Tuổi Trẻ Cô Đơn

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

5

Đây là một giai đoạn đời tôi có bề ngoài náo nhiệt và nhiều sắc thái hơn giai đoạn trước, có thể làm đầu đề cho một thiên tiểu thuyết nhỏ rất hợp thời. Đáng lẽ tôi phải kể lại trong trường hợp nào tôi được chọn làm biên tập viên của một tờ báo Đức, tôi đã cầm ngòi bút và uốn ba tấc lưỡi quá tự do như thế nào để đến nỗi xảy ra kiện cáo và chê trách. Ngoài ra, tôi khét tiếng là bợm rượu như thế nào, sau cùng, vì những cuộc tranh luận ác độc, tôi phải từ chức và sang Ba Lê làm phóng viên như thế nào. Trong cái hang ấy tôi sống qua ngày như người Bô Hêm thế nào, và trên mọi lãnh vực tôi đã thấy đủ mọi màu sắc như thế nào.

Không phải vì hèn nhát mà tôi không nói đến giai đoạn ngắn ngủi đời tôi này để mất lòng những người thích nghe chuyện tục tĩu trong số bạn đọc. Tôi công nhận là tôi đã đi vào hết ngõ ngách dơ bẩn khác; tôi làm quen với đủ mọi thứ trụy lạc và tôi sa lầy trong ấy. Tôi mất cả ý thích thơ mộng của đời sống phóng đãng, các bạn cho phép tôi chỉ nói cái gì sạch sẽ tốt lành trong đời tôi và coi thời gian đã qua như qua hẳn không bao giờ trở lại, không bao giờ nói đến nữa.

Vả chăng Ba Lê là một nơi ghê tởm: nghệ thuật, chánh trị, văn chương, chuyện đàn bà nhảm nhí - nghệ sĩ, văn nhân, chánh khách và đàn bà xấu xa, thế thôi chẳng có gì khác. Nghệ sĩ cũng khoe khoang và hợm hĩnh như chánh khách, văn nhân còn khoe khoang và hợm hĩnh hơn, người khoe khoang và hợm hĩnh nhất hẳn là đàn bà.

Một buổi tối ở Bois de Boulogne, tự hỏi nên từ giã Ba Lê hay từ giã ngay cả cuộc đời lại hơn. Rồi tôi nghĩ đến việc kiếm điểm lại cả cuộc đời mình, đã lâu tôi không làm việc học ôn ấy, tôi tính rằng mình chẳng mất mát cái gì quan trọng.

Nhưng bất thần hiện lên sáng sủa dị thường kỷ niệm một ngày đã xa xưa, đã quên lãng - một buổi bình minh mùa hạ ở nhà tôi trên núi; tôi quỳ gối gần một cái giường; trên giường mẹ tôi đang hấp hối.

Tôi giật mình lấy làm xấu hổ rằng đã lâu nay không nghĩ đến buổi sáng ấy. Ý muốn tự vẫn đớn hèn biến mất. Bởi vì tôi cho rằng không có người đứng đắn nào đã trông thấy một người tinh khiết và đôn hậu tắt nghỉ lại dám cả gan tự kết liễu đời sống của mình. Trừ khi họ mất hẳn con đường chánh đạo. Tôi thấy lại mẹ hấp hối. Tôi thấy trên mặt mẹ tôi bàn tay lặng lẽ và nghiêm khắc của tử thần làm cho mẹ tôi trở nên cao đẹp. Tử thần có vẻ ác nghiệt nhưng cũng quyền uy và nhân từ, như một người mẹ cẩn thận đưa về nhà một đứa con chết đuối.

Bất thần, tôi lại hiểu rằng cái chết là người anh em tử tế và hiền triết của chúng ta; nó biết khi nào giờ của chúng ta đã điểm, chúng ta phải tin tưởng nó. Tôi cũng bắt đầu hiểu rằng đau khổ, thất vọng và ý nghĩ đen tối không có trách vụ làm cho chúng ta cay chua, làm cho chúng ta mất phẩm giá và danh dự, nhưng làm cho chúng ta chín chắn và cao khiết.

Tám ngày sau tôi gửi hành lý về Ba Lê rồi đi bộ một phần lớn niềm nam nước Pháp, kỷ niệm ngày sống ở Ba Lê còn dõi theo với không khí nồng nặc của nó, nhưng rồi mỗi ngày mỗi phai mờ và tan biến như sương mù. Tôi dự một phiên huấn luyện ái tình, tôi ngủ đêm trong lầu các, cối xay, vựa thóc, tôi uống rượu nho với những chàng trai cởi mở, rượu của họ làm ra đem khí mặt trời ấm áp vào tâm hồn ta.

Hai tháng sau tôi tới Ba Lê, quần áo tơi tả, người gầy nhom, đen sạm, tâm hồn thay đổi hẳn. Lần thứ nhất tôi đi bộ xa như vậy, đây chỉ là chặng thứ nhất, sau này tôi còn đi nhiều. Từ Lacano đến Vérone, từ Bâle đến Brigue, từ Florence đến Pérouse, ít có thị trấn nào mà tôi không qua lại đôi ba lượt, theo đuổi những mơ mộng mà chưa có một điểm nào thực hiện được.

Đến Bâle tôi thuê một căn phòng ở ngoại ô, lấy đồ dùng ra và bắt đầu làm việc. Tôi sung sướng sống ở một tỉnh yên tĩnh không ai biết tôi cả, sự liên lạc với vài tờ báo và tập san vẫn còn, tôi không thiếu gì việc làm và sống không đến nỗi thiếu thốn. Mấy tuần lễ đầu yên lành bình thản, rồi sự u buồn lại đến, dai dẳng hàng ngày, hàng tuần làm việc cũng không khuây được. Biết mô tả nó thế nào? Tôi có cảm tưởng mình lẻ loi ghê gớm. Giữa tôi và mọi người, giữa tôi và đời sống thành thị với nhà cửa, phố xá, luôn luôn có một vực thẳm. Một thiên tai xảy ra những biến cố tường thuật trên mặt báo đều không có nghĩa gì đối với tôi. Người ta hội hè đình đám, người ta làm ma chay, người ta ký kết công ăn việc làm với nhau, người ta đàn hát - Để làm gì? Tại sao? Tôi trốn tránh về thôn quê, tôi đi lang thang vào rừng, lên núi, xuống đồng; xung quanh tôi cô tịch, nhưng không một tiếng than van, đồng cỏ, ruộng nương đều câm lặng, chúng giương mắt van lơn nhìn tôi như muốn nói câu gì, như muốn đến với tôi. Nhưng chúng đứng trơ ra đó không nói nên lời; tôi hiểu nỗi khổ đau ấy và tôi chia sẻ với chúng vì tôi không thể thoát ly chúng được.

Tôi đi khám bác sĩ, kể bệnh thật tỉ mỉ, cố gắng mô tả bệnh của tôi.

Ông ta xem, hỏi han, chẩn mạch.

- Ông có sức khoẻ dồi dào nhiều người phải thèm, tôi mừng cho ông, như vậy thể chất của ông tốt lắm. Ông hãy thử giải buồn bằng âm nhạc hay đọc sách.

- Trong nghề của tôi, mỗi ngày tôi đọc rất nhiều tin mới lạ.

- Dù sao thì ông cũng phải cố gắng vận động ngoài trời chút ít.

- Mỗi ngày tôi đi bộ từ ba đến bốn giờ, khi nghỉ hè tôi đi gấp đôi.

- Thế thì ông buộc lòng phải giao du với mọi người. Điều nguy hiểm cho ông là ông có thể trở thành người ghét xã hội.

- Như thế thì có làm sao?

- Quan trọng lắm chứ. Lúc này ông càng ghê tởm xã hội bao nhiêu, ông càng phải ráng tiếp xúc với xã hội bấy nhiêu. Tình trạng của ông chưa hẳn là bệnh và không có gì là trầm trọng; nhưng nếu ông cứ thụ động như thế ắt là ông sẽ mất quân bình.

Viên y sĩ là một người hiểu biết và tử tế. Ông ái ngại cho tôi. Ông giới thiệu tôi với một nhà văn thường hội họp tại nhà rất nhiều người, những buổi họp ấy có ít nhiều hoạt động trí thức văn học. Tôi đến. Người ta biết vì đã nghe danh tôi; người ta tỏ ra nhã nhặn gần như thân hữu. Tôi trở lại đấy luôn. Một buổi tối lạnh lẽo quý thu, tôi ở đấy, trong phòng có một sử gia trẻ tuổi và một thiếu nữ người bé nhỏ tóc nâu, ngoài ra không có người nào nữa. Cô gái pha trà, nói rất nhiều và chọc tức chàng sử gia. Rồi cô ngồi đánh dương cầm. Đến sau cô cho tôi biết là cô đã đọc sách trào phúng của tôi nhưng không thấy thích thú. Cô có vẻ thông minh, thông minh quá nữa, chẳng bao lâu tôi bỏ về.

Trong thời gian ấy, dần dần người ta khám phá ra tôi năng lui tới tửu quán, mà thực ra tôi là một bợm rượu. Tôi không lấy làm lạ vì những chuyện ngồi lê đôi mách rất thịnh hành trong giới văn học đàn ông cũng như đàn bà. Sự khám phá nhục nhã cho tôi như vậy không ảnh hưởng gì đến sự giao du của tôi; trái lại người ta chiếu cố đến tôi nhiều hơn vì ở đây người ta sính điều độ; các ông bà ấy là nhân viên ban chấp hành một hội bài trừ nghiện rượu, họ khoan khoái mỗi khi tóm được một tên phạm tội rượu chè. Một ngày kia họ tung ra đợt công kích đầu tiên trong vòng lễ độ. Người ta yêu cầu tôi suy ngẫm về sự tủi hổ bê tha nơi quán rượu, về cái hại của rượu chè, tôi phải đứng về phương diện y tế, xã hội và đạo đức để tự vấn tâm. Người ta cũng mời tôi dự một ngày hội của liên minh bài trừ nghiện rượu. Tôi ngạc nhiên vô cùng, vì đến nay tôi chỉ nghe nói qua loa những hội, những đoàn thể như thế. Buổi lễ có ấm nhạc giúp vui và nhuốm màu sắc tôn giáo có vẻ khôi hài nặng mùi, cảm tưởng của tôi, tôi chẳng cần giữ bí mật. Trong mấy tuần liền người ta tìm cách khuyến dụ tôi ngọt ngào lộ liễu, câu chuyện trở nên bực bội vào một tối nọ người ta nhắc lại bản ca cũ rích và nóng lòng mong mỏi tôi cải quá, tôi nổi nóng lớn tiếng yêu cầu họ chấm dứt những trò con nít ấy. Người con gái có mặt ở đấy chú ý nghe tôi rồi la lớn: “Can đảm quá!” nhưng tôi tức giận quá không để ý.

Tôi thấy thích thú khi xem một trò khôi hài kháu khỉnh xảy ra trong một cuộc biểu diễn của mấy chiến sĩ nhịn rượu. Cái hội lớn đó thết tiệc tại trụ sở mời rất nhiều người dự. Họ đọc diễn văn, họ làm thân với bạn bè, họ hát hỏng và nêu thành tích của việc làm ý nghĩa. Một công nhân được mướn để vác cờ, anh này thấy bài diễn văn dài quá vì không có rượu, anh ta chuồn ra một tửu quán gần đấy, khi đoàn thể long trọng diễu hành qua các phố, phàm nhân được dịp chứng khiến một cảnh tượng thích thú: trước đoàn người lớn tiếng bài trừ rượu, ngất ngưởng một đệ tử lưu linh chân nam đá chân xiêu, tay cầm một lá cờ “Lam Thập Tự” như cột buồm một con tàu sắp chìm.

Chàng nghiện rượu biến mất, nhưng cái mà người ta không dẹp đi là những sự khoe khoang nặng tính chất trần tục quá, những sự ghen ghét và mưu đồ ti tiện xảy ra giữa các nhóm, các ban tranh giành nhau, mỗi ngày nảy nở mỗi nhiều, mỗi thêm thú vị. Phong trào phân chia ra làm nhiều phe phái, vài người háo danh muốn hưởng danh vọng một mình, họ bất bình nếu có người nào bỏ được rượu mà không phải họ có công dìu dắt. Người ta lợi dụng trắng trợn những người hằng tâm cộng tác không vụ lợi, mà số người này không thiếu. Những người có vị trí thuận tiện để quan sát chẳng bao lâu có dịp nhận thấy rằng dưới chiêu bài lý tưởng này cũng len vào bao nhiêu sự dơ bẩn của con người, mùi tanh hôi bốc lên thấu trời. Nhiều người ngoài cuộc kể cho tôi nghe những tấn hài kịch nho nhỏ ấy, tôi khoái chí một cách kín đáo và đến đêm đi uống rượu đã mới về, tôi tự nhủ: Đã thấy chưa, phàm nhân cái tóc cái tội chúng tôi, chúng tôi cũng còn hơn thế nhiều!

Trong căn phòng nhỏ bé của tôi, đứng trên cao thấy sông Rhin và chân trời xa, mịt mù của vùng sông ấy, tôi học hành và suy nghĩ rất nhiều. Tôi thất vọng vì dòng đời đã tách khỏi tôi, đã gạt tôi ra bên mà không có ngọn sóng mãnh liệt nào kéo tôi đi chỗ khác, không có một sức thu hút mãnh liệt nào, một sự thúc đẩy cấp thiết nào khơi động nhiệt tình và kéo tôi ra khỏi cơn mơ mộng bần thần. Ngoài công việc làm để sinh nhai, tôi còn dự thảo một cuốn sách nhưng đấy không phải là sáng tác, mới chỉ là công việc thường xuyên của người sưu tầm không thoả mãn được ý muốn gắt gao của tôi. Thu thập những ký ức ở Zurich, Berlin, Paris, tôi tìm cách rút ra cái gì là ước vọng chính yếu, say mê và lý tưởng của con người suy tưởng đồng thời với tôi. Người này cố gắng xoá bỏ bàn ghế, màn mùng, thói tục hiện có để làm cho người đời quen với một khung cảnh sống tự do hơn, tốt đẹp hơn. Người khác cố gắng phổ biến quan niệm triết lý nhất nguyên của Haeckel bằng loại văn phổ thông và những buổi nói chuyện. Nhóm người khác nữa cho rằng họ đã cố gắng thích đáng để lập nền hoà bình vĩnh viễn. Lại có người tranh đấu cho giai cấp nghèo khổ bị bạc đãi, họ lập sổ quyên và diễn thuyết để lấy tiền xây cất rạp hát và thư viện cho bình dân. Còn ở đây, thành Bâle, người ta tranh đấu để bài trừ rượu.

Trong những sự cố gắng ấy người ta đều tỏ ra thành khẩn và hoạt động; nhưng đối với tôi không có người nào là quan trọng, là cần thiết, và nếu hôm nay tất cả những mục tiêu ấy đều đạt được chúng cũng chẳng ảnh hưởng gì đến tôi, đến đời tôi. Tôi thất vọng ngồi phịch xuống ghế, gạt cả sách vở, bản thân đi và suy nghĩ, suy nghĩ hoài. Bấy giờ tôi nghe tiếng sông Rhin chảy dưới cửa sổ, tiếng gió gào thét, tôi xúc động lắng tai nghe tiếng nói chứa chan nhớ nhung và u buồn. Tôi trông mây mờ ban đêm bay từng đám lớn trên trời như đàn chim sợ hãi, tôi nghe tiếng sông Rhin chảy theo dòng rồi nghĩ đến mẹ tôi, đến Saint François, đến quê hương khuất nẻo trong núi tuyết, và Richard nay đã xanh mồ. Tôi lại thấy mình bơi thuyền trong đêm với Aglietti, thấy mình thất vọng vì bạn chết, đi xa trở về, khuây khoả và trở lại nghèo túng. Để làm gì? Tại sao? Trời! Tất cả những biến cố ấy chỉ là trò chơi, là ngẫu nhiên, là tấm hình màu chăng? Tôi có tranh đấu và đau khổ vò xé cho đời sống tinh thần, cho tình bạn, cho chân thiện mỹ, cho tình yêu không? Ham muốn và tình yêu còn tiếp tục luân lưu trong người tôi với sức mạnh như gió bão chăng? Và tất cả những cái đó chỉ là phù phiếm, chỉ để vò xé riêng tôi chẳng đem lại thú vui cho ai ư?

Lúc ấy tôi đã đủ già dặn để lui tới tửu quán. Tôi tắt đèn, sờ soạng bước xuống cầu thang xoáy trôn ốc và ló mặt vào một tiệm cà phê bán rượu nho Valteline hay tiệm rượu bán thứ vang Vaudois. Ở đấy tôi được tiếp đãi lịch sự như người khách đứng đắn tuy rằng thường nhật tôi cáu kỉnh và nếu gặp dịp tôi cũng thô bỉ. Tôi đọc tờ Simplicissimus và không khỏi bực mình, tôi uống rượu và đợi nó an ủi tôi. Trong lúc êm ái ấy thần lưu linh đưa tay mềm mại như tay đàn bà ra vỗ về tôi, làm cho chân tay tôi bủn rủn, đưa linh hồn lạc lõng của tôi đến xứ mộng đẹp.

Tôi phải kinh ngạc rằng tôi đã đối xử với mọi người một cách cau có gắt gỏng như thế, tôi đã lấy làm mát ruột mà ngược đãi họ như thế. Trong các hàng cơm có mặt tôi, hầu bàn sợ tôi và nguyền rủa tôi là một thằng cục súc, quạu quọ, bao giờ cũng tìm được cớ để bắt bẻ. Nói chuyện với khách ăn thì tôi thô lỗ và báng bổ họ, dĩ nhiên họ tìm cách trả đũa tôi. Tuy nhiên trong số những khách ăn quen cũng có một số ít người - rất ít - đã có tuổi và uống rượu thùng bất chỉ thình. Thỉnh thoảng tôi ngồi giết thời giờ với họ, sự giao du với họ cũng được khả quan. Trong số ấy có một ông già lỗ mãng làm nghề thợ vẽ, một người ghét đàn bà, một lão gắt gỏng bợm nhậu có môn bài hạng nhất. Tối nào tôi gặp y một mình ở quán là y như có cuộc so ly rất cam go. Mở màn chúng tôi tán dóc, pha trò, tráng miệng bằng một chầu rượu nho đỏ, rồi dần dần nổi hứng, chúng tôi ngồi yên lặng trước mặt nhau không cần chuyện trò gì nữa, chúng tôi như hai đống thịt chất lù lù, nốc hết hàng chai. Tửu lượng của chúng tôi ngang nhau, chúng tôi cùng rót đầy ly một lượt, cùng liếc mắt ngó nhau ranh mãnh như thử xem ai hơn ai kém. Đến mùa có rượu mới vào cuối thu chúng tôi cùng đi qua các làng trồng nho, đến một tửu quán ở đấy lão ma bùn kể chuyện cuộc đời của lão. Tôi cho rằng chuyện của lão lý thú chứ không nhàm chán, nhưng đáng tiếc rằng tôi quên hết. Chỉ nhớ y nói đến một tiệc rượu của y vào lúc tuổi khá cao. Chuyện xảy ra trong một ngày hội ở làng. Nhân danh khách người ta mời y ngồi với các thân hào. Chẳng mấy lúc y làm cho cả ông tiên chỉ lẫn ông mục sư say mèm. Ông mục sư phải đứng dậy nói vài lời cảm ơn quan khách. Khi người ta dìu ông lên diễn đàn ông nói nhiều câu lỗ mãng quá làm người ta phải kéo ông xuống. Đến lượt ông tiên chỉ hăng hái bước lên. Ông ứng khẩu nói dõng dạc, nhưng hoa chân múa tay quá nên ông mệt, phần kết cấu của ông không đến nỗi tầm thường nhưng chẳng có gì là điêu luyện. Sau này tôi muốn lão kể tiếp câu chuyện và cho biết nhiều chuyện nữa. Nhưng đến một bữa thi bắn kia, chúng tôi bất bình nhau một cách đáng tiếc, chúng tôi nắm râu nhau mà kéo rồi từ đấy giận nhau. Từ đấy thỉnh thoảng chúng tôi cũng gặp nhau trong một tửu quán nhưng chỉ còn là thù nghịch nhau, mỗi người ngồi riêng một bàn. Vì thói quen đã lâu ngày, chúng tôi lẳng lặng ngó nhau, uống với tốc độ ngang nhau, cùng ở lại rất lâu khi khách đã về hết, mãi đến lúc người ta phải mời ra để đóng cửa. Không bao giờ chúng tôi giải hoà với nhau.

Nghĩ mãi về nguyên nhân chán nản và không thích ứng được với cuộc đời chỉ là vô ích và mệt người. Tôi không hề có cảm tưởng là người tôi hết sinh lực hay rỗng tuếch, trái lại tôi thấy mình tràn đầy sức lực tiềm tàng và tính rằng đến lúc thuận lợi sẽ còn có thể sáng tác được một văn phẩm giá trị, ít ra hái được một chút hạnh phúc của cuộc đời cay nghiệt. Nhưng giờ phút thuận lợi có đến không? Tôi đau lòng mà nghĩ đến những người cấu tạo hoàn toàn bằng dây thần kinh, họ dùng cả ngàn thứ kích thích nhân tạo để làm nghệ thuật, trong khi ấy thì trong người tôi sinh khí hùng hậu chưa dùng đến còn để mụ mị không trau dồi. Và tôi lại bới óc ra tìm xem con quỷ nào đã làm tê liệt linh hồn tôi mỗi ngày mỗi nặng thêm trong khi thể xác tôi tràn đầy sức lực. Ngoài ra tôi còn hợm hĩnh tự cho mình là một người khác tục, không ai bênh vực, không ai biết đến, không ai hiểu thấu và chia sẻ bớt nỗi đau đớn. Trong sự chán ngán có điều này thật là quái gở, không những nó làm mình ốm đau mà còn làm mình tự cao tự đại, làm mình cận thị, gần như kiêu căng. Người ta tưởng mình là chàng Atlats khiếm nhã mà Heine đã nói đến, chàng ta cho rằng mình đã nắm được tất cả bí mật và đau khổ ở đời, chàng ta cho rằng cả ngàn người khác không có những đau khổ ấy và không gặp những nỗi vấn vương ngoắt ngoéo ấy. Và trong nỗi cô đơn xa quê hương, tôi cũng quên hẳn rằng tính tốt tật xấu và điểm riêng biệt của tôi không phải là cái gì hay cho tôi và cho họ Camenzind - nói là một sự bất hạnh thì hơn.

Vài tuần lễ sau tôi trở lại nhà người trí thức đã tiếp đãi tôi nồng hậu. Dần dần tôi làm quen với gần hết những người lui tới nhà ấy. Phần nhiều là những người trong giới đại học còn trẻ, rất nhiều người Đức thuộc đủ mọi phân khoa, ngoài ra còn vài hoạ sĩ, nhạc sĩ, và vài trưởng giả và vợ con của họ. Tôi thường ngạc nhiên khi để ý thấy họ đối đãi với tôi như một thượng khách. Tôi biết rằng mỗi tuần họ gặp nhau không biết bao nhiêu lần. Không biết họ nói gì với nhau và làm gì với nhau? Phần nhiều họ có một thái độ rập theo khuôn mẫu homo socialis, người nào cũng như người nào đều có tinh thần thoả hiệp với đời sống xã hội mà chỉ riêng tôi không có. Trong số ấy có nhiều người rất phong nhã, đời sống chỉ có khách khứa với tiếp rước không làm cho họ mất cá tính hồn nhiên và nghị lực. Có những người mà tôi có thể nói chuyện lâu, rất thích thú. Nhưng tôi không thể lăng xăng chạy chỗ này chỗ kia, đứng vài phút trước mặt họ, khen tặng các bà vài câu xã giao, chú ý vào một tách trà, vài câu đối đáp và một bản nhạc, làm như chú trọng và thích thú với tất cả những sự nhàm chán ấy. Nói đến văn chương nghệ thuật thật là khổ tâm cho tôi vô cùng. Tôi nhận thấy rằng trong những lĩnh vực ấy người ta suy nghĩ thì ít, nói dóc thì nhiều, phần nhiều chỉ là nói không ăn thua đâu vào đâu. Nếu làm như vậy, tôi cũng phải bắt chước mọi người mà nói trí nói trá nhưng chẳng thích thú gì, thật là những chuyện vẩn vơ ấy vô ích, nhàm chán và hạ phẩm giá con người. Chẳng thà nghe một người đàn bà nói chuyện với con cái hay để tôi kể những chuyến du lịch của tôi, hay nói chuyện vặt hàng ngày, chuyện gì liên hệ đến đời sống thực tiễn. Những lúc ấy có khi tôi cởi mở và gần như vui vẻ. Nhưng phần nhiều, sau những buổi họp như thế tôi vẫn phải đến một tiệm cà phê uống vài hớp rượu nho Valteline để tiêu tan sự buồn bực ghê tởm hay dư vị đắng khô còn ứ trong cổ họng.

Trong một buổi họp tôi gặp lại người thiếu nữ tóc đen. Tối hôm ấy có một đám đông người chơi âm nhạc và làm om sòm như thường lệ, tôi ngồi ở một góc phòng xem tập ảnh dưới ánh sáng một ngọn đèn. Đó là những bức họa xứ Toscane, không phải ảnh chụp những bức họa tầm thường người ta đã thấy cả ngàn lần, nhưng là những họa phẩm của họa sĩ tài tử, phần nhiều của bạn hữu ông chủ nhà. Tôi vừa tìm thấy bức họa một căn nhà xây bằng đá, cửa sổ hẹp, nằm trong một thung lũng hẻo lánh miền nam San Clemente, tôi nhận ra vì tôi đã đi qua đấy nhiều lần. Thung lũng này ở gần Fiesole, nhưng du khách không đến thăm bao giờ vì không có gì là đồ cổ. Đó là một thung lũng đất cằn cỗi ít người ở, nhưng đẹp lạ lùng, thung lũng xen vào giữa những trái núi cao, trơ trụi và hiểm trở, một nơi cách biệt với đời sống, tịch mạc và trinh nguyên.

Thiếu nữ đến gần, nhìn qua vai tôi.

- Sao ông ngồi một mình như vậy, ông Camenzind?

Cô ta làm tôi khó chịu. Tôi nghĩ thầm, cô ta bị tụi thanh niên bỏ rơi nên đến tìm tôi.

- Sao ông không trả lời tôi?

- Xin lỗi cô, tôi trả lời cô thế nào bây giờ? Tôi ngồi một mình vì tôi thích thế.

- Thế tôi có làm phiền ông không?

- Cô chỉ khôi hài.

- Như vậy tôi sẽ được việc cho ông.

Cô ngồi xuống. Tôi không rời bỏ tập họa.

- Ông là người miền núi thực à? Tôi được nghe chuyện miền núi thì còn gì bằng. Anh tôi bảo rằng trong làng ông chỉ có một họ, chỉ có họ Camenzind. Điều ấy có đúng không?

- Gần hết thôi. Nhưng cũng có anh hàng bánh họ Fussli và người chủ quán họ Nydegger.

- Còn thì họ Camenzind hết à? Tất cả đều là thân thích?

- Thân thích xa hay gần.

Tôi đưa cô xem bức họa. Cô cầm lấy và tôi nhận thấy cô lấy điệu bộ thích hợp. Tôi nói cho cô biết. Cô cười mà rằng:

- Ông quá khen tôi, nhưng khen như thầy giáo khen học trò.

- Cô ngồi đây xem tranh với tôi nhé.

- Bức này vẽ cái gì đây?

- San Clemente.

- Ở đâu?

- Gần Fiesole.

- Ông đã đến thăm nơi ấy chưa?

- Nhiều lần rồi.

- Ông tả cho tôi nghe thung lũng ấy nhé. Đây chỉ có một khoảng nhỏ.

Tôi suy nghĩ. Phong cảnh đẹp vì vẻ hiểm trở gập ghềnh hiện ra trước mắt tôi, tôi lim dim mắt lại để nhớ rõ. Một phút qua đi trước khi tôi bắt đầu nói và tôi thích chí vì cô ta yên lặng ngồi đợi. Cô biết rằng tôi trầm tư để nhớ lại.

Rồi tôi mô tả khe San Clemente nằm êm ả, trơ trụi và hùng vĩ trong ánh nắng trưa hè. Ở Fiesole gần đấy có nhiều xưởng kỹ nghệ, người ta bán cam và đồ vật làm kỷ niệm, người ta đánh lừa du khách và người ta xin tiền. Dưới thấp nữa là thành Florence đời sống diễn biến với cả hai sắc thái kim và cổ, nhưng ở San Clemente người ta không thấy có sắc thái nào. Không có họa sĩ nào đến đây vẽ phong cảnh, người La Mã không xây cất một lâu đài dinh thự nào, lịch sử đã bỏ quên thung lũng hẻo lánh này. Ở đây là bãi chiến trường, đất tranh đấu với mưa nắng; cây thông uốn mình cong quèo sống vất vưởng, cây trắc vươn ngọn ốm o lên thám thính để biết chừng có cơn bão phũ phàng nào xảy đến kết liễu đời sống eo hẹp mà nó vẫn bám lấy bằng mấy cái rễ khô cằn. Thỉnh thoảng đi qua một cỗ xe bò từ những trại lớn gần đấy, hay một gia đình dân làng lên thăm tỉnh; nhưng họ chỉ là những khách qua đường, váy đỏ thôn nữ chỉ vui tươi khi đặt vào khung cảnh khác, ở đây nom có vẻ không hợp cảnh hợp tình, người ta chẳng cần những thứ ấy.

Tôi kể lại hồi còn niên thiếu tôi đã cùng người bạn qua lại thung lũng, nằm dưới gốc cây trắc, tựa vào thân cây gầy ốm, cảnh tịch mịch u buồn và đẹp đẽ ấy làm tôi nghĩ đến khe núi quê hương tôi.

Chúng tôi yên lặng một lúc, rồi cô ta nói:

- Ông là thi sĩ.

Tôi nhăn mặt.

- Tôi không muốn nói vậy, không phải vì ông viết truyện ngắn và những loại nào đó mà tôi cho ông là thi sĩ. Tôi nói vậy vì ông yêu thiên nhiên và hiểu thiên nhiên. Đối với người khác thì một cái cây than thở hay một trái núi ửng hồng dưới ánh sáng mặt trời có gì đáng chú ý? Nhưng đối với ông thiên nhiên có một đời sống và ông có thể tham dự vào đời sống ấy.

Tôi trả lời rằng không ai hiểu được thiên nhiên, mà muốn đem hết thiện chí ra tìm hiểu người ta chỉ gặp những bí mật làm cho mình buồn nản. Một cái cây mọc giữa trời, một tảng đá dầm sương dãi nắng, một con vật, một trái núi - chúng nó đều có một linh hồn, một lịch sử, chúng nó sống, vật lộn, thụ hưởng rồi chết, nhưng chúng ta không hiểu gì cả.

Trong khi nói chuyện và vui lòng vì cô ta yên lặng và chú ý một cách kiên nhẫn, tôi để ý xem xét cô ta. Hai mắt cô nhìn thẳng vào mắt tôi không hề quay đi. Nét mặt cô bình thản không còn gì là giữ ý tuy hơi căng thẳng vì chú ý. Trông cô như một đứa trẻ ngồi nghe chuyện. Không phải; đúng ra là một người lớn quên mình trong khi nghe chuyện và trở lại có đôi mắt con trẻ mà chính họ không biết. Và trong khi ngắm nàng, dần dần tôi khám phá ra nàng đẹp lắm, sự khám phá ấy làm tôi vui sướng một cách hồn nhiên.

Khi tôi nói hết, người con gái cũng ngồi yên lặng. Rồi nàng giật mình, hai mắt khẽ chớp dưới ánh đèn.

Tôi hỏi nàng, không để ý nhiều đến câu hỏi:

- Cô cho biết quý danh.

- Elisabeth.

Nàng đi chỗ khác, rồi người ta yêu cầu nàng đánh dương cầm. Nàng chơi hay, nhưng đến gần tôi thấy nàng đã hết đẹp.

Khi xuống cầu thang để về nhà - cầu thang rộng theo kiểu cổ - tôi thoáng nghe hai họa sĩ trong phòng thay áo nói chuyện với nhau, một người vừa cười nói:

- Phải rồi, tối nay người ta chỉ xum xoe với con Elisabeth.

- Này, đừng coi thường những thằng cha lù đù như nước đọng nhé, kể ra hắn cũng không lựa chọn thứ dở nhất.

À, ra mấy ông làm trò khỉ này đã bắt đầu đi đánh mõ rồi! Bất thình lình tôi giật mình mà tự nhận thấy mình đã nói với cô gái xa lạ với mình những kỷ niệm kín đáo nhất và một phần đời sống nội tâm của mình. Sao tôi lại đến nỗi thế? Bây giờ kẻ xấu miệng đã bắt đầu hoạt động rồi!

Mấy tháng sau tôi không trở lại căn nhà ấy nữa. Cũng là sự ngẫu nhiên, một trong hai họa sĩ nói trên, người nói trước, gặp tôi ngoài phố bèn hỏi tại sao lâu ngày tôi vắng mặt.

- Tại sao ông không đến đấy nữa thế?

- Vì tôi không chịu được những chuyện ngồi lê đôi mách.

Y cười:

- Ồ! Đàn bà ấy mà!

- Không phải, tôi muốn nói đến đàn ông, nhất là mấy ông họa sĩ.

Suốt mấy tháng ấy tôi chỉ gặp Elisabeth ở ngoài phố, một lần trong tiệm buôn và một lần ở viện bảo tàng. Bình thường nom cô ta cũng xinh nhưng không đẹp. Người cao ráo mảnh mai, dáng dấp có vẻ riêng làm cô ta đẹp thêm, có vẻ đài các, nhưng cũng có khi lộ vẻ giả tạo quá đáng.

Ngày tôi gặp ở viện bảo tàng, cô ta đẹp, đẹp lắm. Cô ta trông thấy tôi. Tôi cũng đứng ở chỗ vắng coi một cuốn ca-ta-lô. Cô ta ở cạnh đấy, trước bức tranh lớn, để hết cả ý tứ ngắm nghía. Tranh vẽ một cánh đồng cỏ vàng vọt, một vài cô thôn nữ đang làm việc; đằng xa núi gập ghềnh lởm chởm làm cho ta nghĩ đến núi ở Stockhom, bên trên là trời trong sáng đám mây trắng ngà vẽ thật là thần bút. Mới nhìn người ta phải để ý ngay đến chất mây dày đặc, nó vừa mới được cấu tạo, bị gió thổi dồn dập, sắp sửa bay lên và từ từ trôi đi. Hẳn là Elisabeth hiểu rõ đám mây ấy vì cô ta biến thân vào cả trong cái nhìn, linh hồn cô thường ngày rất kín đáo, bây giờ lộ ra khuôn mặt, mỉm cười qua khoé mắt, làm cho cái miệng chúm chím mềm ra như miệng trẻ thơ, làm dịu nét nhăn trên trán tiêu biểu cho sự thiên về trí thức đáng buồn. Chân lý và sự thật của một nghệ phẩm tuyệt tác bắt buộc cô ta không được dùng cái gì che đậy tâm hồn mà phải tỏ lộ trong sự chân thật và hồn nhiên của nó.

Tôi yên lặng ngồi cạnh cô ta, ngắm đám mây tuyệt bút của Segantini và ngắm cô gái bị thu hút bởi bức tranh. Rồi tôi sợ cô ta ngoảnh lại thấy tôi cô ta sẽ chào hỏi, cô ta sẽ mất hết vẻ đẹp. Tôi lẳng lặng bước mau ra khỏi phòng.

Hồi ấy sự vui sướng của tôi trước thiên nhiên câm lặng và mối tương quan của tôi với thiên nhiên bắt đầu thay đổi.

Tôi vẫn đi lang thang ở ngoại ô thành phố nhất là trong vùng núi Jura. Bao giờ tôi cũng thấy núi rừng, cây cối và bụi cỏ vươn mình lên không biết chờ đợi cái gì. Có lẽ chúng chờ đợi tôi; dù sao thì chúng cũng chờ đợi tình yêu.

Chính trong hoàn cảnh ấy mà tôi sinh lòng yêu mến cảnh vật. Tôi có một sự thèm khát mãnh liệt đến với cái đẹp lặng lẽ của cảnh vật. Trong người tôi, một đời sống sâu xa cũng đang dò dẫm tìm đường xuất hiện ra tâm thức, mong mỏi được hiểu biết và yêu mến.

Nhiều người nói rằng mình “yêu thiên nhiên”. Nói thế nghĩa là họ không thấy có gì trở ngại nếu thỉnh thoảng họ bỏ qua thế sự, thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên. Họ đi ra ngoài, ngắm vẻ đẹp của trời đất mà khoan khoái, dẫm chân lên đồng cỏ, hái một bó hoa và cành cây rồi chẳng bao lâu vứt vào sọt rác hay để héo trong xó nhà. Làm như vậy họ bảo là yêu thiên nhiên. Họ nghĩ đến tình yêu đó vào một ngày chủ nhật đẹp trời và thoả mãn vì tim mình tỏ ra rộng rãi. Thì họ có thể miễn trừ được những chuyện ấy mà lị! Con người có phải tinh hoa tụ khí của trời đất không? Hẳn là họ đã tặng trời đất một vòng hoa tang đẹp đẽ!

Bởi vậy tôi vẫn giương mắt hau háu nhìn vào lòng sâu thẳm của sự vật. Tôi nghe gió lên tiếng đàn trên những đỉnh cây cao, tôi nghe thác gầm trong khe núi, sông chảy êm đềm trong đồng bằng và tôi biết rằng đó là tiếng nói của Ông Trời, hiểu được tiếng nói nguyên thuỷ tối tăm đó là tìm thấy thiên đường. Sách vở nào có nói đến; trong Thánh Kinh chỉ có mấy chữ kỳ ảo này: “tiếng thở than không diễn tả được của thiên nhiên.” Nhưng tôi vẫn có cảm tưởng rằng xưa nay người đời xúc động vì không ai hiểu mình cũng như tôi, đã coi thường công việc hàng ngày để tìm sự cô đơn tịch mạc, lắng tai nghe tiếng ca hát của hóa công, nhìn mây bay và giơ tay hướng về vĩnh cửu trong nỗi niềm nhớ tiếc khôn cùng - như ẩn sĩ, khổ tu, thánh đồ.

Đã có bao giờ bạn đến thành Pise, nhị địa Campo Santo? Trên tường là những bích họa từ những thế kỷ trước nay đã phai mờ, một bức diễn tả đời sống những ẩn sĩ ở sa mạc Thébaide. Ngày nay tuy màu sắc đã phai lợt nhưng bức họa vụng về ấy cũng còn gợi lên vẻ u nhã của sự yên lành tĩnh tịch; bất thần thống khổ trần gian nổi lên, ta thấy cần phải đến một nơi nào xa lánh trần gian lấy nước mắt mà rửa lỗi lầm ô trọc, đến một thánh địa và không bao giờ ta trở về nữa. Biết bao nghệ sĩ đã thử nói lên sự nhớ tiếc ấy bằng những hình ảnh đẹp mê hồn, một vài bức họa con nít rất đẹp của Ludwig Richter cũng ca hát những điệu thoát phàm như bích họa của Pise. Tại sao danh họa Le Titien người bạn của những nét hiện thực đích xác, lại có khi họa những bức tranh trong đó bối cảnh và chân trời xa phơn phớt một màu lam, vũ trụ quan của ông bộc lộ không chút bí hiểm? Đó chỉ là một nét màu lam đậm, người ta không biết ông muốn vẽ núi ở xa hay là không gian vô tận. Chính Titien, một người duy thực, cũng không biết rõ. Ông không làm như vậy vì muốn có nhịp điệu màu sắc như mấy người viết lịch sử hội họa tưởng mình hiểu ông đã nói, nhưng đó là món nợ trả cho nỗi nhớ tiếc khôn nguôi vẫn kín đáo ám ảnh con người vui vẻ sung sướng ấy cũng như nhiều người khác. Như vậy, hầu như nghệ thuật thời nào cũng cố gắng tìm cách diễn tả sự cần thiết cái gì thần linh, cái gì không thiêng liêng tiềm tàng trong mỗi con người chúng ta.

Saint François đã nói ra một cách viên mãn, cao đẹp hơn cả mà lại hồn nhiên như con trẻ. Bấy giờ tôi mới hiểu đến nơi đến chốn. Tóm thâu vào tình yêu của Thượng Đế tất cả trần gian, cây cổ tinh tú, muôn loài, gió mưa, ông đã đi trước cả thời kỳ Trung Cổ, trước cả Dante, ông tìm ra ngôn ngữ nói lên cái gì là của nhân loại muôn thuở. Ông gọi tất cả mãnh lực và hiện tượng thiên nhiên là “anh chị em”. Đến tuổi già, khi ông bị các lương y bắt phải cầm sắt nung đỏ áp vào trán, trong sự lo lắng của một người bệnh chịu cực hình ông còn đón chào thanh sắt nung đỏ ghê sợ như “người anh em lửa” của ông.

Khi tôi bắt đầu yêu thiên nhiên như yêu một người, nghe thiên nhiên như một người bạn hay một người đồng hành nói một ngôn ngữ nước ngoài, hẳn là mối ưu tư của tôi không thuyên giảm, nhưng nó trở nên cao đẹp, thuần khiết. Tai mắt tôi trở nên tinh tường. Tôi học cách tri giác sắc độ và đa dạng của thiên nhiên, tôi muốn mỗi ngày mỗi nghe thấy gần hơn, rõ ràng hơn, nhịp điệu sinh hoá của sinh vật đã một ngày kia hiểu được cái khí lực sinh hoá ấy, có lẽ có được thiên tư để diễn tả thành công từ thi ca, hy vọng rằng người khác cũng xích lại gần thiên nhiên, cảm quan của họ sẽ triển khai nếu họ trở lên tận suối nguồn đem lại sinh khí cho họ, thanh lọc họ, tu dưỡng cho họ cái hạo khí an nhiên tự tại của tuổi thơ. Lúc này thì đó mới là một triển vọng, một ước mơ, tôi không biết có ngày nào thực hiện được không và tôi chỉ chú trọng đến cái gì ở tầm tay mình. Không từ chối lòng ái mộ tất cả cái gì thấy trước mắt, không coi vật gì với thái độ dửng dưng hay khinh bỉ.

Tôi không thể nói được cách xử kỷ tiếp vật ấy an ủi và đổi mới cuộc đời tối tăm của tôi như thế nào. Không có gì ở đời làm cho ta cao đẹp và đem lại hạnh phúc cho ta bằng tình yêu bất diệt, không lời nói, không mê say; ước vọng thân yêu nhất của tôi là trong số những người đọc tôi, dù chỉ có hai người hay một người duy nhất, sẽ có người làm theo tôi, học lấy nghệ thuật thích thú và thanh khiết ấy. Một vài người trời phú bẩm cho nghệ thuật ấy, họ thực hiện suốt đời họ mà không biết: đó là những con cưng của Thượng Đế, những người hiền, những người giữ được tinh hồn nhiên của trẻ con. Những người khác đã được đời sống cao đẹp ấy, trong sự thống khổ ghê gớm - có khi nào bạn thấy chăng, vài người tàn tật khốn cùng có đôi mắt bình tĩnh sáng ngời tỏ ra họ hơn người? Nếu bạn không muốn nghe tôi, nghe lời nói quê kệch của tôi, xin bạn hãy đến với họ, với những người có tình yêu vô tư không vụ lợi, tình yêu đó đã thắng sự thống khổ của họ và biến đổi hẳn đi.

Than ôi! Ngày nay tôi cũng vẫn còn ở xa sự toàn vẹn của người đau khổ như thế mà tôi vẫn trọng vọng. Nhưng suốt mấy năm ấy ít khi tôi để mất sự vững tâm tin tưởng rằng mình đang đi theo con đường chính đạo.

Tôi không thể nói được rằng mình có luôn luôn theo đúng không; thực ra nhiều khi tôi dừng lại bên đường và tôi cũng không tránh khỏi nhiều lúc đi sai đường đáng ái ngại. Trong người tôi hai khuynh hướng ích kỷ vẫn chống lại tình yêu chân thực đó. Tôi nghiện rượu và cư xử vụng về. Tôi đã giảm bớt khá nhiều số lượng rượu uống, nhưng chỉ được vài tuần, ma men quyến rũ, tôi lại lao mình vào vòng tay ôm ấp của nó. Ít khi tôi lăn ra nằm ngủ bên lề đường hay làm những việc ngông cuồng ban đêm, bởi vì rượu cũng kính nể tôi, nó chỉ lôi kéo tôi đến mức nào yêu ma của nó thân thiện được với tôi. Dầu sao thì một thời gian khá lâu, sau mỗi lần chè chén say sưa tôi vẫn thấy lương tâm cắn rứt. Nhưng tôi cũng không thể tách rời rượu khỏi tình yêu bất vụ lợi của tôi bởi vì tôi đã thừa hưởng của cha tôi khuynh hướng sâu đậm. Tôi đã kính cẩn và thận trọng tu bổ cái gia tài ấy, tôi đã luyện cho thành một đặc điểm chính yếu của nhân tính tôi; như vậy tôi phải giải quyết bằng cách thoả hiệp cả với tật xấu lẫn lương tâm, một sự thoả hiệp nửa đứng đắn nửa khôi hài. Và tôi chấp nhận công thức “rượu, người anh thân yêu của tôi” trong bản thánh ca của Saint François d’Assise.

Năm xuất bản: 1968 Số trang: 203 Giá tiền: -- Khổ: 13x19 cm Đánh máy: Minh Huy, Bùi Trang, Lê Trang, Vân Anh Kiểm tra: Hannah Lê Chế bản ebook: Hannah Lê Ngày thực hiện: 6/6/2010 Making Ebook Project #44 – www.BookaholicClub.com
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.