Tôi và Lam cùng nhập ngũ, lại là người cùng làng. Lam kém tôi một tuổi. Nếu xét về họ hàng xa bắn "ba tầm súng đại bác" thì Lam còn phải gọi tôi là anh họ. Nhưng vì cùng lớn lên chung ngõ, học với nhau từ lớp một cho đến hết cấp ba nên chúng tôi cứ mày tao quen rồi. Khi cùng học phổ thông, Lam học môn toán rất giỏi. Nhiều lần nếu không có nó cho nhìn bài thì chỉ còn nước nộp giấy trắng. Tôi chỉ bực tính tình Lam nhút nhát, hay sợ ma. Ngày xưa ở làng quê không có điện. Đêm đến quanh năm ánh đèn dầu lù mù. Buổi tối ngồi học chúng tôi cũng chỉ có ánh sáng của những cái đèn dầu nhỏ như hạt đỗ. Đêm đến xóm làng âm u. Đường làng tối om. Tối nào học nhóm nếu tôi đi qua cổng không gọi thì Lam không dám đi. Con đường sang xóm bên với các bạn cùng nhóm phải đi qua một bãi tha ma chi chít mả cũ, mả mới có những con đom đóm to bằng hạt ngô bay chập chờn xanh lét, các vàng thằng Lam cũng chả dám một mình đi qua. Ban ngày vắng người nếu không có tôi đi cùng là nó phải đi vòng xa thêm mấy cây số để đến lớp.
Vào bộ đội tôi và thằng Lam vẫn ở cùng tiểu đội. Sau thời gian huấn luyện chiến sĩ mới, nhờ năng nổ, xông xáo, xung phong nhận các nhiệm vụ nên tôi được bổ nhiệm giữ chức vụ tiểu đội phó. Còn thằng Lam đã là quân nhân rồi mà mãi cũng không bớt được cái tính nhút nhát. Những ca gác đêm một mình một vị trí, hay đi chuyển công văn khẩn qua cánh rừng hoang vắng là nó rất ngại. Nhiều lần tôi phải xin đổi phiên gác cho nó, tránh bớt những thời điểm đêm khuya thanh vắng hay các vị trí đứng gác gần bãi tha ma hoặc chỗ ngôi miếu cổ cạnh doanh trại.
Khi đơn vị hành quân lên tuyến trước, tôi và Lam đều được biên chế vào tiểu đội thông tin hữu tuyến do anh Bùi làm tiểu đội trưởng.
Thằng Lam vẫn có ước mơ làm sinh viên đại học. Nó bảo tôi: "Khi nào ra quân nhất định sẽ thi vào đại học. Em sẽ học ngành nông nghiệp để tìm ra một giống lúa mới có năng suất thật cao phù hợp với vùng đất phèn chua, lầy thụt quê mình". Tôi bảo: "Mày chỉ viển vông, chiến tranh, đánh nhau đến nơi rồi còn học hành gì nữa! Vứt mẹ mấy cuốn sách đi mà đeo thêm vài cân gạo...". Thằng Lam im lặng không tranh cãi với tôi nữa. Nó và thằng Đan gặp nhau lúc nào là cũng thấy bàn về định luật Niu-tơn và bài toán của Ga-loa chưa giải được...
Tình hình biên giới căng thẳng, chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Mọi sự chuẩn bị cho cuộc chiến đều rất khẩn trương. Để phòng tình huống xấu xảy ra trong chiến đấu, mỗi người chúng tôi đều có một mã số riêng thêu trên nắp túi áo bên trái và in vào mảnh giấy nhỏ bằng ba đầu ngón tay ép plastic để trong túi quần, túi áo. Một hôm nhận quân trang chiến đấu gồm các loại tăng, võng, bi đông về, tiểu đội trưởng Bùi tập trung cả tiểu đội lại cấp phát cho mọi người. Còn một cuộn vải cuối cùng anh bảo:
- Đây là hai tấm vải dùng để khâm liệm, gói ghém liệt sĩ! Tiểu đội giao cho đồng chí Tự tiểu đội phó và đồng chí Lam mỗi người giữ một cái.
Nghe vậy cả tiểu đội đều lặng đi. Thằng Lam mặt tái mét, cắt không còn giọt máu. Tôi cũng hơi thảng thốt nhưng định thần được ngay. Chiến tranh là như vậy. Khi nó chưa nổ ra thì công tác chuẩn bị phải thật chu đáo, tỷ mỷ đến mức tối đa để người chiến sĩ khi vào trận có thể chiến đấu tốt nhất và xử lý tốt nhất mọi tình huống sẽ xảy ra.
Vừa nghe tiểu đội trưởng Bùi nói, thằng Lam chối đây đẩy:
- Em không... không giữ cái đấy đâu...
Nhìn mặt thằng Lam tái dại, đôi mắt lộ vẻ hoảng hốt và như sắp phát khóc tôi thấy thương nó quá.
Anh em khác trong tiểu đội cũng ngại phải giữ tấm vải liệm nên tìm cách lảng đi. Tôi ngần ngừ rồi nói:
- Thôi được! Nếu không ai muốn giữ thì tôi xin nhận cầm một tấm vải liệm.
Giọng tôi cũng hơi run run. Anh Bùi bảo:
- Đồng chí Tự, tiểu đội phó sẽ nhận quản lý một cái, cái còn lại giao cho đồng chí Hà.
Tôi nhận tấm vải. Tôi trải tấm vải liệm ra để gấp lại cho gọn. Đó là một tấm vải mỏng gần giống cái vỏ chăn đơn nhưng người ta chỉ may kín hai cạnh, để hở hai cạnh. Tấm vải có đính sẵn ba giải dây vải ở giữa và hai đầu. Khi dùng khâm liệm thì chỉ cần đặt xác người vào gấp lại, dùng ba giải dây may sẵn đó để bó buộc ngang lưng, buộc cổ và buộc chân, vừa nhanh vừa gọn.
Tôi nhét tấm vải liệm vào ba lô đeo về chỗ ở.
Từ lúc tôi mang cái ba lô về nhà ở, thằng Lam vội vàng ôm chăn chiếu chuyển ra một góc nhà sàn nằm. Lâu nay nó vẫn nằm cạnh tôi. Cũng từ ấy không bao giờ thấy nó lục ba lô của tôi tìm lương khô hay lấy kem đánh răng nữa.
Chiến tranh nổ ra. Những trận đánh vô cùng ác liệt. Quân địch bị tiêu diệt nhiều sinh lực nhưng đơn vị chúng tôi cũng bị nhiều tổn thất. Sau một tuần bị bao vây trong thị trấn Sóc Giang, tiểu đoàn chúng tôi gần cạn hết đạn dược, lương thực, nước uống, quân số bị tiêu hao. Đêm hôm trước khi xảy ra trận đánh ở mỏm Đầu Bò anh Bùi căn dặn chúng tôi:
- Ngày mai sau khi dụ bọn địch vào bãi mìn chúng ta sẽ rút đi. Nhớ là cố gắng đem hết súng đạn, lương thực. Cái gì không cần thiết thì bỏ lại vì khi đột phá vòng vây chúng ta sẽ phải vượt qua suối và leo lên một vách núi dựng đứng rất khó đi và nguy hiểm.
Chúng tôi khẩn trương chuẩn bị chiến đấu và chuẩn bị rút lui. Quần áo ngoài bộ đang mặc trên người thì thêm một bộ để thay đổi, chỉ đem theo tăng võng, chăn màn vứt bớt, hai cái khăn mặt, hai đôi tất vừa mới phát cũng vứt một, giữ một cho đỡ nặng. Giấy tờ, nhật ký, sổ sách ghi chép chúng tôi đốt hết đi để đề phòng khi phá vây bị bắt lọt vào tay bọn địch. Trong túi quần, túi áo, trong ba lô chỉ còn có những mảnh giấy ghi mã số riêng của từng người để lỡ ai hy sinh thì chôn theo đánh dấu mộ phần.
Nhưng sau trận đánh ở mỏm Đầu Bò anh Bùi ở lại chặn giặc cho chúng tôi rút đi. Sau trận huyết chiến ở hang chỉ huy tiểu đoàn phải rút chạy lên Lũng Mật, anh em tiểu đội phân tán mỗi người một đơn vị thì tôi và Lam vẫn cùng ở một bộ phận với nhau.
Còn nhớ đêm rút lui tôi được giao giao nhiệm vụ cùng trợ lý tham mưu Thọ chỉ huy bộ phận đi cuối cùng khoá đuôi đội hình, sẵn sàng lập thành một chốt đánh chặn địch truy kích cho đơn vị rút lui an toàn. Tôi dặn anh em trong bộ phận:
- Nhớ bám sát nhau! Lúc qua bản Nà Nghiềng phải hết sức nhẹ nhàng tránh gây tiếng động chó sủa, bọn địch phát hiện.
Tôi kéo tay thằng Lam khẽ dặn:
- Đi sát ngay sau tao nhé!
- Vâng! A... n... h... cứ... yên... tâm.
- Sao mày có vẻ run lập cập thế?
- Em thấy hơi sợ...
- Không việc gì đâu, đừng lo.
Tôi động viên thằng Lam. Suốt tuần vừa rồi nó được phân công trực máy điện thoại ở trong hang sở chỉ huy chưa phải trực tiếp đánh trận nào.
Đúng như chỉ huy tiểu đoàn đã tính toán. Đơn vị chúng tôi bí mật vượt qua vòng vây của địch một cách an toàn. Chúng tôi phải mất gần như suốt đêm mới vượt qua được vách núi cheo leo, đá tai mèo sắc như dao để lên Lũng Mật. Trời sáng rõ. Sương mù tan. Nhìn xuống dưới cánh đồng thấy rõ cả xe tăng và bộ binh địch đang lúc nhúc hành quân. Thỉnh thoảng tiếng pháo lại nổ chói tai vì bắn vào vách đá và gây nên những vọng âm mãi mới tan làm màng nhĩ tai u u rất khó chịu.
Chúng tôi được lệnh dừng lại nghỉ. Trời rét lắm lại ở núi đá nên càng thêm lạnh buốt. Tôi vội cùng anh em tìm những khe đá hơi bằng phẳng rải tăng võng ra để nằm tranh thủ ngủ để tối đến còn hành quân tiếp hoặc xuống bản tìm kiếm lương thực. Chợt thấy thằng Lam đang ôm súng ngồi co ro ở một góc khe đá tôi bảo:
- Mày tìm chỗ phẳng nằm mà ngủ một lát đi chứ! Tối nay còn đi lấy gạo đấy.
- Lúc vượt qua suối vì đỡ anh thương binh trượt ngã, cái ba lô của em bị trôi mất rồi.
- Thế thì nằm vào đây với tao cho khỏi rét mà ngủ.
Thằng Lam vừa chui vào nằm xuống cạnh tôi đã bật ngay dậy vẻ hốt hoảng:
- Anh... anh... dám đắp bằng tấm vải liệm à?
Thì ra nó vừa nằm xuống thì cái dây buộc của tấm vải liệm loằng ngoằng vướng ngay vào cổ. Tôi phì cười:
- Đó chỉ là một tấm vải thôi, việc gì mà sợ! Nằm xuống cạnh tao đi cho ấm!
Lam lùi ra ngồi dựa vào một mô đá và chối đây đẩy:
- Thôi... thôi... anh cứ ngủ đi... em... em chịu thôi...
Tôi cáu vì cái tính nhút nhát của nó:
- Thế thì mặc xác mày!
Nói vậy nhưng tôi cũng không ngủ được. Tôi lồm cồm ngồi dậy lột cái võng đang rải ném cho nó. Đoạn, tôi chui hẳn vào trong tấm vải liệm, nửa rải, nửa đắp rồi ngủ thiếp đi vì mệt.
Đơn vị chúng tôi cứ ban ngày thì ẩn nấp trong các thung lũng, khe đá, buổi tối thì chuyển quân sang vị trí khác tránh sự truy kích của bọn địch và tổ chức cho các bộ phận đột nhập xuống bản tìm lương thực. Nhiều hôm chạm địch không lấy được lương thực mà còn tổn thất thêm lực lượng.
Quân số của đơn vị cứ vơi dần sau những chặng hành quân gian khổ trên vách đá núi cao đói rét và bị địch đuổi đánh. Một số anh em lực lượng thanh niên xung phong bị thất lạc chạy lên núi cũng nhập luôn vào đội hình đơn vị chúng tôi.
Sau trận đơn vị bị lực lượng tinh nhuệ của địch tập kích vào đội hình trú quân thì cả hai tấm vải liệm của tiểu đội tôi đều được sử dụng hết. Cũng từ sau hôm ấy thằng Lam mới dám nằm gần tôi. Hai đứa đắp chung một cái võng mỏng manh. Lúc tạnh thì tăng rải làm chiếu, võng làm chăn cho ấm. Lúc mưa thì rải võng làm chiếu, tăng làm chăn đắp cho khỏi ướt. Mùa Xuân năm ấy sao mà mưa rét nhiều đến thế. Cái rét, cái đói hành hạ chúng tôi ngày càng khốn khổ. Rồi cả cái võng hai đứa đắp chung ấy cũng không còn. Chúng tôi không nỡ để một cô thanh niên xung phong nằm xuống không có cái gì bó buộc.
Một buổi sáng còn sương muối còn mù mịt khắp các khe núi tiểu đội phó Tự đã gọi tôi:
- Hà ơi đi ngay!
- Đi đâu!
- Đi xuống bản Nà Sác! Bộ phận của thằng Lam tối hôm qua xuống bản tìm kiếm lương thực đến giờ vẫn chưa thấy về! Có chuyện không hay rồi.
Tôi vội vàng xách súng cùng tiểu đội phó Tự và một chiến sĩ trinh sát tiểu đoàn tụt xuống dốc núi.
Chúng tôi tìm được chiến sĩ Lai nằm gục ở chân dốc. Cái ba lô gạo nó đeo trên lưng thấm máu. Lai bị thương nhẹ vào đùi nhưng vì đói quá nên lả đi không leo lên núi được. Lai thều thào cho chúng tôi biết hai người vào bản lấy được ít gạo, ngô quay ra thì gặp địch. Lam đã dừng lại chặn địch và bảo Lai rút lui. Lam đã dũng cảm chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Lam bị bọn địch bắn chết bên bờ suối.
Mãi đến tối chúng tôi mới tiếp cận được chỗ Lam hy sinh. Chúng tôi đưa Lam qua suối, rửa mặt cho nó. Chúng tôi dùng dây võng buộc chặt Lam vào người để leo lên vách đá tai mèo. Mấy anh em chúng tôi thay nhau cõng nó lên trên núi.
Chúng tôi dùng xẻng bộ binh cố đào một cái huyệt chỉ sâu như một cái rãnh trong khe đá rồi đặt Lam xuống. Không còn một tấm vải liệm nào để bó buộc cho nó. Trước khi lấp đất, tôi lục tìm trong cóc ba lô lấy ra cái khăn mặt duy nhất của mình phủ lên mặt cho Lam để cát bụi khỏi rơi vào mắt nó.
Sau này, Lam đã được đưa về quê hương. Hài cốt của nó được gói trong tấm vải liệm bằng lụa và đặt trong hộp gỗ sạ hương phủ quân kỳ mai táng trong nghĩa trang liệt sĩ của huyện. Lam đã trở về với quê hương với gia đình, làng xóm như thế. Chiến tranh lùi xa rồi nhiều người sẽ lãng quên vì cuộc mưu sinh thường nhật. Nhưng câu chuyện về Lam và tấm vải liệm thì tôi sẽ mãi chẳng bao giờ quên.