Trong Vòng Lửa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

❊ ❊ ❊

Khi ban chỉ huy tiểu đoàn bắt đầu rút lên Lũng Mật thì các cán bộ, chiến sĩ đại đội 2 vẫn tiếp tục củng cố trận địa ở mỏm đồi đất chìa ra chặn ngang con đường từ phía thị xã Cao Bằng lên thị trấn Sóc Giang.

Qua gần một tuần chiến đấu, đại đội 2 đã bị thương vong non nửa. Trận địa bị các loại đạn pháo, hoả lực quân địch cày xới tan hoang, hình như không còn một cành cây, ngọn cỏ nào là nguyên vẹn. Sau mấy ngày chiến đấu bảo vệ cửa ngõ thị trấn Sóc Giang, chúng tôi gọi đây là "TỌA-ĐỘ-LỬA" bởi sự ác liệt của nó.

Chập tối, tiểu đoàn bổ sung thêm cho đại đội 2 hai trung đội. Đếm số người mới đến đại đội trưởng Bổn lẩm bẩm: "Chỉ có chưa đầy hai chục người mà cũng gọi là hai trung đội!". Tuy thế anh cũng rất mừng vì số anh em được điều đến đều là những cán bộ, chiến sĩ rất dũng cảm đã từng đánh nhau với bọn giặc ở chốt cây đa cửa khẩu và trên mỏm Đầu Bò cạnh sân trường cấp 1. Đại đội trưởng Bổn phân công các vị trí phòng ngự và phạm vi phòng ngự, phổ biến các ký, tín hiệu hiệp đồng chiến đấu cho bộ phận mới đến. Đại đội trưởng Bổn dặn dò trung đội trưởng Lộc-là người mới dẫn bộ đội lên bổ sung. Anh Lộc là trung đội phó trung đội vận tải bộ của tiểu đoàn:

- Ngay trong đêm nay bộ phận mới đến phải tích cực củng cố trận địa. Nhớ làm các lỗ châu mai tạo hướng bắn ngược lên điểm cao 505. Mẹ kiếp! Phương án tác chiến thì chỉ tính đến việc đánh địch từ hướng biên giới tràn xuống. Ai ngờ nó chọc thủng phòng tuyến, chiếm các vị trí ở phía sau trước, rồi từ phía sau nhằm vào gáy mình mà nã đạn. Hầm hố chẳng có lỗ châu mai hướng về phía sau, lính tráng phải chui ra ngoài công sự phơi người nằm bắn nên thương vong nhiều đến thế đấy.

Trung đội trưởng Lộc nhanh chóng đôn đốc các chiến sĩ củng cố trận địa. Mọi người đều rất mệt mỏi và buồn ngủ nhưng ai cũng hiểu là ngày mai trận đánh sẽ vô cùng ác liệt, trận địa được củng cố tốt bao nhiêu thì thương vong sẽ giảm bớt bấy nhiêu. Đang đào bới, xúc đất đá ở một góc hầm bị sạt lở do những trận đánh trước đó, một chiến sĩ bỗng rú lên hoảng hốt:

- Có... có... người chết!

Trung đội trưởng Lộc và mấy chiến sĩ nữa xúm lại. Đại đội trưởng Bổn nghe tiếng kêu thảng thốt cũng vội nhào đến. Dưới ánh đèn pin lờ mờ, mọi người thấy một bàn chân người lộ ra. Người chiến sĩ đang mò mẫm đào bới đã moi trúng bàn chân nát bươm, đẫm máu trong đám đất đá hỗn độn.

Đại đội trưởng Bổn lập tức nhảy xuống chiến hào cùng các chiến sĩ dùng tay bới đất chỗ tìm thấy dấu vết liệt sĩ. Nhưng moi hết cả căn hầm bị pháo bắn sập họ cũng chỉ tìm thấy một ít phần bên dưới của liệt sĩ. Trong trận đánh ác liệt chiều nay một quả pháo hạng nặng của địch đã bắn trúng chỗ người lính ấy đang đứng bắn. Mọi người ngậm ngùi gói ghém phần thi thể còn lại của liệt sĩ chờ bộ phận vận tải lên đưa đi mai táng.

Đại đội trưởng Bổn giọng nghèn nghẹn bảo:

- Còn mấy người hy sinh nữa chưa tìm thấy thi thể. Đây có thể là thằng Linh ở trung đội 2. Vị trí này là chỗ nó đặt trung liên mấy ngày nay.

Có một tiếng thở dài của ai đó.

Anh Bổn nâng gói thi thể đặt lên bờ công sự. Mọi người lặng lẽ cúi đầu vĩnh biệt người đồng đội thân yêu. Ánh lửa từ những đám cháy rần rật phía thị trấn soi loang loáng những dòng nước mắt chảy dài trên những khuôn mặt nhem nhuốc, hốc hác của những người lính đang đứng lặng quanh thi thể người đồng đội giữa nơi chiến địa hoang tàn.

 

Tảng sáng. Sương mù chưa tan đã nghe tiếng gầm rú của xe tăng địch từ phía Đôn Chương. Tại khu vực các bản Cốc Sâu, Kép Ké phía trước trận địa phòng ngự của đại đội 2 lố nhố bóng bọn bộ binh địch đang bu đen xung quanh khu lò sấy thuốc lá của dân bản. Đại đội trưởng Bổn giơ ống nhòm quan sát và lệnh cho tổ đài vô tuyến sóng cực ngắn yêu cầu chuyển ngay bức điện cho tiểu đoàn đề nghị hoả lực bắn mạnh vào khu vực bọn địch đang tập trung quân. Chiến sĩ Định lập tức mã hoá bức điện và chuyển đi ngay. Nhận được yêu cầu của đại đội 2, tiểu đoàn trưởng Thêm và chính trị viên tiểu đoàn Hoàng Quốc lập tức hội ý. Đạn cố 82 đã sắp cạn nhưng vẫn phải bắn chi viện cho đại đội 2. Bây giờ bắn là phải tính từng viên và thật hiệu quả. Mười quả đạn cối 82 của đại đội 4 từ trên núi rất chính xác rơi xuống chỗ địch đang tập trung quân. Những cột khói bốc lên mù mịt và tiếng kêu hoảng loạn của bọn địch ở khu vực Cốc Sâu, Kép Ké. Các chiến sĩ trên đài quan sát báo cáo ngắn gọn: "Đạn cối của ta bắn trúng mục tiêu!".

Trận địa của đại đội 2 vẫn im lìm. Sương mù bắt đầu tan dần. Bọn địch ở khu vực các bản Cốc Sâu, Kép Ké bắt đầu tổ chức tấn công. Những chiếc xe tăng đi đầu của địch đã xuất hiện. Tiếng xích sắt xoang xoảng ken két nghiến trên mặt đường. Có những tiếng hô khẩu hiệu và tiếng kèn đồng cổ vũ quân lính xung trận từ phía giặc vang lên. Tiếp sau đó là những loại đạn pháo và hoả lực của bọn chúng bắt đầu gầm lên dữ dội. Pháo mặt đất, pháo trên xe tăng của chúng thi nhau nhả đạn dìm toàn bộ quả đồi do đại đội 2 phòng ngự chìm trong khói lửa. Đất đá, khói lửa bốc lên trời cuồn cuộn, mịt mù.

Bọn địch bắt đầu xung phong. Những chiếc xe tăng địch phụt khói lao nhanh vào thị trấn như một đàn thú dữ xổng chuồng. Bộ binh địch đông nghẹt cả mặt đường, tràn xuống ruộng. Những bàn chân xâm lược đạp nát những thửa ruộng trồng cây thuốc lá của dân ta. Tiếng kèn sừng dê, tiếng kèn đồng tru lên từng hồi như tiếng hú của chó sói. Những tên giặc say máu gào lên những tiếng gọi nhau đánh giết người man dại.

Trận địa của đại đội 2 vẫn im lặng. Người chiến sĩ vệ quốc trong "toạ độ lửa" bình tĩnh hướng nòng súng rê theo bước chân của bầy sói đang tiến lại gần.

Chờ chúng vào sát chân chốt, các loại hoả lực của đại đội 2 mới phát hỏa. Các đơn vị xung quanh lập tức chi viện chặn đánh bọn địch, không cho chúng tràn vào thị trấn Sóc Giang đổ nát. Đạn từ mỏm đồi cửa hàng thực phẩm của đại đội 1 bắn ra. Từ mỏm Kéo Nghìn hoả lực của đại đội 3 trút xuống xiên chéo đội hình quân địch. Ác hiểm nhất là luồng đạn từ khẩu đội 12ly7 trên mỏm núi ở bản Cốc Sâu ngay giữa đội hình xuất phát của quân địch bất ngờ khạc lửa nhằm thẳng vào lưng, vào gáy bọn chúng. Đó là một khẩu đội 12ly7 của C16 trực thuộc trung đoàn. Các chiến sĩ khẩu đội 12ly7 này đã dũng cảm nằm im giữa đội hình của bọn giặc chờ đợi. Bọn giặc chúng sẽ không phát hiện ra nếu họ lặng lẽ trèo lên núi cao theo đường mòn rút đi. Nhưng các chiến sĩ khẩu đội này chỉ nằm im khi thấy địch tập trung quân xung quanh. Khi bọn địch bắt đầu tấn công vào thị trấn thì họ lập tức nhả đạn vào lưng chúng để chi viện cho tiểu đoàn 3 của chúng tôi.

Bọn địch phải tổ chức một đơn vị quay lại bao vây tiêu diệt khẩu đội 12ly7 đang bắn vào lưng chúng. Các chiến sĩ khẩu đội này đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Họ phá hỏng khẩu 12ly7 trước khi bọn địch xông đến. Một loạt tiếng nổ lục bục trên mỏm núi. Những quả lựu đạn cuối cùng nổ ngay trên tay những người lính dũng cảm. Cả khẩu đội 12ly7 chết cùng những tên địch vừa lao đến.

Sau hai tiếng, trận chiến đấu trước cửa ngõ thị trấn Sóc Giang kết thúc. Tiếng súng lắng dần. Từ vị trí chỉ huy của tiểu đoàn trên Lũng Mật chúng tôi lo lắng tìm cách liên lạc với đại đội 2. Chiếc máy vô tuyến sóng cực ngắn kêu xèn xẹt mãi mới dò được sóng của chiếc máy đang đặt tại vị trí chỉ huy của đại đội 2. Đại đội 2 báo cáo: "Bốn xe tăng, hơn hai trăm tên địch bị tiêu diệt, xác chúng nằm chồng chất trên mặt đường, mặt ruộng. Ta có mười lăm đồng chí hy sinh và bị thương. Trung uý Trần Xuân Tường, học viên trường sĩ quan Chính trị hy sinh khi cùng hạ sĩ Trần Công Tân bò xuống sát mặt đường bắn cháy hai xe tăng và chiến đấu với bộ binh địch...".

Sau này tôi mới biết cụ thể về cái chết của hạ sĩ Tân. Anh đã tụt từ tuyến hào phía trên đồi xuống bờ đất sát mặt đường nhặt khẩu B41 của trung uý Tường vừa hy sinh và bắn cháy thêm một chiếc xe tăng địch. Anh trụ lại ở bờ đất cạnh bụi tre để tiếp tục đánh địch. Bọn địch bị bắn ngã như chuối đổ nằm ngổn ngang đầy mặt đường. Nhưng rồi nhiều tên đã lao lên ép người được vào bờ đất cao, tránh được hỏa lực bắn thẳng của ta. Chúng ném lựu đạn tới tấp lên phía sau bờ đất. Những quả lựu đạn xì khói lăn dưới chân Tân. Nhanh như chớp, Tân chụp những quả lựu đạn ném trả lại bọn địch. Có quả nổ ngay trên không, mảnh lựu đạn xối xuống lưng những tên đang ép vào bờ đất. Quả lựu đạn cuối cùng Tân nhặt dưới chân mình, anh nắm chặt trong tay. Bọn giặc ào tới rất đông. Nhưng chúng bỗng kinh hoàng há hốc miệng nhìn anh. Tân đứng thẳng dậy. Từ bàn tay anh xoè ra một bông hoa lửa.

Nghe tin Tân hy sinh, tôi cũng lặng người đi. Tân và tôi cùng nhập ngũ trong đợt tổng viên chuẩn bị cho chiến dịch cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, mùa Xuân 1975. Anh quê ở vùng lúa Thái Bình. Trước hôm xảy ra chiến tranh mấy ngày, gặp tôi ở thị trấn anh còn khoe vừa mới nhận được thư của vợ gửi lên báo tin sinh con trai. Thế là anh đã ngã xuống. Vĩnh viễn không bao giờ anh còn biết mặt đứa con vừa chào đời chưa tròn một tháng tuổi.

 

Buổi chiều hôm ấy, bọn địch chỉ bắn cầm chừng. Hình như chúng đang củng cố lại đội hình chuẩn bị cho một đợt tấn công quyết liệt hơn. Trung đội trưởng Lộc quan sát phía bản Cốc Sâu cẩn thận rồi gọi một chiến sĩ trong trung đội đang ôm súng ngồi dưới chiến hào:

- Nam ơi! Tao và mày xuống chỗ đoạn đường bọn địch nằm chết ngổn ngang kia kiếm một ít đạn và xem bọn chúng có lương khô, lương khiếc gì không. Đói lắm rồi mà không thấy nuôi quân đem cơm lên gì cả!

- Vâng! Để em đi trước.

Nam xách súng toài xuống chân dốc. Trung đội trưởng Lộc lập tức chuội người theo sát phía sau. Hai anh em lom khom nhặt mấy khẩu súng, gỡ lấy bao đạn và ba lô của bọn địch. Anh Lộc vừa kéo định gỡ cái ba lô trên lưng một tên nằm úp mặt vào thành ta-luy đường thì cái "xác" quay ngoắt lại. Tay nó vung lên. Anh Lộc hét:

- Lựu đạn đấy! Nằm xuống!

Rất nhanh, anh nhào người lăn về phía cái rãnh thoát nước ven đường phía ta-luy âm. Trước khi đổ người xuống, anh còn kịp quét găm một loạt đạn AK vào tên giặc giả chết. Cánh tay của thằng giặc vừa vung lên liền rũ xuống. Quả lựu đạn tuột khỏi tay nó rơi xuống mặt đường lăn ngược trở lại chỗ nó đang nằm. Một tiếng nổ vang lên. Khói bụi đất cát văng mù mịt. Anh Lộc lồm cồm nhỏm dậy gọi:

- Nam ơi... Nam...

- Em đây... em vẫn an toàn, anh có việc gì không?

Nam vừa chui ra từ trong bụi cây xấu hổ dưới mép đường lên vừa đáp. Anh Lộc bảo:

- Tao không việc gì! Mẹ cha thằng giặc khốn kiếp... suýt nữa thì toi mạng oan với nó... Thôi, rút ngay!

Trung đội trưởng Lộc và Nam vội leo lên trận địa. Vừa chui vào trong hầm, Nam đã vội mở hai cái ba lô lấy được của bọn địch. Chả có cái gì ngoài mấy bộ quần áo cũ và cái bi đông cạn khô. Nam dốc ngược một chiếc ba lô. Hai củ khoai lang sống từ túi cóc ba lô lăn ra nền đất. Có một củ đang ăn dở. Chắc thằng giặc đói vừa mới cướp được ở bản Cốc Sâu. Nam bực bội chưởi đổng:

- Mẹ kiếp! Cái đồ nghèo kiết xác, chết đói mà cũng đòi đi xâm lược!

Trung đội trưởng Lộc bật cười bảo:

- Thôi lại đành nhai gạo sấy vậy!

Anh mở ba lô của mình lấy ra một túi ni-lông còn chút ít gạo sấy. Từng người lần lượt thò tay vốc một nhúm ngậm vào trong miệng. Rồi họ chuyền tay nhau cái bi đông đựng nước suối, mỗi người tợp một ngụm. Họ ngậm nước suối và gạo sấy trong miệng một lúc chờ cho hạt gạo trương lên, mềm đi rồi bắt đầu nhai cho đỡ đói. (Nếu bạn đọc muốn biết thứ gạo sấy mà những người lính chúng tôi đã được cấp phát để ăn trong chiến tranh ngày ấy như thế nào thì có thể tự mình làm thử. Bạn hãy lấy một ít cơm nguội ném vào nước lạnh cho nó trương lên, hoặc vớt một ít cơm còn lại trong chậu sau khi rửa bát ăn thử là biết. Gạo sấy của người lính biên cương giống hệt như vậy. Hi...hi...).

 

Gần cuối buổi chiều, bọn địch tổ chức thêm một đợt tấn công nhưng có vẻ không quyết liệt lắm. Thêm hai chiếc xe tăng địch bị bắn cháy. Một chiếc nổ dữ dội, chắc là trong xe còn nhiều đạn pháo nó chưa kịp bắn. Bộ binh địch hình như không phải là sẽ đánh lên trận địa của ta. Chúng tiến chậm chạp sau xe tăng là để lôi xác đồng bọn bị chết từ đợt tấn công buổi sáng về phía sau. Phát hiện ra hành động này của bọn địch, đại đội trưởng Bổn hạ lệnh cho toàn đại đội ngừng bắn. Anh muốn tạo điều kiện cho bọn giặc đem xác chết đồng bọn ra khỏi trận địa.

Bọn giặc thấy hoả lực của ta lắng đi vội lao vào lôi xác đồng bọn chạy ra xa. Chúng xếp những xác chết thành hàng lối như một đội hình thẳng hàng trên con đường phía trước thị trấn. Quan sát hành động của chúng, các chiến sĩ trên trận ai cũng ngạc nhiên thắc mắc, không hiểu vì sao. Họ nhao nhao gọi hỏi nhau:

- Chúng nó định làm cái gì vậy?

Từ nãy đến giờ đại đội trưởng Bổn vẫn chú ý quan sát địch. Nghe mọi người hỏi, anh thủng thẳng bảo:

- Chắc bọn chúng quyết tâm tiến vào thị trấn Sóc Giang bằng con đường của những xác chết đấy! Chúng nó sẽ được toại nguyện!

Các đơn vị của trung đoàn cũng bắt đầu rút lui lên dãy núi mà tiểu đoàn 3 chúng tôi đang đứng chân. Cơ quan hậu cứ của trung đoàn bộ bị bọn địch đánh tập hậu. Chính uỷ trung đoàn, thiếu tá Nguyễn Đệ đã chỉ huy bộ đội cố thủ trong hang suốt ba ngày. Khi bọn địch chiếm được cửa hang, chúng đã dùng cả tấn thuốc nổ đánh sập cửa hang, chôn sống hơn chục cán bộ, chiến sĩ ta trong đó. Nghe tin này chúng tôi ai cũng rất đau xót, căm thù quân giặc.

 

Được giao nhiệm vụ dẫn tiểu đội đi đón đội hình của trung đoàn bộ rút lui lên Lũng Mật, tôi thấp thỏm cả buổi chiều. Không biết ai còn sống, ai đã hy sinh. Tôi quen thân rất nhiều anh em trên cơ quan trung đoàn bộ. Trời chưa tối, ăn vội nắm cơm, anh Thọ, trợ lý tham mưu tiểu đoàn đã gọi bộ phận đi đón cơ quan trung đoàn bộ lên đường. Anh dẫn chúng tôi tụt xuống núi. Theo hiệp đồng, chúng tôi sẽ chờ ở khu vực Mỏ Nước, chân núi đá. Sương mù bắt đầu buông xuống, không còn nhìn rõ khu núi đất và điểm cao 505 mà bọn địch đang phòng ngự nữa. Bộ phận cơ quan trung đoàn bộ sẽ lợi dụng đêm tối và sương mù dày đặc cắt qua dãy núi đất phía nam cao điểm 505, vượt qua con đường xuôi Mỏ Sắt và cánh đồng hẹp sang dãy núi đá.

Chúng tôi ém quân tại khu vực Mỏ Nước chân núi đá phía bên này cánh đồng. Bộ đội ẩn nấp sau các mô đá nhấp nhô không để bọn địch đang đi lại trên con đường đất bên kia cánh đồng phát hiện, và cũng tránh đạn pháo địch thỉnh thoảng lại bắn hú hoạ từ cao điểm 505 sang sườn núi đá.

Nhìn những ánh đèn và tiếng gầm rú của các phương tiện xe máy của địch chúng tôi lo lắm. Không biết các cán bộ, chiến sĩ cơ quan trung đoàn bộ có vượt qua đường an toàn không. Càng về khuya, sương càng lạnh. Con đường bên kia cánh đồng bọn địch đi lại thưa hơn. Chúng tôi căng mắt quan sát và dỏng tai lên nghe từng động tĩnh từ phía bên kia con đường đất. Không nói ra nhưng ai cũng thấy bồn chồn, lo lắng. Có lẽ đã sang ngày hôm sau. Có tiếng gà xao xác gáy. Đang sốt ruột căng mắt ra quan sát thì trợ lý Thọ lần đến chỗ tôi thì thào thông báo:

- Có tín hiệu bắt liên lạc rồi! Ông chuẩn bị cho anh em đón và giúp khiêng cáng thương binh, mang vác giúp trang bị nhé!

- Vâng! Anh cứ yên tâm, tôi bố trí đâu vào đó rồi.

Những bóng người lờ mờ hiện ra trong sương. Chúng tôi rời các mô đá ào ra. Không có thương binh nặng phải khiêng cáng, chỉ có một số thương binh nhẹ còn đi được. Các chiến sĩ đi đón dìu thương binh, dẫn các cán bộ trung đoàn lẩn vào ngay khe núi, khuất sau những gộp đá to. Chợt nhìn thấy một bóng người nhỏ bé có vẻ lật bật đi cuối đội hình, tôi khẽ hỏi:

- Đồng chí nào chậm chạp thế! Nhanh lên. Nó bắn pháo sang bây giờ!

- Em... em... là... Ôi! Ai như anh Hà đấy phải không ạ?

Tôi cũng đã nhận ra người quen. Tôi liền chạy đến lập bập hỏi:

- Mai... Mai hả!

- Vâng, là em đây anh ơi!

Một ánh lửa đề-pa của pháo địch sáng loé lên. Tôi vội kéo Mai vào phía sau gộp đá. Tôi đưa tay gỡ cái ba lô Mai đang đeo để mang giúp em. Tay tôi chạm và bờ vai tròn của cô gái. Mai để tôi mang giúp cái ba lô của mình. Tôi không giấu nổi niềm vui:

- Gặp em rồi! Mừng quá...

- Em cũng mừng... nhưng... hu hu... chị... chị... Nhung hy sinh rồi anh ơi...

Tôi lặng người đi khi nghe tin Nhung hy sinh. Tôi và Nhung cùng quê, cùng nhập ngũ, lại cùng ở đơn vị với nhau kể từ ngày vào bộ đội đến giờ. Nhung là văn thư của trung đoàn. Thỉnh thoảng lên trung đoàn bộ công tác, tôi vẫn ghé thăm Nhung. Nhất là từ khi Mai về cùng bộ phận với Nhung.

Mai vẫn tự nhận là em gái tôi. Mai quê ở Yên Phong, Hà Bắc. Tôi quen Mai từ ngày em nhập ngũ. Đó là đầu năm 1978, khi ấy tôi còn ở cơ quan trung đoàn bộ. Tôi được đi cùng các cán bộ đại đội thông tin về Hà Bắc tuyển quân. Đơn vị tôi nhận tân binh ở huyện Yên Phong. Trong số các chiến sĩ nam nữ sẽ biên chế về cơ quan trung đoàn bộ tôi chú ý đến một cô bé nhỏ có khuôn mặt trái xoan và đôi mắt rất sáng. Nhận quân trang mới, mặc dù cô bé này đã phải xắn lên một gấu, ống quần vẫn dài quét đất. Tôi trêu:

- Hay là cho em về nhà để mẹ cắt bớt nửa ống quần đi cho vừa.

- Đừng coi thường nhé! Vào bộ đội vài hôm là em sẽ lớn thôi!

Cô bé láu lỉnh cự lại. Lúc giục mọi người lên xe để hành quân về đơn vị, tôi thấy cô bé này đang đứng với một chị phụ nữ còn rất trẻ. Nhìn hai người rất giống nhau, tôi đoán là hai chị em. Tôi bảo:

- Đồng chí nữ tân binh thôi khóc nhè, chùi mũi rồi chào chị đi để còn lên đường về đơn vị nào!

Cô bé trợn mắt:

- Đây là mẹ em chứ!

Tôi lúng túng vì sự nhầm lẫn. Mẹ cô gái cười dặn:

- Nhờ chú quan tâm giúp đỡ em Mai với nhé! Tính nó còn trẻ con lắm...

Mai nũng nịu giật giật tay mẹ. Hai mẹ con cùng lau mắt khi chia tay nhau.

Từ đó tôi và Mai thân nhau. Mỗi lần gặp nhau Mai thường hay "đe" tôi: "Phải luôn nhớ giúp đỡ em Mai! Anh đã hứa với mẹ rồi đấy nhé!". Hết thời gian huấn luyện chiến sĩ mới, Mai được điều động về ban hành chính trung đoàn, cùng bộ phận văn thư bảo mật của Nhung.

Trung đoàn hành quân lên tuyến trước, các tiểu đoàn đóng quân cách xa trung đoàn bộ. Mỗi lần có việc lên trung đoàn tôi đều tạt qua thăm Mai. Gặp nhau, Mai khoe đủ chuyện. Nhất là chuyện quê hương. Mai vẫn bảo: "Khi nào ra quân anh về thăm quê em vào dịp đầu mùa Xuân, em sẽ đưa anh đi hội Lim!".

 

Từ khi cơ quan trung đoàn bộ rút lui lên Lũng Mật, tình hình lương thực, nước uống càng thêm khó khăn. Chúng tôi phải vừa củng cố trận địa phòng ngự vừa tổ chức đột nhập xuống chỗ bọn địch đã chiếm để tìm kiếm lương thực, lấy nước uống. Một đêm, đơn vị tổ chức một bộ phận bí mật xuống bản Nà Liền tìm lương thực. Mai và một số anh chị em cơ quan trung đoàn cũng cùng đi. Trăng đêm mờ đục bởi mây mù dày đặc. Chúng tôi tổ chức đội hình thành từng tốp nhỏ đi cách nhau một đoạn đề phòng bị địch phục kích. Bản Nà Liền hoang tàn sau những trận pháo kích và đốt phá của bọn địch. Trong những căn nhà sập đổ, tìm được thứ gì chúng tôi lấy thứ nấy, gạo, ngô, đậu tương, lúa của đồng bào bó để trên gác bếp.

Lúc quay trở về, theo sự phân công của người chỉ huy chung, tôi lùi lại phía sau chờ mọi người lên hết dốc mới rút theo. Tôi ôm súng nép vào hòn đá to giữa suối cảnh giới. Mọi người vượt qua con suối nhỏ, bắt đầu leo lên dốc. Chờ một lát, ước chừng tất cả đã vượt qua khỏi đoạn dốc trống trải, tôi mới khoác cái ba lô đựng ngô lên vai rời khỏi vị trí cảnh giới. Vừa định băng qua suối thì có tiếng gọi nho nhỏ ngay sau mô đá, sát chỗ tôi đang đứng:

- Anh Hà ơi!

Nhận ra tiếng người gọi, tôi quay lại:

- Mai hả! Sao tụt lại xa đội hình thế! Mau vượt lên dốc đi. Ba lô nặng quá đưa anh mang bớt cho!

- Không nặng đâu! Nhưng anh chờ em một tý nhé!

- Có việc gì vậy! Rút nhanh kẻo nó bắn pháo sang nguy hiểm lắm!

Tôi vừa nói vừa nhìn về phía thị trấn, nơi những căn nhà đang cháy rừng rực, thỉnh thoảng ánh lửa đầu nòng pháo của địch lại lóe lên. Mai thì thào:

- Anh... cảnh giới cho em... tắm một tý nhé! Đã mấy ngày rồi... trên núi làm gì có nước?

Đúng là trên núi đá vôi cằn cỗi nước uống còn chả đủ làm gì có nước mà tắm. Có vị trí tổ chức việc phòng ngự rất tốt, dễ đánh chặn đánh bọn địch tấn công lên núi nhưng mạch nước cạn mất đơn vị đành phải rút đi chỗ khác.

Nghe Mai nói vậy, tôi gàn:

- Nước suối lạnh lắm. Đi thôi em!

- Mặc kệ!

Mai nói và trút hết quần áo, để trên mô đá rồi lội xuống suối ngay sát chỗ tôi đang đứng. Bất ngờ mặt trăng ló ra chỗ mây thưa. Cơ thể ngọc ngà của Mai lồ lộ dưới ánh trăng. Mai đưa hai bàn tay bưng lấy ngực rồi từ từ dìm người xuống dòng nước lạnh. Ánh trăng lấp loá trên đôi vai trần của em. Một lát sau Mai bước lên đứng cạnh tôi lặng lẽ mặc quần áo. Xong xuôi, Mai khẽ hích nhẹ vào vai tôi:

- Chúng mình đi thôi!

Tôi vẫn chưa hết bàng hoàng trước vẻ đẹp thanh khiết, tròn đầy của cô gái giữa một đêm chiến tranh nơi góc rừng biên giới. Tiếng súng bên kia cánh đồng bỗng rộ lên. Tôi kéo Mai hối hả vượt qua khoảng dốc trống trải, lẩn nhanh vào sau những mô đá nhấp nhô như hình người đang đứng im phăng phắc trên sườn núi.

Tôi và Mai lần theo lối mòn ngược lên đỉnh núi. Ánh trăng tuy phải xuyên qua làn sương mù dày đặc nhưng vẫn soi rất rõ con đường ngược dốc nên chúng tôi đi không đến nỗi khó khăn lắm. Chỉ có điều là Mai sức yếu, lại chưa quen leo dốc núi cao gần như dựng đứng nên em đi rất chậm. Cứ đi được vài bước tôi lại phải dừng lại đợi. Cái ba lô của Mai chỉ có hơn chục bắp ngô lấy được ở bản và vài thứ nhẹ tênh nhưng em kêu mỏi vai. Tôi phải chuyển dần các thứ của em sang ba lô của tôi. Lên đến đỉnh dốc thì Mai chỉ còn đeo độc một khẩu súng trên vai.

Về đến gần vị trí trú quân thì Mai giữ tôi lại và bảo:

- Sắp sáng rồi! Chúng mình vào chỗ nào ngồi với nhau một lát. Ngày mai bộ phận của chúng em sẽ rút lui sang Nguyên Bình trước rồi. Từ hôm gặp nhau đến giờ, anh em mình chưa ngồi nói chuyện với nhau lần nào!

Tôi và Mai tạt vào một hẻm núi đá gần bên lối đi. Chúng tôi cùng ngồi dựa lưng vào một hòn đá lớn. Đang thì thầm kể đủ thứ chuyện thì Mai chợt kêu lên:

- Anh ơi! Em lạnh quá!

- Đã bảo là nước lạnh lắm lại không nghe! Khéo mà bị nhiễm lạnh, cảm ốm ra trong lúc này thì nguy.

Tôi vừa càu nhàu vừa quờ chiếc ba lô của mình tìm cái vỏ chăn choàng lên vai Mai. Mai quấn chặt cái vỏ chăn ngồi thu lu trông nhỏ bé và yếu ớt quá. Hình như Mai chưa hết lạnh, em nói giọng run run:

- Vẫn lạnh lắm! Anh... anh... ôm em đi cho ấm!

Thấy tôi lúng túng chần chừ, Mai giục:

- Ôm em thật chặt vào... đi anh...

Tôi lúng túng ngồi sát lại gần Mai. Mai mở cái vỏ chăn đang quấn quanh người cho tôi cùng đắp. Rụt rè một lúc tôi mới dám vòng tay trái luồn qua lưng Mai ôm lấy bờ vai em. Tôi hơi bất ngờ vì Mai không lạnh như em đã nói. Người Mai nóng rực.

Mai ngả đầu vào vai tôi. Em nói, giọng buồn buồn:

- Chiến tranh ác liệt quá! Bao nhiêu người ngã xuống rồi! Hôm trước, khi địch tập kích vào hang giữa lúc em đang đi lấy nước nên còn sống. Bọn chúng đánh sập cửa hang. Cứ nghĩ đến chuyện chị Nhung và mọi người vẫn còn sống mà bị đá bít mất cửa hang không ra được, chết đói, chết khát trong đó là em lại muốn khóc.

Vai Mai rung rung. Tôi biết em đang cố nén để khỏi bật ra tiếng khóc. Tôi cũng không biết nói câu gì để an ủi Mai bây giờ. Mai lại thủ thỉ:

- Em vẫn nhớ hôm trước anh và anh Lâm lên trung đoàn công tác đến chỗ em chơi. Em hứa là bao giờ chúng mình ra quân em sẽ đưa các anh đi trẩy hội Lim...

- Nhất định rồi! Mùa Xuân sang năm chúng mình cùng về quê em đi hội Lim nhé?

- Nhưng mà... chiến tranh chả biết thế nào!

Nghe giọng nói Mai của sao mà buồn thế. Hai chúng tôi cùng im lặng hồi lâu. Mai vẫn ngoẹo đầu dựa vào vai tôi. Hơi thở của em nhè nhẹ phả vào cổ tôi âm ấm. Tôi nghĩ chắc Mai mệt quá đã ngủ thiếp đi. Chợt có một tiếng nổ khá lớn dưới thị trấn vọng lên. Mai hơi giật mình. Bàn tay em lần tìm bàn tay phải của tôi nắm chặt. Tôi thấy thương Mai quá. Con gái trong chiến tranh sao mà lẻ loi và khốn khổ đến thế. Mai vẫn giữ chặt tay tôi trong tay mình như sợ tôi đột nhiên biến mất. Bàn tay nhỏ nhắn của em như có lửa. Và thật bất ngờ, Mai kéo bàn tay tôi lên áp chặt vào khuôn ngực bên trái của mình. Tôi hốt hoảng khi nhận ra khuy ngực áo của Mai đã mở từ lúc nào. Bàn tay tôi chạm vào bầu ngực mịn màng, tròn trịa, ấm nóng của Mai. Tôi run cầm cập, định rụt tay lại nhưng Mai kéo giữ chắc bàn tay tôi áp vào ngực mình. Mai cứ giữ mãi bàn tay tôi như thế. Khi định thần, bình tĩnh lại, tôi cảm nhận được trong lòng bàn tay của mình con tim nhỏ bé của Mai đang đập nhoi nhói.

Hai chúng tôi ngủ thiếp đi vì quá mệt mỏi sau bao ngày gian khổ, ác liệt. Khi tôi sực tỉnh thì trời đã sáng bạch. Mai vẫn ngủ rất ngon. Bàn tay em giữ tay tôi hơi lỏng ra. Tôi khẽ lựa rút bàn tay ra khỏi ngực Mai. Tôi run lên khi lần đầu nhìn thấy bầu vú tròn vo, trắng hồng của người trinh nữ. Trên đó còn in hằn dấu bàn tay tôi đã giữ chặt suốt đêm qua.

Một cơn gió bắc ào vào thung lũng. Cái lạnh thốc vào hẻm núi làm Mai bừng tỉnh. Em ngước nhìn vào mắt tôi rồi nhìn xuống ngực mình. Đoạn em khẽ khàng gài lại khuy áo. Đến lúc chúng tôi phải về đơn vị. Mai ôm chặt lấy tôi như không muốn rời.

 

Tối hôm ấy, cơ quan trung đoàn bộ rút đi. Hai ngày sau tôi nhận được một tin đau xót là Mai và một số chiến sĩ đã hy sinh trong đêm vượt vây tại huyện Thông Nông. Bọn địch phát hiện truy kích, Mai và mấy người nữa đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng chặn địch cho đơn vị rút lui. Tôi bần thần, ngơ ngác mất mấy ngày liền. Tôi không tin là sẽ không bao giờ còn được gặp lại Mai nữa. Nhớ đến Mai từ lần gặp đầu tiên em đứng bên mẹ hôm nhập ngũ và nghĩ về cái chết anh dũng của em, tôi viết tặng Mai bài thơ "Tiếng gọi".

 

Tiếng gọi

Trước lúc hy sinh em cố gọi: "Mẹ ơi!"

Tiếng gọi chìm trong tiếng súng.

Tiếng gọi tắt nửa trên môi.

Người em gái tuổi chớm đôi mươi

Chưa một lần hò hẹn

Chưa biết đến nụ hôn

Em mang cả trinh nguyên về với đất.

Trái tim em đạn thù găm nát

Nỗi đau từ đó vỡ ra,

Tình yêu từ đó vỡ oà

Em gửi lại cho những người ở lại.

Chúng tôi đứng sát bên nhau

Nòng súng vươn cao lặng lẽ cúi đầu

Phút cuối cùng tiễn đưa người em gái.

Đặt một cành lá xanh

Trên nấm mộ gió mưa tê tái

Tôi chợt nghe như em vẫn còn gọi mãi:

"Mẹ... mẹ ơi!".

 

Cuối tháng bảy năm ấy, tôi và Lâm có quyết định về tập trung tại trường văn hoá của quân khu để ôn thi đại học. Sau trận đánh nhử địch vào bãi mìn ở mỏm Đầu Bò, Lâm chạy thoát được về phía nam điểm cao 505. Gặp một đại đội của tiểu đoàn 2, Lâm đã theo đơn vị này chiến đấu ở mạn Cao Bình, Hoà An. Sau chiến tranh, Lâm tìm trở về đơn vị cũ.

Trước khi rời Cao Bằng về xuôi, tôi và Lâm đến thăm nơi Mai đang yên nghỉ.

Quỳ trước mộ của Mai, tôi đọc bài thơ thứ hai này cho em nghe.

 

Thôi em ở lại

Vậy thôi em ở lại,

Bọn anh ngày mai về xuôi.

Hôm lên chúng mình có ba người

Một mình em con gái

Quê em ở bến sông Cầu.

Em nói ngày ra quân năm sau

Đưa bọn anh về làng Lim đi hội

Nghe quan họ hát thâu đêm...

Thế mà bây giờ chỉ một mình em

Ở lại đây với núi rừng biên giới.

Trận đánh ấy vô cùng dữ dội

Giữa vòng vây quân giặc trùng trùng

Quả lựu đạn cuối cùng

Trên tay em chớp lửa

Quân thù kinh hoàng, tơi tả,

Em hoá thân vào trời đất bao la,

Nên ngày về xuôi chẳng còn đủ ba

Khuyết mất người em gái nhỏ.

Hai đứa anh ngồi bên nấm mộ

Bùi ngùi dặn em trước lúc chia tay:

"Thôi em ở lại đây

Với chập trùng núi đá

Với bạt ngàn hoa lau,

Để mùa Xuân trên bến sông Cầu

Thiếu một người đội nón quai thao đi hội...".

 

Đọc xong, tôi liền châm lửa đốt tờ giấy chép bài thơ thay một nén nhang tưởng nhớ người liệt nữ. Bài thơ cháy bỏng trên tay tôi.

 

Đúng một năm sau, tôi về học ở Trường sĩ quan Chính trị tại Bắc Ninh. Lần đầu tiên đi Hội Lim, giữa dòng người trẩy hội đông nghẹt, tôi lại nhớ đến Mai. Tôi cứ nghĩ là em đang đưa tôi đi xem hội. Em vẫn ở đâu đó quanh đây, giấu khuôn mặt xinh đẹp sau vành nón nhỏ và sẽ bất ngờ xuất hiện ngay bên cạnh tôi với ánh mắt sáng long lanh, nụ cười tinh nghịch trên môi...

Và, tôi đã viết cho em bài thơ thứ ba này.

 

Hội Lim tôi lại đi tìm

Hội Lim tôi lại đi tìm

Mong sao gặp ánh mắt em hôm nào,

Trốn sau vành nón quai thao

Thoảng nghe tiếng gọi ngọt ngào: "Người ơi..."

Hội đông, người chạm vai người

Không em tôi vẫn lẻ loi một mình

Cô đơn khóm trúc đầu đình

Buồn trông liền chị, liền anh dập dìu

Đêm cho câu hát liêu xiêu

Tay nâng vạt áo bao nhiêu hẹn hò.

Riêng tôi mong sự bất ngờ

Biết đâu hội tự bao giờ đã tan...?.

Trọng Bảo Tiểu Thuyết Trong vòng Lửa Thực hiện ebook : Mọt Sách Bloog Trọng Bảo
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Trọng Bảo

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.