội dừng lại:
- Chúng tôi sẽ làm hết sức mình. Sẽ có một bác sĩ ra trao đổi với ông ngay. - Chị ta tiếp tục đi vào. Cánh cửa xoay đóng lại.
O’Keef dừng lại ở ngoài cửa. Mắt ông mờ đi, thất vọng.
Cách đây chưa đến nửa giờ, sau khi chia tay với Dodo, ông đã đi đi lại lại trong phòng sinh hoạt ở khách sạn, suy nghĩ rối bời, trăn trở. Bản năng bảo cho ông biết ông đã mất đi một thứ mà có lẽ suốt đời ông sẽ không tìm lại được - Lý trí đã giễu cợt ông. Những cô gái trước Dodo đến rồi lại đi. Ông không băn khoăn gì khi họ ra đi. Ông thây thật vô lý nếu cho rằng lần này sự việc có thể khác hẳn.
Dù vậy, ông vẫn nảy ý định đuổi theo Dodo, có lẽ để trì hoãn cuộc chia ly thêm vài giờ, và trong thời gian này ông sẽ soi rọi lại tình cảm mình một lần nữa. Nhưng rồi lý trí đã thắng, ông vẫn ở lại trong phòng.
Vài phút sau ông nghe thấy tiếng còi. Lúc đầu ông không quan tâm lắm. Sau đó, khi thấy tiếng còi cấp cứu dồn dập và rõ ràng là đổ dồn về khách sạn, ông đã đi ra cửa sổ phòng. Những hoạt động bên dưới khiến ông quyết định phải xuống xem sao. Ông cứ đánh sơ mi trần, không áo khoác ngoài đi xuống gác.
Ông đứng đợi thang máy ở đầu cầu thang tầng mười hai, tiếng ồn ào từ phía dưới càng vang lên ầm ầm. Đợi đến năm phút mà vẫn không thấy thang máy lên, số khách dồn đến ngày một đông. O’Keef quyết định dùng cầu thang đi bộ. Xuống các tầng dưới ông thấy nhiều người khác cũng đi bộ như ông. Càng xuống gần sảnh, tiếng ồn ào càng rõ. Ông vận dụng kinh nghiệm luyện tập điền kinh để tăng thêm tốc độ.
Xuống đến sảnh ông được nghe những người đã chứng kiến xúc động kể lại các tình tiết chính của sự kiện vừa xảy ra. Lúc này, bằng một tình cảm mãnh liệt, ông cầu nguyện rằng Dodo đã rời khỏi khách sạn trước khi xảy ra tai nạn. Nhưng chỉ lát sau ông đã trông thấy cô đang bất tỉnh, được đưa từ dưới trục thang lên.
Chiếc váymàu vàng, mái tóc óng ả với cánh tay nõn nà từng làm ông say mê, lúc này bết máu. Sắc thái của thần chết lởn vởn trên nét mặt cô.
Trong khoảnh khắc, với một tâm trạng héo hắt, bàng hoàng, Curtis O’Keef phát hiện một sự thật mà bấy lâu nay ông vẫn còn che giấu. Ông yêu cô say đắm, thiết tha, vượt khỏi sự tính toán nhân tình. Quá muộn rồi, ông biết rằng khi để Dodo ra đi, ông đã phạm một sai lầm lớn nhất trong đời.
Ông đứng ngoài cửa phòng cấp cứu, cay đắng suy nghĩ.
Cánh cửa vụt mở, một chị hộ lý bước ra. Khi ông tiến lại gần chị ta lắc đầu và bước tiếp. Ông rơi vào cảm giác vô vọng. Ông không thể góp được gì nhiều vào đây. Nhưng nếu có thể, ông sẵn sàng.
Ông quay đi, dạo một vòng quanh bệnh viện. Tại những khu sảnh và hành lang bận rộn, ông gặp nhiều đám người. Đi theo các biển và mũi tên chỉ dẫn, ông tới nơi ông cần đến. Ông mở tất cả các buồng có chữ PHÒNG RIÊNG bất chấp sự phản đối của các y tá. Ông dừng lại trước bàn làm việc của Giám đốc.
Ông Giám đốc bực dọc đứng dậy. Nhưng khi Curtis O’Keef xưng danh, ông ta dịu lại.
Mười lăm phút sau ông Giám đốc từ phòng cấp cứu đi ra cùng với một người mảnh khảnh, nói năng nhỏ nhẹ mà ông Giám đốc giới thiệu là bác sĩ Boclaire. Bác sĩ bắt tay O’Keef.
- Tôi được biết ông là bạn thân của tiểu thư... vâng, của cô Lash.
- Tình hình sức khỏe cô ấy ra sao, thưa bác sĩ?
- Tình trạng nguy kịch. Chúng tôi đang cố hết cách cứu chữa nhưng tôi phải thú thực với ông rằng rất có khả năng cô ấy không qua khỏi.
O’Keef đứng lặng, đau đớn.
Bác sĩ tiếp:
- Cô ấy bị thương nặng ở đầu và có nhiều biểu hiện bị rạn xương sọ. Có khả năng mảnh xương vỡ đã cắm vào sọ não. Chúng tôi sẽ biết rõ hơn sau khi chụp X quang.
Ông Giám đốc giải thích:
- Bệnh nhân đang được hồi sức.
Bác sĩ gật đầu:
- Chúng tôi đang cho truyền máu. Cô ấy mất quá nhiều máu. Chúng tôi đã tiến hành chống choáng.
- Còn lâu nữa không?...
- Ít nhất phải một tiếng nữa mới tỉnh. Sau đó, nếu X quang khẳng định đúng như chẩn đoán, sẽ phải tiến hành mổ ngay lập tức. Cô ấy có thân nhân nào ở New Orleans không nhỉ?
O’Keef lắc đầu.
- Cũng không sao. Trong trường hợp khẩn cấp thế này, luật pháp cho phép chúng tôi tiến hành phẫu thuật không cần hỏi ý kiến xin phép.
- Tôi gặp cô ấy được không?
- Có lẽ phải để sau. Bây giờ thì chưa.
- Thưa bác sĩ, nếu các ông cần bất cứ điều gì, tiền nong, sự trợ giúp chuyên môn...
Ông giám đốc trầm tĩnh ngắt lời:
- Đây là bệnh viện từ thiện, ông O’Keef ạ. Bệnh viện này dành cho người nghèo và những ca cấp cứu. Dù thế nào chăng nữa, ở đây vẫn có dịch vụ mà không tiền nào có thể mua được. Cạnh đây có hai trường đại học y khoa. Các cán bộ của họ luôn luôn sẵn sàng có mặt. Tôi xin nói để ông biết: Bác sĩ Boclaire là một trong những chuyên gia mổ não cự phách của nước ta.
O’Keef nói khiêm tốn:
- Tôi xin lỗi ông.
- Có lẽ có một chuyện phải bàn - Bác sĩ nói.
O’Keef vươn người lên lắng nghe.
- Bệnh nhân đang còn mê man và được tiêm thuốc giảm đau. Trước đó cũng có nhiều lúc cô hồi tỉnh. Một lần cô có nhắc đến mẹ cô. Nếu có thể đưa bà ấy đến đây...
- Được - Chí ít ông cũng thấy khuây khỏa đôi chút vì làm được một việc gì đó cho cô.
Qua máy điện thoại trả tiền đặt ở hành lang, Curtis O’Keef gọi đến thành phố Akron, bang Ohio. Ông gọi cho khách sạn O’Keef Cuyahoga. Giám đốc Hamson đang ở trong văn phòng.
O’Keef chỉ thị cho ông ta:
- Ông đang làm gì cũng bỏ đấy đã. Tập trung hoàn thành công việc tôi sắp dặn đây, với tốc độ cực nhanh đấy.
- Thưa ngài, vâng ạ - Giọng nới đầy cảnh giác của Hamson vang trong máy.
- Hãy tìm cách liên lạc với một bà tên gọi là Irene Lash ở phố Exchange, Akron. Tôi không có số nhà - O’Keef nhớ tên phố đó từ hôm ông và Dodo đánh điện gửi về cho bà giỏ hoa quả. Chuyện mới xẩy ra hôm thứ ba vừa rồi thì phải.
Ông nghe rõ tiếng Hamson sai người nào đó trong phòng:
- Lấy cho tôi cuốn chỉ dẫn thành phố nhanh lên!
O’Keef tiếp tục:
- Tự ông phải đến gặp bà Lash báo cho bà ấy biết con gái bà là Dorothy đã bị thương trong một tai nạn, có thể tử vong. Tôi muốn bà Lash sẽ bay đến New Orleans bằng chuyến bay sớm nhất nếu có thể được. Nếu cần ông thu xếp hết mọi chuyện. Đừng lo tốn phí gì cả.
- Xin ngài cứ giữ máy- ông lại nghe thấy tiếng Hamson ra lệnh - Dùng điện thoại khác gọi ngay cho hãng hàng không Eastern, phòng bán vé ở Cleveland. Sau đó tôi cần ngay một xe hòm với một lái xe nhanh nhẹn đợi ở cửa phố chợ - Giọng nói quay lại, vẻ rắn rỏi hơn - Xin nói tiếp, ngài O’Keef.
Sau khi biết rõ mọi việc thu xếp đã ổn, O’Keef chỉ thị người giám đốc sẽ liên lạc sau với ông tại Bệnh viện từ thiện.
Ông gác máy và tin rằng mọi chỉ thị của ông sẽ được thực hiện đầy đủ. Hamson thế mà được việc. Có lẽ ông ta xứng với một khách sạn có tầm quan trọng hơn thế.
Một giờ rưỡi, X quang khẳng định điều bác sĩ Boclaire chẩn đoán là chính xác. Người ta đang chuẩn bị phòng mổ trên tầng mười hai. Ca phẫu thuật sọ não tiến hành trọn vẹn cũng phải kéo dài nhiều giờ.
Trước khi Dodo được đưa bằng xe băng ca vào phòng mổ, Curtis O’Keef được phép nhìn cô một lát. Cô vẫn đang mê man, mặt xanh lướt. Ông tưởng như tất cả những nét duyên dáng và sức sống của cô đã tan biến từ lâu rồi.
Cửa phòng mổ lúc này đã khép kín.
Hamson báo cho ông biết bà mẹ của Dodo đã lên đường. Cách đây vài phút ông đã gọi điện cho McDermott ở khách sạn StGregory, yêu cầu anh bố trí việc đón bà Lash, và đưa bà thẳng tới bệnh viện.
Lúc này chẳng còn việc gì khác ngoài chờ đợi.
Vừa rồi, O’Keef đã từ chối lời mời ghé vào văn phòng ông giám đốc. Ông quyết định sẽ đợi ở tầng mười hai, lâu bao nhiêu cũng mặc.
Bỗng nhiên, ông có ý muốn cầu nguyện.
Một phòng gần đấy có biển PHỤ NỮ DA MẦU. Cạnh đó là một phòng KHO CỦA PHÒNG HỒI SỨC. Qua cửa kính ông thấy bên trong tốithẫm.
Ông mở cửa bước vào, mò mẫm đi qua một chiếc màn cung cấp ôxy và một cái phổi nhân tạo. Giữa cảnh tranh tối tranh sáng ông tìm ra một chỗ trống có thể quỳ gối được. Sàn nhà ở đây cứng hơn nhiều so với những tấm thảm quen thuộc. Không hề gì, ông chắp tay, cúi đầu, lẩm nhẩm cầu nguyện.
Thật lạ lùng, lần đầu tiên trong nhiều năm, ông không tìm nổi lời diễn đạt những tình cảm trong lòng.
18
Màn đêm buông dần trên thành phố, làm dịu đi nỗi đau đớn của ngày vừa qua. Peter McDermott nghĩ thầm: -Đêm sắp tới và cùng với giấc ngủ là sự lãng quên thực tại trong chốc lát. Qua ngày mai, những sự kiện nóng hổi của ngày hôm nay bắt đầu lùi xa hơn một chút. Và bóng tối đã đánh dấu sự bắt đầu của cả một quá trình thời gian xoay vần để cuối cùng sẽ hàn gắn mọi vết thương.
Tuy nhiên cũng sẽ phải trải qua nhiều đêm ngày nữa những con người có quan hệ chặt chẽ với các sự kiện hôm nay mới xua tan được những ấn tượng bi thảm, kinh hoàng. Những sóng nước sông Lêthơ([3]) hãy còn xa lắm.
Công việc tuy không làm cho người ta khuây khỏa hẳn, cũng giúp phân tán tư tưởng đôi chút.
Từ đầu buổi chiều, đã có rất nhiều việc đến với Peter.
Anh ngồi một mình tại văn phòng ở tầng lửng, kiểm điểm những việc đã làm và những việc còn lại.
Công việc đáng buồn là xác minh tung tích những người thiệt mạng và báo tin dữ cho thân nhân đã được hoàn tất. Khách sạn thu xếp việc mai táng nếu cần.
Trường hợp xây xát nhẹ không cần đến sự chăm sóc của bệnh viện đã được giải quyết xong.
Các đội cấp cứu như lính cứu hỏa, cảnh sát, đã ra về từ lâu. Thay vào đó là những người kiểm tra thang máy. Họ rà soát từng chi tiết mọi thiết bị thang máy của khách sạn. Họ sẽ làm việc suốt đêm nay qua ngày mai. Trong lúc này, hoạt động của các thang máy đã phần nào được phục hồi.
Các nhân viên hãng bảo hiểm, những người u sầu, dự kiến trước sẽ có nhiều yêu cầu bồi thường nên đã tiến hành điều tra, lấy lời khai rộng rất.
Thứ hai tới, một nhóm cố vấn sẽ đáp may bay từ New York tới để bắt đầu kế hoạch thay thế toàn bộ hệ thống thang mới. Đây sẽ là khoản chi tiêu lớn đầu tiên dưới chế độ quản lý mới của Albert Wells - Dempster - McDermott.
Đơn xin từ chức của ông kỹ sư trưởng hiện đang đặt trên bàn làm việc của Peter. Anh dự định sẽ chấp nhận lá đơn này.
Ông kỹ sư trưởng sẽ được rút lui trong danh dự với số lương hưu phù hợp với những tháng năm lâu dài phục vụ cho khách sạn. Peter sẽ chăm lo sao cho ông được đối xử tốt đẹp.
Ông bếp trưởng già Hebrand cũng sẽ được xem xét tương tự như vậy. Song việc cho ông về hưu sẽ quyết định sớm và André Lemieu sẽ được đề bạt bếp trưởng.
Tương lai của StGregory sẽ phụ thuộc rất nhiều vào anh bếp trưởng André Lemieu trẻ tuổi này. Anh có những kế hoạch xây dựng các quán ăn đặc sản, quán rượu thân tình và một chương trình cải tổ toàn bộ hệ thống cấp dưỡng của khách sạn. Một khách sạn không thể chỉ sống dựa vào việc cho thuê phòng. Hằng ngày phòng khách sạn kín hết thế mà vẫn lâm vào tình trạng phá sản. Các dịch vụ đặc biệt như hội nghị, tiệm ăn, quán rượu mới là nguồn lời lãi phong phú.
Ngoài ra, còn nhiều việc khác như tổ chức lại các bộ phận, phân định lại trách nhiệm. Với tư cách là một phó chủ tịch hành chính, Peter sẽ phải dành nhiều thì giờ suy nghĩ đến đường lối của khách sạn. Anh cần có một trợ lý giám đốc giám sát công việc quản lý khách sạn. Người được đề cử vào chức vụ này phải là một người còn trẻ có năng lực và tinh thần kỷ luật, nếu cần, mặt khác còn phải có khả năng quan hệ tốt với những nhân viên lớn tuổi hơn. Một sinh viên đã tốt nghiệp trường Quản lý khách sạn có thể đảm nhiệm tốt chức vụ này. Peter quyết định đến thứ hai tới anh sẽ phôn cho ông trưởng khoa Robert Beck ở Cornell. Ông ta luôn luôn giữ liên hệ với nhiều học trò cũ có năng lực của ông. Ông có thể giới thiệu cho anh một người như vậy.
Dù hôm nay đã xảy ra một tấn bi kịch thì vẫn phải nghĩ đến tương lai.
Lại còn chuyện tương lai của anh với Christine nữa.
Nghĩ đến đây anh thấy hào hứng, phấn chấn. Cho đến nay, quan hệ giữa hai người chưa có gì xác định rõ ràng.
Nhưng anh tin là sẽ đâu vào đấy. Christine đã về căn phòng của cô ở Gentilly từ sớm. Anh cũng sẽ đến đấy ngay bây giờ. Vẫn còn một số việc gay cấn phải giải quyết. Cách đây một giờ, đại úy Yolles bên Sở cảnh sát New Orleans đã tới văn phòng của Peter. Ông vừa hỏi chuyện với bà Công tước Croydon.
- Nếu anh gặp bà ta - ông Yolles nói - Anh sẽ phải băn khoăn không biết con người băng giá đó đang che giấu điều gì trong đầu. Không biết đó có phải là một người đàn bà hay không? Bà ta có cảm thông chồng đã chết thảm hại ra sao không? Tôi đã trông thây thi thể ông ta. Lạy Chúa! Thê thảm quá. Bà ta cũng đã nhìn thấy xác chồng.
Không mấy phụ nữ có thể chịu đựng nổi trước cảnh đó.
Thế mà ở bà ta không thấy lộ ra một chút mủi lòng. Không một giọt nước mắt, không một dấu hiệu tình cảm. Mắt bà ta cứ vênh lên như mọi khi. Xin thú thực, với tư cách một con người, tôi cũng bị bà ta lôi cuốn. Tôi có cảm giác muốn tìm hiểu chân tướng người đàn bà này. Nhà thám tử dừng lại, suy nghĩ. Sau đó, trả lời một câu hỏi của Peter, Yolles nói:
- Vâng, chúng tôi sẽ buộc bà ta vào tội tòng phạm. Sau lễ tang, bà ta sẽ bị bắt. Chúng ta còn phải chờ xem. Người ta có thể kết luận rằng chính chồng bà ta mới là kẻ tòng phạm. Nhưng ông ấy chết rồi, không biết hội đồng bồi thẩm có tuyên bố được là bà ta có tội không...
Ông sĩ quan cảnh sát còn tiết lộ, Ogylvie đã bị buộc tội:
- Ông ta bị giam giữ vì tội tòng phạm. Chúng tôi sẽ còn khai thác thêm. Công tố viên sẽ quyết định sau. Dù sao, nếu ông có muốn dành cho Ogylvie công việc cũ thì ít nhất cũng phải sau năm năm.
- Chúng tôi không có ý định như vậy - Peter đã coi việc tổ chức lại lực lượng thám tử khách sạn là một trong số những việc hàng đầu.
Khi đại úy Yolles đi rồi, văn phòng trở lại yên tĩnh. Lúc này đã đầu hôm. Một lát sau, Peter nghe tiếng cửa ngoài mở ra rồi đóng lại. Có tiếng gõ nhẹ lên cửa phòng Peter.
Anh nói vọng ra:
- Xin mời vào! - Aloysius Royce xuất hiện. Người thanh niên da đen bưng một chiếc khay trên có bình rượu martini và một chiếc ly. Anh đặt khay rượu trên bàn:
- Có lẽ anh cần dùng một chút rượu.
- Cảm ơn - Peter nói - Nhưng tôi không bao giờ uống một mình.
- Tôi cũng nghĩ như vậy - Royce rút từ trong túi ra một chiếc ly nữa.
Họ ngồi uống trong im lặng. Làm sao có thể vô tư ngồi chúc rượu nhau sau một tấn thảm kịch vừa xảy ra trong ngày? Peter hỏi:
- Anh đã đưa bà Lash tới đó chưa?
Royce gật đầu:
- Tôi đã lái xe đưa thẳng bà ấy tới bệnh viện. Hai chúng tôi phải vào bằng hai cửa khác nhau, sau đó gặp lại ở bên trong và tôi đã đưa bà ấy tới chỗ ông O’Keef.
- Cảm ơn anh.
Sau cú điện thoại của Curtis O’Keef, Peter cần một người đáng tin cậy ra phi trường đón khách. Anh đã chọn Royce.
- Khi chúng tôi tới bệnh viện, họ đã mổ xong. Dù gặp ca phức tạp, cô Lash sẽ qua khỏi.
- Tôi mừng đấy.
Ông O’Keef cho tôi biết họ sẽ tổ chức lễ thành hôn ngay sau khi cô bình phục. Bà mẹ cô Lash xem ra có vẻ tán thành.
Peter thoáng mỉm cười:
- Theo tôi thì đa số các bà mẹ đều tán thành.
Im lặng một lúc, sau đó Royce nói:
- Tôi biết trong cuộc họp sáng nay anh đã có lập trường riêng về những chuyện khúc mắc gần đây.
Peter gật đầu:
- Từ nay khách sạn xóa bỏ hoàn toàn tệ phân biệt màu da.
- Anh hy vọng tôi sẽ cảm ơn việc anh đã mang lại quyềnlợi cho chúng tôi chứ gì?
- Không đâu - Peter nói - Anh lại công kích tôi rồi. Tuy nhiên, bây giờ anh có thể quyết định ở lại với ông Warren Trent được không? Tôi biết ông tha thiết như vậy và anh hoàn toàn tự do. Khách sạn có nhiều công việc luật pháp mà tôi thấy cần phải có anh.
- Cảm ơn anh về chuyện đó - Royce nói - Song câu trả lời của tôi là từ chối. Tôi đã nói điều đó với ông Trent chiều nay. Tất nghiệp xong tôi rời khỏi đây ngay - Royce lại rót đầy hai ly martin, rồi ngắm nhìn ly rượu của mình - Chúng ta còn đang trong cuộc chiến đấu. Anh với tôi mỗi người ở một chiến tuyến. Cuộc chiến đấu này chưa thể kết thúc trong thời đại chúng ta. Nếu tôi có thể làm được việc gì với những kiến thức về luật đã học được thì tôi sẽ làm cho nhân dân tôi. Ngay trong lĩnh vực luật pháp cũng còn phải đấu tranh nhiều. Luật pháp không phải bao giờ cũng công bằng cho phía chúng tôi cũng như phía các anh. Thế nên khi chúng tôi còn bất công, bất hợp lý, không dung thứ được, thì hãy nhớ rằng chúng tôi đã học nó từ các anh.
Tất cả chúng ta sẽ còn gặp nhiều chuyện khó xử. Ngay ở đây cũng chưa hết đâu. Anh đã xóa bỏ tệ phân biệtNhưng mà những người da đen chúng tôi không tán thành các anh. Lại còn chuyện những người da đen có hành vi không tốt đẹp nữa chứ. Điều đó sẽ gây phiền nhiễu cho anh bởi một số người vẫn quen nếp cũ. Anh sẽ có thái độ thế nào trước những gã da đen hay kêu ca, những kẻ ngông nghênh và bọn ma men say túy lúy. Người da đen chúng tôi có nhiều hạng lắm đấy. Nếu trường hợp người da trắng có hành vi xấu thì các anh có thể bấm bụng nhịn, cố mỉm cười, nhiều khi thường bỏ qua. Nhưng hành vi ấy rơi vào người da đen thì các anh sẽ xử trí ra sao?
- Điều đó không dễ dàng gì - Peter đáp - Tuy nhiên, tôi sẽ cố gắng giữ thái độ khách quan.
- Anh thì vậy, nhưng còn những người khác? Dù sao, cuộc đấu tranh còn tiếp diễn. Nhưng có một điều này cũng hay hay.
- Sao?
- Thỉnh thoảng vẫn có những lúc đấu dịu - Royce bưng chiếc khay đựng bình rượu và hai ly không lên - Chẳng hạn như lúc này đây.
Bây giờ đã là đêm.
Bên trong khách sạn, hoạt động của một ngày mới đã diễn ra. Ngày hôm nay khác với mọi ngày. Song đằng sau những sự kiện bất thường vừa qua, các hoạt động lại tiếp tục nhịp điệu của mình. Các dịch vụ đặt thuê phòng, đón tiếp, quản trị, hầu phòng, kỹ thuật, ga ra, kho tàng, bếp núc, vân vân... Toàn bộ đã kết hợp thành một chức năng duy nhất, giản dị nhằm vào việc đón khách, phục vụ chỗ ăn nghỉ cho mọi người.
Chẳng bao lâu nữa chu trình đó lại bắt đầu từ đầu.
Peter McDermott uể oải chuẩn bị ra về. Anh tắt đèn văn phòng. Từ cụm phòng hành chính, anh đi dọc suốt tầng lửng. Tới gần chỗ cầu thang dẫn xuống sảnh, anh ngắm mình trong gương. Lần đầu tiên anh chợt nhận ra bộ com lê đang mặc nhàu nhĩ, bẩn thỉu. Anh nhớ anh đã chui xuống dưới xác thang máy, cạnh chỗ Billyboy bị nạn.
Anh dùng tay cố vuốt các nếp áo thật phẳng. Chợt nghe có tiếng sột soạt, anh thò tay vào túi, ngón tay anh chạm phải một tờ giấy gập tư. Anh nhớ ra đó là lá thư mà Christine đã dúi cho anh khi anh rời cuộc họp sáng nay và cũng chính tại cuộc họp này anh đã lấy cả sự nghiệp của mình đặt cược cho một nguyên tắc. Cuối cùng anh đã thắng.
Từ lúc đến giờ anh đã quên khuấy lá thư. Anh mở thư ra đọc:
Khách sạn này sẽ tốt đẹp bởi nó cũng giống như con người sắp quản lý nó.
Cuối thư, bằng một nét chữ nhỏ hơn, Christine viết thêm: TB: Em yêu anh.
Peter mỉm cười, bước những bước dài hơn, xuống cầu thang vào sảnh của khách sạn.
HẾT
❀ ❀ ❀
[1] Điểm tâm (tiếng Pháp).
[2] Tức là 35 độ bách phân.
[3] Dòng sông đem lại sự lãng quên quá khứ (trong thần thoại Hy Lạp).