Tuổi Trẻ Cô Đơn

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 9 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

3

Thoát khỏi bầu không khí nặng nề vô vị ở quê hương, tôi tung cánh bay về chốn tự do vui thú. Trong quãng đời còn lại, có khi tôi sống không quân bình, nhưng ít ra tôi cũng hưởng đầy đủ nhiều sắc thái thú vị lãng mạn của tuổi trẻ. Như một chàng tráng sĩ ngồi nghỉ ở ven rừng xanh tươi, tôi sống những phút xao xuyến êm ái giữa cuộc tranh hùng ngoài chiến địa và lúc giải trí vẩn vơ; như một nhà tiên tri linh cảm hết chuyện khác, tôi đứng bên bờ những vực thẳm tối tăm, tai lắng nghe sông rộng, bão to ầm ầm chuyển động, tâm hồn mở rộng đón nhịp điệu sâu xa của vạn vật, của đời sống muôn loài. Tôi đã say sưa uống cạn chén thanh xuân, tôi đã đau đớn âm thầm và sâu xa vì những cô gái đẹp mà tôi kính yêu thầm trộm, và tôi đã hưởng đến cùng hạnh phúc cao quý nhất của tuổi trẻ: một tình bạn đứng đắn, vui vẻ và trong sạch.

Tôi ở trên xe hỏa bước xuống, mặc bộ đồ mới bằng thứ nỉ xấu, mang theo một cái rương đựng đầy sách vở và mấy thứ cần dùng, sẵn sàng để chinh phục một phần thiên hạ và chứng tỏ cho những người cổ lậu xứ tôi biết rằng tôi có tư chất khác hẳn người trong họ Camenzind. Trong ba năm, ba năm tươi thắm, căn gác thượng lộng gió trông ra khoảng trời rộng rãi, tôi chuyên chú về văn nghiệp; tôi muốn thấu hiểu mọi vẻ đẹp của trần gian, vẻ đẹp ở gần tôi, bao bọc quanh mình tôi, thấm nhập và mình tôi. Không phải ngày nào tôi cũng được cơm canh nóng sốt, nhưng suốt ngày đêm giờ nào trái tim tôi cũng cười cũng khóc, tràn ngập niềm vui mãnh liệt, ôm ghì lấy thú vui của đời sống một cách hăng hái và ham say.

Chàng thư sinh là tôi bắt đầu biết Zurich, một đô thị quan trọng, trong mấy tuần lễ liền tôi mở to mắt quan sát mọi thứ. Tôi không hề nghĩ đến việc ca ngợi hay thèm muốn đời sống thị thành: đối với cuộc sống ấy tôi chỉ là một người nông dân. Nhưng tôi khoan khoái mà thấy nhiều sắc thái của phố phường, nhà cửa, dân cư. Tôi theo xe cộ đi lại nhộn nhịp, tôi ngắm bến tàu, công trường, vườn hoa, dinh thự và giáo đường, tôi xem người thành thị chăm chỉ kéo nhau lũ lượt đến sở làm, sinh viên dạo chơi, người ngoại quốc đi một vòng quanh thành phố. Vợ con người giàu có, đàn bà sang trọng ăn mặc hợp thời trang, dáng dấp kiêu kì hơi có vẻ lố lăng, khinh khỉnh với tôi không khác gì con công trong vườn gà vịt. Thật ra tôi không nhút nhát mà chỉ vụng về thôi, thể chất và tâm hồn tôi thiếu ý nhị, tôi không cho rằng tôi không thể thích ứng đến nơi đến chốn với đời sống hoạt động của người thành thị và sống mãi mãi với họ.

Tình bạn trẻ xuất hiện với tôi dưới bộ mặt một chàng trai đẹp trai cũng học ở tỉnh này, y ở căn lầu thứ nhất cùng nhà, mướn hai căn phòng rất đẹp. Hàng ngày tôi nghe y đánh dương cầm ở dưới, bởi vậy lần thứ nhất tôi được biết chút ít về cái du dương của âm nhạc, nghệ thuật êm ái và nữ tính hơn cả. Sau tôi thấy y đi ra, dáng đi uyển chuyển và người mảnh mai, tay trái cầm một cuốn sách hay một tập nhạc, tay phải cầm điếu thuốc, tưởng vòng khói tan tỏa ra phía sau. Tôi mến y với tình bạn thân thiết và rụt rè, nhưng tôi vẫn giữ ý không muốn làm quen vì sợ mình chơi với một người bạn có phong thái tự chủ, ung dung, nhanh nhẹn không khỏi làm cho tôi tự thẹn vì mình nghèo và kém đường ăn ý ở. Chính y đến thăm tôi trước. Một buổi tối có tiếng gõ cửa, tôi áy náy vì chưa bao giờ tiếp ai ở nhà tôi. Người sinh viên đẹp trai ấy, tự bước vào, giơ tay bắt tay tôi, tự giới thiệu và xử sự rất tự nhiên, rất vui vẻ làm như hai người quen nhau từ lâu.

Y nói một cách thân mật: “Tôi muốn hỏi anh, anh có thích chơi âm nhạc với tôi không.” Khốn thay, trong đời tôi đã sờ đến cái đàn bao giờ đâu. Tôi nói cho y biết và thêm rằng ngoài giọng hát xứ Tyrol ra tôi không biết một nghệ thuật nào khác, tuy nhiên nghe tiếng dương cầm của y cũng biết hay biết thú.

Y vui vẻ mà rằng: “Thế ra tôi lầm! Trông bề ngoài của anh tôi dám cá rằng anh biết chơi âm nhạc. Lạ thật thế sao anh biết hát giọng Tyrol. Anh hát cho tôi nghe đi, tôi thích lắm.”

Tôi bối rối mà trả lời rằng ở trong phòng nhỏ này mà lại có người bảo hát thì tôi không hát giọng ấy được. Chỉ có thể hát khi nào ở trên núi hay ít ra ở ngoài trời và mình có hứng.

“Nếu vậy ta sẽ lên núi để anh hát cho tôi nghe! Ngày mai nhé! Anh nhận lời tôi đi. Chúng ta có thể cùng đi vào buổi chiều, đi lang thang và tán chuyện chơi; lên núi anh sẽ hát một điệu Tyrol rồi tối xuống làng dùng bữa. Anh được rỗi rãi chứ?”

Thì hẳn rồi, tôi thiếu gì lúc rảnh rang. Tôi vội nhận lời ngay. Rồi tôi cũng yêu cầu y đờn cho nghe. Tôi theo y xuống căn phòng đẹp đẽ và rộng rãi của y. Một vài bức họa đóng khung kiểu mới, cái dương cầm, một chút bề bộn nên thơ, hơi thuốc thơm thoang thoảng làm cho căn phòng xinh xắn có một vẻ thanh lịch phóng khoáng và tiện nghi, một bầu không khí thoải mái mới mẻ đối với tôi. Richard ngồi vào dương cầm đánh vài điệu.

- Anh biết bài này chứ?

Y quay lại hỏi tôi, trông y thật là phong lưu công tử. Khuôn mặt xinh trai bỏ phím đàn, nghiêng đi ngó tôi với hai con mắt sáng ngời.

- Không, tôi không biết gì cả.

- Của Wagner, bậc thầy về âm nhạc.

Y trả lời rồi tiếp tục chơi đàn. Một bản nhạc dịu dàng và mãnh liệt, buồn bã và hồn nhiên, tôi cảm thấy như đầm mình trong nước ấm làm cho người sảng khoái. Tôi vừa nghe vừa ngắm lưng và gáy mảnh dẻ hai bàn tay trắng trẻo của người chơi đàn, lòng vui kín đáo. Tôi cũng thấy lòng mình yêu mến và kính trọng một cách thán phục và rụt rè như trước đã từng kính mến người bạn học tóc đen, tôi cũng có cảm tưởng lờ mờ rằng người thanh niên tuấn tú và thanh lịch này có thể trở nên bạn thân của tôi để thực hiện những hoài bão mà tôi đã quên rồi.

Ngày hôm sau tôi xuống kiếm y. Chúng tôi vừa nói chuyện vừa thong thả leo lên một ngọn đồi cao lắm, mắt ngó xuống thành phố, mặt hồ và vườn tược, yên hưởng vẻ đẹp của lúc chiều tà.

Richard nói:

- Bây giờ thì anh hát một điệu Tyrol đi. Nếu anh còn mắc cỡ thì cứ xoay lưng lại tôi. Xin hãy hát cho, hát lớn lên!

Y được thỏa mãn. Trong buổi chiều vàng tôi lấy gân hát lớn, đủ các giọng, đủ các khuôn đem hết niềm vui vào giọng hát. Khi tôi ngừng hát, y muốn nói điều gì, nhưng bỏ lửng, chỉ tay lên núi và lắng tai nghe. Từ một ngọn núi xa, điệu hát đáp lời vọng lại, kín đáo, ngân nga, tiếng chào của một gã mục đồng hay một khách bộ hành; chúng tôi lắng nghe trong yên lặng và vui sướng. Khi hai chúng tôi cùng lắng nghe, cảm tưởng đứng bên người bạn, cùng bạn dõi mắt ra phương trời xa rực rỡ mây hồng khiến cho lòng tôi rung động êm ái. Mặt hồ bắt đầu óng ánh dưới chiều tà, giây lát trước khi mặt trời lặn mây mù tan đi làm hiển hiện một vài đỉnh núi rất hiểm trở.

Tôi nói:

“Phương trời ấy là xứ tôi, ngọn núi ở giữa là Rote Fluh, bên phải là núi Geshorn, bên trái xa hơn một chút là ngọn Seanalpstock, đỉnh tròn. Tôi mới hơn mười tuổi đã bắt đầu lên ngọn núi lớn ấy.”

Tôi ráng sức tìm một ngọn nữa ở phía nam. Lát sau Richard nói một câu tôi không hiểu. Tôi hỏi lại:

- Anh nói gì?

- Tôi nói rằng bây giờ thì tôi biết anh có khiếu về nghệ thuật nào.

- Nghệ thuật nào?

- Anh là thi sĩ.

Y làm tôi mắc cỡ; y đoán ra điều ấy làm tôi vừa khó chịu vừa kinh ngạc.

- Không, tôi không phải thi sĩ. Ở nhà trường tôi có ít bài thơ thật nhưng đã lâu nay tôi không làm nữa.

- Cho tôi xem được không?

- Tôi đốt hết rồi, mà dù tôi còn giữ cũng không cho anh xem.

- Hẳn là cái gì rất mới, có nhiều mùi vị Nietzsche.

- Thế là cái gì?

- Nietzsche. Trời ơi, anh không biết à?

- Không. Biết ở đâu được.

Y thích chí vì tôi không biết Nietzsche. Nhưng tôi chạnh lòng, tôi bèn hỏi y đã từng lên được mấy ngọn núi tuyết. Khi y trả lời chưa lên ngọn nào, tôi cũng làm mặt ngạc nhiên và ngạo nghễ như y lúc trước. Y bèn đặt tay lên trên vai và nói rất nghiêm nghị: “Anh hay động lòng. Nhưng anh không biết rằng anh là người chân thực, anh không biết rằng rất hiếm có! Trong một hai năm nữa anh cũng biết Nietzsche và tất cả cửa tiệm triết lý, mà anh sẽ biết hơn tôi vì anh thông minh và sâu sắc hơn tôi. Tuy nhiên tối rất mến anh với trình độ của anh bây giờ. Anh không biết Nietzsche và cũng không biết Wagner, nhưng anh thường lên núi tuyết, anh có khuôn mặt người ở Cao Nguyên. Và chắc chắn anh cũng là thi sỹ. Trông vẻ nhìn và trán của anh thì đủ biết.”

Tôi cũng lấy làm lạ rằng y nhìn tôi một cách sỗ sàng và sống sượng, y nói thẳng ý nghĩ không úp mở như vậy.

Nhưng tôi còn ngạc nhiên và vui sướng hơn khi tôi gặp y tám ngày sau tại vườn một cái quán rất đông khách; y đề nghị với tôi đánh dấu tình bạn thân thiết, trước mặt mọi người y đứng dậy ôm lấy tôi hôn và cùng tôi nhảy chung quanh bàn.

Tôi rụt rè và bảo y:

- Không biết thiên hạ họ nghĩ thế nào?

- Họ nghĩ rằng: hai thằng cha này sung sướng khác thường hay đã say bí tỉ, nhưng phần nhiều họ không nghĩ gì cả.

Tuy y hơn tuổi tôi, thông minh hơn, được dạy dỗ chu đáo hơn, cái gì cũng thông thạo lọc lõi hơn tôi nhưng đi bên cạnh tôi thường khi anh có vẻ một đứa trẻ con. Ngoài phố y tán tỉnh nữ sinh còn trẻ con với giọng trịnh trọng và chế giễu, đang chơi những bản đờn nghiêm trang nhất y ngừng lại bông phèng những câu vô vị nhất. Một hôm chúng tôi cùng đi lễ nhà thờ, giữa lúc giảng đạo, bất thần y lấy giọng thạo đời bảo tôi: “này anh, anh có thấy ông cha cố này có vẻ một con thỏ già không?” Y so sánh thật đúng nhưng tôi cho rằng y để sau hãy nói thì hơn, và tôi bảo cho y biết.

Y bĩu môi cãi lại: “Đã đúng thì sao không nói. Lát nữa chắc là tôi không nghĩ đến nữa.”

Những câu nói khôi hài của y không phải là bao giờ cũng thông minh, thường chẳng có gì khác ngoài trích dẫn một câu thơ của Busch, nhưng tôi không thấy chối tai, người khác cũng vậy, bởi vì chúng tôi yêu y không phải vì y thông minh hay lanh lợi mà vì tính vui vẻ bất di bất dịch của bản chất tươi cười con nít lúc nào cũng lộ ra bên ngoài làm y có dáng nhẹ nhàng khinh khoái. Bản chất của y có thể biểu lộ trong khóe cười kín đáo, trong vẻ nhìn vui tươi, nhưng y không thể giữ kín được lâu. Tôi tin rằng trong giấc ngủ cũng có khi y cười hay làm điệu bộ tức cười.

Richard thường đưa tôi đến chơi với bạn hữu khác, sinh viên, nhạc sỹ, họa sỹ, tao nhân mặc khách, phong nhã tài hoa trong hàng tỉnh dần dần đều giao du với y. Trong số ấy có vài người nghiêm trang nhiệt thành tham dự sự tranh đấu sống còn như triết gia, mỹ học gia, người tranh đấu cho xã hội chủ nghĩa, nhiều người có thể gặp giúp tôi mở rộng kiến thức. Tôi thâu thái kiến thức thuộc đủ lãnh vực nhưng chỉ từng chi tiết vụn vặt, tôi phải đọc rất nhiều để bổ túc thêm. Dần dần tôi có một ý niệm về những vấn đề đã làm những bộ óc ưu thời mẫn thế hồi ấy phải băn khoăn và say mê, tôi cũng có thể liếc mắt vào đời sống tinh thần của hoàn vũ, điều đó rất có ích lợi cho tôi và kích thích tôi thêm cố gắng. Tôi hiểu ý muốn khuynh hướng, ý chí và lý tưởng của họ và tôi cũng hợp tác với họ nhưng không có thái độ rõ ràng để đứng hẳn về một phe nào. Tôi thấy phần nhiều người để hết tâm trí vào nhiệt tình và hình thức và định chế xã hội, chính phủ, khoa học, mỹ thuật, giáo khoa nhưng chỉ có một cố ít người thấy cần phải tồn tâm dưỡng trí không có mục đích ở ngoài, cần phải rọi ánh sáng vào mối tương quan giữa con người với thời gian và vĩnh cửu. Đối với tôi cũng vậy, khuynh hướng ấy nói chung chỉ bộc lộ một cách mờ mịt.

Tôi không thân thiết với ai vì tôi yêu Richard một cách tuyệt đối, sự yêu mến ấy làm tôi ghen với người khác, tôi cũng tìm cách làm cho y xa đàn bà vì y hay lui tới và thân mật với họ. Tôi thận trọng thi hành thật đúng từng li từng tí những điều giao ước với y và tôi phật ý khi bắt tôi phải chờ đợi. Một hôm y hẹn tôi đến rủ y đi bơi thuyền vào lúc nào đó. Tôi đến, y không có nhà, tôi ngồi đợi trong ba giờ đồng hồ mà không thấy. Ngày hôm sau tôi trách y thậm tệ. Y ngạc nhiên mà chỉ cười.

- Sao mày không đi bơi thuyền một mình. Tao quên bẵng đi mất. Mấy lại cũng chẳng có gì là tai nạn.

- Tao có thói quen giữ đúng lời hứa. Dĩ nhiên tao cũng đã quen với mày, mày chẳng cần bận tâm đến thằng cha ngồi đợi mày suốt buổi. Ờ tao biết mày nhiều bạn lắm!

Y nhìn tôi kinh ngạc vô cùng:

- Có thế mà mày cũng cho là quan trọng.

- Tình bạn của tao không phải là chuyện nhỏ mọn.

Richard bèn trịnh trọng đọc 2 câu thơ:

“Lời em đánh trúng tim anh

Thôi xin hứa hẹn trung thành từ đây.”

Y chắp tay lên đầu, theo phong tục Đông Phương lấy mũi mình quệt vào mũi tôi rồi y vuốt ve tôi đến lúc tôi phì cười vùng người ra; thế là tình bạn vẫn nguyên vẹn.

Tôi mượn được nhiều sách, có nhiều quyển rất quí, trong phòng tôi có đủ: triết gia, thi sỹ và phê bình gia kim thời, tạp chí văn chương của nước Đức và nước Pháp, kịch bản mới nhất, tiểu thuyết Ba Lê và tiểu luận của thẩm mỹ gia thành Vienne hợp thời. Nhưng tôi chú ý đến tiểu thuyết gia cổ điển của nước Ý và công việc khảo cứu lịch sử của tôi, công việc ấy tôi thực hiện nghiêm trang và sâu sắc hơn đọc những loại văn chỉ xem qua cho biết. Hoài bão thiết tha nhất của tôi là dẹp ngôn ngữ học đi càng sớm càng hay và chuyên chú về nghiên cứu lịch sử. Bên cạnh những sách tổng quát về lịch sử và phương pháp sử học, tôi đọc thêm những bản cổ thư và địa phương chí của thời Trung Cổ lúc suy tàn ở Ý và Pháp. Nhờ thế tôi làm quen với nhân vật tôi ưa thích hơn cả là Saint François d'Assise, vị thánh đồ thông suốt và thần khí hơn cả. Như vậy giấc mộng nung nấu trái tim tôi giữa những ngưỡng vọng, thú vui và tự đắc tuổi trẻ dần dần trở thành sự thật, trong giấc mộng ấy tôi thấy mở rộng ra trước mắt tôi đời sống tinh thần viên mãn và thuần khiết. Trong giảng đường trí óc tôi hướng cả về khoa học, môn học nghiêm trọng, hơi khô khan, có khi chán ngán. Ở nhà tôi trú ẩn vào sách vở, tôi kính cẩn bước vào thế giới Trung Cổ, đọc những trang sử buồn thảm, những áng văn cổ thời, thế giới tươi đẹp và hạnh phúc của họ tỏa ra quanh tôi một bầu không khí mơ mộng đầy bóng tối và sáng mờ, hay làm nổi lên như sóng biển phũ phàng lý tưởng kim thời và mê muội của thời đại. Những lúc khác tôi nghe nhạc, vui cười với Richard, cùng y họp bạn, giao du với người Pháp, người Đức, người Nga, đọc những cuốn sách kì dị mới xuất bản, đi thăm những phòng vẽ của họa sỹ, dự những buổi họp có đủ mặt tri thức trẻ tuổi sốt sắng và phù phiếm, họ bao quanh tôi như trong một buổi dạ hội quái dị.

Một bữa chủ nhật Richard cùng tôi đến thăm một cuộc triển lãm họa phẩm. Bạn tôi dừng lại trước một bức tranh vẽ một quả núi với vài con dê. Họ vẽ đúng nguyên tác và khéo lắm, nhưng hơi lỗi thời và xét cho cùng thì không có nghệ thuật chân chính. Trong bất cứ một phòng khách nào cũng có thể thấy những bức họa xinh xắn và vô vị như thế. Tuy nhiên tôi cũng thích thú vì người ta họa lại khá trung thành bãi cỏ xứ Alpes của tôi. Tôi hỏi Richard bức họa ấy có cái gì làm anh chú ý. Y chỉ tên họa sĩ ở một góc. Tôi không đọc được những chữ ghi bằng màu nâu đỏ.

Y nhìn tôi kinh ngạc vô cùng:

- Hội họa không phải là cái gì kì lạ. Còn nhiều bức họa đẹp hơn. Nhưng không có cô nào đẹp hơn nữ họa sĩ vẽ bức đó. Tên cô ta là Ermina Aglietti. Nếu anh muốn, ngày mai chúng ta sẽ đến chơi để khen cô ta là một nhà danh họa.

- Anh biết cô ta à?

- Thì hẳn rồi. Nếu họa phẩm của cô ta cũng đẹp như người cô ta thì cô ta giàu có đã lâu rồi mà cô ta đã thôi không vẽ nữa. Cô ta vẽ mà chẳng ham thích vì cô ta không biết làm cái gì khác để sống.

Y không nghĩ đến sự thăm viếng ấy nữa, mấy tuần sau mới lại nói đến.

“Tôi đã gặp Aglietti. Đã từ lâu tôi muốn đến thăm cô. Anh đi với tôi; vừa đúng dịp cổ áo anh sạch sẽ, cô ta để ý đến những tiểu tiết như vậy.”

Cổ áo tôi còn sạch thật, chúng tôi cùng đi đến nhà Aglietti. Trong thâm tâm tôi hơi có ý chống đối vì Richard và bạn bè của y giao du tự do và suồng sã với nữ họa sĩ và nữ sinh viên, tôi không ưa. Đàn ông thì kém nhã nhặn, có khi thô lỗ, có khi báng nhạo; phụ nữ thì thực tế, lém lỉnh và quỷ quyệt, không làm gì có cái phong thái lý tưởng mà tôi đợi ở người đàn bà, mà vì thế tôi tôn kính họ.

Tôi không được thoải mái khi bước vào xưởng họa. Tôi đã quen với không khí xưởng họa, nhưng đây là lần thứ nhất tôi bước vào xưởng họa của phụ nữ. Không có gì là hợm hĩnh nhưng cũng không có gì là hỗn độn. Ba bốn bức tranh vẽ xong đã đóng khung, một bức khác còn trên giá mới có mấy nét phác. Chỗ tường còn lại thì treo những bức phác họa bằng bút chì rất tinh tế, ngon lành, còn có một tủ sách phân nửa còn trống rỗng. Họa sĩ chào chúng tôi hơi lạnh lùng. Nàng để bút xuống, để nguyên áo choàng, ngồi dựa vào tủ sách. Nàng để lộ thái độ không muốn mất nhiều thì giờ với chúng tôi.

Richard khéo khen ngợi thật ồn ào bức tranh triển lãm. Nàng chế diễu lại và không tin khen tặng của y.

- Nhưng, thưa cô, tôi có ý muốn mua bức họa! Vả chăng những con bò có vẻ thật sự giống sự thực.

Nàng bình thản trả lời:

- Đấy là những con dê.

- Dê à? Dĩ nhiên là dê. Tôi muốn nói đến một cuộc nghiên cứu đã làm tôi điên đảo. Những con dê đúng là con dê trong cuộc đời, đúng là bản chất dê. Cô cứ hỏi bạn Camenzind đây, anh cũng là người miền núi; hẳn anh đồng ý với tôi.

Giữa lúc tôi lúng túng lẫn thích chí nghe y tán dóc, tôi thấy họa sĩ đưa mắt nhìn tôi và ngắm nghía tôi. Nàng nhìn tôi rất lâu, một cách tự nhiên nhất.

- Anh là người miền núi à?

- Thưa vâng.

- Trông thì biết. Anh nghĩ sao về mấy con dê của tôi?

- Vẽ được lắm. Ít ra tôi cũng không lầm với bò như Richard.

- Anh thực là người có nhã ý với tôi. Anh là nhạc sĩ à?

- Không, tôi là sinh viên.

Nàng không nói gì với tôi nữa, tôi chỉ có dịp ngắm nhìn nàng. Tấm áo phủ dài lê thê che lấp thân hình nữ lưu làm mất cả duyên dáng, còn cái mặt thì tôi không thấy đẹp. Đường nét dịu dàng và giản dị, mắt hơi nghiêm khắc, tóc rậm, đen và mềm mại; cái làm tôi hơi khó chịu và gần như chướng mắt là nước da. Nước da ấy cứ làm tôi nghĩ đến một thứ phô ma Ý và tôi không lạ rằng đã khám phá ra những đường xanh xanh. Tôi chưa gặp người Ý da trắng xanh, giờ này, trong ánh sáng ban mai xưởng vẽ chẳng thuận lợi cho nàng, nom nàng như bằng đá làm tôi phát sợ, không phải đá cẩm thạch mà là đá tảng dầu giãi phong sương nhợt nhạt. Tôi không có thói quen nhận xét khuôn mặt phụ nữ, nhưng thường thường tôi muốn tìm thấy cái gì là đầy đặn, hồng hào, duyên dáng; tôi hãy còn tâm hồn con trẻ.

Richard cũng không thỏa mãn về cuộc viếng thăm hôm nay. Ít lâu sau, tôi càng kinh ngạc, đúng hơn, càng phát sợ khi y bảo tôi rằng Agiletti rất muốn được hân hạnh vẽ tôi. Không phải phác họa thông thường, càng không cần vẽ mặt, chỉ có vóc dáng của tôi hình như có vẻ độc đáo.

Trước khi mọi việc trôi theo hướng ấy, một biến cố nhỏ đã xảy ra và biến đổi cuộc sống của tôi, quyết định tương lai của tôi trong nhiều năm. Một buổi sáng, tôi tỉnh giấc thì thấy mình thành văn sĩ.

Theo lời khuyến khích của Richard, và cũng là một cách tập dượt và giải trí trong văn học, tôi mô tả những kiểu người trong xứ tôi, những mẩu chuyện sống có đối thoại vv... tôi trình bày dưới hình thức những nét chấm phá và cố gắng trung thành với sự thật. Tôi cũng viết bài tiểu luận về các sự kiện văn chương hay lịch sử.

Buổi sáng hôm ấy, tôi còn ngủ. Richard chạy vào đặt lên mền tôi ba mươi lăm quan và nói với giọng một người chạy việc: “tiền này là của anh”. Y để tôi hỏi săn hỏi đón theo mọi giả thiết của tôi rồi mới lôi từ trong túi áo ra một tờ báo và chỉ cho thấy một truyện ngắn của tôi viết. Y đã chép lại vài bản thảo của tôi đem đến điều đình với một biên tập viên bạn của y mà không cho tôi biết. Bây giờ y đã có bài thứ nhất được đăng với tiền nhuận bút cẩn thận.

Chưa bao giờ tôi xúc động kì dị như lúc ấy. Thực ra tôi bực mình vì Richard đóng vai trò Thiên Hựu như thế nhưng cái khoe khoang nhẹ nhàng của người viết văn bừng tỉnh, tiền nhuận út và hoài bão danh vọng trên văn đàn đã làm tôi quên sự bực mình.

Trong một tiệm cà phê, y giới thiệu tôi với biên tập viên. Ông này bảo tôi giữ lấy những bản thảo mà Richard đã cho ông biết và mời tôi thỉnh luận về lịch sử, ông muốn nhận được những bài khác và sẽ trả tiền nhuận bút xứng đáng. Bấy giờ tôi mới hiểu tầm quan trọng của việc viết báo đối với tôi. Không những tôi có cơm ăn đều đều và trả được những món nợ nhỏ, mà còn có chỗ tống khứ những bài viết ra một cách miễn cưỡng; có lẽ tôi sắp sửa sống bằng ngòi bút và làm việc trong lãnh vực sở trường của mình.

Trong khi chờ đợi, người biên tập viên ấy đưa cho tôi một chồng sách bảo tôi viết bài giới thiệu. Tôi ngốn một hơi hết cuốn sách cuối cùng. Tôi có việc làm trong mấy tuần lễ. Nhưng hết kì tam cá nguyệt mới lấy được tiền nhuận bút, mà vì trông mong vào số tiền đó tôi đã ăn tiêu rộng rãi hơn trước, cho nên lại có ngày tiêu đến đồng xu cuối cùng, tôi phải mở một chiến dịch ăn kham khổ khác. Trong mấy ngày liền tôi sống yên lành trong phòng với bánh mì suông và cà phê, nhưng rồi đói quá lại mò đến tiệm ăn. Tôi đem ba cuốn sách để viết bài đi theo định kí lại tiệm ăn làm của tin. Trước tôi đã gạ bán cho một tiệm sách cũ mà không được. Bữa ăn ngon lành nhưng đến lúc dùng cà phê tôi bắt đầu lo lắng. Tôi thú thực với cô hầu bàn rằng không có tiền, định ăn chịu để sách lại làm của tin. Nàng cầm một cuốn, một tập thơ, mở ra với hai mắt hiếu kì rồi hỏi tôi rằng nàng đọc nó được không. Nàng thích đọc sách nhưng không biết mua sách bao giờ. Tôi cảm thấy mình thoát nạn bèn gạ nàng giữ lấy ba cuốn nhỏ thay cho tiền ăn. Nàng nhận lời, dần dà tôi bán cho nàng một số sách đáng mười bảy quan. Một tập thơ mỏng tôi đổi lấy bánh mì và phô ma, tiểu thuyết thì lấy một bữa ăn thêm rượu nho, một tập truyện ngắn chỉ được một miếng bánh với một tách cà phê. Cứ theo những cuốn tôi đọc qua thì hầu hết là những truyện viết lối văn vò xé đau khổ hợp với thời mới, hẳn là cô gái đọc những sách ấy đã có một ấn tượng lố lăng về văn chương nước Đức hiện đại. Tôi lấy làm khoan khoái mà nhớ lại những buổi sáng tôi mướt mồ hôi trán phi nước đại hết một cuốn sách viết vài dòng tường thuật vội vã cho xong vào buổi trưa để kịp đem sách đổi lấy cái gì ăn được. Tôi vẫn cố giấu Richard sự túng bấn của tôi vì tôi đã lầm lẫn mà lấy làm xấu hổ, tôi chỉ nhận sự trợ giúp của y một cách miễn cưỡng và trong một thời gian ngắn.

Tôi không chỉ là nhà văn. Những bài báo tôi viết chỉ là truyện trang hai trang ba trong tờ nhật báo, không có nghệ thuật. Trong thâm tâm tôi tuy không nói với ai, nhưng tôi hy vọng rằng một ngày kia tôi sẽ viết một tập thơ vĩ đại và mãnh liệt nói lên kiếp phù sinh.

Tấm gương sáng sủa vui tươi của tâm hồn tôi có khi lu mờ vì một loại u buồn, nhưng lúc ấy không bao giờ vẩn đục nhiều. Những ý nghĩ đen tối thỉnh thoảng hiện ra một ngày hay một đêm thành hình tướng một nỗi buồn mơ mộng cô đơn, rồi sau biến mất không để lại dấu vết gì, nhiều tuần nhiều tháng sau mới trở lại. Dần dần tôi làm quen với nó như một cô bạn thường gặp. Nó không còn là một sự vò xé, mà chỉ là một mối bứt rứt, một cơn mệt không thiếu vẻ quyến rũ. Khi nó chiếm cứ người tôi vào buổi tối, tôi không ngủ, tôi ngồi hàng giờ trước của sổ nhìn mặt hồ tối tăm hình núi in lên nền trời, bên trên, sao đẹp như ngọc. Thường thường tôi cảm thấy mạnh mẽ một thứ khắc khoải dịu dàng, hình như tất cả cái huy hoàng của ban đêm nhìn tôi ra chiều trách móc có lý do. Hình như sao, núi và hồ cũng mong mỏi có người hiểu và diễn tả vẻ đẹp với nỗi đớn đau của sự hiện hữu câm lặng ấy, hình như tôi là người ấy, hình như sứ mạng của tôi là đem vào nghệ thuật tiếng nói của thiên nhiên câm lặng. Chưa bao giờ tôi tự hỏi phải làm thế nào, nhưng tôi cảm thấy đêm đẹp và nghiêm vẫn yên lặng chờ tôi, chứa chan tình nồng. Tôi cũng chưa bao giờ viết cái gì trong trạng thái tâm hồn ấy, nhưng tôi chỉ ý thức được trách nhiệm của tôi đối với tiếng gọi âm thầm của sông núi, sau những đêm ấy thường thường tôi một mình đi bộ suốt trong mấy ngày. Làm như thế có cảm tưởng như có thể giãi bày chút ít tình yêu đất nước, đất nước vẫn câm lặng tự hiến dâng cho tôi; thật là một ý nghĩ kì dị làm cho tôi phì cười ngay sau đó.

Đi bộ trở thành một thói quen chính yếu suốt đời tôi. Từ đấy, năm năm tôi dành phần lớn thì giờ đi bộ qua nhiều xứ, hành trình lâu hàng tuần lễ, hàng tháng. Tôi thành thói quen đi xa với chút ít tiền và một ổ bánh mì trong túi áo, sống nhiều ngày một mình trên đường cái và thường thường ngủ ngoài trời với sao đêm.

Công việc viết văn làm tôi quên bẵng cô họa sĩ. Một hôm tôi nhận được của cô một phong thư: “Thứ năm này vài bạn hữu đến nhà tôi dùng trà. Mời anh lại chơi, anh nhớ rủ cả bạn anh đi nữa.”

Chúng tôi đến và thấy quân quần một bầy nghệ sĩ. Phần nhiều là những người không ai biết, những người bị bỏ quên, những người không thành công; cảnh ấy đối với tôi đáng não lòng tuy rằng mọi người có vẻ ham sống, hoàn toàn thỏa mãn với cảnh ngộ. Có nước trà, bánh mì phết bơ, dăm bông và rau tươi. Tôi không gặp ai quen biết vả chăng tôi cũng ít nói; bởi vậy tôi chỉ thấy mình đói lạ: tôi ăn trong nửa tiếng đồng hồ, lẳng lặng ăn luôn miệng trong khi những người khác mới uống trà và tán chuyện. Nhưng khi họ lần lượt ra kiếm miếng săng uých thì mới vỡ lẽ ra là tôi đã ăn hết cả dăm bông. Tôi đã lầm mà nghĩ rằng còn đĩa thứ hai để phòng hờ. Người ta cười kín đáo và tôi được ban thưởng mấy cái liếc ngạo nghễ. Tôi nguyền rủa cô gái Ý với dăm bông của cô, điên tiết đứng dậy, đến xin lỗi qua loa cô và tuyên bố rằng lần khác tôi sẽ mang theo bữa ăn của tôi. Tôi cầm lấy mũ.

Aghietti vội giằng lấy mũ, giương hai mắt lặng lẽ và ngạc nhiên nhìn tôi, nghiêm nghị yêu cầu tôi ở lại. Ánh sáng một ngọn đèn lọc qua chao lụa mỏng chiếu vào khuôn mặt nàng, giữa lúc bực mình bất thần tôi thấy vẻ đẹp sung mãn và tuyệt diệu của nàng. Tôi thấy mình mất dạy và thô lỗ tôi bèn kiếm một chỗ cách biệt mọi người ngồi thần ra như cậu học trò phải phạt. Ngồi đấy tôi mở một cuốn hình hồ Côme ra coi. Những người khác uống trà, chạy chỗ này chỗ khác, cười nói huyên thuyên, trong phòng nhẹ đưa tiếng vĩ cầm hòa với đại vĩ cầm. Tấm màn vén lên, bốn thanh niên ngồi trước giá nhạc sẵn sàng để hòa một bản. Giữa lúc ấy người thiếu phụ đến gần tôi một cái bàn con và một tách cà phê, vui vẻ mời tôi và ngồi xuống bên cạnh. Bản nhạc nổi lên và chơi rất lâu nhưng tôi không nghe một tiếng nào vì tôi còn bận giương mắt chão chuộc nhìn người đàn bà mảnh mai, thanh lịch, ăn mặc rất ý nhị, tiếc rằng tôi đã nghi ngờ sắc đẹp và ăn hết thực phẩm của nàng. Tôi vui sướng và băn khoăn mà nhớ ra nàng có ý muốn vẽ tôi. Vả chăng tôi nghĩ đến Rose Gitanner, đến cuộc leo thành đá để hái hoa hồng núi, đến chuyện nàng công chúa vùng băng tuyết, tất cả những chuyện cũ hầu như chỉ để khai mào cho phút hiện tại.

Hết bản nhạc, cô họa sĩ không đi chỗ khác như tôi vẫn lo mà ngồi lại thật êm thắm, cô bắt đầu nói chuyện với tôi. Nàng khen ngợi tôi về một truyện ngắn đã đăng trên báo. Nàng lấy Richard ra để khôi hài, trong khi vài cô gái xúm quanh anh chàng, thỉnh thoảng tiếng cười vô tư vô lự của anh át cả tiếng nói người khác. Sau nàng nói đến ý muốn vẽ tôi. Tôi nảy ra một ý kiến. Tôi tiếp tục câu chuyện bằng tiếng Ý mà không hề dùng cách gì chuyển tiếp, không những hai mắt ý nhị của người phụ nữ phương Nam ngạc nhiên sung sướng mà tôi còn khoái trí được nghe nàng nói tiếng mẹ đẻ, tiếng nói hợp với cái miệng. Khóe mắt với dáng dấp của nàng, tiếng nói miền Toscane nhịp nhàng thanh lịch, trơn tru và lanh lẹ hơi pha giọng thổ ngữ Tessin duyên dáng. Tôi nói không đúng mẹo mà cũng không thạo lắm nhưng điều đó không làm tôi lúng túng. Hôm sau tôi phải trở lại để nàng vẽ.

“Arreviderla”, tôi chào nàng để cáo lui và cúi mình thấp đến mức có thể cúi được.

“Arreviderci domani”, nàng mỉm cười trả lời và làm hiệu từ biệt.

Ra khỏi nhà, tôi cứ đường thằng tiến lên cho đến lúc đường đâm vào sườn đồi, phong cảnh tối âm tối thầm bày ra trước mắt tôi trong vẻ sáng lạn ban đêm. Trên mặt hồ đủng đỉnh chiếc thuyền cô đơn với ngọn đèn đỏ ném xuống nước một vệt dài đỏ tía rung rung trên mặt hồ tối tăm, thỉnh thoảng nhô lên đây đó một làn sóng mờ bạc. Trong một mảnh vườn gần đấy có người đánh đàn và cười vang. Trời khuất mây đến gần nửa, trên đỉnh đồi gió mạnh và ầm thôi qua.

Cũng như ngọn gió vuốt ve cành cây nặng trĩu trái, vòng lá hạt dẻ tối thui gợi ra tiếng rên rĩ, cười cợt, rung động, sự say sưa đang đùa giỡn với tim tôi. Tôi quì xuống sườn đồi, tôi nằm dài ra đất, tôi trỗi dậy thở dài, rọi gót chân xuống đất, ném mũ ra xa, vùi mặt xuống cỏ, ôm lấy thân cây mà rung, tôi khóc, cười, vùng vẩy, điên cuồng vì xấu hổ và vui sướng, trái tim thắt lại muốn đứt hơi. Độ một giờ sau tôi mới yên yên, tất cả lịm đi trong sự tê mê. Tôi không nghĩ đến gì nữa, không định tâm gì nữa, không cảm giác gì nữa; tôi bước xuống đồi như người thụy du, đi lang thang khắp nửa tỉnh, nhìn thấy một quán cà phê còn mở cửa tại một phố hẻo lánh, tôi bước vào như một cái máy, uống hai lít rượu nho xứ Vaud, đến sáng mới về nhà, người say mèm.

Trưa hôm nay, Aglietti kinh hãi khi thấy tôi bước vào.

- Anh làm sao vậy? Anh đau hay sao? Trông hốc hác quá!

- Không có gì quan trọng, hình như đêm qua tôi say rượu quá, thế thôi. Xin cô bắt đầu vẽ đi.

Nàng bảo tôi ngồi trên ghế và bảo ngồi yên. Điều đó khó gì tôi lim dim ngủ ngay, suốt buổi quá trưa ấy tôi ngủ gà ngủ vịt trong xưởng vẽ. Có lẽ mùi nhựa dầu thông trong phòng làm cho tôi nằm mơ thấy cha tôi sơn lại chiếc thuyền ở nhà. Tôi nằm nghiêng trên bãi sỏi nhìn cha tôi cầm cán sơn và chổi sơn; mẹ tôi cũng có mặt ở đấy; khi tôi kinh ngạc sao mẹ tôi chưa chết, bà khẽ trả lời: “Không, nếu má không ở đây thì con sẽ rượu chè như cha con.”

Khi bừng tỉnh tôi ngã lăn khỏi ghế và tôi kinh ngạc rằng đã có ai khiêng tôi vào xưởng vẽ của Aglietti. Tôi không trông thấy nàng nhưng nghe tiếng nàng ở phòng bên khua đĩa bát, tôi kết luận rằng sắp đến giờ ăn.

Nàng nói vọng sang:

- Anh dậy đấy à?

- Vâng. Tôi ngủ có lâu không?

- Có bốn giờ thôi. Anh không ngượng chút nào à?

- Có chứ! Nhưng tôi đã mơ một giấc mơ đẹp đẽ.

- Anh kể lại coi!

- Vâng, nếu cô thứ lỗi cho và bước sang đây.

Nàng bước vào. Nhưng trước khi tha thứ, nàng còn muốn tôi kể lại giấc mơ. Tôi kể lại và câu chuyện ấy đã đưa tôi trở về những ngày xa xôi lúc tuổi thơ bị lãng quên, trời đã tối đen khi tôi ngưng nói; tôi đã nói cho nàng nghe và cũng nói cho chính mình nghe tất cả cuộc đời niên thiếu của tôi. Nàng bắt tay tôi, vuốt phẳng quần áo cho tôi và hẹn hôm sau vẽ nốt, tôi cảm thấy nàng hiểu tôi, nàng ta thứ cho tôi cả cử chỉ bất lịch sự hôm trước lẫn hôm nay.

Những ngày sau tôi ngồi làm mẫu hàng mấy giờ. Chúng tôi ít nói, tôi ngồi hay nằm như trong lúc mê hoặc, tôi nghe tiếng cây than vẽ quệt lên giấy, tôi ngửi mùi sơn dầu thoang thoảng và không có cảm tưởng nào khác cảm tưởng được gần người tôi yêu, cảm tưởng hai mắt nàng luôn luôn đặt lên người tôi. Ánh sáng trong xưởng vẽ chan hòa trên tường, một vài con ruồi uể oải cụng vào cửa kính, trong phòng nhỏ cạnh đấy, một cái bếp đun bằng rượu reo ù ù, bởi vì sau mỗi chuyến ngồi làm mẫu người ta cho uống một tách cà phê.

Trở về nhà, trí óc tôi vẫn thường theo dõi Erminia Aglietti. Ý nghĩ rằng tôi không thể nào ca ngợi nghệ thuật của nàng không ảnh hưởng gì đến sự say sưa của tôi và cũng không hề giảm bớt. Nàng đẹp như thế, dịu dàng, trong sạch và tự tin như thế, cần gì đến họa phẩm của nàng? Tôi còn thấy cuộc đời cơ chỉ của nàng có cái gì bi thảm: đó là hình ảnh một người đàn bà tranh đấu sống còn, một nữ anh hùng lặng lẽ, kiên trì và can đảm. Vả chăng còn gì hão huyền hơn sự phán đoán người mình yêu. Những điều nhận xét như vậy không khác nào mấy điệu hát dân ca, mấy điệu hát của lính nói đến trăm ngàn câu chuyện nhưng vẫn nhắc lại một điệp khúc mặc dù điệp khúc đó không ăn nhập gì với nó.

Hình ảnh người đàn bà Ý xinh đẹp trong trí tôi tuy không kém rõ ràng nhưng hiện ra thiếu những nét mà chúng ta thấy rõ ở người ngoài còn người thân cận thì không thấy. Tôi không còn biết rõ nàng ăn mặc thế nào, đầu tóc ra sao vv... cũng như không rõ sự thực người nàng cao lớn hay bé nhỏ. Khi nghĩ đến nàng tôi thấy một khuôn mặt người đàn bà tóc đen, trông nghiêng rất cao nhã; hai mắt sắc sảo, không to lắm, nước da trắng xanh, miệng nhỏ, đường cong môi tuyệt diệu chứng tỏ nàng đã đến tuổi chín chắn. Khi nghĩ đến nàng, đến những ngày tôi say mê, tôi chỉ nhớ đến một buổi tối trên đồi gió nồng thổi qua mặt hồ, tôi khóc, tôi mừng quýnh và tôi say sưa như điên dại. Và tôi cũng nhớ đến một buổi tối nữa mà tôi muốn thuật lại.

Tôi nhận thấy cần phải kiếm cách bày tỏ với nàng họa sĩ tình yêu của tôi và hỏi nàng làm vợ. Nếu nàng ở xa tôi chắc là tôi vẫn yên lặng tôn thờ nàng và âm thầm đau khổ vì nàng. Nhưng hàng ngày trông thấy nàng, nói với nàng, bắt tay nàng, đến nhà nàng, lúc nào cũng như kim đâm vào trái tim, tôi không thể chịu đựng được lâu nữa.

Một số nghệ sĩ và bạn hữu của họ tổ chức một buổi họp mặt ở bờ hồ, trong một khu vườn xinh xắn, một buổi tối trời oi ả vào giữa mùa hạ nóng bức. Chúng tôi uống rượu nho và nước đá, nghe âm nhạc, nhìn mấy cái đèn lồng treo trên dây căng giữa các thân cây. Người ta tán chuyện, pha trò, cười đùa rồi hát hỏng. Một chàng họa sĩ nào đó đội nón nồi rất chướng mắt nằm dài trên bờ tường làm ra vẻ thơ mộng gảy một cây đàn cán dài lêu nghêu. Một vài nghệ sĩ hữu danh không đến dự hoặc có đến thì ngồi riêng một nơi với mấy họa sĩ già. Vài người đàn bà trẻ có mặt ở đấy, họ mặc áo màu sáng của mùa hè, những người khác đi đi lại lại trong bộ làm việc thường ngày. Một nữ sinh viên xấu ơi là xấu, đã lớn tuổi, làm cho tôi ngứa mắt vô cùng; nàng đội mũ rơm đàn ông trên mớ tóc cắt ngắn, hút xì gà, uống như bồ thể, nói nhiều mà nói lớn. Cũng như thường lệ Richard quanh quẩn với mấy cô. Trong sự ồn ào ấy tôi chỉ lạnh lùng, uống rất ít, tôi đợi Agiletti vì nàng hứa cùng tôi đi bơi thuyền. Sau nàng đến với tôi thật, tặng tôi mấy bông hoa và cùng tôi bước xuống thuyền.

Hồ láng trơn như dầu, ban đêm trông không có màu sắc gì cả. Tôi đưa mau lẹ con thuyền nhẹ nhàng ra xa bờ, trong yên lặng tôi không ngừng nhìn bóng người đàn bà mảnh mai tựa vào ghế ngồi bên bánh lái và vui hưởng cuộc du ngoạn. Trời cao thẳm còn có màu xanh lam, dần dần từng ngôi sao mọc ra mờ mờ; trên bờ, đó đây có người đàn địch và vui chơi trong vườn. Mái chèo đập nước lờ đờ gợi lên những tiếng ì ọp nhẹ; vào chiếc thuyền khác bơi tung tăng trên nước lặng, nom không rõ lắm; nhưng tôi không để ý đến, tôi chỉ chăm chú nhìn người cầm lái không rời mắt, dự định giãi bày mối tình của tôi đang bóp thắt trái tim xao xuyến như một cái vòng sắt nặng. Sự dàn cảnh có một vẻ đẹp đẽ nên thơ: con thuyền đủng đỉnh, sao lấp lánh, mặt hồ yên lặng mát mẻ, tất cả làm cho tôi ngại ngùng. Tôi có cảm tưởng đây là một sân khấu hý viện mà tâm hồn nặng trĩu giữa sự mênh mông – vì cả hai đều không nói – tôi ra sức bơi thuyền không biết về đâu.

Nàng họa sĩ mơ màng bảo tôi:

- Anh khỏe thật!

- Cô không muốn nói rằng tôi bị thịt?

- Không, - nàng cười - tôi nói bắp thịt của anh.

- Đúng vậy, tôi rất khỏe.

Câu mở đầy không thuận lợi mấy tí. Buồn nản và bực bội tôi tiếp tục bơi chèo. Một lát sau tôi bảo nàng cho tôi biết về cuộc đời nàng.

- Anh muốn biết gì?

- Tất cả, nhưng tốt hơn hết là một câu chuyện tình. Rồi tôi sẽ kể chuyện tôi, câu chuyện duy nhất. Ngắn ngủn và đẹp đẽ, chắc sẽ làm cô vui thích.

- Anh nói gì vậy, thử kể lại coi.

- Không, cô nói trước đã. Vả chăng cô biết nhiều về tôi hơn tôi biết về cô. Tôi muốn biết đã có khi nào cô thực sự yêu ai hay là đối với chuyện tình tôi e rằng cô tự ái quá và thiên vì lí trí quá.

Erminia suy nghĩ một chút.

- Đây cũng là ý nghĩ lãng mạn của anh bắt một người đàn bà kể chuyện mình ở đây, trong đêm tối, trên mặt nước lênh đênh này! Tiếc rằng tôi không thể làm được. Thi sĩ các anh, các anh có thói quen việc gì cũng tìm được lời hay ý đẹp và tưởng rằng ai không nói đến tâm tình là không có trái tim. Anh đã lầm, tôi không tin rằng tôi không thể yêu nồng nàn hơn tôi đã làm. Tôi yêu một người đã lấy vợ và ảnh cũng yêu tôi không kém; nhưng chúng tôi không biết được có thể xum họp với nhau không. Chúng tôi viết thư cho nhau và thỉnh thoảng cũng gặp nhau...

- Cô có thể cho biết mối tình ấy là cô vui sướng hay đau khổ, hay cả hai thứ.

- Chao ôi! Ái tình không phải để cho chúng ta sung sướng. Tôi cho rằng ái tình là đề khải thị cho chúng ta biết ta có sức đau khổ và chịu đựng được đến mức nào.

Tôi không hiểu rõ lắm nhưng tôi không ném được cái gì như tiếng thở dài nhẹ thay cho câu trả lời.

Nàng nghe thấy tiếng thở dài ấy.

- Ủa, anh đã biết những chuyện ấy rồi à? Anh còn trẻ thế kia! Bây giờ đến lượt anh tự thú đi. Nhưng tùy anh có thực tình muốn nói hay không.

- Có lẽ để lần khác thì hơn. Vả chăng hôm nay tôi thấy trong lòng sôi động quá và tôi cũng rất tiếc có lẽ đã làm cô nhìn đời đen tối. Chúng ta quay trở lại thôi chứ?

- Tùy anh. Đi xa bao nhiêu rồi?

Tôi không trả lời. Nhưng tôi khua mạnh mái chèo xuống nước, quay thuyền và chèo đi như trời sắp đổi gió. Thuyền lướt sóng, giữa lúc quay cuồng trong nguy nan và xấu hổ, tôi thấy mồ hôi chảy từng giọt lớn trên mặt và người tôi run lên như cò phải bão. Khi tôi tưởng tượng ra rằng suýt nữa thì mình đóng vai trò một gã đa tình quỳ gối trước mặt người đàn bà ráng gạt lời van nài với giọng phân hữu của người mẹ, tôi rùng mình thấu xương tủy. May mà thoát được nạn ấy, bây giờ tôi chỉ còn phải ráng mà chịu đựng những đau khổ khác. Tôi bơi vào bờ như một người bị ma trêu quỷ ám.

Cô bạn xinh đẹp của tôi ra chiều phật ý khi lên bờ tôi từ biệt cô lẹ làng để cô một mình.

Hồ yên lặng, âm nhạc vui vẻ, đèn giấy vẫn đưa ánh sáng ửng hồng xuống đám hội, nhưng tất cả đối với tôi hiện ra vẻ dối trá lố lăng. Nhất là âm nhạc. Tôi những muốn nghiền nát thây thằng cha mặc áo nhung đang làm ra bộ ta đây kẻ giỏi với cây đàn đeo vào sợi băng lụa. Trong chương trình lại còn khoản đốt pháo bông nữa! Thật là phù phiếm!

Tôi mượn Richard vài quan, ném mũ lên gáy và bắt đầu đi lan man qua thành phố mấy giờ liền cho đến khi buồn ngủ rũ xuống. Tôi nằm lăn ra bãi cỏ, nhưng một giờ sau phải bò dậy vì sương xuống ướt đẫm người cứng đờ run run như cầy sấy. Tôi đi đến làng gần đấy thì trời đã tang tảng sáng. Người đi hái rau tạt qua đường phố bụi bặm, mấy anh canh điền phải dậy sớm, mở mắt tròn xoe bên cửa chuồng bò, đâu đâu cũng tưng bừng sinh hoạt thôn dã. Đáng ra mình phải yên phận ở nhà quê, tôi tự nhủ khi đi qua xóm, tuy mệt nhọc cũng cứ đi miết cho tới khi mặt trời nóng bức khiến tôi phải ngồi nghỉ. Tôi chúi vào đám cỏ bên ven khu rừng dẻ gai, ngủ dưới trời nóng cho tới chiều. Khi tỉnh dậy đầy nặc mùi cỏ đồng, chân tay nặng nề một cách khoan khoái, chỉ khi nào nằm lăn ra đất thật lâu người ta mới có cảm giác ấy; buổi hội hè, bơi thuyền và tất cả chuyện khác hầu như chỉ còn là chuyện xa xôi buồn bã quên đi quá nửa như cuốn tiểu thuyết đọc được từ mấy tháng trước.

Tôi còn đi trong ba ngày nữa để mặt trời thiêu đốt mặt mày đen nhẻm và tôi tự hỏi có nên cứ nước này đi về nhà giúp cha rẫy cỏ non.

Thực ra vết thương chưa lành hẳn. Trở về tôi lánh mặt cô họa sĩ như tránh bệnh dịch hạch, nhưng không thể tránh được lâu, đến sau mỗi lần nàng đặt hai mắt vào tôi và nói với tôi, tôi lại thấy uất hận đè lên cổ.

Năm xuất bản: 1968 Số trang: 203 Giá tiền: -- Khổ: 13x19 cm Đánh máy: Minh Huy, Bùi Trang, Lê Trang, Vân Anh Kiểm tra: Hannah Lê Chế bản ebook: Hannah Lê Ngày thực hiện: 6/6/2010 Making Ebook Project #44 – www.BookaholicClub.com
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.