Trong Vòng Lửa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 28 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11

❊ ❊ ❊

Chúng tôi tiếp tục hành quân. Chúng tôi đi suốt đêm trên những lối mòn ngang lưng chừng núi ướt đẫm sương đêm. Gần sáng, chúng tôi mới được lệnh tạm dừng lại nghỉ. Nằm vật xuống một hốc đá bên lối đi, tôi duỗi thẳng hai chân mỏi rã vì leo núi. Đang nắn đôi chân cho đỡ mỏi thì Hải, chiến sĩ liên lạc tiểu đoàn chạy đến gọi:

- Anh lên gặp chỉ huy tiểu đoàn ngay!

- Có việc gì thế?

- Em không rõ! Anh đi luôn đi, tiểu đoàn trưởng và chính trị viên đang đợi!

Tôi vội xách súng đi theo Hải. Vòng qua một gộp đá to chúng tôi đến một khe núi. Tiểu đoàn trưởng Thêm và chính trị viên Hoàng đang ngồi chụm đầu trong một khe đá. Nhìn thấy tôi, chính trị viên Hoàng vẫy vẫy tay chỉ vào một mô đá ý bảo tôi ngồi chờ. Chỉ huy tiểu đoàn đang hội ý. Tôi vừa ngồi xuống mô đá thì trợ lý tham mưu Thọ cũng đến. Anh Thọ túm ghé tai tôi thì thào:

- Tao với mày và tổ trinh sát sẽ xuống núi trước. Bọn mình trinh sát tìm đường để tối nay đón đơn vị vượt qua quốc lộ rút về hướng Nguyên Bình đấy!

Tôi hồi hộp hỏi lại:

- Đây là đâu hả anh?

- Vị trí mình đang ém quân ở đây là dãy núi sát con đường quốc lộ lên huyện lỵ Thông Nông. Lát nữa sương mù tan sẽ nhìn rất rõ con đường dưới chân núi. Bọn địch chốt chặn dày đặc hai bên đường. Tao với mày phải tìm cho được chỗ bọn địch sơ hở để đưa đơn vị bí mật vượt qua đường an toàn nhất...

Chỉ huy tiểu đoàn đã hội ý xong. Tiểu đoàn trưởng Thêm gọi anh Thọ, tôi và hai chiến sĩ trinh sát đến giao nhiệm vụ đi trinh sát, tìm đường. Anh căn dặn rất cẩn thận khi có tình huống xấu nhất xảy ra. Tóm lại, bộ phận chúng tôi xuống núi nếu bị lộ, bọn địch truy sát thì dứt khoát không được chạy ngược trở lại vị trí ém quân của tiểu đoàn, cũng không được để lọt vào tay bọn địch. Và, tóm lại một lần nữa là chúng tôi sẽ phải tự sát không để bọn địch bắt sống. Tôi hiểu, tính mạng của mấy trăm cán bộ, chiến sĩ, thương binh, thanh niên xung phong và nhân dân đang ở trên núi rất mong manh, mọi sự sơ xuất có thể dẫn tới sự tổn thất lớn hơn. Anh Thọ thay mặt toán trinh sát hứa với tiểu đoàn trưởng sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Khi chúng tôi chuẩn bị lên đường thì chính trị viên Hoàng kéo tay tôi lại khẽ dặn:

- Phải thật cẩn thận Hà nhé!

- Anh cứ yên tâm! Em không việc gì đâu, anh đừng lo.

- Mày là rất hay liều lĩnh đấy!

Tôi gãi đầu. Trong chiến đấu sự dũng cảm hay liều lĩnh nhiều khi cũng chả phân biệt rõ ràng. Mấy lần tôi bị anh nhắc nhở vì cái tội chủ quan, liều lĩnh. Tôi biết anh lo lắng cho tôi. Tôi với anh là đồng hương đất Tổ Vĩnh Phú, lại ở cùng với nhau từ thời đào đất làm đường ở Hà Giang. Ngần ngừ một lát, chính trị viên Hoàng ngậm ngùi bảo tôi:

- Anh Bính hy sinh rồi mày biết chưa?

Tôi sững sờ trước tin anh Bính hy sinh. Anh Bính là người cùng xã với tôi. Anh ấy nhập ngũ từ những năm đầu chiến tranh chống Mỹ. Anh là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 chốt chặn ở hướng Pác Bó, Đôn Chương. Tôi biết anh Bính từ khi còn ở nhà. Tôi cùng học cấp 3 với bé Hoà, em gái út anh ấy. Một lần lên nhà Hoà chơi, gặp anh ấy về phép. Khi nhập ngũ, bất ngờ tôi gặp anh trong một lần tập trung phát động thi đua toàn trung đoàn. Anh Bính lấy vợ muộn. Mãi sau chiến tranh chống Mỹ anh mới về phép cưới vợ. Con gái anh ấy còn rất nhỏ...

Chính trị viên Hoàng nói tiếp:

- Hôm qua, mấy thằng ở tiểu đoàn 1 vượt vòng vây chạy sang hướng tiểu đoàn ta nói anh Bính hy sinh anh dũng lắm. À! Mấy thằng tiểu đoàn 1 có gửi cho mày cái áo anh Bính mua cho con gái. Anh ấy dặn lại nhờ mày cầm về đưa cho con anh ấy. Cái áo ấy tao đang giữ đây, lúc nào mày đi trinh sát về thì cầm giúp anh ấy nhé!

- Vâng ạ!

Tôi đáp và chào anh để lên đường đi làm nhiệm vụ.

 

Chúng tôi lợi dụng sương mù tụt xuống núi, vượt qua những mỏm đồi trồng sắn trống trải. Khi sương mù tan hẳn thì chúng tôi đã tiếp cận được sát mép đường quốc lộ. Tôi và anh Thọ nằm ém trong một bụi cây xấu hổ chỉ cách mặt đường vài mét. Trên đường bọn địch đi lại ồn ào, nhốn nháo. Nghe tiếng gầm rú, tiếng xích xe tăng nghiến ken két xiết trên đất đai của ta khiến lòng tôi cứ thấy quặn lên...

Sương mù tan hẳn. Từ trong bụi cây xấu hổ trên gò đất thấp sát bên đường chúng tôi tiến hành quan sát, theo dõi nắm quy luật đi lại của bọn địch. Trên quả đồi bên phải chỗ chúng tôi ẩn nấp, hướng từ biên giới xuống là một điểm chốt của bọn địch. Chúng tôi nhìn thấy rất rõ những cái mũ vải với ngôi sao màu đỏ của bọn chúng nhấp nhô bên cạnh những họng súng đen sì chốc chốc lại khạc lửa về hướng chân núi đá và phía bờ suối. Anh Thọ bảo tôi toài người lùi lại một chút nằm ép sau gờ đất cao để đề phòng bọn địch bắn bừa bãi lỡ dính phải một viên đạn lạc.

Bọn kiến làm tổ trong bụi cây xấu hổ bắt đầu hoạt động. Thỉnh thoảng chúng lại nổi hứng chích vào người tôi một phát đau nhói giật nảy mình mà không dám cục cựa mạnh. Trên con đường bọn địch vẫn hành quân rất đông. Bộ binh, xe tăng, xe vận tải rầm rập chạy vào đất ta. Chiến sự hình như đã tiến sâu xuống phía Hoà An nên tiếng súng nghe vọng lên xa xôi quá. Bọn địch tin chắc đã đẩy lùi quân ta xa đường biên giới sâu vào nội địa nên chúng có vẻ chủ quan. Chúng đi lại nghênh ngang trên đường cứ như là đang đi trên lãnh thổ của chúng vậy.

Đang ngoái đầu quan sát cái lối mòn nhỏ chạy dưới chân điểm chốt của địch ước lượng khoảng cách từ đường đến chân núi để xem có thể đưa đơn vị vượt qua được hay không thì anh Thọ chợt thì thào:

- Hà ơi! Nhìn kìa, có rất đông người đang đi ngược lên biên giới...

Tôi vội quay lại nhìn ra mặt đường. Một đoàn người đang đi ngược dòng quân lính địch hướng lên biên giới. Khi đoàn người rã rượi ấy tiến đến gần thì cả tôi và anh Thọ đều run lên bàng hoàng, kinh hãi. Anh Thọ khe khẽ thốt lên đau đớn: "Bọn thú vật, chúng nó dã man quá!".

Một đoàn người khoảng hơn một trăm cô gái tả tơi đang bị bọn lính giặc dẫn giải về hướng biên giới. Đó là các nữ thanh niên xung phong của ta. Cả trăm cô gái bị lột trần, không quần, không áo bị áp giải đi trong tiếng cười khả ố của bọn xâm lược. Những tiếng kêu khóc rên rỉ gọi mẹ, gọi cha thê thảm của những em gái bị bọn địch làm nhục khiến tôi thấy tim mình đau nhói. Tôi đặt tay lên cò súng. Anh Thọ vội giữ tay tôi lại. Anh nghiến răng kèn kẹt nói:

- Không được! Nổ súng bây giờ là giết các cô ấy đấy. Bọn chúng bắn chết hết các cô ấy ngay, hiểu không?

Tôi buông khẩu súng ôm mặt. Tôi không dám nhìn ra đường nữa. Nhưng dù tôi có nhắm mắt lại thì hình ảnh những cô gái trên người không còn một mảnh vải giữa vòng vây của bầy sói man rợ vừa đi vừa kêu khóc cứ hiện ra trong tôi. Tiếng khóc của các cô gái thanh niên xung phong thê thảm cứ văng vẳng mãi mặc dù họ đã bị dẫn đi xa dần, khuất hẳn sau mỏm đồi đất. Đầu óc tôi ong ong căng thẳng. Tôi thấy vô cùng chán nản, bất lực. Cơ thể tôi rã rời như sắp bị tan rữa ra thành đất bụi. Sao tự dưng tôi thấy sợ hãi và căm hận chiến tranh đến thế. Chiến tranh đã biến con người thành sắt thép, nhưng cũng biến con người thành bầy dã thú như thế. Có lẽ tất cả những tên lính giặc đã gí lưỡi lê, lột xé quần áo hãm hiếp những người con gái yếu ớt, tay không tấc sắt kia cũng có em gái, cũng có mẹ, cũng có một tình yêu đẹp. Nhưng chiến tranh đã làm cho chúng nó mất hết tính người, trở lại cái bản năng của loài cầm thú. Không hiểu rồi sau chiến tranh chúng nó sẽ sống thế nào khi bản tính con người của chúng đã mất! Chắc chắn là chúng nó sẽ sống như những con thú thực sự cho đến hết cuộc đời. Nỗi ám ảnh của chiến tranh rồi sẽ theo suốt cuộc đời nó. Ám ảnh ấy cũng sẽ theo suốt cuộc đời chúng tôi khi chứng kiến cảnh cả trăm người gái bị lột hết quần áo tả tơi đi giữa vòng vây quân thù.

Sau này tôi còn được biết đơn vị nữ thanh niên xung phong ấy bị bọn địch bất ngờ tập kích. Gần như tất cả đều bị bắt, bị làm nhục. Một người con gái trong đơn vị có khẩu súng để canh gác đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Hết đạn cô sa vào tay giặc. Bọn địch thay nhau cưỡng hiếp cô bé đến chết đi sống lại. Dã man hơn chúng đã buộc cô bé trần truồng ấy ôm chặt lấy nòng pháo để làm mát súng khi bắn. Cô gái ấy co quắp cháy đen, chết khô trên nòng khẩu pháo 122ly của bọn giặc.

Đã quá trưa. Tôi chợt thấy đói. Cái đói quằn lên trong bụng. Nhưng khi anh Thọ đưa cho nắm gạo sấy thì tôi lại không muốn ăn. Có cái gì đó đầy ứ anh ách trong bụng. Có lẽ là sự đau đớn, căm thù đã chứa chất đầy trong tôi sau khi nhìn thấy cảnh các em gái bị bọn giặc hành hạ tả tơi, co rúm, rét mướt kêu khóc thảm thiết ở nơi biên ải này mà mình đành bất lực không làm gì được.

Lại có tiếng ồn ào rậm rịch trên đường. Tôi giật thót người lo lắng nghển cổ nhìn ra mặt đường. Lần này là một toán người lôi thôi, lếch thếch cũng đang đi ngược về hướng biên giới. Họ là dân thường. Nhưng không phải là dân ta mà là dân bên phía đối phương. Họ bị bắt đi vận chuyển xăng dầu, đạn dược vượt qua biên giới phục vụ quân đội của họ. Lúc quay trở về họ tranh thủ nhổ sắn, bẻ ngô và bắt trộm trâu bò gà lợn của dân ta. Nhìn những người dân đối phương đói khát bẩn thỉu, lôi thôi, trên lưng gùi vác đủ thứ lấy được đang lôi kéo theo những con trâu, con lợn của dân ta, tôi và anh Thọ cùng lẩm bẩm: "Mẹ kiếp! Đồ ăn cướp...".

Có tiếng chân lịch bịch. Tôi ngẩnh đầu nhìn lên. Một con trâu mẹ và một con nghé chạy xuống sát chỗ tôi và anh Thọ đang nằm. Con trâu mẹ vừa cúi đầu gặm cỏ đã giật mình ngóc đầu lên nhìn. Nó đã trông thấy hai chúng tôi đang nằm ép mình trong bụi cây xấu hổ. Có lẽ nó ngạc nhiên không hiểu vì sao. Tôi nhìn chằm chằm vào mắt con trâu như muốn bảo nó hãy đi đi, miệng khẽ "xuỳ... xuỳ...xuỳ..." để xua đuổi nó. Nhưng mẹ con con trâu vẫn không hiểu cứ đứng sững nhìn chúng tôi nằm ép trong bụi cây gai. Tôi lo lắng. Bọn địch trông thấy hai con trâu mà ngứa mắt lia cho một loạt đạn thì chúng tôi nguy to. Tôi vừa định thọc nòng súng ra để dọa con trâu thì bỗng đất đá tới tấp ném đến. Một người dân đối phương đang đứng trên đường ném để lùa hai con trâu đi theo đàn trâu ăn cướp được. Một hòn đá ném trúng lưng anh Thọ. Chắc là đau nên tôi thấy anh khẽ vặn người. May quá, hai con trâu lồng lên chạy theo đàn.

Đến cuối chiều sương mù lại buông xuống mù mịt. Bộ phận trinh sát của chúng tôi co cụm về gần chân núi đá. Sau khi nghe các chiến sĩ trinh sát báo cáo tình hình, anh Thọ quyết định chọn lối mòn ngay dưới chân điểm chốt của địch để đến đêm đưa đơn vị vượt qua đường. Đây là một lối đi bất ngờ và có thể giữ được bí mật. Vì chỗ vượt đường quốc lộ sát vị trí chốt chặn của địch nên bọn chúng không thể ngờ, hai nữa lại gần suối nước chảy ào ào sẽ át tiếng động của đoàn người vượt vây. Cũng bởi trong đội hình đêm nay bí mật vượt vây còn có gần một trăm người dân trẻ già, ốm yếu đều đủ cả.

Sau khi thống nhất ý kiến về phương án đưa đơn vị vượt đường quốc lộ, anh Thọ bảo:

- Bây giờ tao và một chiến sĩ trinh sát sẽ lên núi báo cáo tình hình với chỉ huy tiểu đoàn. Mày và thằng Tuất trinh sát tiếp tục bám đường. Khi đơn vị rút qua mày sẽ tiếp tục ở lại bên này đường chốt giữ, yểm hộ và rút theo phía sau cùng đội hình nhé!

- Rõ rồi! Anh cứ đi đi!

- Nhớ ám hiệu liên lạc là tiếng tắc kè kêu chẵn ba lần nhé!

- Vâng! Anh cứ yên tâm...

Anh Thọ và chiến sĩ trinh sát đi rồi tôi và thằng Tuất chui vào một khe đá tranh thủ chợp mắt. Khoảng nửa đêm chúng tôi sẽ trinh sát lại lối thoát một lần nữa để gần sáng đón đơn vị vượt đường. Mệt bã người và cả ngày căng thẳng nhưng tôi không sao ngủ được. Cứ nhắm mắt lại là tôi lại thấy hình ảnh các em thanh niên xung phong không quần, không áo tả tơi lết đi trên con đường chiến tranh đầy máu và nước mắt.

 

Nửa đêm, tôi và Tuất lại lần ra hướng con đường quốc lộ. Chúng tôi đi dưới chân điểm chốt của bọn giặc. Hình như bọn chúng cũng đã ngủ nên không thấy bắn bừa bãi ra xung quanh nữa. Mặt đường quốc lộ cũng không còn bóng lính hay xe cộ của bọn địch qua lại. Gần sáng đơn vị vượt qua đường sẽ giữ được bí mật, an toàn. Tôi hy vọng là như vậy. Nhưng chúng tôi đã không phát hiện ra từ lúc chập tối có một chiếc xe vận tải của bọn địch bị chết máy ở giữa đoạn đường ngầm qua suối khuất ở phía sau quả đồi nơi bộ phận trinh sát chọn đưa bộ đội vượt qua đường.

Khi đội hình tiểu đoàn và nhân dân vượt qua đường gần hết thì chiếc xe vận tải của địch bất ngờ rú máy từ dưới con suối đang chảy ào ào vọt lên. Qua một đoạn cua ngắn ánh đèn pha sáng rực của chiếc xe vận tải đầy những tên lính giặc ngồi trên đã dọi thẳng vào đoàn người đang chạy qua đường. Đó là tốp cuối cùng do trung uý Tuấn, đại đội trưởng đại đội 1 chỉ huy. Tiếng súng, tiếng bọn địch hò hét rộ lên. Đạn địch từ trên quả đồi bên đường lập tức đổ xuống mặt đường như mưa. Có mấy người ngã sấp ngay trên mặt đường. Một số chiến sĩ đại đội 1 và đại đội trưởng Tuấn bị đánh bật trở lại mé bên này đường. Đang đi cuối đội hình, tôi vội nhao lên. Tôi gặp đại đội trưởng Tuấn đang nấp sau một mô đất. Không thể vượt qua đường được nữa vì bọn địch từ trên đồi đang lao xuống phối hợp với bọn ngồi trên xe vận tải chặn đường. Đường đạn của địch đan dày khắp mặt đường. Tiếng xích xe tăng địch xoang xoảng. Tôi và đại đội trưởng Tuấn quyết định dẫn số anh em chưa vượt được qua đường chạy ngược trở lại. Cũng may đại bộ phận tiểu đoàn và nhân dân đã vượt qua đường sang bên kia bờ suối lên được sườn núi bên kia an toàn.

Bọn địch tập trung hoả lực hướng về phía chúng tôi. Chúng tôi vừa nổ súng thu hút hoả lực địch vừa lùi dần về phía chân dãy núi đá nơi đơn vị vừa ém quân lúc nãy. Khi bám vào được lối mòn ngược lên đỉnh núi tôi dừng lại chờ đại đội trưởng Tuấn và các chiến sĩ đại đội 1. Bọn địch không truy đuổi mà chỉ bắn theo. Chúng tôi co cụm ở một hốc đá lưng chừng núi. Điểm lại quân số còn đúng mười bốn người, đủ các thành phần lính trinh sát, thông tin, vận tải và mấy chiến sĩ thuộc đại đội 1.

Theo điều lệnh chiến đấu của quân đội, anh Tuấn quân hàm cao nhất sẽ là người chỉ huy chung, tôi sẽ là chỉ huy phó. Kể từ đây, bộ phận của chúng tôi hoàn toàn bị tách khỏi đội hình của tiểu đoàn, độc lập chiến đấu. Và cũng kể từ đây chúng tôi bắt đầu những ngày gian khổ nhất trong vòng vây khép chặt của quân thù.

 

Mười bốn người chúng tôi quay lại ngược lên đỉnh núi, trở lại trong vòng vây của kẻ thù. Đại đội trưởng Tuấn lầm lũi đi trước. Tôi và thằng Tuất, thằng Lâm đi sau cùng. Không khí nặng nề, không ai nói với ai câu nào sau cuộc cãi vã giữa tôi và anh Tuấn. Anh Tuấn đã chỉ trích rất gay gắt việc tổ trinh sát chúng tôi chủ quan, không phát hiện ra chiếc xe vận tải của địch bị chết máy giữa suối dẫn đến đơn vị bị bất ngờ, bị địch cắt ngang đội hình khiến bộ phận đi sau không thoát ra ngoài được.

Sự sơ xuất trong chiến tranh nhiều khi khó mà tránh khỏi. Tình huống chiến đấu bất ngờ luôn luôn xảy ra. Người lính chiến phải luôn luôn bình tĩnh, sẵn sàng đối phó với bất cứ tình huống nào khi nó xuất hiện, kể cả tình huống xấu nhất. Bộ phận trinh sát chúng tôi rất mỏng, chỉ có bốn người lại chia làm hai hướng tìm đường đưa đơn vị rút ra. Chúng tôi đã không cử người nằm lại bám đường nên không biết có một chiếc xe tải chở tốp lính giặc chết máy ở giữa suối nên mới xảy ra tình huống bị chúng phát hiện lao lên cắt ngang đội hình rút quân của ta.

Bị đại đội trưởng Tuấn phê bình, chỉ trích tôi không tự ái, tôi chỉ thấy bực tức vì anh nghĩ bộ phận trinh sát chúng tôi hèn nhát, sợ chết, trinh sát nắm địch không cẩn thận nên để xảy ra sơ xuất trên. Đúng là tôi có sợ chết. Ai chả sợ chết. Nhưng trong chiến tranh có nhiều điều còn khủng khiếp, kinh hãi hơn rất nhiều cái chết. Điều quan trọng là ai sẽ đứng vững được trong chiến tranh và trước bom đạn của kẻ thù. Có một điều là tôi không hèn nhát. Từ lúc chiến tranh xảy ra được giao nhiệm vụ gì tôi cũng đều cố gắng hoàn thành. Có những lúc tưởng không còn có thể chịu đựng nổi sự ác liệt của chiến tranh nữa tôi vẫn cắn răng chịu đựng, không rút lui, bỏ vị trí khi chưa có lệnh.

Trung uý Tuấn là người Hà Nội. Trong chiến tranh chống Mỹ anh thường ở khung A huấn luyện tân binh rồi bàn giao cho chiến trường. Lần anh vào sâu nhất là đến Quảng Bình giao quân, bị một trận B52 suýt chết. Lên biên giới đại đội 1 của anh bố trí ở điểm chốt là hai quả đồi nối tiếp nhau sát cửa khẩu. Trên mỗi quả đồi có một cây đa nên còn gọi là chốt cây đa thứ nhất và chốt cây đa thứ hai. Khi chiến tranh nổ ra trận địa của đại đội 1 bị quân địch tấn công liên tục. Cuộc chiến đấu ở đây rất ác liệt. Đến hai phần ba quân số của đại đội 1 bị thương vong. Gần như toàn bộ ban chỉ huy của đại đội 1 hy sinh và bị thương. Riêng anh Tuấn vẫn bình an vô sự vì khi tác chiến xảy ra anh chủ yếu ở vị trí chỉ huy là một mỏm núi đá nhô lên phía sau mỏm đồi thứ hai. Tại mỏm đá này có một cái hang nhỏ nhưng lại như một căn hầm lớn, bom tấn có ném vào cũng chả việc gì.

Tôi nhớ hôm đang chuẩn bị trận địa ở mỏm Đầu Bò gần trường cấp 1 thị trấn gặp bộ phận còn lại của đại đội 1 rút qua, nhìn thấy đại đội phó Hoàn đầu quấn băng kín nhưng vẫn đi lại nhanh nhẹn bình thường, tôi hỏi:

- Anh bị thương nặng không mà băng bó kín cả đầu trông ghê thế?

- Nặng quái gì đâu! Sướt da vớ vẩn ấy mà!

- Sao vậy?

- Tao đang chỉ huy chiến đấu ở chốt cây đa phía trước thì thấy bỏng rát bên má trái, máu chảy ròng ròng. Sờ tay lên thấy bay đâu mất mẹ nó một mẩu tai phải rồi. Mẹ kiếp, thằng giặc chỉ cần nhích mũi súng sang bên trái vài li thì viên đạn cắm thẳng vào giữa mặt tao rồi. Mấy đứa chúng nó thấy mặt mũi tao be bét máu liền băng bó ngang dọc chứ tao có bị gì nặng đâu.

Tôi bảo:

- Anh đừng chủ quan. Nó nhiễm trùng thì khốn.

- Đúng... đúng... nguy quá rồi mày ơi!

- Sao thế?

- Thì... sau trận này vác cái tai cụt về khéo người yêu tao nó bỏ chạy luôn một mạch mất

mày ạ!

- Không việc gì đâu anh ạ! Sau chiến tranh vào thẩm mỹ viện họ lắp cho một cái tai giả. Tai vẫn vẫy được, vẫn đẹp trai như thường...

- Mày chỉ được cái khéo động viên!

Tôi hỏi tiếp:

- Anh em đại đội 1 thế nào hả anh?

Đang tếu táo, anh Hoàn sầm ngay mặt lại ngậm ngùi:

- Gần như toàn bộ cả hai ban chỉ huy đại đội đều hy sinh cả rồi.

- Sao lại những hai ban chỉ huy?

- Thì mày tính, chiến đấu được hai ngày ban chỉ huy đại đội hy sinh gần hết. Chính trị viên Toàn, chính trị viên phó Lân chết ở chốt cây đa thứ nhất. Trên bổ sung về anh Phương, học viên Trường sĩ quan Chính trị làm chính trị viên, đôn thằng Ngọc trung đội trưởng lên làm đại đội phó cũng chỉ được thêm vài ngày là người thì trúng đạn pháo hy sinh, người bị thương nặng đưa về chết ở trạm phẫu tiền phương. Còn mỗi tao sống sót thì lại bị cụt mẹ nó mất một tai, thật chả ra làm sao.

- Thế còn anh Tuấn, đại đội trưởng?

- À... à... ông ấy á! Bom có ném trúng cũng chả việc gì!

- Tại sao vậy?

- Thì... ông ấy cứ ở lì trong hang đá thì việc quái gì chứ?

Thiếu uý Hoàn trả lời một cách quấy quá rồi lừ lừ đi mất. Anh Hoàn là một lính chiến ở mặt trận phía Tây Nam. Thành tích chiến đấu của anh khá dày dặn. Anh là một người chỉ huy gan lỳ. Hầu như suốt thời gian đại đội 1 chống chọi với các đợt tấn công ác liệt của địch, anh luôn luôn có mặt ở chốt cây đa thứ nhất chỉ huy bộ đội và trực tiếp bẻ gãy các đợt tấn công liên tiếp của chúng. Trong khi đó thì đại đội trưởng Tuấn ở trong hang đá chỉ huy bằng điện thoại và qua liên lạc truyền đạt. Mệnh lệnh lúc tới được các trung đội, lúc thì không.

 

Bây giờ khi bị thất lạc khỏi đội hình của tiểu đoàn, còn mười bốn người, tôi đang là cấp dưới của anh Tuấn. Tôi không nề hà gì việc ai là người chỉ huy mình. Tôi chỉ sợ khi tình huống chiến đấu khẩn cấp xảy ra phải chấp hành những mệnh lệnh thiếu chính xác.

Chúng tôi tiếp tục rút sâu vào trong dãy núi đá. Chúng tôi đi qua những thung lũng hoang vắng không một bóng người. Mười bốn người chia làm hai bộ phận. Tôi dẫn hai chiến sĩ đi trước trinh sát địch và tìm đường, tìm vị trí tạm trú quân khi đêm đến và quan trọng nhất là tìm được dân để xin chi viện lương thực, thực phẩm. Bộ phận hơn mười người do trung uý Tuấn chỉ huy hành quân ở phía sau. Bộ phận này chỉ cơ động sau khi chắc chắn phía trước không có địch vì trong đội hình có mấy anh em bị thương, ốm yếu. Bọn địch cũng đã bắt đầu lùng sục để tìm và tiêu diệt các đơn vị của ta đang rút lui, ẩn náu lẩn khuất trên núi đá.

Đến đầu bản Kép Ké, thằng Lâm chợt dừng lại bảo tôi:

- Anh và thằng Tuất ém tại đầu bản để em mò vào trước xem sao. Lỡ có bọn địch phục kích trong bản.

- Mày phải thật cẩn thận đấy!

- Bản này em đã đến một lần rồi, em thông thạo địa hình.

Thằng Lâm nói rồi lẩn nhanh vào mấy bụi cây lúp xúp đầu bản. Trời đã sâm sẩm tối. Suốt một ngày lần mò leo trèo vật vã trên vách núi chân tay tôi mỏi nhừ. Tôi ngồi dựa vào một mô đá.

Thằng Tuất cảnh giác quan sát xung quanh. Bản Kép Ké nằm trong một thung lũng khá rộng. Đây cũng là trung tâm hành chính của xã Kép Ké. Có một con đường nhỏ chạy ngang qua bản và ngược lên sườn núi ở phía cuối bản. Nếu tình hình không có gì đặc biệt, bọn địch chưa đánh đến đây thì cả bộ phận của chúng tôi sẽ ở lại bản vài ngày để tìm cách vượt qua con đường gần thị trấn Thông Nông tìm lối rút sang Nguyên Bình tìm về với đội hình của tiểu đoàn. Thằng Lâm đi một hồi lâu thì quay lại, nó dẫn theo một nam một nữ là hai dân quân của bản. Nó chỉ anh dân quân giới thiệu:

- Đây là anh Phủng, trung đội trưởng dân quân xã. Còn đây là em Hoa dân quân của bản Kép Ké.

Chúng tôi nắm chặt tay nhau. Anh Phủng thông báo cho tôi biết tình hình địch. Bọn địch chỉ bắn pháo và đưa trinh sát thăm dò chứ chưa đánh vào khu vực Kép Ké. Hiện trung đội dân quân của xã vẫn chốt chặn ở đầu lối vào thung lũng Kép Ké. Có một số chiến sĩ các đơn vị rút chạy về đây cũng ở lại tham gia chốt chặn đánh địch. Anh đề nghị bộ phận của chúng tôi ở lại giúp dân quân bản Kép Ké chặn giặc. Tôi đồng ý nhưng nói với anh việc này phải xin ý kiến đại đội trưởng Tuấn vì tôi không thể quyết định được. Tôi lệnh cho Tuất quay lại phía sau thông báo cho bộ phận của trung uý Tuấn di chuyển vào bản Kép Ké. Đến khoảng tám giờ tối thì tất cả chúng tôi đã tập trung đầy đủ ở khu bản nhỏ trong thung lũng.

Anh Phủng, trung đội trưởng dân quân xã mời chúng tôi ăn cơm. Hai mâm cơm khá thịnh soạn. Cơm trắng. Có thịt lợn luộc, bí ngô nấu canh, rau cải xào và cả một chai rượu ngô nữa. Chúng tôi mỗi người làm một chén cho khí thế. Bao nhiêu ngày rồi chúng tôi mới lại được ăn một bữa no và ngon đến thế. Ánh lửa bập bùng soi không rõ mâm cơm. Nhưng tôi vẫn nhận thấy rõ những khuôn mặt bộ đội, dân quân hốc hác vì đói ăn, đói ngủ bao ngày. Đêm biên giới âm u. Những người lính, người dân ngồi sát bên nhau bên mâm cơm, chia nhau từng miếng cháy đáy nồi. Trận chiến đấu ngày mai ai trong số những người đang ngồi quanh mâm cơm hôm nay đây sẽ nằm xuống. Ôi chiến tranh thật là không thể biết trước điều gì. Tôi thấy nghèn nghẹn trong cổ họng khi nhớ lại những đồng đội đã hy sinh...

 

Ăn xong chúng tôi tranh thủ bàn việc phòng ngự chặn quân giặc tấn công vào Kép Ké. Trung uý Tuấn có vẻ hơi bực. Anh không bằng lòng vì tôi đã vượt quyền khi tỏ ý nhận lời ở lại chiến đấu với dân quân Kép Ké. Anh muốn tiếp tục hành quân đi tìm đội hình của tiểu đoàn ngay. Tuy vậy anh cũng cùng chúng tôi bàn phương án chiến đấu. Đường vào bản Kép Ké rất dễ phòng thủ nhưng cũng lại rất khó rút lui. Nếu để bọn địch chiếm được vị trí chốt phòng ngự đầu bản Kép Ké thì chúng có thể khống chế toàn bộ thung lũng và dùng hoả lực bắn thẳng chặn bít ngay con đường rút lên núi ở phía cuối bản. Lúc ấy toàn bộ bộ đội và dân quân sẽ như là nằm trong lòng bàn tay quân giặc.

Bàn bạc xong phương án chiến đấu, cắt cử người phối hợp với dân quân tuần tra canh gác, bộ phận chúng tôi phân tán chia nhau về trú quân trong các nhà dân. Tôi, Tuất và Lâm theo cô Hoa về nhà. Tổ tiền trạm của chúng tôi sẽ ở nhà của cô Hoa sát chân núi đá. Leo lên sàn nhà, tôi nhìn thấy bên bếp lửa bập bùng một ông già đen đúa đang ngồi vót chông. Cô Hoa giới thiệu:

- Đây là ông của em!

Tôi vội chào ông và ngạc nhiên hỏi:

- Ông vẫn chưa đi sơ tán ạ?

Ông già lắc đầu:

- Sao tao phải đi sơ tán hả? Mà sơ tán đi đâu, bỏ đi đâu! Đất của mình đây thì mình phải ở chứ. Chúng mày ở mãi tận dưới xuôi còn kéo nhau lên đây để giữ đất. Chúng tao ở đây lại bỏ đi à?

Cô Hoa nói:

- Đấy! Ai bảo ông em cứ nói như thế đấy! Em bảo ông sơ tán lên hang đá trên núi cho an toàn khi bọn địch tấn công vào bản nhưng ông không chịu. Ông bảo là ở lại giúp đỡ bộ đội và dân quân đánh giặc. Anh khuyên ông giúp em với nhé!

Tôi im lặng. Tôi đang suy nghĩ về câu nói của ông già. Một câu nói mộc mạc nhưng đó lại chính là một chân lý giản dị mà có lẽ cả ngàn đời nay rồi mỗi người dân đất Việt đều hiểu, đều ghi tạc trong lòng.

Ông già ngồi bên bếp lửa. Tay phải ông cặp chặt con dao quắm vuốt dài trên thanh tre đực già. Những cây chông nhọn sắc từ bàn tay ông sau khi được hơ qua lửa cho cứng được xếp cẩn thận cạnh bếp.

Sương mù tạt qua cửa sổ bay vào trong nhà lành lạnh. Ông già chỉ mặc độc cái quần cộc nhuộm chàm, người ông đen bóng tựa cái cột nhà. Ánh lửa bập bùng. Trên vách nứa in hình ông sù sì, gân guốc với cây chông trên tay nhọn hoắt, rung rung. Tiếng dao vuốt trên thanh tre sàn sạt. Trong đêm vắng, âm thanh đó tạo nên những cảm giác nhòn nhọn, gai gai...

Dân bản Kép Ké quen gọi ông là Đăm. Tên thật của ông hình như không ai còn nhớ. Đăm-tiếng Tày nghĩa là đen. Đã từ lâu rồi dân bản quen thấy ông quanh năm chỉ mặc độc một chiếc quần cộc chàm, đầu không mũ, không nón nên người ông đen nhẻm. Mùa đông lạnh giá, ông mới khoác thêm cái chăn sui rách lua tua. Ông đi cày thuê, đẵn gỗ thuê, kiếm từng bát gạo về nuôi vợ, nuôi con. Nhưng vợ ông chết từ khi thằng con độc nhất chưa đầy mười tuổi. Ông ở vậy nuôi con cho đến khi cách mạng thành công. Lớn lên, anh con trai ông theo du kích rồi vào bộ đội. Anh đi hết chiến dịch biên giới lại xuôi đồng bằng. Anh bị thương nặng, điều trị tận dưới xuôi. Mấy năm sau hoà bình, ông xuống tận nơi điều dưỡng đón con về. Ông lấy vợ cho anh. Được vài năm vết thương tái phát, anh mất khi đang là phó chủ nhiệm hợp tác xã. Ông phải khuyên giải mãi, cô con dâu mới chịu đi bước nữa. Đứa cháu gái ở với ông. Thế là bao nhiêu vụ ngô làm hạt trên nương, bao mùa lúa chín dưới đồng, ông vẫn cô độc nuôi con, nay lại nuôi cháu. Nhưng đời ông không phải cuốc mướn, cày thuê nữa. Ông đã có cơm ăn, áo mặc. Ông sống trọn lòng với dân, với bản. Ai dựng nhà mới, ông cũng vác rìu đến đẽo gỗ, chặt cây. Ai đau ốm, ông lên rừng tìm giúp cái lá thuốc...

Đêm đã về khuya. Tôi tôi gấp cuốn sổ ghi chép những chuyện xảy ra trong ngày lại rồi lăn ra góc sàn cố chợp mắt lấy một lúc. Ngày mai sẽ lại là một ngày ác liệt đây. Lâm và Tuất đều đã ngủ ngon. Đứa nào đó còn tóp tép miệng như trẻ con.

Chợt có tiếng kẹt cửa nhè nhẹ, tiếng chân bước nhón khẽ trên sàn nhà. Tôi quay lại nhận ra cô Hoa. Chắc cô vừa đi tuần tra về. Hoa mới mười tám tuổi, là một cô gái xinh đẹp. Khẩu súng vẫn khoác trên vai, cô đến bên ông ngồi xuống. Hai ông cháu thì thào với nhau bằng tiếng dân tộc. Tôi không rõ cô gái nói gì, chỉ thấy ông ngước nhìn về phía mấy chiến sĩ đang nằm ngủ, rồi ông rút bớt củi trong bếp ra. ánh lửa chập chờn yếu đi. Đêm càng về khuya, chỉ còn tiếng dao vẫn miết dài trên thanh tre tạo nên những âm thanh nhòn nhọn, gai gai.

Tôi cũng không thể nào ngủ được, nhớ lại câu chuyện trung đội trưởng Phủng kể lúc chập tối về người ông nội của cô Hoa.

 

Cách đây gần một năm, vào một buổi sáng khi người dân bản Nà Sao ở gần cửa khẩu thức dậy thì đã thấy cột mốc biên giới từ giữa cánh đồng bỗng nhiên lù lù đến đứng ở ngay đầu bản. Bọn lấn chiếm lợi dụng đêm qua trời mưa đã rời cột mốc vào sâu đất ta hơn 300 mét. Dân bản nhìn nhau: "Nó định chiếm cả cánh đồng của ta à?". Người bản Kép Ké chưa kịp ăn bữa sáng nghe tin cũng vội kéo nhau lên. Một toán dân binh đêm qua làm cái nhiệm vụ mở rộng bờ cõi vẫn còn lố nhố ở đó. Thấy dân ta kéo đến, chúng khua cao lá cờ của chúng ý muốn nói đây là lãnh thổ nước chúng. Một tên côn đồ có bộ mặt hung hãn đứng cạnh cột mốc gườm gườm nhìn mọi người. Mấy người dân bản Nà Sao xông vào định đào cột mốc lên đưa về chỗ cũ, nó xô ngã và giật xẻng cuốc trên tay họ vứt đi. Giữa lúc đó thì ông già Đăm từ phía sau rẽ mọi người tiến lên. Tên giặc nhìn ông già chăm chú. Nó không hiểu một ông già nhỏ bé, đen đúa thế kia sẽ làm gì được nó. Dẫu vậy cũng phải đề phòng, nó xuống tấn. Người dân hai bản lo lắng cho ông mặc dù họ biết ông là người giỏi võ. Giữa lúc đó thì nghe "hự" một tiếng. Sau đó là tiếng rú lên.

Những người đứng phía sau xôn xao:

- Ông Đăm bị nó đánh chết rồi!

Những người đứng phía sau kêu lên. Còn những người đứng phía trước thì ồ lên khoái chí. Tên giặc bị một cú đấm bất ngờ như trời giáng vào giữa mặt. Nó bật ngã ngửa, máu mũi, máu miệng nó trào ra. Dân các bản hò reo vung cuốc xẻng lên. Những tên lấn chiếm hoảng hốt tháo chạy. Cái cột mốc biên giới được đưa về đúng vị trí cũ. Tên giặc bị đánh đang còn choáng váng cũng được khênh đặt về phía bên kia cột mốc. Dân các bản hể hả nói:

- Chỗ của nó phải giữ là ở đó!

 

Tôi nằm thao thức mãi với câu chuyện của trung đội trưởng Phủng kể lại. Đêm lành lạnh. Trăng nhô lên. ánh trăng lọt qua khe liếp rơi trên sàn nhà những giọt sáng long lanh.

Sáng sớm, sương mù còn dày đặc khắp thung lũng cách ba mét nhìn chẳng rõ người, trung đội trưởng Phủng đã tìm đến. Anh gọi tôi cùng đi ra chỗ đầu dốc lối vào bản Kép Ké kiểm tra việc bố trí phòng ngự chặn địch. Tôi để yên cho Tuất và Lâm ngủ thêm và lặng lẽ khoác súng theo anh Phủng. Chúng tôi không đi đường lớn mà men theo con đường mòn ven suối đi ra đầu bản để tránh pháo. Vừa đi. Anh Phủng vừa bảo:

- Đêm hôm qua bộ phận phục kích của bộ đội và dân quân bắt được hai tên thám báo!

- Thế đã khai thác được thông tin gì không?

- Chưa! Bọn này không biết tiếng Tày, tiếng Mông, chúng tôi lại không ai biết tiếng Tàu...

- Thế hiện nay để bọn này ở đâu?

- Đang trói để trên hang đá sau bản.

- Phải rất cẩn thận đấy! Bọn thám báo đã mò vào trinh sát tức là bộ binh của chúng sắp tấn công vào đây. Phải hết sức đề phòng, không được để bọn tù binh trốn thoát chúng dẫn quân đánh vào thì nguy to anh ạ!

- Anh yên tâm! Tôi đã căn dặn anh em rồi.

- Sau khi kiểm tra trận địa xong quay về tôi sẽ hỏi chuyện bọn tù binh này xem có khai thác được thông tin gì không!

- Anh biết tiếng của bọn chúng à?

- Cũng biết võ vẽ từ hồi còn đi học, vừa rồi lại được bồi dưỡng thêm mấy tuần ở lớp tập huấn công tác binh địch vận của trung đoàn.

- Hay lắm! Nếu mà nắm được ý định của bọn địch thì tốt quá anh ạ! Biết rõ địch thì trăm trận trăm thắng mà...

Tôi mỉm cười vì vẻ tự tin của trung đội trưởng Phủng. Anh cũng là một người lính chống Mỹ về phục viên. Anh đã có những ngày chiến đấu ở mặt trận Bình Trị Thiên. Do bị sức ép do bom, yếu sức khoẻ nên anh được ra quân ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Trở về quê sau bao năm xa nhà, lấy vợ ra ở riêng chưa kịp làm lấy một căn nhà tử tế thì chiến tranh biên giới xảy ra anh liền xung phong vào dân quân. Anh cũng không ngờ là mình lại cầm lại khẩu súng nhanh đến như thế. Từng là một người lính chiến nên anh được bổ nhiệm ngay chức vụ trung đội trưởng dân quân. Có tin xã còn đang định rút anh lên làm xã đội trưởng.

Anh Phủng dẫn tôi đến các vị trí bố trí lực lượng, nơi đặt hoả lực trên đầu con dốc. Bọn địch muốn tiến vào thung lũng Kép Ké chỉ có một con đường độc đạo duy nhất này. Ta chỉ cần một lực lượng nhỏ nhưng vẫn có thể chặn được bọn địch vì con đường độc đạo một bên là vách đá, một bên là vực sâu rất khó đi. Nhớ đến bài học bị địch tập kích khi còn ở Lũng Mật tôi bàn với anh Phủng bố trí thêm một tổ chặn địch ở vách núi bên phải đề phòng bọn lính đặc nhiệm bám vách núi leo lên. Anh Phủng đồng ý ngay. Anh lập tức cho điều lực lượng lên ngay. Bộ phận tổ ba người của cô Hoa được giao nhiệm vụ chặn địch ở khu vực vách đá dựng đứng. Nhận mệnh lệnh xong cô Hoa cố nán lại đưa cho tôi một cái gói lá dong bảo:

- Anh đi sớm quá chưa kịp ăn gì! Cơm em vừa nắm đấy anh cầm đi.

- Cám ơn em...

Chẳng kịp nghe lời cám ơn của tôi Hoa đã chạy vụt theo đồng đội. Trận địa phòng ngự đầu dốc đã sẵn sàng. Mấy chục dân quân, bộ đội và cả thanh niên xung phong nữa. Tất cả đều sẵn sàng. Mọi người đều bình tĩnh chờ trận đánh nổ ra. Trong những người ở đây phần lớn chưa trực tiếp giáp mặt với kẻ thù trừ mấy chiến sĩ ở các đơn vị thất lạc về đây. Mọi người đều có vẻ háo hức, tin tưởng chờ quân giặc tới.

Tôi và anh Phủng cùng ngồi nghỉ trên một hòn đá bằng phẳng. Tôi bẻ đôi nắm cơm của cô Hoa đưa cho anh một nửa. Hai chúng tôi tranh thủ vừa ăn vừa bàn tiếp việc phòng ngự. Do dự mãi tôi mới nói với anh Phủng về tình huống sẽ không giữ được trận địa phòng ngự, bọn địch sẽ tràn vào thung lũng Kép Ké và phương án ta phải rút chạy thế nào để đỡ tổn thất nhất. Anh Phủng tỏ vẻ rất ngạc nhiên nhìn tôi. Anh ngừng ăn cau mày. Có lẽ trong đầu anh đang nghĩ tôi là một kẻ hèn nhát, chưa đánh mà đã bàn lui. Lặng đi một lát, anh mới nói:

- Vậy theo anh liệu mình có thể giữ được bao lâu?

- Theo cách đánh và tình thế của ta của địch bây giờ với lực lượng của ta thế này thì sẽ không giữ được lâu lắm đâu!

- Vậy theo anh thì...

- Mình phải có một phương án rút lui lên núi. Hiện nay cũng không hiểu tình hình toàn bộ mặt trận thế nào, địch đã tiến đến đâu rồi, quân ta liệu có tổ chức phản công hay vẫn đang rút lui... Tất cả thông tin đều mù mịt. Do đó chúng ta vừa đánh vừa phải có phương án bảo vệ lực lượng, tránh hy sinh quá nhiều...

Anh Phủng im lặng suy nghĩ. Nét mặt anh đăm chiêu. Hồi lâu anh nhìn thẳng vào mặt tôi gật đầu tỏ vẻ đồng ý. Chắc anh đã hiểu vì sao tôi bàn với anh như vậy. Bọn địch chưa tiến quân vào thung lũng Kép Ké nhưng chúng đã chiếm hết các khu vực xung quanh. Kép Ké chỉ là một ốc đảo giữa chập trùng vòng vây và bốn bề lửa đạn của quân thù. Là một người lính chiến, anh hiểu tại sao những đơn vị tương đối tinh nhuệ của bộ như đơn vị chúng tôi mà cũng không giữ nổi trận địa phòng ngự phải rút lui sang Nguyên Bình rồi bị đánh bật lại giạt về đây. Vậy thì với một nhúm dân quân, hơn chục chiến sĩ đã quá mỏi mệt cùng mấy khẩu súng bộ binh đã gần hết đạn liệu có thể bảo vệ Kép Ké được mấy hôm. Hơn nữa mấy ngày nay không còn liên lạc được với xã đội trưởng, không nhận được tiếp tế đạn dược, lương thực của trên nữa.

Anh Phủng lặng lẽ nắm chặt bàn tay tôi. Hồi lâu anh mới hỏi giọng run run:

- Liệu rồi chúng ta có bảo vệ được đất nước mình không anh?

Tôi xiết chặt tay anh gật đầu:

- Nhất định chúng ta sẽ giành lại từng tấc đất bị mất. Lịch sử ngàn năm chưa bao giờ cha ông chúng ta thua chúng nó cả anh ạ!

Anh Phủng nhìn tôi. Ánh mắt của anh có đôi chút xao động. Tôi hiểu anh rất lo lắng cho bà con dân bản Kép Ké và rất nhiều bà con các nơi đã chạy rạt về đây hiện đang ẩn náu trên núi. Tôi muốn động viên anh một câu nhưng chợt hiểu là chính trong tôi cũng đang phấp phỏng một nỗi lo cho mình và những người đồng đội còn sống sót qua bao lần chạm địch chạy được về đây và lo cho cả những người dân quân tuổi đời còn rất trẻ đang chuẩn bị đối mặt với kẻ thù trong một trận đánh không cân sức...

 

 

Sương mù đã tan hẳn. Thung lũng Kép Ké sáng dần. Tiếng pháo địch vẫn ầm ầm đâu đó không dứt. Phía cuối con đường trước mặt có tiếng xe tăng và tiếng súng bộ binh rộ lên. Những người lính và những người dân quân đứng cạnh nhau bình tĩnh chờ giặc tới.

Suốt một ngày bọn địch chỉ tấn công thăm dò vào thung lũng Kép Ké. Chắc chúng chưa rõ lực lượng của ta ở đây thế nào. Tốp biệt kích thám báo tung vào hôm trước bị dân quân phát hiện bắn chết một tên, bắt sống hai tên nên có lẽ bọn chúng chưa có đầy đủ thông tin về lực lượng và các vị trí phòng ngự của ta ở Kép Ké. Chúng đâu có biết chỉ có một trung đội dân quân và hơn chục chiến sĩ đang chặn đánh chúng trên đầu dốc núi, nơi con đường nhỏ chạy vào thung lũng.

Anh Phủng quả là một người chỉ huy thông minh, dũng cảm. Anh bình tĩnh chỉ huy dân quân bộ đội đánh trả các đợt tấn công của bọn địch. Đoán được ý định tấn công thăm dò của bọn chúng nên anh tìm cách sử dụng hoả lực và lực lượng một cách khéo léo để đánh lừa bọn địch. Với một khẩu 12ly7, hai khẩu cối 60 và cơ số đạn ít ỏi nhưng trung đội dân quân vẫn tạo được sự khống chế mạnh mẽ, áp đảo bọn địch làm như lực lượng của ta rất mạnh. Gần tối, khi bọn địch đã ngừng tấn công và pháo kích thưa thớt vào thung lũng, đại đội trưởng Tuấn mới ra chỗ đầu dốc để quan sát trận địa. Anh kéo tôi ra một khe đá khuất và nói:

- Đã xác định được khu vực đóng quân của tiểu đoàn, chúng ta phải nhanh chóng rời khỏi Kép Ké, tìm cách vượt vòng vây về với đội hình của đơn vị.

Tôi bảo anh:

- Chắc chắn Kép Ké cũng không thể giữ được lâu. Khi đồng bào và dân quân rút hết sang bên kia núi thì chúng ta hẵng lên đường đi tìm đơn vị...

- Nhưng... - Đại đội trưởng Tuấn cau mày: - Nhưng... liệu đến lúc đó ta còn có thể chạy thoát ra được khỏi thung lũng này nữa không mà đi tìm đơn vị?

- Nhưng ta cũng không thể bỏ đi lúc này vì anh chị em dân quân Kép Ké đang rất cần sự có mặt cùng chiến đấu của chúng ta!

- Biết không giữ được thì còn ở lại làm gì, còn cố giữ làm gì, chỉ thêm tổn thất lực lượng?

- Nhưng hiện nay nhân dân, bộ đội, thanh niên xung phong và thương binh chưa rút hết đi được. Các hướng đều vướng phải vòng vây của địch nên cứ phải loanh quanh tìm đường. Mình cố giữ vững trận địa vài hôm, càng lâu càng tốt anh ạ!

- Đây không phải là nhiệm vụ của ta...

Anh Tuấn đang định nói tiếp thì trung đội trưởng Phủng lách người qua khe đá đi đến chỗ chúng tôi. Anh muốn bàn với chúng tôi về kế hoạch ngày mai. Đại đội trưởng Tuấn bảo tôi trao đổi với trung đội trưởng Phủng rồi cùng chiến sĩ liên lạc đi về phía hang núi sau bản Kép Ké. Một cơn gió lạnh từ dưới chân dốc thổi thốc ngược lên xộc vào mũi chúng tôi cái mùi khen khét của thuốc súng. Tôi khẽ rùng mình vì lạnh. Anh Phủng kéo tôi ngồi xuống khuất sau gộp đá to tránh gió. Anh mở cái túi đeo bên mình lôi ra một tấm bản đồ địa hình khu vực. Ánh đèn pin che bằng chiếc khăn tay chỉ đủ soi sáng một góc tấm bản đồ. Chúng tôi cùng nhau trao đổi về một phương án xấu nhất cho ngày hôm sau.

Anh Phủng kéo tôi cùng đi kiểm tra các vị trí của bộ đội và dân quân. Gặp thằng Lâm đang ôm súng ngồi co ro trong một hốc đá, tôi hỏi:

- Số anh em chiến sĩ tiểu đoàn mình thế nào rồi?

- Tất cả anh em trung đội thông tin và trung đội vận tải của tiểu đoàn đều ở cả đây. Mấy người thuộc đại đội 1 thì đại đội trưởng Tuấn gọi về bản Kép Ké hết rồi!

- Mấy thằng ấy đều ốm yếu hoặc bị thương để chúng nó về phía sau cho yên tâm. Nhớ là dặn anh em khi tình huống chiến đấu xảy ra nhất nhất phải chấp hành mệnh lệnh và sự chỉ huy chung của trung đội trưởng Phủng nhé!

- Rõ rồi ạ!

- Bảo thằng Tuất lấy khăn quấn cái cổ cho ấm. Nó ho khù khụ mấy ngày rồi đấy. Gió lạnh thế này đừng chủ quan.

- Vâng! Nó vừa về bản lấy cơm cho anh em.

Anh Phủng bảo:

- Ngày mai anh trực tiếp chỉ huy anh em bộ đội ở phía bên phải đường, tôi cùng anh em dân quân ở hướng chính diện. Nhớ là chi viện cho nhau thật tốt nhé!

- Để anh em bộ đội chúng tôi tham gia ở hướng chính diện anh ạ!

- Không được! Các anh ở bên phải sát vách núi tránh được hoả lực địch khi cơ động. Chúng tôi thông thạo địa hình, ở hướng chính diện khi có tình huống phải rút về phía sau thì thuộc địa hình cơ động hơn. Chúng ta sẽ gặp nhau ở hẻm núi phía sau bản Kép Ké như phương án đã bàn.

Anh Phủng và tôi đến vị trí chốt chặn chỗ vách đá của bộ phận do cô Hoa đảm nhiệm. Anh Phủng gọi cô Hoa cùng tôi ra phía sau một gộp đá nói:

- Con bé này đang học trường cao đẳng sư phạm ở Thái Nguyên. Ngày nghỉ nó về thăm ông. Chiến tranh nổ ra, nó không thể về trường được nên tham gia dân quân chiến đấu bảo vệ bản. Ngày mai khi bộ phận của anh Hà rút đi nhờ các anh cho nó đi theo. Chỉ cần nó sang đến Nguyên Bình thì sẽ có đường để về Thái Nguyên tiếp tục học tập.

Cô Hoa vội chối đây đẩy:

- Em không về trường đâu! Cho em ở lại chiến đấu với trung đội dân quân của bản!

Anh Phủng gạt đi:

- Không phải việc của mày! Mày phải về trường ngay hiểu không!

- Em không đi đâu...

- Phải đi! - Anh Phủng nói: - Ngày mai bàn giao súng lại cho cái Liên rõ chưa?

- Nhưng còn ông em...

- Ông khắc có dân quân và bà con dân bản lo. Mày là phải về trường ngay.

Cô Hoa lắc đầu vẻ không đồng ý nhưng anh Phủng tỏ vẻ dứt khoát:

- Nhiệm vụ của mày là phải về trường tiếp tục học tập cho thật tốt! Sáng mai bàn giao súng lại cho cái Liên về bản chuẩn bị rồi rút theo bộ đội sang Nguyên Bình tìm đường về trường!

Nói xong anh Phủng kéo tôi đi tiếp lên kiểm tra vị trí đặt khẩu cối 60. Vừa đi anh vừa nói về hoàn cảnh của hai ông cháu cô Hoa. Anh lo lắng cho bé Hoa - đứa con duy nhất còn lại của một người lính chiến đã mất.

 

Đúng như chúng tôi đã dự đoán. Hôm sau bọn địch tấn công ác liệt hơn. Hoả lực địch dội xuống trận địa phòng ngự của bộ đội và dân quân. Tuy nhiên đến cuối chiều chúng mới phá vỡ được tuyến phòng ngự mỏng manh của bộ đội và dân quân. Cũng không còn biết rõ ai còn ai mất nữa. Phương tiện thông tin không có chỉ nghe tiếng súng ở các hướng mà đoán tình hình địch ta.

Khi ở hướng chính diện của trung đội trưởng Phủng tiếng súng lịm dần thì tôi hiểu đã đến tình huống phải bỏ vị trí chiến đấu rút lui. Tôi cố gào to gọi thằng Lâm và mấy chiến sĩ vận tải. Không thấy ai đáp lại. Thằng Tuất và một anh dân quân bò đến bảo:

- Rút thôi anh ơi!

- Anh Phủng và trung đội dân quân thế nào?

- Anh ấy lệnh cho chúng em rút lui và cử em sang gọi các anh rút còn anh ấy vẫn ở trên trận địa.

Tôi chợt nhớ:

- Thế bộ phận của cô Hoa đã rút chưa?

- Cũng không rõ anh ạ!

Tôi cố nhìn về phía anh Phủng ở trên mỏm đồi chính diện chắn ngang con đường dẫn vào thung lũng. Khói lửa mù mịt. Tiếng kèn sừng dê, tiếng hô hét "tả... tả... tả..." của bọn địch ầm ĩ. Hình như không còn nghe thấy tiếng súng kháng cự của quân ta nữa. Thế là hết! - Tôi nghĩ. Không còn thời gian nữa, tôi vội theo Tuất và anh dân quân lẩn nhanh vào khe đá chạy xuôi về phía bản Kép Ké.

Ba chúng tôi chạy về bản Kép Ké. Tôi và Tuất phóng ngay về nhà cô Hoa. Có mấy anh em thương binh đang ở đó để ông nội cô Hoa chữa trị vết thương bằng lá thuốc. Ông già Đăm đang ngồi cẩn thận nhặt từng cái lá thuốc vừa hái trên núi về. Mấy ngày nay nhờ những thứ thuốc lá cây của ông nên anh em thương binh nhiều người thấy đỡ đau, vết thương nhanh lành hơn. Khi tôi đang giục ông già Đăm và anh em thương binh thu dọn để cơ động lên núi thì cô Hoa rồi cả thằng Lâm từ phía trận địa vừa thất thủ chạy về. Quần áo đầu tóc cô Hoa tả tơi. Mặt cô gái hơi tái đi, giọng hổn hển:

- Ông ơi, các anh bộ đội ơi! Bọn giặc đã... đến đầu bản rồi!

Ông già đứng phắt dậy, trợn mắt:

- Thật không Hoa?

- Thật mà! Chúng nó đông lắm, thằng Phù thợ chữa đồng hồ ở thị trấn dẫn đường. Cháu nhìn rõ mặt nó lắm!

- A... a... a... - Ông kêu lên.

Thấy ông có vẻ cuống, tôi chụp khẩu AK lên đạn. Nhưng ông nói như quát:

- Ra ngườm đá sau nhà mau lên!

Ông giục Hoa dìu thương binh đi ngay. Anh em thương binh đã ngồi hết cả dậy. Theo phản xạ của người lính, ai cũng hiểu tình hình rất gấp. Phía đầu bản có tiếng lựu đạn nổ, rồi tiếng súng ran lên, đạn chiu chíu bay vào trong bản...

Ông già vừa cõng vừa dìu hai đồng chí thương binh nặng nhất. Một đồng chí thương binh băng kín mắt được Tuất dắt chạy theo. Tôi mở băng đạn kiểm tra lại rồi mở khoá nòng lên đạn. Hoa cũng tháo súng ra khỏi vai. Cô vừa chạy theo tôi vừa nói:

- Bọn địch bám được vào vách đá đánh lên. Bộ phận chốt chặn chỗ vách núi chỉ có mình em chạy thoát được về đây...

Tiếng đạn cối oành oành dội vào vách núi. Địch đang bắn vào bản. Cũng may, ông già và anh em thương binh đã chạy tới gần chân núi um tùm những dây leo.

Tôi và Hoa đang len lỏi qua những mỏm đá thì thấy ông đi ngược lại. Ông già Đăm vội vã nói với cháu gái một câu gì đó bằng tiếng dân tộc. Hình như hai ông cháu đang giành nhau làm một việc gì đó. Rồi cô gái quả quyết xách súng quay lại. Tôi cũng vội quay phắt lại định chạy theo thì bàn tay cứng như kìm của ông lão đã chụp lấy vai tôi:

- Bộ đội! Mày định đi đâu?

- Cháu quay lại với cô Hoa chặn bọn chúng!

- Không được! Lên hang đi...

Ông vừa nói, vừa dứt khoát kéo tôi lên hang đá.

Hang thực ra là một hốc đá khuất sau những đám dây leo um tùm. Ông kê mấy mảnh ván và lót rơm rạ nằm. Góc hang để ít đồ đạc và một bồ lúa nhỏ. Tôi vừa lên tới cửa hang thì thằng Tuất chạy ra vẻ thảng thốt:

- Cô Hoa nguy mất! Cô ấy chạy ra cánh đồng để đánh lạc hướng bọn địch đấy, thằng Nông nghe thấy hai ông cháu nói với nhau như vậy.

Thằng Nông là người Tày nên tôi tin ngay. Tôi quay ra ngoài cửa hang. Ông già đang đứng sau một hòn đá to nhìn xuống bản. Bọn địch đã vào đến giữa bản, thằng nào thằng ấy súng lăm lăm trên tay. Nhưng, chúng không vấp phải sự đánh trả nào khác ngoài một quả lựu đạn gài làm ba thằng toi mạng và một tên bị thương đang kêu la ầm rĩ. Một thằng mặc quần áo trắng mốc có vẻ là chỉ huy. Đứng cạnh nó là một tên thấp bé. Tên này đang chỉ tay về phía chân núi, nơi chúng tôi đang ẩn nấp. Ông già Đăm nghiến răng: "Thằng Phù!".

 

Cách đây hơn chục năm, có đôi vợ chồng người Hoa ăn mặc rách rưới chạy qua biên giới. Họ nói phải trốn sang Việt Nam nương nhờ để tránh cuộc cách mạng văn hoá. Dân thị trấn đã giúp họ làm một căn nhà nhỏ. Người chồng là thợ sửa chữa đồng hồ. Anh ta tên là Phù. Rồi sau nhiều năm làm ăn, buôn bán, đôi vợ chồng ấy xây dựng một ngôi nhà to hơn cả cửa hàng bách hóa thị trấn. Năm ngoái, họ kéo nhau chạy về nước...

Bây giờ, thằng Phù dẫn quân trở lại chém giết những người đã từng che chở, đùm bọc gia đình nó. Nó biết lối vượt qua núi nên đưa đường quân định vượt qua vách đá định tập kích vào phía sau trận địa của ta. Bị bộ phận của cô Hoa phát hiện đánh trả quyết liệt, nhiều tên bỏ mạng nên chúng thêm điên cuồng. Theo hướng tay tên chỉ điểm, bọn giặc bắt đầu tràn vào các ngôi nhà sát chân núi. Tiếng đập phá loảng xoảng, tiếng tre nứa từ những ngôi nhà bị đốt cháy nổ lốp bốp.

Tôi lo lắng cho tính mạng của các thương binh và nhiều bà con dân bản đang ẩn nấp trên sườn núi phía sau bản. Chúng tôi gom tất cả số lựu đạn của anh em thương binh lại. Nếu cần, chúng tôi sẽ quyết tử.

Ông già Đăm vẫn đứng cạnh tôi. Mắt ông chăm chú nhìn ra phía cánh đồng trước bản. Từ phía ấy, tiếng súng AK bỗng vang lên từng loạt. Bọn giặc trong bản nhốn nháo. Rồi, theo lệnh của chỉ huy, chúng hò hét gọi nhau ùa hết cả ra phía cánh đồng. Bụng tôi như lửa đốt. Bọn chúng đông như vậy nên ai cũng rất lo lắng cho cô Hoa. Nhìn thấy những tên giặc chới với ngã gục ngay bãi cỏ trước bản, tôi đoán cô gái đã ra tới bờ suối.

Nhìn tên chỉ huy mặc áo trắng đang đứng trên mỏm đá quay lưng về phía chúng tôi đang hò hét xua bọn lính ào ra phía cánh đồng, bất giác tôi nâng khẩu súng kê lên tảng đá trước mặt. Ông già Đăm chộp lấy tay tôi gằn giọng:

- Không được bắn!

Tiếng súng chìm dần trong sương loãng cuối chiều. Ông già vẫn đứng lặng yên. Nghe hướng súng nổ, tôi bỗng giật mình. Cô gái đang dẫn địch về phía bãi mìn. Tôi thấy tim mình thắt lại. Thời gian vẫn chậm chạp trôi đi. Có tiếng nổ lục bục ở cuối cánh đồng.

Trời tối dần. Tôi dặn Tuất ở lại với anh em thương binh rồi xách súng nhảy qua lèn đá lần xuống bản. Tôi vượt qua bãi trống lổm ngổm những mô đá như những hình người đang đứng sát nhau trong đội ngũ. Đi làm gì tôi cũng chưa rõ. Tôi cứ đi như người vô thức. Hình ảnh ông già và cô cháu gái rồi cả hình ảnh những tên giặc hung hãn cứ hiện lên trong đầu tôi.

Tới gần ngôi nhà chân núi, trong chớp lửa loàng nhoàng của một quả pháo bắn vào vách đá, tôi thoáng thấy một bóng người con gái nhỏ bé đang lảo đảo tiến lại.

- Hoa! - Tôi kêu lên.

Cô gái một vai khoác súng, một cánh tay bị thương thõng xuống được buộc tạm bằng một chiếc khăn. Tôi vội khoác súng qua vai đỡ cô. Nhận ra tôi, Hoa khẽ kêu lên:

- Chúng nó vướng mìn chết nhiều lắm anh ạ!

- Thế hả! Để anh băng vết thương cho!

- Ông và các anh thương binh hiện sao rồi anh?

- Đang ở trên hang, an toàn cả...

Bất giác, tôi và Hoa đều cùng quay người lại. Ông già đang đứng trên một mỏm đá phía ở sau chúng tôi. Hình như ông đang mỉm cười. Bóng ông sừng sững như tạc vào vách núi đá dựng thành luỹ trùng trùng nơi biên ải...

Chúng tôi rút lên sườn núi đá. Bộ đội và dân quân phân tán lẩn khuất trong các hang hốc, khe đá để tìm cách rút đi. Số chiến sĩ đại đội 1 do đại đội trưởng Tuấn chỉ huy đã vượt được qua dốc yên ngựa sang bên kia dãy núi an toàn từ chiều hôm trước khi bọn địch đang tấn công vào trận địa của dân quân đầu thung lũng Kép Ké. Sau khi chiếm được thung lũng bọn địch dùng bộ binh và hoả lực mạnh khống chế bịt chặt con đường duy nhất thoát ra khỏi thung lũng nên bộ phận do tôi chỉ huy và số anh em dân quân không vượt được qua dốc yên ngựa để rút đi. Chúng tôi đành cố thủ để chờ đêm đến. Nhưng cũng may là phần lớn bà con dân bản và thương binh đã thoát ra khỏi Kép Ké. Số anh em bộ đội và dân quân co cụm trên sườn núi cố gắng không để bọn địch phát hiện truy đuổi. Nhờ sườn núi có nhiều hang hốc nên chúng tôi dễ ẩn náu.

Mãi đến cuối buổi chiều tôi mới gặp được anh Chấn và mấy dân quân ở trận địa phòng ngự chính diện rút lên núi. Nghe anh Chấn kể lại tôi mới biết cụ thể về sự hy sinh của trung đội trưởng Phủng. Cái chết của anh Phủng khiến tôi thấy lạnh buốt trong lòng.

 

Bắn đến viên đạn cuối cùng anh Phủng sa vào tay giặc. Anh không thể rút lui như chúng tôi vì đã quá muộn. Bọn địch đã tràn lên trận địa một bên đùi anh lại bị gãy nát do trúng mảnh đạn pháo. Hai tên lính địch xô vào giằng khẩu súng hết đạn của anh ném đi. Chúng túm lấy chân anh lôi tuồn tuột lên khỏi công sự kéo xuống mặt đường. Thân hình anh tả tơi rách nát. Máu từ vết thương trên đùi anh thành vệt trên sườn đồi đất đá bị băm nhừ vì đạn giặc cày sới. Xuống tới mặt đường bọn chúng để anh ngồi dựa vào thành ta-luy chờ thằng chỉ huy đến. Mấy tên giặc xúm xít xung quanh anh. Chúng thi nhau đá mạnh vào vết thương đang rỉ máu của anh. Máu trong người anh đã chảy ra gần hết. Anh Phủng nghiến răng chịu đau. Đôi mắt anh căm hờn nhìn bọn cướp nước. Có lẽ anh đang ao ước giá mà mình còn một quả lựu đạn khi bọn chúng xông đến.

Bọn giặc đã làm chủ trận địa của ta lối vào thung lũng Kép Ké. Chúng lùng sục từng ngách chiến hào, các khe kẽ đá xung quanh để tìm những bộ đội và dân quân của ta bị thương không kịp rút đi. Thêm một nữ dân quân bị chúng bắt sống lôi đến. Thằng chỉ huy thấp lùn mặc cái áo trắng mốc từ phía chân dốc đi lên. Nó đưa mắt nhìn anh Phủng và người nữ dân quân. Một khẩu lệnh ngắn "lảo xảo" từ cái mồm ám khói thuốc lá của nó phát ra. Mấy tên giặc liền lôi cô dân quân ra giữa đường. Mặc cô giãy giụa kêu khóc, chúng lột hết quần áo của cô rồi thay nhau hãm hiếp. Anh Phủng hét lên căm phẫn:

- Quân lang sói, đồ mặt người dạ thú...

Tên chỉ huy nhếch mép cười. Chắc chắn không biết tiếng Việt nhưng nó hiểu là anh đang chửi nó. Nó rút con dao găm đang đeo bên hông ra tiến lại phía anh. Một tên lính giặc hiểu ngay ý định của chỉ huy. Hoặc việc này nó đã quen làm từ khi tấn công vào đất ta. Nó lao vào giật tung mấy chiếc cúc áo còn sót lại của anh Phủng. Thằng giặc cúi người xuống sát mặt anh Phủng. Hơi thối từ mồm nó phả ra khiến anh ngộp thở phải cố nghiêng mặt đi. Rất từ từ nó thọc sâu mũi dao găm vào giữa bụng anh Phủng rồi ấn mạnh xuống. Lưỡi dao sắc lẹm của thằng chỉ huy rạch một đường mổ phanh bụng người trung đội trưởng dân quân. Anh Phủng vẫn không kêu rên. Anh nghiến răng cố hét lên:

- Lũ cướp nước dã man, rồi chúng mày sẽ... Anh không nói thêm được nữa. Hai tên giặc đã kéo rộng vết rạch trên bụng anh lôi ruột ra rải trên mặt đường. Cô gái dân quân cũng bị bọn địch mổ bụng sau khi chúng thay nhau hãm hiếp. Chúng moi ruột gan của hai người dân quân ném ra mặt đường. Máu của họ nhuộm đỏ mảnh đất quê hương thân yêu mà họ đã quên thân mình chiến đấu bảo vệ...

Từ chỗ ẩn nấp anh Chấn đã chứng kiến toàn bộ cảnh anh Phủng và người nữ dân quân hy sinh.

Nghe xong câu chuyện, tôi tôi lặng người đi trước cái chết bi hùng của những người dân quân vệ quốc. Mãi sau tôi mới nói được một câu, giọng đứt quãng:

- Chúng ta... phải... phải tìm cách nào để lấy bằng được thi hài hai người về mai táng anh ạ!

- Rất khó anh ạ! Nhưng tối nay chúng tôi sẽ tìm cách tiếp cận nơi chúng nó giết hai người xem có đưa được họ ra không.

- Để mấy anh em bộ đội chúng tôi đi cùng hỗ trợ!

- Không nên! Các anh không quen thuộc địa hình, có tình huống xảy ra không biết lối nào mà rút chạy. Nếu thoát ra được thì tối nay các anh vượt dốc yên ngựa rút ngay đi. Ngày mai bọn địch sẽ lùng sục đánh phá rất gắt gao để tiêu diệt lực lượng của ta còn đang lẩn trốn ẩn náu ở xung quanh bản Kép Ké đấy.

Nghe anh Chấn nói tôi cũng đành gật đầu đồng ý. Đến gần sáng hôm sau khi nghe anh Chấn thông báo anh em dân quân và bà con dân bản đã đưa được hai thi thể đem về giấu trong một ngách hang sâu trên sườn núi tôi cảm thấy trong lòng mình như có sự an ủi phần nào. Tôi đã hiểu chiến tranh với sự ác liệt, khủng khiếp của nó. Nhưng mỗi lần chứng kiến hoặc nghe kể về những điều xảy ra trong chiến tranh tôi lại thấy thấp thỏm trong lòng. Bất giác tôi nhớ đến em Mai. Tôi ngẩng mặt nhìn lên bầu trời. Có một khoảng mây tan ra để lộ những ngôi sao đang nhấp nháy. Một ngôi sao rất sáng hiếm hoi trên bầu trời đầy mây đen và khói đạn như mắt em Mai đang tinh nghịch nhìn tôi.

 

Tôi dựa khẩu súng vào mô đá đứng thẳng người dậy che mắt nhìn về phía phương trời xa. Trong ánh lửa của những luồng đạn pháo quân thù đan trên bầu trời soi rõ một vùng núi tiếp núi chập trùng. Cuộc hành quân của chúng tôi chắc chắn sẽ còn rất nhiều gian khổ, chết chóc. Phía hướng dốc yên ngựa có nhiều tiếng súng rộ lên. Chắc là có bộ phận nào đó vượt vây chạm địch.

Bộ phận của chúng tôi chưa thể vượt ra khỏi thung lũng Kép Ké. Trung đội dân quân cũng vậy. Một số anh chị em dân quân được lệnh giấu súng để tìm cách đưa vợ con gia đình vượt ra ngoài vòng vây chạy về phía dưới xuôi tránh sự giết chóc của kẻ thù.

Ngày hôm sau khi đã tiến vào được thung lũng Kép Ké bọn địch bắt đầu đốt phá làng bản. Chúng nổ mìn triệt hạ các công trình dân sinh của ta. Chúng ép thuốc nổ đánh gãy từng cây cột điện, phá hủy từng cái guồng kéo nước ngoài bờ suối. Chúng tôi vẫn khéo léo di chuyển trên sườn núi đá phía sau bản Kép Ké để tránh chạm địch.

Giữa trưa, lợi dụng khi bọn địch co cụm ở đầu bản ăn uống, anh Chấn và một dân quân tìm đến gặp chúng tôi trao đổi công việc. Anh hỏi:

- Hai thằng tù binh thì giải quyết thế nào anh nhỉ! Không thể đưa chúng đi theo đội hình của ta vượt vây tối nay được.

Tôi đắn đo rồi nói:

- Hay là thả chúng ra?

- Không được! - Anh dân quân đi cùng anh Chấn phản đối: - Thả ra chúng nó sẽ dẫn bọn địch truy đuổi theo chúng ta ngay.

- Trói lại rồi bỏ chúng nó ở lại có được không?

- Cũng không ổn! Địch sẽ tìm thấy chúng. Bọn chúng cũng sẽ dẫn quân giặc lần theo dấu của ta ngay.

- Vậy thì...

- Đập chết luôn chúng nó đi là ổn nhất...

- Không được! Giết tù binh là vi phạm công ước quốc tế về tù, hàng binh đấy!

Thằng Lâm vốn là một sinh viên trường luật vội lên tiếng. Anh Chấn có vẻ hơi cáu, anh nói giọng gay gắt:

- Vi phạm cái mẹ gì! Bọn chúng nó tấn công sang xâm lược nước ta, bắn giết dân ta là còn vi phạm cả hiến chương Liên hợp quốc rồi đấy. Công ước, công iếc là cái quái gì... Mà chúng nó cũng đã giết hại một cách rất dã man anh em của ta mà chúng bắt được rồi đấy!

Ngừng một lát nhìn chúng tôi rồi anh nói vẻ cương quyết:

- Giết hết chúng nó đi để trả thù cho anh Phủng và các anh em bộ đội, dân quân. Đừng bắn tốn đạn. Đập cho mỗi thằng mấy báng súng là xong...

Giữa lúc chúng tôi còn đang tranh luận thì địch bắn pháo dữ dội lên sườn núi đá. Hoả lực từ xe tăng và pháo lựu bắn thẳng của chúng nhằm vào những chỗ nào chúng nghi ngờ là có quân ta đang ẩn náu. Khói lửa mù mịt. Mảnh đá vỡ văng tung toé. Chúng tôi vội phân tán vào sau những gộp đá to và các hang hốc tránh hoả lực của địch.

Sau đợt pháo kích của bọn địch thì có một dân quân đến báo cho chúng tôi biết một quả pháo bắn thẳng trúng vào hốc đá chỗ giấu hai tên tù binh. Hai tên giặc đều đã chết cả rồi.

 

Cuối buổi chiều vừa nhai một miếng cơm nắm xong thì bụng tôi bỗng đau dữ dội. Sau đó tôi bị Tào Tháo đuổi đi lỏng ra toàn nước. Chắc chắn là do ăn cơm thiu, uống nước đọng ở những hốc đá lâu ngày. Tôi đi ngoài liên tục không ngừng lại được. Người tôi mệt bã ra vì đau và mất nước. May mà bọn địch đã ngừng bắn nên tôi không phải di chuyển nhiều để tránh đạn nên đỡ mệt. Tôi nằm rũ người trong một khe đá. Mệt đến nỗi tay không nhấc lên nổi. Không có lấy một viên thuốc. Cứ thế này thì nguy hiểm quá. Đêm đến bộ đội và dân quân sẽ leo qua vách đá gần như dựng đứng sang phía bên kia dãy núi. Con đường qua dốc yên ngựa không thể đi được nữa vì quân giặc bố trí lực lượng dày đặc trên đó ngăn chặn. Bọn chúng định khoá chặt con đường duy nhất này như đậy cái hom giỏ để tiêu diệt sạch quân ta còn ở trong thung lũng. Với sức khoẻ suy kiệt thế này chắc là tôi không thể nào đi theo đội hình được. Lâm và Tuất đang rất lo lắng thì anh Chấn và mấy người cả dân quân và một người đàn ông vẻ gầy gò là dân trong bản đến. Sau khi hỏi han tình hình của tôi, người đàn ông gầy gò nói:

- Chú phải uống một liều thuốc phiện thôi!

- Không được! Lỡ anh ấy bị sốc hay bị nghiện thuốc phiện thì làm thế nào?

Thằng Lâm phản đối. Nó lo lắng cho tôi. Anh Chấn cũng đắn đo:

- Có lẽ không việc gì đâu!

Tôi vừa nghe họ bàn đến đấy đã phải ngồi dậy ôm bụng lần ra phía sau gộp đá. Cơn đau vẫn chưa dứt. Người tôi hình như đã bị rút kiệt hết nước rồi. Mệt quá, tôi phải bám vào vách đá mới đứng vững. Quay về đến chỗ mọi người đang ngồi, tôi quyết định luôn:

- Đưa thuốc phiện cho tôi!

Thằng Lâm càng lo lắng. Nó cứ năn nỉ can ngăn tôi không nên uống thuốc phiện. Tôi nói với nó cũng là tự trấn an mình:

- Điều quan trọng nhất bây giờ là khỏi bệnh thật nhanh để còn đi theo anh em. Sống, thoát được ra khỏi vòng vây của giặc rồi mọi chuyện tính sau!

Người đàn ông gầy gò - vừa trông đã biết ngay là một con nghiện nặng - thò tay vào túi lôi ra một gói nhỏ. Ông ta mở gói lấy ra một cục nhựa đen đen véo một mẩu nhỏ vê vê một lát rồi đưa cho anh Chấn. Anh Chấn xiên mẩu thuốc phiện vào một cái que rồi bật lửa đốt. Mẩu thuốc phiện nhỏ bằng hạt đậu xanh bắt đầu cháy, toả khói xanh có mùi thơm rất lạ. Khi mẩu thuốc phiện đã phồng nở to bằng hạt ngô anh Chấn thả nó vào bát nước còn nóng rót từ trong bi-đông ra. Anh dùng que khoắng cho mẩu thuốc phiện tan hết rồi đưa cho tôi. Tôi run run bưng bát nước thuốc phiện đưa lên miệng ngửa cổ uống hết. Quả là một bài thuốc rất công hiệu. Tôi ngừng hẳn việc tiêu chảy. Bụng tôi sôi lên nhưng dần dần giảm đau.

Không biết bằng cách nào mà chập tối anh Chấn gửi đến cho tôi một bi-đông cháo còn nóng ấm. Ăn được chút cháo nóng tôi thấy mình như khoẻ lại. Đến nửa đêm tuy còn rất mệt nhưng tôi vẫn có thể đeo khẩu súng đi theo đội hình hành quân. Lâm và Tuất vất vả thay nhau dìu tôi chậm chạp ngược lên dốc núi cheo leo dựng đứng.

Sau này khi hành quân qua những triền núi đá khô cằn gặp những dải đất trồng cây anh túc đang trổ hoa lung linh huyền ảo tôi lại nhớ đến bát nước thuốc phiện mà mình đã uống hôm ở Kép Ké giữa vòng vây của quân thù.

 

Nhờ có ông già Đăm mà chúng tôi vượt qua được dốc Yên Ngựa để rút lui khỏi thung lũng Kép Ké một cách an toàn. Ông già biểt có một khe đá vòng tránh điểm chốt của bọn địch trên đỉnh dốc để đưa bộ đội và dân quân rút đi.

Lại một cuộc rút chạy. Chúng tôi đã rút chạy khỏi thị trấn Sóc Giang, khỏi Lũng Mật và bây giờ là rút chạy khỏi thung lũng Kép Ké. Thoát khỏi vòng vây của quân thù, mấy anh em bộ đội chúng tôi chia tay với tốp dân quân bản Kép Ké. Anh Chấn nắm chặt tay tôi dặn:

- Các anh hết sức cẩn thận nhé!

- Vâng! Các anh chị cũng phải cẩn thận nhé!

- Hẹn gặp lại

- Hẹn gặp lại...

Bộ đội và dân quân tạm biệt nhau. Trước khi tiếp tục con đường hành quân tìm về đơn vị cũ, chúng tôi san xẻ cho anh em dân quân hai quả lựu đạn và ba băng đạn. Anh Chấn và cô Hoa chia cho chúng tôi ít ngô hạt và đậu tương rang chín làm lương khô. Tôi dặn cô Hoa hết chiến tranh là nhớ phải về trường tiếp tục học ngay. Cô bé gật đầu. Cô Hoa và anh Chấn tiễn chúng tôi một đoạn rồi quay lại. Anh em dân quân sẽ lẩn khuất trên núi đá. Họ thông thạo địa hình hang hốc ở đây nên dễ lẩn tránh bọn địch...

 

Chúng tôi gặp bộ phận của đại đội trưởng Tuấn ở một hẻm núi. Cũng chẳng biết đây là đâu nữa. Tình hình cũng chưa rõ thế nào. Chúng tôi vẫn chưa bắt liên lạc được với chỉ huy tiểu đoàn. Một số chiến sĩ được cử đi tìm đường là mất hút luôn, không thấy ai quay lại. Có thể họ bị bọn địch phát hiện bắn chết. Cũng có người khi đã ra đến bên ngoài vòng vây, an toàn rồi thì sợ không dám quay lại tìm bộ phận của chúng tôi nữa. Chúng tôi không tìm được đường thoát ra. Lối nào cũng chạm địch. Có lần xảy ra nổ súng, thêm hai người hy sinh.

Bộ phận của chúng tôi chỉ còn có mười người. Đại đội trưởng Tuấn vẫn là chỉ huy chung. Tôi với anh ít đi gần nhau. Khi nào thấy phía trước có thể có địch phục kích nguy hiểm thì anh cử tôi dẫn một chiến sĩ đi trước trinh sát, tìm đường. Khi bị bọn địch truy đuổi thì anh cử tôi ở lại cùng vài chiến sĩ chặn địch. Tôi cũng không tranh cãi với anh nữa mà lầm lũi chấp hành mệnh lệnh được giao. Anh em đã kiệt sức và đói lắm rồi. Cơn đói hành hạ làm những cơ thể chiến sĩ tả tơi. Có ngày mỗi chúng tôi chỉ có một nắm ngô rang độ vài chục hạt nhai khô không khốc trong miệng.

Chúng tôi lặng lẽ đi trong cái rét cái đói tưởng như không thể lê bước được nữa.

Đến gần một bản nhỏ chân núi thằng Lâm bảo tôi:

- Anh cho em xuống kiếm cái gì ăn nhé! Đói quá không chịu nổi nữa rồi.

- Lỡ có bọn địch phục kích thì sao?

- Thì đánh nhau một trận, chết thôi chứ cứ chịu đói thế này thì cũng đến chết khổ chết sở anh ạ!

- Thôi được! Chiều tối nay tao với mày cùng xuống bản.

- Có báo cáo với đại đội trưởng Tuấn không hả anh?

- Thôi khỏi! Ông ấy đang ở tít phía trên đỉnh núi, bây giờ mà leo lên báo cáo ông ấy có mà hết hơi chả còn sức mà xuống bản nữa. Lấy được lương thực chúng mình sẽ đưa lên cho bộ phận trên núi!

Trời chưa tối, tôi và thằng Lâm đã lần xuống bản. Bản không có một bóng người. Bà con đã chạy hết lên rừng tránh bọn địch ngay từ ngày đầu chiến tranh nổ ra. Bản lại bị bọn địch cướp bóc nên chúng tôi lần mò qua mấy nhà mà chỉ kiếm được vài bắp ngô và một bó lúa. Tôi và thằng Lâm đành quay ra phía chân núi. Qua ngôi nhà sàn sát chân núi chợt thằng Lâm khẽ kêu lên:

- Anh Hà ơi có nhiều cá quá!

- Cá ở đâu?

- Cá ở cái vũng nước dưới sàn nhà ấy!

Chúng tôi cùng lẩn nhanh vào căn nhà sàn. Bà con dân tộc thường đào một cái ao nhỏ dưới sàn rửa rau, đãi gạo để thả cá. Những con cá chép núi đỏ au lớn rất nhanh nhờ ăn cơm canh rau thừa đổ xuống. Nhìn đàn cá lượn lờ dưới vũng nước thằng Lâm bảo:

- Anh cảnh giới để em xuống bắt cá!

- Ừ! Nhanh lên, cố bắt lấy vài con nấu cháo thì tốt.

Thằng Lâm nhảy luôn xuống vũng nước. Nó dùng tay không lùa đàn cá vào góc ao để bắt. Nhưng mãi nó chẳng tóm được một con cá nào cả. Trong khi đó thì những con cá cứ nhảy loạn cả lên trong vũng nước. Tôi sốt ruột khi nghe tiếng súng rộ lên ở phía đầu bản. Tôi bảo:

- Mày lên đi, để tao quăng cho nó một quả lựu đạn rồi muốn nhặt con nào thì nhặt chứ mò mẫm mãi thế này làm sao bắt được cá!

Thằng Lâm vội vọt lên bờ. Nó ngăn tôi:

- Đừng đừng, tốn mất một quả lựu đạn. Chỉ cần bắn vài loạt đạn là lũ cá sẽ chết thôi. Hồi làm đường ở Hà Giang chúng em vẫn dùng AK bắn được cả cá ở suối đấy.

Nói xong nó mở khoá nòng. Chờ khi có một tiếng pháo của địch nổ vang lên nó liền xả một loạt đạn xuống vũng nước, chỗ những con cá đang lượn lờ túm tụm lại ở gần tảng đá. Quả đúng như nó nói. Mấy con cá chép to bị những viên đạn đập vào đá làm điếng óc nhao lên ngửa bụng bơi lờ đờ. Tôi và Lâm tóm được năm sáu con cá chép đỏ bằng bàn tay xâu vào dây rừng xách lên núi.

Tôi hôm ấy còn một ít gạo chúng tôi nấu nồi cháo cá. Mọi người được một bữa tuy không đủ no nhưng quả là ngon nhất kể từ sau khi rời khỏi thung lũng Kép Ké.

Ăn xong, đại đội trưởng Tuấn gọi tôi ra một hẻm đá phê bình gay gắt về tội tự ý xuống bản, nhất là chuyện dùng súng bắn cá trong ao của dân. Tôi không cãi lại nhưng trong lòng cứ ấm ức mãi.

 

Sáng hôm sau, đại đội trưởng Tuấn quyết định chia số chiến sĩ làm hai bộ phận. Bộ phận của đại đội trưởng Tuấn sẽ ở lại ém trên hang đá ở sườn núi. Bộ phận của tôi gồm hai chiến sĩ sẽ tìm mọi cách vượt bằng được con đường bọn địch đang khống chế về Nguyên Bình tìm chỉ huy tiểu đoàn sau đó sẽ quay lại đón bộ phận còn đang ở trong vòng vây. Như vậy là đã đến lúc tôi độc lập chỉ huy một bộ phận đi làm nhiệm vụ. Biết là sẽ rất nguy hiểm nhưng tự dưng tôi thấy phấn chấn hẳn lên. Để lại hết số ngô hạt và đậu tương cho bộ phận ở lại, tôi dẫn Lâm và Tuất lên đường. Tôi thấy lo lắng cho hai chiến sĩ bị thương. Mấy chiến sĩ phải ở lại đều muốn đi theo tôi. Những ánh mắt nhìn tôi như trách móc vì tôi đã không chọn họ cùng đi.

Chúng tôi tụt xuống núi bám con đường quốc lộ để tìm cách vượt sang phía bên kia. Bọn địch đang đi lại dày đặc trên đường. Vì lo lắng việc vượt đường mà tôi không chú ý hướng hành quân của bọn địch. Chúng đang hành quân về phía biên giới. Lần mò cả đêm, gần sáng hôm sau, chúng tôi vượt qua được con đường một cách khá dễ dàng.

Khi trời sáng hẳn thì chúng tôi đã vượt lên được dãy núi ngăn cách giữa hai huyện Thông Nông và Nguyên Bình. Vậy là chúng tôi sắp gặp lại đơn vị cũ rồi. Khi lên đến đỉnh dốc của con đường mòn, tôi nằm lăn ra cho đỡ mệt và để thở. Bầu trời trong trẻo. Nắng lấp loá trên những gộp đá xám lạnh. Cái rét cũng đã giảm hẳn rồi tuy cơn gió vẫn còn se se lạnh.

Giữa lúc tôi đang mơ màng thì thằng Lâm đang làm nhiệm vụ cảnh giới kêu lên:

- Có một đoàn người đông lắm từ phía Nguyên Bình đang đi lên dốc!

Tôi quờ khẩu súng ngồi bật ngay dậy.

Chúng tôi hồi hộp quan sát hàng quân đang bám theo con đường mòn tiến lên đỉnh núi. Thằng Tuất chợt reo lên vui mừng:

- Quân ta!

Đúng là quân ta rồi. Tôi nhận ra cái dáng đi luôn chúi người về phía trước của trợ lý tham mưu Thọ và bước đi khoan thai của chính trị viên Hoàng ở tốp đầu hàng quân. Ba chúng tôi cùng đứng bật dậy giơ súng lên trời khua khua làm hiệu. Các chiến sĩ trinh sát đi phía trước đội hình của tiểu đoàn cũng đã nhận ra chúng tôi. Họ ào đến ôm lấy chúng tôi, tay bắt, mặt mừng. Tôi hỏi:

- Tiểu đoàn ta hành quân về đánh chiếm lại Sóc Giang hả?

- Thế bọn mày không biết à! Bọn địch tuyên bố rút khỏi nước ta từ mấy hôm trước rồi. Tiểu đoàn ta được lệnh quay về chiếm lĩnh lại thị trấn Sóc Giang đấy!

- Thế à! Bọn tao ở trong vòng vây có đài điện gì đâu mà biết. Khổ quá! Bọn địch nó đang rút lui thế mà mấy hôm trước gặp chúng hành quân, bọn tao còn tổ chức đánh một trận làm mấy thằng trong bộ phận bị chết. Biết thế thôi đừng đánh nữa có phải mấy anh em bây giờ vẫn còn sống không!

Tôi nói vẻ ngậm ngùi. Anh Thọ vỗ vỗ vào vai tôi an ủi:

- Chiến tranh ai biết thế nào mà nói trước...

Anh nắm chặt tay tôi. Tiểu đoàn trưởng Thêm, chính trị viên Hoàng cũng đã lên tới nơi. Mọi người xúm lại xung quanh ba chúng tôi hỏi han. Tôi cũng nhớn nhác nhìn mọi người. Vắng bóng mấy thằng bạn thân. Tiểu đoàn rút sang Nguyên Bình tiếp tục tham gia chiến đấu bảo vệ khu mỏ thiếc Tĩnh Túc. Vì thế có thêm nhiều đồng đội của tôi đã ngã xuống ở Minh Tâm, Hoàng Tung để chặn con đường quân giặc tiến vào mỏ thiếc...

 

Chúng tôi trở về thị trấn Sóc Giang sau chiến tranh.

Một thị trấn đổ nát hoang tàn. Hơn tháng trước đây chính là "toạ độ lửa", là nơi bao nhiêu đồng đội của chúng tôi đã ngã xuống. Cũng là nơi tiểu đoàn chúng tôi đã bẻ gãy bao nhiêu đợt tấn công vô cùng ác liệt của kẻ thù. Vậy mà bây giờ chúng tôi, những người quay trở lại Sóc Giang ai cũng có một tâm trạng bùi ngùi. Kẻ thù đã bị đánh lui nhưng cái cảm giác chiến thắng trong những người lính chúng tôi mờ nhạt. Không có cái háo hức, tưng bừng của ngày 30-4 năm nào, chỉ có nỗi bàng hoàng, xót xa về sự đổ nát hoang tàn. Không có một bóng dáng người dân nào trong thị trấn. Chúng tôi là những người đầu tiên trở về Sóc Giang. Chúng tôi lầm lũi bước đi trong sự hoang vắng sau trận chiến. Một đội hình cán binh quần áo tả tơi bẩn thỉu. Nhiều người băng còn quấn trên đầu loang lổ màu máu, tay gãy còn treo trên cổ.

Tất cả những căn nhà trong thị trấn đều bị đánh sập hoặc bị đốt cháy. Cây cối, cột điện đổ ngổn ngang. Mùi xác chết của người và động vật khăn khẳn khắp nơi. Chỗ nào cũng gặp những quả mìn bọn địch gài lại trước khi rút đi. Bộ phận công binh phải dò dẫm phía trước mở đường. Chúng tôi phải đặt bước chân theo dấu đã vạch sẵn trên đường của công binh. Người đi sau bước đúng bước chân người đi trước để tránh dẫm vào mìn.

Đội hình hành quân một hàng dọc chậm chạp vừa đi vừa quan sát xung quanh, cảnh giác. Không ai nói một câu nào chỉ nghe tiếng thở dốc của những người mang vác nặng ở bộ phận hoả lực. Bỗng nghe một tiếng nổ "oành" ở phía sau đội hình. Đất cát bay mù mịt. Tất cả chúng tôi vội ngồi thụp xuống chĩa súng ra xung quanh, sẵn sàng chiến đấu. Những tiếng mở khoá nòng lách cách.

Mọi người đều tưởng là bị bọn địch phục kích. Hoá ra không phải. Một quả mìn bọn giặc gài lại ngay bên cạnh lối đội hình hành tiến đi đã phát nổ. Người hy sinh là một chiến sĩ còn rất trẻ thuộc trung đội vận tải. Người lính này vừa mới được bổ sung về tiểu đoàn, chưa được hai tháng tuổi quân. Nguyên nhân là cậu ta đi giữa đội hình, lại có mấy cô bé ở đơn vị thanh niên xung phong đi ngay phía sau. Đang đi buồn tiểu tiện, cậu ta chỉ mới bước chệch có một bước định vào đứng khuất sau mô đá thế mà đạp trúng luôn một quả mìn chống bộ binh của địch.

Sau vụ này, tiểu đoàn trưởng Thêm nổi cáu. Anh đi dọc theo hàng quân quát tháo ầm ĩ:

- Đánh nhau không chết, lại chết vì sĩ diện... ngu... ngu quá...

Quát tháo một lúc anh ra lệnh giọng vẫn còn cáu gắt:

- Kể từ bây giờ cho đến lúc vào vị trí trú quân trong thị trấn, thằng nào buồn đái cứ đứng ngay giữa đường mà đái. Con gái cũng vậy. Ai xấu hổ thì nhắm mắt lại...

Tiểu đoàn trưởng Thêm nóng tính thì quát vậy thôi chứ tôi biết anh thương lính lắm. Cái chết của người chiến sĩ trẻ làm anh rất đau đớn. Sau một tháng chiến đấu, đơn vị tổn hao quá lớn, chỉ còn lại một nhúm người. Hôm tập trung đội hình toàn tiểu đoàn để quán triệt nhiệm vụ lúc chuẩn bị xuống núi để chiếm lĩnh lại thị trấn Sóc Giang trông thưa thớt, thiếu vắng quá nhiều vị trí chiến sĩ, vị trí chỉ huy. Vậy nên sau chiến tranh lại vẫn có người phải ngã xuống như vậy khiến ai cũng đau xót.

 

Đơn vị về đến vị trí đóng quân. Đó là đám ruộng ngay dưới chân mỏm núi có hang chỉ huy tiểu đoàn mà một tháng trước chúng tôi đã chiến đấu đánh lui bao đợt tấn công của bọn địch. Chúng tôi nhặt nhạnh những gì còn sót lại trong khu nhà vốn là trụ sở của uỷ ban nhân dân huyện để dựng tạm những căn nhà một mái trông giống như những cái chuồng lợn để trú quân tạm thời để bảo vệ thị trấn và giải quyết hậu quả của cuộc chiến. Các bộ phận lần mò lên các vị trí chiến đấu đào bới tìm kiếm liệt sĩ. Khắp nơi mùi thối rữa của tử thi, xác động vật bốc lên thật là kinh khủng.

Việc xác định, phân biệt hài cốt đâu là quân ta, đâu là địch, đâu là dân cũng thật khó khăn. Mặc dù đã được chuẩn bị trước khi chiến tranh xảy ra như các bộ phận đều được cấp phát những tấm vải liệm may sẵn. Mỗi người đều có mã số riêng của mình ghi trong một mảnh bìa cứng ép plastic để sẵn trong túi áo phòng khi hy sinh chôn theo sau này còn biết danh tính. Nhưng đánh nhau cả tháng nhiều người đã không giữ nổi mảnh bìa mã số của mình. Mà người giữ được thì vẫn còn sống. Người hy sinh thì lại chẳng còn giữ được mã số để đánh dấu mộ chí của mình.

Một buổi chiều, thằng Lợi ở trung đội vận tải đi tìm kiếm liệt sĩ ở khu vực sát biên giới về gặp tôi ngậm ngùi bảo:

- Tìm thấy hài cốt thằng Đan rồi!

Tôi vô cùng kinh ngạc:

- Nó nằm đè lên khối bộc phá hàng mấy trăm cân, điểm hoả đánh sập cả một đoạn đường rơi xuống vực làm sao mà còn gì nữa...

- Chuyện là thế này. Sáng nay, bọn tao đi tìm kiếm liệt sĩ ở khu vực bờ suối dước chân chốt cây đa của đại đội 1. Lúc cả bọn ngồi nghỉ giải lao thì một thằng chợt phát hiện ra có một con chó đang lúi húi cào cào bới đất ở bờ suối. Nó bàn với tao bắn hạ con chó lấy thịt ăn. Đã bao nhiêu ngày nay rồi ăn uống kham khổ nên tao đồng ý ngay. Bọn tao liền tiếp cận con chó. Thấy động, nó liền bỏ chạy miệng cố càm theo một vật gì đó. Tao liền nổ súng. Con chó trúng đạn ngã gục ngay bên bờ ruộng. Mọi người chạy đến. Hoá ra vật mà nó đang ngoạm trong miệng một bàn tay người đã khô đen. Trên bàn tay ấy vẫn còn có một chiếc nhẫn vàng vướng ở khớp ngón tay. Tao cầm lên xem. Mặt chiếc nhẫn có khắc chữ "Đ". Có một vết xước sâu rạch ngang chữ Đ. Tao nhận ngay ra đó chính là chiếc nhẫn của thằng Đan. Vết xước ấy là do một lần tao với nó vật nhau. Tay nó bị tao miết vào vách đá cứng làm cái nhẫn xước một vết gạch ngang chữ Đ. Cũng vì vết xước ấy mà nó giận tao mấy ngày đấy. Khi tìm thấy bàn tay đeo nhẫn của nó tao đã bật khóc vì thương nó quá.

- Thế chúng mày xử lý thế nào?

- Tao lập tức báo cáo với chỉ huy tiểu đoàn. Sau khi nghe báo cáo, tiểu đoàn trưởng lệnh cho bộ phận của tao đặt bàn tay ấy vào một cái hộp gỗ rồi mai táng trong ngôi mộ giả mà bọn mày đã đắp cho nó ở bìa rừng bữa trước, vẽ lại sơ đồ cẩn thận. Tiểu đoàn trưởng nói sẽ đưa vào nghĩa trang liệt sĩ của thị trấn.

Tôi và Lợi cùng lặng đi một lát. Thằng Lợi nói thêm:

- Chúng tao cũng đắp cho con chó một nấm mộ. Khốn nạn, nó gầy trơ xương. Chiến tranh xảy ra nó chạy khỏi nhà lang thang ngoài rừng cả tháng rồi còn gì.

Nghe thằng Lợi nói, tôi cũng thấy ngậm ngùi. Mấy ngày rồi chúng tôi đã tìm kiếm, đào bới ở khu vực mỏm Đầu Bò vẫn không tìm thấy gì. Hay là anh Bùi bị địch bắt. Điều đó khó có thể xảy ra vì chúng tôi ai cũng dành cho mình một quả lựu đạn cuối cùng để lỡ khi sa vào tay giặc thì quyết liều chết với chúng nó luôn.

 

Con đường xuôi về phía Đôn Chương, Hoà An đã khai thông. Chuyến xe chở hàng đầu tiên đã lên tới thị trấn Sóc Giang. Đơn vị chúng tôi được tiếp tế lương thực, thực phẩm. Có một chút thịt lợn ướp muối. Mỗi chúng tôi còn được phát một bộ quần áo mới, một đôi giày. Thằng nào cũng diện ngay quần áo, giày mới. Ăn uống cũng no hơn nên trông dáng vẻ lính tráng khoẻ khoắn hơn. Nhiều thằng trông hai má đỡ hóp hơn, mặt mũi đỡ hốc hác như những hôm đầu về thị trấn nhưng chưa hết vẻ nhợt nhạt của dài ngày đói khát, gian khổ.

Nhưng chúng tôi chưa kịp mừng thì xảy ra một chuyện. Hôm đó tôi vừa lên sát đường biên giới về thì nghe tiếng người quát to, dọa bắn ở nhà sở chỉ huy tiểu đoàn. Tôi vội chạy lên xem có chuyện gì. Tới nơi, tôi thấy y sĩ Tính đang run cầm cập đứng trước mặt tiểu đoàn trưởng Thêm. Tiểu đoàn trưởng tay đang cầm khẩu súng ngắn mặt hằm hằm giận dữ. Tôi len vào kéo tay trợ lý tham mưu Thọ hỏi:

- Có chuyện gì thế hả anh?

- Chuyện nghiêm trọng lắm! Thôi tý nữa nói, tao với mày phải vào can tiểu đoàn trưởng đã kẻo ông ấy cáu tiết bắn chết tay y sĩ Tính đấy!

Chúng tôi cố lựa lời can tiểu đoàn trưởng nhưng cũng hoảng. Ông này tính nóng như lửa, lỡ vạ lây. Giữa lúc đó thì chính trị viên Hoàng đi họp trên trung đoàn về. Anh Thọ vội báo cáo ngay tình hình với chính trị viên Hoàng để khuyên tiểu đoàn trưởng Thêm.

Thì ra nguyên do chuyện là do y sĩ Tính. Đó là từ hôm đơn vị mới chuyển về vị trí này trú quân. Ngay khi vừa đến đây, tiểu đoàn trưởng Thêm giao cho y sĩ Tính nhiệm vụ phải kiểm tra kỹ nguồn nước chảy vào máng dẫn về. Dân bản thường đắp đập trên núi rồi bắc máng dẫn nước tự chảy về bản. Y sĩ Tính chỉ đi đến chân núi rồi quay về vì sợ lên núi vướng phải mìn hoặc gặp bọn thám báo của địch. Ngay chân núi có đoạn máng từ trên núi dẫn nước xuống vẫn đang có nước chảy nên y sĩ Tính bảo anh em nuôi quân làm đường ống dẫn nước về bếp sử dụng. Do không đến tận nơi nguồn nước chảy ra nên anh Tính không phát hiện là ngay trên bờ đập nước có mấy xác người chết đang bắt đầu thối rữa. Khi trời mưa xuống đã gây ô nhiễm nguồn nước. Thế là cả đơn vị chúng tôi gần một tháng nay nấu ăn, lấy uống đã dùng nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng.

Thảo nào mà nước cứ có mùi hôi hôi. Chúng tôi lại toàn uống nước lã mới ghê chứ. Một số anh em vì thế ngã nước nên mặt mũi sưng phù thũng lên chứ không phải là sau chiến tranh được ăn no mấy bữa đã béo khỏe lên.

Khi thấy nguồn nước có mùi hôi, tiểu đoàn trưởng đã đích thân cùng một chiến sĩ trinh sát đi kiểm tra. Phát hiện ra xác người chết thối rữa trong đập nước anh nổi điên lên dọa bắn y sĩ Tính, may mà anh Thọ kịp can ngăn. Rõ mọi chuyện, chính trị viên Hoàng nghiêm khắc bảo y sĩ Tính về làm bản kiểm điểm. Y sĩ Tính cúi đầu đi ra. Nhìn anh, tôi không thấy cái dáng vẻ hùng hồn như hôm trước chiến tranh duy trì buổi sinh hoạt kiểm điểm để khai trừ tôi và thằng Lâm ra khỏi Đoàn...

 

Tiểu đoàn bắt đầu khôi phục, củng cố trận địa phòng ngự như trước khi xảy ra chiến tranh. Các điểm chốt, hầm hào, công sự, căn cứ hậu cần, quân y của tiểu đoàn bây giờ chỉ là những đống đất đá lổn nhổn. Trước khi rút lui về nước bọn giặc đã dùng thuốc nổ phá huỷ tất cả các công trình quân sự, kinh tế, văn hoá của ta. Bọn giặc cẩn thận tỷ mỷ đánh gãy gục từng cột điện cao thế, điện thoại, mỗi căn nhà nếu không đốt được thì chúng dùng mìn đánh sập. Chúng phá huỷ, đánh sập các hang đá, hốc núi nơi ta có thể dấu quân, làm nơi phòng thủ. Chúng còn đang tâm đánh sập hang Pác Bó nơi Bác Hồ đã ở, phá nát tượng Các Mác ở trong hang. Các công trình quân sự do ta xây dựng ở khu vực Sóc Giang và các điểm chốt đều bị phá tan nát hết.

Các đại đội về lại vị trí phòng ngự của mình trước chiến tranh sửa sang lại hầm hào, công sự và tiến hành việc tuần tra canh gác. Việc đi lại đều phải bí mật, tránh để lộ liễu mục tiêu vì bọn địch thỉnh thoảng vẫn bắn bừa bãi hoặc tung thám báo sang đất ta. Đã có bộ phận chạm súng với bọn lính trinh sát của địch.

Tôi dẫn mấy anh em trèo lên mỏm Đầu Bò vừa nạo vét lại công sự vừa cố gắng tìm kiếm hài cốt liệt sĩ. Buổi trưa nghỉ, tôi và thằng Lâm xuống khu trường cấp 1. Lính công binh đã rà phá, gỡ hết các quả mìn gài trong sân trường còn sót lại. Gần như tất cả các lớp học đều bị phá sập. Sách vở học sinh rơi tung toé khắp các lớp. Tôi nhặt được một cuốn sách ở trong ngôi nhà đổ nát. Lần giở từng trang sách của cuốn sách giáo khoa cháy dở trong lòng tôi dâng dâng lên một nỗi buồn da diết. Bài thơ này tôi đã viết ngay tối hôm ấy.

 

Trường các em bị cháy!

 

Truy kích địch qua đây

Chúng tôi cùng sững lại

Trường các em bị cháy

Giặc vừa đốt hôm qua.

Một quyển sách lớp ba

Ám khói đen nham nhở

Tôi nhặt lên lần mở

Từng trang sách, từng trang.

Những phép tính trẻ con

Bốn cộng ba bằng bảy

Lửa cháy quằn trang giấy

Con số cuối mờ đi.

Ôi quyển sách nói gì

Bên ngôi trường đổ nát?

Hàng cây non lửa táp

Vết đạn cày sân chơi.

Tôi đứng lặng cắn môi

Nghe đâu đây trong gió

Nghe từ trang sách nhỏ

Tiếng các em gọi mình!

Trọng Bảo Tiểu Thuyết Trong vòng Lửa Thực hiện ebook : Mọt Sách Bloog Trọng Bảo
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Trọng Bảo

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.