Tuổi Trẻ Cô Đơn

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

1

Từ buổi thái sơ đã có huyền tượng. Thần linh muốn lên tiếng đã làm cho huyền tượng xuất hiện trong tâm hồn cổ lỗ người Ấn Độ, người Hy Lạp, người Đức, và mỗi ngày lại tái tạo huyền tượng trong tâm hồn trẻ con.

Tôi chưa biết tên cái hồ, rặng núi, con sông xứ sở tôi, nhưng tôi đã trông thấy làn nước phẳng lặng màu xanh và màu lam lấp lánh hàng ngàn tia sáng dưới mặt trời, xung quanh núi non lởm chởm như tuyết sáng chói, với những thác nhỏ trên khe núi cao, dưới chân chạy dài triền dốc tắm nắng và đồng cỏ lác đác cây ăn quả, nhà gỗ và bò xám xứ Alpes. Tâm hồn con trẻ của tôi còn trinh trắng và lặng lẽ, chờ đợi cuộc đời, đã in khắc chiến công rực rỡ và hiển hách của thần núi thần hồ. Sườn núi rắn chắc và bờ đá ven biển vừa giận dữ vừa kính cẩn nói đến những thời đã cấu tạo ra chúng mà dấu vết còn ghi lại trên mình chúng. Chúng nói đến những thời kỳ xa xôi, trái đất mang nặng đẻ đau trong rên xiết và quằn quại đã sinh ra ngọn núi sườn non. Từng khối đá khổng lồ gầm như sấm vang, nhô lên, xông những mũi nhọn hoắt lên khoảng không vô hạn, vỡ ra rồi rơi xuống; những quả núi sinh đôi quyết liệt tranh dành nhau đất đứng, tranh dành cho đến khi một trái núi thắng thế, vươn mình lên đẩy người em song thai ngã dúi sang bên vỡ tan ra thành từng mảnh. Di tích của những thời kỳ xa xôi ấy là những khối đá nhọn bị xẻ nát, văng ra xa trong khi biến động; những khối đá ấy nằm trên bờ các hào sâu; mỗi dịp tuyết tan, nước đổ xuống kéo theo triền núi những tảng đá lớn, đập vỡ nát như miếng thuỷ tinh hay ném mạnh cho ngập sâu xuống đất mềm đồng cỏ.

Những đống đá ấy nhắc đi nhắc lại một truyện từ ngàn xưa. Muốn hiểu chúng cũng không khó khăn gì, chỉ việc nhìn những cạnh dựng đứng, lớp nọ bị xô lên trên lớp kia, méo mó, nứt nẻ, đầy viết thương toang hoác. Chúng nó như muốn bảo rằng: “Chúng tôi đã chịu đựng những cuộc thử thách ghê gớm và chúng tôi còn chịu đựng nữa”. Nhưng ngôn ngữ của chúng chững chạc, nghiêm nghị, cương quyết như ngôn ngữ của người chiến sĩ đã bạc đầu với nợ kiếm cung mà không bao giờ chấm dứt sự nghiệp.

Chính thế, đây là những chiến sĩ. Tôi nhìn chúng vật lộn với nước non bão táp trong những đêm kinh hoàng báo trước mùa xuân, gió gầm dữ dội trên đầu thác cuốn đi từng tảng thịt nóng hổi bên sườn chúng. Trong những đêm ấy chúng vươn lên một cách thê thảm, bám chặt rễ xuống đất, nín hơi thở, nghiến răng lại, đưa lưng và sườn phong sương ra chịu trận, gom hết sức lực lại để lên mặt thách đố. Mỗi lần bị thương chúng phẫn nộ bối rối gầm lên những tiếng vang dội ra xa mặt trở thành những điệu rên rỉ kinh hồn hoà điệu với những tiếng tấm tức điên dại.

Và tôi trong thấy triền cỏ và dốc núi, hốc đá đất đã lấp đầy, trên phủ cỏ, hoa, rêu, những loại cây cỏ có tên gọi nôm na rất kỳ dị nhưng rất ý nghĩa. Những đứa con của núi rừng sống ngây thơ qua các thế hệ, chúng sống ở những nơi chúng lựa chọn, rực rỡ muôn ngàn màu sắc. Tôi mân mê, tôi ngắm nhìn, tôi ngửi hương thơm của thảo mộc, sơn khê và tìm hiểu tên gọi của chúng. Cây cổ thụ gây cho tôi một ấn tượng nghiêm trang và sâu xa hơn. Tôi nhìn mãi cây sống cảnh đời biệt tích, mỗi vòm lá có hình thái cá biệt, bóng râm cũng không cây nào giống cây nào. Cây cối dưới mắt tôi hoá ra những thầy tu và những chiến sĩ, cuộc sống mật thiết với núi đồi, vì mỗi cây, nhất là những cây mọc trên cao, vật lộn lặng lẽ và dẻo dai với gió mưa và đá sỏi để sinh sống và tăng trưởng. Cây nào cũng phải mang gánh nặng lá cành, cây nào cũng phải đâm rễ chắc chắn xuống đất, sự cố gắng ấy đã tạo cho mỗi cây một hình thể cá biệt và cũng để lại trên mình nó những vết thương. Có những cây thông bão táp chỉ cho phép mọc cành ở một phía, có những cây thân đỏ quạch quấn quanh khối đá cao hơn nó như con rắn, cây và đá xiết chặt lấy nhau để sống còn. Trước mắt tôi chúng xuất hiện như những chiến sĩ làm cho tôi phải kính sợ. Người ở vùng tôi, cả đàn ông lẫn đàn bà đều giống những cây thông ấy, họ là những người rắn rỏi, nét mặt khó đăm đăm, ít nói ít cười, nhất là những người ưu tú. Bởi vậy tôi học cách nhìn người như nhìn cây và đá, và khi tôi có ý kiến riêng về họ, tôi không kém phần trọng vọng mà cũng không ưa gì họ hơn mấy cây thông lặng lẽ.

Nimikon, làng tôi ở một triền núi hình tam giác thoai thoải xuống ven hồ, kẹt giữa hai mỏm núi. Một con đường dẫn tới nhà tu gần đấy, con đường khác đi sang làng bên cách xa bốn dặm rưỡi, đi đến các thị trấn khác ở ven hồ phải dùng đường thuỷ. Nhà cửa cất theo lối kiến trúc cổ, nhà bằng gỗ, không rõ làm từ bao giờ, gần như không bao giờ thấy có nhà mới cất, theo nhu cầu người ta sửa lại gian này hay gian kia của căn nhà cổ; năm này sửa nền, năm khác sửa một bên mái. Một khúc gỗ, một miếng ván trước kia làm vách bây giờ làm đòn tay trên mái, khi nào không dùng được nữa nhưng chưa đáng làm củi thì đem ra sửa chuồng bò hay vựa rơm, hay sửa ngưỡng cửa. Dân làng cũng vậy, mỗi người giữ một vai trò trong cuộc sống cộng đồng cho đến lúc già yếu, dần dần họ chuyển sang hàng ngũ người vô dụng rồi chết đi, chẳng ai để ý đến nhiều. Người ra ngoài sống vài năm khi trở về chẳng thấy cái gì thay đổi ngoại trừ việc sửa lại mấy mái nhà đổ nát, và một vài mái mới làm nay đã già đi; mấy ông già sống dưới mái nhà ấy đã không còn nữa, nhưng đã có những ông già khác thay thế, họ vẫn ở những mái nhà tranh ấy, mang tên ấy, cũng ngồi trông mấy đứa trẻ con tóc màu sậm, nét mặt và cử chỉ không khác bao nhiêu những người đã ngủ yên dưới mồ.

Cái mà thôn tôi không có là giòng máu lạ và nếp sống mới đem từ ngoài vào. Dân làng là con cháu một giống nòi vạm vỡ đều có khuôn mặt, giọng nói, dáng dấp tương tự nhau, có đến ba phần tư họ là Camenzind. Họ Camenzind chiếm đầy chỗ trong sổ ghi danh ở nhà thờ, khắc trên bia mộ chí, người ta thấy họ ấy viết bằng sơn dầu hay khắc thô sơ lên cửa, cả ở chiếc chiếc xe bò của người phu xe, ở cái thùng trong chuồng bò, chiếc ghe đậu dưới hồ. Ngay trên cửa vào nhà cha tôi, người ta cũng sơn mấy chữ “Nhà này của Job và Francisca Camenzind xây cất”. Đây không phải là tên cha tôi, đây là tên ông nội cha tôi, cụ nội tôi vậy, và có lẽ nếu tôi không con, ắt là một người trong họ Camenzind sẽ đến ngôi nhà lụp xụp cũ kỹ này nếu nó còn đứng vững được đến ngày ấy và còn tấm mái che.

Tuy rằng bề ngoài nom không khác gì nhau mấy nhưng trong số người làng cũng có kẻ hiền người dữ, kẻ sang người hèn, kẻ quyền thế, kẻ bạch đinh, bên cạnh một số người khôn ngoan lanh lợi cũng còn một lũ khờ dại đáng tức cười, ấy là không kể những kẻ ngu si đần độn. Ở đây cũng như ở nơi khác có một hình ảnh vũ trụ thu nhỏ khá vui vẻ, vì lớn bé, khôn dại đều là họ hàng thân thích cho nên thường khi kẻ kiêu căng gan góc và kẻ hời hợt ngây độn cùng ở chung một mái nhà và dẫm chân lên nhau; cho đến nỗi cuộc sống của chúng tôi có rộng chỗ cho đủ chuyện thấm thía hay khôi hài của loài người. Nhưng có một thứ suy nhược âm thầm hay chẳng ngờ bao phủ nhịp sống tưng bừng ấy như một tấm màn.

Giống nòi chúng tôi cũng đã sắp sửa già nua rồi, sống tùy thuộc vào mãnh lực thiên nhiên, sống vất vả, làm ăn cực nhọc, bởi vậy có khuynh hướng nhìn việc đời với con mắt bi thảm; thực ra khuynh hướng ấy không phải là không thích hợp với những khuôn mặt gân guốc và rắn rỏi như thế, nhưng trừ điểm ấy ra thì không có ảnh hưởng gì khác ít ra là ảnh hưởng tốt đẹp. Bởi vậy người ta khoan khoái mà để ý đến mấy anh điên khùng, mấy anh này tuy không thiếu nghiêm trang hay dè dặt nhưng đem lại cho cuộc đời chút màu sắc và ít nhiều dịp để cười cợt chế giễu. Khi anh nào bị một cái hác lờ để mọi người bàn tán thì đó là câu chuyện đem lại ánh vui nồng ấm cho những khuôn mặt rám nắng nhăn nheo ở Nimikon; thêm vào cái vui bông phèng còn chút giấm ớt đưa cay, người nào cũng giả dối tự kiêu là mình hơn người, khoan khoái mà thấy mình không lầm lẫn vấp váp như vậy.

Cha tôi thuộc về số người lưng chừng người ngay và kẻ gian, muốn hưởng lợi của cả hai hạng người – số người như cha tôi rất nhiều. Không một chuyện điên rồ nào xảy ra hẳn vì cũng may mà ông biết băn khoăn ngần ngại; thế là ông nửa thì thiện cảm khen ngợi người dám liều một cách tức cười, nửa thì sung sướng đến ngẩn người vì không mắc míu gì cả.

Cậu Conrad tôi thuộc về phía những người điên khùng, tuy rằng cậu thông minh không kém gì cha tôi hay bất cứ ai. Vả chăng ông là người rất mánh lới, ông luôn bứt rứt vì cần phải sáng kiến cái gì, người khác chắc phải thèm muốn cũng được như ông. Nhưng lâm vào việc thì ông chẳng làm nên trò trống gì cả. Đáng lẽ thất vọng và ngồi yên mà nuốt hận thì ông lại lao mình vào những việc khác; lạ thay, ông rất sáng suốt và cảm thấy rõ việc làm của mình có cái gì đó vừa khôi hài vừa bi thảm. Hẳn là ông cũng đáng được khen nhưng người đời chỉ thấy lập dị một cách lố lăng và xếp ông vào loại những anh hề mua vui không tiền cho cả xóm. Còn cha tôi đối với ông vẫn có thái độ nửa khen ngợi nửa chê bai. Dự định mới mẻ nào của cậu tôi cũng làm cha tôi sốt ruột vì hiếu kỳ và cha tôi cố tảng lờ như không, cha tôi hỏi săn hỏi dồn và nói xa nói gần những lời thâm hiểm và báng nhạo. Khi cậu tôi cho là chắc ăn và làm bộ úp mở, cha tôi bao giờ cũng bị lôi kéo chạy theo những sáng kiến thần tình của ông và ngồi cùng ông bàn bạc rất thân mật cho đến lúc việc hỏng be bét, cậu tôi nhún vai như thường, trong khi cha tôi nổi nóng mắng nhiếc thậm tệ, hằng mấy tháng sau không thèm nhìn mặt ông và không nói với ông nửa lời.

Cậu tôi là người thứ nhất cho dân làng thấy thế nào là một cái thuyền buồm; cha tôi đã mất toi cái thuyền cho cuộc thử thách. Cậu tôi theo hình vẽ trong cuốn lịch, làm buồm tết trảo rất cẩn thận, không phải lỗi tại ông nếu rút cục cái thuyền nhỏ quá không thể làm thuyền buồm được. Sắm sửa, hằng mấy tuần lễ; cha tôi chờ đợi mong mỏi và thắc mắc đến phờ cả người, khắp làng cũng chẳng nói chuyện gì khác dự án mới mẻ của Conrad Camenzind. Ngày hôm ấy, thật là một ngày đáng ghi vào lịch sử cho chúng tôi, buổi sáng cuối hè gió hây hây, cái thuyền khởi sự dăng buồm lần thứ nhất chạy trên mặt hồ. Cha tôi lo lắng, đã có linh cảm xảy ra tai nạn cho nên không muốn dính dáng làm gì. Tiếc quá! Cha tôi cũng cấm tôi không được theo các thủy thủ. Chỉ có đứa con hàng bánh Fussli là đi theo nhà phát minh thuyền buồm. Nhưng cả làng kéo ra bờ hồ và khoảng vườn nhỏ để xem một trò lạ. Gió đông thuận thổi xuôi ra hồ. Mới đầu cũng phải chèo một chút, đến lúc thuyền gặp gió buồm căng phồng, thuyền kiêu hãnh vượt sóng. Chúng tôi đứng nhìn theo chiếc thuyền đi khuất sau đồi thán phục ông cậu tài ba và sửa soạn đón rước người anh hùng chiến thắng trở về, chúng tôi cũng tự thẹn vì trót có ẩn ý chế nhạo ông. Nhưng đến đêm, thuyền và buồm chẳng còn, thủy thủ như người chết dở chứ chẳng còn gì là vui vẻ, con lão chủ tiệm bánh vừa ho vừa nói: “tụi anh chỉ thiếu chút nữa thì tha hồ mà khoái trí: suýt nữa thì chủ nhật sau các anh được ăn hai bữa cỗ đám ma”. Cha tôi đành phải đóng lại hai miếng ván mới vào cái thuyền và từ đấy không còn cái buồm nào in bóng xuống nước hồ. Mãi về sau, mỗi khi Conrad có việc phải vội vàng một chút, người ta lại bảo ông: sao không thượng buồm lên đi. Cha tôi nuốt hận không kể lể với ai, nhưng mấy năm sau, mỗi khi thấy mặt người em rể xui xẻo ông đưa mắt nhìn chỗ khác và nhổ nước miếng tỏ lòng khinh bỉ khôn tả. Câu chuyện ấy dai dẳng mãi cho đến một ngày kia Conrad đến tìm cha tôi bàn về một dự án lò than bảo đảm không cháy làm cha tôi lại mất toi bốn đồng tiền vàng, nhà phát minh lãnh đủ lời chế giễu không ngớt. Vô phúc cho ai dám nhắc đến chuyện bốn đồng tiền vàng. Mãi sau này khi trong nhà lại túng bấn mẹ tôi nói phớt quá rằng giá số tiền phung phí một cách “bất nhân bất nghĩa” như vậy mà còn thì bây giờ cũng đỡ khổ. Cha tôi giận đỏ mặt cho tới cổ, nhưng ông tự chủ được và chỉ nói: “Tôi muốn đem mua rượu uống hết nội trong một ngày chủ nhật.”

Một lần hết mùa đông cơn bão ào đến với tiếng gầm âm ỉ, người dân sơn cước núi Alpes nghe thấy mà run sợ, nếu ở xa nhà họ cũng vọng về quê hương mà bùi ngùi tấc dạ.

Khi bão đến gần, từ người đến gia súc, núi non, đều biết trước hàng giờ. Trước khi bão đến bao giờ cũng có gió mát thổi ngược chiều, bão đến thì báo hiệu bằng tiếng ầm ầm và một luồng gió ấm áp. Trong giây lát nước hồ xanh rờn trở thành đen như mực, sóng bạc đầu nổi lên hỗn loạn. Ngay sau đó nước hồ đang yên lặng bình thản bỗng xô vào bờ, gầm lên như biển cả sóng. Cũng lúc ấy cảnh vật run sợ xích gần lại ôm chặt lấy nhau. Đỉnh non cao thường mờ trong mây bây giờ có thể thấy rõ từng mỏm đá, làng mạc trước kia nom như những chấm nâu tận ngoài xa, bây giờ thấy rõ cả nóc nhà, gác chuông, cửa sổ. Núi, đồng cỏ và nhà ở túm tụm lại với nhau như một đàn thú vật sợ hãi. Bấy giờ nổi lên một tiếng gầm dữ dội, đất rung trời lở, dưới ngọn roi quất, sóng dâng lên cao như khói liên miên tiếng gió bão tử chiến với núi rừng nhất là về đêm. Mấy ngày sau dân làng chỉ nói đến thác đổ tràn bờ, nhà tan cửa nát, thuyền bè vỡ nát, biết bao người cha người anh không thấy trở về.

Lúc còn bé tôi sợ bão lắm và tôi cùng thù ghét nó nữa. Nhưng đến thời kỳ đột khởi tính hung bạo như đứa trẻ nào cũng phải sắp trải qua, tôi lại yêu nó vì khí thế trẻ trung muôn thuở của nó, vì cái ngỗ ngược hung hãn của nó, chà! một anh chàng nổi loạn, sứ giả của mùa xuân. Thật là một cảnh tượng huy hoàng khi trận bão đầy nhựa sống, vui tươi và hy vọng, mở cuộc chiến man rợ, thổi ào ào, cười cợt và rên xiết, gào thét mà lùa qua khe núi, nuốt chửng tuyết trên ngàn, bàn tay sắt bóp nát cây thông dẻo dai làm thông khóc thét từng hồi. Sau này mối tình của tôi với gió bão càng thêm mạnh, tôi chào đón vẻ dịu dàng, khôi ngô, nguồn giàu thịnh Phương Nam của nó, từ đó tuôn ra từng đợt sinh khí, ấm nồng và tươi đẹp dồn dập toả đến núi non xa rồi sau cùng kiệt lực hạ xuống đồng băng giá miền bắc. Không có cái gì kỳ dị và thú vị bằng vẻ sốt nóng của đàn ông; nhất là đàn bà ở núi trong thời gian bão táp; sốt nóng làm mất ngủ, khích động mọi cơ quan trong thân thể con người. Gió Nam hăng hái và bồng bột thổi ào đến trái tim phương Bắc nghèo nàn và cằn cỗi, gió báo trước cho dân làng xứ Alpes còn co rúm dưới tuyết phủ biết rằng lúc này bên hồ đỏ ối gần nước Ý, anh thảo, thuỷ tiên, hạnh đào đều đã khai hoa.

Khi gió bão đã hết hơi, khi những trận núi lở ngầu bùn đã chấm dứt, bấy giờ mới lộ vẻ đẹp sáng lạn hơn cả. Khắp nơi trên triền núi, bãi cỏ vàng muôn hoa đua nở, trên đỉnh non cao băng tuyết hiện ra vẻ trong sáng thiên đường, mặt hồ xanh nóng phản chiếu mặt trời trong trẻo và mây trôi man mác.

Tất cả khung cảnh ấy đủ để tràn ngập quãng đời thơ ấu, và nếu cần ra, cả một kiếp người. Bởi vì tất cả đều nói lên bằng tiếng nói của Trời vẻ trong sáng hồn nhiên và sức mạnh vô song của trời đất, tiếng nói chưa bao giờ xuất hiện trên môi một phàm nhân. Ai đã từng nghe tiếng nói ấy trong lúc tuổi thơ sẽ nghe thấy mãi suốt đời người, tiếng nói dịu dàng, mạnh mẽ và kinh khủng sẽ văng vẳng bên tai chúng ta, không tránh khỏi được. Ai đã sống trên núi đồi, họ có thể học triết lý hay khoa học thiên nhiên và đoạn tuyệt với tin tưởng cổ lỗ trong nhiều năm, nhưng khi trở lại thấy gió bão hay lở núi ào xuống khu rừng, tim họ lại rung động, họ nghĩ đến Ông Trời và cái chết.

Một mảnh vườn nhỏ kế bên nhà cha tôi. Trong vườn mọc bắp cải, xu hào và một loại rau diếp đắng; mẹ tôi đã để một luống nhỏ trồng hoa, nhỏ đến nỗi nom thấy mà cảm động, hai cây hồng Bengale, một cụm thược dược sống cằn cỗi thảm đạm không hy vọng nảy nở, một khoảng đất hẹp hơn nửa phủ đá sỏi sau vườn chạy dài ra tận hồ. Ở đấy có hai cái thùng gỗ đã hư nát, vài tấm ván, mấy cái cột, và dưới thấp nữa, một chiếc thuyền đậu trên mặt nước cột vào bờ, bấy giờ người ta còn sửa chữa và tráng nhựa, hai ba năm một lần. Người ta nhớ kỹ ngày phải làm việc đó. Người ta làm vào những buổi quá trưa gần đến mùa hạ; bướm vàng bay trong ánh nắng mặt hồ không một lăn tăn, đỉnh núi xanh lơ, bình lặng dưới làn khí mỏng, tỏa ra ánh sáng dịu dàng; dưới bãi, đá sỏi nồng nặc mùi nhựa thông và sơn dầu. Sau đấy, suốt mùa hạ chiếc thuyền xông lên mùi dầu hắc. Nhiều năm sau, mỗi lần ra bờ biển ngửi thấy mùi đặc biệt hơi nước lẫn với hơi dầu hắc, tôi lại thấy hiển hiện trước mắt bãi cát ven hồ, cha tôi vắn tay áo sơn phết, từng đám mây xanh nhỏ từ ống điếu bay lên trời êm ả trưa hè, đàn bướm vàng do dự và sợ sệt vút qua như những cái chớp. Những ngày ấy cha tôi có dáng vui vẻ khác thường; ông thổi sáo miệng những điệu rất hay và ông thổi cả một điệu nhạc Tyrol, nhưng chỉ một điệu thôi và thổi nhỏ nhẹ. Mẹ tôi sửa soạn món gì ngon miệng cho bữa tối, bấy giờ tôi nghĩ rằng bà làm cơm với hi vọng âm thầm tối hôm ấy đức ông chồng không ra quán rượu. Nhưng ông cũng vẫn đi.

Tôi không thể biết được cha mẹ tôi đã ngăn cản hay nâng đỡ sự phát triển tâm hồn non nớt của tôi. Mẹ tôi lúc nào cũng bận bịu luôn chân luôn tay, ở đời không có cái gì cha tôi ít để ý bằng vấn đề dạy con. Ông mắc bận trông nom cây cối cho được tốt tươi và ông làm khi được khi chăng, ông còn mắc bận trồng mảnh ruộng khoai và gầy rơm rạ. Nhưng độ hai ba tuần lễ một lần, tối đến, trước khi đi chơi, ông dắt tôi lẳng lặng leo lên vựa rơm ở trên nóc chuồng bò. Ở đây ông chỉ thi hành một nghi lễ rửa tội và sám hối kỳ dị: ông lấy roi quất tôi một hồi cả ông lẫn tôi đều không hiểu tại sao lại làm thế. Đó là một lễ cúng dường lặng lẽ trước bàn thờ thần Némésis, và khi hành lễ ông không trách mắng, tôi không kêu la, đó là lễ vật phải dâng Thần linh. Sau này mỗi khi nghe nói đến số hệ, những cảnh tượng bí hiểm ấy lại hiện lên trong trí óc tôi, và chúng cho tôi một hình ảnh linh động về khái niệm số hệ. Ông già tôi chất phác, tuy không hiểu nhưng ông làm theo phương pháp giáo hóa sơ sài nông cạn mà chính đời sống vẫn thường áp dụng cho chúng ta; thỉnh thoảng trời quang đãng bỗng giáng xuống một trận mưa giông, tự ta suy nghĩ về tai hại của thiên tai mà hiểu rằng tội của ta đã phạm đến thần linh. Khốn thay, cách ta suy nghĩ ấy không bao giờ tôi làm cả hay ít khi tôi làm. Tôi chịu hình phạt hàng tháng như thế mà không chịu tự vấn tâm, tôi chịu đựng một cách kiên trì hay với tinh thần thách thức, những tối ấy lần nào tôi cũng khấp khởi mừng rằng đã trả món nợ và sẽ được vài tuần không phải phạt. Tôi càng luyện thêm cá tính của mình để chống lại ý muốn của cha mà yên ổn mà làm việc. Thiên nhiên khó hiểu và hoang phí đã tụ hợp trong người tôi hai bẩm tính mâu thuẫn nhau: tôi có một sức vóc phi thường nhưng khốn thay tôi sợ cố gắng và cử động cũng chẳng kém. Cha tôi nỗ lực làm đủ mọi cách để luyện thành đứa con và người giúp việc có thể dùng được, nhưng tôi, tôi tìm đủ mọi cách để trốn việc phải làm; khi tôi học trường trung học, tôi không ưa người anh hùng thời cổ nào hơn Hercule, người anh hùng bị bắt buộc phải làm mọi xông việc nặng nhọc và phi thường. Lúc ấy tôi không thấy cái gì thú vị hơn đi vẩn vơ trên đá tảng và đồng cỏ ở bờ nước.

Núi và hồ, bão và nắng là bạn tôi, kể chuyện cho tôi nghe, dạy dỗ tôi, thân thiết với tôi hơn cả trong nhiều ngày, thân hơn bất cứ người nào, bất cứ số mệnh phàm nhân nào. Nhưng tôi thích ngắm mây hơn cả, thích hơn mặt hồ óng ánh, rặng thông u buồn và tảng đá phơi nắng.

Hãy chỉ cho tôi biết trong cõi đời to rộng này có người nào biết rõ mây hơn tôi và yêu mây hơn tôi! Hãy chỉ cho tôi biết trong thiên nhiên có cái gì đẹp hơn đám mây! Mây là đồ chơi, là sự an ủi cho con mắt, mây là phép lành, là tặng phẩm của trời, là sự giận dữ của trời, là quyền lực tàn phá của trời. Mây dịu dàng, hiền lành và bình thản như linh hồn trẻ sơ sinh; mây đẹp, giàu có và rộng rãi như thiên thần; mây ủ rũ, khắt khe và vô lương tâm như sứ giả của thần chết. Mây bay thành dải trắng bạc, mây mỉm cười mà trôi đi, mình trắng viền vàng, nó dừng lại nghỉ ngơi khoe sắc vàng, đỏ, xanh. Nó luồn lọt, hung dữ và chậm chạp như kẻ giết người, nó ào ào và đâm thẳng xuống đất như những kỵ mã nổi điên, nó treo lơ lửng, buồn rầu mơ mộng trong ánh sáng mờ trên cao như những anh chàng cô đơn đa sầu đa cảm. Nó có hình thù những hòn đảo canh gác và những thiên thần ban phước lành; nó giống những thằng lùn ghê sợ, những tấm màn lượn bay, nhưng con hạc di chuyển đi xa. Nó lượn bay giữa cõi trời của Thượng Đế và cõi phàm trần như biểu tượng đẹp đẽ của mọi ước vọng phàm nhân.

Mây ơi! Mây đẹp mây bay không nghỉ! Tôi chỉ là đứa trẻ ngây thơ, tôi yêu mây, tôi ngắm mây mà không biết rằng chính tôi cũng đi qua đường đời như một đám mây – đi đó đi đây ở đâu cũng là người lạ bay bổng giữa thời gian và vô cùng. Từ tuổi thơ ấu mây đối với tôi là bạn thân, là anh em. Tôi không thể đi qua phố mà không làm hiệu chào thân hữu, mà không gật đầu chào nhau, và rồi chúng tôi dừng lại, bốn mắt nhìn nhau. Tôi cũng không quên được điều gì tôi học của mây, hình thù, màu sắc của mây, mây giỡn chơi, dắt tay nhau nhảy vòng, múa may, nghỉ ngơi, tất cả những truyện dưới đất trên trời kỳ lạ của mây.

Trong số những chuyện ấy còn có chuyện công chúa bạch tuyết. Chuyện này xảy ra trên núi không cao vào một ngày ế cận mùa đông, gió nóng thổi là là mặt đất. Nàng công chúa bạch tuyết từ trên cao xuống, đằng sau đi theo một đám thể nữ, nàng tìm trên đồi rộng hay trên đỉnh núi một chỗ nghỉ ngơi. Ngọn gió gian xảo nổi ghen, thấy nàng nằm đấy không chút nghi ngờ, y bèn lén lút đi quanh đó cả ngàn lần leo lên núi, dục tình sôi dục, bất thần thư điên như dại vồ lấy nàng. Y ném vào nàng công chúa xinh đẹp từng mảng mây đen, chế giễu nàng, gây chuyện với nàng, muốn đuổi nàng đi. Nàng công chúa bối rối, chờ đợi, mặc y hành hung một lát; thỉnh thoảng nàng lắc đầu, mỉm cười chế diễu và bay lên cao. Nhưng thỉnh thoảng nàng cũng gọi những cô thể nữ sợ sệt lại quanh mình, để lộ khuôn mặt ngọc sáng ngời và lạnh lùng khẽ lấy tay gạt tên cuồng bạo. Y ngập ngừng, rên rỉ và chạy trốn. Nàng yên lặng nằm dài phủ chỗ mình nằm và xung quanh ra tận xa một lớp sương mù nhợt; khi sương mù đã tan, thung lũng và đỉnh núi rực rỡ ánh sáng, trên phủ lớp tuyết lạnh, trong và mềm.

Câu chuyện này thể hiện linh hồn, thể hiện sự ưu thắng của cái đẹp, chuyện có cái gì cao quý làm trái tim non nớt của tôi say đắm và xúc động vì một vẻ bí mật thích thú.

Rồi đến lúc tôi có thể đến gần hơn đám mây, lần qua đám mây, đứng trên cao mà nhìn mây dưới chân mình. Tôi được mười tuổi khi leo lên ngọn núi thứ nhất, ngọn Sennalpstock, dưới chân ngọn này là xóm Nimikon chúng tôi. Bấy giờ tôi mới biết những sự hãi hùng, những vẻ đẹp của núi non. Hố sâu đầy băng và tuyết, băng hà màu xanh trong vắt, đôi Thạch xấu ghê tởm, trên cao vòm trời xanh lam tròn như một cái chuông. Khi người ta đã sống mười năm đằng đẵng kẹt giữa ngọn núi và cái hồ, bốn bên đều là núi cao bao bọc, người ta không thể quên được ngày đầu tiên người ta thấy trên đầu mình trời rộng bao la, trước mặt mình chân trời không biên giới. Lúc leo lên tôi đã giật mình vì thấy đá tảng và thành đá mình đã quen thuộc sao bây giờ nom to lớn đến thế. Lúc này bị thôi miên vì cảnh huy hoàng, tôi xao xuyến êm đềm vì cảm thấy không gian cao rộng hấp tấp ùa vào trong tôi. Thế ra vũ trụ to rộng ngoài sức tưởng tượng vô cùng! Toàn thể làng tôi trải dài khắp mọi nơi, bây giờ chỉ còn là một chấm sáng. Những đỉnh cao ở dưới thung lũng nom lên thấy gần nhau, bây giờ cách xa nhau hằng giờ leo núi.

Tôi bắt đầu hiểu lờ mờ rằng đến nay tôi chỉ có ý niệm sơ sài chứ chưa có cái nhìn rõ rệt về hoàn vũ, có lẽ ngoài kia núi non cao ngất, thung lũng sâu thẳm, việc đời diễn biến, sống trong một khe núi chúng tôi không thể có một ấn tượng nào. Đồng thời trong người tôi có cái gì rung động, nó như cái kim địa bàn, tuy tôi không biết nhưng nó đã hướng về những nơi xa lạ mà tôi nghi ngờ có biết bao chuyện to tát quan trọng. Bây giờ tôi mới hiểu hẳn vẻ đẹp vẻ buồn của đám mây đang trôi về những nơi man mác.

Hai người cùng đi với tôi đã lớn tuổi, họ khen tôi tài leo trèo, họ dừng chân nghỉ trên đỉnh núi phủ tuyết, thấy tôi vui vẻ cuồng nhiệt họ chỉ cười. Nhưng tôi, khi đã hết kinh ngạc lúc ban đầu, tôi hét lên sự vui sướng và cảm động của tôi trong khí trời trong trẻo như một con bò mộngTôi đợi một tiếng vang mạnh như sấm nhưng tiếng hét của tôi chỉ như tiếng chim nhỏ biến vào sự yên lặng chỗ non cao. Thế là tôi xấu hổ phải im bặt.

Có thể nói rằng ngày hôm ấy đã đánh tan cuộc sống lạnh lùng vô tư lự của tôi, vì từ đây dồn dập xảy đến những biến cố trọng đại. Trước hết ngươi ta hay đưa tôi đi leo núi, cả những hòn núi rất khó leo, tôi vừa hoan hỉ vừa e ngại mà làm quen với bí mật vĩ đại của núi cao. Sau đấy tôi được giữ việc chăn dê. Tôi thường dắt dê đến một triền núi, ở đấy có một chỗ khuất gió mọc đầy cây khổ sâm xanh lợt và cỏ rừng đỏ tía: tôi ưa chỗ này hơn cả. Ở đây không trông thấy làng và nhìn qua mỏm đá cũng chỉ thấy một mảng hồ sáng chói; nhưng được cái hoa màu vui tươi, trời xanh lam nom như một cái lều vải căng trên những ngọn núi đá phủ tuyết, tiếng róc rách một cái thác gần đấy hòa với tiếng long nhong kín đáo chuông đeo cổ dê. Tôi nằm giữa ánh nắng, hai mắt hiếu kỳ nhìn mây bạc, miệng sẽ hát đủ mình nghe theo điệu Tyrol, nằm như vậy cho đến lúc đàn dê thấy chủ nó lười biếng, đua nhau làm đủ mọi trò chơi cấm đoán. Trong những tuần lễ đầu, hạnh phúc thần tiên bị khuấy rối vì một chuyện khó chịu, tôi té xuống hốc đá với một con dê lạc đàn. Con dê chết, đầu tôi xưng u và còn được bồi thêm một trận đòn. Tôi bỏ nhà ra đi, người ta lôi về giữa những tiếng răn rủa và tả oán.

Những chuyện ấy có thể là những sự rắc rối đầu tiên và cuối cùng. Cuốn sách này sẽ không viết ra biết bao sự điên rồ của tôi sẽ không xảy ra. Có điều rằng tôi sẽ lấy một người con gái trong thân quyến hay chết vùi dưới một lớp băng tuyết. Điều đó chẳng mắc mớ gì đến ai. Nhưng mọi việc đã xảy ra khác hẳn, tôi không có nhiệm vụ so sánh cái gì đã xảy ra với cái gì không xảy ra.

Thỉnh thoảng cha tôi đến làm việc vặt trong tu viện Welsdorf. Một hôm ông đau ốm bảo tôi đến làm thay. Nhưng tôi không đến: tôi mượn bút giấy của hàng xóm viết một bức thư cầu kỳ cho các sư huynh tu viện gửi vợ người đưa thư mang đi, còn tôi nhất quyết lên núi chơi.

Tuần lễ sau tôi trở về đã thấy một ông Cha ngồi đợi người nào viết bức thư hay đó. Tôi lo lắng, nhưng Cha khen ngợi tôi và cố gắng thuyết phục cha tôi cho tôi đến học, cha sẽ chỉ bảo cho việc học hành. Đúng vào hồi ấy, cậu Conrad lại được yêu mến và cha tôi lại hỏi ý kiến cậu. Dĩ nhiên cậu tôi lấy giọng hùng hồn nói rằng tôi sẽ theo đời nghiên bút, trở nên sinh viên, bác học, trở nên ông nọ ông kia. Cha tôi nghe lời, và tương lai của tôi dính líu với những kế hoạch nguy hiểm của cậu tôi như lò than trừ hỏa, thuyền buồm và trăm ngàn trò ngông cuồng như thế.

Thế là tôi đi học ngay và học nhiều nhất tiếng Latin, truyện liệt thánh, thực vật học và địa lý. Đi học làm tôi thích trí lắm, bấy giờ tôi không hề nghĩ rằng món hàng lạ hoắc lại làm tôi mất cả tổ ấm cỏn con của tôi lẫn ngày xanh tươi đẹp nhất. Cũng không phải chỉ có cái tiếng Latin khỉ gió kia là thủ phạm những tai họa lớn ấy. Lẽ ra cha tôi dạy tôi thành người nông dân mặc dầu tôi thuộc làu làu sách De Viris bắt đầu từ dòng chữ đầu hay dòng chữ cuối. Nhưng cha tôi là người hiểu biết, ông biết rõ tính con, tính lười biếng bất trị là trọng tâm của tôi, là thói xấu số một. Mỗi lần có cớ là tôi tránh công tránh việc để lên núi hay xuống hồ hay ra nằm dài ở sườn núi tìm một chỗ kín để đọc sách mơ màng mà chẳng làm gì cả. Chính vì ngài nghĩ đến nông nỗi ấy mà sau cùng ông quyết định để mặc tôi làm gì thì làm.

Nhân dịp này tôi xin nói vài lời về cha mẹ tôi. Mẹ tôi ngày trước đẹp lắm, nhưng vẻ đẹp ấy nay chỉ còn sót lại một tấm thân ngay ngắn và khoẻ mạnh và đôi mắt nhung. Mẹ tôi người cao lớn, mạnh mẽ, siêng năng và lặng lẽ. Tuy bà cũng thông minh như cha tôi và còn hơn về sức lực, nhưng không phải bà điều khiển nội trợ, bà để cha tôi có quyền đó. Cha tôi người tầm thước, chân tay mảnh khảnh gần như thanh tú, mặt hồng hào đầy nếp răn nhỏ, ông có vẻ bền gan và mưu mẹo; trên trán, một đường răn ngắn thẳng góc nếp răn ngang, mỗi lần ông cau mày đường răn tối sầm lại làm cho ông có vẻ cáu kỉnh và sầu thảm. Mọi người cho là ông muốn nhớ lại điều gì quan trọng mà bực mình vì khó nghĩ ra. Trông ông người ta có thể có cảm tưởng là một người ưu tư, nhưng ở đây không ai để ý, vì hầu hết mọi người đều có một vẻ buồn rầu nhẹ nhàng tạo ra bởi cuộc sống cực nhọc và nguy hiểm, họ lại sống biệt tích một nơi khuất nẻo, mùa đông kéo dài nhiều tháng.

Cha mẹ tôi đã di truyền cho tôi những nét chính của tính tình tôi. Mẹ tôi truyền lại cho tôi sự khôn khéo thực tiễn, sự thuận theo ý trời, tính bình thản ít chuyện trò, cha tôi truyền cho tôi tính sợ phải quyết định, không biết tiêu tiền hợp lý, ông còn truyền cho nghệ thuật uống rượu, biết thưởng rượu ngon và uống thật nhiều. Nhưng biệt tài ấy chưa phát lộ lúc còn tuổi măng sữa. Về thể chất, tôi có đôi mắt và cái miệng của cha; vóc dáng, bước đi nặng nề dẻo dai và sức lực dồi dào là của mẹ. Cha tôi và có lẽ cả giống nòi nhà tôi để lại cho tôi một trí thông mình đầy tiểu xảo của dân quê, nhưng cũng để lại cho một phong độ buồn rầu và khuynh hướng trầm ngâm sâu thẳm. Số kiếp tôi là phải tiến thân ở xa quê hương giữa người xa lạ, như vậy nên có chút mềm mỏng và nhẹ nhàng vui vẻ.

Với mớ hành lý và một bộ quần áo mới, tôi bước chân vào cuộc đời. Đức tính của cha mẹ truyền lại rất quý giá cho tôi vì từ đấy tôi là người thân lại lập thân. Tuy nhiên tôi vẫn thiếu một cái gì mà khoa học, kiến trúc và sự giao thiệp không mang lại cho tôi. Bây giờ cũng như ngày trước, tôi vẫn có thể leo núi, đi bộ hay chèo thuyền suốt trong mười tiếng đồng hồ, nếu cần tôi có thể lấy tay giết chết một người; nhưng còn nghệ thuật sống thì bây giờ tôi vẫn thiếu thốn đủ mọi cái mà trước kia thiếu thốn. Tôi sớm làm quen và chỉ biết có ruộng đất, cây cối và súc vật cho nên không phát triển được xã hội tính, ngay bây giờ cũng còn là người làm sao chiêm bao làm vậy, giấc chiêm bao đem lại bằng chứng kỳ lạ về khuynh hướng sống gần thiên nhiên như loại vật của tôi. Tôi thường nằm mê thấy mình ngủ bên bờ biển, mặt là mặt thú thường thường là mặt con hải cẩu, tôi rất được yên dạ khi tỉnh dậy biết rõ mình là người, nhưng tôi thường không vui không buồn mà chỉ tiếc rẻ.

Theo nền nếp truyền lại, tôi được học bổng ăn học để theo các lớp trung học, sau này sẽ chuyên về ngôn ngữ học. Không có môn học nào vô ích và chán nản hơn, không có môn học nào đối với tôi kém phần hấp dẫn hơn.

Những năm ở nhà trường trôi qua rất mau. Ngoài những buổi nghe giảng và đánh lộn còn những giờ nhớ nhà, những giờ mơ mộng tương lai rất táo bạo, những giờ kính cẩn tôn sùng Khoa học. Đôi khi tính lười biếng tự nhiên của tôi ló dạng, đem lại đủ mọi ưu phiền và hình phạt nhưng rồi lại đến lúc vui mừng khấp khởi khác.

Giáo sư Hy Lạp bảo tôi: “Perter Camenzid, anh là một người khó tính và lập dị, cứ như vậy sẽ có ngày anh húc đầu vào tường.” Tôi nhìn ông thầy béo phệ mắt đeo kính, tôi nghe thầy nói dông nói dài mà thấy ông thật là thô lỗ.

Giáo sư toán học bảo tôi: “Peter Camenzind, anh có tài siêu thần hoá sự lười biếng, tôi tiếc rằng không có điểm nào dưới số không để cho anh. Bài của anh hôm nay chỉ đáng hai điểm rưỡi dưới số không”. Tôi nhìn ông, tôi phàn nàn cho ông vì ông lé mắt, tôi thấy ông là người đáng ngán.

Giáo sư sử ký một hôm bảo tôi: “Peter Camenzind, anh không phải học trò khá, nhưng rồi anh cũng trở thành sử gia có khả năng. Anh lười biếng thật, nhưng anh biết phân biệt cái lớn cái nhỏ.”

Điều ấy đối với tôi không quan trọng là mấy. Tuy nhiên tôi kính trọng các giáo sư; tôi cho rằng họ nắm chắc được khoa học và đối với khoa học tôi có một thứ trọng vọng mờ mịt và sâu xa. Tuy rằng các thầy học đều đồng ý nhau về tính lười biếng của tôi nhưng tôi cũng học tấn tới và được sắp hạng trên mức trung bình. Nhà trường và kiến thức không đủ, điều ấy tôi biết lắm, nhưng tôi để mai sau sẽ liệu. Đằng sau những thứ tập tành chuẩn bị và những trò khỉ dạy đời ấy tôi tưởng tượng ra một đời sống tinh thần thuần tuý, một khoa nghiên cứu sự thật chắc chắn và chân thực. Nhờ sự nghiên cứu ấy tôi có thể biết được ý nghĩa của bí mật lịch sử, của sự xung đột giữa các dân tộc, sự mâu thuẫn trong tâm hồn mỗi người.

Tôi còn cảm thấy một nhu cầu mạnh mẽ hơn là khẩn thiết. Tôi cần có một người bạn.

Ở đây có một người bạn đứng đắn tóc nâu, hơn tôi hai tuổi tên là Gaspard Hauri. Thái độ cử chỉ của anh chắc chắn và bình tĩnh, mắt anh có vẻ nghiêm trang và tự tin như người lớn, ít khi anh trò chuyện với bạn bè. Trong nhiều tháng tôi chỉ nhìn anh với sự kính nể tột bực, hy vọng rằng anh cũng để ý đến tôi. Tôi ghen với những người thành thị mà anh chào hỏi và những nhà anh thường lui tới. Nhưng tôi học kém hơn anh hai lớp, còn anh hẳn là sức học của anh đã hơn trình độ lớp anh học. Chưa bao giờ chúng tôi nói với nhau một tiếng. Thay vào chỗ anh đã có một thằng bạn người ốm o, hắn chơi với tôi nhưng tôi không bận tâm đến hắn. Hắn ít tuổi hơn tôi, nhút nhát và đần độn, nhưng có đôi mắt đẹp, nét mặt thanh tú và đau khổ. Ốm o và hơi loắt thoắt, hắn bị nhiều sự ức hiếp nên chơi với tôi để tìm sự sự che chở của người mạnh mẽ và uy tín. Chẳng bao lâu hắn bịnh não quá nên phải thôi học. Tôi không nhớ hắn, chẳng bao lâu tôi quên hắn.

Trong lớp tôi có một đứa tóc vàng rất hoạt động. Hắn ta thật mưu mẹo, chơi âm nhạc, nhái người này người khác và hay pha trò. Tôi không khó nhọc mà thân mật được với hắn. Tuy hắn cùng tuổi tôi nhưng thằng hề oắt con ấy cũng làm ra vẻ một người anh che chở. Dầu sao thì tôi cũng có bạn. Tôi đến căn buồng của hắn đọc với hắn vài cuốn sách, làm hộ hắn bài Hy Lạp và hắn giúp tôi làm toán. Thỉnh thoảng chúng tôi đi chơi với nhau, hắn đi cạnh tôi, coi hai người như con gấu với con cầy. Bao giờ cũng chỉ có hắn là ăn nói, bồ của tôi lại vui vẻ, hoạt bát, chẳng bao giờ bị bí cả, còn tôi, tôi cười đã, tôi sung sướng vì có người bạn vui tính.

Nhưng một buổi trưa tôi đến bất thần gặp oắt miệng ráo hoảnh như anh bán dầu cù là rong ấy đang biểu diễn cho chúng bạn trong hiên hè một trò vui thích thú. Hắn vừa bắt chước một giáo sư và tôi nghe thấy hắn la lên: “Thử đoán xem ai!”. Hắn cất cao giọng đọc thơ Homère; hắn làm như hệt tôi vậy; điệu bộ bối rối của tôi, tôi đọc run run, giọng khan khan người đường rừng cả đến tật giật người vì chú ý nhiều quá, tật chớp mắt, nhắm mắt bên trái. Thật là tức cười, hắn thật không kiêng nể gì tôi mà bắt chước lại rất thông minh.

Khi hắn đã gấp sách lại và nhận sự tán thưởng tôi tiến lại sau hắn để báo thù. Tôi khống nói được tiếng nào nhưng thể hiện sự phẫn uất, sự xấu hổ, sự giận dữ bằng một cái tát như trời giáng. Ngay sau đấy tôi nhận được một bài học, giáo sư để ý ngay đến cái mà sưng và tiếng khóc tấm tức của hắn, hắn lại là học trò cưng của ông:

- Ai đánh trò vậy?

- Camenzind.

- Camenzind! Lại đây, có đúng thế không?

- Dạ phải.

- Tại sao mày đánh nó?

Tôi không trả lời.

- Không cớ gì sao lại đánh nó?

- Không.

Thế là tôi phải phạt nặng, nhưng tôi thưởng thức ý vị đó như một người tử vì đạo vì biết mình vô tội. Khốn thay, tôi chẳng là người theo chủ nghĩa khắc kỷ, chẳng là thánh, tôi chỉ là đứa trẻ con bởi vậy chịu phạt rồi tôi thè dài lưỡi ra dọa kẻ thù địch. Thầy giáo tức giận chạy lại:

- Mày không biết xấu hổ ư? Thế là nghĩa lý gì?

- Nghĩa là thằng ấy là đứa nhơ bẩn tôi khinh bỉ nó. Hơn thế nó còn là một đứa hèn nhát!

Thế là tôi chấm dứt tình bạn với thằng hề ấy. Tôi không chơi với ai nữa, suốt trong mấy năm niên thiếu tôi không có bạn. Tuy rằng sau này quan niệm của tôi về nhân tình thế sự có thay đổi, nhưng khi nào nhớ lại cái tát ấy tôi vẫn lấy làm khoan khoái vô cùng. Tôi muốn tin rằng thằng cha tóc vàng ấy không thể quên được.

Năm mười bảy tuổi tôi mê mẩn con gái một luật sư. Nàng đẹp, tôi lấy làm kiêu hãnh rằng trong đời tôi chỉ mê những người đẹp, nàng đẹp, rất đẹp. Cô bé này và một vài cô khác đã làm tôi đau khổ thế nào, lúc khác tôi sẽ kể chuyện. Tên nàng là Rose Girtanner và nàng xứng đáng để cho những người có phong độ khác tôi yêu nàng.

Hồi ấy sinh lực tuổi trẻ dồi dào đang khích động chân tay tôi. Tôi đánh lộn lung tung với bạn học. Tôi lấy làm hãnh diện được là tay đánh vật giỏi nhất, cầu thủ giỏi nhất, nhưng dù thế lúc nào tôi cũng buồn rầu. Chuyện tình ái không ảnh hưởng mấy tới tâm trạng ấy. Đó chính là nỗi buồn êm ái trước mùa xuân xâm chiếm tâm hồn tôi mạnh hơn cả, thậm chí tôi thích thú những ý nghĩ buồn nản, bi quan, những ý nghĩ về sự chết. Dĩ nhiên cũng có người bạn học cho tôi mượn tập thơ của Heine, loại sách giá phổ thông. Không phải là tôi đọc thơ nữa, tôi gửi hết nỗi niềm tâm sự tràn đầy vào những câu thơ trống rỗng, tôi chia xẻ nỗi đau thương, tôi tham dự vào sự sáng tác thi ca của nghệ sĩ, tôi để hết mình vào sự rung cảm trữ tình mãnh liệt, thật là mặc sơ mi cho một con lợn sữa. Cho đến lúc sau tôi đọc Lenau, Schiller, Geothe, Shakespeare, thế là bất thần văn chương, con ma mờ ảo ấy, trở thành thần linh lẫm liệt.

Tôi cảm thấy một luồng gió dịu dàng từ những cuốn sách ấy thổi hơi mát mẻ và ngon ngọt của một đời sống chưa từng có dưới trần gian nhưng có thật sự và vẫn theo vận mệnh của nó trào lên thành đợt sống trong trái tim tôi. Nhân vật tiểu thuyết của Geothe và Shakespeare bắt đầu lui tới ngăn sách trong căn phòng áp mái của tôi, bấy nay chỉ có tiếng chuông nhà thờ gần đấy và tiếng cò gõ mỏ trong tổ ngay cạnh. Tôi ý thức được cái gì là thiêng liêng, cái gì là lố lăng trong kiếp sống của mọi người: tình người đau khổ và uất ức, thật bí hiểm, lịch sử loài người thật sâu sắc và thâm trầm, tư tưởng của con người như là một phép nhiệm mầu biến đổi cảnh đời gang tấc phàm nhân, sự suy tưởng dựa vào tri thức nâng cao kiếp sống mong manh lên cõi khẩn yếu và tuyệt đối. Ngó đầu ra ngoài khung cửa hẹp tôi thấy mặt trời chiếu sáng trên nóc nhà và dưới phố nhỏ, tôi ngạc nhiên nghe tiếng ồn ào đời sống cần lao khẽ vọng lên; trong sự cô tịch, sự bí hiểm, căn phòng cheo leo được hân hạnh tiếp đón các danh nhân siêu việt, tôi cảm thấy như mình sống trong bầu không khí một truyện thần tiên kỳ lạ. Dần dần tôi càng đọc sách càng thấy mái nhà và phố xá tưng bừng nhịp sống hàng ngày trở nên xa lạ kỳ dị, tôi càng thấy trong người tôi dâng lên một cảm tưởng e dè và thắc mắc, hầu như là một người có ảo giác, cuộc đời mở rộng dưới mắt tôi hầu như vẫn đợi tôi lượm lấy những kho tàng quý giá, đợi tôi vén tấm màn vô thường và thô lậu, đợi tôi cứu vãn khỏi sự huỷ diệt và ghi vào vĩnh cửu những hình ảnh bộc lộ dưới thần lực của thi ca.

Tôi bắt đầu làm thơ, cũng hơi tự thẹn; dần dần tôi viết đặc mất cuốn vở nào thơ, nào lời ghi, nào truyện kể ngắn. Những tác phẩm ấy không còn, hẳn là chúng vô giá trị, nhưng chúng đã làm tim tôi đập rộn ràng, đã đem lại cho tôi niềm vui kín đáo. Mãi sau này tôi mới có óc phê bình và tự kiểm soát đến niên học cưối cùng ở trường trung học tôi mới qua cơn thất vọng đầu tiên không thể tránh được. Tôi bắt đầu thanh toán những bài thơ tập làm và nghi ngờ văn của mình thì tự nhiên kiếm được mấy cuốn sách của Gottfried Keller. Tôi đọc luôn hai ba lượt. Bấy giờ mới chợt nhật ra rằng những mơ mộng của tôi còn non nớt và ở xa nghệ thuật chân thực; tôi vội vàng đốt hết cả thơ lẫn truyện ngắn, sau tôi chỉ nhìn đời với con mắt thực tế và bi quan; thái độ của người khổ sở, bứt rứt.

Năm xuất bản: 1968 Số trang: 203 Giá tiền: -- Khổ: 13x19 cm Đánh máy: Minh Huy, Bùi Trang, Lê Trang, Vân Anh Kiểm tra: Hannah Lê Chế bản ebook: Hannah Lê Ngày thực hiện: 6/6/2010 Making Ebook Project #44 – www.BookaholicClub.com
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.