6
Thói xấu thứ hai của tôi còn tệ hại hơn. Tôi không thấy gì là vui thú trong sự giao du với người khác, tôi sống cô đơn và tôi luôn luôn sẵn sàng nhạo báng và khinh bỉ hành vi của người đời.
Lúc khởi sự giai đoạn mới của cuộc đời tôi, tôi không nghĩ đến điều đó chút nào. Tôi cho là một việc rất bình thường, tôi mặc kệ việc đời, chỉ dành đời sống câm lặng của thiên nhiên sự yêu mến, sự cảm thông của tôi, thiên tư của tâm hồn tôi. Mới đầu tôi cho thế là đầy đủ.
Đêm đêm, khi bước vào giường, bất thần tôi nghĩ đến một ngọn đồi, một cửa rừng, đến một cái cây đứng cô độc một nơi mà tôi yêu mến hơn và đã lâu chưa có dịp đến thăm. Có lẽ bây giờ cây đang đứng sững trong gió đêm, có lẽ mơ màng yên giấc hay thở dài, rung động lá cành. Nom thân hình nó ra sao? Thế là tôi ra khỏi nhà chạy đến bên cây, nhìn bóng dáng lờ mờ của nó hiện lên trong đêm tối, ngắm nghía nó với sự ngạc nhiên trìu mến rồi mang theo về nhà hình ảnh mờ mịt của nó.
Hẳn là bạn phì cười! Tình yêu đó có thể là sự lầm lẫn chứ quyết không phải sự phí phạm. Nhưng từ đó làm thế nào tìm được con đường đưa đến tình yêu loài người?
Khi đã cố gắng được bước đầu, chỗ còn lại tự nhiên sẽ đến. Giấc mộng làm một bài thơ lớn càng thêm gần, càng có thể đạt được. Và nếu tình yêu vạn vật một ngày kia cho phép tôi diễn tả bằng lời thơ tiếng nói của núi rừng sông biển, ai sẽ là người thưởng thức? Không những thế giới vô tri thân thiết của tôi, mà còn loài người, trước hết là loài người, vì tôi muốn là người dẫn lối đưa đường cho họ bước vào tình yêu. Thế mà tôi đã có thái độ cay nghiệt, báng bổ, thô lỗ đối với họ! Tôi ý thức được chỗ mâu thuẫn của tôi; tôi cần phải chống lại tính dè dặt chua chát và ngăn cách, cần bày tỏ tình huynh đệ cả với loài người. Không phải dễ gì, vì về phương diện này tôi đi vào con đường cô đơn của số mệnh, tôi trở nên khắc nghiệt và tàn nhẫn. Cố gắng tỏ ra bớt ăn nói cay độc ở nhà hay ở tửu quán, chào hỏi thân yêu người gặp ngoài phố quả thật là không đủ. Chính vì thế mà tôi hiểu rằng tôi đã phá hoại mối thâm giao với mọi người từ gốc rễ, bởi vì người ta chấp nhận sự ngọt ngào khả ái của tôi với thái độ lạnh lùng ngờ vực, hay họ cho là nhạo báng họ. Điều tệ hại hơn nữa là đến một năm trời tôi tránh không trở lại nhà người bạn quen biết hơn cả, tôi chợt hiểu rằng trước hết phải đến đấy mà tìm lối bước vào đời sống xã hội, một đời sống xã hội đúng với quan niệm của mọi người ở đấy.
Tôi thoát khỏi sự lúng túng một cách vẻ vang chính vì ý kiến riêng của tôi về nhân tình thế đạo mà trước kia tôi vẫn ghét cay ghét độc. Mới nghĩ đến căn nhà ấy tôi đã thấy biểu hiện trong trí hình ảnh Elisabeth, đúng như lúc nàng đứng trước đám mây trên bức họa của Segantini, và bất thần tôi nhận thấy rằng cũng vì nàng một phần lớn mà tôi có những nỗi niềm nhớ tiếc và ưu tư. Và đây là lần thứ nhất tôi để tâm nghĩ đến việc đi hỏi vợ. Cho đến bây giờ tôi hoàn toàn yên chí là mình không thích ứng được với hôn nhân, thậm chí tôi đành thúc thủ một cách mỉa mai chua chát. Tôi là nhà thơ, người lang thang, nghiện rượu, không thích ứng được với đời sống tập thể! Bây giờ tôi tưởng rằng số mệnh muốn mở đường cho tôi vào xã hội loài người bằng cuộc hôn nhân tình ái. Tất cả đều ra vẻ quyến rũ và chắc chắn! Elisabeth có thiện cảm với tôi? Điều ấy tôi đã cảm thấy và trông thấy; nàng có bản chất nhạy cảm và cao đẹp. Tôi nhớ lại trong khi nói chuyện với nàng về thung lũng San Clemente và sau này khi nàng đứng trước bức họa của Segantini, mặt nàng đã bừng lên một vẻ đẹp chói lọi. Về phần tôi, tôi đã thâu thập trong bao nhiêu năm một kho tàng phong phú kiến thức về nghệ thuật và thiên nhiên, tôi sẽ dạy nàng cách quan sát vẻ đẹp tiềm ẩn ở khắp nơi; tôi sẽ trau dồi cho nàng chân thiện mỹ để nét mặt nàng cũng như tâm hồn nàng xoá bỏ được tất cả cái gì làm mờ ám, khai triển được những tiềm năng. Điều kỳ lạ là tôi không nhận thấy có cái gì là hài hước trong cái sự cải hoán bất thần ấy. Anh chàng cô độc và lập dị là tôi trong chớp mắt lột xác thành gã đa tình chất phác, mơ màng đến hạnh phúc hôn nhân và trang trí nhà cửa.
Tôi bèn trở lại nhà người chủ nhân hiếu khách trước đây, người ta tiếp đón tôi với lối trách móc thân hữu. Tôi qua lại đấy luôn, rồi một hôm gặp lại Elisabeth. Trời ơi! Nàng đẹp quá! Coi nàng đúng như tôi tưởng tượng ra với nét mặt người tình của tôi, xinh đẹp và vui sướng. Suốt trong một giờ đồng hồ tôi hưởng lạc thú được ở bên người đẹp lộng lẫy. Nàng tiếp tôi nhã nhặn, có thể nói là thân thiết, nàng có cách xử sự bình dị khả ái làm tôi chứa chan vui vẻ.
Bạn đọc còn nhớ buổi tối bơi thuyền trên mặt hồ buổi hội họp dưới những chiếc đèn lòng đỏ của tôi, tôi sắp tỏ tình với cô bạn thì bóp chết ái tình từ trong trứng nước? Đó là cuộc phiêu lưu ái tình buồn rầu lố lăng của một đứa con nít si tình.
Nhưng bạn sẽ thấy chuyện tình của người đứng bóng Peter Camenzind biết yêu, còn lố bịch và buồn rầu hơn!
Tình cờ mà tôi biết Elisabeth đã đính hôn được ít lâu nay. Tôi mừng cho nàng, tôi được giới thiệu với chồng chưa cưới đến tìm nàng, và tôi cũng mừng cho y. Suốt buổi tối tôi giữ nụ cười trên môi, nụ cười nhân từ và che chở đè nặng xuống lòng tôi như một cái mặt nạ. Sau đấy tôi không chạy vào rừng, vào quán cà phê, nhưng tôi ngồi bên giường, nhìn ngọn đèn tàn cho đến lúc tắt ngấm đưa ra mùi khét lẹt, người sững sờ, ngơ ngác như bị sét đánh, cho đến lúc trở lại tỉnh táo. Lại lần nữa đau khổ và thất vọng giương hai cánh tối sầm bao vây người tôi, và tôi ngồi trơ trơ, tấm thân nhỏ bé, yếu ớt, tả tơi, tôi khóc nức nở như một đứa trẻ.
Sau đấy tôi thu xếp đồ đạc, sáng sớm ra ga lên tàu trở về quê nhà. Tôi cần phải leo lên đỉnh núi Sennalpstock một lần nữa, sống lại cuộc đời niên thiếu và về thăm cha tôi.
Cha con giờ đã xa lạ với nhau.
Cha tôi tóc hoa râm, lưng hơi còng, thần sắc hơi kém. Ông đối với tôi ngọt ngào và e lệ, không hỏi han gì, thấy tôi về ông ngạc nhiên và không kém phần lúng túng. Ông còn giữ được cái nhà nhưng đã bán hết ruộng nương và súc vật; ông sống về số tiền lời nhỏ và làm mướn những công việc vặt.
Khi chỉ còn mình tôi ở nhà, tôi lại chỗ kê giường mẹ tôi ngày trước, quá khứ hiện ra trước mắt tôi như một dòng sông rộng và phẳng lặng. Tôi không còn là một gã thanh niên và tôi nghĩ đến tháng năm trôi vùn vụt, chẳng mấy lúc sẽ đến lượt tôi trở thành một ông già lưng còng tóc hoa râm nằm đợi chết trong đau khổ. Trong căn nhà cũ nát và tồi tàn, tôi đã sống những ngày tấm bé, học chữ Latin và ở bên mẹ tôi lúc qua đời, những ý nghĩ ấy hợp tình hợp cảnh và vỗ về an ủi tôi. Tôi nhớ lại những năm son trẻ sống phong phú ấy với lòng tri ơn, mấy câu thơ của Laurent de Medicis học được ở Florence trở lại trí nhớ:
Quant’è bella giovinezza
Ma si fugge tuttavia
Chi vuoi esser lieto, sia:
Di doman non c’è certezza.
Đồng thời tôi cũng ngạc nhiên rằng đã đem lại phòng này những kỷ niệm nước Ý, những hồi tưởng bắt nguồn từ lịch sử, từ thế giới mênh mông của tinh thần.
Tôi biếu cha tôi một ít tiền. Đến tối chúng tôi cùng ra tửu quán, tất cả vẫn còn như xưa, chỉ khác có bây giờ tôi trả tiền rượu, còn cha tôi lúc nói đến rượu óng ánh như sao và rượu sâm-panh, ông lấy tôi ra để làm chứng; vả lại bây giờ tôi chịu đựng được hơn cha tôi. Tôi hỏi thăm lão già loắt choắt đầu hói ngày trước tôi đã hắt cốc rượu vào mặt. Hắn là một tay nghịch ngợm và một con cáo già, nhưng hắn đã chết lâu rồi và những trò tinh nghịch của hắn bắt đầu bị lãng quên. Tôi uống rượu Vaud, tôi theo dõi câu chuyện, tôi kể vài chuyện vặt, đến lúc trăng lên, tôi ra về với cha tôi, cha tôi say chuếnh choáng vẫn tiếp tục nói và hoa tay múa chân, tôi có cảm tưởng kỳ lạ và mới mẻ đối với tôi là đã có cái gì làm cho tôi ham thích. Những khuôn mặt ngày xưa: cậu Conrad, Rose Girtanner, mẹ tôi, Richard và Agiletti luôn luôn trở lại trong trí nhớ, tôi nhìn những khuôn mặt ấy như xem một tập ảnh đẹp đẽ tinh tươm nhưng ngoài thực tế sự vật không có gì tốt đẹp như vậy. Tất cả ồn ào diễn qua mắt tôi, tan biến đi, tôi gần như quên bẵng, nhưng chúng vẫn ở đấy, sáng sủa, rõ ràng, ghi vào người tôi, vào trí nhớ tôi, mặc dầu ý chí tôi không dự phần nào.
Chỉ đến khi về tới nhà, cha tôi không nói nữa và đã ngủ yên, bấy giờ tôi mới nghĩ đến Elisabeth. Ngày hôm qua nàng đã chào tôi, tôi khen ngợi nàng, tôi khen ngợi vị hôn phu của nàng. Tôi có cảm tưởng như biết bao thời gian đã trôi qua. Tuy nhiên sự đau đớn cũng bùng lên, kết hợp với những đợt sóng kỷ niệm đang ồ ạt tràn tới, xong vào công kích trái tim tôi trơ trọi không có gì tự vệ, như gió bão thổi vào một ngôi nhà lung lay và đổ nát trên triền núi cao. Không thể ở nhà được, tôi leo qua cửa sổ lẻn ra ngoài, đi qua vườn xuống hồ, tôi tháo dây cột chiếc thuyền cũ nát rồi nhẹ tay chèo bơi thuyền trong đêm sáng mờ.
Đời tôi có nghĩ gì không, tại sao bao nỗi vui buồn đổ lên đầu tôi như vậy? Tại sao tôi khát khao vẻ đẹp và sự thật, và ngày nay tôi vẫn khao khát chưa nguôi? Tại sao tôi đã yêu những người đàn bà mỹ miều kia trong thách đố và nước mắt, để ngày nay lại phải xấu hổ và khóc than mối tình tuyệt vọng? Tại sao Ông Trời khó hiểu kia lại đặt vào trái tim tôi hoài bão ái tình mãnh liệt như thế, vì Ông đã dành cho số hệ tôi một đời sống cô đơn thiếu hẳn những phút vỗ về, âu yếm?
Tôi có cảm tưởng rằng tốt hơn hết là để cho thuyền chìm lỉm xuống đáy hồ, đừng ai để ý đến tôi nữa. Nhưng khi thấy thuyền vừa thấm nước tôi vội chèo thật nhanh. Bất thần tôi thấm lạnh, vội vàng trở về nhà lên giường ngủ. Tôi nằm thao thức và mệt mỏi, nghĩ đến số kiếp mình và cố sức tìm hiểu xem mình thiếu thốn cái gì, cần phải có cái gì để sống một cuộc đời sung sướng và chân thực hơn, để tới gần trung tâm của bản thể.
Tôi biết rằng trung tâm của nhân đức và hạnh phúc là tình yêu và tuy vết thương lòng còn rướm máu, tôi cũng phải bắt đầu thực tình yêu mến loài người. Nhưng yêu làm sao? Và yêu ai?
Thế là tôi nghĩ đến cha già, và lần thứ nhất tôi nhận thấy tôi không yêu cha cho phải đạo. Lúc còn thơ ấu tôi đã làm cho đời ông cực nhọc, rồi thì tôi đi xa, để cha tôi một mình mặc dầu mẹ tôi đã mất, tôi lại hay bực mình vì cha và sau này tôi đã quên hẳn cha. Tôi buộc lòng phải tưởng tượng ra ông nằm chết trên giường, bỏ mình tôi trơ trọi mồ côi đứng cạnh thây cha, người cha đối với tôi vẫn xa lại, chưa bao giờ tôi thử chinh phục tình yêu của cha.
Tôi bèn thử làm công việc khó khăn nhưng êm ái. Tôi trìu mến không phải một người tình xinh đẹp, nhưng một ông già nghiện rượu đã suy nhược; tôi không nói xẵng với cha nữa, tôi săn sóc cha được đến đâu hay đến đấy, tôi đọc cho ông nghe những truyện trong cuốn lịch và nói đến rượu nho bên Pháp và bên Ý. Tôi không thể đỡ cha hết các việc vặt, không có ông thì cái gì cũng hỏng bét. Tôi cũng không thể khuyên cha bỏ thói quen đi tiệm mà uống rượu tối với con ở nhà. Chúng tôi thử làm một vài bận. Tôi đi mua rượu nho và xì gà rồi tôi kiếm hết cách để làm cho ông già giải khuây. Đến ngày thứ tư hay thứ năm ông không buồn nói nữa rồi sau cùng ông trở nên khó tính, khi tôi hỏi ông có gì buồn bực thì ông gắt:
- Tôi biết rằng anh không muốn để cho cha già anh đến tiệm nữa.
- Đâu có chuyện ấy, cha vẫn là bố còn con là đứa trẻ như trước, cha muốn như thế nào thì vẫn tự cha quyết định.
Ông nháy mắt nhìn tôi ra vẻ không tin; sau đấy ông vui vẻ với lấy cái mũ lưỡi trai và chúng tôi cùng đi đến tiệm cà phê.
Tuy ông không nói ra, nhưng tôi hiểu rằng tôi ở đây lâu nữa chỉ làm cho cha tôi khó chịu. Vả chăng tôi thấy cần phải đi xa, đi ra ngoại quốc để đợi cho dịu bớt cuộc xung đột day dứt nội tâm tôi. Tôi hỏi ông:
- Nếu có ngày con đi chuyến nữa thì cha nghĩ sao?
Ông gãi đầu, so hai vai gầy yếu, mỉm cười ranh mãnh để kéo dài thời gian.
- Ồ, thì tùy ở anh!
Trước khi đi tôi đến thăm mấy người xóm giềng và mấy thầy trong tu viện nhờ họ trông nom cha tôi dùm. Tôi cũng nhân một ngày đẹp trời leo lên ngọn Sennalpstock. Từ trên đỉnh cao hình vòng cung tôi nhìn xuống núi và thung lũng xanh tươi, nước hồ long lanh và sương mù phủ thành thị xa xa. Lúc còn bé, cảnh tượng ấy đã gợi lên những ước vọng hăng hái; tôi đã chinh phục hoàn cầu rộng lớn và tươi đẹp, thế mà bây giờ hoàn cầu lại mở rộng trước mặt tôi, vẫn đẹp đẽ và xa lạ như bao giờ, tôi cảm thấy mình sẵn sàng để lên đường lần nữa đi tìm xứ sở của hạnh phúc.
Đã từ lâu tôi định lưu lại một thời gian ở Assise để có thêm tài liệu khảo cứu. Tôi bắt đầu trở về Bâle để sửa soạn hành trang, thu xếp đồ đạc gửi trước đi Perouse. Còn tôi đi xe lửa đến Florence, rồi từ đó đi bộ về phương nam, tôi đi thủng thỉnh không làm gì mà phải vội vàng. Làm thân với người bình dân ở xứ này là một nghệ thuật ai cũng có thể làm được. Đời sống của người phương nam bao giờ cũng hồn nhiên chất phác, bình dị, tự do, từ tỉnh này sang tỉnh khác người ta có thể kết bạn với những người chân thật. Lần này tôi cũng như cá gặp nước và tôi quyết định sau này đến Bâle sẽ tìm mối thân giao với đồng bào, không phải trong giới thượng lưu mà trong xã hội bình dân giản dị.
Đến Perouse và Assise tôi say mê công việc khảo cứu lịch sử và bắt đầu làm việc sốt sắng. Đời sống vật chất ở đây cũng thích thú, chẳng bao lâu tôi lấy lại được quân bình và bắc những đầu cầu mới vào đời: những nhịp cầu tạm bợ rất mong manh. Sau vài câu chuyện về vị thánh đồ, bà chủ nhà của tôi ở Assise, một bà buôn trái cây ngoan đạo và hay chuyện, rất yêu mến tôi. Bà là một người có tiếng tin đạo Gia Tô, một hân hạnh quá đáng cho bà, còn đối với tôi thì nhờ tôi tin đạo mà tôi kết thân dễ dàng với mọi người, tôi không bị nghi ngờ là kẻ ngoại giáo như những người ngoại quốc khác. Bà là một goá phụ đã 34 tuổi tên là Annunciata Nardini; người to lớn dềnh dang như hộ pháp và ngôn ngữ cử chỉ rất nhã nhặn. Ngày chủ nhật bà mặc áo dài hoa màu sặc sỡ tươi tắn, có thể cho bà là hiện thân của ngày lễ, vì khuyên tai sáng ngời, mề đay và dây chuyền đeo lủng lẳng trước ngực đụng nhau lách cách. Bà cũng mang theo một quyển kinh lớn bọc bạc mà bà không biết đọc, một chuỗi tràng hạt hột đen hột trắng, dây bạc, mà ngón tay bà đưa qua đưa lại rất khéo. Giữa hai tuần dâng lễ, bà ngồi trên ghế kể tội những người bạn vắng mặt với mấy người ngồi cạnh, họ ra vẻ thán phục vô cùng, trên khuôn mặt bà phản ảnh một cách cảm động linh hồn một người đã thuận thụ phước lành của Thượng Đế.
Ở xứ này người ta không đọc được tên tôi, người ta chỉ gọi tôi là ông Pietro. Những buổi chiều vàng, chúng tôi ngồi xúm lại trong căn nhà nhỏ; người lớn, con nít, mèo chó; hoặc ngồi ngoài cửa hàng, giữa những đống trái cây, những rổ rau cỏ, những hộp hạt giống, những túm xúc xích treo trên trần, chúng tôi kể lại chuyện mình, bàn bạc về mùa màng, hút thuốc hay ăn miếng dưa. Tôi nói đến Sant François, truyện Portioncula, nàh thờ của nữ thành Claire và những sư huynh tu hành thứ nhất. Người người nghiêm chỉnh nghe tôi, hỏi nhiều câu vặt vãnh, khen ngợi ông thánh, rồi người ta bắt vào chuyện mới xảy ra gần đây, chuyện cướp bóc và âm mưu chính trị được mọi người ưa thích hơn cả. Mèo, chó và con nít đùa giỡn và đánh nhau ngay bên cạnh chúng tôi. Vì sở thích riêng và cũng để được tiếng với bà con, tôi kiếm những truyện ý nghĩa và đáng tin trong các sách truyền kỳ, thật may mắn cho tôi, trong số những sách mang theo có những cuốn như “Đời sống các Thánh Tổ Phụ và các vị Thánh Đồ khác” của Arnoid, tôi bèn dịch những truyện chất phác ngay thật ra tiếng Ý bình dân, sửa đổi đôi chút cho thêm vui. Nhiều người qua đường dừng lại chốc lát, bàn góp vài câu, nhiều khi trong một tối, số người hội họp thay đổi đến ba bốn lượt; chỉ có bà Nardini và tôi ngồi từ đầu dần đến cuối dậu không vắng mặt buổi nào. Tôi để kèm mâm rượu ngay bên canh và uống thùng bất chỉ thình, làm mấy người bình dân ăn uống tần tiện phải lắc đầu le lưỡi. Dần dần, những cô gái láng giềng nhút nhát sinh ra bạo dạn, bước tới ngưỡng cửa để góp chuyện, họ nhận mấy bức ảnh tặng và bắt đầu cho tôi là người thanh khiết vì tôi không pha trò ranh mãnh mà cũng không tìm cách suồng sã với họ. Trong số thôn nữ ấy có vài vẻ đẹp mơ màng, hai mắt mở to như người trong tranh của Perugin. Người nào tôi cũng thích, tôi thưởng thức vẻ phúc hậu tinh ranh của họ, nhưng không say mê một cô nào: những cô có nhan sắc, cô nào cũng giống cô nào, thậm chí vẻ đẹp ấy đối với tôi là một ưu điểm của giống nòi chứ không phải là cái hơn người riêng biệt. Thường có một chàng trai con người làm bánh hay đến họp với chúng tôi, gã là một đứa ranh vặt rất lanh lợi tên Matteo Spinelli. Hắn biết bắt chước tiếng kêu của đủ loài vật, biết hết chuyện rầy rà của mọi người, có những mưu chước quỷ quyệt lạ lùng. Khi tôi kể chuyện thần kỳ của các thánh, hắn nghe nói điệu bộ tôn kính, và khiêm tốn không ai bằng, rồi sau hắn báng nhạo các thánh đồ bằng đủ mọi câu hỏi, ví von và ức đoán ranh mãnh, hắn giả vờ làm như người thật thà khiến cho bà chủ vựa trái cây phải bất bình nhưng phần nhiều người nghe rất khoái tỷ.
Thường khi tôi ngồi cạnh bà Nardini nghe bà nói những chuyện đáng tin về các thánh và tôi thấy một sự khoan khoái trần tục khi bà để lộ rất nhiều thói xấu nhỏ nhặt thường tình của bà. Không có một lỗi lầm, một nết xấu nào của người khác qua được con mắt của bà; bà đã định sẵn chỗ dưới địa ngục cho họ sau khi cân nhắc kỹ lưỡng. Còn tôi thì bà dành cho một chỗ trong trái tim bà, bà kể hết cho nghe những kinh nghiệm, những khám phá nhỏ nhặt nhất của bà không quên một chi tiết nhỏ. Tôi mua mỗi thứ lặt vặt về bà hỏi tôi giá bao nhiêu, để chỉ cho biết đừng để ai ăn không của mình. Tôi kể cho bà nghe chuyện các thánh, đáp lại, bà cho tôi biết bí quyết nghề buôn rau, buôn trái cây và nấu bếp. Một buổi tối chúng tôi ngồi trong căn nhà xiêu xẹo, tôi hát một điệu Thụy Sĩ và một điệu Tyrol làm con nít và con gái thích quá. Họ xoắn người lại cười, bắt chước mấy tiếng ngoại quốc và chỉ cho tôi biết cái hầu tôi cứ lên lên xuống xuống rất buồn cười trong khi hát điệu Tyrol. Bấy giờ có người nói đến chuyện tình. Con gái che mặt cười, bà Nardini trợn mắt và thở vắn than dài, sau cùng họ bắt tôi phải kể chuyện tình của tôi. Tôi không nói gì đến Elisabeth, nhưng tôi tả chuyện chơi thuyền với Aglietti và cuộc tình duyên nửa đời nửa đoạn của tôi. Tôi thấy mình ngốc nghếch khi phơi ra trước mắt những người hiếu kỳ này một chuyện riêng chưa từng nói với ai, trừ Richard, mà lại nói ở một hẻm lát đá tảng như những hẻm ở phương nam, gần những ngọn đồi còn vương nắng chiều tà đỏ ối. Tôi nói nhiều mà không nghĩ, như người đi kể chuyện rong, nhưng tôi để hết lòng vào câu chuyện, thực ra tôi e ngại người nghe cười cợt chế giễu.
Nhưng kể xong, mọi con mắt đổ dồn vào tôi, bùi ngùi và thương cảm.
Một người con gái nói: “Trời! Một người đẹp trai thế kia mà phải thất tình!”
Bà Nardini khẽ đặt bàn tay mềm mại và tròn trĩnh lên đầu tôi mà rằng: “Poverino!”
Một cô gái khác tặng tôi một trái lê lớn, khi tôi bảo nàng cắn thử một miếng trước, nàng cắn lê và trầm ngâm nhìn tôi. Khi tôi muốn đưa cho người khác cắn ăn, nàng không chịu được: “Không, cậu ăn đi cơ. Tôi cho cậu vì cậu đã kể chuyện buồn của cậu.”
Một người làm vườn nho tóc nâu bảo tôi:
- Bây giờ thì chắc là cậu sẽ yêu một người khác.
- Không.
- Trời! Cậu vẫn yêu cô Erminia độc ác ấy à!
- Bây giờ tôi yêu thánh François, thánh dạy tôi yêu cả mọi người, anh và tất cả mọi người ở Perouse, tất cả con trẻ ở đây và cả người nhân tình của Erminia.
Đã có cái gì rắc rối nguy hiểm trong cuộc sống chất phác thanh tịnh khi tôi nhận thấy bà Nardini hiền hậu này nhiệt thành cầu chúc cho tôi đến ở cùng tỉnh với Erminia. Câu chuyện nhỏ ấy làm tôi hoá ra khéo léo khôn ngoan, thật khó mà đánh tan mơ mộng như thế của người đàn bà mà không làm mất tình bạn trong sạch. Vả chăng tôi cũng phải nghĩ đến chuyện về chứ. Nếu không mơ màng đến tập thơ tương lai và nếu túi tiền không cạn thì có lẽ tôi ở lại đây thật. Có lẽ - vì tình trạng túi tiền - tôi sẽ lấy Nardini. Nhưng không, điều ngăn cản tôi chính là vết thương tình chưa khỏi và ý muốn thấy mặt Elisabeth. Trái với ý nghĩ của tôi, người đàn bà góa đẫy đà ấy tỏ ra chịu đựng điều không tránh được một cách nhẫn nại và cũng không thất vọng mà làm khó dễ cho tôi. Có lẽ phút từ biệt ra đi làm tôi bùi ngùi hơn bà. Đi khỏi xứ ấy, tôi đã mất mát nhiều hơn những gì tôi để lại, chưa bao giờ nhiều người thân mến đến tiễn chân và bắt tay tôi như vậy. Họ xếp vào toa tàu nào hoa quả, rượu mùi, bánh mì và xúc xích, và tôi có cảm tưởng hy hữu là phải chia ly với những người không đến nỗi dửng dưng với tôi. Bà Annurziatu Nardini, lúc giã biệt tôi, hôn lên hai má, hai mắt rưng rưng lệ.
Ngày xưa tôi cho rằng được yêu mà mình không yêu có thể là một sự thích thú riêng. Bây giờ kinh nghiệm cho biết rằng một mối tình hiến dâng mà người ta không yêu lại mình quả là một cực hình. Tuy nhiên tôi cũng hơi tự kiêu vì một người đàn bà ngoại quốc yêu tôi và muốn lấy tôi làm chồng.
Chỉ một chút kiêu hãnh cỏn con như thế cũng làm tôi khỏi bệnh được một nửa. Tôi phàn nàn cho bà Nardini, nhưng tôi không cầu chúc cho chuyện thương cảm của bà không xảy ra. Dần dần tôi cũng hiểu rằng hạnh phúc của ta không tùy thuộc sự thực hiện những ước vọng ấm no, đau khổ vì tình của tuổi trẻ dù mạnh mẽ đến mức nào cũng không có gì là bi thảm cả. Không lấy được Elisabeth thì tôi đau đớn thật, nhưng cuộc đời tôi, tự do của tôi, công việc của tôi, thái độ tinh thần của tôi không chịu ảnh hưởng gì, tôi vẫn có thể yêu nàng ở xa hay ở gần như trước nếu tôi muốn. Những ý nghĩ ấy và mấy tháng sống an nhiên thư thái ở Ombrie đã ảnh hưởng trong lành đến tâm trạng tôi. Trước đây tôi chỉ để ý đến những ngông cuồng lố lăng của người đời, tôi chỉ nghĩ đến sự châm chọc mỉa mai cho nên không hưởng được sự thích thú. Bây giờ, dần dần tôi khám phá ra tính cách khôi hài của cuộc đời, hầu như mỗi ngày tôi càng thấy có thể giải hòa dễ dàng với sao chiếu mệnh của tôi và thưởng thức vật ngon của ta trong bữa tiệc đời.
Hẳn là khi sang nước Ý trở về người ta vẫn có ý nghĩ như thế. Ở đây người ta mỉm cười rộng lượng mà bất chấp cả giáo điều lẫn thành kiến, người ta nhét hai tay vào túi quần, và đứng trước cuộc đời người ta làm ra vẻ một nghệ sĩ thành thạo. Người ta đã bơi lội chốc lát trong bầu không khí nóng ấm đời sống bình dân miền nam và người ta tưởng tượng ra rằng cuộc sống ở đấy cứ tiếp diễn như thế. Tôi cũng vậy, mỗi lần sang Ý về tôi cũng nghĩ thế, lần này còn hơn những lần khác. Khi trở về Bâle, sống lại cuộc đời ngày trước, gò bó, bất di bất dịch, không làm thế nào cho mình trẻ lại được, từ chỗ thư thái an nhiên tôi lăn xuống dốc, dần dần từng nấc một, thôi đành nuốt tủi hờn, chẳng buồn làm điệu bộ ta đây đã biết thừa. Nhưng cái gì thu thập được ở ngoài kia vẫn để lại chút mầm và mầm vẫn tiếp tục đâm chồi nảy lộc; từ đó con thuyền của tôi dù đi trên nước trong hay nước đục cõi đời, cũng vẫn giương lá cờ nhỏ màu táo bạo và tự tin.
Trong những lĩnh vực khác, ý kiến của tôi cũng từ từ thay đổi. Tôi không tiếc nuối đã hết thời kì son trẻ và bước vào tuổi trung niên, tuổi mà con người học cách coi cuộc đời mình như một đoạn đường ngắn ngủn, bản thân mình như một gã lang thang, ta đi lại và ta chết đi chẳng làm cho người đời xúc động hay bận tâm. Người ta theo đuổi một mục đích, một giấc mộng thân yêu hơn cả, nhưng người ta chẳng cho mình là cần thiết cho đời; dọc đường người ta dành riêng cho mình những phút nhàn rỗi để có thể nằm dài trên cỏ, chúm miệng thổi sáo, thảnh thơi hưởng những thích thú trong khoảng khắc trôi đi biền biệt mà không đến nỗi phải hối tiếc, phải trốn tránh trách nhiệm hàng ngày. Cho đến bây giờ tuy chưa bao giờ nghĩ đến Zarathoustra, nhưng xét cho cùng tôi cũng biết tự cho mình là đàn anh thiên hạ. Tự tôn thờ mình, khinh bỉ người bình dân, thật quả tôi vẫn làm như vậy. Dần dần tôi mỗi ngày mỗi hiểu thêm rằng không làm gì có giới hạn nhất định giữa các giai cấp, đời sống những người hèn kém, bị ức hiếp hay nghèo khổ không những cũng đa tạp đa diện chẳng kém, mà còn đằm thắm, chân chất hơn, gương mẫu hơn đời sống những người phong lưu giàu có.
Tôi đến Bâle vừa kịp để dự buổi tiếp tân đầu tiên tại nhà Elisabeth - nàng đã thành hôn. Bà chủ nhà xinh đẹp cho tôi cái hân hạnh được bà tiếp đãi ý nhị như người thân trong nhà và suốt buổi tối tôi mừng rằng số mình còn may, mình tránh được sự trơ trẽn hỏi vợ chậm trễ quá. Mặc dầu có kinh nghiệm bên Ý, tôi vẫn giữ ý không tin hẳn đàn bà: họ có thứ vui sướng độc ác khi được thấy người say mê họ tuyệt vọng và đau khổ. Một câu chuyện cỏn con lúc còn đi học tôi nghe được từ cửa miệng đứa bé lên năm có thể dùng để thể hiện một các cụ thể tình trạng nhục nhã và khó xử của một người đàn ông như vậy.
Ở trường học của thằng bé ấy có một thói quen kỳ dị và có tính cách biểu tượng: Khi một cậu nào có hành vi ngốc nghếch quá, chúng bạn tụt quần cậu, để sáu đứa con gái giữ chặt cậu trên ghế không cho chạy thoát. Quyền ấy được coi là một vinh dự lớn, bao giờ cũng dành cho những đứa con gái ngoan ngoãn, những đứa lúc ấy được coi là đức hạnh ghê gớm, chỉ có những đứa ấy được hưởng sự thích thú tàn ác đó. Câu chuyện trẻ con vui vui này làm cho tôi phải suy nghĩ, đã một hai lần nó len lỏi giấc chiêm bao, ít ra cũng vì kinh nghiệm trong giấc mơ mà tôi biết được trong lúc bị xử tội như thế người ta khổ sở đến thế nào.