Sau khi chọn được chiếc cà vạt màu xanh thẫm giữa vài ba chiếc khác trong tủ áo, Peter McDermott thắt lên cổ rất ngay ngắn. Anh đang ở căn phòng nhỏ của mình trong phố, cách khách sạn không xa. Trước đây một giờ anh đã từ khách sạn ra về. Hai mươi phút nữa tới giờ hẹn dự tiệc tối với Marsha Preyscott. Anh nghĩ không biết sẽ có những người khách khác nào đây. Anh cho rằng có thể có một hai người lớn tuổi, phù hợp với sự tham dự của anh, cũng là bạn của Marsha, nhưng thuộc một típ khác với bốn cậu công tử kiểu Dixon - Dumaire.
Đến giờ đi rồi, anh bỗng thấy ân hận đã nhận lời, nếu không, anh sẽ được rảnh rỗi đi gặp Christine- Anh định gọi điện thoại cho Christine trước khi đi, nhưng sau đó thấy nên đợi đến ngày mai thì tế nhị hơn.
Tối nay anh có một cảm giác mơ hồ chơi vơi giữa dĩ vãng và tương lai. Anh có nhiều điều băn khoăn chưa xác định những quyết định phải tạm gác cho đến khi biết rõ kết quả sẽ ngã ngũ ra sao. Đó là vấn đề số phận của St. Gregory. Liệu Curtis O’Keef có tiếp quản nó không?
Nếu có, thì tất cả mọi chuyện, thậm chí cả vụ hội nghị ngành nha khoa mà các quan chức đang còn thảo luận xem có nên hay không nên biểu tình phản đối StGregory, sẽ chẳng là cái quái gì so với đại sự kia. Cách đây một tiếng, cuộc hội ý của ban chấp hành do ông chủ tịch là bác sĩ Ingram tính nóng như lửa điều khiển, đã được tiến hành và có lẽ vẫn còn đang tiếp tục, bởi theo người bồi trưởng phục vụ phòng thì nhân viên của ông ta đã nhiều lần phải vào chỗ họp tiếp thêm rượu và nước đá. Mặc dù Peter đã cố không để lộ ý muốn biết cuộc họp này có dấu hiệu gì là bế tắc không, người bồi trưởng lại báo cho anh biết rằng họ đã thảo luận hết sức sôi nổi. Trước khi ở khách sạn ra về, Peter có dặn người trợ lý giám đốc đang trực nhật rằng nếu các bác sĩ nha khoa có quyết định gì thì phải phôn ngay cho anh biết. Đến lúc này vẫn chưa thấy động tĩnh. Anh thầm nghĩ không biết liệu ý kiến của bác sĩ Ingram có thắng thế không hay lời tiên đoán giễu cợt của ông Trent rằng sẽ chẳng có gì xẩy ra cả, lại đúng là sự thật.
Peter còn thấy lưỡng lự về một chuyện nữa, hoặc ít nhất cũng còn hoãn lại đến ngày mai, đó là việc phải có một hành động gì với Herbie Chandler. Anh biết rõ việc mình sẽ phải làm là lập tức sa thải người phụ trách trực tầng thoái hóa. Việc này có tác dụng như xua tan một đám uế khí cho khách sạn. Tất nhiên trong trường hợp cá biệt đó, Chandler không bị sa thải vì lý do điều khiển một hệ thống gái điếm gọi qua điện thoại, việc này nếu Chandler không làm thì vẫn có kẻ khác làm, mà vì lý do đã để cho lòng tham lấn át lương tri.
Với việc đuổi Chandler, có thể ngăn chặn rất nhiều chuyện bê bối khác, mặc dù hiện nay chưa biết rõ liệu Warren Trent có đồng ý với hành động này của anh hay không. Tuy nhiên, qua những sự kiện mà anh đã thu thập được và qua sự quan tâm của ông Trent đối với thanh danh của khách sạn, Peter tin rằng ông sẽ tán thành.
Peter tự nhắc bản thân là trong cả hai cách giải quyết anh phải đảm bảo giữ kín những lời khai của bọn Dixon - Dumaire và chỉ coi chúng như chuyện nội bộ khách sạn.
Anh phải giữ lời hứa với bọn chúng về điểm này. Chiều nay anh đã đe dọa chúng rằng sẽ báo cho ông Mark Preyscott biết về chuyện bức dâm con gái ông ta. Thực ra anh chỉ nói dối. Lúc đó, cũng như bây giờ, anh nhớ Marsha đã van vỉ:
- Ba em đang ở bên Roma. Anh chớ có báo cho ông biết chuyện này. Em xin anh đấy!
Nghĩ đến Marsha, anh lại thấy cần khẩn trương hơn.
Vài phút sau anh rời khỏi nhà và gọi một chiếc tắc xi chạy ngang qua.
- Nhà ấy đây à? - Peter hỏi.
- Vâng - Anh lái tắc xi nhìn người khách, vẻ suy nghĩ - Nếu ông không nhầm địa chỉ.
- Đúng chứ - Peter cũng đưa mắt nhìn theo anh tài xế đang ngắm nhìn tòa nhà rộng mênh mông, mặt tiền sơn trắng. Riêng mặt tiền cũng đã làm cho người ta thán phục lắm rồi. Đằng sau hàng rào bằng thủy tùng, nhô lên mấy cây mộc lan là một hàng cột có rãnh nổi duyên dáng kéo từ thềm hiên đến một bao lơn có thành cao. Phía trên bao lơn, những chiếc cột vươn lên đỡ lấy một cái trán tường trang trí và có tỷ lệ theo kiểu cổ điển, ở đầu đằng kia của tòa nhà chính có hai cánh cũng nhắc lại các chi tiết dưới dạng thu nhỏ. Toàn bộ mặt tiền ngôi nhà đã được trùng tu rất khéo. Quanh ngôi nhà, hương thơm ngọt ngào của hoa ô liu phảng phất trong không khí đầu buổi tối.
Sau khi trả tiền tắc xi, Peter đi đến chiếc cổng chấn song sắt và mở ra rất êm. Một con đường cong làm bằng gạch đỏ đã cũ chạy giữa hàng cây và thảm cỏ. Mặc dù mới sẫm bóng hoàng hôn, hai chiếc đèn kiểu chậu đặt nhô cao đã thắp sáng hai bên đường, phía gần đến ngôi nhà. Khi anh đến bậc tam cấp lên thềm hiên thì có tiếng chốt cửa bật mạnh và hai cánh cửa mở toang. Marsha xuất hiện giữa khuôn cửa rộng. Cô đợi anh lên đến đầu bậc tam cấp mới tiến ra phía anh.
Cô vận một chiếc áo choàng dài trắng toát, may đơn giản Mái tóc đen nhánh của cô càng nổi bật đến kỳ lạ.
Hơn lúc nào hết, anh lại thấy rõ tính chất thiếu nữ nửa đàn bà, nửa trẻ thơ đầy hấp dẫn của cô. Marsha vui vẻ:
- Xin chào anh.
- Cảm ơn - Anh vung tay ra - Lúc này, tôi hơi choáng váng ngạc nhiên.
- Thế sao? - Cô khoác tay anh - Em sẽ đưa anh đi dạo một vòng quanh dinh cơ của Preyscott trước khi trời tối hẳn.
Họ trở xuống bậc tam cấp, đi ngang qua thảm cỏ mềm dưới chân. Marsha vẫn nép sát vào người anh. Qua ống tay áo khoác, anh cảm thấy da thịt ấm áp của cô áp chặt lấy anh. Đầu ngón tay cô chạm nhẹ vào cổ tay anh. Có thêm một mùi thơm nữa ngoài mùi hương của hoa ô liu.
- Đây rồi! - Marsha đột nhiên xoay người lại – Chỗ này đẹp nhất. Mọi người vẫn hay ra đây chụp ảnh.
Đúng là từ phía bên này của thảm cỏ, cảnh vật gây cho anh một ấn tượng mạnh mẽ hơn.
- Một nhà quý tộc Pháp thích du hý đã xây ngôi nhà này - Marsha kể - Đó là vào những năm 1840. Ông ta thích lối kiến trúc thời phục hưng Hy Lạp, có bọn nô lệ vui đùa và tình nhân bên cạnh. Vì vậy, ngôi nhà mới có thêm một chái phụ. Ba em cho xây thêm một chái nữa. Ông thích mọi thứ phải cân đối, từ các tài khoản cho đến nhà cửa.
- Thật là một quan niệm kiểu mới về phương châm kết hợp giữa triết lý và thực tế.
- Chao ôi, em đang có đủ cả hai thứ. Anh chỉ muốn thực tế thôi hả? Anh nhìn lên mái nhà kia kìa - Cả hai cùng ngước mắt nhìn lên - Anh sẽ thấy nó đỡ cái bao lơn bên trên. Kiểu kiến trúc Hy Lạp kết hợp với Louisiana đấy. Đa số các ngôi nhà lớn cổ điển ở thành phố này đều xây theo kiểu đó. Kể cũng có lý, trong điều kiện khí hậu này, kiến trúc đó cho bóng mát và không khí. Nhiều lúc bao lơn lại là chỗ ở thích nhất. Nó trở thành nơi để cho cả gia đình tụ tập, nói chuyện tâm tình, chia sẽ vui buồn.
Anh đọc ra một câu trích:
- Hộ khẩu và gia đình, nơi chia sẻ một cuộc sống tốt đẹp dưới một dạng hoàn thiện lại vừa tự cấp tự túc.
- Câu nói của ai vậy?
- Aristotle.
Marsha gật đầu:
- Chắc ông ta cũng xây bao lơn - Cô ngừng lại, vẻ tư lự - Ba em đã cho khôi phục lại rất nhiều thứ. Ngôi nhà bây giờ khá hơn nhưng không được sử dụng mấy.
- Chắc cô yêu nó lắm nhỉ?
- Em thù nó thì có - Marsha nói - Cứ nghĩ đến nhà là em lại căm ghét.
Anh nhìn cô vẻ dò hỏi.
- Chao ôi, giá như em tới đây thăm ngôi nhà này với tư cách một khách tham quan, xếp hàng cùng với nhiều người khác và trả lệ phí năm mươi cent để người ta hướng dẫn đi quanh, thì em đâu đến nỗi căm ghét nó. Em sẽ còn yêu quý là đằng khác, bởi em rất thích đồ cổ. Thế nhưng em không thể chịu được vì lúc nào cũng phải sống ở đây, đặc biệt là sống một mình vào lúc trời đã tối.
Anh nhắc cô:
- Bây giờ trời cũng sắp tối rồi đây.
- Vâng - Cô nói tiếp - Nhưng có anh ở đây, mọi thứ sẽ khác đi.
Họ bắt đầu quay về, ngang qua thảm cỏ. Lần đầu tiên anh cảm thấy sự tĩnh mịch.
- E rằng khách đang mong cô.
Cô nhìn sang một bên, vẻ ranh mãnh:
- Khách nào nữa?
- Cô chẳng bảo với tôi rằng...
- Em nói là em sẽ tổ chức tiệc buổi tối, thì bây giờ em tổ chức đây. Cho mình anh thôi. Nếu anh lo không có ai đi kèm thì người đó là bà Anne đây rồi.
Họ vào nhà. Ngôi nhà mát mẻ dưới nhiều bóng rợp, trần lại rất cao. Cuối phòng, một người đàn bà nhỏ nhắn đã luống tuổi vận đồ lụa đen mỉm cười, gật đầu chào - Em đã kể cho bà Anne nghe về anh - Marsha nói - và bà ấy tán thành. Ba em hết sức tin tưởng bà, vậy mọi chuyện thế là ổn. À, Ben kia rồi.
Một người đầy tớ da đen theo sau họ, chân bước rất nhẹ, vào một phòng đọc sách nhỏ đầy các giá sách. Anh ta lấy trong tủ buýp phê một chiếc khay, trên đặt chiếc bình thon cổ và hai chiếc cốc uống rượu seri([1]). Marsha ngồi ở một tràng kỷ, cô đưa tay ra hiệu cho anh đến ngồi bên cô. Anh hỏi:
- Vậy ra cô ở đây nhiều lúc có một mình thôi à?
- Ba em chỉ ghé qua nhà giữa hai chuyến công du. Các chuyến đi mỗi ngày một dài hơn và thời gian về nghỉ giữa kỳ ngắn dần. Bây giờ em chỉ thích ở một nhà trệt hiện đại, xấu xí cũng được. Sống như vậy đến hết đời.
- Nếu cô thích thì được chứ khó gì.
- Đúng thế - Marsha nói khẳng định - Nếu em được chung sống với một người nào đấy mà em thực sự quan tâm săn sóc. Hoặc giả em sống ở khách sạn cũng được chứ sao. Có phải các giám đốc khách sạn vẫn có một phòng riêng, thường ở trên tầng thượng khách sạn, đúng thế không?
Anh lúng túng, trong khi Marsha mỉm cười.
Một lát sau người đầy tớ nam sẽ sàng vào báo bữa tiệc đã chuẩn bị xong. Ở phòng kề bên - một chiếc bàn nhỏ hình tròn đã được bố trí cho hai người, ánh nến tỏa sáng trên bữa ăn tối đã bầy sẵn, chiếu lên những bức tường. Phía trên chiếc lò sưởi mặt bằng đá đen có bức chân dung của ông cụ tổ với bộ mặt nghiêm nghị nhìn xuống, khiến cho Peter cảm giác anh đang bị ông cụ theo dõi, xét nét.
- Đừng quan tâm đến ông cụ làm gì, anh - Marsha nói khi hai người đã ngồi vào ghế - Cụ đang nhìn em thôi màAnh ạ, có lần cụ đã viết trong nhật ký rằng cụ muốn thiết lập một vương triều và em là nguồn hy vọng hão huyền cuối cùng của cụ đấy.
Họ chuyện trò trong suốt bữa ăn. Sự giữ gìn ý tứ cũng giảm bớt vì người đầy tớ phục vụ đã rút lui rất ý nhị. Các món ăn thật tuyệt vời. Món chính là Jambalaya trộn gia vị, tiếp đó là Crème Brulée có mùi vị man mát.
Ban đầu, Peter đến đây với tâm trạng dằn vặt thì bây giờ anh thấy thật sự dễ chịu. Còn Marsha thì mỗi lúc một thêm cởi mở, duyên dáng và anh cảm thấy thoải mái hơn khi chuyện trò bên cô. Anh tự nhủ điều này cũng chẳng có gì lạ bởi vì khoảng cách tuổi tác giữa hai người không có gì là lớn. Và giữa ánh nến lung linh, anh càng nhận thấy cô rất xinh đẹp.
Anh liên tưởng và tự hỏi không biết ngày xưa vị quý tộc Pháp, người đã có công xây cất ngôi nhà này, có ăn tiệc tối thân mật như thế này với cô nhân tình của ông ta không. Có thể ý nghĩ này chính là kết quả của cảnh trí xung quanh và dịp gặp gỡ hôm nay đã khiến cho anh say mê ngây ngất.
Đến cuối bữa ăn Marsha nói:
- Ta ra ngoài thềm ngồi uống cà phê đi.
Anh kéo ghế cho cô nhanh chóng đứng dậy. Cô lại khoác chặt láy cánh tay anh như lúc nãy. Anh cảm thấy thú vị, để cho cô dẫn vào phòng lớn rồi tới một cầu thang uốn cong rất rộng. Trên đỉnh có hành lang rộng, những bức tường có vẽ tranh được chiếu sáng lờ mờ, dẫn ra một bao lơn ngỏ mà lúc nẫy họ đã đứng dưới vườn nhìn lên.
Khu vườn bây giờ tối sẫm.
Trên chiếc bàn đan bằng liễu gai có bộ tách cà phê và ấm pha bằng bạc. Trên đầu họ có một chiếc đèn đốt hơi ga lung linh cháy. Họ lấy hai tách cà phê, đến ngồi vào một chiếc ghế đu. Không khí ban đêm mát mẻ dễ chịu, thỉnh thoảng có gió nhẹ hiu hiu. Từ dưới vườn vẳng lên tiếng côn trùng nỉ non, tiếng xe có ầm ì từ đại lộ Saint Charles vang vọng cách đó hai khối nhà. Anh vẫn có cảm giác Marsha ngồi rất yên lặng bên anh. - Peter hỏi:
- Sao tự nhiên cô lại ngồi im thế?
- Vâng. Em đang nghĩ cách nói với anh một chuyện.
- Cô cứ nói thẳng ra. Thường như vậy có kết quả hơn.
- Thôi được - Giọng cô như nín thở - Em đã quyết định là em sẽ chung sống với anh đấy.
Anh có cảm giác đã nín bặt trong nhiều phút, nhưng thực ra mới chỉ có vài giây. Peter ngồi lặng không nhúc nhích, thậm chí chuyển động nhè nhẹ của chiếc ghế cũng dừng lại. Cuối cùng, anh đặt tách cà phê xuống, cẩn thận, chính xác.
Marsha ho rũ rượi. Sau cơn ho, cô cười bối rối:
- Nếu anh muốn chuồn thì cầu thang phía đầu kia kìa.
- Không - Anh nói - Nếu tôi bỏ về tôi sẽ không bao giờ biết được lý do vì sao cô lại có ý định như vậy.
- Chính em cũng không rõ nữa - Cô nhìn thẳng về phía trước, vào màn đêm tối, mặt cô hơi quay đi. Anh cảm thấy cô đang run rẩy - Trừ một điều là đột nhiên em muốn nói ra như vậy. Và em tin em sẽ phải làm như thế.
Anh nhận ra điều quan trọng là dù anh có muốn nói gì với cô gái dễ bốc đồng này thì anh cũng phải nhẹ nhàng và cân nhắc Anh cảm thấy nghẹn cả cổ họng. Bất chợt anh nhớ lại lời Christine đã bảo anh sáng nay: Cô Preyscott nhỏ nhắn này có nhiều nét giống như một đứa trẻ, cũng như một con mèo con giống con hổ vậy. Nhưng em thấy kể ra cũng lố bịch cho một người lớn mà bị một đứa trẻ nó xỏ mũi đấy. Lời nhận xét này tất nhiên không được công bằng, thậm chí còn cay nghiệt. Nhưng quả thực Marsha không phải là một đứa trẻ, và cũng không nên đối xử với cô như đối xử với một đứa trẻ.
- Marsha ạ, cô chưa hiểu tôi, cũng như tôi chưa hiểu cô.
- Thế anh có tin ở cảm giác tự nhiên không?
- Xét ở một điểm nào đó thì có.
- Em có một tình cảm tự nhiên với anh ngay từ phút đầu tiên - Lúc đầu giọng cô ấp úng, bây giờ đã trấn tĩnh - Nhiều khi tình cảm tự nhiên của em rất đúng.
Anh nhẹ nhàng nhắc cô:
- Thế với Stanley Dixon và LyleDumaire thì sao?
- Em cũng có những cảm giác đúng đắn. Em không chạy theo bọn họ, có thế thôi. Nhưng lần này em thấy khác.
- Song cảm giác tự nhiên cũng có thể sai.
- Người ta có thể bị nhầm luôn, thậm chí kể cả khi người ta chờ đợi sau một thời gian dài - Marsha quay lại, nhìn thẳng vào anh. Lúc đôi mắt cô xoi mói nhìn vào tận mắt anh, anh chợt nhận ra một tính cách mạnh mẽ mà trước đây anh không hề để ý thấy. - Ba má em quen nhau đến mười lăm năm trời mới chung sống với nhau. Má em có lần bảo với em rằng bất kỳ người quen nào của ba má em cũng đều cho đây sẽ là một cuộc hôn nhân hoàn hảoVậy mà hóa ra tồi tệ như thế đấy. Em biết em là kẻ đứng giữa hai người đó.
Anh im lặng, không biết nên nói gì bây giờ.
- Qua đó em cũng rút ra được một đôi điều. Và có một số trường hợp khác cũng vậy. Tối nay anh có thấy bác Anne không nhỉ?
- Có.
- Năm mười bẩy tuổi, bác ấy bị ép gả cho một người mà trước đó bác ấy mới gặp mặt có mỗi một lần. Đúng là một loại khế ước gia đình. Ngày xưa họ vẫn thường làm như vậy.
Peter ngắm khuôn mặt Marsha nói:
- Em kể tiếp đi.
- Hôm trước ngày cưới, bác Anne khóc suốt đêm. Thế nhưng bác vẫn cứ đi lấy chồng và sống với chồng trong suốt bốn mươi sáu năm trời. Chồng bác ấy mới chết năm ngoái. Cả hai người vẫn sống ở đây với cha con em. Bác trai là một người rất tốt, rất hiền lành. Em chưa từng gặp một ai như thế bao giờ. Nếu trên đời có một cuộc hôn nhân nào hoàn hảo thì đó phải là cuộc hôn nhân của họ.
Anh ngập ngừng, không muốn ghi điểm cho người đang tranh luận với mình. Anh phản đối:
- Bác Anne không tuân theo cảm giác tự nhiên của mình. Bởi nếu như có thì bác đã chẳng đi lấy chồng rồi.
- Em hiểu. Em chỉ muốn nói không có một cách gì được bảo đảm tuyệt đối, và ngay cả cảm giác tự nhiên cũng chỉ là một hướng dẫn viên mà thôi - Marsha ngừng lại một lát rồi tiếp - Em tin rằng sẽ đến lúc em làm cho anh phải yêu em.
Anh cảm thấy rộn lên một nỗi hứng khởi bất ngờ, đầy vô lý. Tất nhiên ý kiến đó có tính chất ương ngạnh. Đó là sản phẩm lãng mạn của một cô gái giàu trí tưởng tượng.
Là một người cũng từng day dứt bởi nhiều ý nghĩ lãng mạn của chính mình, Peter thấy chuyện này không có gì khó hiểu. Nhưng có thực là anh đủ sức để hiểu cô không?
Có phải mọi tình huống đều là hậu quả của những việc đã xảy ra trước đây hay không? Liệu lời đề nghị do Marsha nêu ra có gì là kỳ quái không? Anh bỗng có một niềm tin bất ngờ và phi lý rằng những điều cô nói ra đây có thể trở thành sự thật.
Anh tự hỏi không biết phản ứng của ông Mark Preyscott, hôm nay vắng mặt ở đây, sẽ ra làm sao?
- Nếu anh đang nghĩ đến ba em…
Anh giật mình hỏi:
- Làm sao cô biết được điều đó nhỉ?
- Bởi vì em đang bắt đầu hiểu anh rồi.
Anh hít một hơi thật sâu với cảm giác hít một thứ không khí loãng:
- Thế ba cô sẽ nói sao?
- Em tin là ba em lấy làm lo lắng, có thể sẽ vội vàng bay ngay về nhà. Song em không hề quan tâm đến việc đó. Marsha mỉm cười - Nhưng ông bao giờ cũng nghe theo lẽ phải và em tin là em có khả năng thuyết phục được ôngHơn nữa, ông sẽ thấy mến anh. Em biết loại người nào ông có cảm tình nhất. Mà anh lại thuộc vào loại người đó.
Anh nói, và cũng không biết là đang thú vị hay nghiêm trang:
- Thôi được dù sao đó cũng là niềm an ủi đối với tôi.
- Lại còn thêm một vấn đề nữa. Việc này không quan trọng với em, mà với ba em kia. Anh ạ, em biết, và chắc ba em cũng nhận thấy như vậy, là một ngày kia anh sẽ thành công lớn trong nghề khách sạn, và có thể anh cũng làm chủ một khách sạn chứ sao. Nhưng điều đó đối với em không cầnEm cần là cần anh kia - Cô nói một thôi một hồi, gần như nín thở.
- Marsha - Peter nói nhẹ nhàng - Anh không... Thật sự anh không biết nói gì với em bây giờ.
Một phút ngừng ngắn ngủi và anh có thể nhận thấy Marsha đã giảm bớt niềm tin. Vừa rồi hình như cô dốc hết mọi quyết tâm để trợ lực cho lòng tự tin của mình. Nhưng nay sự quyết tâm đã cạn và sự táo tợn cũng mất theo.
Bằng một giọng nho nhỏ lưỡng lự, cô nói:
- Anh cho rằng em ngốc nghếch chứ gì? Anh cứ nói ra cho em biết xem nào.
Anh khẳng định với cô: - Anh tin là em không ngốc nghếch chút nào. Nếu như có thêm nhiều người, trong đó kể cả anh, mà cũng trung thực như em...
- Anh muốn nói là anh không thích thành thực chứ gì?
- Anh không những thấy thích mà còn cảm động vì bị hấp dẫn trước sự chân thực của em.
- Vậy thì anh đừng nói gì nữa! - Marsha đứng dậy giơ hai tay ra trước anh. Anh nắm lấy đôi bàn tay và đứng lên nhìn cô. Những ngón tay của họ đan vào nhau. Anh nhận thấy cô có cách riêng để trấn tĩnh sau khi đã hoang mang, cho dù những nỗi nghi ngờ của cô đã phần nào được giải quyết. Cô thúc giục:
- Thôi, anh đi về đi và suy nghĩ. Suy nghĩ sao cho thật kỹ càng. Đặc biệt về em đấy!
Anh nói thật bụng:
- Kể cũng khó mà không nghĩ đến em được.
Cô nghiêng mặt đón chiếc hôn và anh cúi xuống. Anh chỉ định hôn lên má nhưng cô mở hé đôi môi và khi môi họ chạm nhau, hai cánh tay cô ghì chặt lấy người anh. Văng vẳng xa xăm trong óc anh có tiếng chuông báo thức rung lên. Cơ thể cô đã áp chặt lấy anh. Cảm giác tiếp xúc như điện giật. Tấm thân mảnh mai sát bên, ngợp thở. Mùi nước hoa của cô xộc vào hai cánh mũi anh. Lúc này không thể nghĩ gì khác về Marsha trừ một điều: Cô là đàn bà.
Anh cảm thấy rạo rực chơi vơi. Tiếng chuông báo thức đã tắt Anh chỉ còn nhớ: cô Preyscott nhỏ nhắn... Kể cũng lố bịch…một thằng đàn ông…lại bị nuốt tươi.
Anh kiên quyết phải dứt hẳn ra. Anh nắm nhẹ tay Marsha bảo:
- Anh phải về đây.
Cô đi cùng anh ra thềm hiên. Anh giơ tay vuốt mái tóc cô. Cô thì thầm:
- Peter, anh…
Anh bước xuống bậc tam cấp, mà cũng không biết là họ đã đứng ở đ từ lúc nào.
*
Vào lúc 10 giờ rưỡi đêm, Ogylvie phụ trách an ninh khách sạn đã đi mò mẫm trong đường hầm dành cho nhân viên từ khu nhà chính của StGregory sang giữa của khách sạn ở giáp bên cạnh.
Ông ta chọn đường hầm chứ không dùng lối đi ở tầng trệt dễ chịu hơn, đồng thời cũng cẩn thận chọn giờ giấc để tránh những cặp mắt nghi ngờ, tò mò. Vào lúc 10 giờ rưỡi, những khách cần lấy xe đi chơi tối thì đã lấy hết rồi, mặt khác giờ này cũng còn sớm quá, nhiều người chưa trở về.
Và cũng vào giờ này, số khách mới đến khách sạn, nhất là bằng xe hơi, cũng không là bao.
Kế hoạch ban đầu của Ogylvie là lái chiếc Jaguar của vợ chồng Công tước Croydon lên phía Bắc vào lúc một giờ sáng, tức là còn ba tiếng nữa, kế hoạch đó chưa thay đổi gì cả. Tuy nhiên, trước khi xuất phát, anh chàng béo phị này còn một số việc phải làm và điều quan trọng là không được để ai trông thấy.
Vật liệu dùng cho công việc này được đựng trong một chiếc túi giấy ông ta đang cầm trong tay. Nó không nằm trong kế hoạch tinh vi của bà Công tước. Ogylvie đã phát hiện sự thiếu sót đó ngay từ đầu, song ông ta không muốn tiết lộ. Trong vụ thảm sát hai người xảy ra đêm hôm thứ hai vừa qua, chiếc Jaguar đã vỡ mất một chiếc đèn phía trước.
Thêm vào đó, vì bị mất chiếc vòng bịt ngoài, chiếc vòng đó hiện đang nằm trong tay cảnh sát, khung đèn đã lỏng ra.
Muốn lái đi trong đêm tối như kế hoạch dự định, cần phải thay đèn và sửa tạm cái giá đỡ. Nhưng nếu đem xe đến một trạm sửa ôtô ở thành phố thì nguy hiểm quá, đồng thời cũng không thể nghĩ đến việc nhờ anh thợ máy của khách sạn giúp cho việc này được.
Đêm hôm qua, Ogylvie cũng đã chọn một giờ thích hợp lúc gara vắng vẻ để khảo sát kỹ chiếc xe đậu ở một gian khuất sau cái cột. Ông xác định nếu kiếm được đúng kiểu đèn, ông có thể tự sửa tạm lấy cũng được.
Ogylvie đã nghĩ đến việc liều lĩnh tìm mua chiếc đèn thay thế ở một hiệu buôn xe Jaguar hẻo lánh tại New Orleans, nhưng rồi ông gạt phăng ý nghĩ đó đi. Cho dù lúc này cảnh sát chưa biết được họ đang cần tìm loại xe hơi nhãn hiệu gì (điều này Ogylvie nắm chắc) thì chỉ một hai ngày nữa là họ biết, một khi đã xác định được các mảnh vỡ. Nếu Ogylvie mua một chiếc đèn xe Jaguar lúc này thì người ta cũng sẽ dễ dàng nhớ lại một khi có cuộc thẩm vấn và như thế cuối cùng người mua sẽ bị truy tìm. ông đành chấp nhận việc mua một chiếc đèn tiêu chuẩn, hai giây tóc, kiểu Bắc Mỹ, bịt bớt chùm sáng, tại một cửa hiệu bán phụ tùng xe hơi tự phục vụ. Liếc mắt xem xét, ông nhận thấy có thể dùng tạm được. Bây giờ ông chuẩn bị lắp thử. Đi kiếm chiếc đòn này là cả một vấn đề khó khăn, trong một ngày đầy ắp công việc, một ngày khiến cho ông có cảm giác vừa thỏa mãn lại vừa lo lắng bồn chồn. Ông thấy cơ thể mệt mỏi rã rời. Điều này thật không thuận lợi khi cuộc hành trình dài lên phía Bắc đang đợi ông trước mắt. Ông tự an ủi khi nhớ đến số tiền hai mươi lăm ngàn đô la, trong đó mười ngàn đã thu xếp xong và ông đã nhận được từ tay bà Công tước Croydon. Trước một cảnh tượng căng thẳng, lạnh lùng, bà Công tước môi mím chặt, vẻ mặt nghiêm trang, Ogylvie không cần để ý, cứ hau háu nhét vội đám giấy bạc xếp thành tập vào cặp. Đứng bên cạnh họ lúc đó là ông Công tước ngà ngà say, mắt đờ đẫn, gần như không ý thức được chuyện gì đang xẩy ra trước mặt.
Nghĩ đến món tiền, lão béo phị run lên vui sướng. Số tiền đó hiện nay đã giấu kín, ông chỉ mang theo trong mình hai trăm đô la để phòng bất trắc trong cuộc hành trình sắp tới. Ngược lại, sự bồn chồn của ông có hai nguyên nhân.
Một là ông biết rất rõ hậu quả sẽ ra sao nếu ông không đưa được chiếc Jaguar thoát khỏi thành phố New Orleans, vượt qua các bang Louisiana, Mississippi, Tennesee và Kentucky. Nguyên nhân thứ hai là việc Peter McDermott cứ khăng khăng đòi Ogylvie cần phải luôn luôn có mặt ở khách sạn.
Vụ trộm đêm qua và khả năng có một tên đạo chích chuyên nghiệp hoạt động ở StGregory thật không đáng có chút nào trong tình hình nước sôi lửa bỏng này. Ogylvie đã cố gắng hết sức mình, ông góp nhiều ý kiến cho cảnh sát thành phố và các thám tử đã đến thẩm vấn người khách bị mất trộm. Các nhân viên khách sạn, kể các nhân viên an ninh khác đều đã được báo động và người trợ thủ của Ogylvie cũng được ông cho chỉ thị kỹ càng, cần phải làm gì trong những tình huống khác nhau. Tuy nhiên, Ogylvie nhận thấy ông cần phải trực tiếp có mặt để điều khiển mọi hoạt động. Khi McDermott chú ý đến việc ông vắng mặt, chỉ ngày mai đây thôi, nhất định sẽ rất rắc rối, om sòm.
Suy cho cùng việc om sòm này không đưa lại kết quả gì cả, bởi McDermott và những người như anh ta đã đến lúc phải ra đi thôi. Trong khi đó Ogylvie vì những lý do mà chỉ mình ông và Warren Trent biết, sẽ vẫn trụ lại với ông việc của mình. Thế nhưng việc này vẫn đưa lại những hậu quả mà người phụ trách an ninh khách sạn muốn tránh trước nhất. Đó là việc người ta sẽ chú ý đến những hành động của ông trong vài ba ngày tới.
Tuy nhiên vụ trộm và những hậu quả của nó cũng có ích cho ông, nhưng chỉ ở mặt tạo cho ông có được lý do chính đáng để lui tới nha cảnh sát. Tại đây, ông đã làm ra vẻ vô tình hỏi thăm tin tức cuộc điều tra vụ đâm xe đã diễn biến đến đâu. Ông được biết cảnh sát vẫn đang tập trung phá vụ án này, toàn bộ lực lượng được báo động liên tục không nghỉ. Trên tờ States – Items([2]) chiều nay, cảnh sát đã công bố một lời kêu gọi mới rằng mọi người hãy khai báo về bất kỳ chiếc ôtô nào có chắn và đèn trước bị hư hại. Việc này cũng mới chỉ là một tin thôi, song nó cũng làm giảm bớt cơ hội để đưa chiếc xe Jaguar ra khỏi thành phố mà không bị người ta phát hiện. Ogylvie toát mồ hôi khi nghĩ đến việc đó.
Ông đã đến cuối đường hầm và đang ở dưới hầm ga ra.
Giữa rất yên tĩnh, ánh đèn hiu hắt. Ogylvie lưỡng lự, không biết có nên đi thẳng đến chỗ chiếc xe của vợ chồng Croydon ở phía trên vài ba tầng hay đến văn phòng gara, nơi có người thu tiền đang trực đêm ở đó. Ông nhận thấy nên đến văn phòng trước thì khôn ngoan hơn.
Ông nặng nhọc trèo lên hai tầng cầu thang sắt, hổn hển thở dốc. Người thu tiền là Kulgmer, một ông già lăng xăng, đang ngồi một mình trong buồng nhỏ đèn sáng trưng gần đường dốc dẫn ra và từ ngoài phố vào. Ông ta đặt tờ báo buổi chiều xuống khi thấy ông phụ trách an ninh khách sạn.
- Tôi đến để báo cho ông biết - Ogylvie nói - Tôi sẽ lái xe của Công tước Croydon ra bây giờ. Nó đang ở gian số 371. Tôi đi làm giúp cho ông ấy một việc.
Kulgmer nhíu mày:
- Ông Ogylvie, ông thừa biết tôi không thể cho ông lấy xe nếu như không có giấy ủy quyền thích hợp.
Ogylvie chìa ra mẩu giấy ủy quyền mà bác ta cần xem.
Người trực đêm đọc kỹ tờ giấy, sau đó lại còn lật ngược:
- Thế này là được rồi.
Ông phụ trách an ninh giơ bàn tay chuối mắn ra để lấy tờ giấy lại Kulgmer lắc đầu:
- Tôi phải giữ giấy này. Để tôi còn làm bằng.
Người đàn ông béo phị nhún vai. Ông rất muốn thu lại mẩu giấy đó, nhưng nếu cứ khăng khăng thì sẽ to chuyện, sự kiện sẽ nổi cộm lên, mà lẽ ra có thể sẽ bị lãng quên ngay. Ông chỉ vào chiếc túi giấy:
- Tôi lên cất cái này, rồi tôi đưa xe ra ngoài độ hai giờ thì về.
- Tùy ông thôi, ông Ogylvie ạ - Người trực đêm gật đầu đoạn quay lại với tờ báo.
Vài phút sau Ogylvie tiến về gian số 371. Làm như tình cờ ông liếc nhìn quanh. Khu vực đỗ xe bằng bê tông có trần thấp lè tè, khoảng một nửa đã có ôtô choán chỗ, đang lúc yên tĩnh, vắng vẻ. Mấy anh phục vụ xe trực ca đêm lúc này chắc đang chúi vào buồng ở tầng trệt, tranh thủ đánh một giấc hoặc đang sát phạt nhau. Tuy thế vẫn cần phải tiến hành công việc thật nhanh chóng.
Ở trong góc, ẩn giữa chiếc xe Jaguar và chiếc cột che khuất một phần chiếc xe, Ogylvie dốc trong chiếc túi giấy ra một chiếc đèn mũi xe, kìm, tuốc vít, dây điện và băng keo.
Những ngón tay ông tưởng là vụng về, thế mà hóa ra khéo léo đến lạ lùng. Ông đeo găng tay bảo vệ, gỡ hết những mảnh vụn còn lại của chiếc đèn vỡ. Chỉ một lát sau ông nhận thấy chiếc đèn mới thay vừa với kiểu đèn Jaguar, nhưng dây điện nối không được. Với số dây thừa, ông buộc bóng đèn vào đúng chỗ, lấy cả bìa ở túi áo ra nhét vào chỗ hổng của chiếc đai bị rơi mất. Ông dùng băng keo màu đen phủ kín, luồn băng xuyên qua và giữ chặt nó ở phía sau. Đây là một việc vá víu chằng đụp, ra chỗ sáng rất dễ bị phát hiện, nhưng trong tối thì coi tạm ổn. Đã mất đến mười lăm phút rồi. Sau khi mở cửa xe phía người lái ông xoay núm bật đèn. Cả hai đèn đầu xe đều sáng.
Ông trút một tiếng thở phào nhẹ nhõm. Đúng lúc đó, từ phía dưới có tiếng còi rít giật cục và tiếng ôtô rồ máy, tăng tốc. Ogylvie sững sờ. Tiếng động cơ rú mỗi lúc một gần. Tiếng động này càng to thêm do đường bê tông và trần thấp phản âm. Sau đó, đột nhiên ánh đèn ôtô quét ngang, chiếu lên phía đường dốc dẫn lên tầng trên. Có tiếng lốp xe rít, tiếng tắt máy và cửa xe đóng sầm. Ogylvie thấy nhẹ cả người. Ông biết người thợ phục vụ xe sẽ dùng thang máy cá nhân để quay trở xuống phía dưới.
Khi nghe tiếng bước chân xa dần, ông bỏ dụng cụ và phụ tùng vào chiếc túi giấy cùng với mấy mảnh vỡ lớn của chiếc đèn cũ. Ông đặt chiếc túi sang một bên để lát nữa sẽ mang về.
Trên đường đi lên, ông thấy một cái tủ của thợ rửa xe ở tầng dưới. Ông theo đường dốc đi xuống chiếc tủ ấy. - Đúng như dự kiến, trong tủ có nhũng thứ cần thiết để làm vệ sinh, ông chọn ra một chiếc chổi, một cái hốt rác và một cái xô. Ông đổ nước ấm vào lưng xô rồi bỏ thêm vào đó một chiếc giẻ lau. Sau khi chăm chú lắng nghe tiếng động từ phía dưới, đợi đến lúc hai chiếc xe chạy qua, ông mới đi nhanh trở lại chiếc xe Jaguar để ở tầng trên.
Ông dùng chổi và hốt rác, quét dọn kỹ càng quanh chiếc xe. Không được để lại một mảnh vụn thủy tinh vỡ nào để cảnh sát có thể xác nhận và so sánh với những mảnh vụn ở hiện trường.
Chẳng còn mấy thời gian. Số xe trở về mỗi lúc một nhiều. Trong lúc quét dọn, ông ta đã hai lần dừng lại, đề phòng bị người ta trông thấy. Có lúc ông nín thở khi một chiếc xe hơi lao vào một gian cùng tầng và chỉ cách chiếc Jaguar vài ba bước. Cũng may người thợ phục vụ xe không thèm để ý nhìn quanh. Nhưng điều đó càng hối thúc ông phải mau tay hơn. Nếu một tay thợ nào để ý thấy ông và đi sang chỗ ông hẳn anh ta sẽ tò mò đặt ra nhiều câu hỏi thắc mắc, và điều này sẽ còn được lặp lại ở tầng bên dưới.
Lý do giải thích việc Ogylvie có mặt ở đây mà ông đưa ra với người trực đêm xem chừng không có sức thuyết phục.
Và không đơn giản chỉ có vậy. Cơ hội đưa xe lên phía Bắc không bị ai phát hiện sẽ phụ thuộc vào việc làm sao càng hạn chế dấu vết để lại càng tốt.
Còn một việc phải làm. Ông lấy nước ấm và giẻ lau kỳ cọ thật sạch chỗ chắn bùn bị hư hại và những vùng quanh đấy. Khi ông vắt chiếc giẻ lau, xô nước trong vắt trở thành nâu xám. Ông rà soát kỹ công việc vừa làm, sau đó lầm bầm vẻ thỏa mãn. Bây giờ, dù có xảy ra chuyện gì chăng nữa thì cũng không còn vết máu khô trên chiếc xe này.
Mười phút sau, ông trở lại nhà chính của khách sạn, mồ hôi đầm đìa vì những cố gắng vất vả vừa rồi. Ông đi ngay về văn phòng mình, định chợp mắt một giờ ở đây trước khi xuất phát một cuộc hành trình dài dằng dặc lên tận Chicago. Ông xem lại đồng hồ, 11 giờ 15.
❀ ❀ ❀
[1] Đúng thế.
[2] 218,30C.