Tôi ngất đi chắc chưa đầy một phút. Khi tỉnh lại, tôi thấy mình đang bị hai gã đàn ông lôi xềnh xệch đi giữa họ. Chúng kẹp chặt hai bên nách, nhấc bổng cả người tôi lên, miệng tôi thì bị nhét giẻ nghẹn ứ. Xung quanh tối đen như mực, nhưng tôi lờ mờ nhận ra chúng tôi vẫn chưa ra ngoài mà đang băng qua khách sạn. Khắp bốn bề vang lên tiếng la hét, người ta nhao nhao hỏi bằng đủ thứ thứ tiếng xem sự cố gì đã xảy ra với hệ thống điện. Những kẻ bắt giữ lôi tuột tôi xuống mấy bậc cầu thang. Chúng tôi đi dọc theo một hành lang dưới tầng hầm, qua một cánh cửa rồi trở ra ngoài trời qua lối cửa kính phía sau khách sạn. Chỉ trong chớp mắt, chúng tôi đã lẩn vào bóng tối rậm rạp của rặng thông.
Tôi thoáng thấy một bóng người khác cũng đang lâm vào cảnh ngộ tương tự như mình, và bàng hoàng nhận ra Poirot cũng đã trở thành nạn nhân của đòn tập kích táo tợn này.
Bằng sự liều lĩnh đến tột cùng, Số Bốn đã giành phần thắng. Tôi đoán hắn đã dùng một loại thuốc gây mê tức thì, có lẽ là ethyl chloride—bằng cách bẻ một ống thủy tinh nhỏ ngay dưới mũi chúng tôi. Rồi giữa cơn hỗn loạn trong bóng tối, đồng bọn của hắn—rất có thể là những vị khách ngồi ngay bàn bên cạnh—đã nhanh tay nhét giẻ vào miệng chúng tôi rồi áp giải đi gấp, đưa chúng tôi xuyên qua khách sạn để đánh lạc hướng mọi sự truy đuổi.
Tôi không sao tả xiết một giờ đồng hồ sau đó. Chúng tôi bị lùa đi qua những cánh rừng với tốc độ chóng mặt, dốc cứ dốc ngược mãi lên trên. Cuối cùng, cả đoàn cũng ra đến khoảng đất trống trên sườn núi, và ngay trước mặt tôi hiện ra một cảnh tượng kỳ dị: một quần thể đá tảng và vách đá nhấp nhô muôn hình vạn trạng.
Đây hẳn phải là Mê cung đá Felsenlabyrynth mà Harvey từng nhắc tới. Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã luồn lách vào những ngóc ngách sâu thẳm của nó. Nơi này chẳng khác nào một mê cung do một con yêu quái hiểm ác dựng nên.
Bỗng nhiên cả bọn dừng lại. Một khối đá khổng lồ chắn ngang lối đi. Một tên cúi xuống, dường như ấn vào một điểm nào đó, và không một tiếng động, khối đá đồ sộ tự xoay mình, để lộ ra một lối vào tựa như đường hầm dẫn sâu vào lòng núi.
Chúng tôi bị xô đẩy bước vào đó. Đoạn đầu đường hầm khá hẹp, nhưng chẳng bao lâu sau đã mở rộng dần, rồi chúng tôi tiến vào một căn phòng đá thênh thang được thắp sáng bằng điện. Tại đây, giẻ bịt miệng chúng tôi mới được tháo ra. Nhận một dấu hiệu từ Số Bốn—kẻ đang đứng đối diện với chúng tôi bằng vẻ mặt đắc thắng đầy chế giễu—chúng lục soát người chúng tôi và móc sạch mọi thứ trong túi, kể cả khẩu súng lục tự động nhỏ nhắn của Poirot.
Lòng tôi quặn thắt khi thấy khẩu súng bị quẳng cạch xuống bàn. Chúng tôi đã thua—thua một cách tuyệt vọng trong thế yếu đơn độc. Thế là hết.
“Chào mừng đến với đại bản doanh của Bộ Tứ, ngài Hercule Poirot,” Số Bốn cất giọng mỉa mai. “Được gặp lại ngài quả là một niềm vinh hạnh ngoài dự kiến. Nhưng liệu có bõ công ngài đội mồ sống lại chỉ để nhận lấy kết cục này chăng?”
Poirot không đáp. Tôi chẳng dám nhìn về phía ông.
“Đi lối này,” Số Bốn tiếp tục. “Sự hiện diện của ngài hẳn sẽ đem lại đôi chút bất ngờ cho các đồng sự của tôi đấy.”
Hắn chỉ vào một khung cửa hẹp trên vách đá. Chúng tôi bước qua và thấy mình đang ở trong một căn phòng khác. Tận cùng căn phòng kê một chiếc bàn với bốn chiếc ghế phía sau. Chiếc ghế ngoài cùng bên trái còn trống, nhưng trên đó vắt một chiếc áo choàng của quan lại triều đình Mãn Thanh. Trên chiếc ghế thứ hai, ông Abe Ryland đang ngồi phì phèo điếu xì gà. Dựa lưng vào chiếc ghế thứ ba, với đôi mắt rực lửa và gương mặt lạnh như một nữ tu, là bà Olivier. Số Bốn tiến lại ngồi vào chiếc ghế thứ tư.
Chúng tôi đang đứng trước mặt Bộ Tứ quyền lực.
Chưa bao giờ tôi cảm nhận được sự tồn tại bằng xương bằng thịt và tầm ảnh hưởng ghê gớm của Lý Xương Yên rõ rệt như lúc này, khi đối diện với chiếc ghế trống của hắn. Dù đang ở tận chốn Trung Hoa xa xôi, hắn vẫn thao túng và điều hành toàn bộ tổ chức tàn độc này.
Bà Olivier khẽ thốt lên một tiếng khi nhìn thấy chúng tôi. Ryland thì bình tĩnh hơn, ông ta chỉ khẽ nhếch điếu xì gà và nhướng đôi mày hoa râm.
“Ngài Hercule Poirot,” Ryland chậm rãi lên tiếng. “Thật là một bất ngờ thú vị. Ngài đã lừa được chúng tôi một vố ra trò đấy. Chúng tôi cứ ngỡ ngài đã mồ yên mả đẹp rồi cơ. Nhưng không sao, cuộc chơi đến đây là chấm dứt.”
Giọng gã đanh thép như kim loại rèn. Bà Olivier không nói gì, nhưng đôi mắt bà ta ánh lên tia nhìn sắc lạnh, và tôi rùng mình trước nụ cười mỉm từ từ hé nở trên môi người đàn bà ấy.
“Thưa bà và các quý ông, chúc một buổi tối tốt lành,” Poirot điềm đạm đáp.
Một điều gì đó khác thường, một âm hưởng xa lạ mà tôi chưa từng nghe thấy trong giọng nói của ông khiến tôi phải ngoái nhìn. Trông ông hoàn toàn thản nhiên. Nhưng dường như toàn bộ dáng vẻ của ông toát lên một điều gì đó rất khác lạ.
Bỗng có tiếng sột soạt của tà váy phía sau, và Nữ Bá tước Vera Rossakoff bước vào.
“A!” Số Bốn thốt lên. “Vị cánh tay phải đắc lực và đáng tin cậy của chúng ta. Có một người bạn cũ của bà ở đây này, thưa quý bà.”
Nữ bá tước quay phắt người lại với cử chỉ vội vã, kịch liệt quen thuộc.
“Chúa trên cao ơi!” bà ta kêu lên. “Lại là cái ông người nhỏ thó này! Chao ôi, sao mà ông có tới chín cái mạng như loài mèo thế không biết! Ôi, ông bạn nhỏ bé ơi là ông bạn nhỏ bé! Cớ sao ông lại cứ phải đâm đầu vào chuyện này cơ chứ?”
“Thưa phu nhân,” Poirot cúi đầu chào. “Tôi đây, cũng giống như Napoléon vĩ đại, luôn đứng về phía những đội quân hùng hậu.”
Khi ông cất lời, tôi thấy một tia ngờ vực lóe lên trong mắt bà ta, và cùng lúc ấy, một sự thật mà tiềm thức tôi vốn đã mơ hồ cảm thấy bỗng vỡ òa.
Người đàn ông đứng cạnh tôi không phải là Hercule Poirot.
Người này rất giống ông, giống đến mức lạ lùng. Cũng cái đầu hình quả trứng ấy, cũng cái dáng đi điệu đà, béo tròn núc ních ấy. Nhưng giọng nói thì khác hẳn, đôi mắt thay vì xanh lục lại có màu sẫm tối, và chắc chắn là hàng ria mép—hàng ria mép trứ danh kia—?
Dòng suy nghĩ của tôi bị cắt ngang bởi tiếng nói của nữ bá tước. Bà ta bước lên một bước, giọng vang lên đầy vẻ kích động.
“Các người bị lừa rồi. Kẻ đó không phải là Hercule Poirot!”
Số Bốn thốt lên một tiếng hoài nghi, nhưng nữ bá tước đã nhào tới và giật mạnh hàng ria mép của Poirot. Nó bong ra ngay trên tay bà ta, và đến lúc này, sự thật rành rành đã phơi bày. Môi trên của người đàn ông này có một vết sẹo nhỏ làm biến dạng hoàn toàn nét mặt.
“Không phải Hercule Poirot,” Số Bốn lẩm bẩm. “Thế thì hắn ta rốt cuộc là ai?”
“Tôi biết!” Tôi buột miệng kêu lên, rồi lập tức nín bặt vì sợ mình vừa phá hỏng tất cả.
Nhưng người đàn ông mà tôi vẫn tạm gọi là Poirot đã quay sang nhìn tôi với ánh mắt khích lệ.
“Cứ nói đi nếu anh muốn. Giờ thì chẳng hề gì nữa rồi. Mưu kế đã thành công.”
“Đây là Achille Poirot,” tôi chậm rãi nói. “Người anh em sinh đôi của Hercule Poirot.”
“Vô lý,” Ryland gắt gỏng, nhưng nét mặt gã đã thoáng dao động.
“Kế hoạch của Hercule đã thành công ngoài sức tưởng tượng,” Achille điềm tĩnh bảo.
Số Bốn chồm lên phía trước, giọng gằn từng tiếng đầy đe dọa.
“Thành công cơ đấy à?” Hắn gầm lên. “Mày có biết chỉ ít phút nữa thôi là mày sẽ chết—chết không kịp ngáp không?”
“Biết chứ,” Achille Poirot nghiêm trang đáp. “Tôi hoàn toàn ý thức được điều đó. Chính các người mới là những kẻ không hiểu rằng có những người sẵn sàng đánh đổi tính mạng để lấy sự thành công. Đã có biết bao người ngã xuống vì tổ quốc trong cuộc đại chiến vừa qua. Tôi cũng sẵn lòng hy sinh thân mình theo cách tương tự cho cả thế giới này.”
Ngay lúc ấy, tôi chợt nghĩ rằng dẫu bản thân cũng sẵn lòng hy sinh tính mạng, nhưng lẽ ra người ta cũng nên hỏi ý kiến tôi một tiếng chứ. Rồi tôi sực nhớ lại chuyện Poirot đã nài nỉ tôi ở lại ra sao, và lòng tôi lại thấy nhẹ nhõm hơn.
“Thế việc mày bỏ mạng thì mang lại lợi ích quái gì cho thế giới?” Ryland cay độc hỏi vặn lại.
“Tôi thấy các người chẳng hiểu nổi thâm ý trong kế hoạch của Hercule rồi. Thứ nhất, nơi ẩn náu này của các người đã bị phát giác từ vài tháng trước, và trên thực tế gần như toàn bộ khách khứa, nhân viên phục vụ khách sạn cùng những người khác đều là thám tử hoặc nhân viên Mật vụ. Một vòng vây đã khép chặt quanh ngọn núi này. Các người có thể có nhiều hơn một lối thoát hiểm, nhưng dù vậy cũng không tài nào trốn thoát được đâu. Đích thân Poirot đang chỉ huy chiến dịch bên ngoài. Đế giày của tôi đã được bôi một lớp dầu tiểu hồi hương tối nay, trước khi tôi bước xuống sân hiên thay cho anh trai mình. Chó săn đang lần theo dấu vết đó. Chúng sẽ dẫn đường chuẩn xác tới tảng đá trong Mê cung đá, nơi đặt lối vào bí mật này. Các người thấy đấy, dù có làm gì chúng tôi đi chăng nữa, mẻ lưới cũng đã bủa vây quanh các người rồi. Không lối thoát đâu.”
Bà Olivier bỗng bật cười khúc khích.
“Ngươi nhầm rồi. Chúng ta vẫn còn một con đường thoát thân, và giống như chàng Samson thời xưa, ta sẽ tiêu diệt luôn kẻ thù cùng một lúc. Các bạn tôi thấy thế nào?”
Ryland trừng trừng nhìn Achille Poirot.
“Ngộ nhỡ nó nói dối thì sao?” gã khàn giọng hỏi.
Người đối diện chỉ nhún vai.
“Chỉ một giờ nữa trời sẽ rạng. Khi đó các người có thể tự mình kiểm chứng chân tướng lời tôi nói. Có khi lúc này họ đã lần theo dấu vết tới tận cửa vào ở Mê cung đá rồi cũng nên.”
Đúng lúc ông vừa dứt lời, một tiếng ầm vang dội từ đằng xa vọng lại, và một tên thuộc hạ hớt hải chạy vào, miệng lắp bắp những lời thất thanh. Ryland bật dậy lao ra ngoài. Bà Olivier bước về phía cuối phòng và mở một cánh cửa mà nãy giờ tôi không để ý. Qua khe cửa, tôi thoáng thấy một phòng thí nghiệm được trang bị tối tân, gợi nhớ đến căn phòng ở Paris. Số Bốn cũng bật dậy rồi chạy vụt ra. Hắn quay lại mang theo khẩu súng lục của Poirot rồi trao cho nữ bá tước.
“Chúng không có cửa trốn đâu,” hắn lạnh lùng nói. “Nhưng tốt hơn hết bà cứ cầm lấy cái này.”
Đoạn, hắn lại vội vã bỏ ra ngoài.
Nữ bá tước bước lại gần và chăm chú quan sát người bạn đồng hành của tôi một lúc lâu. Bất chợt bà ta bật cười.
“Ông khôn ngoan lắm, thưa ngài Achille Poirot,” bà ta giễu cợt.
“Thưa phu nhân, chúng ta hãy bàn chuyện làm ăn đi. May mắn làm sao khi bọn họ lại để chúng ta ở riêng với nhau thế này. Cái giá của bà là bao nhiêu?”
“Tôi không hiểu. Giá cả gì cơ?”
“Thưa phu nhân, bà có thể giúp chúng tôi trốn thoát. Bà biết những lối bí mật ra khỏi hang ổ này. Tôi xin hỏi, cái giá của bà là bao nhiêu?”
Bà ta lại cười lớn.
“Nhiều hơn số tiền ông có thể trả đấy, ông bạn nhỏ bé ạ! Chà, có đem tất cả tiền bạc trên thế gian này ra cũng chẳng mua chuộc nổi tôi đâu!”
“Thưa phu nhân, tôi nào có nói đến tiền. Tôi là một người có đầu óc. Tuy nhiên, có một sự thật hiển nhiên là—ai cũng có một cái giá của mình. Để đổi lấy sự sống và tự do, tôi xin dâng tặng bà điều mà trái tim bà hằng khao khát nhất.”
“Hóa ra ông là một thầy phù thủy đấy à!”
“Bà muốn gọi thế nào cũng được.”
Nữ bá tước bỗng thu lại vẻ cợt nhả. Giọng bà ta trở nên gay gắt, cay đắng tột cùng.
“Đồ ngu xuẩn! Điều trái tim ta khao khát ư! Liệu ông có thể giúp ta trả thù lũ kẻ thù kia không? Liệu ông có thể trả lại cho ta tuổi xuân, nhan sắc và một tâm hồn tươi vui phơi phới không? Liệu ông có thể khiến kẻ chết sống lại được không?”
Achille Poirot nhìn bà ta với vẻ tò mò kỳ lạ.
“Trong ba điều đó, phu nhân chọn điều nào? Xin cứ chọn đi.”
Bà ta cười cay độc.
“Có lẽ ông định bán cho ta Thuốc Trường sinh bất lão chăng? Nào, ta sẽ giao kèo với ông thế này. Trước đây, ta từng có một đứa con. Hãy tìm lại đứa con cho ta—rồi các người sẽ được tự do bước ra khỏi đây.”
“Thưa phu nhân, tôi đồng ý. Giao kèo đã định. Đứa con sẽ được trao trả lại cho bà. Xin lấy danh dự của—lấy danh dự của chính Hercule Poirot ra thề độc.”
Người đàn bà kỳ lạ ấy lại cười vang—lần này là một tràng cười dài, không chút kiềm chế.
“Ngài Poirot thân mến ơi, tôi e là tôi vừa giăng một cái bẫy nhỏ cho ngài rồi. Ngài thật tốt bụng khi hứa tìm lại con cho tôi, nhưng ngài thấy đấy, tôi lại tình cờ biết tỏng rằng ngài sẽ chẳng bao giờ thành công đâu, và như thế thì bản giao kèo này quá đỗi bất công cho tôi, phải không nào?”
“Thưa phu nhân, tôi xin thề trước các Thiên thần thiêng liêng rằng tôi sẽ mang con về cho bà.”
“Lúc nãy tôi đã hỏi ngài rồi đấy thôi, ngài Poirot, liệu ngài có thể làm cho người chết sống lại được chăng?”
“Vậy là đứa bé đã—”
“Chết rồi ư? Đúng vậy.”
Ông bước tới và nắm lấy cổ tay bà ta.
“Thưa phu nhân, tôi—chính con người đang nói chuyện với bà đây, xin thề một lần nữa. Tôi sẽ khiến người chết sống lại.”
Bà ta trừng trừng nhìn ông như bị thôi miên.
“Bà không tin tôi. Tôi sẽ chứng minh lời nói của mình. Hãy lấy cuốn sổ tay bỏ túi mà bọn chúng đã tịch thu của tôi lại đây.”
Bà ta bước ra khỏi phòng, rồi quay lại với cuốn sổ trên tay. Trong suốt thời gian đó, tay bà ta vẫn nắm chặt khẩu súng ngắn. Tôi cảm thấy cơ hội để Achille Poirot giở trò bịp bợm với bà ta là vô cùng mong manh. Nữ Bá tước Vera Rossakoff đâu phải hạng người ngây thơ dễ lừa.
“Mở nó ra đi, thưa phu nhân. Ngăn cài bên tay trái. Đúng rồi. Bây giờ hãy lấy bức ảnh bên trong ra mà xem.”
Đầy vẻ hoài nghi, bà ta rút ra một tấm ảnh chụp nhanh cỡ nhỏ. Vừa nhìn vào tấm ảnh, bà ta liền thốt lên một tiếng kêu thảng thốt rồi lảo đảo như sắp ngã quỵ. Đoạn, bà ta gần như lao bổ vào người bạn đồng hành của tôi.
“Ở đâu? Ở đâu hả? Ông phải nói cho tôi biết. Nó đang ở đâu?”
“Xin phu nhân nhớ lấy lời giao kèo.”
“Được, được rồi, tôi sẽ tin ông. Nhanh lên, trước khi bọn chúng quay lại.”
Nắm lấy tay ông, bà ta thoăn thoắt và lặng lẽ dắt ông ra khỏi phòng. Tôi bám sát theo sau. Từ căn phòng ngoài, bà ta dẫn chúng tôi vào đường hầm lúc đầu chúng tôi vừa đi qua, nhưng chỉ một đoạn ngắn phía trước lối đi đã rẽ đôi, và bà ta ngoặt sang nhánh bên phải. Hết lần này đến lần khác con đường lại phân nhánh, nhưng bà ta vẫn thoăn thoắt dẫn đường, không một chút ngập ngừng hay do dự, bước chân mỗi lúc một dồn dập hơn.
“Miễn sao chúng ta kịp giờ,” bà ta thở hổn hển. “Chúng ta phải thoát ra ngoài trời trước khi vụ nổ xảy ra.”
Chúng tôi vẫn cắm đầu chạy tiếp. Tôi hiểu rằng đường hầm này xuyên thẳng qua lòng núi và cuối cùng chúng tôi sẽ chui ra ở sườn bên kia, nhìn xuống một thung lũng hoàn toàn khác. Mồ hôi vã ra như tắm trên mặt tôi, nhưng tôi vẫn dốc tàn lực chạy thục mạng.
Và rồi, từ phía xa xăm, tôi nhìn thấy một tia sáng ban ngày le lói. Ánh sáng mỗi lúc một gần hơn. Tôi thấy những bụi cây xanh rì mọc um tùm. Chúng tôi gạt phăng cành lá, lách mình chui qua. Chúng tôi đã lại ra đến ngoài trời, khi ánh bình minh nhàn nhạt đang nhuộm một sắc hồng êm dịu lên vạn vật.
Vòng vây của Poirot quả là có thật. Ngay khi chúng tôi vừa chui ra, ba người đàn ông đã ập tới khống chế, nhưng rồi họ vội buông chúng tôi ra cùng một tiếng kêu kinh ngạc.
“Nhanh lên,” người bạn đồng hành của tôi thét lớn. “Mau lên—không còn thời gian nữa đâu—”
Nhưng ông chưa kịp dứt câu. Mặt đất dưới chân chúng tôi rung chuyển và chao đảo dữ dội, một tiếng gầm long trời lở đất vang lên và dường như cả ngọn núi đang sụp đổ, tan tành thành từng mảnh. Chúng tôi bị hất tung lên không trung rồi ngã nhào ra xa.
Mãi rồi tôi mới hồi tỉnh lại. Tôi đang nằm trên một chiếc giường lạ trong một căn phòng xa lạ. Có ai đó đang ngồi bên bệ cửa sổ. Người ấy quay lại, bước tới đứng bên cạnh tôi.
Đó chính là Achille Poirot—khoan đã, hay là—
Giọng nói mỉa mai quen thuộc đã xua tan mọi nỗi hoài nghi trong lòng tôi.
“Chính thế đấy, bạn hiền của tôi ơi, chính là tôi đây. Người anh em Achille đã về lại quê nhà rồi—về với xứ sở của những câu chuyện thần thoại. Xưa nay vẫn luôn là tôi cả đấy thôi. Đâu phải chỉ mỗi Số Bốn mới biết đóng kịch. Thuốc nhỏ mắt belladonna để làm giãn con ngươi, sự hy sinh của hàng ria mép, và một vết sẹo thật sự mà việc rạch nó ra đã khiến tôi đau đớn khôn xiết cách đây hai tháng—nhưng tôi không thể mạo hiểm dùng đồ giả dưới đôi mắt cú vọ của Số Bốn được. Và nét chấm phá cuối cùng chính là sự tin tưởng tuyệt đối của anh rằng quả thật có một nhân vật tên là Achille Poirot tồn tại trên đời! Sự trợ giúp của anh quả là vô giá, phân nửa thành công của nước cờ này là nhờ có anh đấy! Điểm mấu chốt của toàn bộ màn kịch là khiến bọn chúng đinh ninh rằng Hercule Poirot vẫn đang tự do bên ngoài để chỉ huy các chiến dịch. Ngoài điều đó ra, mọi chuyện khác đều là thật, từ tinh dầu tiểu hồi hương cho đến vòng vây khép chặt, vân vân.”
“Nhưng tại sao anh không thực sự cử một người đóng thế?”
“Để rồi mặc anh dấn thân vào chốn hiểm nguy mà không có tôi bên cạnh sao? Anh đánh giá tôi tệ quá đấy! Hơn nữa, tôi vẫn luôn nuôi hy vọng sẽ tìm được một lối thoát hiểm thông qua nữ bá tước.”
“Làm thế quái nào mà anh thuyết phục nổi bà ta vậy? Toàn bộ cái câu chuyện về đứa con đã chết ấy nghe gượng gạo đến mức khó mà nuốt trôi được.”
“Nữ bá tước sắc sảo và tinh đời hơn anh nhiều lắm, Hastings thân mến ạ. Thoạt đầu bà ta cũng bị lớp cải trang của tôi đánh lừa; nhưng bà ta đã nhanh chóng nhìn thấu nó. Khi bà ta bảo: ‘Ông khôn ngoan lắm, thưa ngài Achille Poirot,’ tôi biết ngay là bà ta đã đoán ra chân tướng. Đó là thời khắc duy nhất để tôi tung ra con bài tẩy của mình.”
“Toàn bộ cái tràng ba hoa về việc làm người chết sống lại ấy ư?”
“Chính xác—nhưng anh thấy đấy, thực ra tôi đã nắm giữ đứa bé trong tay từ trước rồi.”
“Cái gì cơ?”
“Đúng thế đấy chứ! Anh biết phương châm của tôi rồi đấy—Luôn luôn sẵn sàng. Ngay khi phát hiện ra Nữ Bá tước Rossakoff có dính líu đến Bộ Tứ, tôi đã cho điều tra tường tận mọi ngóc ngách về lai lịch của bà ta. Tôi biết được bà ta từng có một đứa con bị đồn là đã chết, và tôi cũng phát hiện ra vài điểm mâu thuẫn trong câu chuyện đó, khiến tôi tự hỏi liệu đứa trẻ có còn sống hay không. Rốt cuộc, tôi đã lần ra tung tích của thằng bé, và nhờ chi ra một món tiền lớn, tôi đã đón được đứa trẻ về. Tội nghiệp thằng bé suýt nữa thì chết đói. Tôi gửi gắm nó vào một nơi an toàn, bên những con người nhân hậu, rồi chụp một bức ảnh thằng bé trong hoàn cảnh sống mới. Và thế là, khi thời cơ chín muồi, tôi đã chuẩn bị sẵn sàng cho màn kịch hạ màn ngoạn mục của mình!”
“Anh tài tình thật đấy, Poirot; tuyệt đỉnh tài tình!”
“Tôi cũng rất vui lòng khi làm điều đó. Bởi tôi vốn luôn dành cho nữ bá tước một sự ngưỡng mộ. Sẽ thật đáng tiếc nếu bà ấy phải bỏ mạng trong vụ nổ kia.”
“Tôi cứ ngập ngừng mãi không dám hỏi anh—số phận của Bộ Tứ ra sao rồi?”
“Toàn bộ thi thể đã được tìm thấy. Riêng xác của Số Bốn thì hoàn toàn không thể nhận dạng nổi, phần đầu đã nát vụn vì sức ép. Tôi ước gì—thực lòng tôi ước gì mọi chuyện không đến nỗi như thế. Tôi muốn được tận mắt xác nhận cho chắc chắn—nhưng thôi, không bàn đến chuyện đó nữa. Hãy nhìn cái này xem.”
Ông đưa cho tôi một tờ báo có đánh dấu sẵn một đoạn tin. Bản tin tường thuật về cái chết do tự sát của Lý Xương Yên, kẻ đã ngấm ngầm giật dây cho cuộc bạo động vừa thất bại thảm hại gần đây.
“Kẻ kỳ phùng địch thủ của tôi,” Poirot trầm ngâm nói. “Số mệnh đã an bài rằng tôi và hắn sẽ chẳng bao giờ chạm trán trực tiếp bằng xương bằng thịt. Khi nhận được tin về thảm họa ở đây, hắn đã chọn cho mình lối thoát giản đơn nhất. Một bộ óc vĩ đại, bạn hiền ạ, một bộ óc thật phi thường. Nhưng giá như tôi được nhìn thấy mặt kẻ đóng vai Số Bốn.... Giả sử rằng, rốt cuộc thì—nhưng thôi, tôi lại viển vông rồi. Hắn đã chết thật rồi. Phải đấy, bạn của tôi ơi, chúng ta đã cùng nhau đương đầu và đánh tan tác Bộ Tứ; và giờ đây anh sẽ trở về với người vợ duyên dáng của mình, còn tôi—tôi sẽ giải nghệ. Vụ án lớn nhất trong cuộc đời tôi đã khép lại. Sau vụ này thì mọi thứ khác đều sẽ trở nên tẻ nhạt mà thôi. Không, tôi sẽ lui về ở ẩn. Biết đâu tôi sẽ đi trồng bí ngô cũng nên! Thậm chí tôi có thể cưới vợ rồi an phận thủ thường!”
Ông cười vang trước ý nghĩ ấy, nhưng thoáng chút ngượng ngùng. Tôi thầm mong... những gã đàn ông thấp bé thường hay mê đắm những người đàn bà to lớn, bốc lửa—
“Cưới vợ rồi an phận thủ thường,” ông nhắc lại lần nữa. “Ai mà biết được chứ?”