Tuổi Trẻ Cô Đơn

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

7

Tôi cũng không để ý hơn trước đến hoạt động văn nghệ của tôi. Tôi có thể sống bằng tiền nhuận bút, để dành đôi chút và đôi khi gửi về cho cha. Ông vui vẻ mang ra quăng vào tửu quán, khen ngợi tâng bốc tôi bằng đủ mọi giọng, ông còn có ý kiến giúp đỡ công việc làm ăn của tôi theo kế sách của ông. Chả một hôm tôi bảo cha tôi rằng tôi kiếm ăn bằng cách viết những bài đăng báo. Ông cho tôi là một ký giả hay một thông tín viên như những người làm cho tờ báo tỉnh nhà, ông bèn viết thư cho tôi kể cho biết những việc xảy ra ở nhà mà ông cho là quan trọng. Hẳn là ông nghĩ tin tức ấy sẽ sẽ để viết bài báo kiếm tiền. Một lần là cháy vựa lúa, lần khác, tai nạn xảy ra cho hai du khách trên núi, lần thứ ba là kết quả cuộc bầu cử ông tiên chỉ trong làng. Những tài liệu đó đã được viết với thể văn thô lỗ của nhật trình, nhưng tôi thấy thú vị thật sự vì chúng biểu lộ tình thân mật cha con, và đây cũng là những bức thư đầu tiên từ bao nhiêu năm nay tôi mới nhận được của quê hương. Chúng còn làm tôi vui thích vì chúng như mỉa mai hoạt động văn nghệ của tôi; tháng này sang tháng khác, tôi giới thiệu bao nhiêu sách mà khi đăng lên chẳng có gì mà quan trọng và ảnh hưởng hơn những chuyện nhỏ mọn ở thôn quê.

Giữa lúc ấy mới xuất bản hai cuốn sách mà tôi quen biết tác giả ở Zurich: Hai thanh niên có một thứ văn trữ tình rất quái dị. Một người sống ở Bá Linh và tìm được đủ chuyện dơ dáy bỉ ổi trong các tiệm cà phê, các ổ điếm ở thủ đô. Người thứ hai xảy ra ở vùng Munich một thứ nhà tu lộng lẫy sang trọng, tuy ông ta không tin tưởng nhưng ông ta điên cuồng và tuyệt vọng mà tìm hướng trong sự nội quan đượm màu sắc loạn thần kinh hay trong phép chiêu hồn. Tôi phụ trách việc phê bình hai cuốn sách và dĩ nhiên tôi chế nhạo cả hai nhưng không có ác ý. Người loạn thần kinh chỉ gửi cho tôi một bức thư rất lịch sự. Nhưng người ở Bá Linh làm om sòm trên một tập san, ông tuyên bố rằng tôi không biết đến chủ tâm thanh khiết nhất của ông, ông lấy Emile Zola ra để tự biện hộ, ông không bằng lòng ám chỉ tôi và sự chỉ trích nông cạn của tôi, ông còn nói đến óc cô lậu cuả người Thụy Sĩ chỉ biết tự cao tự đại. Trong đời văn nghệ của ông ta, chỉ có thời kỳ sống ở Zurich là có lẽ ông còn một chút lành mạnh, một chút tự trọng.

Chưa bao giờ tôi là người ái quốc đến cao độ nhưng quả là lòng ham danh vọng ở Bá Linh đã đi quá mức, và tôi trả lời người ương ngạnh bằng một bức thư dài, không quên tỏ sự khinh miệt chủ nghĩa duy tâm hợm hĩnh ở các đô thị lớn.

Cuộc tranh luận rất hữu ích cho tôi, tôi bắt buộc phải suy nghĩ lại quan điểm của tôi về văn minh hiện kim. Sự cố gắng thật là lâu công và khó khăn mà không đạt được những kết quả như ý muốn. Cuốn sách của tôi không ai nói đến kể ra cũng chẳng mất mát gì cả.

Nhưng đồng thời những sự kiện trên đây bắt buộc tôi phải suy nghĩ sâu xa về chính bản thân tôi và tác phẩm chính quyết định viết từ lâu.

Hẳn bạn đọc đã biết, tôi có ý muốn đặt con người trước cuộc sống mênh mông và sâu xa của thiên nhiên vô tri vô hồn và làm cho con người yêu mến thiên nhiên. Tôi muốn họ nghe tiếng đập của trái tim trái đất, tham dự vào cuộc sống vạn vật, sống theo số mệnh mênh mông của họ chớ nên quên rằng, không phải trời chỉ sinh ra chúng ta mà thôi, chúng ta không phải là những ông trời con mà chúng ta là một phần của toàn thể vũ trụ. Tôi muốn nhắc lại cho họ nhớ rằng cũng như tiếng nói của thi nhân, như giấc mơ trong đêm dài, sông biển, mây, bão đều có ước vọng của chúng giữa khoảng trời đất này và mục đích của chúng là sự tin tưởng tuyệt đối rằng chúng có quyền sống, chúng tin tưởng tuyệt đối vào sự bất diệt của tất cả cái gì hiện hữu. Vạn vật tự thâm tâm nó chắc chắn là có quyền ấy, tự biết mình là con của Thượng đế và không hề khắc khoải mà nương mình vào lòng vĩnh cửu. Nhưng tất cả cái gì là xấu xa, độc hại và thối tha trong người chúng ta sẽ nổi dậy để phản đối quyền sống của vạn vật và tin tưởng vào sự chết.

Tôi cũng muốn dạy cho người đời tìm trong tình huynh đệ với thiên nhiên nguồn suối trong của hạnh phúc và sinh lực cuồn cuộn như thác đổ của đời sống: tôi muốn truyền bá nghệ thuật chiêm ngưỡng, du hành, an hưởng thú vui hàng ngày. Tôi muốn đem lại cho núi non, biển cả, hải đảo xanh tươi, một tiếng nói mạnh mẽ và quyến rũ để bắt buộc người đời nhìn thấy đời sống bao la và muôn vẻ muôn hình, hàng ngày nảy nở và tràn ngập ngoài thành thị của chúng ta. Tôi muốn người đời phải xấu hổ khi thấy mình biết nhiều về chiến tranh, thời trang, chuyên ngồi lê đôi mách, văn chương nghệ thuật, hơn là biết gì về con sông chảy dưới gầm cầu, khu rừng và đồng cỏ tươi đẹp mà đường xe lửa của chúng ta vẫn đi qua. Tôi muốn kể cho các bạn nghe rằng một người cô độc là tôi đã khám phá ra biết bao niềm vui liên tiếp trong cõi đời này, tôi không thể nhẹ dạ mà đón nhận cuộc đời, và tôi ước ao rằng các bạn sẽ khám phá ra những nguồn vui thấm thía hơn nữa vì có lẽ các bạn sung sướng và vui vẻ hơn tôi.

Và trước hết tôi muốn đặt lên trái tim các bạn bí quyết đẹp đẽ của tình yêu. Tôi muốn tỏ cho các bạn biết mình phải là anh em chân tình với tất cả cái gì sinh sống, các bạn sẽ thấy mình được hưởng đầy đủ tình yêu cho nên không sợ khổ đau, không sợ chết, trái lại các bạn sợ chết một cách nghiêm trang, và thân hữu như người anh em nghiêm khắc khi cái chết đến với chúng ta.

Không phải tôi hy vọng nói được những điều ấy bằng thi ca, bằng một bài thánh ca của những thánh ca, nhưng tôi chỉ muốn nói một cách giản dị chân thực và khách quan; nói một giọng vừa nghiêm trang vừa vui cười như người đi xa về kể lại với bạn bè chuyện xứ lạ ông ta mới đi qua.

Tôi muốn - tôi quyết đinh - tôi mong mỏi -, nói như vậy hẳn là lời nói có tác dụng khôi hài. Ngày mà ý muốn ấy có một hình thức, một kế hoạch tôi còn phải đợi. Nhưng ít ra tôi đã thu nhập được nhiều tài liệu. Không những tôi ghi vào trong trí, tôi còn ghi vào những cuốn sổ tay để trong túi, mỗi tuần tôi ghi thêm càng nhiều và đi đâu tôi cũng mang theo. Tôi đã ghi chú tất cả cái gì có thể thấy trên đời, ghi vắn tắt và giản dị, không có gì cả mà cũng không bàn bạc gì cả. Đó là một cuốn sổ tay cũng như những mảnh giấy phác họa của họa sĩ, ghi chép một vài chữ chỉ những sự vật khả tri khả giác: hình ảnh phố phường, đường xá, hình thù núi non và thị xã, câu đối đáp nghe thấy của người nông dan, người thợ thuyền, người buôn bán chợ búa; còn những nhận xét về thời gian, đèn đóm, gió mưa, cây cỏ, thú vật, nham thạch, sự cấu tạo nên những đợt sóng, mầu sắc mặt biển, hình dáng đám mây. Tôi đã đem ra viết cho in những truyện ngăn ngắn, những cảm tưởng về thiên nhiên, về sự du ngoạn, nhưng không bao giờ nói đến tương quan với người. Truyện một cái cây, đời sống một con vật, hành trình của một đám mây đủ cho tôi lưu ý rồi, dù không dính dáng gì đến người.

Tôi vẫn thường tự nhủ rằng một bài thơ có chút quan trọng nào mà tuyệt đối không có bóng dáng con người sẽ là một cái gì quái dị, tuy nhiên, đó là một lý tưởng mà tôi vẫn ôm ấp trong nhiều năm, và tôi hy vọng lờ mờ lã sẽ có ngày thần hứng giúp tôi chiến thắng sự bế tắc ấy. Tôi nhận thấy cần phải nói đến con người trong những phong cảnh đẹp đẽ của tôi, con người phải được diễn tả với cái gì là tự nhiên chân thực của con người. Như vậy, cần phải quan niệm lại nhiều vấn đề, và ngày nay tôi vẫn còn cố gắng thực hiện ý ấy. Cho đến ngày nay người đời đối với tôi chỉ là một khối người thực ra xa lạ với tôi. Tôi vừa nhận thấy phải tìm hiểu và nghiên cứu con người như từng cá nhân một chứ không phải một khái niệm nhân loại trừ tượng, sổ tay và trí nhớ của tôi bây giờ chứa đầy những hình ảnh thật mới mẻ.

Mới đầu những công việc khảo cứu ấy đem lại cho tôi nhiều thú vui. Tôi bỏ tính lạnh lùng ngu muội trước và chú ý đến đủ hạng người. Tôi nhận thấy nhiều sự việc xảy ra xa lạ hẳn với tôi, nhưng tôi cũng hiểu rằng đi nhiều, thấy nhiều, mắt tôi mở rộng thêm và tinh tường hơn. Xưa nay tôi vẫn thích trẻ con, vì thế tôi chú ý đến trẻ con hơn cả và cũng thấy thích thú hơn cả.

Dẫu sao thì ngắm mây và sóng vẫn được thỏa mãn hơn nghiên cứu người. Tôi ngạc nhiên vô cùng khi nhận thấy con người phân biệt với thiên nhiên và muôn loài trước hết vì một lớp vỏ giả trá trơn tuột và bầy nhầy bao phủ họ và chống đỡ. Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn tôi nhận thấy mọi người quen biết tôi đều có hiện tượng ấy - hiện tượng phát sinh vì mỗi người bắt buộc phải có một nhân tính nhất định nào đó trong khi không ai hiểu rõ bản thể của mình như thế nào. Tôi nhận thấy chính tôi cũng thế, điều ấy làm tôi có một cảm tưởng kì dị. Bởi vậy tôi không muốn tiến sâu vào nội tâm của cá nhân. Đối với nhiều người lớp vỏ bầy nhầy rất là quan trọng. Ở đâu đâu cũng thấy những người như thế, cả từ đứa trẻ con trở đi. Dù vô tình hay hữu ý, bao giờ họ cũng muốn có một bộ mặt nào đó, muốn đóng một vai trò nào đó, chứ không chịu để lộ thực chất của mình không chút mập mờ.

Được ít lâu, tôi có cảm tưởng là không tiến bộ được chút nào, là bị lạc lối giữa những chi tiết nhỏ nhặt. Tôi bắt đầu tự xét mình để tìm lý do, nhưng không thể giấu giếm được rằng mình tìm không ra, mà những người xung quanh tôi không ai có những mẫu cá tính mà tôi tìm kiếm. Tôi không cần những mẫu người độc đáo mà chỉ cần những mẫu người điển hình. Không thể thấy được trong số người trí thức hay số người bình dân. Tôi nghĩ đến nước Ý với cảm tưởng nhớ tiếc, và tôi cũng có cảm tưởng nhớ tiếc ấy khi nghĩ đến những người bạn duy nhất cũng đi bộ như tôi, đám thợ thuyền. Đã nhiều lần tôi cùng cuốc bộ với họ và gặp nhiều người rất thú vị.

Đến quán Ngựa Trắng hay và những nhà những người kém tư cách thì vô ích. Tìm hiểu những tên du thủ du thực không được việc gì cả. Lại một lần nữa tình trạng bế tắc không có lối thoát. Vậy thì tôi nhận xét có trẻ con và khách ăn trong tiệm, dĩ nhiên bước vào tiệm tôi không đến nỗi phạm lỗi gì. Đó là tình cảnh tôi trong mấy tuần lễ tôi ngờ vực cả mình, tôi nghĩ rằng hy vọng và dự định của tôi quá đáng, tôi đi vẩn vơ ở ngoài trời rất nhiều và trở lại nghĩ quẩn hằng nửa đêm trước một chai rượu.

Trên bàn xếp từng chồng sách vì không còn chỗ trong hộc tủ, tôi muốn giữ lại những sách ấy chứ không muốn đưa cho người bán sách cũ. Sau cùng tôi phải đến một tiệm thợ mộc mời chủ nhân đến nhà tôi đo chỗ để đóng cái tủ sách.

Ông ta đến: một người nhỏ bé, chậm chạp, cách cục đắn đo thận trọng. Y đo căn phòng, quỳ xuống đất đưa cái thước lên tận trần rồi đưa bút một cách tôn nghiêm ghi kích thước vào một cuốn sổ bằng những chữ lớn như con quạ.

Trong khi làm việc, ngẫu nhiên y vấp phải cái ghế để đầy sách, vài cuốn rơi xuống đất, y lom khom nhặt lên. Trong số sách có một cuốn tiếng lóng của thợ thuyền trong tiệm ăn nào ở nước Đức cũng có, một cuốn sách viết cẩn thận và rất vui tai.

Người thợ mộc trông thấy cuốn sách rất quen thuộc với y nước mắt nhìn tôi, hiếu kỳ, nửa thích vui, nửa nghi ngờ:

- Cái gì vậy?

- Tôi thấy một cuốn sách mà tôi cũng quen lắm. Ông cũng học tiếng lóng à?

- Ấy, lúc đi đường tôi vẫn dùng ngôn ngữ của các bồ, nhưng thỉnh thoảng tôi cần tìm lấy mấy chữ để dùng.

- Thật ư! Đã có hồi ông đi lêu lổng như vậy à?

- Không hẳn là lêu lổng như ông nghĩ, nhưng tôi đã lăn lộn nhiều, đã nhiều lần tôi ngủ bất kỳ ở đâu.

Trong lúc ấy y xếp lại chồng sách và định ra về.

- Trước kia, ông cũng đã có hồi lang thang à? - Tôi hỏi.

- Tôi đi từ đây đến Coblence và sau xuống Genève.

Những ngày ấy tôi cũng không khổ lắm.

- Ông đã bị bắt hai lần hay một?

- Chỉ có một lần thôi, ở Durlach.

- Ông kể chuyện cho tôi nghe được không. Hôm nào ta đi nhậu với nhau.

- Tôi cũng không thích lắm, thưa ông. Nhưng nếu có ngày ông đến tôi chơi thì hay.

Vài ngày sau Elizabeth mở cuộc tiếp tân trọng thể, đi nửa đường tôi bỗng dừng lại và tự hỏi rằng đến nhà người thợ mộc chơi có lẽ hơn. Tôi quay trở lại treo áo lên mắc rồi đi thăm người thợ mộc. Xưởng thợ của y đã đóng của tối om. Đi qua một cái của tối tăm, vấp mấy cái, vào một cái sân hẹp, leo thang, xuống thang nữa, sau cùng mới đến một cái cửa trên có tấm biển đề tên người thợ mộc. Tôi đi thẳng vào cái bếp nhỏ, trong bếp một người đàn bà gầy gò vừa nấu cơm tối vừa trông ba đứa con phá phách la hát om sòm trong căn nhà hẹp. Người vợ lấy làm lạ, bèn dắt tôi sang phòng bên người thợ mộc ngồi với tờ nhật trình cạnh cửa sổ còn chiếu vào chút ánh sáng yếu ớt. Y la lên một tiếng bực dọc vì trong bóng tối tưởng tôi là một khách hàng quấy rầy vào lúc này, nhưng nhận ra tôi y vội đưa tay ra chào.

Thấy y bối rối và ngạc nhiên, tôi quay ra hỏi mấy đứa trẻ, chúng chạy vào bếp, tôi đi theo. Trông thấy bà chủ nhà đang làm một đĩa cơm, tôi nhớ lại vài cách nấu nướng của bà chủ nhà ở Ombire, bèn bước tới làm cơm với bà. Ở xứ chúng tôi người ta thường nấu cho gạo chín nhừ như cháo mất cả vị, lúc ăn thì thật là ngán. Trong lãnh vực này cũng vậy tai nạn và tội ác không biết tiếc của trời đang thành tựu, tôi vừa kịp cứu vãn tình thế, tôi vội lấy cái muôi và nồi cơm để nấu giùm. Người đàn bà kinh ngạc để yên cho tôi làm; tôi nấu được nồi cơm khá dẻo, xong xuôi, để lên bàn, thắp đèn và dọn đĩa bát.

Tối ấy bà vợ thảo luận với tôi rất kĩ càng về vấn đề bếp núc, ông chồng không còn biết nói một câu vào lúc nào, chúng tôi đành phải để đến làn khác sẽ nói đến chuyện phiêu lưu của y. Vả chăng mấy người bình dân này đã hiểu ngay tôi chỉ có dáng ông nọ kia ở cái vỏ ngoài, thực ra tôi là con nhà nông dân, con nhà nghèo, vậy là ngay từ tối đầu chúng tôi đã là bạn quen thân. Bởi vì họ nhận thấy tôi cũng con nhà thường dân như họ, còn tôi tôi đánh hơi thấy gia đình bần bách này có cách cục của những người lễ thứ. Ở đây người ta không có thì giờ tìm kiếm màu thanh vẻ lịch, làm duyên làm dáng, đóng kịch; đời sống nghèo khổ và cực nhọc đối với họ quý giá dù không được trau chuốt bằng văn hóa và quan niệm lý tưởng, và họ thấy tốt đẹp rồi chẳng cần phải tô điểm bằng những lời tán dương hoa mỹ.

Mỗi ngày tôi càng năng trở lại nhà người thợ mộc, không những tôi không quên được những trò ngô nghê của xã hội người khá giả mà tôi quên được nỗi buồn và nỗi khổ của tôi. Hình như một chút tuổi trẻ của tôi còn lưu lại ở đây và ở đây tôi tiếp tục đời sống mà mấy ông cha đã làm gián đoạn từ khi cho tôi đi học.

Cúi xuống một bản đồ rách mướp và úa vàng vì mồ hôi tay, vẽ theo kiểu cổ, người thợ mộc cùng với tôi theo dõi những cuộc hành trình đã qua, chúng tôi đã khoan khoái biết bao khi đến mỗi cổng thành, khi vào mỗi ngõ hẻm mà cả hai người đều biết rõ, chúng tôi nhắc lại những câu pha trò của người làm ăn, một buổi tối chúng tôi hát một điệu trẻ trung muôn thuở của tỉnh Straubing trên bờ sông Danube. Chúng tôi nói đến những khó khăn nghề nghiệp, gia sự, con cái, đời sống thị thành và dần dần người thợ mộc với tôi đổi lẫn vai trò của nhau, y trở nên ông thầy chỉ bảo cho tôi mọi điều còn tôi thì nghe y để học khôn. Tôi thở khoan khoái mà nhận thấy không còn là khung cảnh xa lông nữa, ở đây tôi sống giữa cuộc đời đúng như nó xuất hiện.

Một đứa con, con bé lên năm người yếu đuối, nom rất khác thường. Tên nó là Agènes nhưng người ta vẫn gọi là Agi; nó tóc vàng, da xanh nhợt chân tay mảnh khảnh hai mắt thao láo và nhút nhát, nom người nó có một vẻ man rợ dịu dàng. Một ngày chủ nhật tôi đến rủ gia đình người thợ mộc đi chơi, thì thấy Agi ngọa bệnh. Bà mẹ phải ở nhà trông con; còn chúng tôi kéo nhau ra ngoài tỉnh chơi. Ra khỏi Sankt Margreten chúng tôi tìm cái ghế ngồi; con nít chạy quanh mô đó, hái hoa bắt bọ rầy người lớn ngồi ngắm đồng cỏ mùa hè, bãi tha ma, dải núi Jura xanh xanh tận xa. Người thợ mộc ra về mỏi mệt, lo nghĩ, ít nói.

Khi trẻ con đã chạy chơi xa, tôi hỏi y:

- Có cái gì buồn vậy, ông phó?

Y nhìn tôi buồn rầu ngơ ngác.

- Ông không thấy ư? Con Agi khó sống được.

Tôi biết từ lâu, mà tôi lấy làm lạ rằng nó còn sống được đến ngày nay, cái chết hiện ra trong mắt nó đó. Bây giờ thì không còn nghi ngờ gì nữa.

Tôi khuyên nhủ y, nhưng rồi phải thôi. Y mỉm cười buồn bã nói tiếp:

“Hẳn ông cũng không chắc là đứa bé qua khỏi được. Tôi không tin đạo, tôi chỉ đi nhà thờ có một lần mỗi năm đại xá, nhưng tôi biết rằng Thượng Đế bây giờ muốn bảo tôi cái gì. Nó chỉ là đứa trẻ, chưa bao giờ thấy nó khỏe mạnh nhưng tôi yêu nó hơn tất cả những đứa khác”.

Con nít chạy lại la hét vang trời, xúm lại hỏi chuyện, đòi tôi nói tên hoa tên cỏ và sau dùng đòi kể chuyện cổ tích. Tôi bèn cắt nghĩa cho chúng nghe cây cối, bụi cỏ và bụi hoa cũng như trẻ, có linh hồn có thần hộ mạng. Màu lam rặng núi dần dần xuống sậm mầu, nghe tiếng chuông chiều chúng tôi trở về nhà. Con nít mệt mỏi đều yên lặng. Chúng nghĩ đến thần hoa, thần chuông, còn người lớn, chúng tôi nghĩ đến con bé Agi, linh hồn nó chẳng bao lâu nữa sẽ tung cánh bay đi, để chúng tôi ở lại buồn rầu khắc khoải.

Mười lăm ngày sau không có gì đáng ngại. Đứa bé có vẻ như khỏi bệnh, nó đã dậy được vài giờ; nằm trên gối mới thay, nom nó xinh đẹp và vui vẻ hơn mọi ngày. Rồi lại đến mấy đêm nóng sốt liền, tuy không ai nói nhiều đến nữa, nhưng chúng tôi biết rằng đứa bé chỉ còn sống vài tuần hay vài ngày nữa là cùng. Chỉ có người cha nói đến một lần. Tôi thấy y tìm kiếm trong đống ván để dự trữ, đã biết rằng y tìm ván để đóng quan tài cho con.

“Chẳng còn bao lâu nữa, tôi muốn tự tay làm lấy lúc rảnh công việc.”

Tôi ngồi trên một cái bàn, y làm việc trên cái bàn kia. Khi đã bào ván thật nhẵn y cho tôi xem ra vẻ hài lòng lắm. Đó là thứ gỗ thông đẹp, tốt, không nứt nẻ chỗ nào.

“Tôi cũng không đóng đinh mà đóng mộng cẩn thận cho thật bền thật chắc. Thôi ngày nay làm thế thôi, đi ra ngoài này đi.”

Ngày này ngày khác qua đi, những ngày nóng bức chói chang trong mùa hè, mỗi ngày tôi ngồi một hai giờ bên bé Agi, nói chuyện rừng rậm và đồng cỏ đẹp, hai bàn tay khổng lồ của tôi cầm hai tay nhỏ bé xinh xắn của nó, bằng tất cả sức mạnh của tâm hồn tôi thu hút lấy cái duyên dáng dịu dàng trong sáng phủ lấy người nó cho đến ngày cuối cùng.

Rồi chúng tôi ngồi đấy, buồn rầu xao xuyến mà nhìn thân hình gầy ốm ráng lấy tàn lực chống lại cái chết mạnh bạo đang khuất phục nó nhanh chóng và dễ dàng. Người mẹ can đảm giữ được bình tĩnh; người cha cúi xuống giường từ biệt con đến trăm lần, tay vuốt tóc con, miệng hôn xác đứa con thân yêu.

Rồi lễ an táng ngắn ngủi giản dị, kế theo là những buổi tối nặng nề, trẻ con nằm khóc nhệu nhệch ở bên cạnh. Rồi đến những buổi đi thăm mộ rất thích thú, chúng tôi trồng hoa bên mồ mới đắp rồi chúng tôi ngồi yên lặng trên ghế trong lối đi có bóng mát, nghĩ đến Agi và nhìn nắm đất ướt dưới đó nó yên nghỉ với con mắt khác; nhìn cây cỏ, nhìn chim chóc bay giỡn với nhau làm vang động bãi tha ma.

Trong những ngày ấy công việc hàng ngày vẫn trôi theo nhịp khắc khổ của nó. Trẻ con trở lại vui hát, đánh lộn, đòi kể chuyện; còn chúng tôi dần dần quên sự vắng mặt của Agnes, trên trời có thêm một thiên thần bé nhỏ xinh xắn.

Dạo ấy tôi không đến nhà vị giáo sư, chỉ đến nhà Elisabeth một hai lần, giữa những câu chuyện vô vị, tôi như người mất hướng và xao xuyến. Tôi trở lại nhà họ nhưng thấy đều đóng cửa vì ai cũng về quê. Bấy giờ tôi mới nghĩ ra, vì thân mật với nhà người thợ mộc, vì con bé Agi ốm đau, tôi quên cả mùa nóng bức và nghỉ hè. Trước kia tôi không thể ở thành phố vào tháng 7 và tháng 8.

Tôi bèn nghỉ ít lâu để đi bộ qua những núi như Forêt-Noir, Bergatrasse và Odenwald. Dọc đường tôi tìm được niềm vui mới khi gửi về cho con người thợ mộc ảnh những nơi có thắng cảnh và khi nghĩ đến sau này sẽ kể lại cho họ chuyến đi ấy.

Đến Francfort tôi định nghỉ thêm vài ngày nữa. Đến Aschaffenburg, Nuremberg, Munich, Ulm tôi xem những nghệ phẩm cổ với một thứ thích thú mới, và sau cùng tôi dừng lại Zurich tuy không chú ý đặc biệt đến tỉnh này. Trong mấy năm nay tôi có ý tránh tỉnh này như tránh một cái mồ; lần này tôi tản bộ đi qua phố phường đã quen thuộc; tìm những quán ăn và những vườn hoa ngày trước, tôi có thế nghĩ đến những ngày tươi đẹp quá khứ mà tim không đến nỗi thắt lại. Agliette, cô họa sĩ, nay đã lấy chồng, người ta cho biết địa chỉ. Tối tôi đến thăm, khi dừng lại đọc tên người chồng ở ngoài cửa và ngước mắt nhìn lên cửa sổ, tôi lưỡng lự không muốn vào. Những năm đã qua hiện lên rõ ràng, mỗi tình tuổi trẻ muốn tỉnh giấc ngủ êm đềm làm tôi mủi lòng đôi chút. Tôi quay trở lại không vào nữa, như vậy tôi không làm phai mờ hình ảnh thân yêu của Aglietti mà tôi muốn thấy lại một cách vô ích. Tôi tiếp tục đi tha thẩn và đến thăm khu vườn cạnh hồ ngày trước hội nghệ sĩ đã tổ chức ngày họp mùa hè. Trước căn nhà tôi đã sống ba năm ngắn ngủi vui tươi trên gác thượng, tôi ngước mắt nhìn lên, trong số những kỉ niệm xa xưa tên nàng Elisabeth bỗng trở lại môi tôi. Mối tình mới này mạnh hơn những mối tình trước. Nó lặng lẽ hơn, bình tĩnh, khiêm tốn hơn, gợi lên nhiều nỗi niềm hơn.

Muốn giữ được cảm tưởng phấn khởi ấy tôi kiếm một cái thuyền đưa mái chèo thong thả thoải mái trên hồ nóng bức và sáng sủa. Trời sắp tối, trên trời một đám mây trắng như tuyết, một đám mây duy nhất. Tôi dán mắt vào đám mây chào thân hữu trong khi nghĩ đến tình yêu mây lúc còn thơ ấu, nghĩ đến Elisabeth và đám mây trong bức họa của Segantini, trước đám mây ấy tôi đã ngắm Elisabeth đẹp đẽ biết bao. Bây giờ hơn lúc nào hết tôi yêu nàng, một tình yêu không lên tiếng không có thèm muốn vẩn đục, đem lại cho tôi thanh khiết và hạnh phúc. Ngắm mây, tôi thanh thản nghĩ đến tất cả cái gì là tốt đẹp trong đời tôi với tấm lòng nhân hâu. Đáng lẽ bồn chồn và mê mải ngày trước, tôi chỉ còn thấy những ước vọng cao kỳ của tuổi thơ ấu, nhưng bây giờ ước vọng cũng trở thành bình tĩnh hơn, chín chắn hơn.

Đã từ lâu tôi quên thói nhịp theo mái chèo ngân nga hay hát một bài. Lần này tôi cũng khẽ hát đủ mình nghe, và khi nghe nhịp điệu của câu hát tôi mới nhận ra là những câu thơ. Tôi nhớ lấy để về nhà ghi lại làm kỷ niệm buổi chơi hồ Zurich:

Kìa ai óng ả như mây

Làn mây trắng nhẹ vút bay lên trời

Trông mây lòng những bồi hồi

Thoáng nhìn đâu đã cạn lời nước non

Đêm khuya chạnh mối cô đơn

Tình ta khôn dãi, nuốt hờn trong mơ

Mây bay mây khuất nẻo xa

Riêng ta tiếc nuối đường tơ se lòng

Về Bâle tôi nhận được một bức thư từ Assise gửi đến. Thư của bà Annunciata Nardini cho biết những tin lành. Bà đã đi bước nữa. Có lẽ cứ chép nguyên vẹn bức thư ra đây thì hơn:

“Kính gửi ông Peter thân mến,

“Xin ông cho phép người bạn trung thành của ông gửi bức thư này. Trời đã dành cho tôi một hạnh phúc lớn và tôi muốn mời ông đến mừng lễ cưới của tôi vào 12 tháng mười. Nhà tôi là Menotti, không giàu lắm nhưng rất yêu tôi, trước ảnh đã buôn trái cây. Ảnh cũng xinh trai nhưng không vạm vỡ và đẹp trai bằng ông, ông Peter ạ. Ảnh sẽ bán trái cây ngoài chợ còn tôi ở nhà. Con bé Mariette xinh đẹp bên láng giềng cũng sắp lấy chồng nhưng chồng là người ngoại quốc làm thợ hồ.

Ngày nào tôi cũng nghĩ đến ông và nói chuyện ông với nhiều người. Tôi rất yêu mến ông và yêu cả ông thánh, tôi mới cúng dường bốn cây bạch lạp để tỏ lòng nhớ đến ông. Menotti rất vui sướng nếu ông đến ăn cưới. Nếu ảnh tỏ ra xích mích với ông tôi sẽ cấm ảnh. Thật tôi ngán quá, thằng Matteo Spinelle đốn mạt lắm, tôi vẫn bảo thế mà. Nó ăn cắp chanh của tôi luôn. Người ta đã bắt nó vì nó ăn cắp mười hai đồng của cha nó và bỏ bả chết con chó của người ăn xin Giangiacomo. Tôi cầu chúc ông được Thượng đế và thánh thần phù hộ.

Người bạn trung thành và

khiêm tốn của ông

Annunciata Nardini

“Tái bút: Vụ mùa này cũng khá thôi, nho thì xấu lắm, lê cũng không có, nhưng chanh được mùa; đáng tiếc là chúng tôi phải bán rẻ quá. Ở Spello đã xảy ra một tai nạn lớn. Một người thanh niên lấy cái cào phang chết anh ruột; không ai hiểu tại sao nhưng chắc là hắn ghen tuông mặc dù đấy là anh ruột của hắn.”

Đáng tiếc rằng tôi không thể đến dự bữa tiệc thú vị ấy. Tôi gửi thư chúc mừng và hẹn đến mùa xuân tới sẽ đến thăm. Rồi tới đến nhà người thợ mộc với bức thư ấy và một món quà mua ở Nuremberg cho trẻ con.

Ở đây đã xảy ra một sự thay đổi lớn mà tôi không ngờ. Gần cửa sổ, một người xấu xí, xiêu vẹo ngồi lì trên một chiếc ghế có chân ngang như ghế trẻ con. Đó là anh Boppi người anh ruột của vợ người thợ mộc, một người tàn tật vì mẹ y mới chết cho nên y không biết nương tựa vào đâu. Người thợ mộc cho y tạm trú ở dấy nhưng trong bụng chẳng vui, người tàn tật có mặt ở đây làm cho cả nhà khó chịu, người cha rõ ràng là chẳng bằng lòng rồi.

Y có hai cái bướu lấp mất cả cổ, đầu thì to mà nét mặt thô thiển, trán rộng, mũi lớn, miệng xinh xắn buồn rầu. Hai mắt sáng nhưng ngờ nghệch và hơi có vẻ sợ hãi, hai bàn tay trắng trẻo đẹp đẽ và nhỏ bé lạ lùng; luôn đặt lên thành ghế không cử động. Tôi cũng thấy hơi vướng víu, khó chịu vì người lạ mặt, tôi cũng động lòng khi nghe người thợ mộc kể lại câu chuyện ngắm ngủn của người bệnh, lúc ấy y ngồi bên cạnh nhìn hai bàn tay, không ai nói với y lời nào. Sinh ra y đã tàn tật rồi, nhưng y đã học hết cấp tiểu học, trong một thời gian y cũng biết tết rơm để giúp ích cho mọi người, nhưng sau mắc chứng tê liệt nên phải thôi. Từ mấy năm nay y chỉ nằm trong giường hay ngồi trên ghế phải lấy gối chống đỡ. Người đàn bà nói rằng ngày trước y hay hát và hát hay lắm nhưng bây giờ không nghe tiếng hát nữa, và từ lúc đến đây y chưa hát bao giờ. Trong khi người ta kể chuyện y, bàn tán về y, y chỉ ngồi yên, hai mắt nhìn vô định. Tôi thấy không được thoải mái nên ra về sớm. Những ngày sau tôi không trở lại nhà người thợ mộc.

Suốt đời tôi khỏe mạnh luôn, tôi không ốm đau nặng bao giờ cho nên thấy những người đau ốm, nhất là những người tàn tật tôi có thái độ thương cảm, nhưng cũng có chút khinh bỉ. Tôi không hề xúc động, khi cho rằng người tàn tật sống thảm hại, nhờ vả gia đình người thợ mộc, đã làm tôi bực bội vì vì mất những giờ yên tĩnh và tươi sáng ở đấy. Bởi vậy tôi cứ lui mãi ngày đến chơi và nghĩ hoài về cách tống khứ y đi cho rảnh. Đưa y vào nhà thương hay một trại tế bần tốn kém chút đỉnh cũng không phải là không thể làm được. Nhiều lần tôi muốn tìm người thợ mộc bàn với anh xem sao nhưng tôi vẫn sợ mình khơi mào câu chuyện, vả chăng tôi ngần ngại như trẻ con không muốn đến gần người bệnh. Nhìn thấy anh ở luôn luôn trước mắt, bắt tay anh ta làm tôi ghê tởm.

Một ngày chủ nhật qua đi. Chủ nhật sau tôi sắp sửa lên tàu sớm đi chơi vùng Jura; nhưng tôi xấu hổ vì sự hèn nhát của mình; tôi ở lại, và sau bữa cơm sáng tôi đến nhà người thợ mộc.

Tôi miễn cưỡng bắt tay Boppi. Người thợ mộc vẻ không vui, đề nghị đi chơi quanh. Y nói cho tôi biết cũng ngán với sự khổ sở này và tôi sung sướng vì biết rằng y có thể nghe lời tôi. Người vợ muốn ở nhà, nhưng Boppi bảo bà cứ đi chơi, y ở nhà một mình cũng được. Miễn là y có một cuốn sách và một ly nước uống, người ta có thể để y đấy đóng cửa lại không lo gì.

Còn chúng tôi, chúng tôi tự cho mình là những người tử tế, những người nhân nghĩa, thế mà chúng tôi để y ở xó nhà, kéo nhau đi rong! Và chúng tôi vui vẻ thật, chúng tôi vui vẻ xem trẻ con chơi đùa, chúng tôi tắm nắng vàng chiều thu, không ai xấu hổ, không ai thấy lòng áy náy về để người tàn tật ở nhà một mình! Trái lại chúng tôi sung sướng vì tránh được mặt y một lúc, chúng tôi nhẹ nhõm vì được thở không khí trong sạch ấm áp ngoài nắng. Thật là cảnh tượng một gia đình cơ chỉ biết hưởng ngày nghỉ của Trời ban cho một cách thông minh và biết cám ơn trời.

Mãi đến khi vào vườn một tiệm ăn dùng bữa người thợ mộc mới nói đến Boppi. Y phàn nàn phải nuôi thêm một người, than phiền rằng nhà chật chội và ăn tiêu tốn quá, sau cùng y mới cười mà rằng: “Đi khỏi nhà thế này ít ra mình cũng được vui vẻ một vài giờ, không có ai ngồi ám”.

Nghe những ta thán ấy bỗng dưng tôi thấy hiện ra trước mắt bóng dáng người tàn tật ảo não cầu khẩn, chúng tôi không ưa, chúng tôi muốn tống đi chỗ khác, giờ này y ngồi một mình trong phòng tối om; giam hãm trong sự cô đơn của y. Tôi nghĩ đến lúc trời tối, y không thể một mình, thắp đèn hay đến gần cửa sổ. Y đành phải bỏ sách xuống ngồi bên trong đêm tối, không biết nói với ai, không có cách giải trí nào khác; trong khi ấy thì chúng tôi ngồi đây uống rượu, cười nói và vui chơi. Và tôi nghĩ đến tất cả những điều hay điều tốt về thánh François đã nói với mọi người ở Assise, tôi đã khoe khoang là mình học được của vị thánh tình yêu mến tất cả mọi người. Tại sao tôi nghiên cứu cuộc đời của thánh, học thuộc lòng bài thánh ca tình yêu và đi tìm vết tích của ông trên đồi xứ Ombrie, thế mà ở đây tôi mặc kệ một người cùng khổ đau đớn trong khi tôi biết rằng tôi có thể an ủi họ được.

Bàn tay mạnh bạo một đấng vô hình đặt lên trái tim tôi, bóp chặt lại, tôi đau đớn và xấu hổ đến nỗi run rẩy và ngã quỵ. Bây giờ thì tôi hiểu rằng Thượng đế muốn nhắn nhủ gì tôi.

“Hỡi chàng thi sĩ, tử đệ của Poverelio, nhà tiên tri muốn dạy cho loài người biết yêu, muốn làm cho họ sung sướng. Hỡi chàng mơ mông muốn nghe tiếng nói của ta trong gió trong mây!”

“Nhà ngươi yêu một gia đình quý mến nhà ngươi, ngươi đã sống những phút vui sướng ở đấy! Đến ngày ta hiện thân xuống đấy nhà ngươi chạy trốn, nhà ngươi nghĩ cách đuổi ta! Trời ơi! Thánh hiền, thi sĩ!”

Tôi có cảm tưởng rõ ràng là mình đứng trước tấm gương thật sáng, thấy rõ mình với gương mặt dối trá, một người hèn nhát không giữ lời hứa. Cảm tưởng đau đớn, chua chát, day dứt ghê gớm; nhưng lúc ấy cái gì đổ vỡ trong lòng tôi chồm lên vì hình phạt đau đớn, thật chỉ đáng vỡ tan và hủy diệt đi.

Bất thình lình tôi vội vàng từ giã mọi người, bỏ ly rượu uống dở, miếng bánh vừa bẻ ra, rồi lật đật trở về tỉnh. Trong lúc xúc động tôi còn lo sợ rằng có thể xảy ra chuyện rủi ro nào. Có thể cháy nhà, Boppi không cử động được, có thể lăn xuống ghế nằm lịm dưới đất hay chết giấc rồi. Tôi trông thấy y nằm sóng xoài, tôi tưởng rằng đứng bên cạnh y, chịu đựng cái nhìn của y, chịu nghe lời trách móc câm lặng.

Chạy muốn đứt hơi mới về đến tỉnh, tôi leo bốn bậc thang mỗi bước lên tới nơi mới chợt nghĩ ra rằng cửa đóng mà tôi không có chìa khóa. Nhưng tôi tạm yên sự lo ngại ngay. Trước khi đi đến cửa bếp tôi đã nghe trong nhà có tiếng hát. Một phút kỳ lạ. Trái tim tôi đập mạnh, đang lúc thở hổn hển tôi lắng tai nghe tiếng hát của người tàn tật trong nhà và lòng tôi dần dần trở lại yên tĩnh. Y hát nho nhỏ, giọng ẻo lả hơi than van, điệu tình ca bình dân “Bông hoa nhỏ trắng và đỏ”. Tôi biết rằng đã lâu nay y không hát và tôi đứng đấy xúc động, nhòm ngó y, giữa lúc y nhân dịp tĩnh mịch tìm cái vui theo ý thích của mình.

Việc đời vẫn thế: đời sống thích ghép vẻ khôi hài vào những biến cố nghiêm trọng, những xúc động sâu xa. Tôi hiểu ngay rằng tình trạng của tôi có cái gì ngớ ngẩn và tẽn tò. Nỗi lòng trắc ẩn bất thần, tôi hộc tốc chạy cả giờ qua đồng ruộng để bây giờ đứng trước cái cửa đóng chặt mà không có chìa khóa. Phải bỏ về hay đứng ngoài cửa đóng mà nói cho người tàn tật biết lòng tốt của tôi. Tôi đứng ngoài cầu thang với ý định đến an ủi người khổ sở tỏ cho y biết sự cảm mến cuả tôi, giúp y đỡ thấy ngày dài ngao ngán, còn y chẳng nghĩ gì đến những điều tôi phỏng đoán, y ngồi trong nhà hát ngao, nếu tôi kêu gọi hay gõ cửa ắt làm cho y lo sợ.

Tôi chẳng biết làm gì khác hơn là bỏ về. Tôi đi lang thang trong phố đông đúc ngày chủ nhật độ một giờ thì gia đình người thợ mộc về đến nơi. Lần này tôi không cần ráng sức mới dám đến bắt tay Boppi. Tôi ngồi cạnh y gợi chuyện và hỏi y đã đọc được những sách gì. Rồi tôi tự nguyện ngồi đọc cho y nghe và y biết ơn tôi. Khi tôi đề nghị Jeremias Gotthelf, tôi biết rằng y đã đọc gần hết tác giả này. Nhưng y chưa đọc Gottfried Keller, tôi hứa sẽ cho y mượn.

Ngày hôm sau mang sách lại, tôi có dịp ngồi một mình với Boppi, người thợ mộc ở ngoài xưởng, còn vợ anh muốn đi ra phố. Tôi thú nhận rằng rất xấu hổ vì để y một mình ở nhà ngày hôm qua và cho y biết rằng tôi rất sung sướng thỉnh thoảng ngồi chuyện trò và làm bạn với y.

Người tàn tật bé nhỏ ấy quay cái đầu to như nhồi bông lại nhìn tôi và nói: “Cám ơn ông lắm”. Thế là hết. Nhưng chỉ quay đầu như thế cũng nặng nhọc cho y lắm rồi, cử chỉ ấy có giá trị mười cái hôn của người thường, cái nhìn của y trong sáng và đẹp như mắt đứa trẻ, trước tôi còn hơi thẹn, sau máu xông lên mặt.

Điều phải làm sau đây khó hơn: nói cho người thợ mộc biết. Hình như tốt hơn hết là thú thật với y sự lo lắng và sự xấu hổ của tôi hôm trước. Khốn thay, y không hiểu tôi, nhưng y cũng không từ chối lời nói phải của tôi. Y nhận để cả hai chúng tôi cùng chăm nom người bệnh, hai người chia nhau tiền phí tổn nuôi dưỡng, tôi có thể tùy ý đến đây với Boppi và coi Boppi như em ruột mình.

Mùa thu ấy nóng bức và tạnh ráo lâu hơn mọi năm. Bởi vậy việc thứ nhất tôi giúp đỡ Boppi là mua một cái ghế chân bánh xe để mỗi ngày đưa y ra ngoài trời, thường thường có lũ trẻ đi theo.

Năm xuất bản: 1968 Số trang: 203 Giá tiền: -- Khổ: 13x19 cm Đánh máy: Minh Huy, Bùi Trang, Lê Trang, Vân Anh Kiểm tra: Hannah Lê Chế bản ebook: Hannah Lê Ngày thực hiện: 6/6/2010 Making Ebook Project #44 – www.BookaholicClub.com
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.