Tứ Đại Gia

Lượt đọc: 90 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14
Cô Nàng Tóc Vàng Nhân Tạo

❊ ❊ ❊

Tôi vô cùng thất vọng trước kết quả vụ Poirot ném bom hơi cay vào sào huyệt ở khu phố Tàu. Trước hết, tên đầu sỏ của bọn chúng đã tẩu thoát. Khi người của Japp ùa tới theo tiếng còi hiệu của Poirot, họ chỉ thấy bốn gã người Hoa nằm bất tỉnh dưới sàn hành lang, còn kẻ từng dọa giết tôi thì chẳng thấy tăm hơi đâu. Sau đó tôi mới nhớ ra rằng lúc bản thân bị ép ra bậu cửa để nhử Poirot vào nhà, gã này đã cẩn thận lùi lại phía sau. Hẳn là gã đứng ngoài tầm ảnh hưởng của quả bom hơi cay, rồi nhân cơ hội thoát thân qua một trong vô số lối ngách mà mãi sau này chúng tôi mới phát hiện ra.

Từ bốn kẻ sa lưới, chúng tôi chẳng khai thác được gì. Dù cảnh sát đã điều tra cặn kẽ nhất có thể, họ vẫn không tìm ra bất cứ mối liên hệ nào giữa bọn chúng với nhóm Bộ Tứ. Bọn chúng chỉ là những cư dân hạ lưu bình thường trong vùng và tỏ ra hoàn toàn ngơ ngác trước cái tên Li Chang Yen. Chúng chỉ biết có một quý ông người Hoa thuê chúng tới phụ việc trong ngôi nhà ven sông, ngoài ra chúng mù tịt về những chuyện riêng của ông ta.

Sang ngày hôm sau, ngoại trừ một cơn đau đầu nhẹ, tôi đã hoàn toàn hồi phục khỏi tác động của quả bom hơi cay do Poirot ném. Chúng tôi cùng nhau trở lại khu phố Tàu để khám xét căn nhà nơi tôi vừa được giải cứu. Cơ ngơi ấy gồm hai căn nhà xập xệ nối liền với nhau bằng một lối đi ngầm. Tầng trệt và các tầng trên của cả hai căn đều trống trơn, hoang tàn, những ô cửa kính vỡ nát được che chắn sơ sài bằng những cánh cửa chớp mục nát. Japp đã bắt đầu lục lọi dưới hầm từ trước và tìm ra cơ quan bí mật dẫn vào căn phòng ngầm nơi tôi từng phải trải qua nửa giờ đồng hồ đầy kinh hoàng. Việc khám nghiệm kỹ lưỡng hơn càng khẳng định ấn tượng của tôi đêm hôm trước. Vải lụa bọc trên tường, trên ghế dài và những tấm thảm trải sàn đều là những tuyệt tác thủ công tinh xảo. Dù chẳng am tường mấy về nghệ thuật Trung Hoa, tôi vẫn nhận ra rằng mỗi món đồ trong phòng đều đạt đến độ hoàn mỹ của dòng sản phẩm đó.

Với sự hỗ trợ của Japp cùng vài thuộc cấp của ông, chúng tôi đã tiến hành lục soát căn phòng một cách tỉ mỉ nhất. Tôi từng ôm ấp hy vọng lớn lao rằng chúng tôi sẽ tìm thấy những tài liệu quan trọng: chẳng hạn một danh sách các tay chân cộm cán của nhóm Bộ Tứ, hay những bản mật mã ghi chép kế hoạch của chúng. Thế nhưng chúng tôi chẳng phát hiện được thứ gì tương tự. Những mẩu giấy duy nhất tìm thấy trong toàn bộ căn nhà chỉ là những trang ghi chép mà gã người Hoa nọ đã tra cứu trong lúc đọc bức thư cho Poirot viết. Đó là bản ghi chép hết sức đầy đủ về tiểu sử từng người chúng tôi, những đánh giá về tính cách, cùng những gợi ý về các điểm yếu mà chúng có thể lợi dụng để tấn công hiệu quả nhất.

Poirot vui sướng như một đứa trẻ trước phát hiện này. Riêng tôi lại chẳng thấy nó có chút giá trị nào, nhất là khi kẻ biên soạn những dòng đó đã lầm lẫn một cách nực cười trong vài nhận định. Tôi liền chỉ ra điều này với bạn mình khi chúng tôi đã về lại phòng trọ.

"Poirot thân mến," tôi lên tiếng, "bây giờ anh đã biết kẻ thù nghĩ gì về chúng ta rồi đấy. Hắn có vẻ đã phóng đại quá mức năng lực trí tuệ của anh, và lại đánh giá tôi thấp một cách lố bịch. Nhưng tôi thật không hiểu việc biết được chuyện này thì giúp ích gì cho chúng ta?"

Poirot cười khẽ bằng một điệu bộ khá chọc tức.

"Cậu không hiểu sao, hỡi Hastings? Chẳng phải giờ đây chúng ta có thể phòng bị trước vài ngón đòn tấn công của chúng, khi đã được cảnh báo về vài khuyết điểm của chính mình hay sao? Chẳng hạn nhé, bạn hiền của tôi, chúng ta biết rằng cậu cần phải uốn lưỡi trước khi nói, nghĩ kỹ trước khi làm. Lại nữa, lỡ có gặp một thiếu nữ tóc đỏ nào đang gặp nạn, cậu nên nhìn cô nàng bằng con mắt—người ta nói sao nhỉ—nghi ngại một chút, đúng không nào?"

Những trang ghi chép của chúng có vài đoạn bóng gió lố bịch về thói bốc đồng của tôi, lại còn gợi ý rằng tôi rất dễ xiêu lòng trước nét quyến rũ của những phụ nữ trẻ sở hữu màu tóc nhất định. Tôi cho rằng lời nhận xét của Poirot thật quá khiếm nhã, nhưng may sao tôi đã kịp phản pháo.

"Thế còn anh thì sao?" tôi vặn lại. "Liệu anh có định chữa cái thói 'tự phụ ngút trời' của mình không? Hay cả cái tính 'ngăn nắp đến mức kỹ tính thái quá' nữa?"

Tôi đang trích nguyên văn lời lẽ trong tập tài liệu, và tôi thấy rõ anh chẳng mấy hài lòng trước đòn đáp trả của tôi.

"Ồ, không còn nghi ngờ gì nữa, này Hastings, ở vài điểm thì chúng đã tự lừa dối mình—càng hay chứ sao! Rồi chúng sẽ phải sáng mắt ra thôi. Dù sao thì chúng ta cũng đã vỡ lẽ được đôi điều, mà biết trước tức là đã được phòng bị."

Câu cuối này vốn là châm ngôn tâm đắc của anh dạo gần đây; nhiều đến mức tôi bắt đầu thấy ngấy khi phải nghe nó.

"Chúng ta đã biết được một vài điều, Hastings à," anh nói tiếp. "Phải, chúng ta đã biết một vài điều—và thế là tốt—nhưng chúng ta vẫn chưa biết đủ nhiều. Chúng ta phải tìm hiểu thêm nữa."

"Bằng cách nào cơ chứ?"

Poirot ngả người ra lưng ghế, chỉnh lại bao diêm mà tôi vừa vứt bừa bãi trên bàn, rồi làm một cử chỉ mà tôi đã quá đỗi quen thuộc. Tôi nhận ra anh đang chuẩn bị thuyết giảng một tràng dài.

"Cậu thấy đấy, Hastings, chúng ta phải đương đầu với bốn đối thủ; tức là bốn cá tính hoàn toàn khác nhau. Với Số Một, chúng ta chưa từng giáp mặt trực tiếp—chúng ta chỉ biết đến hắn qua dấu ấn của bộ óc hắn để lại—nhân tiện tôi cũng nói luôn với cậu, này Hastings, tôi bắt đầu hiểu rất rõ bộ óc ấy rồi—một bộ óc Phương Đông vô cùng thâm sâu và vi diệu—mọi mưu mô cạm bẫy chúng ta từng đụng độ đều bắt nguồn từ bộ não của Li Chang Yen. Còn Số Hai và Số Ba, họ quá quyền lực, ở địa vị quá cao, nên tạm thời nằm ngoài tầm với của chúng ta. Tuy nhiên, chính bức bình phong bảo vệ họ lại tình cờ trở thành lá chắn cho chúng ta. Họ xuất hiện quá nhiều trước công chúng nên mọi đường đi nước bước đều phải hết sức cẩn trọng. Và giờ chúng ta bàn đến thành viên cuối cùng của băng nhóm—chúng ta bàn đến kẻ mang danh Số Bốn."

Giọng Poirot hơi đổi khác, như mỗi lần anh nhắc tới nhân vật đặc biệt này.

"Số Hai và Số Ba có thể thành công, có thể bình an vô sự bước đi trên con đường của mình là nhờ vào danh tiếng hiển hách cùng vị thế vững chắc của họ. Nhưng Số Bốn thành công lại vì lý do hoàn toàn trái ngược—hắn thành công nhờ sự mờ ám, ẩn dật. Hắn là ai? Chẳng một ai biết. Mặt mũi hắn ra sao? Lại càng không ai hay. Tôi và cậu đã chạm trán hắn bao nhiêu lần rồi? Năm lần cả thảy, đúng không? Vậy liệu trong hai chúng ta, có ai dám đoan chắc rằng mình sẽ nhận ra hắn nếu gặp lại lần nữa không?"

Tôi đành phải lắc đầu, trong đầu điểm lại hình ảnh của năm con người khác nhau mà lạ lùng thay, tất cả lại chỉ là một người. Gã hộ lý vạm vỡ ở trại tâm thần, người đàn ông cài kín cúc áo khoác măng-tô ở Paris, James tên người hầu, viên bác sĩ trẻ tuổi trầm lặng trong vụ Hoa nhài vàng, và vị Giáo sư người Nga. Không một ai trong số họ có nét gì giống với người khác cả.

"Chịu thôi," tôi nói trong tuyệt vọng. "Chúng ta hoàn toàn chẳng có manh mối nào để lần theo."

Poirot mỉm cười.

"Tôi xin cậu đấy, đừng vội buông xuôi một cách đầy nhiệt huyết như thế. Chúng ta cũng nắm được một hai điều đấy chứ."

"Những điều gì cơ?" tôi hỏi với vẻ hoài nghi.

"Chúng ta biết hắn là một người đàn ông có tầm vóc trung bình, nước da trung tính hoặc trắng trẻo. Nếu hắn là kẻ cao lớn da ngăm đen, hắn không đời nào có thể đóng giả thành viên bác sĩ đậm người da trắng kia được. Tất nhiên, việc độn thêm một hai phân chiều cao để vào vai James hay vị Giáo sư chỉ là trò trẻ con. Tương tự như vậy, hắn ắt hẳn phải có một sống mũi ngắn và thẳng. Người ta có thể dùng thuật hóa trang tài tình để đắp cho mũi dài thêm, chứ một chiếc mũi to thì không tài nào thu nhỏ lại ngay tức khắc được. Hơn nữa, hắn phải là một người còn khá trẻ, chắc chắn không quá ba mươi lăm tuổi. Cậu thấy chưa, chúng ta đang dần sáng tỏ vấn đề rồi đấy. Một gã đàn ông trạc ba mươi đến ba mươi lăm, vóc dáng và màu da tầm thước, một bậc thầy về nghệ thuật hóa trang, và gần như chẳng còn chiếc răng thật nào của chính mình."

"Cái gì cơ?"

"Chắc chắn là thế rồi, Hastings à. Khi đóng vai gã hộ lý, răng hắn sứt mẻ và ố vàng; ở Paris thì hàm răng lại đều tăm tắp và trắng muốt; lúc làm bác sĩ thì răng hơi vổ; còn khi biến thành Savaronoff, hắn lại mang đôi răng nanh dài bất thường. Chẳng có gì thay đổi diện mạo khuôn mặt triệt để bằng việc tráo đổi một hàm răng giả khác. Cậu có nhận ra tất cả những điều này dẫn chúng ta tới đâu không?"

"Chưa hẳn," tôi dè dặt đáp.

"Người ta thường bảo, nghề nghiệp in hằn rõ mồn một trên mặt mỗi người."

"Hắn là một tên tội phạm!" tôi thốt lên.

"Hắn là một bậc thầy về nghệ thuật hóa trang."

"Thì cũng như nhau cả thôi."

"Nhận định thế là hơi vội vàng đấy, Hastings, và giới sân khấu kịch nghệ hẳn sẽ chẳng thích thú gì với lời phán đó đâu. Cậu không thấy là gã này hiện đang, hoặc từng có thời gian làm diễn viên hay sao?"

"Một diễn viên ư?"

"Nhất định rồi. Hắn nắm trọn mọi ngón nghề trong lòng bàn tay. Giới diễn viên thường chia làm hai trường phái: một bên là những người hoàn toàn đắm mình vào vai diễn, còn một bên là những người tìm cách áp đặt cá tính riêng của mình lên nhân vật. Giám đốc các nhà hát thường xuất thân từ trường phái thứ hai. Họ nắm lấy vai diễn rồi nhào nặn nó theo bản sắc của chính mình. Còn trường phái thứ nhất rất dễ chôn vùi sự nghiệp bằng cách đóng giả ngài Lloyd George ở các phòng trà ca nhạc, hoặc chuyên thủ vai các ông già râu ria trong các vở kịch lưu diễn. Chính trong cái trường phái đầu tiên ấy, chúng ta mới có thể tìm ra Số Bốn của chúng ta. Hắn là một nghệ sĩ bậc thầy trong việc rũ bỏ bản thân để nhập trọn vẹn vào từng vai diễn."

Tôi bắt đầu cảm thấy hứng thú.

"Vậy là anh nghĩ mình có thể truy tìm tung tích của hắn thông qua các mối liên hệ với giới sân khấu kịch nghệ sao?"

"Khả năng suy luận của cậu lúc nào cũng sắc sảo tuyệt vời, hỡi Hastings."

"Giá như," tôi lạnh lùng nói, "anh nghĩ ra điều này sớm hơn thì tốt biết mấy. Chúng ta đã lãng phí quá nhiều thời gian rồi."

"Cậu lầm rồi, bạn hiền của tôi ơi. Không hề có phút giây nào bị lãng phí ngoài những điều bất khả kháng cả. Từ nhiều tháng nay, các tay chân của tôi đã bắt tay vào việc này rồi. Joseph Aarons là một trong số đó. Cậu còn nhớ anh ta chứ? Họ đã lập cho tôi một bản danh sách những người đáp ứng đủ các tiêu chuẩn cần thiết—những gã đàn ông trạc ba mươi tuổi, ngoại hình không có gì nổi bật, có tài đóng các vai tính cách—hơn nữa, họ phải là những người đã hoàn toàn rời bỏ ánh đèn sân khấu trong vòng ba năm trở lại đây."

"Thế rồi sao?" tôi hỏi, tò mò tột độ.

"Danh sách đó, dĩ nhiên, khá dài. Suốt thời gian qua, chúng tôi đã cặm cụi tiến hành phương pháp loại trừ. Và cuối cùng, chúng tôi đã thu hẹp lại chỉ còn bốn cái tên. Chúng đây, bạn hiền của tôi."

Anh quẳng cho tôi một tờ giấy. Tôi đọc to những thông tin trên đó.

"Ernest Luttrell. Con trai của một mục sư miền Bắc. Tâm tính luôn có chút lệch lạc về đạo đức. Từng bị đuổi học khỏi trường tư thục. Bước chân vào nghề diễn năm hai mươi ba tuổi. (Tiếp theo là danh sách các vai diễn hắn từng đóng, kèm ngày tháng và địa điểm.) Nghiện ngập ma túy. Được cho là đã sang Úc bốn năm trước. Mất dấu hoàn toàn sau khi rời nước Anh. Ba mươi hai tuổi, cao 1 mét 79, mặt nhẵn nhụi không râu, tóc nâu, mũi thẳng, da trắng, mắt xám.

"John St. Maur. Nghệ danh. Tên thật chưa rõ. Được cho là xuất thân từ tầng lớp bình dân London. Đứng trên sân khấu từ thuở nhỏ. Từng diễn trò nhại giọng ở các phòng trà. Mất tích không tin tức suốt ba năm nay. Tuổi khoảng ba mươi ba, cao 1 mét 78, dáng người mảnh khảnh, mắt xanh, nước da sáng sủa.

"Austen Lee. Nghệ danh. Tên thật là Austen Foly. Xuất thân danh giá. Vốn đam mê diễn xuất và từng nổi danh nhờ tài năng này ở Đại học Oxford. Chiến tích rực rỡ thời chiến tranh. Từng đóng trong—(Kèm theo danh sách thông thường, gồm nhiều vở kịch thuộc các đoàn kịch định kỳ.) Đam mê ngành tội phạm học. Từng bị suy nhược thần kinh nặng sau một tai nạn ô tô cách đây ba năm rưỡi, từ đó không còn xuất hiện trên sân khấu nữa. Hiện không có manh mối nào về tung tích. Ba mươi lăm tuổi, cao 1 mét 77, da trắng, mắt xanh, tóc nâu.

"Claud Darrell. Được cho là tên thật. Xuất thân có nhiều điểm bí ẩn. Từng diễn ở các phòng trà và cả trong các đoàn kịch định kỳ. Dường như không có bạn bè thân thiết. Từng ở Trung Quốc năm 1919. Về nước qua ngã Mỹ. Đã đóng vài vai ở New York. Một đêm nọ đột ngột không xuất hiện trên sân khấu, từ đó biệt vô âm tín. Cảnh sát New York gọi đây là vụ mất tích bí ẩn nhất. Tuổi khoảng ba mươi ba, tóc nâu, da trắng, mắt xám. Cao 1 mét 79.

"Thú vị thật đấy," tôi nói rồi đặt tờ giấy xuống. "Vậy đây là kết quả của nhiều tháng trời điều tra sao? Bốn cái tên này. Anh nghiêng về nghi phạm nào nhất?"

Poirot đưa tay ra hiệu một cách đầy ẩn ý.

"Bạn hiền của tôi ơi, lúc này đây mọi khả năng vẫn còn bỏ ngỏ. Tôi chỉ muốn lưu ý cậu rằng Claud Darrell từng ở Trung Quốc và Mỹ—một chi tiết có lẽ không phải không có ý nghĩa, nhưng chúng ta chớ vội để định kiến dẫn dắt. Biết đâu đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên."

"Thế bước tiếp theo là gì?" tôi sốt sắng hỏi.

"Mọi việc đã được sắp đặt sẵn rồi. Hằng ngày, những mẩu tin nhắn tìm người với lời lẽ cẩn trọng sẽ được đăng tải. Bạn bè và người thân của một trong bốn người này sẽ được yêu cầu liên lạc với văn phòng luật sư của tôi. Ngay hôm nay chúng ta có thể—Aha, chuông điện thoại! Chắc lại nhầm số như mọi khi, rồi người ta sẽ xin lỗi vì đã làm phiền, nhưng cũng có thể—phải, rất có thể—đã có điều gì đó phát sinh."

Tôi bước băng qua phòng và nhấc ống nghe.

"Vâng, vâng. Căn hộ của ông Poirot xin nghe. Vâng, Đại úy Hastings đây. Ồ, ông McNeil đấy ư! (McNeil và Hodgson là văn phòng luật sư của Poirot.) Tôi sẽ thưa lại với ông ấy. Vâng, chúng tôi sẽ qua ngay."

Tôi đặt ống nghe xuống rồi quay sang Poirot, mắt rạng lên vẻ phấn khích.

"Này Poirot, có một phụ nữ đang ở đó đấy. Bạn của Claud Darrell. Cô Flossie Monro. Ông McNeil muốn anh qua ngay."

"Đi ngay tức khắc!" Poirot kêu lên, biến mất vào phòng ngủ rồi trở ra với chiếc mũ trên tay.

Một chuyến taxi nhanh chóng đưa chúng tôi tới đích, và chúng tôi được dẫn thẳng vào phòng làm việc riêng của ông McNeil. Ngồi trên chiếc ghế bành đối diện với viên luật sư là một phụ nữ có vẻ ngoài khá lòe loẹt, không còn ở độ tuổi thanh xuân nữa. Mái tóc bà ta nhuộm một màu vàng quái dị, uốn lọn xù xì hai bên tai, mí mắt kẻ viền đen đậm, và phấn hồng cùng son môi cũng được dặm trét chẳng tiếc tay.

"À, ông Poirot đây rồi!" ông McNeil lên tiếng. "Thưa ông Poirot, đây là cô... ờ... Monro, người đã có nhã ý ghé qua để cung cấp cho chúng ta vài thông tin."

"Ôi, thật là quý hóa quá!" Poirot reo lên.

Anh ân cần tiến lại gần với vẻ hết sức vồ vập, rồi niềm nở bắt tay người phụ nữ.

"Tiểu thư xuất hiện như một đóa hoa bừng nở giữa văn phòng già nua bụi bặm này," anh nói thêm, chẳng màng đến cảm xúc của ông McNeil.

Lời tâng bốc lộ liễu ấy lập tức phát huy tác dụng. Cô Monro đỏ mặt, cười bẽn lẽn.

"Ôi dào, khéo mồm quá đi thôi, ông Poirot!" cô ta thốt lên. "Tôi còn lạ gì mấy ông người Pháp các người nữa."

"Thưa tiểu thư, trước cái đẹp thì chúng tôi đâu thể câm nín như những người đàn ông Anh quốc được. Mà tôi nào phải người Pháp—tôi là người Bỉ đấy chứ."

"Tôi cũng từng đến Ostend rồi đấy," cô Monro đáp.

Mọi chuyện, đúng như lời Poirot hay nói, đang tiến triển vô cùng mỹ mãn.

"Vậy tiểu thư có thể kể cho chúng tôi đôi điều về ông Claud Darrell không?" Poirot tiếp tục.

"Hồi trước tôi thân với anh Darrell lắm," người phụ nữ giải thích. "Vừa rồi đọc thấy mẩu quảng cáo của các ông, nhân lúc đang rảnh rỗi chưa nhận sô diễn nào, tôi mới tự nhủ: Đấy, người ta đang tìm tin tức về anh Claudie tội nghiệp—lại còn là luật sư nữa chứ—biết đâu có một món gia tài đang đợi người thừa kế đích thực, mình phải đi gặp họ ngay mới được."

Ông McNeil đứng dậy.

"Thế nào, ông Poirot, tôi để hai người trò chuyện riêng với cô Monro nhé?"

"Ông thật là chu đáo quá. Nhưng khoan đã—tôi vừa nảy ra một ý này. Giờ ăn trưa cũng sắp tới rồi. Liệu tiểu thư có thể vui lòng hạ cố dùng bữa trưa cùng tôi không?"

Đôi mắt cô Monro sáng rực lên. Tôi chợt nhận ra bà ta đang lâm vào cảnh vô cùng túng quẫn, và cơ hội có được một bữa ăn thịnh soạn thế này quả là không thể chối từ.

Vài phút sau, cả bọn chúng tôi đã ngồi trên một chiếc taxi hướng về một trong những nhà hàng đắt đỏ nhất London. Tới nơi, Poirot gọi một bữa trưa vô cùng thịnh soạn, rồi quay sang hỏi người khách của mình.

"Về phần rượu vang, thưa tiểu thư? Cô nghĩ sao về sâm-panh?"

Cô Monro chẳng nói gì—hoặc có thể coi là đã đồng ý tất cả.

Bữa ăn khởi đầu hết sức êm đẹp. Poirot chăm chú châm đầy ly cho người phụ nữ với vẻ chu đáo tột cùng, rồi dần dà lái câu chuyện sang đề tài anh hằng quan tâm nhất.

"Anh Darrell tội nghiệp. Thật tiếc là anh ấy không có mặt ở đây cùng chúng ta."

"Vâng, đúng thế đấy," cô Monro thở dài. "Tội nghiệp anh chàng, tôi cứ tự hỏi không biết giờ anh ấy trôi dạt phương nào."

"Đã lâu lắm rồi cô không gặp anh ấy, phải không?"

"Ôi, lâu lắm rồi ấy chứ—từ hồi chiến tranh đến giờ. Claudie là một gã kỳ cục, tính tình kín như bưng, chẳng bao giờ hé răng nửa lời về bản thân. Nhưng dĩ nhiên rồi, điều đó hoàn toàn khớp nếu anh ấy là người thừa kế mất tích. Là một tước vị quý tộc hả ông Poirot?"

"Hao ôi, chỉ là một khối tài sản thừa kế thôi," Poirot không chớp mắt buông lời bịa đặt. "Nhưng cô thấy đấy, vấn đề có thể nằm ở khâu nhận dạng. Thế nên chúng tôi mới cần tìm một người từng quen biết anh ấy thật tường tận. Hẳn là cô biết rất rõ về anh ấy, đúng không thưa tiểu thư?"

"Tôi cũng chẳng ngại nói thật với ông đâu, ông Poirot à. Ông đúng là một bậc quý ông lịch thiệp. Ông biết cách gọi một bữa ăn tử tế cho phụ nữ—chứ chẳng như mấy gã nhãi ranh nứt mắt thời nay. Bủn xỉn hết chỗ nói, tôi cứ phải gọi thẳng ra là như thế. Như tôi đã nói đấy, ông là người Pháp thì chắc chẳng sốc đâu nhỉ. Ái chà, mấy ông người Pháp các người! Hư lắm cơ!" Cô ta vừa lắc lắc ngón tay trêu chọc anh vừa làm bộ lúng liếng điệu đà. "Thì đấy, chuyện là hồi đó, tôi với Claudie, hai đứa trẻ son trẻ quấn quýt bên nhau—còn trông mong gì hơn nữa chứ? Đến giờ tôi vẫn còn dành cho anh ấy chút tình cảm tốt đẹp. Mặc dù, nói cho ông hay, anh ấy đối xử với tôi tệ lắm—vâng, tệ bạc lắm—chẳng ra cái thể thống gì cả. Chẳng giống cách người ta đối đãi với một quý cô chút nào. Cứ đụng đến chuyện tiền nong là cánh đàn ông các người đều một giuộc như nhau cả."

"Kìa kìa, thưa tiểu thư, xin đừng nói vậy," Poirot lên tiếng xoa dịu, tay lại rót đầy ly rượu cho bà ta. "Giờ cô có thể miêu tả lại anh Darrell này cho tôi nghe được không?"

"Ngoại hình anh ấy cũng chẳng có gì đặc sắc cho lắm," Flossie Monro mơ màng hồi tưởng. "Chẳng cao mà cũng chẳng lùn, ông hiểu đấy, nhưng dáng dấp khá đàng hoàng, bảnh bao. Trông lúc nào cũng tươm tất. Mắt màu xanh xám. Và tóc thì đo đỏ hoe hoe, tôi nghĩ thế. Nhưng mà ôi thôi, tài năng diễn xuất thì tuyệt đỉnh! Trong nghề này tôi chưa từng thấy ai sánh kịp anh ấy cả! Đáng lẽ anh ấy đã làm nên tên tuổi từ lâu rồi nếu không bị người ta ghen ăn tức ở. Than ôi, ông Poirot à, thói đố kỵ ấy mà—ông không tưởng tượng nổi đâu, thật sự không thể tin nổi giới nghệ sĩ chúng tôi đã phải chịu đựng biết bao cay đắng vì thói ghen ghét của người đời. Ôi, tôi còn nhớ dạo nọ ở Manchester—"

Chúng tôi đành phải hết sức kiên nhẫn lắng nghe một câu chuyện dài dòng, rối rắm về một vở kịch câm, cùng hành vi đê tiện của gã nam chính. Sau đó, Poirot mới khéo léo dẫn dắt bà ta quay lại chủ đề Claud Darrell.

"Tất cả những điều tiểu thư vừa kể cho chúng tôi nghe về anh Darrell quả thật vô cùng thú vị. Phụ nữ các cô luôn là những người quan sát tuyệt vời—họ thấy hết mọi thứ, nhận ra từng chi tiết nhỏ nhặt mà cánh đàn ông nông cạn thường bỏ qua. Tôi từng chứng kiến một phụ nữ nhận diện được một người đàn ông giữa cả chục người khác—và cô biết vì sao không? Cô ấy để ý thấy anh ta có thói quen vuốt mũi mỗi khi bồn chồn. Thử hỏi có gã đàn ông nào nghĩ đến việc để ý một chi tiết như thế không cơ chứ?"

"Có chuyện đó thật ư!" cô Monro reo lên. "Tôi đồ là phụ nữ chúng tôi đúng là hay để ý thật. Nhắc mới nhớ, giờ tôi mới nhớ ra hồi đó Claudie lúc ngồi vào bàn ăn bao giờ cũng táy máy với mẩu bánh mì. Anh ấy sẽ bẻ một mẩu nhỏ giữa hai ngón tay rồi chấm chấm quanh bàn để dính những vụn bánh vụn rơi vãi. Tôi thấy anh ấy làm thế hàng trăm lần rồi. Trời ạ, chỉ cần nhìn cái thói quen ấy thôi là tôi nhận ra anh ấy ngay lập tức ở bất cứ đâu."

"Đó chẳng phải chính là điều tôi vừa nói sao? Sự quan sát kỳ diệu của người phụ nữ. Thế cô có bao giờ nói với anh ấy về cái thói quen nhỏ này chưa, thưa tiểu thư?"

"Chưa, tôi chưa bao giờ nói cả, ông Poirot à. Ông lạ gì tính cánh đàn ông các người nữa! Đàn ông các ông chúa ghét bị người khác để ý, nhất là khi chuyện đó làm cho các ông có cảm giác như mình đang bị bắt lỗi hay chỉ trích. Tôi chẳng bao giờ hé nửa lời—nhưng khối lần tôi đã phì cười thầm một mình. Khổ thân, anh ấy thậm chí còn chẳng biết là mình đang làm cái trò đó nữa cơ."

Poirot khẽ gật đầu. Tôi nhận thấy bàn tay anh hơi run rẩy khi với lấy ly rượu.

"Thế rồi nét chữ cũng luôn là một phương tiện hữu hiệu để xác định danh tính," anh nhận xét. "Không còn nghi ngờ gì nữa, hẳn là tiểu thư vẫn còn giữ một lá thư nào đó do anh Darrell viết chứ?"

Flossie Monro tiếc nuối lắc đầu.

"Anh ấy chẳng bao giờ chịu viết lách gì cả. Cả đời chưa từng viết cho tôi lấy một dòng."

"Thật đáng tiếc," Poirot nói.

"Nhưng tôi bảo này," cô Monro đột nhiên reo lên. "Tôi có một tấm ảnh, không biết có giúp ích được gì không?"

"Cô có ảnh ư?"

Poirot gần như bật dậy khỏi ghế vì phấn kích.

"Ảnh chụp cũng lâu lắm rồi—ít nhất cũng phải tám năm về trước."

"Không hề gì! Cũ kỹ hay phai mờ đến mấy cũng chẳng sao! Ôi trời ơi, thật là may mắn khôn xiết! Tiểu thư sẽ cho phép tôi được xem tấm ảnh đó chứ?"

"Ồ, dĩ nhiên rồi."

"Liệu cô có thể cho phép tôi sao lại một bản không? Sẽ chẳng mất nhiều thời gian đâu."

"Được chứ, nếu ông muốn."

Cô Monro đứng dậy.

"Thôi, tôi phải chuồn đây," cô ta tinh nghịch tuyên bố. "Rất vui được gặp ông và bạn của ông nhé, ông Poirot."

"Thế còn bức ảnh? Khi nào tôi có thể nhận được nó?"

"Tối nay tôi sẽ tìm. Tôi nghĩ mình biết nó nằm ở chỗ nào. Rồi tôi sẽ gửi ngay cho ông."

"Ngàn lần cảm tạ tiểu thư. Cô thật là người tốt bụng nhất trần đời. Tôi hy vọng chúng ta sẽ sớm có dịp cùng nhau dùng một bữa trưa thân mật khác."

"Bất cứ khi nào ông muốn," cô Monro đáp. "Tôi luôn sẵn lòng."

"Để xem nào, hình như tôi chưa có địa chỉ của cô thì phải?"

Với vẻ điệu bộ kênh kiệu, cô Monro rút một tấm danh thiếp từ trong túi xách ra trao cho anh. Đó là một tấm danh thiếp hơi hoen ố, địa chỉ gốc đã bị gạch đi và thay bằng một địa chỉ khác viết bằng bút chì.

Sau đó, bằng vô số những cái cúi chào và cử chỉ khoa tay múa chân của Poirot, chúng tôi từ biệt người phụ nữ rồi rời đi.

"Anh thực sự nghĩ bức ảnh này quan trọng đến thế sao?" tôi hỏi Poirot.

"Phải, bạn hiền của tôi ơi. Máy ảnh thì không biết nói dối. Người ta có thể phóng to bức ảnh lên, nắm bắt những nét đặc trưng nổi bật mà bình thường sẽ chẳng ai để ý. Rồi còn cả ngàn lẻ một chi tiết khác nữa—chẳng hạn như cấu trúc của vành tai, thứ mà không một ai có thể dùng lời lẽ để miêu tả cho cậu hiểu được. Ôi, phải rồi, đây là một cơ hội ngàn vàng vừa tìm đến với chúng ta! Chính vì thế mà tôi dự định phải tiến hành các biện pháp đề phòng."

Vừa dứt lời, anh bước thẳng tới chỗ máy điện thoại và quay một dãy số mà tôi biết là của một văn phòng thám tử tư anh thỉnh thoảng vẫn thuê. Lời chỉ dẫn của anh rất rõ ràng và dứt khoát: Hai thám tử phải đến ngay địa chỉ anh vừa cung cấp, và nói chung, phải bảo đảm an toàn tính mạng cho cô Monro. Họ phải bám sát theo cô ta bất kể cô ta đi tới đâu.

Poirot gác máy rồi quay lại chỗ tôi.

"Anh có thực sự thấy việc đó là cần thiết không, Poirot?" tôi hỏi.

"Có thể lắm chứ. Chắc chắn là tôi và cậu đang bị theo dõi, và một khi đã như vậy, chẳng mấy chốc chúng sẽ biết trưa nay chúng ta đã dùng bữa với ai. Và rất có thể Số Bốn sẽ đánh hơi thấy mối nguy hiểm."

Khoảng hai mươi phút sau, chuông điện thoại réo vang. Tôi nhấc máy. Một giọng nói cộc lốc vang lên ở đầu dây bên kia.

"Có phải ông Poirot đấy không? Bệnh viện St. James xin thông báo. Mười phút trước có một phụ nữ trẻ được đưa vào đây. Tai nạn giao thông. Tên là Flossie Monro. Cô ấy đang đòi gặp ông Poirot rất gấp. Nhưng ông ấy phải đến ngay lập tức. Cô ấy khó lòng qua khỏi được lâu đâu."

Tôi thuật lại những lời đó cho Poirot nghe. Mặt anh tái mét.

"Nhanh lên, Hastings. Chúng ta phải đi nhanh như gió mới được."

Một chiếc taxi đưa chúng tôi đến bệnh viện trong chưa đầy mười phút. Chúng tôi hỏi thăm phòng của cô Monro và được dẫn ngay tới khu cấp cứu tai nạn. Nhưng một nữ y tá đội mũ trắng đã đón chúng tôi ngay ở ngưỡng cửa.

Poirot đọc được tin dữ trên nét mặt cô ta.

"Xong rồi... phải không?"

"Cô ấy đã qua đời cách đây sáu phút."

Poirot đứng chết lặng như bị trời trồng.

Hiểu lầm nỗi xúc động của anh, cô y tá cất giọng an ủi nhẹ nhàng.

"Cô ấy không phải chịu đau đớn đâu, đến giây phút cuối thì cô ấy đã hôn mê rồi. Cô ấy bị một chiếc ô tô cán phải, ông biết đấy—thế mà tài xế thậm chí còn chẳng buồn dừng lại. Tàn nhẫn quá phải không? Tôi mong là có ai đó đã kịp ghi lại biển số xe."

"Đến cả các vì sao cũng chống lại chúng ta," Poirot thốt lên bằng một giọng trầm buồn.

"Các ông có muốn vào nhìn mặt cô ấy không?"

Cô y tá dẫn đường, và chúng tôi cất bước theo sau.

Tội nghiệp Flossie Monro, với lớp phấn hồng và mái tóc nhuộm lòe loẹt. Giờ đây bà nằm đó thanh thản lạ thường, trên môi còn vương một nụ cười mỏng manh.

"Phải," Poirot lẩm bẩm. "Các vì sao chống lại chúng ta—nhưng liệu có thực là do số mệnh hay không?" Anh ngẩng đầu lên như vừa bị một ý nghĩ bất chợt đánh trúng. "Liệu có phải do ý trời không hả Hastings? Nếu không phải... nếu không phải là thế... Ôi, đứng trước thi thể người phụ nữ bất hạnh này, tôi xin thề với cậu, bạn hiền của tôi ơi, tôi sẽ không nương tay khi thời khắc ấy đến!"

"Ý anh là sao?" tôi gặng hỏi.

Nhưng Poirot đã quay ngoắt sang phía cô y tá và dồn dập gặng hỏi tin tức. Cuối cùng người ta cũng tìm được bản danh sách các vật dụng tìm thấy trong túi xách của nạn nhân. Poirot kìm một tiếng kêu nghẹn lại khi đọc lướt qua nó.

"Cậu thấy chưa, Hastings, cậu thấy chưa?"

"Thấy cái gì cơ?"

"Không hề có một dòng nào nhắc tới chìa khóa cửa! Nhưng kiểu gì cô ấy cũng phải mang theo chìa khóa nhà bên mình chứ. Không, cô ấy đã bị cán chết một cách có chủ đích và máu lạnh, rồi kẻ đầu tiên cúi xuống bên xác cô ấy đã thó mất chiếc chìa khóa trong túi xách. Nhưng chúng ta vẫn có thể kịp thời. Hắn có thể chưa tìm ra ngay thứ mình cần đâu."

Một chiếc taxi khác vội vã đưa chúng tôi tới địa chỉ mà Flossie Monro đã để lại, một khu chung cư tồi tàn nằm trong một khu xóm nhớp nhúa. Mất một hồi lâu chúng tôi mới vào được căn hộ của cô Monro, nhưng chí ít chúng tôi cũng được an ủi rằng chẳng ai có thể rời khỏi đó trong lúc chúng tôi đang canh gác bên ngoài.

Rốt cuộc chúng tôi cũng vào được bên trong. Rõ ràng là đã có kẻ nhanh chân hơn chúng tôi một bước. Đồ đạc trong các ngăn kéo và tủ kệ bị lôi ra vứt tung tóe khắp sàn nhà. Các ổ khóa đều bị cậy tung, và những chiếc bàn nhỏ thậm chí còn bị lật nhào, đủ thấy kẻ lục lọi đã vội vã và cuống cuồng đến mức nào.

Poirot bắt đầu bới tìm giữa đống đổ nát hỗn độn. Đột nhiên anh đứng phắt dậy với một tiếng kêu thất thanh, tay chìa ra một vật. Đó là một chiếc khung ảnh kiểu cổ—trống rỗng.

Anh chậm rãi lật mặt sau lại. Đính ở phía sau là một chiếc nhãn tròn nhỏ—một chiếc nhãn ghi giá tiền.

"Khung này giá bốn shilling," tôi buột miệng bình phẩm.

"Trời đất ơi! Hastings, mở to mắt ra mà nhìn xem. Đó là một cái nhãn mới toanh và sạch sẽ. Nó được dán vào đó bởi chính kẻ đã lấy bức ảnh đi, kẻ đã đến đây trước chúng ta, nhưng biết thừa chúng ta sẽ tới, nên đã cố tình để lại thứ này cho chúng ta—Claud Darrell—bí danh Số Bốn!"

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.