"Báo động!". Mệnh lệnh được thông báo rất nhanh. Bộ phận chúng tôi được lệnh tiếp cận bọn thám báo vì chúng tôi đang ở gần bờ suối nhất. Tôi nhét cuốn sách giáo khoa lớp 3 vào cóc ba lô vớ khẩu súng lao ra khỏi lán. Trời đã gần tối. Ra đến gần bờ suối bản Nà Sác, tôi gặp chính trị viên Hoàng, anh Thọ và các chiến sĩ tiểu đội trinh sát. Anh Thọ nói nhanh:
- Trinh sát vừa phát hiện có bóng người lạ ở gần bờ suối bản Nà Sác gần đường biên. Dân bản Nà Sác chưa trở về nên chỉ có thể là bọn thám báo mò sang trinh sát trận địa của ta. Các chiến sĩ trinh sát dẫn chúng tôi nhanh chóng tiếp cận bờ suối. Chúng tôi phát hiện ra một người mặc bộ quần áo rách rưới đang đi lom khom dọc theo bờ ruộng sát con suối. Nó đang đi về hướng biên giới. Nhìn vẻ tả tơi của nó chúng tôi biết đó chắc chắn chỉ là một tên tàn quân địch. Tên giặc đã chạy đến gần đoạn suối nông nước chảy rào rào. Đây là điểm tiếp giáp giữa hai nước. Lội qua sang bờ bên kia đã là đất của chúng nó rồi. Tôi đề nghị:
- Để chúng tôi xông ra bắt sống nó!
- Không được! - Chính trị viên Hoàng vội ngăn lại: - Vượt qua khoảng ruộng trống bọn địch bên kia biên giới sẽ phát hiện và sẽ lập tức bắn sang ngay. Hơn nữa đám ruộng này vốn là bãi mìn chống bộ binh chưa nổ hết nguy hiểm lắm!
- Vậy thì nó chạy thoát mất anh ạ!
Tôi nói và nâng khẩu AK lên lấy đường ngắm. Chính trị viên Hoàng giơ tay khẽ đè nòng súng của tôi chúc xuống. Anh nói nhỏ:
- Thôi để cho nó vượt qua suối.
Tôi ngạc nhiên nhìn chính trị viên Hoàng. Hình như tên giặc cũng đã phát hiện ra chúng tôi. Nó nhớn nhác quay lại nhìn. Chúng tôi đang ở rất gần nó, chỉ cách một mặt ruộng rất hẹp. Nó gần như sụp hẳn người quỳ xuống mặt ruộng khi nhìn thấy những nòng súng kê trên bên kia bờ ruộng đang rê rê theo từng cử động của nó. Nó giơ hai tay lên trời như cầu xin chúng tôi đừng bắn, tha chết cho nó.
Chúng tôi vẫn im lặng không hành động theo lệnh của chính trị viên Hoàng mà chỉ dõi mắt theo từng cử động của tên giặc. Hồi lâu, không thấy chúng tôi xông ra bắt sống hoặc nổ súng, thằng giặc cứ nhìn chằm chằm về phía những nòng súng đang chĩa vào nó không dám nhúc nhích. Anh Thọ khẽ khoát tay ra hiệu. Anh khẽ "xuỳ... xuỳ..." như đang xua đuổi một con chó. Thằng giặc hiểu đối phương đã tha chết và để cho nó chạy về nước. Nó vội lồm cồm nhỏm dậy nhao người bò lên bờ ruộng lăn xuống suối. (Tiếng Việt "xuỳ... xuỳ..." gần giống với tiếng Tàu phát âm từ "đi... đi...").
Sang đến bên kia bờ suối rồi thằng giặc còn ngoái lại như vẫn chưa tin là nó đã được chúng tôi tha chết. Trước khi lẩn vào bụi cây rậm nó còn quay lại hướng về phía chúng tôi vái dài một cái.
Trời tối hẳn. Thằng giặc mất hút trong bụi cây và bóng tối đang tràn đến. Chính trị viên Hoàng lệnh chúng tôi rời khỏi bờ ruộng quay về đơn vị. Trên đường về, biết chúng tôi còn ấm ức thắc mắc, chưa thông về việc đã tha chết cho thằng giặc xâm lược, anh Hoàng bảo: "Cha ông ta ngày xưa có lúc còn tha chết cho hàng vạn tên xâm lược lại còn cấp lương ăn để chúng nó trở về quê hương đấy!".
Một buổi trưa đi đào công sự về mệt, ăn cơm xong tôi lăn ra ngủ. Vừa chợp mắt được một lát thì có người lay gọi:
- Dậy... dậy... ngay...
- Dậy làm gì, đào công sự cả buổi mệt đứt hơi chưa ngủ đã gọi cái gì... - Tôi càu nhàu.
- Dậy đi có việc gấp đây!
Nghe rõ tiếng chính trị viên Hoàng, tôi ngồi bật dậy. Vốn là lính chiến, quen những tình huống chiến đấu bất ngờ nên nghe tiếng của cấp trên gọi là tôi tỉnh ngay. Tôi quờ tay với khẩu súng dựa cạnh chỗ ngủ nhảy xuống đất. Anh Hoàng phì cười:
- Mày định đi đâu đấy?
- Chắc lại có bọn thám báo nó mò sang ạ?
- Thám báo nào! Cất súng đi ra đây tao bảo.
Lúc này tôi mới nhìn kỹ chính trị viên Hoàng. Anh ăn mặc chỉnh tề, tay đang cầm một cuộn giấy, nét mặt vui vẻ. Anh cười vì cái tính hấp tấp của tôi, cứ có ai gọi việc đầu tiên là tìm ngay khẩu súng. Âu đó cũng là tác phong của người lính nơi đối diện với quân thù hàng ngày. Chúng tôi đã có mặt ở biên giới từ những ngày còn kéo nhau mặc quần áo dân thường đi rào đường biên, tranh nhau từng tấc đất, ném đá, đánh nhau bằng tay và gậy gộc với bọn lấn đất, xâm lược cho đến lúc đấu súng, đấu pháo thật sự với chúng cho nên ai cũng có cái tác phong luôn luôn sẵn sàng ấy.
Anh Hoàng bảo:
- Đem cuốn sổ ghi chép của mày ra đây!
- Cuốn sổ nào ạ?
- Cuốn nhật ký mà mày vẫn ghi chép tình hình chiến sự hàng ngày trong thời gian đánh nhau ấy!
- Cuốn sổ ấy em đốt nó theo lệnh của tiểu đoàn hôm trước khi phá vây rồi còn đâu nữa ạ!
- Mày đừng có nói dối! Hôm ấy mày chỉ đốt cuốn sổ ghi chép thơ và truyện thôi, còn cuốn nhật ký ghi tình hình chiến sự thì mày vẫn giấu trong người đem đi. Đem ra đây ngay...
Tôi cười hì hì:
- Làm sao anh lại biết ạ?
- Tao biết mày không bao giờ đốt cuốn sổ ấy đâu. Đem nó ra đây có việc cần đấy!
- Việc gì mà lại liên quan đến cuốn nhật ký của em ạ?
Chính trị viên Hoàng vừa đặt tập giấy xuống cái bàn ghép bằng mấy miếng ván giữa nhà vừa nói:
- Tiểu đoàn mình được đề nghị nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng. Do đó, phải chuẩn bị một bản báo cáo thành tích trong cuộc chiến đấu vừa qua. Mày văn hay, chữ tốt, lại nắm được toàn bộ diễn biến của các trận đánh nên chiều nay không phải đi đào công sự nữa mà ở nhà giúp chỉ huy tiểu đoàn viết một bản báo cáo thành tích, hiểu không.
Tôi hiểu. Tôi rút trong túi cóc ba lô ra một cuốn sổ nhỏ tự đóng bằng loại giấy đen mặt nhẵn, mặt trơn lấm lem bùn đất. Ngồi xuống bên cạnh anh Hoàng, tôi đặt lên bàn trước mặt anh cuốn nhật ký của mình. Tay tôi run run lật từng trang nhật ký chiến đấu. Anh Hoàng cùng tôi đọc những trang ghi chép nguệch ngoạc trong những ngày gian khổ ác liệt ấy...
Ngày 17-2-79:
- Hướng cửa khẩu Bình Mãng: Bọn địch tấn công đợt 1 lúc 5 giờ sáng. Đợt 2 lúc 8 giờ sáng, chúng chiếm mất 1/2 chốt cây đa thứ nhất. Đợt 3 chúng tấn công vào khoảng 11 giờ chiếm toàn bộ mỏm 1, chốt cây đa thứ nhất.
- Ta: Xê 1 chỉ còn giữ được mỏm 2 chốt cây đa thứ nhất. Đại đội 1 diệt được 2 xe tăng, 300 tên địch.
- Lúc 22 giờ đêm đại đội 1 phản kích chiếm lại được toàn bộ chốt cây đa thứ nhất.
- Các đồng chí hy sinh gồm: Thượng sĩ Trần Văn Ngọc, trung đội phó bắn cháy một xe tăng và diệt nhiều tên địch, hy sinh khi chuẩn bị bắn chiếc xe tăng thứ hai. Binh nhất Nguyễn Văn Nền bắn hết đạn đánh nhau bằng lưỡi lê bị địch đâm chết ở chốt cây đa thứ nhất. Chuẩn uý Dương Đình Hà, chính trị viên phó đại đội cùng Nguyễn Văn Lượng hy sinh khi phản kích chiếm lại chốt cây đa thứ nhất đêm 17-2...
Ngày 18-2-79:
- Hướng cửa khẩu: Địch tấn công 8 đợt cả ngày, bắt đầu từ 5 giờ sáng. Chúng chia làm 3 mũi: Một mũi từ trên sườn núi đá đánh xuống, một mũi từ từ phía bản Nà Sác đánh lên, một mũi từ bờ suối đánh vòng lên bên trái chốt cây đa thứ hai. Rút kinh nghiệm ngày đầu tiên, địch tấn công liên tục để phá vỡ tuyến phòng thủ của ta.
- Ta: Đại đội 1 cùng 1 trung đội của đại đội 2 tăng cường đã dũng cảm chiến đấu giữ vững chốt, tiêu diệt 2 xe tăng, hơn 150 tên địch, bẻ gãy cả 8 đợt tấn công của quân địch. Chuẩn uý Lê Hồng Giang (đại đội 2) bắn hai quả đạn B41 diệt một xe tăng địch, bị thương mù một mắt, gãy một tay còn dùng AK bắn địch ngã tơi tả. Đồng chí Giang đã một mình, một súng lên đánh chiếm lại chốt cây đa thứ nhất.
- Hy sinh ngày 18-2: Đại đội 1 có 8 đồng chí hy sinh, nhiều người khác bị thương, có 2 cán bộ hy sinh là đại đội phó Diệp Văn Năm và chính trị viên phó Nguyễn Mộng Lân. Đại đội 1 bị thiệt hại nặng nhưng vẫn kiên cường chiến đấu giữ vững trận địa.
Ngày 19-2-79:
- Địch tấn công liên tục cả ngày không thành đợt rõ ràng. 5 giờ sáng, chúng chiếm mỏm ĐK và mỏm chốt cây đa thứ nhất. 1 giờ chiều chúng chiếm mỏm chốt cây đa thứ hai. Đại đội 1 bị đánh bật ra khỏi trận địa. Cán bộ, chiến sĩ đại đội 1 chiến đấu rất dũng cảm, diệt khoảng 100 tên địch. Tối 19-2, đại đội 1 rút về khu vực trường cấp 2 Sóc Giang.
- Đại đội 4 hoả lực dùng cối và 12ly7 chi viện cho các đơn vị chiến đấu tiêu diệt sinh lực địch. Theo đại đội 4 báo cáo, đơn vị đã dùng cối 82 bắn sang bên kia biên giới trúng một kho xăng của địch cháy liên tục hai ngày liền.
Ngày 20-2-79:
- Địch có khoảng 2 tiểu đoàn đánh từ phía Đôn Chương lên Sóc Giang. Chúng chia làm 2 đợt tấn công. Buổi sáng từ 9 đến 10 giờ, chiều từ 3 đến 5 giờ, có 16 xe tăng trong đội hình tấn công.
- Ta: Đại đội 2 cùng 1 tiểu đội của đại đội 1 tăng cường chiến đấu giữ vững chốt, bẻ gãy các đợt tấn công của địch, tiêu diệt 400 tên địch, 6 xe tăng. Bộ phận của đại đội 3 ở hướng UBND huyện chiến đấu diệt 2 xe tăng và 50 tên địch.
- Sơ đồ trận đánh ngày 20-2-79.
- Một số gương chiến đấu dũng cảm trong ngày 20-2:
+Binh nhất Trần Xuân Quý, 20 tuổi, bắn 5 viên đạn B41 tiêu diệt 4 xe tăng và diệt nhiều tên địch.
+Hạ sĩ tiểu đội trưởng Trần Công Tân dũng cảm xuống tận bụi tre sát mặt đường quốc lộ để bắn thẳng, tiêu diệt nhiều bộ binh địch, hy sinh cuối buổi sáng 20-2.
+Trung uý Trần Xuân Tường, học viên Trường sĩ quan Chính trị thực tập tại đại đội 2, vừa chỉ huy bộ đội vừa trực tiếp chiến đấu, bị thương gãy một tay, một chân vẫn kiên quyết ở lại trận địa, hy sinh sáng 20-2.
+Thượng uý La Quang Tuyến, trung đội trưởng thuộc đại đội 3, bắn cháy 1 xe tăng địch.
+Binh nhất Hồ Sào Liền, dân tộc Mèo, Hà Giang tiêu diệt được 12 tên địch, đi lấy gạo gặp địch còn bắn chết được 2 tên địch...
- Ngày 20-2, ta có 20 người chết, số bị thương là...
Chính trị viên Hoàng lặng người đi khi đọc những con số ghi chép trần trụi trong cuốn nhật ký của tôi. Những thông tin này trong khi chỉ huy chiến đấu anh cũng như tôi đã biết rõ nhưng bây giờ sau một tháng đọc lại vẫn thấy nhói lên trong tim.
Chúng tôi hoàn thành bản báo cáo thành tích trong cuộc chiến đấu để gửi lên cấp trên đề nghị phong tặng danh hiệu đơn vị anh hùng cho tiểu đoàn. Rồi đây tiểu đoàn tôi trở thành một đơn vị anh hùng, nhưng tự dưng tôi lại không thấy vui mừng mà chỉ thấy man mác một nỗi buồn.
Chính trị viên Hoàng đi rồi, anh em trong tiểu đội vẫn chưa đi đào công sự về, chỉ còn một mình tôi. Tự dưng nỗi buồn man mác cứ dâng dâng lên mãi trong tôi. Tôi bước ra khỏi lán ngước nhìn lên bầu trời. Có một cơn giông đang cuồn cuộn phía chân trời. Mây đen vần vũ trên những đỉnh núi lởm chởm nơi biên thuỳ.
Sau chiến tranh nhiều việc phải làm. Tình hình biên giới vẫn căng như sợi dây đàn. Bọn địch vẫn liên tục tung thám báo sang đất ta trinh sát. Thỉnh thoảng hai bên lại xảy ra những vụ nổ súng lẻ tẻ. Vẫn có những người ngã xuống vì chạm súng hoặc vướng phải mìn chưa nổ. Phía biên giới Hà Giang, Lạng sơn vẫn còn xảy ra những trận đánh lớn nữa.
Tiểu đoàn chúng tôi dần ổn định vị trí đóng quân. Những ngôi nhà nửa chìm nửa nổi trên chốt vừa là chỗ ăn nghỉ, vừa làm công sự chiến đấu khi cần thiết. Cùng với việc xây dựng trận địa, ổn định nơi ăn ở, các đơn vị bắt đầu việc bình xét, khen thưởng những người có thành tích trong chiến đấu. Nhiều người được tặng huân chương chiến công, được thăng quân hàm vượt cấp nhờ những thành tích đã lập được. Một số cán bộ cũng được bổ nhiệm chức vụ mới. Phần lớn là lên một chức. Bạn bè tôi đều được thăng quân hàm, bổ nhiệm chức vụ, được xem xét bồi dưỡng cảm tình để kết nạp vào Đảng. Duy chỉ có mình tôi là không được phong quân hàm và khen thưởng gì.
Thằng Lợi được bổ nhiệm làm đại đội phó. Buổi sáng hôm lên đường nhận nhiệm vụ nó tìm đến chia tay tôi. Nó cứ băn khoăn mãi:
- Tại sao mày trong chiến đấu nhiệm vụ nào cũng hoàn thành mà lại chả được khen thưởng, thăng quân hàm, cất nhắc chức vụ gì nhỉ?
- Thì ngay trong chiến đấu tao đã được bổ nhiệm làm tiểu đội trưởng còn gì!
Tôi giải thích. Thằng Lợi gạt phắt đi:
- Lúc đánh nhau cấp trên hy sinh thì đôn cấp dưới lên. Chết thằng này thì thằng khác thay. Lúc cần người dẫn đầu đội hình đi mở đường, đi trinh sát thì mày được giao chỉ huy. Mày được chỉ định làm tiểu đội trưởng là do tình huống lúc đó cần chứ có quyết định quái gì đâu.
- Nhưng bây giờ tao vẫn là tiểu đội trưởng cơ mà!
- Tiểu đội trưởng cái tiểu đội có ba bốn người chuyên đi bới tìm liệt sĩ, đào hầm hào, vài hôm nữa xong là giải tán. Trung đội thông tin tiểu đoàn đã có trung đội trưởng mới và cán bộ khung tiểu đội chuẩn bị nhận chiến sĩ mới về huấn luyện rồi đấy!
- Thì kệ họ, tao cần quái gì cấp chức, qua chiến tranh còn giữ được cái chỗ đội nón là tốt rồi, khối thằng đã xanh cỏ rồi đấy.
Thằng Lợi lắc đầu:
- Tao cũng vẫn không hiểu vì sao tất cả đều được tặng huân chương, phong quân hàm, bổ nhiệm chức vụ riêng mày thì chả được cái gì cả... mà không ai giải thích vì sao, tức thật!
- Có nguyên nhân cả đấy! - Trợ lý tham mưu Thọ vừa vào cửa nghe rõ câu chuyện của hai chúng tôi nên lên tiếng.
Chúng tôi cùng quay ra cửa. Anh Thọ đeo ba lô bước vào. Anh được bổ nhiệm làm đại đội trưởng một đại đội thuộc tiểu đoàn 2. Anh cũng đến chia tay với tôi để về nhận nhiệm vụ tại đơn vị mới. Đặt cái ba lô xuống sạp, anh chìa tay nắm tay tôi bóp chặt khiến tôi nhăn mặt. Anh nói:
- Mày bị tố cáo là trong thời gian thất lạc, tách khỏi đội hình của tiểu đoàn rất vô kỷ luật, không chấp hành mệnh lệnh của chỉ huy, tự ý đưa bộ đội đi chặn đánh địch ở Kép Ké, rồi vào bản bắt cá trộm, lấy ngô, lúa của dân...
- Ơ... - Tôi há hốc mồm ngỡ ngàng vì những điều mà anh Thọ nói.
Trong lúc bị thất lạc, lang thang trong vòng vây của quân thù bộ phận nào chả phải xuống các bản làng để kiếm tìm lương thực, nhặt củ khoai, củ sắn, bắp ngô của dân để ăn có sức mà chiến đấu, mà tìm về đơn vị cũ. Nhưng nếu nói như thế này thì quả tôi vi phạm kỷ luật nghiêm trọng thật. Tôi chợt thấy hơi lo lo...
Anh Thọ ngần ngừ rồi nói tiếp:
- Mày còn bị tố cáo là trong lúc đang bị quân địch bao vây còn sử dụng cả... thuốc phiện nữa đấy!
Tôi càng thêm kinh ngạc khi anh Thọ cho biết là những sai phạm của tôi đã được đưa ra thảo luận tại một cuộc họp của đảng uỷ tiểu đoàn. Buổi họp để bình xét công lao, thành tích cuộc chiến đấu vừa qua. Người nêu ra những khuyết điểm của tôi không ai khác chính là đại đội trưởng Tuấn. Tôi chợt hiểu vì sao mọi chuyện anh ấy đều đổ hết cho tôi.
Khi nghe được chuyện này anh Thọ thấy bất bình cho tôi. Anh tin tôi. Nhưng anh Thọ chả thanh minh được cho tôi. Tôi cũng không thể giải thích được vì có ai hỏi lại mình xem những chuyện ấy sai đúng thế nào đâu mà phân bua. Mọi việc cứ âm thầm diễn ra ở đâu đó thế thôi. Đại đội trưởng Tuấn cũng đã được thăng quân hàm thượng uý và bổ nhiệm giữ chức vụ tiểu đoàn phó. Hiện giờ thì anh đã đi nhận nhiệm vụ tại một đơn vị huấn luyện ở tuyến sau, mãi dưới tận Hoà An, gần thị xã Cao Bằng.
Lúc tạm biệt để lên đường anh Thọ và thằng Lợi vẫn có vẻ còn ái ngại và băn khoăn cho tôi. Tôi cười cười động viên hai người:
- Thôi, chuyện đã qua rồi, chả việc gì phải suy nghĩ mãi. Chúc các vị lên đường nhận nhiệm vụ mới công thành danh toại, thăng quan tiến chức đều đều.
Anh Thọ và thằng Lợi đi rồi tôi chợt thấy trống trải và buồn quá. Tôi thả bộ ra thị trấn. Qua bản Nà Nghiềng đã lác đác có người về xem xét, thu dọn nhà cửa. Tôi bất ngờ gặp anh Bàng ở gần nhà bưu điện cũ. Anh đi quân khu công tác vừa mới về. Vừa nhìn thấy tôi anh đã hằm hằm bảo:
- Tao vừa đi công tác về nghe chuyện của mày! Đúng là... là... cái đồ... đồ...
Tôi chặn họng anh:
- Anh lại chuẩn bị phát ngôn bừa bãi vô tổ chức đấy!
- Vô tổ chức cái gì! Có tổ chức hẳn hoi mà lại chỉ nghe một phía, nhận xét không đúng về một con người. Hôm ấy tao đi vắng. Nếu ở nhà thì tao cho cái đồ sợ chết ấy một trận.
- Thôi anh ạ! Mà anh cũng hãy lo cho mình ấy! Cô Lệ thế nào rồi anh nhỉ?
- Chậc! Thì vẫn khoẻ, chúng tao sắp cưới rồi...
- Tốt quá! Chắc là cưới chạy... đẻ chứ gì?
- Mày chỉ được cái lắm chuyện. Thôi vào bản xem có kiếm được cái gì để kin lẩu không rồi lên chỗ tao ăn cơm! (kin lẩu tiếng Tày là uống rượu).
Tôi từ chối và quay về nhà ở. Vừa về đến nhà thì liên lạc gọi lên nhà chỉ huy tiểu đoàn có việc gấp. Tôi vội vã theo chiến sĩ liên lạc đi ngay. Đến cửa nhà chỉ huy tiểu đoàn tôi thấy chính trị viên Hoàng đang ngồi tiếp chuyện một người đàn ông và một cô gái. Hai người này ngồi quay lưng ra cửa. Tôi đứng nghiêm báo cáo:
- Tôi, hạ sĩ Lê Trọng Hà có mặt!
Chính trị viên Hoàng và hai người khách quay nhìn ra. Tôi sửng sốt và vui mừng nhận ra anh Chấn và cô Hoa, dân quân bản Kép Ké. Anh Chấn và cô Hoa cũng rất vui mừng vì nhận ra tôi.
Anh Chấn xiết chặt tay tôi. Cô Hoa cũng vui lắm. Ba chúng tôi rối rít hỏi chuyện nhau về sau lần chia tay trong vòng vây của quân giặc ấy đã chạy đi đâu, làm sao mà thoát được sự truy đuổi ráo riết của bọn lính đặc nhiệm xâm lược. Rối rít một lúc, tôi mới chợt nhớ ra và hỏi:
- Thế anh Chấn và cô Hoa đến tận đơn vị tôi có việc gì thế?
- Chuyện là thế này! - Chính trị viên Hoàng từ nãy giờ vẫn im lặng để ba chúng tôi nói chuyện giờ mới lên tiếng: - Anh Chấn bây giờ là phó chủ tịch, kiêm xã đội trưởng Kép Ké và cô Hoa tìm đến tận đơn vị ta nhờ cậu "chứng nhận" cho đấy!
- Chứng nhận cái gì ạ?
Tôi ngạc nhiên hỏi lại và nhìn hai vị khách cũng là hai đồng đội trong chiến đấu. Anh Chấn cười vui vẻ:
- Là thế này! Đơn vị dân quân Kép Ké được đề nghị cấp trên tặng cho cái huân chương chiến công. Bọn mình làm bản báo cáo thành tích, anh Hà là người đã cùng phối hợp chiến đấu, chứng kiến những người trong trung đội dân quân chiến đấu hy sinh dũng cảm như anh Phủng, chị Láy... Đề nghị anh viết cho một giấy chứng nhận để bổ sung vào hồ sơ khen thưởng.
Tôi vội chối ngay:
- Việc này tôi không giúp được đâu! Lúc phối hợp cùng dân quân Kép Ké chiến đấu chặn bọn giặc còn có đại đội trưởng Tuấn. Anh ấy là sĩ quan chỉ huy của chúng tôi. Đề nghị phó chủ tịch xã nên tìm gặp để anh ấy chứng nhận cho.
Anh Chấn vội xua xua tay:
- Bộ đội Hà "chứng nhận" thì được, mình không lấy chứng nhận của chỉ huy Tuấn đâu. Ông ấy có tham gia trận đánh ở Kép Ké đâu mà biết.
Tôi lúng túng không biết xử trí ra sao. Anh Chấn và cô Hoa nhìn tôi chờ đợi. Chính trị viên Hoàng suy nghĩ rồi quyết định. Anh đưa giấy bút cho tôi:
- Thôi thế này! Cậu cứ viết rõ mọi việc đã chứng kiến khi phối hợp chiến đấu với dân quân bản Kép Ké sau đó để anh Chấn và cô Hoa xem lại. Nếu hai người thấy đúng, đồng ý thì tôi sẽ thay mặt tiểu đoàn ký giấy xác nhận cho họ. Nhớ là phải viết cho thật chính xác đấy!
Tôi cắm cúi viết. Tôi viết về những tấm gương chiến đấu, hy sinh dũng cảm của dân quân Kép Ké mà mình đã được chứng kiến, có nêu qua sự phối hợp của các anh em bộ đội chúng tôi nữa. Anh Hoàng xem kỹ nội dung tôi đã viết xong đưa cho anh Chấn đọc lại. Anh Chấn đọc xong kêu lên:
- Không đúng rồi!
Tôi và chính trị viên Hoàng đều ngạc nhiên. Anh Hoàng nhăn mặt hỏi lại tôi:
- Cậu viết sai hả?
Anh Chấn bảo:
- Ô... không sai nhưng không đúng, anh Hà và các đồng chí bộ đội đã dũng cảm chiến đấu chi viện dân quân chúng tôi nhiều thế, đánh địch chết nhiều thế mà trong này lại không viết gì cả. Thế là không thật đúng rồi...
Anh Hoàng thở phào nhẹ nhõm. Tôi giải thích:
- Đây là phần để chứng nhận sự chiến đấu hy sinh của dân quân Kép Ké nên chỉ cần viết về dân quân thôi anh ạ!
Tôi phải nói một hồi anh Chấn mới chịu. Chính trị viên Hoàng ký xác nhận đưa văn thư đóng dấu rồi giao tờ giấy tôi viết cho anh phó chủ tịch xã Kép Ké. Mọi việc xong xuôi tôi mới chợt nhớ ra:
- Ơ... thế cô Hoa không về trường đi học lại à?
- Em về rồi! Nhà trường nghỉ hè nên em về quê thăm ông. Nghe tin chú Chấn đi Hà Quảng tìm các anh để hoàn chỉnh hồ sơ em xin đi cùng đấy!
Hoa nói có vẻ ấp úng. Chúng tôi ngồi nói chuyện, cùng nhau nhớ về những ngày ác liệt đã qua. Bữa trưa, liên lạc lấy cơm về, chính trị viên Hoàng bảo tôi ở lại cùng ăn cơm với hai người khách đặc biệt. Đầu giờ chiều có xe ô tô của trung đội vận tải xuôi Mỏ Sắt nhận lương thực và đạn dược, anh Hoàng dặn lái xe cho phó chủ tịch Chấn và cô Hoa đi nhờ để hai người về Kép Ké.
Tôi chia tay với anh Chấn và cô Hoa, những người gặp nhau trong chiến tranh, chiến đấu bên nhau chỉ với thời gian rất ngắn nhưng sao mà tôi thấy thân thiết thế.
Anh Hoàng được đề bạt làm chính uỷ trung đoàn. Hôm lên trung đoàn nhận nhiệm vụ gặp tôi anh bảo:
- Mày cứ yên tâm! Tao lên trung đoàn rồi sẽ cử người đi xác minh những việc ở Kép Ké xem thực hư thế nào!
Tôi chúc anh được lên chức. Thực ra tôi cũng chả quan tâm nhiều nữa đến những việc đã xảy ra trong chiến tranh. Mọi sự đã an bài. Tôi nghĩ thế. Bởi vì có những chuyện chả bao giờ phân định sai đúng một cách thật rõ ràng được đâu. Nếu nâng quan điểm lên thì là tôi sai rõ ràng. Sai ở chỗ là đã không chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy cao nhất theo điều lệnh chiến đấu của quân đội, dám tự ý dẫn anh em trong bộ phận chi viện dân quân Kép Ké chặn giặc. Tôi không chịu rút lui ngay theo lệnh của đại đội trưởng Tuấn, dẫn đến đã làm thêm tổn thất cho bộ đội. Sai nữa là ở chỗ lấy ngô lúa, bắt cá của dân. Bây giờ bà con dân bản có bỏ qua thì cũng vẫn là vi phạm kỷ luật dân vận. Nên nếu thẩm tra rõ thì mình có khi mình lại nặng tội thêm.
Tiểu đoàn bắt đầu nhận chiến sĩ mới, bước vào huấn luyện. Tôi được cử làm giáo viên huấn luyện vô tuyến 2W cho trung đội thông tin tiểu đoàn. Một buổi sáng tôi đang hướng dẫn bộ đội thực hành thao tác máy ngoài thao trường thì có lệnh về gặp chỉ huy tiểu đoàn. Tiểu đoàn trưởng Thêm dặn tôi:
- Cậu xuống gặp quản lý nhà bếp thanh toán tiền ăn, phiếu gạo, lấy sổ quân trang và giấy cung cấp tài chính... nhớ lấy luôn cả giấy sinh hoạt đoàn rồi lên trung đoàn nhận nhiệm vụ ngay.
- Nhiệm vụ gì thế ạ?
- Không rõ! Cứ lên trên ấy khắc biết.
Tôi hơi hoảng nghĩ: "Hay là trung đoàn họ điều tra ra những vi phạm của mình trong chiến đấu nên triệu lên để thi hành kỷ luật". (Thời gian này ở hướng Lạng Sơn đã có chiến sĩ phải ra toà án binh, bị phạt tù vì đã dùng súng bắn một con bò của nhân dân lấy thịt ăn). Tuy vậy tôi cũng tự động viên chắc chỉ là thuyên chuyển công tác bình thường thôi, chả có chuyện gì đâu.
Tôi khoác ba lô cuốc bộ xuôi hướng Đôn Chương. Dọc đường gặp những đoàn chiến sĩ mới từ phía sau đang hành quân lên biên giới. Nhìn những khuôn mặt trẻ măng đang hăm hở đi lên tuyến trước tôi chợt thấy bâng khuâng một nỗi buồn hiu hắt. Bao giờ đất nước mình hết chiến chinh để những chàng trai trẻ tràn đầy sức sống thế kia không còn phải cầm cây súng nữa. Những người con của bao bà mẹ trên khắp đất này sẽ không còn phải ngã xuống nữa. Tôi chợt thấy lạnh người khi nghĩ cả đoàn quân trai tráng, ồn ào kia nếu chiến tranh lại xảy ra thì chỉ sau vài trận sẽ chỉ còn là những nấm mồ lẫn vào cây lá nơi biên ải. Giá như đất nước mình hoà bình thì những chàng trai này sẽ là những sinh viên, những công nhân, trí thức trên công trường, nhà máy thì hay quá. Đất nước hoà bình sẽ phát triển, không phải nghèo, phải khổ mãi. Hôm qua bưng bát lên thấy cơm của người lính tuyến trước đã phải độn nhiều ngô sắn hơn rồi. Chiến tranh sẽ bòn rút hết tiềm lực kinh tế của đất nước, sẽ quàng cái ách nghèo đói lên đầu lên cổ nhân dân.
Đến lối rẽ vào Pác Bó thì tôi đi nhờ được một chiếc xe vận tải chở vật liệu xây dựng lên biên giới cho bộ đội làm công sự. Đến Nà Giàng nơi trung đoàn bộ đóng quân tôi ghé một nhà dân ven đường nấu cơm nhờ. Chị chủ nhà nhìn tôi hỏi:
- Chú là lính cũ à?
- Vâng, đúng thế ạ!
- Thảo nào nhìn mặt mũi hốc hác nhưng nhanh nhẹn lắm!
- Thế ạ!
- Thì chỉ có lính cũ nên chú mới thông thạo việc nấu nướng thế chứ!
Chị cho tôi một ít mỡ lợn, quả đu đủ xanh và nắm rau cải mới nhổ trên nương để làm thức ăn. Nấu cơm ăn xong tôi vào trung đoàn bộ thì đã đến giờ làm việc buổi chiều. Tôi tìm gặp anh trợ lý quân lực để hỏi quyết định chuyển công tác. Anh trợ lý quân lực trung đoàn vốn là người cùng quê Vĩnh Phú với tôi. Vừa thấy tôi anh đã bảo để ba lô lại và theo anh đi ngay. Tôi chột dạ hỏi:
- Đi đâu thế anh?
- Cứ đi khắc biết?
Tôi bồn chồn đi theo anh trợ lý quân lực. Anh dẫn tôi vào một căn nhà nhỏ mới làm, tường đắp bằng đất. Anh bảo tôi đứng ngoài rồi vào trước báo cáo chỉ huy. Tôi đang ngó nghiêng xung quanh thì có tiếng gọi vọng ra:
- Hà đấy à! Vào đi!
Tôi bước vào nhà, nhận ra anh Hoàng đang ngồi sau bàn làm việc. Thấy tôi vào, anh đứng dậy bắt tay và bảo tôi ngồi xuống ghế. Anh trợ lý quân lực chào về tiếp tục làm việc. Chính uỷ Hoàng rót ca nước đưa cho tôi rồi hỏi:
- Chú mày vẫn khoẻ chứ?
- Vâng ạ!
- Vẫn còn bất mãn vì chuyện không được thăng quân hàm và khen thưởng chứ?
- Em là hạ sĩ quan, hết nghĩa vụ thì phục viên về quê đi cày, quân hàm quân hiệu có là cái gì đâu mà bất mãn ạ!
- Nhưng cùng nhập ngũ với mày nhiều thằng sau chiến tranh được phong chuẩn uý, lên chức đại đội phó rồi đấy!
- Thì họ có số làm quan, số em chỉ làm lính tráng thôi anh ạ!
Anh Hoàng mỉm cười:
- Mày cũng lý luận gớm nhỉ?
- Thì em chỉ nghĩ thế nào nói thế thôi chứ lý luận gì đâu ạ!
Anh Hoàng im lặng một lát rồi đột nhiên nói sang chuyện khác:
- Việc của mày xong rồi...
- Anh đã cho người đi Kép Ké điều tra rồi ạ!
- Không... chả cần điều tra làm gì nữa?
- Sao lại thế ạ! - Tôi hỏi lại, giọng hơi run: - Vậy em phải chịu hình thức kỷ luật thế nào ạ?
- Kỷ luật cái gì?
- Thế em cứ tưởng...
Anh Hoàng bật cười:
- Tưởng cái gì! Sao chưa chi mặt mũi mày tái đi thế, lính chiến mà lại thế à. Mày chả phải kỷ luật, kỷ liệc gì cả đâu, yên tâm đi.
- Vậy là tiểu đoàn phó Tuấn đã nói lại việc của em rồi ạ?
Anh Hoàng ngần ngừ một lát rồi nói:
- Nói gì... ông ấy đã... đã... đào ngũ rồi!
Tôi vô cùng sửng sốt. Tưởng là nghe nhầm tôi thảng thốt hỏi lại:
- Anh ấy là cán bộ tiểu đoàn cơ mà, có phải chiến sĩ đâu mà lại đào ngũ?
- Thế đấy! Ông ấy bỏ đơn vị về nhà đã mấy tháng nay rồi. Trung đoàn đã gọi điện, rồi cho cán bộ mấy lần về tận nhà xem xét tình hình động viên nhưng ông ấy vẫn không chịu trở lại đơn vị. Thế chả là đào ngũ thì là gì nữa!
Tôi vẫn không hiểu. Sao có chuyện tày trời thế. Tôi chỉ mới ở quân ngũ dăm năm. Trong chiến tranh chống Mỹ thì chả nói làm gì còn bây giờ sao lại có sĩ quan đào bỏ ngũ chứ. Hay là có chuyện gì đã xảy ra đối với anh Tuấn. Anh ấy vừa được bổ nhiệm lên chức vụ tiểu đoàn phó, lại chuyển về tuyến sau huấn luyện chiến sĩ mới mà lại đào ngũ thì vô lý quá. Hơn nữa bây giờ chiến tranh đã tạm thời kết thúc rồi làm gì còn nguy hiểm, ác liệt, chết chóc nữa mà phải bỏ ngũ. Tôi cảm thấy hoang mang và băn khoăn về chuyện này quá. Tôi hỏi lại anh Hoàng:
- Hay là hoàn cảnh gia đình anh ấy có vấn đề gì khó khăn hả anh?
- Chả có vấn đề gì đâu! Ông ấy bỏ ngũ thật đấy, trung đoàn đã thẩm tra, xác minh chuyện này rất kỹ rồi. Kết luận về hành động của một người sĩ quan, cán bộ quân đội phải rất thận trọng, cân nhắc kỹ. Nhưng thôi việc này mày nghe biết thế thôi, không nên nói cho ai nữa. Trung đoàn đang nghĩ cách xử trí việc ông ấy bỏ ngũ. Có thể làm chế độ để cho ông ấy về phục viên. Dù sao ông ấy cũng là một người lính tham gia quân đội từ thời chống Mỹ...
Tôi vẫn không thể tin nổi việc anh Tuấn đã bỏ ngũ là sự thật. Chính uỷ Hoàng bảo:
- Ông ấy bỏ ngũ nên những việc ông ấy đã nói trong chiến đấu cũng cần phải xem xét lại. Chuyện ông ấy từng báo cáo về mày coi như là không thật chính xác. Vì thế chỉ huy trung đoàn mới gọi mày lên đây và quyết định cho mày về trường văn hóa của quân khu để ôn thi vào đại học.
Tôi thở phào nhưng trong lòng không thấy nhẹ nhõm hơn chút nào. Tôi cứ bị ám ảnh về việc anh Tuấn- một sĩ quan trung cấp, một cán bộ tiểu đoàn mà lại đào ngũ. Thật chả còn hiểu ra làm sao. Thấy tôi im lặng có vẻ vẫn chưa yên tâm, anh Hoàng cũng trầm ngâm có lẽ anh cũng đang suy nghĩ rất lung về việc của anh Tuấn. Một lát sau anh nói với tôi như nói với chính mình giọng anh chùng hẳn xuống xót xa: "Bản chất người lính chiến là thế! Sự hèn nhát không thể giấu kín mãi được đâu, hiểu không!".