Trong Vòng Lửa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

❊ ❊ ❊

Những ngày chúng tôi ở Lũng Mật thật là khốn khổ. Thiếu lương thực. Thiếu nước. Vách núi đá vôi khô khốc. Chỗ khe đá có nhiều cây nhất Lũng Mật nước hơi ri rỉ ra cả ngày được độ vài xô nước. Khi bộ đội chưa lên bà con ở Lũng Mật thường dùng nước mưa là chủ yếu. Nước mưa được hứng cho chảy vào các bể xây bằng xi măng. Bể nào to cũng chỉ độ một mét khối. Bây giờ bộ đội và dân chạy loạn kéo lên cả trăm người thì lượng nước dự trữ của bản cũng cạn dần. Buổi tối chúng tôi phải tụt xuống tận dòng suối chỗ Mỏ Nước để lấy nước. Từ hôm bọn biệt kích phát hiện bắn chết mấy chiến sĩ và một cô thanh niên xung phong thì việc đi lấy nước phải tạm dừng lại.

Nằm ở các khe đá, hoặc giữa các mô đá mồ côi nhấp nhô trong thung lũng, một anh thương binh tỷ mẩn quan sát những cây dương xỉ bám trên đá. Anh thấy những cái rễ loà xoà trùm lên hòn đá có những nốt phồng to như hạt lạc. Anh rứt nhấm thử, thấy có nước và vị ngọt. Thì ra những cây dương xỉ trên núi đá vôi khác hẳn những cây dương xỉ sống ở khu vực núi đất và trong khe suối ẩm ướt. Những nốt sần treo lủng lẳng trên rễ của cây dương xỉ trên núi đá vôi quanh năm khô cằn chính là cái túi dự trữ nước của nó. Thiên nhiên khắc nghiệt đã bắt buộc sinh vật có cách thích nghi để tồn tại.

Người lính ấy đã gào lên:

- Nước... có nước rồi chúng bay ơi... ha... ha...!

- Thôi chết! Thằng này đau quá mê sảng rồi!

Mọi người xúm lại cứ ngỡ anh ta mệt và khát quá nên mê sảng. Anh đưa ra một nắm những hạt sùi của cây dương xỉ bảo mọi người nếm thử. Và, thế là thật tình cờ, chúng tôi phát hiện ra một nguồn nước tuy không thể nấu cơm, rửa vết thương cho thương binh nhưng lại có thể giải khát. Chúng tôi bứt những cái nốt sần của cây dương sỉ nhai cho đỡ khát. Quả là một nguồn nước vô tận của người lính trong vòng vây quân thù. Một nguồn nước nhỏ nhoi nhưng thật là quý giá.

Những ngày ở Lũng Mật, chúng tôi chủ yếu ăn gạo sấy. Đó là loại gạo đã được rang chín đóng trong túi ni-lông. Lẽ ra có nước sôi đổ vào thì ăn sẽ ngon hơn. Nhưng chúng tôi không nấu được nước để lỡ khói bốc lên lộ vị trí giấu quân. Vì thế, gạo sấy chủ yếu pha bằng nước lã. Ăn thứ gạo sấy này giống hệt như cơm nguội ném vào nước lạnh cho trương lên, hoặc tựa như những hạt cơm còn sót lại trong chậu sau khi rửa bát. Nó nhạt nhẽo. Nhưng trong vòng vây của kẻ thù có được một chút gạo sấy là may lắm rồi.

 

Một sáng, tôi đang ngủ sau một đêm đi bám địch thì chợt tỉnh vì nghe tiếng quát, tiếng khóc ở ngay hốc đá bên cạnh. Tôi bật dậy xách súng trèo qua gộp đá sang xem có chuyện gì.

Anh Thành, trung đội trưởng trung đội vận tải đang quát hai cô gái:

- Các cô là ai! Tại sao các cô lại chui vào đây?

- Chúng em là thanh niên xung phong... lạnh quá nên...

Hai cô gái ôm vai co ro ngồi gục đầu khóc nức nở.

Tôi nhận ra đó là hai nữ thanh niên xung phong mà bộ phận bám địch tối hôm qua tìm thấy dẫn về cùng một số bà con các bản bị bọn địch truy đuổi chạy lên núi tìm theo bộ đội. Tôi liền nói để trung đội trưởng Thành hiểu. Nét mặt trung đội trưởng Thành dịu đi. Các chiến sĩ xúm lại hỏi chuyện. Thì ra, khi lên tới Lũng Mật đã gần sáng, hai cô bé này mệt và buồn ngủ quá liền chui bừa vào một hốc đá chỗ có các chiến sĩ đang nằm định ngồi nhờ cho đỡ rét. Thấy có mấy người đang trùm chăn nằm ngủ hai cô bé liền ôm nhau nằm cạnh. Họ kéo cái chăn họ đang trùm đắp ké cho đỡ lạnh. Sáng ra, hai cô bé mới biết là suốt đêm qua họ đã nằm cùng các liệt sĩ. Khi trung đội trưởng Thành và mấy chiến sĩ vận tải đến để chuẩn bị việc mai táng, hai cô bé thanh niên xung phong sợ tái nhợt cả mặt mũi. Bây giờ các cô mới hiểu thảo nào cả đêm nằm sát các anh mà vẫn cứ lạnh và lạ nhất suốt đêm chả thấy ai trở mình cục cựa lần nào. Cả hai lại cứ nghĩ là các anh mệt quá nên ngủ chìm đi.

Rõ mọi chuyện, tôi tìm cách an ủi:

- Đừng sợ! Đó đều là đồng đội của chúng ta cả thôi. Các anh ấy vì Tổ quốc mà hy sinh chẳng có gì phải sợ cả.

- Đúng vậy! Hôm qua, tôi còn cõng các anh ấy cả buổi leo lên núi. Chắc là nhờ các anh ấy phù hộ cho nên bị địch bắn mấy lần vẫn thoát đấy!

Một chiến sĩ tiếp lời. Mỗi người một câu động viên an ủi. Hai cô bé thanh niên xung phong đã hơi hoàn hồn. Nhìn hai cô bé nét mặt bơ phờ, đầu tóc rối tung, quần áo mong manh tả tơi tôi thấy thương quá. Có lẽ hai cô bé này chỉ trạc tuổi em Mai. Tôi liền đề nghị:

- Ai còn mang theo được hai bộ quần áo thì san sẻ cho hai cô này một chiếc.

- Có... có...

Mấy chiến sĩ vội lục ba lô. Người cho cái quần, người thì cho cái áo, cái khăn mặt. Hai cô bé mỗi người có thêm một bộ quần áo nữa. Họ mặc vào bớt rét nên đỡ run rẩy hơn. Nét mặt hai cô bé có vẻ tươi tỉnh lại một đôi chút. Tôi đưa cho hai cô một cái vỏ chăn và bảo:

- Cầm lấy, tối ngủ hai người đắp chung cho đỡ rét.

- Nhưng anh cho chúng em rồi thì anh lấy cái gì để đắp...

- Yên trí! Đã có cái này rồi...

Tôi nói và rút từ trong ba lô ra một cuộn vải còn mới tinh lòng thòng những cái đai may sẵn rồi cười bảo:

- Đây là một tấm vải liệm đã may sẵn để liệm người hy sinh, bọn anh được cấp phát để dùng trong chiến đấu. Khi chưa phải dùng đến thì anh dùng đắp tạm cho đỡ rét. Mong rằng mình sẽ được sử dụng nó để đắp cho đến hết chiến tranh mà không phải dùng đến nữa.

- Ôi trời...

Hai cô bé tròn mắt nhìn tấm vải liệm tôi đang cầm trên tay. Nó giống hệt những tấm vải liệm mà các chiến sĩ trung đội vận tải đem đến để chuẩn bị gói ghém các liệt sĩ đang để trong hốc núi. Tuy vậy, các cô cũng có vẻ đỡ sợ hơn sau một đêm đã nằm cùng những người đã chết. Hai cô bé giúp các chiến sĩ trung đội vận tải khâm liệm các liệt sĩ để đưa đi mai táng.

Qua trò chuyện chúng tôi biết tên hai cô bé thanh niên xung phong. Một người tên là Ngọc, một cô tên là Thuỳ. Cả hai đều là sinh viên cao đẳng ở thành phố Thái Nguyên. Hai cô bé cùng rất nhiều bạn bè hăng hái xung phong lên phục vụ chiến đấu ở biên giới. Đội thanh niên xung phong của các cô đóng ở mãi phía sau. Mấy ngày đầu cuộc chiến các cô đã vác đạn lên trận địa cho bộ đội, khênh cáng thương binh về tuyến sau. Nhưng rồi tuyến sau lại bị quân địch tấn công trước. Chúng tràn vào doanh trại của đội thanh niên xung phong bắt hàng chục cô gái lột hết quần áo, cưỡng hiếp rồi dùng lưỡi lê đâm chết rồi quăng xác xuống giếng. Một số bị tra tấn rất dã man và bị đưa đi đâu không rõ... May hôm địch xông vào doanh trại Ngọc và Thuỳ đang đi cáng thương binh về chậm nên thoát chết. Hai cô bé nấp ở trên đồi nhìn bọn giặc làm nhục và giết hại các bạn mình cắn môi đến bật máu mà không dám khóc. Chờ đến tối, hai cô bé này chui ra khỏi chỗ ẩn nấp dắt nhau chạy về hướng dãy núi đá tìm bộ đội của ta. Hai người gặp được một số người dân và được bộ phận đi trinh sát nắm tình hình địch của tiểu đoàn tôi đưa lên Lũng Mật.

 

Hai cô bé vừa kể lại mọi chuyện vừa khóc. Họ khóc khi nói về đồng đội và cho cả những người lính chiến vừa được vùi dưới lớp đất mỏng không có một nén nhang, không một bông hoa trên mộ chí.

Sau khi mai táng các liệt sĩ về, Ngọc và Thuỳ được gọi lên bổ sung vào bộ phận nuôi quân của tiểu đoàn. Hai cô bé này đã đi cùng với đơn vị chúng tôi cho đến hết chiến tranh. Khi nhìn hai cô bé, thắt lưng gài lựu đạn, vai đeo cái ba lô tự tạo làm bằng cái quần dài hai ống buộc túm lại giống hệt các chiến sĩ khi rút lui khỏi trận địa phòng ngự, tôi cười bảo:

- Hai em đã là chiến sĩ thực sự rồi đấy nhé!

- Chúng em sẽ cố gắng anh ạ!

Tôi dặn:

- Trong tình huống nào cũng phải cố mà bám bằng được theo bộ đội nhé!

Cả hai gật đầu. Nhớ đến Mai, tôi lại cầu mong cho hai cô bé sẽ bình an để được trở về với mẹ, tiếp tục học hành.

Trong đêm vượt vây Ngọc và Thuỳ đã cứu được một em bé. Đó là hôm đơn vị rút sang Nguyên Bình, Ngọc và Thuỳ đi phía sau đội hình có nhiều bà con đồng bào các bản. Đoàn người gồng gánh, bế bồng con cái bám theo bộ đội vượt đường quốc lộ. Giữa lúc cả đoàn người đang âm thầm len lỏi đi dưới chân điểm chốt của địch thì xảy ra sự cố. Một đứa trẻ chưa đầy tháng mà người mẹ trẻ đang ôm trên tay bỗng giật mình bật lên tiếng khóc. Tiếng khóc của một sinh linh chưa hiểu chiến tranh và sự hiểm nguy là gì. Người mẹ trẻ ấy sợ bọn địch phát hiện ra đội hình đang vượt vây sẽ dẫn đến cái chết của hàng trăm người nên vội vàng lấy khăn bịt miệng con không cho khóc nữa. Lúc sang đến bên kia cánh đồng thì đứa bé ngừng thở. Tưởng đứa con đã chết, người mẹ ấy vội đặt con vào hốc đá rồi dắt đứa lớn chạy theo đoàn người. Đứa trẻ số không chết. Khi được đặt xuống đất lạnh, nó dần tỉnh lại. Ngọc và Thuỳ đi gần cuối đội hình chợt nghe tiếng trẻ con khóc bèn quay lại tìm. Ngọc liền cởi áo bọc đứa trẻ ôm chạy theo bộ đội. Nhận lại đứa con từ tay hai cô nữ thanh niên xung phong, người mẹ ấy cứ khóc mãi.

Khi sương mù vừa tan thì tiếng súng nổ chát chúa khắp Lũng Mật. Đó là tiếng súng 12ly7 và tiếng cối 60. Thung lũng mù mịt lửa khói. Tiếng kêu hoảng loạn của nhiều người vang lên. Khi xác định được hướng bắn của bọn địch chúng tôi càng sợ. Bọn địch đã vác được súng 12ly7, đại liên và cối 60 lên một mỏm núi cheo leo dốc đứng đầu Lũng Mật mà từ đây chúng có thể khống chế toàn bộ Lũng Mật. Bọn này chắc chắn phải là lực lượng đặc nhiệm tinh nhuệ của quân địch.

Chúng tôi vội ép người sau các mô đá chống trả. Nhưng có nhiều người nấp sau mô đá vẫn bị trúng đạn của bọn đang ngồi trên cao. Những viên đạn bắn tỉa của chúng xỉa xuống khá chính xác.

Tiểu đoàn trưởng Thêm và chính trị viên Hoàng lệnh cho các đơn vị vượt qua đoạn dốc yên ngựa rút đi. Nhưng nếu không khống chế được hoả lực địch trên mỏm núi đầu Lũng Mật thì đội hình leo lên dốc sẽ làm những tấm bia sống cho bọn giặc thử súng.

Trong lúc tình hình vô cùng nguy ngập ấy, đại đội trưởng Bàng đi đến một quyết định táo bạo. Anh lệnh cho một khẩu đội 12ly7 vòng ra phía sau lưng địch. Họ leo lên một mô đá trống trải phơi mình ra cho bọn bắn tỉa. Nhưng từ đây họ có thể dùng hỏa lực mạnh bắn thẳng lên mỏm núi bọn địch đang đặt hoả lực khống chế bộ đội ta ở Lũng Mật.

Khẩu 12ly7 do đại đội trưởng Bàng chỉ huy bắt đầu lên tiếng. Đạn 12ly7 nổ choang choác xả vào vị trí của bọn địch. Bị bất ngờ, bọn địch trên mỏm núi lúng túng. Chúng phải quay súng về phía mô đá. Lợi dụng cơ hội đó, tiểu đoàn trưởng Thêm lệnh cho các bộ phận nhanh chóng vượt qua dốc yên ngựa rút sang thung lũng bên cạnh. Chúng tôi chạy gằn trên đoạn dốc trống trải, vừa chạy vừa tránh đạn địch. Đó là một cuộc chạy đua với cái chết thực sự. Cứ chạy một đoạn chúng tôi lại nằm sấp xuống mặt đường tránh đạn. Đạn bắn xối xả, khói bụi mù mịt. Vẫn có những người bị trúng đạn chới với ngã gục xuống mặt đường hoặc lăn nhào xuống sườn núi. Linh tính hình như giúp tôi thoát khỏi những loạt đạn bắn đuổi của bọn địch. Tôi đeo ba lô, xách súng, chạy ngược dốc. Cứ chạy được một đoạn khi tôi vừa nằm ép xuống mặt đường thì đạn lại bắn chiu chíu ngay sát trên lưng, lá cây ven đường rụng lả tả. Thật may, lần nào cũng thoát cả.

Thằng Hoà, trợ lý chính trị tiểu đoàn chạy trước tôi. Khi nấp được sau một mô đá khá an toàn, nhìn thấy tôi lúc chạy gằn, lúc nằm bẹp xuống mặt đường nó bèn gọi to:

- Hà ơi! Cứ bình tĩnh mà chạy lên đây, tao yểm hộ cho...

Nó cầm khẩu M79 giơ giơ lên động viên tôi. Tôi nghe tiếng nó gọi vừa ngước lên nhìn nó thì nghe rầm một tiếng. Quả đạn cối 60 nổ ngay trên vách núi gần chỗ nó đang nấp. Khói bụi mù mịt. Tôi hốt hoảng nghĩ: "Thôi chết! Không khéo thằng này tan tành thành từng mảnh mất rồi!".

Lợi dụng địch vừa ngừng bắn, tôi nhỏm ngay dậy lao lên. Lúc tôi lăn được sang phía bên kia dốc yên ngựa, khuất hẳn tầm bắn của bọn địch thì gặp thằng Hoà đang ngồi thu lu trong một hẻm đá. Thấy nó không bị sây sát gì tôi mừng lắm. Tôi bảo:

- Chờ mày yểm hộ thì tao toi mạng từ tám hoánh nào rồi...

Nó cười hề hề tuy mặt thì vẫn còn tái đi:

- Nói thế để cho mày yên tâm! Tao chỉ còn mỗi hai viên đạn thì yểm hộ cái cóc khô gì được nữa.

- Thảo nào nó mới choang cho một quả cối mày đã chuồn nhanh thế!

- Hì... suýt nữa thì tao tan xác với nó đấy! Mà này, đói chưa?

- Từ sáng đến giờ nó choảng cho tối mắt, tối mũi đã kiếm được cái gì cho vào bụng đâu!

Thằng Hoà lục cóc ba lô lôi ra nửa con gà luộc. Nó xé đưa cho tôi cái đùi và bảo:

- Hôm qua xuống bản, bà con cho đấy! Mày ăn lấy một miếng đi.

Thịt gà ăn vã, không muối, nhạt bã ra trong miệng.

Đến gần trưa thì các bộ phận đều rút ra khỏi được Lũng Mật. Cũng chẳng biết ai hy sinh, ai bị thương nữa. Tôi kiểm tra bộ phận của mình thấy còn đủ là biết an toàn thôi. Chúng tôi tiếp tục đi tìm vị trí ẩn náu mới tìm thời cơ phá vây rút lui sang Nguyên Bình theo mệnh lệnh của trung đoàn.

Buổi chiều, tôi và thằng Quý đang đi tìm kiếm mạch nước thì gặp anh Bàng trong một khe núi. Tay trái anh băng kín treo lên cổ. Tôi liền nhao đến hỏi:

- Anh bị thương à?

- Gãy mẹ nó một tay rồi mày ạ!

- Trúng đạn à?

- Đạn nào bắn trúng tao được. Lúc tao lăn từ mô đá xuống bị ngã đấy!

- Anh phải cố định thật cẩn thận đấy!

- Mẹ kiếp! Kiểu này thì leo vách đá thế quái nào được nữa. Mà tao cũng đếch cần rút lui nữa. Bọn chúng truy đuổi đến đây tao thí mạng với chúng luôn. Tay phải tao vẫn bắn súng ngắn tốt, mày yên tâm...

Tôi định chào anh để đi thì nhác thấy bóng cô tiểu đội trưởng dân quân bản Táp Ná đang lúi húi mắc võng trong khe đá. A! Ông này số vẫn đào hoa ghê. Tôi nháy mắt khẽ nói:

- Bây giờ chắc không lo bị bắt quả tang nữa anh nhỉ?

- Dân quân các bản cũng đã chạy hết lên núi cùng bộ đội. Cô ấy đến giúp đại đội tao khoản hậu cần ấy mà...

- Cả cái khoản XYZ nữa chứ?

- Thôi mày biến đi! Đánh nhau mệt bỏ mẹ còn XYZ gì được nữa!

Tôi bĩu môi:

- Mỡ đến miệng mèo kiêng làm sao được... hi...hi...

Tôi vừa quay đi thì anh gọi giật lại:

- Khoan đã, quay lại tao bảo.

Tôi dừng lại. Anh Bàng rút từ cái túi đeo bên người đưa cho tôi một cái gói nhỏ và dặn:

- Ruốc bông trộn mỳ chính đấy! Lúc nào đói khát và mệt quá thì ngậm một nhúm vào miệng cho lại sức. Nhìn mày ốm yếu thế tao lo lắm!

- Vâng... anh phải cẩn thận nhé!

- Mày cũng phải cẩn thận đấy! Nghe nói mày hay liều lĩnh lắm phải không?

- Em có liều gì đâu?

- Bọn nó nói hôm nọ mấy thằng chúng mày xuống bản Nà Nghiềng bị một trận hút chết hả?

- Hì... tại hôm ấy đói quá...

- Đói thì đói cũng không được chủ quan nhá!

Nghe anh Bàng dặn, tôi ậm ừ để anh yên tâm. Nhớ lại hôm ở Nà Nghiềng tôi cũng thấy sởn gai ốc.

 

Hôm đó khi trời vừa mới nhá nhem tối, tôi, thằng Quý và hai chiến sĩ đã tụt xuống núi. Nhiệm vụ của chúng tôi là tìm cách trở lại vị trí kho quân khí của tiểu đoàn để tìm đạn súng bộ binh và lựu đạn chuẩn bị cho cuộc phá vây. Chúng tôi lần mò theo con mương nước mà hôm trước đã theo nó để rút ra. Bọn địch đã chiếm được thị trấn đổ nát không còn quân ta. Lực lượng của chúng còn lại phòng ngự thưa hơn. Sau khi tìm được mấy hòm đạn AK, tôi bảo:

- Vào bản kiếm cái gì ăn đã, đói lắm rồi!

- Nhưng lỡ chạm bọn địch thì sao?

Thằng Quý gàn. Tôi nói:

- Đừng sợ! Bọn chúng tưởng quân ta đã rút hết rồi nên để lại rất ít lực lượng ở thị trấn. Ta vào bản Nà Nghiềng xem kiếm được cái gì ăn rồi rút luôn.

Đúng như tôi nghĩ, bản chẳng có một bóng người. Bầu trời sáng lờ mờ. Ánh trăng xuyên qua làn sương mù dày đặc. Các lối đi trong bản cây cối bị đạn bắn đổ ngổn ngang. Chúng tôi phải lách người len lỏi trong đống đổ nát. Trong cảnh hoang vắng chết chóc, sương rơi ướt vai áo làm cho chúng tôi càng thấy lạnh lẽo, cô quạnh. Vừa lặng lẽ bước đi tôi vừa chú ý quan sát, nghe ngóng. Chúng tôi leo lên một ngôi nhà sàn kiếm được một ít ngô thì nghe tiếng chạy huỳnh huỵch dưới gầm sàn. Tôi hỏi:

- Thằng nào chạy đi đâu đấy?

- Không... không... phải quân ta, bọn địch đấy!

Tiếng thằng Quý líu cả lưỡi đi vì sợ. Tôi vội nhô ra nhìn xuống gầm sàn. Bóng mấy tên lính địch đang vác súng cối chạy qua vườn chuối vào gầm ngôi nhà sàn mà chúng tôi đang ở trên. Bỏ mẹ rồi, tôi nghĩ bọn này từ đâu xông vào bản vậy. Vào đến gầm ngôi nhà sàn, chúng dừng lại soi đèn pin loang loáng. Hình như chúng định nghỉ đêm dưới gầm nhà. Một thằng trải tấm bạt ra nền đất.

Có ánh đèn chiếu ngược lên sàn. Chúng tôi phải nằm ép người xuống sạp nứa không dám thở mạnh. Tôi nghĩ, nếu mà mấy thằng này leo lên nhà thì mình toi mạng hẳn. Tôi lần thắt lưng tìm quả lựu đạn mỏ vịt. Tôi đã tính đến tình huống xấu nhất là sẽ thả quả lựu đạn xuống đầu bọn địch rồi nhảy xuống đất tháo chạy. Tôi khe khẽ sờ tay thằng Quý vỗ vỗ ra hiệu cho nó. Thằng Quý hơi gật gật đầu vẻ hiểu ý định của tôi.

Tôi và mấy chiến sĩ vẫn nằm. Dưới gầm nhà sàn tiếng bọn địch trao đổi với nhau rì rầm. Không hiểu bọn chúng nói với nhau cái gì. Đột nhiên có một tiếng hô khẩu lệnh. Chắc là tiếng của thằng chỉ huy khẩu đội. Mấy thằng đang nằm ngồi vội bật dậy. Chúng nhanh chóng thu khẩu cối và trang bị vác lên vai. Hình như bọn này lại chuẩn bị cơ động. Đúng vậy. Bọn chúng chui ra phía bên trái ngôi nhà, lối đường ra thị trấn. Tôi kéo tay thằng Quý thì thào:

- Mày và hai thằng nhanh chóng rút ngay ra phía mương nước để tao xử lý mấy tên địch này nhé!

- Nguy hiểm lắm! Đi ngay thôi anh ơi!

Mặc cho Quý gàn, tôi nhỏm dậy lao ra phía đầu nhà. Mấy tên địch đang lui cui vác súng chạy xuống dốc. Tôi rút chốt quả lựu đạn tung theo. Khi tiếng nổ vang lên thì tôi đã chạm chân xuống đất. Tôi lao luôn về phía mương nước.

Sau tiếng nổ, từ các vị trí phòng ngự tiếng súng của bọn địch bắn rầm rầm vào bản Nà Nghiềng. Chúng tôi chạy hút hơi ra theo con mương ra cánh đồng để vượt lên núi. Cũng may là không vấp phải toán lính địch nào chặn đường. Bọn địch chỉ từ các điểm cao đổ đạn vào bản Nà Nghiềng và sang phía núi đá. Đến điểm hẹn ở chân núi đá tôi đã thấy Quý và hai chiến sĩ đang chờ ở đó. Thằng Quý hổn hển hỏi:

- Mấy thằng giặc ấy chắc toi hết cả chứ anh?

- Tao cũng chẳng kịp nhìn xem nó có chết hay không! Chạy một phen hết cả hơi mới ra đến đây đấy.

- Anh liều lĩnh quá! - Một chiến sĩ nói. - Tôi bảo:

- Thôi rút lên núi ngay. Cấm không được thằng nào báo cáo việc này với chỉ huy tiểu đoàn nhé!

Cũng may hôm ấy không xảy ra thương vong gì. Việc chúng tôi mang được mấy hòm đạn về còn được tiểu đoàn trưởng biểu dương nữa... Ấy thế mà anh Bàng lại biết chuyện. Chắc là anh lại nghe thằng Quý bép xép.

Gói ruốc của anh Bàng tôi đã giữ suốt thời gian trong vòng vây. Khi nào thật cần thiết chúng tôi mới chia nhau một nhúm lấy chất muối để đánh lừa cái lưỡi. Cuộc hành quân trên dãy núi đá thật gian khổ. Đôi chân rã rời vì leo núi suốt ngày đêm. Cái đói, cái khát rồi những lần giặc đuổi chạy đến hút hơi, thở không kịp tôi càng thấy giá trị của gói ruốc bông ấy.

Trọng Bảo Tiểu Thuyết Trong vòng Lửa Thực hiện ebook : Mọt Sách Bloog Trọng Bảo
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Trọng Bảo

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.