Trưa ngày thứ năm của cuộc chiến tranh thì trận địa tiền tiêu của tiểu đoàn là chốt cây đa do đại đội 1 phòng ngự bị thất thủ. Bọn địch đánh bật bộ đội ta xuống chân đồi. Số anh em cán bộ, chiến sĩ còn sống sót chạy thoát về phía sau được bổ sung cho đại đội 2 cũng đã bị tổn thất quá nhiều sau hai ngày chiến đấu bảo vệ thị trấn. Trận địa phòng ngự trên mỏm Đầu Bò của chúng tôi cũng được chi viện thêm một tiểu đội nữa chốt ở sườn phía đông mỏm núi.
Đúng như anh Bùi nhận định, chỉ chưa đầy hai mươi phút sau khi chọc thủng được trận địa phòng ngự của đại đội 1 những chiếc xe tăng đi đầu của bọn giặc đã ầm ầm tiến đến sát chân mỏm Đầu Bò. Bộ binh địch lúc nhúc đi sau. Anh Bùi bảo tôi:
- Chập liền mấy quả lựu đạn lại chờ xe tăng địch đến chân mỏm đá quẳng xuống xem nó có cháy không.
Tôi lập tức làm theo. Mấy quả lựu đạn ném trúng chiếc xe tăng đi đầu nổ tung nhưng chả bõ gãi ngứa cho nó. Tất cả tiểu đội tôi lập tức nổ súng. Bọn địch hơi khựng lại khi phát hiện ổ đề kháng ngay bên đường tiến quân. Các nòng pháo xe tăng lập tức quay ngang chĩa lên mỏm Đầu Bò. Bộ binh địch nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu. Đạn địch đủ các loại bắn tối tăm mặt mũi. Pháo trên xe tăng địch bắn thẳng khiến chúng tôi không thể ngóc đầu lên được. Sợ nhất là những đá núi bị trúng đạn vỡ ra văng lên vù vù hoặc cả tảng lăn tồng tộc từ đỉnh núi xuống. Nó mà lăn trúng người thì có mà nát nhừ xương thịt. Nấp trong hốc núi sau những mỏm đá lớn chúng tôi tiếp tục nổ súng. Đúng là chúng nó đông cũng có cái hay, chả cần ngắm bắn không trúng thằng này thì sẽ trúng thằng khác.
Đúng như chúng tôi dự đoán, bọn giặc bắt đầu tràn vào sân trường cấp 1, áp sát chân núi để tiến đánh lên mỏm Đầu Bò. Anh Bùi gào to gọi chúng tôi: "Chuẩn bị rút lui nhé!". Chả ai trả lời anh. Cũng chẳng biết ai còn sống, ai đã chết rồi nữa. Tôi bò lại chỗ anh Bùi đang nằm. Đạn súng bộ binh của địch xiết đá vào chiu chíu, toé lửa. Một quả pháo nổ gần khiến tai tôi ù đặc. Tôi phải cố gắng lắm mới nghe được tiếng anh quát:
- Mày kiểm tra xem dây điện nối mấy quả mìn định hướng có còn không hay pháo bắn đứt mẹ nó hết rồi.
- Hình như vẫn còn anh ạ!
- Bảo chúng nó rút ngay đi! Bọn giặc đã lọt vào bãi mìn của ta rồi... ha... ha... ha...
Nghe anh Bùi nói tôi nhìn xuống sân trường cấp 1. Quả đúng như anh Bùi nói. Một cảnh tượng khủng khiếp của chiến tranh. Những chiếc xe tăng địch cái thì bị mìn bật tung xích, cái thì bốc cháy ngùn ngụt. Xác bộ binh địch nằm ngổn ngang khắp sân trường. Tiếng kêu khóc rống lên thảm thiết của những thằng bị thương. Mìn vẫn tiếp tục nổ. Bọn giặc càng hoảng loạn chạy lung tung thì mìn càng nổ nhiều. Tiếng nổ lan truyền không dứt. Trong đám khói lửa, đất đá tung lên mù mịt ở sân trường tôi nhìn thấy cả những trang giấy của học trò bay lên trắng cả một khoảnh trời chiều xám xịt.
- Rút... ngay... đi...
Anh Bùi lại quát. Lúc này tôi mới nhận ra chân trái của anh ướt đẫm máu. Tôi hốt hoảng:
- Anh bị thương rồi, để em băng cho...
- Không băng bó gì cả, mày theo anh em rút ngay về phía sau đi. Chỉ lát nữa thôi chúng nó khép vòng vây, bọc hậu là hết mẹ nó đường lui đấy.
- Nhưng còn anh...
- Mặc mẹ tao! Đi ngay đi, nhanh lên. - Anh gào lên vẻ tức giận khi thấy tôi lừng khừng có ý không chấp hành mệnh lệnh.
Tôi lăn xuống một khe đá. Trước khi lủi vào hẻm núi tôi còn thấy anh Bùi chúi mặt gằm xuống đất nằm im như một người đã chết. Một tay anh cầm quả pin, tay kia cầm một đầu dây điện nối với chùm mìn định hướng.
Vòng được ra phía sau mỏm Đầu Bò, khuất làn đạn và pháo của giặc nên tôi phóng nhanh về phía sở chỉ huy của tiểu đoàn. Đến chân dốc tôi gặp tiểu đội phó Tự và thằng Châu. Anh Tự hỏi ngay:
- Anh Bùi đâu rồi?
- Anh ấy bị thương nhưng không chịu rút vẫn còn đang ở trên mỏm Đầu Bò. Thế còn hướng của các anh thế nào, chúng nó đâu hết rồi?
- Thằng Minh chết rồi, còn thằng Lâm gọi mãi không thấy, chẳng biết nó có còn sống không. Riêng tiểu đội vận tải lên chi viện chỉ có hai người bị thương nhẹ đã rút lui an toàn về phía sau rồi. Tiểu đội ta, kể cả thằng Minh là còn ba người đang ở trên trận địa phòng ngự.
Tôi nhìn về hướng mỏm Đầu Bò. Tiếng đạn vẫn nổ dữ dội, khói lửa mịt mù không nhìn rõ cái gì. Chúng tôi nằm chờ đến sẩm tối, khi tiếng súng trên mỏm Đầu Bò đã lặng hẳn mà vẫn không thấy anh Bùi và thằng Lâm đâu. Anh Tự đành bảo chúng tôi rút về vị trí chỉ huy của tiểu đoàn là hang đá trên mỏm núi cạnh nhà bưu điện thị trấn.
Ngay tối hôm ấy, tiểu đoàn tôi được lệnh rút lui sang Nguyên Bình. Con đường dọc bờ suối xuôi Mỏ Đá đông đặc những xe pháo và bộ binh của địch. Chúng tôi phải đu người leo qua vách đá tai mèo dựng đứng để vượt lên Lũng Mật, cắt đường sang Nguyên Bình. Một cuộc rút lui vô cùng gian khổ và hy sinh không kém gì những trận đánh giữ chốt.
Tiểu đoàn trưởng Thêm vốn là một người nóng tính. Anh quê ở Nam Định, nhập ngũ từ những năm sáu mươi. Lăn lộn ở chiến trường miền Nam bao năm. Có người bảo ông này nóng tính, hay bạt tai lính nên mãi không được đề bạt. Khi tôi chuyển về tiểu đoàn 3 lúc còn làm đường ở Hà Giang thì anh đang là tiểu đoàn phó. Lên mặt trận biên giới anh được bổ nhiệm tiểu đoàn trưởng. Hôm đầu tiên xảy ra cuộc chiến, liên lạc bị gián đoạn liên tục vì đường dây bị pháo địch băm nát, máy vô tuyến sóng ngắn thì trục trặc do đặt trong hang đá sâu hoặc khuất núi cao, truyền đạt thì chậm lại í a í ới chả biết có chuẩn xác mệnh lệnh của chỉ huy không. Tôi nhớ hôm trước, khi thấy tôi đeo súng, vác cuộn dây chạy qua, anh quát:
- Bọn thông tin, thông tịt chúng mày liệu hồn đấy! Dây máy mà không thông, liên lạc bập bõm như hôm đầu tiên là chúng mày bịt mồm, bịt miệng chỉ huy đấy hiểu không?
- Vâng... vâng... chúng em sẽ cố gắng ạ!
Tôi đáp và định co giò phóng ngay ra ngoài cửa hang đỡ bị thủ trưởng quát tháo thì anh ngăn lại:
- Định đi đâu đấy hả! Muốn chết à, pháo nó đang bắn ầm ầm thế, để lát hẵng đi.
- Đường dây lên xê 1 hay bị đứt do đạn pháo bắn trúng. Em ra nằm ém sẵn chỗ đầu bản Nà Liền, khi nào có sự cố hỏng đường dây thì xử lý ngay cho kịp thời ạ!
- Chỗ ấy pháo nó bắn dày như mưa, mày ra đấy là toi mạng luôn đấy!
- Nhưng...
- Lại gần đây tao bảo...
Anh ngoắc tay. Tôi đặt cuộn dây xuống lại gần chỗ anh đang đứng ở bên cửa hang đá. Anh nhìn tôi một lúc rồi nói nhỏ như muốn chỉ để tôi nghe thấy:
- Đừng đi nữa, trận địa của xê 1 khả năng không giữ nổi nữa rồi, đường dây đứt thì thôi, không cần nối nữa. Có thể xê 1 phải rút khỏi chốt cây đa... về nói với tiểu đội chuẩn bị sẵn sàng, có thể sẽ phải tổ chức lập một điểm chốt chặn địch ở gần trường cấp 1 thị trấn.
Bây giờ thì anh Thêm đang ngồi trong hang chỉ huy cùng các cán bộ đại đội. Một tấm bản đồ địa hình trải xuống ngay nền hang đá. Các anh chỉ huy đang bàn kế hoạch rút lui khỏi thị trấn. Những cái đầu bù xù. Những khuôn mặt hốc hác vì gần cả tuần chiến đấu ác liệt, đấu trí, đấu sức với quân giặc và chứng kiến bao sự hy sinh rồi mất ngủ, đói khát. Với một đơn vị đã thiệt hại nặng, gần như kiệt sức chiến đấu với rất nhiều thương binh nặng việc tìm một phương án rút lui làm sao cho đỡ tổn thất thêm sinh lực quả là không đơn giản. Vị trí chỉ huy của tiểu đoàn đã bị lộ. Bọn địch bao vây chặt, hoả lực, pháo hạng nặng của chúng đã được đặt ở điểm cao 505 và mỏm đồi đồn công an vũ trang, ngay phía sau đội hình của tiểu đoàn. Chúng bắn không tiếc đạn vào cửa chính của hang đá sở chỉ huy tiểu đoàn.
Sau một lúc trao đổi, tiểu đoàn trưởng Thêm đi đến một quyết định táo bạo:
- Chúng ta sẽ rút theo hướng cửa hang chính, vượt qua bản Nà Nghiềng sau đó băng sang dãy núi đá vượt lên Lũng Mật.
Có nhiều tiếng xì xào. Bởi nếu rút lui theo hướng của hang chính thì chính là một cuộc phá vây, mở đường máu thực sự. Bọn địch đã chiếm bản Nà Nghiềng, xe tăng chúng nằm lổm ngổm khắp thị trấn Sóc Giang. Con đường rút lui của đơn vị sẽ đi qua giữa đội hình quân địch. Biết thế nhưng không ai có ý kiến phản đối. Bởi vì ai cũng hiểu đường rút qua cửa hang phụ rất an toàn vì bọn địch khó phát hiện được nhưng vách núi đá dựng đứng, người khoẻ leo xuống đã khó đừng nói là khênh cáng thương binh...
Tiểu đoàn trưởng Thêm bắt đầu trình bày kế hoạch cụ thể cho tất cả cán bộ, chiến sĩ đang có mặt trong hang nghe. Theo kế hoạch, các bộ phận sẽ chia nhỏ thành từng tổ ba bốn người, vũ khí, trang bị, khiêng cáng thương binh thật gọn gàng, để có thể trong vòng hai đến ba phút, là khoảng cách thời gian giữa hai đợt pháo địch bắn cầm canh vào cửa hang, phải vượt được một quãng đường gần ba trăm mét từ hang xuống đến con mương nước bên phải bản Nà Nghiềng, gần nhà bưu điện thị trấn. Tiểu đội trinh sát đi trước ém trước dọc theo con mương sẽ bảo vệ cho đội hình rút lui. Khi bị địch phát hiện thì từng tổ sẽ tổ chức đánh địch, vừa đánh vừa rút.
Tôi hiểu, việc chia nhỏ ra như thế nếu bị trúng đạn pháo hoặc quân địch phát hiện truy kích thì tổn thất sẽ ít hơn.
Tôi được tiểu đoàn trưởng chỉ định làm tiểu đội trưởng tiểu đội hữu tuyến. Anh Tự tiểu đội phó được giao phụ trách một trung đội sang chi viện cho xê 2 bảo vệ trận địa phòng ngự chặn con đường vào thị trấn, chặn địch từ phía Đôn Chương đánh lên. Nói là trung đội nhưng thực sự bộ phận của anh ấy chỉ có mười bốn người cả thảy. Bộ phận do tôi phụ trách được lệnh đi trước đội hình rút lui của tiểu đoàn. Cùng đi với bộ phận mở đường của chúng tôi có một chiến sĩ trinh sát nắm tình hình địch, hai chiến sĩ công binh để phát hiện mìn, xử lý vật cản. Chỉ huy chung là thượng sĩ Thọ, trợ lý tham mưu tiểu đoàn.
Đêm đã về khuya. Trời lạnh buốt da, buốt thịt. Chúng tôi tranh thủ gặm nắm cơm đã khô cong cho đỡ đói chờ lệnh xuất phát. Trợ lý tham mưu Thọ nhìn đồng hồ. Đã gần một giờ sáng. Đợt pháo và DKZ của bọn địch bắn vào cửa hang vừa dứt anh hạ lệnh:
- Xuất phát...
Chúng tôi lao ra ngoài cửa hang. Đá vôi ở ngoài của hang bị pháo băm vụn nghiền nát, thậm chí bị sức nóng của lửa đạn nung thành vôi khiến chúng tôi không thể bước đi như bình thường được. Tất cả liền ngồi bệt xuống tụt xuôi dốc như trẻ con tụt máng trượt trong công viên. Khi chúng tôi đến được đầu nhà bưu điện thị trấn thì pháo địch bắt đầu bắn loạt tiếp theo. Tất cả nhảy ào xuống mương nước. Quên cả cái giá lạnh, chúng tôi dìm ngập người trong mương nước toài về phía bản Nà Nghiềng. Con đường phía trên con mương bọn địch đi lại lố nhố. May mà lòng mương sâu đến hai mét so với mặt đường, nước lại chảy ào ào, lau lách rậm rạp nên bọn địch không phát hiện được.
Đến cuối bản Nà Nghiềng tốp đi đầu của chúng tôi dừng lại lập thành một điểm chốt sẵn sàng đánh địch và chờ để đón các bộ phận tiếp theo rút qua. Tôi áp ngực vào bờ mương cho đỡ rét vừa canh chừng con đường từ bản ra vừa hồi hộp nhẩm đếm các tốp rút qua chỗ mình. Mười ba đợt tất cả. Vậy thể là đủ đội hình của tiểu đoàn bộ cùng số cán bộ, chiến sĩ đại đội 1 còn sống tập kết về trong hang chỉ huy. Không ngờ, cuộc rút lui của chúng tôi lại an toàn tuyệt đối, bọn địch không phát hiện được khi gần một trăm người bò qua dưới chân chúng. Có lẽ vì chúng không ngờ ta lại liều lĩnh, táo bạo đến thế.
Trời đã gần sáng. Khi bộ phận cuối cùng đã rút qua, tôi cùng anh em trong tiểu đội rút theo luôn. Chúng tôi băng qua cánh đồng đang cày dở. Những luống cày căn ngang rất khó chạy. Đến giữa đồng, tôi gặp mấy thương binh nhẹ đang dìu nhau đi. Tôi dừng lại giục:
- Nhanh nhanh lên! Trời sắp sáng rồi. Cố gắng đến chân dãy núi bên kia hãy dừng lại nghỉ kẻo bọn địch phát hiện ra đấy!
- Vâng... vâng...
Vừa định chạy đi cho kịp anh em trong tiểu đội nhưng thấy mấy thương binh dìu nhau tập tễnh mãi không qua được một bờ ruộng cao, tôi lại quay lại đỡ từng người vượt qua.
Khi chúng tôi đến được chân dãy núi thì trời đã tang tảng sáng. Phía cửa hang chỉ huy tiểu đoàn đột nhiên có một tiếng nổ dữ dội. Ánh lửa bùng lên sáng rực giữa thị trấn đổ nát. Sau này tôi mới biết bọn địch đã dùng một khối thuốc nổ rất lớn đánh sập cả một mảng núi đá lấp kín cửa hang chỉ huy tiểu đoàn, nơi mà chúng tôi vừa mới rút đi.
Đơn vị chúng tôi rút lui lên Lũng Mật, đây là trận địa của đại đội 4 hoả lực. Lũng Mật là một thung lũng nhỏ nằm ở lưng chừng dãy núi đá cao vút kéo dài từ biên giới xuống tận Mỏ Sắt. Dãy núi này cũng là ranh giới giữa hai huyện Hà Quảng và huyện Thông Nông. Từ Lũng Mật, nơi đại đội 4 đặt trận địa cối 82 và pháo 12ly7 có thể nhìn rất rõ trận địa gốc đa của đại đội 1, khu trường cấp 1 và vị trí hang chỉ huy của tiểu đoàn. Bọn địch chưa thể tiến đánh ngay lên khu vực Lũng Mật và truy kích bộ đội ta rút lui lên trên dãy núi đá cao chập trùng.
Đại đội đội 4 đã bắn gần hết cơ số đạn cối 82 để chi viện cho các đơn vị chốt giữ ở thị trấn và khu vực núi đất sát cửa khẩu. Trận địa đại đội 4 chỉ trúng một vài quả pháo của địch nên không bị tổn thất lớn. Ba chiến sĩ bị thương nhẹ vẫn tiếp tục tham gia chiến đấu. Khi các đơn vị của tiểu đoàn rút lui lên Lũng Mật, đại đội 4 cử một số cán bộ, chiến sĩ xuống tận lưng chừng núi giúp khiêng cáng thương binh, dẫn đường đưa các bộ phận vào các hang hốc, khe núi ẩn nấp.
Tiểu đội tôi chỉ còn năm người. Tôi và anh em chui vào một cái hốc sát ngay vách núi. Từ vị trí này, khi mây mù tan, chúng tôi có thể quan sát toàn bộ thị trấn Sóc Giang và con đường từ cửa khẩu Bình Mã chạy xuôi phía Mỏ Sắt.
Tôi và anh em ổn định chỗ ém quân, ngụy trang cẩn thận. Hai mắt tôi ríu lại vì cả tuần mất ngủ. Vừa ngả lưng nằm xuống tấm tăng định chợp mắt một lát thì có tiếng gọi:
- Hà ơi! Vẫn còn sống hả?
Tôi nhỏm dậy. Ai gọi vậy. Tôi dụi mắt và nhận ngay ra người đang đứng nhe răng cười trước mặt mình. Đó là trung uý Bàng, đại đội trưởng đại đội 4. Anh xô đến ôm riết lấy tôi chặt quá khiến tôi phải kêu lên:
- Gãy bố xương của em bây giờ! Đánh nhau không chết, chẳng bị thương, gặp anh khéo lại bị tai nạn đấy.
Anh Bàng cười hề hề rồi buông tôi ra. Tôi thấy trong mắt anh có nước. Anh lấy từ trong cái túi đeo bên hông ra một cái gói to bằng đầu gối đưa cho chúng tôi bảo:
- Ăn đi! Cơm nếp đấy. Có cả mấy miếng thịt gà ở trong ấy!
- Chà các bố ở trên này sang quá nhỉ! Bọn em ở dưới thị trấn đánh nhau ầm ĩ cả ngày, được một nắm cơm bằng nắm tay trẻ con là đã sướng lắm rồi...
- Còn ít gạo nếp từ hôm tết. Hôm nay tiểu đoàn rút lên tao cho nấu "chiêu đãi" anh em. Mà chả nhiều đâu, mỗi người một miếng cho thơm thôi. Gạo cũng đã cạn rồi, nước thì càng hiếm. Cả trăm lính với dân và thanh niên xung phong kéo lên đây thế này chả biết rồi sẽ trụ được mấy bữa.
Anh Bàng rút thêm từ trong túi ra một cái đùi gà đưa cho tôi và nháy mắt bảo:
- Cho riêng mày đấy!
Tôi cầm cái đùi gà bóc xé một miếng rồi đưa cho thằng Quý ngồi bên cạnh. Đoạn tôi hỏi anh Bàng:
- Tình hình các anh trên này thế nào?
- Trên này anh em cơ bản là an toàn. Chỉ buồn là đạn ít quá. Thấy các đơn vị dưới ấy bị bọn chúng tấn công dữ dội, thương anh em đồng đội lắm nhưng không đủ đạn mà bắn chi viện. Hôm đầu thấy chúng nó tràn sang đông như kiến cỏ tao lệnh cho các khẩu đội cối 82 bắn liên tục nên gần cạn mẹ nó mất cả cơ số đạn dự trữ. Hôm qua, nó đánh lên chốt xê 1, chốt Đầu Bò và trận địa của xê 2 cũng chỉ bắn chi viện cầm chừng được thôi. Tiếc quá! Giá mà có nhiều đạn thì bọn chúng biết tay.
Đang nói vẻ hào hứng, chợt anh Bàng dừng lại. Anh nhìn chúng tôi rồi nói vẻ ngậm ngùi:
- Tao ở trên núi dùng ống nhòm thấy hết trận địa của các đơn vị. Thấy cả xe tăng và bộ binh của chúng tấn công trận địa của ta, nhìn rõ bộ đội ta đã chiến đấu như thế nào, thấy cả cảnh các chiến sĩ trúng đạn giẫy giụa trước khi chết và đau nhất là thấy rõ cả cảnh bọn nó bắn giết, đâm chết thương binh của ta như thế nào. Tao cứ tưởng là bọn mày đều chết hết cả rồi, may mà mày...
- Cũng nhiều người hy sinh rồi anh ạ!
- Chỉ thương mấy thằng còn trẻ măng, vợ con chưa có, chưa biết mùi đời là gì...
- Chiến tranh thì biết làm thế nào được...
Tôi cũng thấy xao lòng khi chợt nhớ về những thằng bạn vừa mấy hôm trước còn cùng ngồi nghêu ngao cười đùa với nhau trên bờ công sự, ước mong ngày trở về học hành, dựng nghiệp. Thế mà bây giờ mấy đứa chúng nó đã tan biến vào trời đất, mất hút đi đằng nào rồi. Anh Bàng ngồi chơi một lúc thì đứng dậy:
- Thôi chúng mày tranh thủ ngủ một lúc lấy sức. Chắc cũng chỉ nay mai là chúng nó sẽ tiến đánh lên đây thôi. Càng ngày sẽ càng khó khăn, ác liệt đấy. Bây giờ tao phải đi gặp tiểu đoàn trưởng nhận mệnh lệnh mới đây!
Anh Bàng đi rồi, thằng Quý thắc mắc hỏi tôi:
- Tại sao anh Bàng lại quan tâm đến tiểu đội ta thế anh nhỉ. Chắc phải có lý do gì chứ... - Nó nhíu mày: - Anh ấy và anh cũng chả phải là đồng hương, đồng khói gì. Anh ấy quê Cao Bằng, anh quê tận Vĩnh Phú cơ mà?
- Ăn đi rồi mà tranh thủ ngủ. Thấy chúng mình vừa ở nơi ác liệt còn sống sót trở về, tiện đường lên gặp chỉ huy tiểu đoàn nên anh ấy ghé vào thăm thôi mà.
Tôi nói vậy để Quý yên tâm. Thực ra chỉ có tôi mới hiểu vì sao anh Bàng lại quan tâm lo lắng cho mình đến thế.
Chuyện xảy trước chiến tranh. Buổi tối hôm đó tôi làm nhiệm vụ trực máy điện thoại tại vị trí chỉ huy của tiểu đoàn. Đang tranh thủ viết một lá thư gửi cho bố mẹ để ngày mai có người trong trung đội về xuôi mua hạt rau giống nhờ đem về tận nhà luôn thì thượng uý Hoà, chính trị viên phó tiểu đoàn từ đâu hớt hải chạy về lệnh:
- Cậu đem theo vũ khí theo tôi đi làm nhiệm vụ khẩn cấp ngay!
- Báo động chiến đấu ạ?
- Không hỏi! Đi ngay, khẩn trương lên!
Tôi vội buông bút, xách khẩu AK, vớ cái đèn pin đi theo chính trị viên phó Hoà. Ra tới đường tôi thấy có mấy người nữa đang đứng đợi. Đó là số cán bộ các bộ phận thuộc cơ quan tiểu đoàn bộ. Chúng tôi chạy gằn theo chính trị viên phó tiến về phía bản Táp Ná. Đây là một bản nhỏ hơn chục nóc nhà sàn nằm rải rác sát chân núi đá, gần con đường mòn ngược lên Lũng Mật. Từ sau tết nguyên đán, tình hình địch căng thẳng nên bà con dân bản đều đi sơ tán hết. Ban ngày trẻ con, người già cũng không được về bản, chỉ có những người còn sức lao động về chăm sóc lợn gà và làm ruộng, vườn. Ban đêm trong bản thì chỉ còn lại lực lượng dân quân làm nhiệm vụ tuần tra canh gác bảo vệ bản và sẵn sàng chi viện cho bộ đội vận chuyển đạn dược, đem cơm lên trận địa và khênh cáng thương binh về tuyến sau khi chiến tranh nổ ra.
Gió bắc thổi ù ù qua thung lũng. Lạnh quá khiến tôi chợt run lên. Chúng tôi lặng lẽ tiến về hướng một ngôi nhà sàn ở phía sau bản. Tôi thấy rất hồi hộp, trống ngực đập mạnh. Mới đầu tôi cứ nghĩ là đi vây bắt bọn phản động, chỉ điểm, gián điệp. Đến nơi mới biết chúng tôi đang đi làm "nhiệm vụ đặc biệt" là bắt "quả tang" một cán bộ đơn vị đang ngủ với con gái bản. Rõ chuyện nên khi vào đến sân nhà cô gái (cô bé này cũng là một dân quân), tôi kiếm cớ xin đứng dưới sân cảnh giới mà không leo lên sàn, ập vào nhà để bắt quả tang tại chỗ những kẻ "hủ hoá", sa đọa theo như mệnh lệnh của chính trị viên phó tiểu đoàn vừa thì thào phổ biến.
Chính trị viên phó Hoà và mấy cán bộ nhẹ nhàng áp sát cầu thang ngôi nhà sàn. Trong nhà có ánh đèn leo lét và hình như có tiếng người rì rầm, tiếng cười khúc khích. Khi mấy người đi bắt kẻ "hủ hoá" vừa bước lên cầu thang thì ánh đèn trong nhà vụt tắt. Chính trị viên phó vội nhảy lên đập cửa. Phải một lúc sau chủ nhà mới ra mở cửa. Đó là một cô gái còn rất trẻ. Những ánh đèn pin đồng loạt bật lên sáng rực. Đứng dưới sân tôi vẫn nhìn thấy rõ quần áo cô gái xộc xệch. Quả là một người con gái rất đẹp. Cô gái một tay giữ ngực áo, một tay giơ lên che mắt vì chói ánh đèn. Sau này tôi mới biết cô tên là Lệ và là tiểu đội trưởng tiểu đội dân quân của bản.
Đèn trong nhà được thắp lên. Ánh đèn pin soi sáng khắp nhà. Nghe bập bõm tiếng ông chính trị viên phó tiểu đoàn và mấy cán bộ trao đổi với nhau, tôi hiểu họ là họ đã phát hiện ra một đôi giày bộ đội để cạnh đôi dép của cô gái dưới chân giường. Có lẽ họ đang căn vặn cô gái. Giữa lúc đó, tôi chợt nghe tiếng động nhẹ trên mái ngói. Tôi bấm đèn pin dọi lên mái nhà. Qua ánh đèn, tôi thấy một người mình trần như nhộng đang ngồi thu lu trên mái. Tôi nhận ngay ra đó là trung uý Bàng, đại đội trưởng đại đội 4 hoả lực. Trung uý Bàng một tay bám vào cành cây mít sà xuống sát mái nhà, một tay ôm quần áo. Tôi vội tắt ngay đèn pin và hô to:
- Có... có người vừa chạy ra phía bờ suối rồi!
- Bắt... bắt... lấy...
Ông chính trị viên phó quát và cùng mấy cán bộ từ trong nhà lao ra. Họ nhảy lụp bụp từ trên sàn xuống đất soi đèn hô nhau đuổi ra hướng bờ suối. Tôi cũng vội co giò phóng theo. Vừa chạy, tôi vừa cố nén tiếng cười khùng khục trong cổ họng khi nghĩ đến cảnh anh Bàng đang trần như nhộng ngồi co ro trên nóc nhà hun hút gió lạnh. Tôi nghĩ, ông trung uý này khéo chẳng chết vì gái mà lại chết cóng vì rét mất. Cũng may mà lúc nãy anh ấy thính tai nghe thấy có tiếng động ở cầu thang nên kịp chui qua cửa sổ đu bám vào cành mít leo lên mái nhà.
Hôm sau, tôi được giao đi củng cố đường dây lên đài quan sát. Hoàn thành nhiệm vụ, tôi quay về đơn vị. Qua thị trấn thì đã quá trưa. Tôi đang ngó nghiêng ở dãy hàng quán lèo tèo gần cổng chợ tìm mua cái gì cho vào bụng đỡ đói vì cả buổi leo dốc kéo dây điện thoại thì có ai đó từ phía sau chộp lấy vai mình vặn một cái đau điếng. Tôi quay lại. Té ra là trung uý Bàng. Anh nhìn tôi chằm chằm một lúc rồi mới hỏi:
- Tối hôm qua... tại sao... tại sao ông lại cứu tôi?
Tôi cười cười bảo anh:
- Em chỉ cố cứu lấy một tình yêu thôi... hi... hi...
- Ông đúng là một người bạn tốt!
- Tốt gì! Chính trị viên phó tiểu đoàn mà biết chuyện em cố ý đánh lạc hướng trong khi đang "làm nhiệm vụ đặc biệt" thì em cũng toi luôn! Ông ấy đang rất cáu vì cuộc vây bắt tối hôm qua thất bại đấy...
- Hì... đúng thế! Thôi vào đây làm bát phở cho ấm bụng cái đã.
Anh kéo tôi vào quán phở và kêu ông chủ quán:
- Làm ngay hai bát loại đặc biệt, cho thêm nhiều nhiều thịt vào nhé!
Nhìn vẻ mặt hứng khởi của anh Bàng, tôi nháy nháy mắt rồi hỏi:
- Cái cô dân quân ấy thật là đẹp anh nhỉ?
- Đẹp và còn nóng bỏng, dữ dội nữa chứ... Hì, ăn đi!
- Lần sau anh nhớ phải thật cẩn thận đấy!
Anh Bàng gật gật đầu. Ánh mắt anh nhìn tôi vẻ biết ơn.
Từ đó anh rất quý tôi, luôn coi tôi như một người bạn. Mặc dù anh hơn tuổi tôi. Tôi cũng rất quý anh. Anh là lớp cán bộ trưởng thành từ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Quê anh ở Trùng Khánh, Cao Bằng. Anh có nhiều thành tích trong chiến đấu nhưng phải cái tính hay hoa lá cành, thấy gái là tít mắt lại nên con đường công danh hơi lận đận. Mà cũng lạ, con gái cứ nhìn thấy cái dáng to cao, đẹp trai của anh đã mê tít. Chuyện tình của anh khá nhiều. Nghe đâu anh từng yêu con gái một ông tham mưu phó quân khu. Nhưng rồi giữa hai người xuất hiện mâu thuẫn nên đã chia tay nhau. Ông cán bộ quân khu ấy rất căm anh vì anh đã lấy mất cái quý giá nhất của cô con gái cưng mà không chịu cưới. Có lẽ vì đó mà cái chỉ tiêu đi học Học viện Lục quân định dành cho anh bị tiêu luôn. Anh được điều động về làm cán bộ đơn vị đang làm nhiệm vụ ở tuyến trước.
Khi đã thân thiết với nhau rồi một hôm anh hỏi:
- Mày chưa biết con gái khỏa thân là thế nào phải không?
Tôi lắc đầu. Anh bảo:
- Hôm nào lên núi tao cho xem mấy cái ảnh con gái khỏa thân. Đẹp lắm! Nhưng phải hết sức bí mật nhé, lộ ra là chết cả lũ đấy. Lão chính trị viên phó mà biết ai tàng trữ văn hoá phẩm đồi trụy thì toi luôn. Hiểu không.
Tôi chưa kịp phản ứng gì thì anh như chợt nhớ ra dặn thêm:
- Nghe nói mày giỏi văn chương, chữ nghĩa. Hôm nào mày làm giúp tao một bài thơ để tao tặng cho em Lệ. Em ấy thích văn chương, hay đọc sách, rất mê thơ ca mà khoản này thì tao lại dốt đặc.
Tôi gật đầu đồng ý.
Mấy hôm sau, tôi đã viết xong cho anh Bàng một bài thơ tình yêu để anh đem tặng em Lệ xinh đẹp:
"Tình yêu từ quả táo của Thị Mầu
Từ ánh mắt Chí Phèo đêm trăng ấy
Tình yêu là ngọn lửa hồng bỏng cháy
Đã đốt thiêu bao nhiêu kiếp người
Tình yêu cũng là một trời tuyết rơi
Làm cho những cuộc đời băng giá lạnh.
Tình yêu còn là niềm tin, sức mạnh
Để những người vượt lên số phận tật nguyền
Nhưng tình yêu khiến bao kẻ cuồng điên
Biến thành thiêu thân trong phút chốc.
Tình yêu là cội nguồn hạnh phúc
Song cũng là khởi điểm của khổ đau.
Bao nhiêu kẻ chỉ biết yêu nhau
Mà không biết đang đi trên miệng vực,
Nhưng khi trong ta con tim rạo rực
Thì cần gì nghĩ lo hậu quả ngày mai...
Định nghĩa tình yêu vẫn mãi nối dài,
Mặc dù tình yêu ai mà chẳng biết?
Nhưng chắc chắn bạn sẽ như là người đã chết
Nếu trong lòng nguội lạnh một tình yêu...".
Đọc xong bài thơ, anh Bàng cứ xuýt xoa mãi:
- Hay quá! Mày đúng là dân văn chương, chữ nghĩa. Giá mà không có chiến tranh, được học hành đến nơi, đến chốn chắc chắn mày sẽ làm nên cơm cháo đấy. Nhất định em Lệ cũng sẽ thích bài thơ này cho mà xem.
Ngập ngừng một lát anh nói thêm:
- Này! Giá như mà lão chính trị viên phó tiểu đoàn đọc được bài thơ này nhỉ?
- Đọc được có mà ông ấy cạo trọc đầu em à!
- Hì... đúng thế!
Anh Bàng cười hì hì. Anh xiết chặt tay tôi rồi đi về hướng bản Táp Ná. Đôi chân của anh leo dốc trông cứ nhẹ lâng lâng, khẩu súng ngắn đập lạch xạch bên hông. Tôi mỉm cười nhìn theo một kẻ si tình cho đến lúc bóng anh khuất hẳn sau chỗ ngoặt trên con đường nhỏ chân núi.
Chưa có dịp gặp lại anh Bàng để hỏi anh xem em Lệ có thích bài thơ của tôi không thì chiến tranh nổ ra. Sau này tôi còn được biết là sáng hôm xảy ra chiến tranh khi súng nổ được một lúc anh Bàng mới từ dưới chân núi hối hả chạy lên trận địa. Trên người anh mặc độc một cái quần lót. Anh lao ngay vào vị trí chỉ huy đơn vị chiến đấu luôn...