Tuổi Trẻ Cô Đơn

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

4

Cái gì ngày trước không xảy ra cho cha tôi thì nay đã xảy ra với tôi vì chuyện thất tình này: tôi thành người nghiện rượu.

Đối với đời tôi, với tính tình tôi, thì điều đó quan trọng hơn tất cả cái gì tôi đã kể đến đây. Ông trời quyền uy và hiền từ ấy trở thành người bạn trung thành của tôi và ông còn là bạn mãi. Ai có quyền uy bằng ông? Ai đẹp đẽ, ngông cuồng, nhiệt tình, vui và buồn được như ông thần rượu? Một đấng anh hùng vừa là một nhà ảo thuật. Một chàng quyến rũ tài tình, anh em với Dâm thần. Quyền thế của ông là làm cái gì không thể làm được. Ông làm cho trái tim ty thiểu của loài người tràn đầy thơ hay tuyệt diệu. Một người nông dân, một người cô độc như tôi, ông đã biến ra một ông vua, một nhà thơ, một nhà hiền triết. Ông đem lại một vận mệnh mới cho những con thuyền đã xả hết láng vào giòng đời và ông đưa những người đắm thuyền vào những hướng đi khác để họ bị lôi cuốn theo như bay.

Rượu là tất cả những cái ấy. Nhưng rượu cũng như tất cả cái gì có giá, có thiên bẩm và có nghệ thuật, người ta phải yêu mến nó, tìm đến nó, hiểu biết nó và dày công chinh phục nó. Ít người đáng kể là có tửu lượng khá và rượu cũng đưa cả ngàn người đến tử địa. Nó làm cho con người già nua và nó làm họ ngu muội. Nhưng con cưng của nó, nó mời vào bàn tiệc của nó, nó xây cho chín bậc cầu vồng, như xây phù kiều cho lên tới động thiên thai. Nó hầu gối chăn khi mình mệt mỏi, nó ôm ấp mình trong cánh tay mềm mại của nó khi mình buồn nản, an ủi vỗ về như người bạn hay người mẹ. Nó biến đổi những trắc trở trên đường đời thành huyền thoại cao siêu, cây đàn thần của nó lên tiếng hát bài ca sáng tạo.

Vả lại nó còn là đứa trẻ tóc tơ, vai hẹp, chân yếu tay mềm. Nó nép mình vào tim ta, ngẩng mặt nhìn ta, giương hai mắt ngây thơ hiền hậu và mơ màng nhìn ta, trong cùng khóe, mắt ấy phảng phất sự ngây thơ nguyên thủy, những kỉ niệm thơ ấu của chốn Thiên Đường tươi đẹp và trong sáng như ngọn suối mới sa trong rừng sâu.

Ông thần lưu linh thú vị ấy giống như dòng sông sâu cuồn cuộn chảy một đêm xuân. Và nó giống như biển cả bồng bềnh trên làn sóng mát mặt trời và bão tố.

Khi rượu chuyện trò với ai yêu chuộng nó, kẻ ấy sẽ thấy giữa hai cái rùng mình, cuồn cuộn nổi lên trong người như biển sóng, biết bao sự bí hiểm biết bao kỉ niệm, thi tứ, linh cảm, làm át cả những tiếng động khác. Trần gian thu nhỏ lại tấc gang không còn là cõi thực, tâm hồn rung động vì vui sướng và khắc khoải rơi vào những nơi hoang vắng xa lạ, cái gì cũng lạ lùng nhưng quen thuộc, tiếng nói là âm nhạc, là tiếng nói của thi nhân, của mơ mộng.

Nhưng tôi phải bắt đầu kể lại chuyện của tôi với bạn đọc.

Có khi tôi quên mình, tôi có thể giữ được sự thư thái trong vài giờ để học hành, viết lách và nghe âm nhạc với Richard. Nhưng không ngày nào là tôi không đau khổ. Có khi nó chỉ day dứt tôi về đêm trong giường ngủ, tôi thở dài và phản kháng, mãi khuya mới ngủ được, mắt còn đẫm lệ. Có khi nó bừng lên vào lúc tôi gặp Aglietti. Nhưng thường thường là về buổi chiều, lúc bắt đầu những đêm hà nóng nực làm ta nhọc mệt. Bấy giờ tôi chạy ra hồ kiếm một chiếc thuyền, bơi chèo đến vã mồ hôi, bấy giờ không thể về nhà được nữa, phải tìm một quán rượu hay khu vườn của một tiệm cà phê. Ở đây tôi uống các thứ rượu nho, vừa uống vừa gặm nhấm nỗi ưu phiền, ngày hôm sau tôi gần như người ốm. Có đến mười lần ở trong tình trạng ấy tôi thấy khổ sở và ghê tởm đến nỗi định bụng không bao giờ uống nữa. Thế nhưng rồi lại uống. Dần dần tôi biết cách phân biệt các thứ rượu và ảnh hưởng của mỗi thứ, như vậy tôi biết rõ tác dụng của nó khi đem dùng, nhưng nói chung thì dùng một cách thiển cận và ngu muội. Sau cùng tôi chỉ dùng thứ rượu nho đỏ sậm sứ Valteline. Cốc thứ nhất có vị chát và bốc, uống xong rượu đưa tôi vào cơn mộng bình thản và miên man, rồi bắt đầu ảnh hưởng kì ảo, sáng tạo và thi hứng của nó. Tôi nhớ lại tất cả những phong cảnh đã làm tôi say mê một ngày nào đó nhưng hiện ra dưới một thứ ánh sáng đẹp đẽ; tôi đi lại trong cảnh ấy, ca hát, mơ mộng, trong tôi hừng hực một hình thức sống cao kì và mãnh liệt. Rồi cảnh đó chấm dứt bằng một thứ buồn rát thú vị, tôi nghe thấy đàn ca những điệu hát bình dân, tôi biết rằng một chân trời hạnh phúc đang chờ đợi tôi ở đâu đây và tôi đã lướt qua nhưng đã không biết nắm lấy.

Dĩ nhiên, rồi cũng đến lúc ít khi tôi ngồi uống một mình, tôi đi nhậu nhẹt ở khắp nơi tụ hội. Khi tôi không uống một mình nữa, rượu nho ảnh hưởng đến tôi khác hẳn. Tôi trở nên người nói nhiều, nhưng không đến nỗi nóng nảy, trái lại tôi cảm thấy một thứ nóng sốt lạnh lùng kì lạ. Một kích thước khác của con người tôi chưa từng ý thức được; nhưng kích thước ấy ít thấy được ở hoa trong bình hay hoa trong vườn mà phải tìm ở nơi cỏ nội hoa đồng. Tôi có đủ khả năng diễn tả tư tưởng thì đồng thời tôi cũng phát triển thêm một khiếu phê bình lạnh lùng và bén nhọn làm cho tôi yên chí là mình có cái gì hơn người, tôi trở nên ngạo nghễ và hoạt bát. Nếu có ai làm tôi khó chịu, tôi báng nhạo họ, châm chọc họ kì cho họ bỏ đi chỗ khác. Từ thuở tôi còn thơ ấu người lớn đối với tôi đã không thân thiết đặc biệt, không cần thiết; từ đấy tôi xét đoán họ với tinh thần chỉ trích trào lộng. Tôi lấy làm thích thú mà tưởng tượng và kể lại những mẩu chuyện trong đó sự tiếp xúc giữa mọi người hiện ra bộ mặt dữ tợn và trào lộng, tôi chế giễu họ dưới hình thức khách quan lạnh lùng. Từ đâu mà tôi có giọng khinh bỉ ấy? Chính tôi cũng không biết rõ, nó tự thâm tâm tôi phát ra như một cái ung thư đến lúc chín mùi và trong nhiều năm qua tôi không thể từ bỏ được.

Nếu có buổi tối nào ngồi một mình thì tôi lại mơ màng đến núi non, sao sáng, âm nhạc buồn.

Trong những tuần lễ ấy tôi khởi thảo một loạt nghiên cứu xã hội, văn minh, nghệ thuật thời đại, một cuốn sách chỉ trích cay độc thoát thai từ những câu chuyện ở quán cà phê. Công việc nghiên cứu lịch sử của tôi trích dẫn những tài liệu quá khứ làm cho lời bình chú của tôi có căn bản chắc chắn.

Thiên khảo ấy đăng lên báo, tôi được một tờ báo khá quan trọng mời cộng tác thường xuyên nhờ vậy cuộc sống khá đầy đủ. Ít lâu sau thiên tiểu luận in thành sách xuất bản và gây được ít nhiều tiếng vang. Tôi bỏ hẳn ngôn ngữ học không ngó đến nữa. Kiến thức đại học của tôi đã khá tiến bộ, sự liên lạc với nhiều tờ tập san đưa tôi ra khỏi chỗ tối tăm thô thiển và dẫn tôi vào thế giới của những nhà văn chính thức. Đã có phương tiện sinh nhai, tôi xin khước học bổng và dương buồm thẳng tới cảnh đời bạc đãi một nhà văn.

Mặc dù thành công và hợm hĩnh; mặc dù viết lách, mặc dù thất tình, lúc vui cũng như lúc buồn, tôi vẫn giữ được sinh khí mạnh mẽ và sáng chói của tuổi trẻTuy rằng tôi trào lộng, tự cho mình những vẻ thạo đời, tôi vẫn nhìn thấy trước mặt tôi trong mơ mộng của tôi, một mục đích, một lý tưởng. Sau này sẽ ra thế nào không biết. Tôi chỉ cảm thấy sẽ có một ngày kia đời sống mang đến cho tôi hạnh phúc đề huề, danh vọng. Không biết chừng cả ái tình và sự thỏa mãn thèm khác cháy lòng, những cái gì trả lời vào hoài bão sâu xa của tôi hay phấn khích kiếp sống của tôi. Tôi là một cậu ấm sính mơ màng đến các bà công nương quý tộc ngày mà cậy được sắc phong, được danh vọng lớn.

Tôi tưởng rằng mình đã bắt đầu có chức phận cao sang. Tôi không biết rằng tất cả cái gì đạt được chỉ là ngẫu nhiên, còn bản chất tôi, đời sống của tôi chưa tìm thấy chủ điểm sâu xa và chính yếu của riêng nó. Tôi chưa biết rằng ý muốn mãnh liệt vò xé tôi không thể bị giới hạn bởi sự thỏa mãn ái tình hay danh vọng.

Bởi vậy tôi hãy tạm hưởng chút danh vọng cỏn con vẩn đục với tất cả hứng khởi của tuổi trẻ. Tôi thấy dễ chịu khi được ngồi bên ly rượu ngon với những người thức giả và khi tôi nói mắt người ta đổ dồn về tôi, đầy hiếu kì và chú ý.

Đôi khi tôi ý thức được nhu cầu cấp thiết của mọi người có tâm huyết ngày nay đang thúc đẩy mạnh mẽ họ tìm một lối thoát và tôi cũng ý thức được họ đã sa chân vào những ngõ ngách kì dị. Tin Thượng Đế thì thiên hạ cho là đần độn, gần như thô lỗ, ngoài ra người ta còn muốn tin tưởng đủ mọi thuyết đủ mọi người có tên tuổi: Schopenhauer, Thích Ca, Zarathoustra và hàng trăm người khác. Có những nghệ sĩ trẻ tuổi không tên không tuổi lấy thái độ thành khẩn mà suy tư trước những tòa kiến trúc vĩ đại, những pho tượng hay bức họa. Quỳ gối trước Thượng Đế thì họ xấu hổ, nhưng họ lại quỳ trước tượng Jupiter của Orticoli. Có những nhà tu khổ hạnh khổ sở vì diệt dục nhưng cách ăn mặc thật là choang chóe. Ông trời của họ có những tên như Tolstoi hay Thích Ca. Có những nghệ sĩ tìm cách tự gợi ra những trạng thái tâm tình độc đáo bằng cách ngắm những bức thêu tinh vi được chọn lựa cẩn thận, hay bằng một vài bản nhạc, một vài món ăn, rượu, hương hoa và thuốc xì gà. Họ dùng một ngôn từ phổ thông để làm như nắm được những dữ kiện bình dân, những âm điệu, những hòa hợp màu sắc và những tinh túy cùng loại ấy; đâu đâu người ta cũng tìm những “cá tính” mà kỳ thực cá tính của họ chỉ là một chút ngụy tạo cỏn con mà chính họ bị lừa trước tiên, nếu không là cái gì ngông cuồng quái gở. Thực ra, tôi lấy làm thích thú mà xem họ nhập đồng hay đóng một mà kịch dơ dáng, tuy vậy cũng có khi tôi có cảm tưởng là nhiều hoài bão sâu xa, nhiều sinh khí thực sự đã tan thành lửa khói.

Tất cả những thi sĩ, nghệ sĩ và triết gia có tư tưởng tân kì mà tôi quen biết hồi ấy, tôi không thấy có người nào sau này làm được cái gì ra hồn. Trong số ấy có một thanh niên Đức trạc tuổi tôi, một nhân vật đáng cho người ta có cảm tình, một người dễ thương và mềm mỏng, ý nhị và có cảm giác tinh vi đối với mọi lãnh vực liên hệ đến nghệ thuật. Y được tiếng là một thi sỹ lớn trong tương lai, có khi tôi nghe đọc thơ của y, câu thơ phảng phất trong trí nhớ như cái gì vô cùng nhẹ nhàng, một vẻ đẹp có linh hồn. Trong số nhà văn chúng tôi có lẽ y là người duy nhất có tâm hồn thi sĩ thực sự. Sau này ngẫu nhiên tôi biết rõ cuộc đời văn nghệ ngắn ngủi của y. Người nghệ sĩ dễ động lòng ấy trở nên rầu rĩ sau một chuyến thất bại trên văn đàn, y quyết định không ra mắt công chúng nữa và tìm sự nâng đỡ của một người bảo trợ, ông này đáng lẽ khuyến khích y và khuyên y theo lẽ phải lại đưa y đến chỗ mai một tài năng. Trong biệt thự của ông bầu giàu có, anh chàng khoan khoái mà cho ra những lời bàn thẩm mỹ nhạt nhẽo và huênh hoang trước mặt mấy bà, trong trí tưởng tượng của y, y cho mình là thiên tài người đời không biết đến, âm nhạc Chopin và sự say mê lỗi thời thêm vào, y tự mình làm cho mình mất cả lý trí. Tôi không thể nghĩ đến những tâm hồn ưu tú như y mà không rùng mình lẫn thương hại, những trang thi nhân tuổi còn non dại, quần áo tóc tai nom thật kì dị; sau đấy tôi mới ý thức được cái nguy hiểm của những sự giao du như thế. Bản chất dân quê miền núi đã giúp tôi tránh khỏi những trò lố lăng ấy.

Tuy nhiên, tôi có ý thức hơn về cao đẹp và hạnh phúc là nhờ tình bạn chứ không phải danh vọng, rượu chè, ái tình và đạo lý. Xét đến cùng thì tình bạn giúp tôi thắng được khuynh hướng bẩm sinh chỉ nhìn cạnh khía bi thảm của cuộc đời và giữ được toàn vẹn cái trong sáng nguyên sơ của tuổi trẻ. Đến ngày nay tôi cũng chưa thấy cái gì quý giá hơn tình bạn trai thành thực và phong phú; và nếu thỉnh thoảng có ngày ảm đạm lòng tôi nhớ nhưng lúc thiếu thời đó chỉ là hồi tưởng lại tình bạn sinh viên.

Từ khi say mê Erminia tôi kém thân thiết với Richard. Mới đầu tôi không nhận thấy, nhưng độ vài tuần lễ sau tôi phải hối hận. Tôi thú thật với y, y cho biết là y trông thấy tai nạn mà y lo ngại phát sinh và nảy nở. Tôi trở lại thân thiết với y, thân đến ghen với người khác. Tôi hoàn toàn nhờ có tình bạn mà đạt được một vài điểm của nghệ thuật sống anh nhiên thư thái. Y đẹp cả về thể chất cũng như về tinh thần, y ham sống và hình như đời y không có gì là ưu phiền. Sự tinh khôn, sự lanh lợi của y không làm cho y không biết đến say sưa lầm lẫn, nhưng những chuyện đó qua đi không tác hại gì. Đi đứng, nói năng, cái gì cũng thanh thoát, nhịp điệu, đáng mến. Trời ơi! Y mới là người biết cách cười!

Y không đồng ý với tôi về chuyện nghiên cứu rượu nho của tôi. Có dịp y cũng đi với tôi, nhưng chỉ uống hai ly là say, y ngạc nhiên một cách ngây thơ khi thấy tửu lượng của tôi đáng phục hơn nhiều. Nhưng khi thấy tôi đau khổ hay quị ngã trong ưu tư không đường chống cự, y đánh đàn đọc sách với tôi hoặc dắt tôi đi chơi. Những lúc đi chơi như thế thường thường chúng tôi vui nhộn như con nít. Một buổi chiều quá trưa oi ả, chúng tôi nghỉ dưới một thung lũng rậm rạp cây cối, chúng tôi hái nụ thông ném nhau và đọc thơ oang oang với giọng tình tứ. Tiếng một con sông róc rách đưa tới bên tai, không thể tránh khỏi sức quyến rũ của làn nước ao trong veo mát lạnh. Y có sáng kiến đóng kịch. Y ngồi lên một hòn đã phủ rêu làm nữ thần Lorelei quyến rũ tàu bè làm cho mắc cạn, còn tôi bơi ở dưới như anh thủy thủ trong chiếc thuyền con. Y đóng vai trinh nữ và ưỡn ẹo tài tình quá đến nỗi tôi không nín cười được, đáng ra tôi làm ra vẻ đau đớn mê man. Bất thình lình có tiếng người, một đám du khách xuất hiện trên đường mòn, chúng tôi trần truồng như nhộng phải vội vàng nấp xuống bờ sông, chỗ khuất. Giữa lúc đám người đi qua trên đầu chúng tôi mà không ngờ, Richard gào lên đủ thứ tiếng kì dị, kêu ụt ịt, kêu choe chóe, giả tiếng mèo gào. Họ giật mình dừng lại nhìn quanh mở to mắt nhìn xuống sông, họ sắp sửa tìm thấy chúng tôi thì y thò nửa người ra ngoài hang, nhìn đám người tức giận, giơ tay lên như thầy tu vái Chúa, nói giọng nghiêm trang: “Xin đi đi cho yên lành!” Rồi y thụt xuống véo vào tay tôi mà rằng: “Đó cũng là một câu sấm.”

- Câu gì?

- Thần Pan dọa mấy đứa mục đồng - y vừa nó vừa cười.

Thật là xui xẻo, trong số khách bộ hành có vài người đàn bà.

Y không để tâm đến công việc nghiên cứu lịch sử của tôi. Tuy nhiên y cũng đồng ý với về điểm tôi thích Saint François d'Assise đến say mê, nhưng có cơ hội y cũng đặt mấy câu pha trò làm tôi lên ruột. Chúng tôi nghĩ đến ông thánh ấy lần bước qua xứ Ombrie nước Ý, an nhiên tự tại mà sống hồn nhiên trong ân sủng của Chúa và đầy trìu mến khiêm nhường với tất cả mọi người. Chúng tôi cùng đọc bài ca ngợi mặt trời bất tử của ông mà chúng tôi gần thuộc lòng. Một lần đi chơi hồ, trở về bằng tàu thủy, gió thổi gợn sóng, nhuốm màu hồng, y khẽ hỏi tôi:

“Không biết trong những lúc thế này ông thánh của ta nói gì?” Tôi vội đọc:

“Lauda tu si, mi signore, per frate ventu e per aere e nubilo e sereno e onne tempu!...”

Khi chúng tôi cãi nhau và văng tục với nhau, y cười và hắt vào mặt tôi đủ mọi biệt hiệu kiểu học sinh đến nỗi tôi không nhịn cười được, thế là cơn giận hết gay go. Chỉ khi nào nghe hay đờn những bản nhạc y hâm mộ là y có vẻ tương đối, nhưng y vẫn có thể ngưng lại pha trò một câu. Tuy nhiên y phụng sự nghệ thuật với trái tim trong sạch và ý thức về cái gì có chân giá trị không thể sai lầm được.

Y còn xuất sắc về tài nghệ thuật rất tế nhị an ủi người khác, chia sẻ thống khổ với người khác hay làm phấn khởi người bạn trong lúc buồn nản. Khi thấy tôi ủ rũ y có cách kể cho nghe một loạt chuyện tiếu lâm, y biết dùng giọng nói trấn tĩnh và vỗ về ít khi tôi không nghe theo.

Tôi hơn trội y chút đỉnh vì tôi nghiêm trang đứng đắn hơn y, vả chăng thân hình đồ sộ của tôi có cái gì đáng nể chứ. Y còn khoe với bạn khác, y hãnh diện có người bạn có thể dùng một tay bóp cổ y chết tươi. Y chú trọng nhiều đến sức lực và khéo léo thể chất; dạy tôi chơi quần vợt, chèo thuyền và bơi lội, với tôi, cùng tôi đua ngựa, không có chuyến nào đánh bi a với y mà tôi chơi kém. Bi-a là món sở trường của y, không những y chơi có nghệ thuật và chuẩn xác, thường thường đứng trước bàn bi-a y còn trở nên nhanh nhẹn, hoạt bát và vui vẻ. Thường khi y lấy tên ba người quen với chúng tôi đặt cho ba hòn bi, mỗi cú, tùy theo vị trí, ba hòn bi gần hay xa nhau, y dựng lên một cuốn tiểu thuyết đầy tình tiết giật gân, lời bóng gió ví von không nhịn cười được. Tuy thế nhưng y vẫn chơi một cách bình tĩnh, nhẹ nhõm và thanh lịch vô cùng, nom y cũng đủ thích mắt.

Hoạt động văn nghệ của tôi, y cũng không để ý đến nhiều hơn tôi. Một hôm y nói: “Tôi vẫn cho anh là thi sĩ và tôi không đổi ý, nhưng anh thi sĩ không phải vì anh viết văn đăng báo mà vì tôi biết anh có cái gì sâu sắc và cao đẹp sẽ có ngày đưa ra ánh sáng. Bấy giờ mới thật là thơ.”

Trong khi ấy thì ngày tháng trôi đi như đồng tiền trong tay, chẳng ai để ý đến ngày Richard phải nghĩ đến việc về thăm nhà. Trong những tuần lễ cuối cùng chúng tôi sống vui vẻ đến điên cuồn, gần như giả tạo, sau cùng, đồng ý với nhau rằng trước khi chia tay phải đánh dấu những năm đẹp đẽ của cuộc đời bằng một cuộc vui tưng bừng đáng ghi nhớ suốt đời. Tôi đề nghị một chuyến nghỉ hè trên núi Alpes Thụy sĩ, nhưng mùa xuân chưa đến. Lên núi thì còn sớm quá. Trong khi tôi bới óc tìm ý kiến thì Richard viết thư cho cha và kín đáo sửa soạn một cuộc vui bất ngờ thật ra vẻ. Một hôm y nhận được một tấm chi phiếu lớn và rủ tôi đi cùng với tư cách là người hướng dẫn sang miền bắc nước Ý.

Lòng tôi khấp khởi vui mừng mong mỏi. Một ước vọng mạnh mẽ hơn cả đã có từ thuở bé, thực hiện cả ngàn lần trong giấc mơ, nay trở thành sự thật. Tôi nóng lòng sửa soạn các thứ lặt vặt, dạy bạn nói mấy câu tiếng Ý, đến phút cuối cùng còn lo rằng mọi dự định sẽ tan đi như mây khói.

Chúng tôi gửi hành lý đi trước rồi lên tàu. Núi đồi đồng ruộng lướt qua mắt, hồ Uri, núi Gothard làng mạc đến sườn núi, thác, núi lở, đỉnh Tessin phủ tuyết rồi đến những căn nhà thứ nhất xây bằng đá, đen thui giữa vườn nho phẳng lì, rồi thì con tàu mang theo hy vọng của chúng tôi lướt qua ven hồ, qua vùng Hombardie trù phú, tiến tới Milan tưng bừng sống động vừa có sức thu hút lẫn xua đuổi chúng ta một cách kì dị.

Chưa bao giờ Richard có một ấn tượng về thánh đường Milan, y chỉ nghe người ta nói về một nơi nổi tiếng đẹp. Bây giờ y tỏ vẻ thất vọng và bực tức, coi thật buồn cười. Khi đã nuốt trôi được ghê tởm và thấy lại tinh thần hài hước y đề nghị với tôi leo lên nóc để chạy nhảy trên các tượng đá và cây mọc trên ấy. Chúng tôi cũng được thỏa mãn không đến nỗi bực bội khi nhận thấy hàng trăm pho tượng ở gác chuông phần nhiều nhận kĩ thì thấy là thứ làm ra từng loạt và thuộc loại rất thô sơ, đó là những pho tượng mới nhất, mà có lẽ toàn thể các tượng đều như vậy. Chúng tôi đứng gần hai giờ trên sân đá cẩm thạch dốc, mặt trời tháng tư chiếu xuống đã hơi hơi nóng: Ở đấy Richard bình tĩnh thú nhận với tôi: “Anh biết không, thực ra tôi không thấy có gì là thất lợi nếu rồi đây còn gặp những thất vọng khác ngoài cái thánh đường kì cục này. Trong khi đi đường tôi hơi bứt rứt khi nghĩ đến những di tích huy hoàng sắp viếng thăm có thể làm cho chúng tôi hoa mắt. Thế mà cuộc phiêu lưu bắt đầu một cách kháu khỉnh và khôi hài như vậy!” Sau đấy, thế giới tượng đá hỗn loạn bao quanh chúng tôi gợi lên đủ mọi ý nghĩ kì quặc; y nói: “Tôi giả thiết rằng cái gác chuông ở trên cao kia, ngọn tháp cao hơn hết, hẳn là chỗ của vị thánh đồ cao nhất và tôn nghiêm nhất. Nhưng chắc hẳn lấy gân mà đứng cho thăng bằng mãi như tài tử bằng đá đi trên dây thép thì cũng mệt cho nên vị thánh bự nhất đã được thay thế và lên chầu thiên hoàng. Anh thử tưởng tượng xem thiên hạ vận động ngược xuôi như thế nào! Vì các vị thánh khác đều lên một trật tự đúng theo cấp bậc phẩm trật và ai nấy đều phải nhảy một bước lớn lên trật của người đi trước mình cho cho thật nhanh, vì họ ghen với kẻ đi trước mình đã từ lâu.”

Từ đấy, mỗi lần đi qua Milan, tôi lại nghĩ đến buổi chiều ấy và mỉm cười buồn tưởng tượng ra hàng trăm ông Thánh đá cẩm thạch đang co chân nhảy thốc lên bậc trên.

Đến thành Gênes, lòng tôi giàu thêm một mối tình. Trưa hôm ấy trời sáng sủa, gió hây hây. Tay tôi đặt lên một thành đá rộng, đằng sau tôi là thành Gênes với muôn màu sắc; phía dưới nước biển xanh ào ào cuộn sóng. Biển! Trong sự náo động ầm ỹ, vô cùng và vĩnh cửu đổ xô đến tôi với sức mạnh của một ước vọng không người biết đến, tôi cảm thấy trong tôi có cái gì kết giao với làn sóng bạc bằng một tình bạn sống chết có nhau.

Chân trời to rộng ngoài biển cả cũng chiếm cứ người tôi mãnh liệt. Cũng như ngày thơ ấu tôi nhìn thấy xa khơi mịt mù mở ra trước mắt tôi như cửa ngỏ lên trời xanh thăm thẳm. Lại một lần nữa, một mối tâm tình xâm chiếm người tôi: tôi có cảm tưởng như số mệnh tôi không phải để sống luôn luôn giữa gia đình loài người nơi thành thị, nhưng để lang thang đến đất xa lạ và lênh đênh trên mặt biển. Tôi lại thấy xuất hiện nhu cầu mờ mịt nép mình và trái tim Thượng Đế, hòa đồng kiếp sống mong manh với vĩnh cửu và vô cùng, lòng tôi buồn rười rượi.

Đến Rapalls, lần thứ nhất tôi chống cự với sóng biển, nếm mùi vị nước mặn và thử thách mãnh lực của làn sóng. Ngọn sóng xanh lam và trong suốt bao vây tôi giữa những tảng đá vàng nâu bờ biển, dưới trời xanh thăm thẳm trên cao. Trông thấy tàu bè chạy ngoài xa, cột đen buồm trắng, hay thấy luồng khói một chiếc tàu chạy ra khơi lòng tôi lại thêm một niềm xúc động. Ngoại trừ mây là vật thân yêu của tôi, tôi không biết có hình ảnh nào của hoài vọng và viễn vọng trần gian đẹp đẽ và sâu xa hơn cơn tàu biển tiến đến nơi xa lạ, vút đi nhỏ dần rồi biến và chân trời mở rộng.

Rồi chúng tôi đi đến Florence. Thành phố đã hiện ra trước mặt đúng như tôi đã biết qua tranh ảnh và giấc mơ - sáng lạn, rộng rãi, như lời khuyên mời du khách, một dòng sông xanh chảy dưới chân cầu, một dãy đồi bao bọc xung quanh. Tháp Palazzo Vecchio đứng sừng sững, chọc thủng trời xanh, tháp Fiesole xinh đẹp đứng trên ngọn đồi, sáng chói dưới ánh nắng gay gắt, ngọn núi nào cũng khoe màu trắng và hồng dưới lớp cây đang mùa khai hoa. Đời sống miền Toscane cơ chỉ và vui vẻ xuất hiện trước mặt tôi trong sắc thái hồn nhiên của nó như một phép lạ, chẳng bao lâu tôi có cảm tưởng như sống ở nhà, sống thoải mái hơn cả ở xứ tôi. Ngày ngày tôi thơ thẩn ở các giáo đường, các công trường, trong các thành phố nhỏ, các khu chợ; đến tối đi lượn quanh các khu vườn chanh triền núi, quả đã bắt đầu chín, hay bước vào những quán nhỏ bán rượu nho vùng Chianti để nhậu nhẹt và tán dóc. Cũng còn những giờ đầy hạnh phúc trong phòng triển lãm, trong nhà tu, thư viện, những buổi chiều đi thăm Fiesole, San Miniato, Settignano, Prato.

Chúng tôi đã đồng ý là trước khi rời khỏi nơi này tôi để Richard ở lại đây một tuần, một mình tôi thực hiện cuộc hành hương cao đẹp và thú vị nhất tuổi trẻ qua những đồi phì nhiêu trù phú nhất ở miền Ombrie. Tôi đi theo lốt chân của Saint Fraçois d'Assise và cảm thấy như ông đi bên cạnh hàng giờ, tâm hồn tràn đầy tình thương thâm sâu cất tiếng chào vui vẻ và nhân từ từng con chim, từng ngọn suối, từng bụi cây tầm xuân. Trên triền đồi chói chang ánh nắng tôi hái chanh ăn, tối đến vào làng ngủ; tim tôi ca hát và làm thơ, đến lễ Pâques tôi vào lễ nhà thờ thánh d'Assise của tôi.

Tôi vẫn có cảm tưởng rằng tám ngày hành hương qua vùng Ombrie là những ngày kết thúc, là buổi hoàng hôn ửng hồng của quãng đời non trẻ. Không có ngày nào là không có nguồn suối trong mới tuôn ra trong tâm hồn tôi, hai mắt tôi chăm chăm ngó vẻ xuân sắc của phong cảnh tươi sáng ấy như ngó tận mắt ông trời.

Ở Ombrie tôi đã kính cẩn theo gót chân Saint François; đến Florence, tôi lại mơ màng thích thú nhớ lại đời sống Quattrocento. Tôi đã viết về những hình thức đời sống hiện đại. Đến Florence tôi mới nhận thấy lần thứ nhất rằng văn hóa ngày nay của chúng ta chứa tất cả cái gì là lố lăng và dơ bẩn. Chính ở đấy mà tôi có cảm tưởng rằng tôi sẽ mãi mãi là người xa lạ bỡ ngỡ trong xã hội ngày nay, ở đấy đã chớm nở ý muốn sau này sống ở ngoài xã hội của tôi để đến một nơi về phương nam nếu có thể được. Ở Florence, tôi thân cận với mọi người rất dễ dàng, trên mỗi bước đường tôi vui vẻ mà thấy người ta sống hồn nhiên không chút giả tạo, người ta sống trong nền nếp cổ truyền văn hóa và lịch sử, nền nếp ấy thanh lọc và nâng cao phẩm giá con người.

Những tuần lễ đầy tươi sáng thú vui và hạnh phúc bay đi; Richard cũng tràn đầy hứng khởi mà tôi chưa từng thấy. Chúng tôi uống cạn chén đời tươi đẹp và say sưa trong thú vui tràn bờ. Chúng tôi đến những nơi khuất nẻo trên đồi, chúng tôi kết thân với chủ quán, thầy tu, nông dân, cha xứ, người nào cũng đầy hân hoan; chúng tôi nghe những bản nhạc hồn nhiên, đem bánh và trái cây cho trẻ em, leo lên núi cao trông xuống miền Toscane rực rỡ dưới trời xuân, xa xa là biển Bắc Ý. Cả hai chúng tôi đều có cảm tưởng sâu xa là đáng được hưởng hạnh phúc và đang đi tìm một đời sống mới mẻ, phong phú. Cần lao, tranh đấu, khoái lạc và danh vọng ở trước mặt kia, chói lọi và chắc chắn, chúng tôi cứ việc nhẩn nha hái hoa tình của những ngày sung sướng. Sau này phải chia tay thì cũng là thường tình và nhất thời vì chúng tôi biết chắc rằng chúng tôi cần có nhau, chúng tôi có thể tin nhau suốt đời.

Tuổi thanh niên của tôi là như vậy. Khi nghĩ đến quãng đời ấy tôi thấy nó ngắn ngủi như một đêm hè. Một chút âm nhạc, một sinh hoạt tinh thần, một chút ái tình, một chút khoe khoang - nhưng thật là đẹp đẽ, phong phú và màu sắc như một buổi hội Eleusis thời Cổ Hy lạp.

Và tất cả đã vội tắt ngấm một cách đáng tiếc như ngọn đèn trước gió.

Đến Zurich, Richard từ biệt tôi. Hai lần y đã lên xe còn trở xuống hôn tôi, tàu đã chuyển bánh y còn thò ra cửa tỏ dấu trìu mến.

Mười lăm ngày sau, y chết đuối ở phía nam nước Đức khi tắm trong một con sông nhỏ. Tôi không được thấy mặt y nữa, khi chôn cất y tôi cũng không có đấy, mấy ngày sau người ta mới cho tôi biết, bấy giờ y đã nằm trong săng chôn chặt dưới đất. Tôi nằm sóng sượt ra đất than trời trách đất với những tiếng bi ai và thô lỗ; tôi khóc, tôi mặc sức cơn phẫn nộ bùng ra. Từ trước đến nay tôi chưa biết rằng trong mấy năm ấy tôi chỉ có tình bạn là vững vàng quý giá. Bây giờ còn đâu!

Không thể ở tỉnh này lâu nữa, hàng ngày biết bao kỷ niệm vấn vít lấy cõi lòng và bóp nghẹt hơi thở. Bây giờ thì cái gì xảy đến tôi cũng dửng dưng. Tâm hồn tôi đã bị xúc phạm xấu xa, tôi ghê tởm cả cuộc sống. Lúc này hầu như tâm hồn tôi đã tan vỡ khó lòng lấy lại hơi sức và giương buồm tới miền hạnh phúc đắng cay của thời kỳ đứng bóng. Trời đã muốn tôi hy sinh phần tốt đẹp nhất của tôi cho tình bạn trong sạch và vui tươi. Như hai con thuyền lướt nhẹ, chúng tôi cùng tiến bước, thuyền của Richard rất xuất sắc, nhanh nhẹn, đáng mến, tôi đã chú trọng đến thuyền của y, tôi chắc chắn rằng y sẽ dắt díu tôi đến những chân trời rực rỡ. Bây giờ thuyền y đã đắm rồi còn tôi chới với giữa giòng, mặt nước bỗng dưng tối tăm. Giờ đến lượt tôi lèo lái, tranh đấu và thăm dò một ngả khác để chinh phục đỉnh cao của đời sống. Tôi đã tin tưởng tình bạn, ái tình và tuổi trẻ. Bây giờ chúng lần lượt bỏ tôi, tại sao tôi không tin tưởng ông trời và gửi vận mệnh mình vào tay gang thép của ông. Nhưng suốt đời tôi vẫn do dự và cứng đầu như một đứa trẻ, và tôi vẫn chờ đợi một đời sống thực sự, làm như nó ầm ầm kéo đến như cơn bão, ôm chầm lấy tôi khiến tôi trở nên tinh khôn và giàu có, cõng tôi trên hai cánh rộng lớn của nó đưa đến hạnh phúc tuyệt vời.

Nhưng cuộc đời cũng khôn ngoan và cần kiệm lắm không chịu khai khẩu, mặc xác tôi chới với giữa dòng. Nó chẳng đem lại bão tố hay sao sáng nó đợi tôi trở lại khiêm nhường và kiên nhẫn, đợi cho sự phách lối, sự phản loạn của tôi phải gẫy vụn. Nó mặc kệ cho tôi đóng tấn kịch kiêu căng và làm ra bộ láu lỉnh, nó đợi đứa con thất lạc trở về với mẹ.

Năm xuất bản: 1968 Số trang: 203 Giá tiền: -- Khổ: 13x19 cm Đánh máy: Minh Huy, Bùi Trang, Lê Trang, Vân Anh Kiểm tra: Hannah Lê Chế bản ebook: Hannah Lê Ngày thực hiện: 6/6/2010 Making Ebook Project #44 – www.BookaholicClub.com
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.