Băng Cướp Thụy Điển

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hiện Tại Phần Hai

❊ ❊ ❊

TRỜI ĐANG MƯA.

Mấy tuần nay hôm nào cũng có mưa. Những giọt mưa khoét sâu cái lỗ mới được lấp lại trước căn nhà kho vuông vức bằng bê tông. Anh tự nhủ mình phải thôi nghĩ tới chuyện đó, nhưng sự bồn chồn vẫn chẳng thể xua tan đi được.

Leo ngồi trên ghế lái chờ đợi bên ngoài trung tâm mua sắm Skogas. Kính chắn gió dần bị phủ một lớp màng nước mưa khiến tầm nhìn ra ngoài trở nên khó khăn. Trung tâm mua sắm có không gian mở trước kia giờ đã được sửa lại thành một khu thương mại khép kín. Những quầy hàng thì vẫn vậy. Quầy tạp phẩm nằm cạnh quầy rượu, quán pizza của Mahmoud nằm bên trái lối vào. Những tấm khăn trải bàn màu trắng và đỏ có lẽ dính những vết loang lổ lớn hơn, trong khi sau quầy bar có nhiều loại bia hơn so với những gì Leo nhớ được. Dù vậy, riêng người chủ quán thì vẫn thế và lần nào cũng gật đầu chào anh. Nơi trước kia là bầu trời giờ là trần nhà bằng đá, những phiến đá xù xì lát sàn giờ thay bằng thạch cao, trong khi chỗ băng ghế và lan can của bọn ăn bám giờ là cánh cửa tự động, tự mở ra khi ai đó tới gần giống như Anneli đang làm bây giờ.

Cô bước mấy bước rồi dừng lại tháo lớp vỏ nylon của bao thuốc lá, châm một điếu dưới mái hiên, rồi rít một hơi thật sâu như thường làm những khi cảm thấy phấn chấn. Cô thật đẹp. Dù nhiều tuổi hơn anh, cô mới là người lần nào cũng phải lục tìm chứng minh thư trong ví trình cho bảo vệ quán bar. Cô tiến tới gần chỗ anh, không đơn giản chỉ là những bước chân bình thường, mà giống như dạo chơi. Anh thường nghĩ hai người thật đẹp đôi khi đi dạo bên nhau,

“Xuống mạn phía Nam?”

“Không.”

“Hay là phía Tây?”

“Từ từ đã.”

“Mạn phía Bắc?”

“Rồi em sẽ thấy - chỗ nào cũng nhan nhản bán nhà.”

Đầu tiên anh đi về hướng Farsta, phía Bắc. Cô nhìn ra cửa sổ với vẻ lạc quan. Hai người đi sang phía Tây về hướng Huddinge, thỉnh thoảng cô lại chỉ tay vào những căn nhà lớn giống cái mà cô mơ ước. Rồi đó, họ đi về phía Tumba, hướng Nam. Thật tự nhiên, cô đặt tay mình lên tay anh trên cần số. Chiếc xe lướt chầm chậm qua một khu quen thuộc, những ngôi nhà nhỏ, nhà cao tầng, đường nhựa và các nhà máy, rồi lại tới những ngôi nhà lớn hơn. Nơi đây là thành phố của những người thợ, nơi sinh sống của dân lao động và tiểu thương. Vùng đất ngoài rìa. Một thế giới bên ngoài Stockholm, đang dần chuyển mình để xứng đáng trở thành một phần của Stockholm.

Anh thuộc về nơi này. Anh biết cách làm thân với gã Gabbe đần độn, Roffe thợ ống nước, Lasse thợ điện, và Benke - người bán vật liệu xây dựng đã giảm giá cho anh ba mươi phần trăm tiền gạch lát. Họ là những con người không hề nằm trong trí tưởng tượng của Anneli khi cô bơi thuyền dọc bờ hồ Drevviken, nhìn lên những mái nhà vươn lên phía sau hàng cây, kiểu nhà mà cô hy vọng cả hai đang sắp sửa tới mua.

Tay cô đặt trên tay anh. Cô siết chặt với vẻ bồn chồn, cảm nhận làn da ấm và mềm của anh.

“Anneli? Đây này.”

Cô lặng nhìn từng chi tiết ngôi nhà xây kiểu cổ có bãi cỏ lớn trồng táo và lê, rồi nắm chặt tay anh, hôn anh liên tiếp. Nhưng anh chưa dừng xe. Không phải ở đó. Anh đi tiếp tới bãi đỗ ở nhà bên cạnh: lối đi có cửa sắt, garage rộng đủ chỗ cho năm chiếc xe, và ngôi nhà nhỏ xíu với mặt tiền xám xịt, buồn tẻ.

“Đây à?”

Mắt cô lướt qua mọi vật, cố tránh nhìn những vũng nước trên khoảnh sân lát gạch gồ ghề kẹt cứng giữa hai đường cao tốc lúc nào cũng đông nghẹt.

Thế này thì làm sao có thể gọi là chuyển tới nơi ở mới khá hơn? Họ chỉ đổi căn hộ chung cư tươm tất trên tầng ba lấy cái hầm trú bom dưới tầng trệt này.

“Không có hàng rào.”

Leo cất bước ngang qua sân và cô đi theo anh.

“Leo?”

Cô kéo cánh tay anh.

“Như vậy là không có. Phải không? Hàng rào ấy?”

“Có hàng rào chứ.”

Leo đi lách giữa những vũng nước sâu, tới chỗ hàng rào an ninh cao ba mét có lắp dây thép gai bên trên.

“Hồi trước người ta buôn ô tô ở đây. Vậy nên họ cần dùng hàng rào loại này. Em thấy không? Chẳng ai đột nhập vào đây được.”

“Ý anh là... chỗ này, chỗ này là... nơi chúng ta sắp sửa chuyển đến, xây dựng gia đình với nhau?”

“Anneli này...”

“Một cái garage to tướng? Cái sân ghê tởm này? Lại còn hàng rào dây thép gai của nợ đó? Em không muốn sống thế này! Em muốn một căn nhà với hàng rào gỗ sơn trắng, có cây cối, bồn hoa, thảm cỏ phủ lá cây đại hoàng và... Leo này? Giống... ngôi nhà kia! Chính nó! Căn nhà gỗ có lối đi rải sỏi và lát đá đẹp tuyệt. Giống như căn nhà bên đó.”

Cô chỉ tay về phía căn nhà to đẹp bên cạnh. Khi đó cửa căn nhà nhỏ sau lưng họ bật mở. Một người đàn ông bận bộ com lê kẻ xám, áo sơ mi và ca vát chấm bi bước ra.

“Anh đã hẹn trước với... người môi giới?”

“Vào thôi.”

Cô đứng yên, nước nhỏ giọt từ mái tóc, áo khoác và quần dài ướt sũng nước mưa.

“Vài tuần nay anh làm em tưởng rồi mình sẽ chuyển đến một ngôi nhà thực thụ. Và rồi anh lôi em đến... đây?”

Anh cầm lấy tay cô.

“Thì đằng nào chúng mình cũng đã đến đây rồi.”

“Leo?”

“Sao thế?”

“Em không muốn sống thế này. Anh hiểu không?”

Anh cầm nốt tay kia của cô.

“Anneli à, thứ này mới là tốt cho cả hai chúng ta. Tại thời điểm này.”

“Em không muốn sống thế này. Em muốn...

“Anh là người đã nói chuyện với tôi qua điện thoại, đúng không nhỉ?”

Bộ com lê, chiếc ca vát, nụ cười giả tạo nở ra. Đó là loại người luôn bắt tay quá chặt, chắc mẩm cái đó cũng đồng nghĩa với việc xây dựng lòng tin. Leo mỉm cười trong khi Anneli nhìn thẳng vào mắt anh, vậy là anh đã hẹn với người môi giới mà không cho em biết, anh nhìn lại cô, giờ đã đến đây rồi, ta cứ đi xem cái đã, và rồi Leo cầm tập quảng cáo in màu bóng loáng từ tay người môi giới. Có vẻ anh ta cũng biết trong hai người, ai là người không hài lòng và xoay về phía cô.

“Có lẽ nhìn nó cũng không giống như ngôi nhà mùa hè ở vùng quê, hay một biệt thự kiểu cổ.”

Người môi giới chỉ về phía xe ô tô của họ và logo trên áo khoác Leo.

“Nhưng đây là nơi lý tưởng nếu anh chị muốn có điều kiện làm ăn gần nhà - và với giá rất phải chăng.”

Anh ta tiếp tục chỉ tay tới lui, rồi đột nhiên hạ tay xuống, như thể đang định chỉ cho họ xem quang cảnh xung quanh thì đổi ý vì thứ duy nhất có thể nhìn thấy từ đây là bóng đen của tòa nhà lớn màu xanh da trời bên kia đường.

“Chính công ty của tôi đã tu sửa lại chỗ đó.”

Leo hất hàm về phía tòa nhà.

“Trung tâm Thương mại Solbo - Nhà Xanh.”

Công ty lốp xe trong góc, quán ăn Ấn Độ, tiệm hoa, tiệm phơi nắng và quán pizza Robban. Bên cạnh đó, một chiếc container khóa kín.

Người môi giới nhìn thấy nó. Ai lái xe ngang qua cũng nhìn thấy nó.

Mà không biết gì cả.

Hai trăm hai mươi mốt khẩu súng máy - số vũ khí đủ cho hai đại đội.

“Vậy thì các bạn, chào mừng tới nơi ở mới.”

Người môi giới quần áo đẫm nước mưa khua tay về phía khoảnh sân.

“Cả chỗ này là hơn một nghìn mét vuông, các công trình phụ hơn hai trăm bảy mươi mét vuông, còn diện tích căn nhà là hơn tám mươi mét vuông.”

Người môi giới nhìn Leo, khi đó đang gật đầu, và Anneli, người chẳng tỏ vẻ hài lòng chút nào.

“Bốn tháng trước, chỗ này là tiệm bán ô tô. Trước đó hình như ở đây là công ty lắp ống nước.”

Họ rời chỗ những vũng nước và hàng rào thép gai vào căn bếp dưới tầng một, nghe người môi giới kể lể những dụng cụ gần như còn mới nguyên, những cơ hội, tiềm năng, mặt bằng tuyệt vời và hệ thống sưởi tiết kiệm năng lượng. Họ nghe anh ta nói, nhưng không thực sự để tâm. Anneli không muốn nghe vì cô thậm chí còn chẳng muốn có mặt ở đó. Leo không lắng nghe, vì anh đã quyết định từ trước.

Họ đi từ căn bếp trống trơn sang một hành lang cũng trống trơn - tới đầu một cầu thang dẫn lên tầng hai chẳng có đồ đạc gì, một cánh cửa đóng kín phía bên trái dẫn vào một căn phòng trống.

Người môi giới mở toang cửa.

“Tầng lửng.”

Anh ta chỉ cho họ xem những bức tường và sàn nhà bẩn thỉu, rộng chừng gần mười mét vuông.

“Chỗ này từng là văn phòng.”

Leo gõ lên tường thạch cao, giẫm vài lần lên mặt thảm nhựa trải trên sàn, nhưng chỉ nghe thấy tiếng giày cao gót của Anneli, lần này không còn như đi quanh nữa mà bước ra phía cửa. Anh cáo lỗi, chạy theo cô. Cô đứng bên kia cửa sổ dưới cơn mưa bụi, một điếu thuốc trong tay. Cô rít từng hơi ngắn và mạnh, như cô thường làm mỗi khi cảm thấy thất vọng.

“Một năm nữa.”

Anh ôm lấy cô.

“Em có thể sở hữu bất kỳ ngôi nhà nào mình muốn, Anneli ạ. Bất kể ở nơi đâu, bất kể giá cả thế nào.”

Anh đặt tay lên má cô.

“Nhưng giờ chúng ta cần một chỗ như thế này. Em hiểu không? Để đạt tới mục tiêu đó, ngôi nhà đó. Đây là nơi hoàn hảo để đặt công ty xây dựng. Nó có văn phòng, nơi tập luyện và nhà kho, nằm giữa khu dân cư xưa kia từng là đáy hồ, tất cả nhà cửa không có tầng hầm. Đây là Hang Đầu Lâu của anh.”

Mái tóc, trán và gò má cô ướt đẫm nước mưa, anh cẩn thận dùng tay áo lau khô.

Thêm một điếu thuốc nữa.

“Cứ như là một trung tâm giải trí khốn kiếp.”

Những hơi thuốc dài và chậm hơn.

“Chỗ này sẽ còn giống trung tâm giải trí hơn cả căn hộ của chúng ta bây giờ. Mấy anh em sẽ cùng ở đây luôn.

Anh đặt tay lên vai cô. Cả hai đều có thể nhìn thấu vào mấy căn phòng của ngôi nhà. Rồi anh nhẹ nhàng xoay cô lại về phía mình.

“Anh biết nơi này không được như kỳ vọng của em. Hãy cho anh một năm nữa, Anneli à.”

“Một năm nữa?”

“Một năm.”

“Rồi thì em có thể tìm một căn nhà mới ở bất kỳ đâu? Có thật là bất kỳ đâu không?”

“Và giá cả sao cũng được.”

Anh nắm tay cô. Hai người quay lại hành lang dẫn tới tầng lửng.

“Phòng này.”

“Sao thế?”

“Đây là căn phòng của em. Em muốn làm gì với nó cũng được.”

“Phòng em?”

“Phòng em ở bên trên. Còn phòng anh bên dưới.”

Người môi giới đang chờ trên cầu thang lên tầng hai, họ đi ngang qua trước mặt anh ta tới nơi rồi sẽ được dùng làm phòng ngủ, đi tới cửa sổ nhìn sang nhà hàng xóm.

“Một năm nữa?”

Anh nhìn cô, ôm cô trong vòng tay.

“Một năm nữa thôi, anh hứa đấy. Tới lúc đó là xong xuôi rồi.”

ANNELI XOAY NGƯỜI, vẫy tay rồi ngồi xuống ghế trên chuyến tàu hướng về Nhà ga Trung tâm. Cô đã nói lý do tại sao mình phải đi vào thành phố, nhưng anh chẳng nhớ nổi, mà cũng không hề lắng nghe. Anh đang trên đường tới một nơi mà chính anh đã từng thề mình sẽ không bao giờ quay trở lại.

Leo rời ga Tumba và lái xe về đúng hướng Nam chừng nửa tiếng, trên những con đường nhỏ xuyên qua rừng cây và cánh đồng. Anh đã nói dối cô. Bình thường anh ít khi nói dối, với cô hay bất kỳ ai. Thực sự thì anh chẳng muốn nói dối chút nào. Thời thơ ấu anh chẳng có sự lựa chọn nào khác mà buộc phải nói dối hết lần này tới lần khác, vì nói ra sự thật còn tồi tệ hơn gấp nhiều lần. Giờ anh cũng không giải thích được tại sao mình lại dối trá. Làm sao ta có thể giải thích một điều mà chính ta cũng không thấu hiểu? Anh đứng bên ngoài căn nhà họ vừa đồng ý mua, anh siết vai cô và nói anh không thể đi vào thành phố cùng cô được vì còn bận tới gặp Gabbe lo kiểm tra lần cuối. Anh nói dối vì anh không hiểu sự thật - rằng anh đang trên đường đi trả món nợ cho một người anh vốn chẳng nợ nần gì.

Nó nằm đó, trong túi áo ngực. Chiếc phong bì. Đó là lý do anh quay trở lại.

Lý do duy nhất.

Hồi đó anh đã rất quả quyết. Cách đây bốn năm rưỡi, hai bố con anh vẫn cùng làm trong một công ty xây dựng. Anh ném chiếc thắt lưng giắt đồ nghề xuống và ra đi. Leo, mày đã nhận ba mươi lăm nghìn tiền ứng trước. Vấn đề chỉ là tiền bạc. Mày phải làm việc đủ số đó - trước khi đi. Thực ra thì cũng không hoàn toàn là chuyện tiền. Mày nợ tao, Leo, mày không thể đi như thế được! Cả hai người đều biết đó không phải vấn đề chính. Điều cốt lõi là ra đi, thoát khỏi chốn này.

Anh lái xe không quá nhanh, qua một vùng đất buồn tẻ, không mấy sáng sủa ngay cả khi giữa ban ngày. Hồ nước phía trái có tên Malmsjon, một lớp sương phủ là là trên mặt hồ phẳng lặng. Mấy con bò đi lại thong dong trên bãi cỏ, trong khi bốn chú ngựa chạy đuổi nhau. Rồi anh tới hồ Axaren, cũng phẳng lặng không kém mặt hồ ban nãy.

Leo, mày than vãn khắp nơi mức lương chỉ ba nghìn krona một tuần - mày sẽ ra sao nếu không có tao, không được thừa hưởng gene của tao? Tôi mới là người thao thức bao đêm ngồi cắt thảm nhựa, để chúng ta hoàn thành cho kịp đấy. Và mày, Leo à, mày luôn mồm kêu rằng lẽ ra tao phải thấy biết ơn việc mày đang làm ở đây - mày mới là đứa phải biết ơn tao đã cho mày làm việc ở đây! Tôi mới là người bỏ cả những ngày nghỉ cuối tuần đi dán tường để ông ngồi uống hết chai này đến chai khác mỗi chiều thứ Sáu. Rồi mày sẽ phải lết trở lại đây thôi. Tôi đã ra đi. Rồi mày sẽ lết trở lại đây khi không còn xu nào trong túi! Tôi nhổ toẹt vào công việc này và sẽ đi tìm con đường của riêng tôi. Không có tao mày chẳng là gì hết, Leo, mày sẽ không làm nên trò trống gì đâu!

Anh dừng xe cách đích đến chỉ vài dặm. Một trạm xăng bỏ hoang có tấm biển Caltex han gỉ đung đưa trong gió, những tấm mành ố vàng buông xuống các cửa sổ. Giữa sân là vòi bơm xăng với những dãy số từng xoay vòng liên tục, nhưng giờ chúng đứng im ở con số 76,40 krona.

Anh hạ cửa sổ, hít thở không khí đầy hơi ẩm.

Anh đã bỏ đi, nhưng luôn luôn trở lại. Mặc dù anh ghê tởm cảm giác mình chỉ là một thứ công cụ, nguyên liệu, con búp bê trong căn nhà đồ chơi, người thừa trong bức ảnh chụp cả gia đình - tấm ảnh chụp gia đình của ông già đó. Ngày hôm ấy anh đã quyết chí ra đi. Năm sau đó, Felix bắt đầu chuyển tới làm việc chỗ anh. Năm kế tiếp, Vincent bỏ học trường cấp ba, và vậy là ba anh em cùng làm việc một nơi.

Gia đình. Cùng nhau. Mày cố gắng. Còn thành quả là của tao.

Đoạn đường cuối cùng, thêm những cánh đồng, hồ nước, con đường nhỏ. Vài nhà kho, nhà ở, trường học, mấy cửa hiệu. Tới quảng trường Osmo. Nơi đây chỉ cách trung tâm Stockholm có nửa giờ xe chạy, nhưng là một thế giới hoàn toàn khác.

Leo lái xe chầm chậm.

Ngôi nhà gạch đồ sộ, khu vườn được chăm sóc cẩn thận, những đám lá rụng được quét dọn gọn gàng. Anh đỗ xe trước hòm thư và nhìn thấy ánh đèn từ ô cửa sổ tầng một, thường thì vào giờ này bố anh đang ở nhà.

Một tay cầm miếng hành tây cuối cùng, tay kia cầm mẩu thịt hun khói cuối cùng, ông ngốn ngấu, tống chúng vào dạ dày. Bàn uống nước chất ngập những tập xổ số đã đánh dấu. Lượt quay số đều đặn hằng ngày vào lúc 6:55 chiều.

Ivan cúi người, cầm điều khiển tăng âm lượng tivi.

Trái bóng vàng thứ nhất: 30.

Trái bóng vàng thứ hai: 40. Ông đánh dấu vào ô ngay dưới số 30.

Trái bóng thứ ba: 39. Đánh dấu vào ô cạnh số 40, chéo

bên dưới số 30.

Cả một cụm. Có vẻ ngon ăn đây.

Trái thứ tư: 61. Góc dưới cùng bên trái. Trái thứ năm: 51. Ô số ngay bên trên. Đám này ở góc khác hẳn - trong khi ông thì lại đang dồn hy vọng ở đám số kia.

Ông giảm âm lượng, ngả mình trên ghế. Ông không chờ đợi những trái bóng tiếp theo nữa. Vậy là hết - số 61 không bao giờ nằm trong hệ thống của ông, nó là số có xác suất thấp nhất dựa theo tính toán của ông. Nhưng số 39... và 40. Ông luôn dùng những số đó, người ta thường hay bốc phải chúng, và chúng cũng nằm trong hệ thống của ông.

Gần như chẳng ai hiểu được yếu tố quan trọng nhất là gì. Cốt lõi là nhìn ra quy luật. Những cụm số lặp đi lặp lại. Đa số mọi người chẳng hề nhận ra quy luật đó, vậy nên họ đánh dấu khắp lượt, hú họa vào các ô. Chẳng có gì là ngẫu nhiên ở đây hết. Những quy luật thì luôn lặp đi lặp lại. Tất cả đều là một phần của vòng tuần hoàn, có mối liên hệ mật thiết với nhau.

Ivan đang cầm một tập bốn mươi tờ vé số đã trở nên hoàn toàn vô giá trị. Đây là tấm bản đồ cho tương lai của ông. Mười một ô gạch chéo là hướng đi của ông. Ông vò nát tập vé, vứt chúng xuống sàn.

Ngày mai, đúng 6:55. Lượt quay số tiếp theo.

Ông tắt tiếng tivi, toan đứng dậy thì nghe thấy tiếng động. Bên ngoài cửa sổ. Một chiếc xe dừng lại, cửa xe mở ra. Ông gạt tấm rèm vốn vẫn được treo nguyên tại chỗ đó từ khi ông chuyển xuống tầng một tòa nhà này.

Chiếc xe bán tải lớn, có logo công ty xây dựng bên sườn.

Nó dừng lại ngay trước căn hộ của ông.

Một khuôn mặt hiện ra sau cửa sổ.

Leo biết chính là bố anh đang cúi đầu, nhìn ra cửa sổ, nhìn anh. Vậy là ông đã rời cây bút, ly rượu và món thịt hun khói để cúi đầu nhìn bên trên cặp kính đọc sách, đôi mắt soi mói dưới hàng lông mày.

Có lẽ đó là lý do tại sao anh đi dọc lối đi rải sỏi hệt như cái cách một người phải làm khi biết mình đang bị theo dõi, từng cử động đều chậm rãi - anh đóng cửa xe chậm hơn một chút, đặt chân xuống chậm một chút, để tay lên cái phong bì trong túi áo chậm đi một chút, kiểm cho chắc nó vẫn còn đó. Như thể anh làm vậy để cái người đang quan sát kia hiểu rằng giờ anh mới là người nắm quyền định đoạt, để nhận ra việc anh quay lại hôm nay là do ý muốn của chính anh.

Một chậu hoa chắn tầm nhìn, Ivan gạt nó sang một bên để nhìn cho rõ.

Một thanh niên trẻ đang bước tới, dáng người khá cao.

Phải tới khi những bước chân chắc nịch đã đi được nửa đường tới cửa nhà mình, ông mới nhận ra đó là ai. Mái tóc cắt ngắn. Quai hàm vuông. Đôi vai giờ đã trở nên nở nang. Một người đã rũ bỏ hoàn toàn dáng vẻ trẻ con trước kia.

Leo.

Ivan nhìn quanh căn bếp mà đồ đạc đã tràn ra tới hành lang. Trước tiên ông bỏ cái vỏ chai rỗng trên bàn vào túi rác dưới bồn rửa, rồi ném tập vé số vào sọt rác.

Vài giây sau, chuông cửa vang lên.

Ông vội vã xỏ đôi giày nâu vào hai bàn chân trần, khoác chiếc áo khoác xám trùm ra ngoài áo sơ mi ông mặc khi sơn tường. Với lối sống vẫn y hệt như xưa, ông chẳng có thời gian mà giặt giũ.

Hai người đứng đó, nhìn nhau.

“Xe mới à?”

“Phải.”

“Sáng bóng gớm nhỉ - chắc đi tìm việc khó khăn lắm đúng không, Leo?”

Người bố đứng trên tấm thảm bằng nỉ trước cánh cửa đóng. Người con đứng cuối cầu thang đã bạc màu. Giữa họ là bảy bậc thang và bốn năm rưỡi xa cách.

“Tôi tự lo được việc của mình rồi, chứ không như ông.”

“Xe của một người thợ phải bám bụi, Leo à. Càng nhiều việc đồng nghĩa với càng nhiều bụi bặm.”

Ivan đang nhìn con người mà lẽ ra ông có thể trở thành. Còn Leo thì đang nhìn vào con người mà anh sẽ không bao giờ để mình trở nên như thế. Người con đi đôi ủng lao động kháng xuyên, bận áo vải dày, có nắp túi, khóa và chỗ trống in logo, tất cả đều được chọn lựa kỹ càng. Người cha đi đôi giày đã sờn trước đây từng sáng bóng, bận chiếc áo sơ mi mùa hè mà ông có năm chiếc giống hệt nhau, mua với giá bốn mươi chín krona ở quầy hàng giảm giá ngoại ô.

“Bụi bặm? Tôi đâu có giống như ông. Tôi không bao giờ xuất hiện bẩn thỉu trước mặt khách hàng.”

“Thật ra thì nó cũng chẳng phải một cái ô tô ra hồn nữa... làm gì có đủ chỗ ngồi khi mày cần điều thêm nhân lực. Chỉ hai người làm việc cùng nhau. Hẳn đó là lý do mày tới đây? Hay mày định mướn bọn người lùn? Phải không, Leo?”

“Tôi còn dư hai chiếc xe thế này. Hay đứng hơn là - chúng tôi có hai chiếc xe nữa. Đó là tài sản của công ty chúng tôi.”

Ông chẳng biểu lộ gì mấy. Chỉ một cái chớp mắt, gò má nhăn lại chút ít, môi dưới hơi chìa ra. Nhưng Leo nhìn thấy tất cả.

“Vậy thì, nhãi con... mày có... nhân viên?”

“Phải.”

Anh hiểu quá rõ khuôn mặt này có ý nghĩa thế nào.

“Bao nhiêu?”

“Ba.”

“Ba? Chà... thế thì cẩn thận công đoàn nhé. Công đoàn của công nhân xây dựng ấy. Chúng nó sẽ chõ mũi vào tất cả mọi thứ mày đang làm. Giống Gestapo ấy. Và mày biết gì không, Leo, bọn nhân viên ấy, chúng nó chỉ gây rắc rối thôi.”

“Tôi không nghĩ thế. Bố biết đấy. Tôi vừa mới hoàn thành một công trình lớn ở Tumba, tòa trung tâm thương mại Solbo. Sáu trăm năm mươi mét vuông. Công trình thương mại, tiền tươi. Hay đúng hơn là... tất cả chúng tôi vừa mới hoàn thành công trình đó.”

“Công ty của chúng mày? Cả bọn cùng làm?”

“Phải.”

Rồi ông sẽ nhận được câu trả lời, khi đã chờ đợi đủ lâu.

“Tôi không tới đây để thuê mướn... như ông nói... thêm nhân lực. Tôi đến đây để đưa cho ông thứ này.”

Leo lấy phong bì trong túi áo ngực, chính là chiếc phong bì mà trên đường đi anh đã kiểm tra không biết bao nhiêu lần, đảm bảo nó vẫn nằm nguyên chỗ đó. Anh giơ nó ra.

“Bốn mươi ba nghìn.”

Ivan cầm lấy chiếc phong bì trắng hơi nhăn nhúm, mở nó ra.

“Ba mươi lăm nghìn mà ông cho là tôi nợ ông, cộng với năm nghìn tiền lãi.”

Những tờ năm trăm krona. Tiền cũ. Loại tiền nằm trong túi an ninh trong xe bọc thép.

Những ngón tay còn ám mùi hành tây rút từng tờ tiền ra đếm.

Tám mươi sáu tờ.

“Phải... và ông còn được thêm ba nghìn nữa.”

“Vì cái gì?”

“Một nghìn cho mỗi xương sườn.”

Leo nhìn bố mình bất giác đặt bàn tay cầm tập 500 krona dày cộp lên mạng sườn bên trái. Leo đã ném cái thắt lưng giắt đồ nghề xuống và bước đi trong khi ông già đứng đó quát tháo về lòng biết ơn, và rằng một ngày anh sẽ phải lê lết trở lại đây. Leo không nhớ những câu còn lại, những gì hai người đã quát vào mặt nhau khi bố túm lấy anh. Khi đó anh chỉ xoay người, tung ra một cú đấm đúng như đã được dạy, nhưng không vào mũi mà chỉ nhằm vào thân trên.

“Tôi có đủ tiền, thưa bố.”

Ngày này bốn năm trước, anh đã nhìn thẳng vào mắt bố, tay đấm xuyên qua mục tiêu, dồn cả sức mạnh từ vai, cánh tay, nắm đấm.

“Vậy nên ông cứ cầm đi. Ông cần tiền mà.”

Và khi nắm đấm đi trúng mục tiêu, anh cảm nhận được xương gãy bên trong.

Sau cú đấm hai người chỉ im lặng đứng đó. Bố cúi gập người, tay phải giơ lên, không nhận ra con trai mình là người ra đòn trước, trong khi Leo hạ tay phải xuống, không nhận ra mình là người đánh trước.

“Tiện thể... tình hình ông dạo này thế nào?”

“Tao vẫn có đủ việc để làm. Mày đã đánh gãy ba xương sườn, nhưng không thể bẻ gãy ý chí tao.”

Một tay Ivan cầm phong bì đựng đầy tiền, tay kia chống vào cửa giữ thăng bằng cho cơ thể lạnh cóng của ông - áo khoác mỏng trùm ngoài áo sơ mi cộc tay trong tiết trời gần không độ.

“Nhưng nếu tao không nhầm... Chẳng nhẽ mày tưởng cứ thế mà đi được à? Món tiền này, Leo, là tiền của tao trả trước trong khi mày chưa từng chịu làm việc mà trả nợ.”

“Tôi đã làm việc cho ông suốt bốn năm để đổi lấy đồng lương chết đói.”

“Mày đã nhận được những gì xứng với mày. Không hơn, không kém.”

“Tôi không tới đây để cãi vã với ông. Tôi tới đây để đưa ông món tiền chết tiệt này. Giờ chúng ta không còn nợ nần gì nhau nữa.”

Leo toan bước về phía xe ô tô nhưng bố anh gọi giật từ phía sau.

“Thế còn... mấy đứa em mày thế nào rồi?”

Leo dừng bước, xoay người lại.

“Chúng vẫn ổn.”

Đây rồi. Những câu hỏi dồn dập.

“Vậy bọn mày vẫn... gặp nhau?”

“Phải.”

“Và chúng vẫn sống ở đó, cùng bà ấy, ở... Falun?”

“Chúng đang ở Stockholm này.”

“Ở đây?”

“Phải.”

“Chúng... đang học gì?”

“Đi làm rồi.”

“Vậy là... chúng đi làm?”

“Phải.”

“Với ai?”

“Chúng làm việc cùng tôi.”

“Với mày?”

“Phải, với tôi.”

“Cả... Vincent?”

Người đàn ông đó, năm mươi mốt tuổi, đi giày không tất, bỗng dưng như già sọm hẳn đi. Cằm và môi dưới của ông càng nhô ra trước, mặt trắng bệch, ông thực sự đang rét cóng.

“Phải, cả Vincent.”

Ông bám chặt lấy tay vịn cầu thang ướt đẫm, như thể bộ xương già nua không thể gánh nổi thân thể ông.

“Nhưng nó mới mười sáu, mười bảy tuổi gì đấy, đúng không?”

“Cũng bằng tuổi tôi khi bắt đầu làm việc cho ông.”

“Tao tưởng... nó ở đó, với... bà ấy.”

Lúng túng với chiếc phong bì trong tay, ông nhét nó vào túi áo ngực.

“Nó cao không?”

“Cũng tầm như ông và tôi.”

Dường như người cha vươn thẳng người lên, mặc dù tay vẫn bám chặt tay vịn cầu thang.

“Cao chừng này?”

“Phải.”

“Đúng là gene tốt có khác.”

“Vài năm nữa, nó sẽ còn cao hơn.”

“Gene quá tốt.”

Cơ thể ông không còn lạnh cóng nữa. Ông lấy lại được sức mạnh, buông tay vịn cầu thang và bước về phía Leo.

“Còn Felix?”

“Sao?”

“Nó thế nào?”

“Rất ổn.”

Ivan vung hai tay lên giữa khoảng không.

“Lâu quá rồi.”

Leo biết ông sắp nói gì.

“Kể từ lần cuối tao gặp chúng.”

Đơn giản là anh biết trước vậy thôi.

“Leo? Con trai này? Khốn kiếp, sao mày không bảo chúng!”

“Tôi không nghĩ là Felix...”

“Để tất cả có thể gặp lại nhau! Cả bốn người !”

“... muốn gặp ông. Hoàn toàn không.”

Ông đang đứng rất gần, chỉ cách Leo vài bước chân. Leo thoáng ngửi thấy mùi rượu Vranac vương lại từ hôm qua. “Vậy là nó không muốn?”

“Không.”

“Nhưng hẳn mày biết...”

“Và ông cũng hiểu tính nó còn gì. Khi Felix đã quyết tâm làm gì thì không sao lay chuyển nổi.”

“Khốn kiếp, đó là mười bốn năm về trước rồi!”

“Đã mười bốn năm... và ông vẫn không cầu xin sự tha thứ?”

Hai người đứng rất gần nhau. Mùi rượu vang lẫn với mùi cà phê và hành tây sống.

“Sao nó có thể cứng rắn đến thế! Chẳng lẽ không thể bỏ qua được hay sao?”

“Cũng giống như một bãi nước bọt trên mặt. Phải không bố?”

“Vậy mày có thể thuyết phục nó. Để cha con có dịp gặp lại nhau. Được chứ?”

Đôi mắt ông toát lên vẻ hy vọng.

“Dù gì thì tao cũng đang bận một thương vụ lớn. Leo à? Một khách sạn năm mươi lăm phòng cần dán giấy dán tường, sơn đồ gỗ rồi tất cả cửa sổ, mày biết đấy, mỗi phòng bét nhất cũng được mười ba nghìn, cả công trình to tướng thế. Tao đã nghĩ đến mày. Chúng ta có thể cùng làm. Tao và mày. Và giờ... cả mấy đứa em mày nữa.”

Đôi mắt đen khốn nạn kia đã hăm dọa anh từ nhỏ, và anh đã phải trốn chạy khỏi chúng.

“Nghe này... bố?”

“Ừ?”

“Tôi không phải chân sai vặt cho ông nữa.”

Lần này đôi mắt đó không còn tác động đến anh được nữa.

“Sai vặt?”

“Phải.”

“Mày chỉ nghĩ đến bản thân mình thôi! Mày hiểu chưa, Leo?”

Leo nhìn người đàn ông đã trở nên bé nhỏ hơn xưa rất nhiều đang đứng trước mặt mình, như thể ông từng là một người khác hẳn và giờ đành chịu thua không thể quay lại trở về con người đó được nữa. Những sợi lông mày chĩa ra tua tủa như ăng ten, quần áo thì bẩn thỉu - từ khoảng cách này anh cũng ngửi thấy mùi mồ hôi mới cũ lẫn lộn.

“Bao giờ mày cũng thế. Chỉ nghĩ đến bản thân mà thôi.”

Leo không đáp.

“Chỉ biết cứu mạng mình thôi.”

Vì anh đã quyết không trả lời.

“Y như một thằng chỉ điểm.”

Nhưng sau cùng anh vẫn đáp lại.

“Ông nói cái quái gì thế?”

“Hôm nay mày đến đây, ngạo nghễ gớm nhỉ. Bao nhiêu năm trời không nói năng với nhau lời nào. Tao đã nghĩ chẳng còn trông mong gì ở mày được nữa rồi. Vậy tại sao hôm nay mày tới đây với bốn mươi ba nghìn bạc? Bốn mươi ba nghìn! Hô biến từ trong mông mày ra hả? Mày muốn tao tin cái đó hả? Còn lâu. Mày kiếm ra số tiền này bằng cách nào? Khi mà không có tao? Công việc gì đem lại từng này tiền?”

Ivan lấy một điếu thuốc lá vấn bằng tay trong túi áo, châm lửa.

“Mày tưởng tao không biết mày định làm gì hả? Với mấy cái xe khốn kiếp đó. Mày đến đây để nói với tao rằng mấy đứa em mày không còn muốn gặp bố chúng nữa. Tọng chuyện đó vào cổ họng tao như một con ngỗng nhồi? Rồi đứng đó làm ra vẻ cao sang hơn tao? Hệt như một thằng chỉ điểm. Một thằng potkazivanje!”

“Tôi có nói gì đâu! Ông thừa biết còn gì!”

“Chính mày đã khai ra tao.”

Lần nào cũng thế. Bất kể lão có hò hét đến mấy hay gãy thêm ba xương sườn nữa, mọi chuyện sẽ vẫn vậy, không thay đổi gì. Leo hít thở chậm rãi, suy tính cách giải quyết. Anh với tay chạm vào túi ngực chiếc áo rẻ tiền bố đang mặc.

“Chúng ta không còn nợ nần gì nhau nữa.”

Anh phóng xe lao vụt qua khu dân cư. Thằng chỉ điểm. Vọt qua ngôi trường, bể bơi và thư viện. Thằng chỉ điểm. Rồi anh đột ngột giảm tốc độ. Giọng nói của bố, thằng chỉ điểm, không tan đi như thường lệ.

Anh tắt động cơ dừng lại trong bãi đỗ vắng vẻ trước những dãy nhà thấp màu đỏ trên quảng trường Osmo, mắt nhìn những quầy tạp phẩm, ngân hàng, quán cà phê, tiệm sửa giày, hiệu giặt là và tiệm bán hoa.

Tôi có khai gì đâu. Dù mới mười tuổi, ngồi đối diện mấy gã cớm khốn kiếp béo ị, tôi vẫn làm đúng lời ông dặn không hé răng chút nào.

Nếu nhìn xa hơn một chút, quá ki ốt nhỏ chỗ góc phố, anh có thể thấy ống khói bằng gạch ngôi nhà bố đang ở, nơi họ từng sống chung khi vẫn còn làm việc cùng nhau.

Không một tên chỉ điểm nào làm được điều tôi đã làm.

Dù cố anh cũng không nhớ được gì nhiều về khoảng thời gian đó. Anh đã bỏ việc, gặp được một người mẹ đơn thân lớn hơn anh năm tuổi, rồi quyết định dọn đến ở cùng cô trong căn hộ một phòng ngủ ở Hagsatra.

Không tên chỉ điểm nào lại đủ khả năng cướp một xe chở tiền.

Ba tháng sau, anh và Anneli cùng ký hợp đồng thuê một căn hộ ba phòng ngủ ở Skogas, nơi đã từng là cả thế giới đối với anh, cho tới hôm nay.

Ông đã từng làm được điều gì như thế chưa, ông già? Cướp một chiếc xe bọc thép chở tiền?

Leo mở cửa rồi bước tới quầy hàng nhỏ chỗ góc phố, mua thuốc lá, mấy tờ báo và vài tờ xổ số cào. Leo để gói Camels lên quầy, cố tránh ánh mắt Jonsson, ông ta vẫn còn lại một nhúm tóc bạc lơ thơ trên mái đầu vốn đã ít tóc của mình.

“Cậu lấy thêm gì nữa không?”

“Không, chỉ mấy món này thôi.”

“Mua gì cho ông già nhà cậu không? Ít thuốc lá và giấy cuốn Rizla nhé?”

“Hôm nay thì không.”

Bọn cớm có chút manh mối nào không?

Anh lấy trong túi quần ít tiền, mấy tờ 50 krona đã cũ cuỗm được từ vụ cướp. Jonsson nhận tiền từ hai bàn tay vẫn còn dính thạch cao của anh, bỏ vào máy đếm tiền lúc nào cũng hé mở - lò xo bật đánh tách một tiếng, cả khi không mua bán gì lẫn khi nhận tiền.

Không. Chúng chẳng tìm được dấu vết nào.

“Thế còn vụ kia thế nào?”

“Vụ gì?”

“Mấy tấm vé ấy. Quay xổ số ấy mà. Hôm nay ông già mua khá nhiều.”

Leo không trả lời, tay nhận lấy bao thuốc và tiền thừa trả lại. Anh chỉ gật đầu rồi bỏ đi.

“Lâu lắm rồi mới gặp lại cậu đấy, nhóc.”

Khi đó anh đã bước ra tới quầy báo gần cửa.

“Đúng. Cũng khá lâu rồi.”

Jonsson mỉm cười.

“Leo này.”

“Gì thế?”

“Gửi lời chào ông già hộ tôi nhé.”

Chúng bao giờ cũng tìm ra manh mối đâu đó.

Leo hút thuốc thật nhanh, đi lại điên cuồng trước cửa kính các tiệm bán hàng. Tay khốn nạn đó vẫn tóm được ông già chỉ vì chính ông đã bất cẩn. Mẹ kiếp, anh có khai ra gì đâu! Hồi đó anh mới mười tuổi, không hề hé răng nửa lời trước mặt bọn cớm.

Anh đi đi lại lại trên quảng trường, điếu thuốc trong tay.

Đi đi lại lại.

Chợt anh dừng lại.

Anh đã từng đến chốn này, nhưng cảm giác cứ như thể đây mới là lần đầu anh nhìn thấy nó.

Hai ngân hàng nằm cạnh nhau, như một cặp tình nhân.

Chúng nằm giữa hiệu tạp hóa và cửa hàng hoa. Có thể lái xe đến tận chỗ đó mà vẫn quan sát được toàn bộ quảng trường, bãi đỗ xe, nhất cử nhất động của kẻ nào định ngáng trở anh.

Hai mục tiêu.

Cùng địa điểm. Cùng một lúc. Cùng mức độ rủi ro.

Anh không hút vội nữa - anh cảm nhận sự bình thản thỉnh thoảng vẫn chiếm lấy tâm trí anh, sự bình thản mà ngay cả bố cũng không lay chuyển nổi khi gọi anh là thằng chỉ điểm.

JOHN BRONCKS THỬ ĐẾM những hạt mưa. Bao nhiêu hạt bám ở góc bên trái cửa kính? Anh làm vậy được một chốc. Sau đó những hạt mưa chảy thành dòng, thế giới bên ngoài cũng bị xóa nhòa. Các đồng nghiệp vụng về, béo ục ịch của anh chạy trên sân sở cảnh sát, khó mà biết được họ đang làm gì. Trên mặt bàn phía sau anh bày la liệt mười tám tập hồ sơ được đánh mã các màu khác nhau. Anh không nhớ nổi từ hồi vụ án trong tập hồ sơ trên cùng choán hết tâm trí anh có ngày nào trời tạnh ráo hay không. Nó khiến anh không thể tập trung xem bất cứ thứ gì khác - giống như những hạt mưa trên cửa sổ, cứ hễ anh định làm một vụ nào khác là những ý nghĩ lại nhòa đi.

Max Vakkila (MV): Cách chú ấy nói cũng giống như người trong cửa hàng đó.

Thanh tra John Broncks (JB): Ý cháu là gì?

MV: Giống chú Ali. Tuy chú ấy không phải Ali nhưng cách nói chuyện thì giống hệt.

Đây là lời khai của người duy nhất đã tiếp xúc với chúng - ngoại trừ hai nhân viên an ninh.

Một cậu bé sáu tuổi.

Tới đủ gần để thấy được khuôn mặt chúng, nghe tiếng chúng nói.

JB: Người ngồi xe lăn trông thế nào?

MV: Chảy dãi dớt khắp nơi.

JB: Ý cháu là...

MV: Chính là người có cái tên Gobakk, cả cằm của chú ấy ướt nhẹp.

JB: Gobakk?

MV: Đó là tên chú ấy.

Trẻ con nhìn thấy những điều mà người lớn không thấy được.

JB: Phần còn lại của khuôn mặt hắn thì sao?

MV: Rám nắng.

JB: Nghĩa là da hơi... ửng đỏ?

MV: Nâu. Giống như phơi nắng mùa hè.

JB: Tốt. Tốt lắm. Cháu còn nhớ được gì nữa không?

MV: Chân chú ấy.

JB: Thế nào?

MV: Không được bình thường. Hay có thể nói... chĩa thẳng ra bên dưới cái chăn.

JB: Cháu nhìn thấy à?

MV: Vâng. Cả bàn chân đi giày nữa.

Trẻ con đôi khi nhìn thấy những điều không có thực, như trong truyện cổ tích.

JB: Thế còn người đang đứng?

MV: Cháu không nhìn kỹ chú ấy lắm.

JB: Nhưng vẫn thấy chút ít chứ?

MV: Chú ấy có vẻ giận dữ.

JB: Giận dữ?

MV: Nói liến thoắng.

JB: Còn gì nữa không?

MV: Mắt chú ấy, nhìn có vẻ ác.

JB: Như thế nào?

MV: Tối đen. Rất tối. Như lão phù thủy Jafar trong phim Aladdin ấy.

Hai tên cướp được trang bị tận răng, nhìn bề ngoài như người Ả Rập, nói tiếng Anh kiểu Ả Rập. Vì đó là những gì chúng muốn người ta thấy? Vì chúng thực sự là người Ả Rập? Hay trong hoàn cảnh ấy bao giờ người ta cũng nghĩ ngay như vậy? Giọng nói đặc sệt của chúng. Những từ tiếng Ả Rập loáng thoáng - jalla jalla, sharmuta, Allahu Akbar - những từ mà chính anh cũng sẽ dùng nếu muốn giả làm người Ả Rập.

Anh ngồi trước đống hồ sơ, ngáp dài, đứng dậy bước về phía máy pha cà phê trong hành lang rót một cốc nước nóng. Sau đó ra chỗ máy bán hàng tự động, ấn số 17 như thường lệ. Lấy chiếc bánh mì nhỏ tròn cuộn margarine, một lát phô mai, kẹp ở giữa lát cà chua khiến bánh mì ướt nhẹp. Tay anh nhặt lát cà chua ra.

Hắn dùng bạo lực để buộc người khác phục tùng.

Hắn đe dọa sẽ giết họ.

Bạo lực được sử dụng có tính toán như một công cụ để đạt được mục đích. Và mình, hơn ai hết, hiểu quá rõ điều này - giống như nắm tay của một người đàn ông trưởng thành giáng xuống cơ thể kẻ không chịu phục tùng mình. Bạo lực phát huy tác dụng, đem lại những gì hắn muốn.

John Broncks rời máy bán hàng tự động, thôi không ăn nữa mà ném cả miếng bánh mì và cà chua vào sọt rác, đi ngang qua bốn cánh cửa tới văn phòng viên chỉ huy đội điều tra và gõ lên khung cửa như thường lệ.

“Ông có thời gian không?”

Karlstrom gấp cuốn sách hay một thứ gì nhìn na ná cuốn sách, đặt nó qua một bên. John bước vào, ngồi xuống chiếc ghế trống và thử đọc tựa đề, sau cùng chỉ xem được tên một nhà văn Pháp nào đó trên gáy sách, Bocuse.

“Vụ gì thế?”

“Vụ cướp xe chở tiền.”

Broncks đặt những báo cáo giám định lên mặt bàn của Karlstrom.

“Tôi muốn vụ này phải được ưu tiên.”

“Ưu tiên... như thế nào?”

“Tôi muốn mình có thể dành riêng vài tuần cho vụ này.” Karlstrom cầm một tập hồ sơ trên giá, xem qua rồi chìa về phía Broncks.

“Cậu còn mười tám vụ nữa. Những vụ hoàn toàn riêng biệt, do những kẻ khác nhau thực hiện.”

“Phải.”

“TẤN CÔNG và BẮT GIỮ CON TIN ở quán Café Opera. CƯỚP tại hiệu trang sức ở Odengatan. PHÓNG HỎA ở Ming Garden chỗ quảng trường Medborgar.”

“Thì sao?”

“HIẾP DÂM ở công viên Vitabergs. BUÔN BÁN MA TÚY, phố Regerings. MẠI DÂM, quảng trường Karla. MƯU SÁT, phố Lilla Ny...”

Karlstrom đóng tập hồ sơ.

“... cậu muốn tôi đọc tiếp không? Cậu bảo tôi giao lại mấy vụ đó của cậu cho ai đây?”

“Bọn thực hiện vụ này toàn dân lão luyện. Chúng đã từng làm những vụ tương tự trước đây.”

“Còn ai khác trong đội đây, John, khi mà mỗi người cũng đang còn mười tám vụ cần phải điều tra một lúc?”

“Và chắc chắn chúng sẽ không dừng lại.”

“Tôi...”

“Chúng sẽ không dừng tay, vụ kế tiếp sẽ còn bạo lực hơn vụ ở Farsta. Cứ như thế mãi, lần sau dã man hơn lần trước.” John nhìn chỉ huy của mình - một người khác hẳn so với anh. Trong căn phòng này cuộc điều tra đó không phải thứ quan trọng nhất, khác với trong phòng John. Người đàn ông ngồi trước mặt anh tự hào về cuộc đời mình và chính cái đó đem lại cho ông cảm giác an toàn. Trên bức tường phía sau treo những vật giống như một thứ bản đồ con đường thăng tiến của ông - bằng luật treo ở góc bên trái, giấy chứng nhận của câu lạc bộ bắn súng thuộc sở cảnh sát treo ở giữa, sau cùng phía bên phải là giấy bổ nhiệm ông vào vị trí chỉ huy đội điều tra. Trên mặt bàn ông là một thứ bản đồ nữa, ghi dấu những gì ông đã xây dựng được trong cuộc sống riêng tư: mặt sau ba tấm ảnh mà John biết là của hai đứa con gái chừng năm sáu tuổi ông đã nhận nuôi từ Colombia, và của vợ ông - người mà John chưa từng nghe được điều gì không hay từ chỉ huy của mình. Bên cạnh mấy tấm ảnh là con cá heo bằng nhựa mà cứ hai mươi phút một lần ông dùng để xoa bóp vai, một con dao rọc giấy của hiệp hội cảnh sát và một cuốn sách của Paul Bocuse mà giờ John mới thấy tựa đề là Nấu ăn kiểu Pháp.

Chúng sẽ không dừng tay, vụ kế tiếp sẽ còn bạo lực hơn. Vụ ở Parsta. Làm sao anh có thể giải thích điều này với một người chưa từng nếm trải, chưa từng tiếp cận bạo lực kiểu đó? Cứ như thế mãi, lần sau dã man hơn lần trước. Làm sao anh có thể giải thích điều này với một người mà tất cả ngón nghề đã treo hết trên bức tường kia, trong khi tất cả tương lai của ông chỉ là những gì đang để trên mặt bàn trước mặt?

“Bọn cướp mang theo một khẩu AK4 và một khẩu tiểu liên. Tất cả đều là vũ khí quân dụng. Tôi đã xem xét tất cả các vụ trộm cắp liên quan tới lực lượng Cảnh Vệ, tầm bắn, kho dự trữ quân sự. Không thấy manh mối. Tôi cũng đã nghiên cứu hồ sơ tất cả các đối tượng đã thực hiện những vụ như thế này trước đây, dù đã được tự do hay trong thời gian quản thúc. Không thấy manh mối. Tôi đã có thể loại trừ gần như hoàn toàn khả năng đây là một vụ có tay trong.”

Anh không chắc ông sếp có thực sự lắng nghe không. Họ ngồi đối diện nhau qua bàn làm việc - Karlstrom chỉ chứng kiến bạo lực khi đã vào nghề cảnh sát, nhưng John thì đã lớn lên với nó, sống cùng nó, và rồi quyết tâm trở thành cảnh sát để đối mặt với nó lần nữa.

“Hai tên cướp hoạt động hoàn toàn thống nhất, không sai một ly so với kế hoạch. Chiếc xe bọc thép bị cướp, đi với tốc độ bình thường từ Farsta tới bờ hồ Drevviken. Vì toàn bộ chỗ tiền còn lại năm sau cánh cửa khóa, chúng nổ súng, không ngần ngại trút cả băng đạn vào đó.”

Ông vẫn đang nghe. Giờ thì John biết chắc điều đó.

“Chúng rất có kỷ luật, cực kỳ tập trung, không một lần để lộ thân phận trong suốt hai mươi phút của vụ cướp.”

“Thân phận?”

“Chúng vẫn chưa thuyết phục được tôi. Khác với hai nhân viên an ninh kia, tôi chưa tin bọn cướp này là dân Ả Rập. Cũng giống như việc một trong hai tên chẳng bị khuyết tật gì và phải ngồi xe lăn cả. Đó có thể là những kẻ được sinh ra trên đất nước này, đã đóng một màn kịch rất khéo dưới áp lực khủng khiếp - chúng sử dụng súng chẳng khác nào đồ nghề thông thường, như thể bạo lực là nghề của chúng, như thể chúng đã được rèn giũa trong môi trường vũ lực thái quá.”

Những tấm ảnh vợ con ông được lồng trong khung đặt giữa hai người, John cảm giác anh đã biết hết về họ. Karlstrom là người thích kể về gia đình mình.

“Và tôi cũng không tin chỉ có hai tên tham gia vụ này. Chắc chắn còn có đồng bọn. Trong trường hợp đó, chúng ta đang nói tới một băng cướp mà rồi đây sẽ còn tiếp tục phát triển.”

John chưa từng nói về gia đình mình, với bất kỳ ai.

“Vẫn còn chín triệu krona sau cánh cửa thép. Chúng sẽ coi đây là một thất bại thảm hại. Chúng chưa giành được thứ mình mong muốn. Lần này thì chưa.”

“Cậu vừa nói... trui rèn trong môi trường bạo lực?”

“Không, tôi đâu có nói thế. Là trui rèn trong môi trường vũ lực thái quá.”

“Ý cậu là gì?”

“Chúng lớn lên trong cảnh bạo lực.”

John Broncks phải chạy thật nhanh qua hành lang. Vụ án đã được ưu tiên. Giờ anh có thể dành cả tháng toàn tâm toàn ý cho mỗi một hồ sơ đó, đằng nào nó cũng đang làm lu mờ tất cả những vụ khác. Anh đi thang bộ xuống ba tầng nhà, thậm chí không chờ thang máy, sau đó đi qua những hành lang hẹp tới phòng pháp y - liếc mắt ngó qua phòng rửa ảnh, phòng lưu trữ y phục của thủ phạm, phòng cất y phục của nạn nhân. Cô không có ở đó. Sanna. Chính là cô gái đã đứng trên bến thuyền chỉ tay ra hồ nước và con đường mà có lẽ bọn cướp đã dùng để tẩu thoát, sau đó bỏ đi như thể chẳng hề nhận ra anh. Sanna đã trở lại lực lượng cảnh sát thành phố, cũng đột ngột hệt như khi cô ra đi. Sanna, người mà vài năm trước đây anh còn phải lẩn tránh mỗi khi hai người bước qua mặt nhau trên phố King - anh thấy cô từ xa, tuy không rõ mặt nhưng anh biết rõ dáng đi của cô, và vì đã chờ quá lâu để băng ngang qua đường, anh đành phải cắm cúi bước đi, giả bộ ngoảnh đi chỗ khác khi hai người đi ngang qua nhau.

Chiếc cặp màu đen của cô nằm trên mặt quầy trong phòng thí nghiệm rộng rãi, cạnh một cuộn phim gelatin, hộp tăm bông, mấy lọ nhựa, ống nghiệm, cái nhíp và kính hiển vi. Cô đứng ở phía bên kia phòng, cạnh cái tủ sắt đầy hơi CNA, đang lấy dấu vân tay cho một vụ điều tra khác.

Cô cầm nghiêng một quyển sổ để ghi chép. Bút chì và giấy kẻ. Bất động.

“Xin chào.”

Cô ngoảnh lại nhìn anh. Không biểu lộ gì.

“Chào anh.”

“Anh đã xem báo cáo của em, Sanna. Vài lần cơ đấy.”

Đây chính là việc mà anh muốn tránh. Đứng đây, đối diện với vẻ hoàn toàn dửng dưng của cô.

“Việc điều tra của anh chưa đi đến đâu cả. Nhưng anh đã nói chuyện với Karlstrom và ông ấy bằng lòng cho anh thêm thời gian.”

Cô tiếp tục viết, sau đó bỏ cuốn sổ vào túi áo khoác và mở cửa tủ CNA, làm thoát ra chỗ hơi còn lại trong đó.

“John, anh biết đấy, chẳng còn chi tiết nào nữa cả.”

“Anh muốn rà soát lại một lượt nữa. Cùng với em.”

Họ bước xuống cầu thang tới garage nằm bên dưới toàn bộ tòa nhà của sở cảnh sát.

Anh tự hỏi liệu cô có thấy anh hôm ấy không. Trên phố King. Liệu cô có thấy anh ngoảnh mặt đi. Liệu cô có nhận ra anh mặc dù không thấy mặt - cả hai đã từng tham gia làm việc cho chương trình bảo vệ nhân chứng và biết rõ thứ đầu tiên ai đó cần thay đổi nếu không muốn bị nhận dạng là dáng đi của riêng mình. Đó là thứ mà kẻ ta đang lẩn tránh sẽ nhận ra trước nhất trong đám đông, không phải mũi, miệng, tay, bộ râu, màu tóc, quần áo - những cử động mới là điều kết nối mọi thứ. Lẽ ra anh phải thay đổi sải chân, ngắn bước lại, bàn chân xòe ra, cúi đầu xuống.

Trong một góc garage là một căn nhà nhỏ vuông vức chừng bốn lô đỗ xe, một căn garage trong garage, nơi cất giữ các phương tiện chờ giám định. Cô mở cửa ra và ở chính giữa là một chiếc xe tải trắng. Broncks tiến tới leo lên xe. Các mặt ghế đều phủ màng nhựa. Các mảnh kính vỡ, tài liệu, túi an ninh đều đã được đem đi. Anh đã nghiên cứu và loại trừ tất cả báo cáo các vụ cướp xe và tàu thuyền gần Farsta và Skondal trong khoảng thời gian trước vụ cướp - nên anh tin rằng hai tên cướp đã được kẻ nào đó chở tới địa điểm đầu tiên của vụ cướp bằng xe riêng, và sau đó được kẻ nào đó đón ở địa điểm thứ hai bằng ca nô riêng.

Anh trèo vào phía sau xe nơi két sắt đã được mở. Hồ sơ giám định ghi dấu vết cấp độ 4: máu, sợi vải, vân tay - tất cả đều của hai nhân viên an ninh đã bị khống chế và các nhân viên khác thường ngày lái chiếc xe đó. Không thấy gì khác. Không một dấu vết của những kẻ họ đang truy lùng.

“Góc va chạm chín mươi độ.”

Cô mở chiếc cặp màu đen lúc nào cũng mang bên mình, đặt năm vỏ đạn trên mặt ghế giữa hai người. Sau đó, cô chỉ cho anh thấy vết đạn bắn qua cửa kính bên ghế lái, đường đạn tới cửa đối diện chỗ ghế bên. John nhớ lại một loạt hình ảnh trong báo cáo của cô với những đường kẻ nhỏ đánh dấu đường đạn.

“Và đây, cạnh chúng, năm viên đạn méo mó - đạn bọc kim loại, 9 ly, bị chặn lại ở cánh cửa.”

Cô cầm lên từng viên một.

“Khi so sánh chúng... đây, anh thấy không? Năm đường vân xoáy về bên phải, bề rộng từ 1,4 đến 1,5 mm. Chúng được bắn ra từ cùng một khẩu súng. Một khẩu tiểu liên m/45 của Thụy Điển.”

Máy móc. Đó là từ mà John đang tìm kiếm. Đấy là cách mà cô nói về công việc của mình, và anh tự hỏi những bản tóm tắt của cô có phải bao giờ cũng như vậy, hay cô chỉ cố tình tỏ ra dửng dưng với anh.

Chiếc xe lăn đặt sau xe tải. Một trong hai nghi phạm đã ngồi trên đó, trùm chăn lên hai cẳng chân. Nó bị đánh cắp từ bệnh viện Huddinge và theo như báo cáo pháp y, có dấu vân tay của bảy người mà sau đó đã được đem so sánh với 120.000 dấu vân tay trong hồ sơ của cảnh sát. Không trùng khớp với ai.

“Hoặc chúng đeo găng, hoặc chúng chưa từng là đối tượng điều tra.”

Đồng phục của hai nhân viên an ninh có màu xanh lá. Lúc trước nhìn trong ảnh thì không rõ lắm. Cô chọc nhẹ ngón tay đeo găng qua cái lỗ trên cổ áo.

“Anh ta gặp may. Chỉ cần cúi người ra trước một chút là viên đạn đã xuyên vào gò má rồi.”

Điều đầu tiên cô không nói máy móc đâm xuyên qua không gian. Có lẽ đó là do giờ cô đứng cách anh khá xa, và nhờ thế cô có thể giữ khoảng cách với anh mà không cần dùng đến câu chữ và giọng nói.

“Bọn chúng chưa lấy được thứ mình muốn.”

“Bọn chúng?”

Anh lùi lại một chút để nhìn bao quát chiếc xe tải với cửa hai bên và cửa sau mở toang,

“Jafar trong truyện Aladdin. Và một kẻ tên Gobakk.”

“Jafar? Go... bakk?”

“Đó là từ nhân chứng chính của chúng ta. Một cậu bé sáu tuổi. Chúng ta đang tìm kiếm những kẻ không hề tồn tại. Những kẻ mà cậu bé và những người khác nhìn thấy bởi chính chúng muốn người ta nhìn thấy như vậy. Anh thì không tin. Anh không tin có Jafar và Gobakk.”

Anh biết rõ cách cô đi lại, cách cô cầm cuốn sổ và ghi chép vào đó, biết chính xác mùi hương mà anh luôn tìm kiếm một cách vô thức khi bước vào bất kỳ căn phòng nào. Anh hiểu cảm giác khi thấy cô cười, ngay cả khi cô đang đứng cách xa anh như lúc này.

“John, em làm việc với sợi vải, dấu máu, vân tay. Những sự thật hiện hữu. Những gì tồn tại và có thể được chứng minh. Và, như anh nói, Jafar và Gobakk không tồn tại. Không hẳn. Cũng giống như anh và em không tồn tại nữa ấy. Hiểu không?”

John Broncks nán lại sau khi cô bước ra khỏi garage lạnh lẽo sực mùi dầu và bụi đất. Anh đi vòng quanh chiếc xe tải trống hết lần này tới lần khác, nhưng trong đầu vẫn đang mường tượng lại cuộc thẩm vấn hai nhân viên an ninh, những người đã nói một trong hai tên cướp thì luôn lắng nghe và chờ đợi, rất bình thản cũng như biết kiềm chế, mặt nạ trùm kín mặt, hành động chính xác ngay cả khi gí họng súng vào đầu họ.

Vũ khí cũng giống như công cụ. Bạo lực là một ngón nghề.

Jafar không tồn tại. Gobakk không tồn tại.

Rèn giũa trong môi trường vũ lực thái quá.

Nhưng anh thì vẫn đang tồn tại.

LEO NẰM NGỬA MỘT LÚC theo thói quen mỗi khi mới ngủ dậy, thật gần tiếng thở nặng nề của cô, người lúc nào khi ngủ cũng dang rộng hai tay ra. Anh, hoàn toàn trái ngược, ngủ không sâu, dễ tỉnh giấc. Hồi nhỏ bao giờ anh cũng làm thế, rón rén bước qua chỗ ông bố đang ngáy vang và bà mẹ đã phải làm việc cả đêm, tránh không làm họ thức giấc, chỉ mặc đồ lót và đi chân trần vào bếp làm bữa sáng cho Vincent và Felix.

Anh vẫn còn làm vậy, thức giấc trước cô, sau đó sửa soạn bữa sáng.

Cô ngáy - như bình thường khi cô nằm ở tư thế đó - vậy là Leo nắm vai cô lật người lại để cô nằm nghiêng, tiếng ngáy thôi hẳn khi anh hôn lên má cô.

Anh vẫn ngủ ngon. Bất chấp việc đã bị gọi là chỉ điểm. Bất chấp việc phải trả món nợ cho người mà anh chẳng nợ nần gì.

Chỉ điểm.

Chỉ một từ đã đâm xuyên bức tường chắn của anh. Đôi khi lời lẽ là như vậy. Sắc, nhọn. Nhưng nó không đâm quá sâu và anh cũng không bị ám ảnh lâu lắm.

Những thùng đồ để chuyển nhà được đặt cạnh giường. Anh đếm được bảy cái, trong phòng khách và hành lang cũng có chừng đó.

Lên đường. Tới một căn nhà nhỏ xấu xí bên cạnh cái garage khổng lồ - hang của Siêu nhân Bóng Ma và lời giải cho vấn đề nơi cất giấu. Để không chết gí trong căn phòng thuê ở tầng trệt chất ngập những tấm vé số nhàu nát.

Cả đêm qua và sáng nay không mưa. Giờ trời lại đổ mưa. Mưa đổ xuống hàng giờ vào cái lỗ mà họ đã lấp lại trước mặt cánh cửa an ninh hạng nhất - lớp sỏi chưa được lèn thật chặt quanh đó có thể sụt xuống để rồi bị gã lính gác nghiện thuốc bận đồng phục xanh lá phát hiện ra.

Cô duỗi thẳng người, lầm bầm mấy chữ mà anh không hiểu nổi, nằm ngửa ra và lại bắt đầu ngáy.

Anh phải nói cho cô biết. Hướng dẫn cô. Cô phải đến đó, cô là người duy nhất có thể làm được việc ấy.

Leo đang ở trong hành lang thì nghe thấy tiếng người nói bên ngoài cánh cửa căn hộ. Tiếng ai đó nhảy hai bậc một lúc, tiếng ai đó khác tiếp đất bằng cả bàn chân mà vẫn nhanh nhẹn - sau đó ngừng lại một chút trước khi bấm chuông cửa. Là đứa em trai anh, nó dừng lại, định thần, một người không bao giờ hành động khi chưa suy nghĩ thấu đáo.

“Cái quái gì thế này?”

Felix bận chiếc áo flannel kẻ màu đỏ, quần bò sờn hơi quá rộng và bốt Timberland màu be. Trong khi đó Jasper mặc áo khoác da, quần bò mới tinh vẫn còn màu xanh đậm, đi giày Reebok đen.

Một gã thợ mộc và tay cớm mặc thường phục.

“Bọn mày ăn mặc kiểu quái gì thế này?”

Đã nhiều ngày, rồi nhiều tuần trôi qua và chúng bắt đầu phạm phải đúng cái điều tối kỵ - cảm thấy an toàn. Jasper đã đổi chiếc áo khoác nylon của công ty sang chiếc áo da 5.000 krona này, còn Felix thì trông cứ như vừa mới đi du lịch vòng quanh thế giới với điểm đến cuối cùng là bãi biển Koki.

“Chúng mày phải đến đây mỗi sáng trong bộ quần lao động màu xanh, áo sơ mi xanh, và đôi bốt cũ!”

Leo đóng cửa phòng ngủ, trong khi Felix và Jasper vào bếp thưởng thức cà phê mới pha.

“Vỏ bọc của chúng ta, mẹ kiếp! Đó là thứ mà người ngoài sẽ thấy. Jasper, nhìn mày chẳng khác gì một tay mật vụ được giao làm vệ sĩ! Còn mày, Felix, thích du lịch thì cứ để sau, tao hứa đấy, mua một con Mustang cũ ở Sydney, đi lướt sóng, nốc bia ướp lạnh.”

Anh lấy bánh mì, bơ, phô mai, nước quả, sữa chua, đĩa ăn tráng miệng, mấy cốc cà phê.

“Chúng ta là công nhân xây dựng. Thế nên nhìn bề ngoài chúng ta cũng phải đúng như thế. Hình ảnh bọn ta. Không một gã khốn nào được phép nghĩ chúng nó kiếm tiền bằng cách nào ấy nhỉ, có thấy xây cất gì bao giờ đâu. Từ giờ chúng ta thậm chí chẳng cần đóng một cây đinh nào, nhưng tuy thế vẫn phải làm! Thỉnh thoảng sửa bếp chỗ này, xây mái nhà mới chỗ kia. Chúng ta cần công ty, chuyện làm ăn, vỏ bọc.”

Chuông cửa lại reo. Một tín hiệu ngắn, cẩn trọng. Cửa mở ra.

“Em đây.”

Vincent.

“Bọn tao đang ở trong bếp. Có đồ ăn sáng đây.”

Nó dừng lại trên ngưỡng cửa. Quần lao động xanh, áo sơ mi xanh, đôi bốt xây dựng đã tã. Tất cả im lặng nhìn nó.

“Sao thế?”

“Vậy là cũng có người hiểu đấy.”

“Hiểu gì?”

Leo nhấc cái lọc ra rồi rót bốn cốc cà phê đen, sau đó quay lại phía Jasper và Felix.

“Rằng khi nào ăn xong, hai đứa chúng mày ra lấy xe về nhà. Thay quần áo hệt như người trẻ tuổi nhất trong phòng đây đang mặc. Xong xuôi thì lái xe tới xưởng gỗ của Kenta lấy 150 mét vuông gỗ sồi lát sàn loại 5/16 inch rồi chở đến số 32 Gronlandsgangen ở Kista. Gabbe đang sửa một văn phòng máy tính ở đó. Rồi chờ đấy cho tới khi tao và Vincent tới.”

Jasper vừa cầm cốc cà phê lên lại đặt ngay xuống.

“Mày nói nghiêm túc đấy chứ, rằng chúng ta vẫn sẽ đi... xây dựng?”

“Từ giờ ta sẽ nhận vài vụ kiểu đó. OK? Một trăm năm mươi mét vuông sàn gỗ - chúng ta có thể làm xong trong hai ngày. Và luôn luôn...”

“Nhưng mẹ kiếp, chúng ta...”

“... luôn luôn tính giá cố định. Như thế ta có thể bôi ra đến một tuần là ít. Những việc vất vả nhưng đơn giản mà bốn người thợ mộc có thể hoàn thành nhanh chóng, nhưng kéo ra cho thật lâu và nhận tiền theo giá cố định từ trước. Chúng ta sẽ đi ra đi vào cốt để thỉnh thoảng người ta có thể nhìn thấy ta đang ở đó.”

Vẫn là Skogas, nhưng là ở mạn bên kia. Leo và Vincent lái xe ngang qua ngôi trường và ngôi nhà họ từng sống hồi nhỏ, căn hộ rộng rãi nhưng vẫn cảm giác chật chội, những chai rượu vang, ban công, những cánh cửa đóng kín.

Leo đỗ xe, hai người đi xuôi xuống con dốc qua đám cỏ cao giữa sân bóng đá và phòng tập thể dục của trường mà họ đã đi ngang qua sau vụ cướp với những chiếc túi thể thao giống hệt nhau và mấy cây gậy chơi khúc côn cầu trong nhà thò hẳn ra ngoài.

Đi xuyên vào rừng theo con đường mòn qua một con dốc dựng đứng, cùng một lối mà anh đã đi qua vài lần trong mấy tuần qua để kiểm tra cho chắc chiếc xuồng cao su không nổi lên mặt nước. Họ bước ra một bán đảo đã từng lớn hơn rất nhiều khi anh còn nhỏ. Hồi ấy anh bơi sang tận bờ bên kia, xuất phát từ chỗ hai cây thông kia. Chúng nhìn vẫn trơ trọi khẳng khiu như trước, như thể mọc thẳng lên từ nền đá.

“Nó vẫn còn dưới đó.”

Bước qua mấy tảng đá lớn, một dãy những bụi cây thấp đầy gai góc, mấy cây dương xỉ khô héo cong queo, và ngay đằng kia, sau rặng thông - bờ hồ cát mịn nơi họ đã lên bờ.

Hai người tìm kiếm, nhìn khắp mặt nước.

“Ừ. Nó vẫn còn ở đó, tận dưới đáy hồ.”

Leo đặt tay lên vai Vincent.

“Lẽ ra mày phải canh gác chỗ bến thuyền. Đúng không? Thế mà mày lại bỏ vị hí.”

“Em...”

“Bất chấp việc cả nhóm đã nhất trí từ trước rằng mày phải ở yên đó mà chờ.”

Vincent lách người, tránh khỏi bàn tay anh.

“Mẹ kiếp, em... bọn cớm đang trên đường tới. Em phải cảnh báo anh, em...”

Leo lại nắm lấy bờ vai đang cố giãy khỏi tay anh.

“Mày làm tốt lắm, em trai ạ.”

Rồi mỉm cười.

“Mày chỉ có một mình trong bóng tối. Nhưng mày là một thành viên của nhóm, Vincent. Mày đã quyết định hành động, vì tất cả mọi người. Tao đã tin tưởng mày - và mày cho tao thấy đó là quyết định đúng đắn.”

Khu rừng có vẻ vừa kỳ vĩ vừa mệt mỏi, mặt nước tối sẫm, cái màu chỉ xuất hiện có vài tuần trước khi những bông tuyết đầu tiên rơi xuống.

“Nhưng lần sau mọi chuyện sẽ không giống như thế được. Mục tiêu lần hai của ta không phải là một chiếc xe bọc thép - mà là một ngân hàng lúc nào cũng có đầy người xung quanh.”

“Em hiểu.”

“Và... tao phải đảm bảo thật chắc chắn là mày hiểu, hiểu thật rõ, rằng nếu không muốn tham gia mày cứ việc rút lui. Ngay bây giờ. Tao sẽ không nói tiếng nào đâu. Felix và Jasper cũng thế. Đó là quyền của mày. Và nghĩa vụ của tao là giải thích cho mày hiểu.”

Vincent nhếch mép.

“Em muốn làm vụ này.”

“Tao là anh trai mày. Tao có trách nhiệm với mày. Tao là người cầm đầu vụ này, và rồi sau này sẽ không còn đường lui nữa. Nhưng bây giờ thì hãy còn.”

“Em hiểu. Và em không muốn rút.”

Những làn gió nhẹ, đàn ngỗng trắng lướt trên những con sóng lăn tăn như thể đang vội vàng lắm.

Bàn tay đặt trên vai chuyển lên cổ, Leo ôm lấy đứa em trai kém anh bảy tuổi. Họ sẽ thực hiện vụ này. Cùng nhau.

“Vậy thì được rồi.”

Hai người đi cạnh nhau ngược lại con đường mòn ngoằn ngoèo, cùng một hướng mà lần trước họ đã đi khỏi đây trong bóng tối.

“Mày sẽ mặc áo chống đạn. Kevlar. An toàn cấp độ 2. Ngon hơn nhiều thứ bọn cớm vẫn dùng. Lại còn súng đạn sẵn sàng, một khẩu tiểu liên, nặng bốn cân. Nhìn mày sẽ to lớn hơn hẳn. Bốt đen, áo liền quần màu xanh, mặt nạ che mặt - người ta sẽ lầm tưởng mày to hơn, cao hơn, cặp giò gầy nhẳng của tuổi thiếu niên sẽ biến mất. Nhưng dáng đi của mày thì không thể để như thế được.”

Leo đứng lại chờ tới khi Vincent cũng dừng lại theo.

“Mày đi đúng dáng điệu của một thằng nhóc mười bảy tuổi. Hiểu chưa? Lúc mày chạy tới phía mấy tay nhân viên an ninh và cái xe tải, phía sau chúng tao trong bóng tối, Jasper đã quay lại và chĩa súng vào mày... tao đã ngăn được nó. Thậm chí không cần nhìn kỹ, tao cũng đã thấy mày. Tao nhận ra dáng điệu của mày - chỉ có thể là mày thôi.”

Leo tiếp tục bước đi, chậm rãi. Con đường giờ rộng hơn và anh sải bước.

“Để vụ này thành công - mày phải có vẻ như một người trưởng thành. Hiểu chưa, em trai? Trong ngân hàng đó, bọn thu ngân sau lớp kính, chúng phải thật sự tưởng rằng đó là ba gã đàn ông trưởng thành bước qua cánh cửa. Bọn cảnh sát phải nhìn thấy ba người trưởng thành khi chúng xem lại mấy đoạn băng ghi hình chết tiệt. Động tác, Vincent à, người ta bao giờ cũng nhận ra được. Một cử động có thể được nhận dạng và ghi nhớ. Chúng phải thấy trước mắt mình một băng nhóm, những kẻ chuyên nghiệp đi cướp ngân hàng gọn ghẽ như thể trong đời chưa từng làm việc gì khác. Chúng phải nghĩ những tên này từ đâu ra, chúng là ai, chúng có thể làm những gì, để rồi trở nên... vô cùng lo lắng. Sẽ chẳng ai có cảm giác như thế nếu mày vẫn giữ cái dáng đi như trẻ con đó.”

Con đường mòn không còn đủ rộng cho hai người.

“Đi theo tao.”

Leo bước ra, đi ngang qua bãi cỏ.

“Đi từng bước chắc nịch. Đặt cả bàn chân xuống. Mũi chân hướng thẳng ra trước, tay không được vung vẩy chiếm hết cả vỉa hè.”

Leo xoay lại nhìn em trai đang cố bước đi như một người đàn ông.

“Tốt. Tốt lắm, Vincent! Tưởng tượng mày tăng cân, nặng nề hơn, và biết rõ mình đang đi đâu. Bọn nhãi con chẳng bao giờ biết được cái đó.”

Anh dừng lại và đứa em trai cũng thế. Giữa lúc đang bước đi, hai chân sải rộng.

“Có sự khác biệt giữa việc biết rõ mình đang đi đâu và choán hết không gian trên đường đi tới đó.”

“Em hiểu.”

“Hạ thấp trọng tâm. Như thế này.”

Leo hạ thấp thân mình chút ít, hơi chùng hai đầu gối. Vincent nhìn, rồi bắt chước theo. Sau cùng Leo choàng tay qua người nó mà ấn xuống.

“Không phải trên này. Đâu phải gập cổ như kền kền thế. Mày hạ thấp... của quý, đây, thấp xuống vài phân. Nhìn tao đây. Mày hiểu không? Từ giờ của quý của mày sẽ là trọng tâm, Vincent, đó là thứ kéo mày thấp xuống đất để giữ thăng bằng tốt hơn. Hạ thấp thân người. Thế này. Cảm thấy gì không?”

Họ đứng cạnh nhau giữa cánh đồng trống trải, hơi nẩy người lên xuống, lên rồi xuống.

“Em cảm thấy rồi.”

“Thật chứ?”

“Vâng.”

Leo ấn tay thật mạnh giữa ngực Vincent. Đứa em không ngã, thậm chí chẳng lảo đảo mấy.

“Thấy chưa? Rất vững vàng. Phải không?”

“Vâng.”

“Tốt rồi. Còn một cái nữa. Giọng nói của mày.”

“Giọng em?”

“Mày không thể cứ giữ cái giọng như đang dậy thì. Thấp giọng xuống.”

“Anh nói thấp giọng nghĩa là sao?”

“Chìa khóa. Thử nói đi.”

“Anh đang nói... cái quái gì thế?”

“Cứ nói đi, Vincent. Chìa khóa.”

“Chìa khóa.”

“Không phải thế. Phải ồm hơn. Nói từ lồng ngực, xuống tận bụng. Như thể mày đang... ra lệnh cho tao. Nói lại lần nữa nào. Đưa chìa khóa đây.”

“Đưa chìa khóa đây.”

“Lại đi! Giọng ồm hơn. Và lớn hơn.”

“Đưa chìa khóa đây.”

“Nói lại!”

“Đưa chìa khóa đây. Đưa chìa khóa đây! Đưa chìa khóa đây! Đưa...”

“Mày phải lấy giọng thật cứng rắn. Âm vực của mày rộng đấy - từ giờ phải tận dụng nó! Hiểu chưa?”

Họ bước về phía chiếc xe, ngang qua bãi cỏ, vượt qua con dốc. Vincent hơi lắc lư hai đầu gối hạ thấp, nhắc lại câu đưa chìa khóa đây mỗi lần đặt gót chân phải xuống.

Văn phòng máy tính ở Kista. Leo đỗ xe cạnh một chiếc xe tải giống hệt, in logo giống nhau hai bên cánh cửa, CÔNG TY XÂY DỰNG. Mở cửa, trèo ra ngoài. Và chờ đợi. Chờ đợi Vincent, người đã ngồi im lặng trên ghế bên suốt cả chuyến đi.

“Đi thôi”

“Vậy là chắc chắn?”

“Gì cơ?”

“Đó là việc mà từ giờ bọn ta sẽ làm?”

“Làm?”

“Cướp ngân hàng ấy.”

Leo giữ cửa xe mở và nhìn Vincent khi đó vẫn chưa muốn chui ra khỏi xe.

Vậy là anh lại leo lên xe.

Để trả lời một câu hỏi không hề liên quan tới sự lo lắng hay bồn chồn nào.

“Vincent?”

“Vâng?”

“Mục tiêu cạnh bùng binh - chỉ một ngân hàng. Để diễn tập thôi.”

Hai người ngồi cạnh nhau trong bộ đồng phục của hãng xây dựng. Đóng bộ như vậy để vào trong kia lát sàn gỗ thật ngon lành cùng hai người đã ở đó từ trước.

Từ thế giới này sang thế giới kia.

“Lần sau... ta sẽ cướp hai ngân hàng. Cùng một lúc.”

“Vậy ra chúng ta đang tập luyện để làm vụ đó? Và thế là hết?”

“Và sau đó, Vincent, ta sẽ cướp ba ngân hàng... cùng một lúc.”

Cùng vị trí, cùng thời điểm, cùng mức độ rủi ro.

“Đó là việc không ai thực hiện, chưa ai từng làm. Vậy nên sẽ không ai ngờ nổi chúng ta dám làm thế. Ta sẽ thực hiện vào đúng thời điểm nhất, khi ở đó có nhiều tiền nhất... mày có theo kịp không thế?”

“Ba cái... cùng một lúc?”

“Ba ngân hàng cùng một lúc, vào thời điểm thích hợp. Mười triệu, mười lăm, thậm chí là hai mươi. Sau đó ta sẽ bán hết chỗ vũ khí còn dư lấy nhiều tiền nhất có thể. Lúc đó là bọn ta đủ tiền rồi. Ta sẽ thôi cướp ngân hàng. Nhưng ta sẽ tiếp tục cướp bóc cho tới khi đạt được điều mình muốn.”

“Em chưa hiểu đoạn cuối. Ai sẽ mua vũ khí của chúng ta cơ chứ?”

“Bọn cảnh sát.”

Cửa văn phòng bật mở. Felix và Jasper, mặc đúng loại quần áo yêu cầu. Chúng bước về phía chiếc xe tải, kéo tấm phủ thùng xe và ra hiệu với vẻ sốt ruột.

“Ra đây đi!”

Chúng dỡ những lô ván gỗ sồi lát sàn đầu tiên từ xe tải xuống mặt đường. Thấy Leo và Vincent vẫn không ra khỏi xe, Jasper gõ lên cửa kính.

“Ra đây đi, chính mày khăng khăng công việc này là quan trọng lắm cơ mà!”

“Từ từ đã.”

“Lúc sáng nay mày đâu có nói thế.”

“Từ từ.”

Leo ngó đứa em trai đang nhìn thẳng trước mặt. Nó đã nghe đủ và giờ đang nghiền ngẫm trong đầu.

“Vincent à, nó giống như... điệu nhảy với gấu ấy.”

Em trai anh bao giờ cũng thế, im lặng nghiền ngẫm từng thông tin, lật đi lật lại, phân tích nó.

“Điệu nhảy với... gấu?”

“Ta phải khiêu vũ với gấu, Vincent à. Nếu muốn thắng, không được đến quá gần. Làm thế thì sao sống nổi. Con gấu to hơn mày nhiều. Nó có thể xé mày ra từng mảnh. Nhưng mày có thể nhảy nhót quanh nó. Và chờ đợi. Mày tung một cú đấm. Nếu ra đòn chuẩn xác, mày có thể nhảy nhót rình rập thời cơ giáng cú tiếp theo. Và nó... cũng giống như cướp ngân hàng vậy. Một nhóm nhỏ, chỉ vài tên cướp, có thể đánh bại toàn bộ lực lượng cảnh sát. Mày chọc con gấu liên tục, khiến nó khó chịu, bối rối. Không bao giờ cho nó có thời gian định thần lại, hết lần này tới lần khác cho tới khi nó hóa điên. Điệu nhảy với gấu là thế, Vincent à. Đấm một cú, khiến nó rối lên, rồi lại biến đi. Sau đó lặp lại, hết ngân hàng này tới ngân hàng kia.”

Leo thò tay xuống gầm ghế, lấy ra một túi nylon tả tơi, đầy tràn, một bên quai xách đã rách hẳn ra.

“Đây nhé. Tài liệu bắt buộc đọc.”

Vincent cầm cái túi, thọc tay vào lấy từng cuốn một.

Các loại bẫy - hướng dẫn của Binh chủng Bộ binh. Nó chưa từng đọc cuốn nào trong số đó. Chất nổ A - ngòi nổ tự chế trong bếp. Thậm chí chưa từng nghe tên chúng. Sách dạy nấu ăn dành cho người chống chính phủ. Phần lớn là những cuốn sách mỏng. Tự chế thuốc nổ C-4 - “Công thức sống còn . Một vài cuốn dày hơn. Cách chế nòng giảm thanh - hướng dẫn kèm minh họa. Tất cả đều là sách tiếng Anh. Chất nổ B - chất nổ tự chế trong bếp bằng phân bón.

Nó mơ hồ lật vài trang - những trang hướng dẫn dầy thuật ngữ mà nó không hiểu, hình minh họa cách chế bom loại nhỏ - trong khi Leo mở cửa xe.

“Đây là bài tập về nhà tuần này nhé.”

Vincent nhìn Leo bước qua đống ván gỗ lát sàn và đứng lại như thể chuẩn bị dùng tay chém gãy một lô - nhưng thay vào đó anh lại túm chặt lấy cổ Jasper, giả bộ vật lộn như thỉnh thoảng anh vẫn làm khi muốn thúc cho công việc trôi chảy. Vậy là Felix bỏ đống ván sàn xuống, đập mỗi người một cái, thật khó để biết nó đang giả vờ đánh Leo hay Jasper, thậm chí chính nó chưa chắc đã biết.

Hai người anh trai cùng đứa bạn từ thuở con nít.

Vincent bỏ mấy cuốn sách vào lại cái túi một quai. Nó mỉm cười.

Nó không muốn rút lui. Nó muốn thực hiện vụ này. Cùng nhau.

Cướp một ngân hàng, hai ngân hàng, ba ngân hàng.

JOHN BRONCKS ĐỨNG TRÊN TẤM VÁN cuối cùng trên bến thuyền, chỉ còn cách mặt nước một bước chân. Anh lại nhớ tới một bến thuyền khác của những mùa hè xa xưa - thậm chí anh gần như còn nghe được tiếng chân bước trên ván gỗ và tiếng mẹ gọi bọn trẻ về. Sam chạy trước anh nửa bước chân, xuyên qua làn mưa tầm tã. Chúng chạy từ căn nhà nghỉ mùa hè trên một hòn đảo nhỏ giữa hồ Malaren ra tới mặt nước, cứ mỗi hạt mưa lại cảm giác ấm áp hơn. Cảm giác nằm ngửa trên mặt nước mằn mặn nhìn những hạt mưa rơi xuống mặt mình thật là khó quên.

Anh ngồi xổm, thọc tay xuống làn nước tối sẫm. Mặt hồ tháng Mười một lạnh hơn nhiều so với những gì anh vẫn nhớ, có lẽ chỉ hơn không độ một chút và rồi một hai tháng nữa nơi đây sẽ là mặt băng giòn.

Lần trước anh tới đây vào buổi tối. Giờ trong ánh sáng ban ngày, anh bắt gặp bãi cỏ xanh rì yên ắng và căn phòng thay đồ bằng gỗ chẳng sơn phủ gì.

“John? Anh có ở đó không?”

Tiếng bước chân vang lên phía sau anh trên bến thuyền gỗ. Không nặng nề, nhưng cũng đủ khiến nó dập dềnh, đung đưa nhè nhẹ.

“Anh đây.”

“Chúng ta phải... cái gì đây?”

Sanna hất hàm về phía chiếc xuồng nhôm giản dị với động cơ tám mã lực buộc trên bến.

“John?”

“Anh nói với em rồi. Những dấu vết dừng ở đây.”

“Thế thì chúng ta sẽ làm gì ở đây?”

“Chúng ta sẽ tìm hiểu chúng đã đi đâu, lên bờ ở đâu, hiện giờ chúng đang ngồi chỗ nào để bàn thảo vụ kế tiếp. Đại loại là thế.”

Không một biểu cảm. Khuôn mặt dửng dưng. Cô lắng nghe anh theo đúng cái cách cô đã nghe lúc anh đặt ra những câu hỏi này khi đi vòng quanh garage lúc trước.

Giọng cô cũng vẫn lạnh lùng như thế.

“Và giờ ta phải ngồi trên một con thuyền tròng trành giữa trời mưa trên hồ Drevviken để tìm hiểu chuyện đó? Ngay cả khi anh đã đến đây mấy lần rồi?”

“Anh cần em giúp để hiểu được lối suy nghĩ của chúng.”

Cô trèo vào, một chân đặt trên bến, một chân đặt trên xuồng. Hai tay cô kẹp hai tấm áo mưa.

Cô đưa cho anh một chiếc.

“Anh sẽ cần đến thứ này đấy, thời tiết sẽ ngày càng tệ hơn cho mà xem.”

Anh giật dây khởi động hai lần tới khi chân vịt bắt đầu quay trong làn nước không tan những vệt lam và tím của xăng dầu vốn đang tụ lại thành từng đám nhỏ trên mặt hồ. Một cái đẩy nhẹ rời bến thuyền, vượt qua đám cỏ lau héo úa tự biết giờ chẳng còn là mùa hè nữa nên rạp mình không kháng cự, ra tới mặt hồ rộng thênh thang.

Với tấm bản đồ ép plastic mở rộng trên đùi anh, họ chầm chậm đi ngang qua những hòn đảo nhỏ với những cái tên như Kaninholmen và Myrholmen được ghi trên bản đồ bằng thứ chữ gần như không thể đọc nổi. Anh nhẹ nhàng nắm tay lái, đi ngang qua những bờ hồ phủ kín linh sam và thông thỉnh thoảng mới bị ngắt quãng bởi mấy tầng trên cùng của những tòa nhà cao tầng xám xịt và vài mái ngói của các biệt thự xây sát cạnh bờ hồ khi việc đó vẫn còn được cho phép. Mặt hồ dần thu hẹp lại, hồ Drevviken chỗ này trở thành một cái vịnh với những khu đất cây cối um tùm không người ở phía bên trái mũi xuồng - khu bảo tồn thiên nhiên Flaten, nơi không có nhà cửa gì, hoàn toàn thanh bình, phủ đầy tùng bách và các loại cây rụng lá cùng mấy khoảnh công viên nhỏ - và khu nhà cửa sầm uất phía bên phải xuồng - một mớ nhộn nhịp đường sá nhà cửa bê tông, nhìn chẳng khác gì mấy tấm thẻ gỗ đồ chơi. Nơi này đủ hẹp để một chiếc xuồng đang tẩu thoát trong bóng tối có thể cập bến ở bất cứ bên nào mà không phải thay đổi hướng đi là mấy.

“Nếu là em thì em chọn phía nào?”

Sanna nhìn bản đồ, sau đó nhìn cảnh vật, hai bên bờ và chỉ về phía những tòa nhà.

“Bờ bên đó.”

“Anh cũng thế?”

John lái về phía họ sẽ tập trung tìm kiếm - một tên tội phạm đang lẩn trốn hẳn là sẽ cố đổi hướng đi thật nhiều lần rồi biến mất ở chỗ này.

“Anh kiểm tra rồi, không có vụ cướp xuồng nào ở khu vực này.”

“Nếu chúng sở hữu chiếc xuồng thì sao?”

Sanna lại cúi đầu nhìn những mảng màu xanh nước biển vàng và xanh lá trên bản đồ, ngón trỏ dõi theo đường ranh giới.

“Ở đây có... năm, tám, mười một... mười lăm bến thuyền, ít nhất. Nếu sở hữu một chiếc xuồng, chúng có thể đi bất kỳ đâu.”

“Chúng sẽ không đỗ lại và để nguyên cái xuồng ở đó đâu - chúng không phải loại đó, mà là loại luôn biết xóa dấu vết sau lưng.”

Họ đi qua cụm đảo Skrubba, mấy hòn đảo nữa dù lớn hơn nhưng cũng hoang vắng hệt như thế, sau đó rà soát bờ hồ tuy nhỏ mà rất đẹp gần mấy tòa cao ốc.

“Những tên cướp loại này luôn phi tang phương tiện di chuyển. Và nếu đó là một chiếc xuồng thì...”

Đám mòng biển tò mò lướt tới, phá tan sự im lặng bằng những tiếng rít the thé.

“... chúng sẽ đánh chìm nó.”

Đám chim chóc trắng toát biến đi, tìm kiếm một ai khác để tha hồ tiếp tục phàn nàn.

“Vũng, vịnh, bến thuyền, khu bơi lội. Từng thước đất trên bờ hồ đều có thể là nơi cập bến. Có kẻ đã chờ đợi sẵn - trên một chiếc xe để tẩu thoát.”

“Hoặc cũng có thể không.”

John mỉm cười. Họ vẫn suy nghĩ hệt như nhau. ít ra là về phương diện chuyên môn.

“Hoặc cũng có thể không. Nếu chúng không cần trốn chạy nữa. Nếu chỗ này là điểm cuối. Nếu nơi đây, khu vực này chính là sào huyệt của chúng.”

Anh hất hàm về phía bãi cát nhỏ phía sau một thân cây xù xì mọc nhô ra ngoài, vươn cành lá xuống mặt nước.

“Khi đó là bảy hay tám giờ gì đó. Cả bờ hồ chỉ là một mảng tối đen - dù có cập bến ở chỗ nào, chắc chắn có người đã dùng đèn hiệu dẫn đường cho chúng.”

Hai con thỏ chạy trên vách đá, cuống cuồng, sợ hãi bởi chiếc xuồng đang lướt tới.

“Vậy... em tin là điều gì đã xảy ra?”

“Tin?”

“Ừ.”

“Anh biết mà, John, rằng em không bao giờ tin vào thứ gì - em là một kẻ chán ngắt chỉ biết ghi lại những gì em có thể xác nhận rõ mười mươi qua giám định pháp y.”

“Nhưng em nhìn thấy gì? Em đang nghĩ gì? Nếu phải... đoán thì sao?”

“Chỉ anh mới được phép đoán. Hoặc là, anh buộc phải đoán, đó là công việc của anh - những gì anh nhìn thấy tại hiện trường, nghe được trong buổi thẩm vấn, anh phải rút ra kết luận từ đó. Em thì khác. Em thu thập những chứng cớ và sự thật hiển hiện, những gì cầm nắm tận tay được, đó là công việc của em.”

“Và nếu anh muốn biết Sanna tin vào điều gì, không phải với tư cách một nhân viên pháp y thì sao?”

Cô nhìn anh. Anh cũng nhìn cô.

“Coi nào.”

Chúng có thể ngồi trong xuồng, hoặc cập bến, tẩu thoát.

“Sanna đây tin rằng...”

Cô không nói gì, lắc đầu.

“Em không thích thế. Chỉ là đoán mò.”

“Ta đang ở giữa hồ cơ mà, những gì em nói chỉ mình anh nghe được mà thôi.”

Cô không thở dài, không hẳn, nhưng cũng gần như thế.

“Sanna đây tin rằng hai tên cướp - cho tới giờ ta chỉ mới xác nhận được có hai tên - tấn công và cướp xe chở tiền này đã từng thực hiện một vụ gì đó tương tự trước đây và bị trừng trị. Sanna tin vào điều đó bởi tất cả hành động của chúng đều thể hiện ra như vậy: những phát súng, sự dã man, sự quyết đoán, sẵn sàng chấp nhận rủi ro.”

Họ đã lướt về phía bờ hồ, xung quanh xuồng giờ đầy những mỏm đá, vậy là anh lại ngoặt ra vùng nước rộng.

“Và... Sanna biết chắc vẫn có người nhắc đến những chuyện kiểu này. Đằng kia. Sau những bức tường đó.”

Cô nhìn anh, lần này mới thực sự là nhìn, lần đầu tiên từ khi hai người ngồi đối diện nhau trên chiếc xuồng này.

“Ngay khi vụ án này xảy ra, có những người ở đó biết chắc thủ phạm là ai. Hoặc đang phỏng đoán, bàn thảo một cách tò mò.”

Cô biết anh hiểu mình đang nói gì.

“Ở đó. Sau những bức tường. Những người trong buồng giam chẳng có việc gì khác để làm cả. Phải không, John?”

Cô là một trong những người hiếm hoi thân thiết với anh đến thế.

Ở đó. Nơi họ nói về những tội ác đã qua, những tội ác sắp sửa được thực hiện. Và đặc biệt nếu phi vụ thành công, ai đó qua mặt được cả một hệ thống, cảnh sát không có chút manh mối nào. John à, lẽ ra anh không nên ngồi đây, không nên nói chuyện với em. Anh biết mà. Anh phải tới đó, nói chuyện với người đó. Anh trai anh. Bởi vì nếu những gì anh và em đang nghi ngờ là chính xác, rằng chúng là những tên tội phạm sành sỏi đã từng thực hiện những vụ thế này và rồi sẽ còn tiếp tục, khi ấy anh ta mới là người hiểu rõ mọi thứ hơn cả anh và em.”

“Không.”

“Tại sao?”

“Làm thế chẳng ích lợi gì đâu.”

“Anh buộc phải...”

“Không.”

Họ đi ngang qua con đường mòn chạy dọc bờ hồ mạn Skogas với những tòa cao ốc, nơi sự tương phản trở nên quá rõ rệt - vẻ đẹp mong manh, tĩnh mịch đặt cạnh sự ồn ào, xấu xí và thô ráp.

“Anh vẫn chẳng thay đổi gì cả, John ạ. Anh muốn thứ mang tính riêng tư. Của người khác.”

“Em cũng... không thay đổi chút nào.”

Ngày nào cũng vậy. Cô luôn nằm trong tâm trí và trái tim anh, bất kể anh có cố gắng thế nào để rũ bỏ cô. Anh không thể quên được cô. Suốt mười năm. Họ chỉ bên nhau hai năm, sống cùng nhau một năm, nhưng hồi đó, họ còn trẻ và một năm có vẻ kéo dài hơn.

“Anh rất vui. Khi anh rời chỗ người nhân viên an ninh còn đang khiếp đảm đó xuống chỗ bến thuyền và nhìn thấy... em. Thực ra thì anh không thấy rõ em, trời tối quá, nhưng anh nhận ra những cử động quen thuộc, nhận ra... em.”

Anh đã thử yêu đương với những người khác, đặc biệt là trong mấy năm đầu sau khi hai người chia tay, nhưng vẫn không thể quên được cô. Những phụ nữ cặp kè với anh cũng nhận ra điều đó, rằng họ đang phải cạnh tranh với một người không hề có ở đó, một bóng ma khốn kiếp.

“Anh thật sự chẳng thay đổi gì, John ạ. Khốn nạn thật... Có phải đây là lý do anh lôi em lên cái xuồng chết tiệt này giữa lúc trời mưa tầm tã?”

Cô quay ngoắt người, tấm bản đồ rơi khỏi đùi, chiếc xuồng tròng trành, cứ như thể cô đang sắp sửa nhảy xuống nước.

“Anh biết em không muốn nói tới chuyện này. Em đã bỏ lại quá khứ sau lưng. John? Anh thừa biết thế! Anh định làm cái quái gì đây?”

Anh có cảm giác mình đang bị tách ra làm hai.

Một bên là người đàn ông trưởng thành, khéo nói, suy luận phân tích rõ ràng và đầy tự tin. Một bên là cậu bé lúc nào cũng ăn nói vụng về.

“Anh nghĩ về em - từng ngày.”

“Còn em thì chưa từng nghĩ tới anh.”

Anh là người chủ động chia tay. Còn cô là người khóc than cho sự đổ vỡ đó. Để rồi khi đã thôi khóc than - cô gạt bỏ hẳn anh khỏi cuộc đời mình.

Anh biết thế, vì sau đó một năm khi liên lạc lại với cô, cô đã nói với anh điều này. Rằng cô đã quyết không bao giờ nghĩ tới anh nữa. Không bao giờ. Coi như anh chưa từng... tồn tại.

Giờ cô nhắc lại điều đó.

Cô đã khoét bỏ một phần cuộc đời mình rồi quẳng đi xa hết mức có thể.

“Xong hết chưa, John?”

Anh ngồi im lặng. Giờ anh chỉ là một cậu bé vụng về.

“Ta có thể đối xử với nhau như... cảnh sát được không? Đồng nghiệp? Ít ra giả bộ chuyến đi này là ý kiến của anh để cùng điều tra vụ án?”

Anh gật đầu yếu ớt.

“Nếu thế thì...”

Cô lại cầm bản đồ lên.

“... chúng ta đã biết mặc dù đã cử thám tử điều tra, lùng sục và thảo luận chán chê, anh vẫn chưa tìm được nhân chứng nào đã thấy chúng cập bến.”

Rồi cô lướt bàn tay trên mặt plastic, nơi những hạt mưa làm mờ tấm bản đồ.

Chúng ta đã biết mặc dù đã dùng chó nghiệp vụ, trực thăng, chắn đường, giám định pháp y đủ kiểu, anh vẫn chưa tìm ra dấu vết của chúng.

Mặt hồ dần thu hẹp thành một con vịnh dài lạnh cóng, đã đến lúc phải quay lại thôi. Anh đẩy bánh lái ra xa thân mình, từ từ ngoặt chiếc xuồng lại.

“Điều duy nhất ta biết chắc, John ạ, là hai kẻ đeo mặt nạ đã cướp chiếc xe bọc thép rồi bỏ nó lại ở khu bơi lội. Bất cứ kẻ nào hễ đã chọn địa điểm hẻo lánh đến thế hẳn là nắm rất rõ khu này. Chúng biết rõ từng ngóc ngách, từng đi thăm dò khắp chốn, sự quen thuộc với nơi này là lợi thế duy nhất bọn chúng chắc chắn có.”

Anh nhìn qua vai cô, lần đầu tiên trong suốt chuyến đi. Eo nước rộng ra và họ đã tới giữa vùng nước rộng. Anh tăng tốc, bốn mươi lăm phút nữa là về tới bến.

“Dù anh đã tìm kiếm khu đó, anh vẫn phải quay lại, John à - và tiếp tục rà soát.”

ANNELI ĐỖ CHIẾC XE THUÊ ngay trước hàng rào với ổ khóa nặng nề, chỉ cách đường cao tốc một quãng ngắn. Một chiếc Volvo 240. Màu đỏ. Họ đã cẩn thận chọn đúng mẫu xe và màu sơn này. Loại xe phổ biến nhất Thụy Điển. Leo đã thuê và thanh toán tiền cùng một lượt với chiếc xe tải lớn mà họ dùng để chuyển đồ từ căn hộ sang ngôi nhà kia.

Cô kéo phanh tay mạnh hơn một chút. Nó hơi mềm hơn bình thường. Chỗ cô đỗ xe hơi dốc nên cô cần đảm bảo thật chắc chắn.

Cô đã đóng gói hết mọi thứ trong chạn bếp rồi đi từ phòng này sang phòng kia giữa từng chồng thùng các tông. Họ đang chuyển nhà, nhưng không hẳn theo cách cô mong muốn. Anh đã hứa với cô. Chỉ một năm thôi. Tới khi mọi chuyện xong xuôi. Khi đó cô có thể mua bất cứ căn nhà nào, ở bất kỳ đâu, với bất cứ giá nào. Vậy là cô đã lén không cho anh biết, đáp tàu và xe buýt vài lần tới khu phố xa xỉ Saltsjobaden và đi quanh một mình giữa những căn nhà khổng lồ có vườn rộng thênh thang. Thỉnh thoảng cô đi phà hướng ngược lại, lang thang qua những căn nhà khổng lồ khác với số phòng nhiều ngang với đống hộp các tông kia, và cô biết ngày họ bắt đầu cuộc sống mới tại đó cũng là lúc Sebastian sẽ lựa chọn tới sống cùng cô.

Cô gập áo mưa rồi nhét ống quần vào đôi ủng cao su, bắt đầu bước qua đám rêu và lá ẩm, xách theo một giỏ hái nấm. Leo đã hướng dẫn cô y như cách anh thường làm với mấy đứa em trai. Cô thích thế, lắng nghe từng lời để ghi nhớ và làm chính xác như anh yêu cầu. Cô chưa đi hái nấm bao giờ. Cứ một lúc cô lại cúi xuống để nhìn cho rõ - một cây nấm màu nâu, giống Karl-Johan, cô nghĩ. Tên kiểu gì mà lạ thế. Và hái những cây nấm. Cô cũng chưa từng hiểu nổi việc đó. Cô tìm kiếm những cây nấm, chứ không hái.

Một cây nữa, màu vàng, nấm mồng gà, loại này thì cô nhận ra ngay.

Chợt cô nghe thấy tiếng sủa.

Một con chó. Hoặc là nhiều hơn. Cách đó không xa. Thì ra không chỉ có mình cô ở đây.

Cô hái vài cây nấm nữa, mấy cây trắng, vài cây gần như đen thui - phần đáy giỏ phải đầy nếu cô muốn làm ra vẻ một người hái nấm, Leo đã nhắc đi nhắc lại mấy lần chuyện này.

Cô không thích nấm hay quả mọng, chưa từng hiểu được mấy khu rừng kiểu này có gì mà hấp dẫn đến thế. Thật là cô quạnh, âm u, đầy những âm thanh chẳng xác định nổi từ đâu mà ra.

Thêm nhiều tiếng sủa nữa. Lần này còn gần hơn. Một con chó lớn, chắc là giống chó chăn cừu Đức.

“Con định làm gì hôm nay?”

“Đi xe đạp ạ.”

“Giữa trời mưa thế này à?”

“Cũng không mưa to lắm. Ở đây thì không.”

Thỉnh thoảng khi cảm thấy thế này cô hay gọi điện cho Sebastian. Sau đó bao giờ cô cũng thấy bình tâm hơn.

“Chỗ này thì lại mưa khá to.”

“Ừ hứ.”

“Mẹ đang ở trong rừng... hái đủ loại nấm lớn nấm nhỏ. Và rồi mẹ nghĩ tới cục cưng của mẹ.”

“Được rồi. Giờ con phải đi đây.”

“Nhưng mà...”

“Bố đã xỏ giày rồi. Bye-bye.”

“Mẹ thơm một cái nào. Rồi mẹ sẽ gặp lại con...”

Đầu dây bên kia im lìm. Đó là cảm giác tồi tệ nhất.

“... sớm.”

Nó đã cúp máy, như vậy là chẳng có tác dụng gì. Cô vẫn chỉ có một mình, trong khu rừng u ám, một chiếc quan tài gỗ vô tận sặc mùi bùn đất và quả thối.

Không chỉ có một con chó. Giờ thì cô nghe thấy rõ. Sủa liên hồi, chúng đang cảnh báo ai đó.

Dù không nhận thức rõ, cô đã tiến tới gần mảnh sân rải sỏi rộng thênh thang - cây cối thưa thớt hơn. Thêm không khí và ánh sáng. Đây là đích đến của cô. Đây là lý do tại sao cô lại giả bộ đi lang thang với giỏ nấm trong tay - tới xem xét kho vũ khí giờ đã trống không.

Nhưng ngoài đó có gì đang chuyển động. Cô thoáng thấy qua những rặng cây bóng người bận quần áo xanh, nghe thấy tiếng nói lẫn trong tiếng gió.

Họ đã phát hiện ra.

Chính thứ này đã khiến Leo vã mồ hôi, thao thức hằng đêm trong khi tưởng rằng cô đã ngủ say. Anh đã lo lắng suốt bao tuần lễ.

Chuyện đó đã xảy ra.

Anneli đi vài bước thật nhanh theo hướng ngược lại. Cô phải nói cho anh biết, anh phải biết. Rồi cô dừng lại cũng đột ngột như khi bắt đầu chạy. Cô chưa biết gì cả. Cô mới chỉ biết có người đang ở đó, vài người cùng với chó, đang đi lang thang ở đúng địa điểm mà Leo, Jasper, Felix và Vincent đã phá tung sàn kho vũ khí mà cướp đi mọi thứ bên trong. Cô chỉ mới biết có thế. Cô đã được hướng dẫn theo cùng một kiểu với mấy đứa em trai của Leo, đây là sứ mệnh của cô, giờ cô đã là một phần của cả nhóm.

Cô xoay người và chậm rãi bước trở lại phía đó.

Những con chó với hàm răng nhọn hoắt đang sủa và chảy dãi. Cô nhớ tới vết cắn trên gò má trái. Một con chó boxer chồm lên mình cô bé khi ấy mới năm tuổi, trong khi người chủ nói nó chỉ đang đùa giỡn thôi. Giờ cứ hễ nhìn thấy một con chó to nào tới gần là cô lại đi hẳn sang bên kia đường. Cô biết chúng cũng hiểu cô sợ chúng đến mức nào và bởi thế, dường như chúng luôn muốn thu hút sự chú ý của cô.

Giờ thì cô đã nhìn thấy chúng.

Bước qua rặng cây, cứ mỗi bước lại càng thưa thớt, cô tới gần hơn, qua hàng cây cuối cùng. Hai con chó, có lẽ là ba. Và năm... sáu... bảy người bận quần áo xanh. Nếu cô tiếp tục bước tới, giẫm lên nền sỏi, mấy con chó sẽ ngửi thấy ngay sự sợ hãi của cô, đọc được tâm trí cô. Nhưng cô không còn sự lựa chọn nào khác. Nếu họ đã phát hiện thấy cái lỗ, đường hầm, kho đạn rỗng, Leo phải được biết điều này.

Một cái cây rậm rì nằm bên rìa khoảng sân. Cô đi xuyên giữa những cành lá của nó. Chúng cứ như một lớp áo quần nữa, và cô chui vào bên trong, nơi cô có thể quan sát kho vũ khí.

Cánh cửa, cô đoan chắc, vẫn đóng kín.

Nó vẫn đóng kín!

Cô vừa định rời đi, cũng cẩn trọng như khi đến thì bỗng bị trượt xuống. Chầm chậm. Dọc theo bờ đất lầy lội xuống tới con hào, nơi chia cắt thảm rêu với mặt sỏi, khu rừng và nhà kho quân sự. Gót đôi ủng cao su của cô cọ trên đá vụn, tạo nên tiếng rít chói tai cắt ngang qua không khí.

Lũ chó chồm lên, giật mạnh dây buộc.

Chúng đã nghe thấy tiếng cô.

Anneli đã gần như trèo được lên khỏi hào, lên tới đỉnh bờ đất, nhưng lại bị trượt xuống.

“Cô cần giúp gì không?”

Không phải bảy - mà là tám người. Bận đồng phục, đội mũ cối trắng ghi chữ MP. Lũ chó là giống chó chăn cừu Đức, cô đã đoán đúng, và chúng dõi theo từng cử động của cô.

“Anh đã... buộc chặt chúng chưa thế?”

“Đây là khu vực quân sự.”

“Tôi hơi sợ chó, tôi.,.”

Người lính cao lớn có bộ râu xoăn muối tiêu hình như là chỉ huy ở đây quay mặt về phía con chó đứng đằng trước, đôi mắt nhỏ của nó xoáy vào cô.

“Ra đây, Caliber. Ngồi xuống.”

Anh ta đeo súng trong bao da quàng qua vai, trông bề ngoài cũng khá thân thiện.

“Tôi cho là cô có thể... chào nó một tiếng.”

Anneli - em phải tới kho vũ khí.

“Cứ đưa tay ra trước mũi nó.”

Đó là những gì Leo dặn dò cô. Những gì anh muốn cô thực hiện.

“Cứ... để nó ngửi hơi cô.”

Anneli - ngay trước cửa. Cái hố ở đó. Anh muốn biết nó vẫn chắc chắn hay đã bắt đầu sụt xuống rồi.

“Cô thấy đó... nếu ta đối xử tốt thì nó rất ngoan ngoãn.”

Lần đầu tiên anh ta mỉm cười. Anneli liếc nhìn chiếc mũ. MP. Viết tắt của Military Police. Sau đó cô nhìn con chó đứng cạnh đôi bốt đen của anh ta, và cô tự hỏi liệu nó có phân biệt được những kiểu sợ hãi khác nhau, một đằng là sự sợ hãi vô thức theo bản năng, còn ở cô là nỗi sợ có ý thức khi nghĩ về tương lai. Đó chính là kiểu sợ hãi mà cô đang cảm thấy bây giờ, sợ hãi những hàm răng ngoác rộng kia, vì có lẽ cô không còn là người duy nhất ở đây biết rằng bên trong cái nhà kho bê tông cách đó vài thước chẳng còn gì cả.

“T... tôi đi ngang qua bên kia được không? Sang đầu kia khoảnh sân?”

“Không được đâu. Như tôi đã nói đấy, đây là khu vực quân sự.”

“À. Được rồi.”

“Chúng tôi là quân cảnh. Mọi người đang diễn tập ở đây. Tôi cần cô rời đi ngay.”

“Tôi đã không biết...”

“Có biển cấm vào đằng kia.”

“Tôi... không thấy nó. Tôi đi xuyên qua rừng, đỗ xe ở...”

“Thế cô đang làm gì ở đây?”

Anh ta đã nhìn thấy. Cả tám người mặc đồng phục xanh lá kia cũng thấy cô đang do dự thế nào.

“Tôi...”

Cái giỏ. Lúc nãy cô đặt xuống đất, giờ cô lại cầm nó lên.

“Nấm.”

Anh ta nhìn xuống mặt đất phủ đầy vỏ cây.

“Cô không hái được nhiều lắm nhỉ.”

“Không, tôi...”

“Nhưng cái đó... cây nấm màu đen. Loại này hiếm lắm. Cô tìm được nó ở đâu?”

Cô bật cười, lo lắng, gượng gạo, nhưng vẫn hy vọng nó phần nào nghe có vẻ thoải mái.

“Đừng bao giờ tiết lộ nguồn gốc, phải không nào? Nhưng cũng không nhiều lắm, anh biết đấy, trời mưa thế này cơ mà.”

“Cô không thể ở lại đây được.”

Giờ cô mới là người đang mỉm cười. Cô hơi hất đầu qua một bên.

“Đi ngang qua sân có được không? Thưa sĩ quan? Như thế tôi sẽ ra khỏi đây nhanh hon?”

Anh ta nhìn cô. Cô vẫn mỉm cười, đúng mức độ mà cô tin sẽ có tác dụng.

“Dĩ nhiên. Đi đi.”

Họ quan sát, theo dõi cô, cả khi cô dừng cạnh kho đạn và quay người lại.

“Gì đây? Căn nhà nhỏ này? Có phải nơi nhốt chó không?”

Cô tiến lại gần như thể muốn xem xét nó.

“Không.”

“Không phải? Nó là...”

“Kho dự trữ vũ khí.”

Trước cửa vài thước. Ngay chỗ đó. Cô cũng đoán thế. Cô đang đứng tại nơi mà mới cách đây chưa lâu còn là một cái lỗ. Cô gần như có thể chạm vào những bức tường xám, hoàn toàn trống rỗng bên trong. Một cái vỏ, như Leo thường gọi, cái vỏ rỗng bằng bê tông.

“Kho dự trữ vũ khí?”

Chân phải. Cô ấn mạnh hơn xuống nền sỏi.

“Dùng khi có chiến tranh, chúng tôi cần trang bị cho một đơn vị nào đó.”

Chỗ ấy không xốp hay mềm chút nào. Cái lỗ mà họ đã đào lên rồi lấp xuống không thể bị quan sát thấy hay cảm nhận được.

Anneli bước tiếp. Họ vẫn canh chừng cô.

Những ánh mắt sắc nhọn, soi mói sau lưng cô.

Cô đã hoàn thành nhiệm vụ, bất chấp những hàm răng của bầy chó, bất chấp con đau dâng lên trong ngực và mồ hôi túa ra sau lưng dưới lớp áo mưa.

“Cô ơi.”

Đã gần thoát thân rồi. Giờ giọng nói của anh ta đuổi theo cô, lớn hơn bao giờ hết.

“Cô ơi!”

Cô do dự. Dừng bước. Nhắm mắt.

Ủng cao cổ, áo mưa dày, nấm đen.

Đó là vẻ bề ngoài của cô - một phụ nữ đi lang thang trong rừng, người luôn thích đi dạo ở đó.

“Vâng?”

“Cô vừa nói là cô đi hái nấm?”

“Phải. Hoặc... có thể nói là đi tìm kiếm chúng.”

Đầu nghiêng sang một bên. về phía bộ mặt đang tỏ ra nghiêm trọng.

Anh ta biết.

“Và... cô có chắc chúng không phải nấm độc?”

Tất cả bọn họ đã biết.

“Nấm độc?”

Họ đã biết rõ ngay từ đầu.

“Cây nấm vàng nâu, nhỏ nhỏ ở giữa kia. Cô nên để ý cây đó.”

“Tôi... hay là, ý anh...”

“Cây nấm Chân Vàng kia. Nó có thể là loại nấm cực độc Deadly Webcap. Rất nhiều người nhầm lẫn hai loại này.”

Anh ta mỉm cười.

“Cô phải cẩn thận đấy.”

Anh ta mỉm cười, nụ cười chân thật. Anh ta không tới đây bắt cô trở lại, cũng không hỏi bất cứ câu nào về cái lỗ hay kho vũ khí bị khuân rỗng.

Một thoáng sau cô gật đầu, vẫy tay. Khi đi ngang khoảnh sân cô chỉ muốn ngoảnh lại nhìn hình bóng bọn họ lùi ra xa, nhưng cô đã không làm thế.

Cô chạy qua rừng, nhảy qua những rễ cây và mỏm đá, phóng xe nhanh quá mức tưởng tượng về phía Tumba. Cô đã đến gần cách kho vũ khí chỉ vài thước. Leo, em đã kiểm tra tận nơi, nó không sụt xuống chút nào, lớp sỏi vẫn được lèn chặt. Cô đã thực sự khiếp đảm. Em đã tới trước mặt họ, nói chuyện với họ. Nhìn tận mắt lũ chó nghiệp vụ, Leo à, chó chăn cừu Đức, giống chó to nhất. Cô đã nghiêng cái giỏ để họ có thể thấy số nấm cô hái được. Em đứng đó cùng tám cảnh sát, họ đổ dồn mắt nhìn em, nhưng chẳng ai nhận ra họ đang bị em đưa vào tròng.

Anneli bật cười một mình. Cảm giác thật tuyệt vời. Cô đã đi lang thang trong khu rừng đó với hai nỗi sợ hãi, lo lắng lũ chó sẽ đánh hơi được cả hai. Cô nhận ra trong suốt thời gian vừa rồi, mỗi ngày trong vài tuần qua, có một nỗi sợ thứ ba, lớn hơn nhiều và giờ cô bật cười vì đã giải tỏa được. Đó là nỗi sợ không biết điều gì sẽ xảy ra với người đàn ông mà cô yêu, không thể kiểm soát được tình hình, nỗi sợ chỉ có thể được đánh tan khi cô có mặt ở đó. Ban nãy cô đã có mặt. Cô đã dấn thân vào vụ này. Cô có một sứ mệnh không ai khác thực hiện nổi, và cô đã hoàn thành nó tốt hơn tưởng tượng của bất kỳ ai.

Cô bật xi nhan đúng lúc, đi ngang qua Nhà Xanh rồi rẽ về hướng ngược lại, qua cổng căn nhà mới của họ, nằm kẹp giữa đường cao tốc và căn garage công nghiệp với đường nhựa, có hàng rào thép gai xung quanh. Chỉ một năm thôi. Cô có thể vượt qua được, cũng giống như việc cô đã hoàn thành nhiệm vụ trong cánh rừng kia.

Một chiếc xe tải đỗ trước lối vào, cửa sau mở, bên trong hoàn toàn trống rỗng. Tất cả mớ thùng các tông đã được đem vào bên trong. Cô thầm mong Felix, Vincent và Jasper vẫn ở đó như thường lệ, để rồi họ có thể nghe thấy cô kể lại mọi chuyện cho Leo.

Đỗ xe cách ngôi nhà vài mét, cô có thể nhìn qua các cửa sổ tầng một, từng chiếc thùng các tông xếp chồng lên nhau. Cô đang vặn tay nắm mở cửa thì nhìn thấy anh bước ra từ tòa nhà còn lại trên khu đất, căn garage mênh mông. Suýt nữa thì cô đã chạy bổ tới chỗ anh.

“Leo...”

Chưa kịp chạy tới thì cô đã mở lời ngay.

“... Em về rồi đây!”

Lẽ ra những người khác cũng nên có mặt ở đó.

“Từ giờ em là...”

Lẽ ra họ phải lắng nghe cô. Felix, Vincent và Jasper.

“... nữ tặc của anh!”

Cô ôm anh, hôn anh lên má, lên môi.

“Có người ở đó.”

“Có người?”

“Quân cảnh. Tám tên. Dẫn theo chó.”

Cô đang nói thì thầm mặc dù chính cô cũng chẳng hiểu tại sao.

“Nhưng đó chỉ là một buổi diễn tập. Em đã làm đúng như lời anh bảo.”

Khuôn mặt anh bỗng biến sắc.

“Em làm... gì cơ?”

“Em đã kiểm tra lớp sỏi trước cửa. Giẫm chân lên kiểm tra. Em...”

Nhưng không như cô mong muốn, mặt anh nhăn lại.

“Em đang nói cái quái gì thế?”

“Vâng. Và bọn họ chẳng mảy may nghi ngờ gì.”

Mặt anh thường nhăn lại như thế khi anh chìm đắm trong những ý nghĩ riêng mà cô không hiểu nổi.

“Vậy em đứng đó - cách kho vũ khí một thước - đạp chân lên đó trong khi tám tên quân cảnh với chó nghiệp vụ đứng xung quanh?”

Cô lại hôn anh, đầy tự hào.

“Phải, và họ...”

Leo nhìn quanh về phía ngôi nhà bên cạnh mà lần trước cô tưởng họ sắp dọn đến ở, về phía con đường và cả đoàn xe nối đuôi phía sau một chiếc xe khi nó dừng lại.

“Vào nhà thôi.”

Anh túm lấy cô, không quá mạnh, nhưng cũng mạnh hơn bình thường đủ khiến cô phải bước theo anh. Rồi anh đóng cửa lại.

“Quân cảnh.”

Hành lang không sáng lắm. Chỉ một bóng đèn mắc vào sợi dây điện dài, đung đưa khi Leo chạm phải nó.

“Những kẻ được huấn luyện để mắt đến những điều mà chính em cũng không biết. Và em đứng trước mặt chúng và... quệt chân như con mèo giấu bãi nước đái!”

Ánh sáng chói lóa đến mức khó chịu.

“Leo, em chỉ làm những gì..”

“Chúng có biết tên em không? Em có nói tên mình không?”

“Không, em...”

“Chúng có nhìn thấy chiếc xe không?”

“Em...”

“Nếu nhìn thấy chúng có thể dò ra!”

Anh bao giờ cũng cẩn trọng không nổi nóng hay mất bình tĩnh, lúc nào cũng kiểm soát được cảm xúc.

Cô chẳng thể nhận ra Leo lúc này.

“Không, chúng không nghi ngờ gì cả.”

“Không nghi ngờ gì?”

“Em hứa đấy, Leo.”

Cô đã từng nhìn thấy vẻ mặt này ở anh. Nhưng đó là chỉ khi anh nói chuyện với những người đàn ông khác - khi bị thách thức. Khi đó thậm chí cô còn cảm thấy thích thú, nó khiến cô cảm thấy an toàn.

“Nếu chúng biết kho vũ khí đã bị khuân rỗng và tóm được em, chúng sẽ thẩm vấn em. Em biết thế, đúng không?”

Nhưng cô chưa từng thấy anh tỏ ra như vậy với mình, hay với mấy đứa em trai, hay bất cứ ai thân thiết với anh đến thế.

“Trong một buổi thẩm vấn, mấy tên cớm béo ị khốn kiếp sẽ ngồi đối diện với em, dùng tất cả những gì em nói để bẻ lại em, liên tục tra hỏi cho tới khi đạt được mục đích. Em có xử lý được không? Hả... nữ tặc?”

“Anh bị sao thế? Thôi đi!”

“Vì nếu em không chịu đựng được anh bây giờ, em sẽ chẳng thể chịu đựng nổi một cuộc thẩm vấn đâu.”

Chật chội. Từng chồng thùng các tông, bàn ghế, đèn bàn, giá sách chất đống lên nhau hoặc đặt cạnh nhau.

“Em sẽ không đời nào khai ra anh.”

Anh nắm tay cô và tựa vào tường. Tiến lên theo lối đó thì dễ dàng hơn, chỉ cần gạt vài chiếc thùng là họ đã vào đến trong bếp.

“Trong cuộc thẩm vấn. Nếu chúng tra hỏi. Nếu... Leo, nhìn em đây... anh biết mà, phải không? Em sẽ không đời nào phản bội anh.”

“Chà, em sẽ chẳng phải dự buổi thẩm vấn nào hết. Nếu hoàn thành vai trò của mình.”

Leo gạt hai chiếc thùng và cái máy pha cà phê thành một lối hẹp tới chỗ tủ lạnh. Anh mở nó ra.

“Giờ em phải sống hai cuộc đời, Anneli ạ. Một bên ngoài, một bên trong.”

Ngăn đá trống không - ngoại trừ một khay đá.

“Sáu tuần trước anh còn sở hữu một công ty xây dựng. Felix, Vincent và Jasper là nhân viên của anh. Còn em, cô gái mà anh yêu, vị hôn thê, người tình của anh.”

Anh lấy một xô đá trong chiếc hộp đặt trên lò nướng.

“Sáu tuần trước.”

Từ chiếc hộp bên dưới, một cái khăn bông.

“Chúng ta đánh cắp vũ khí.”

Anh đập cái khay, đổ đá vào xô.

“Rồi cướp một cái xe bọc thép.”

Anh mở tủ lạnh và lấy ra thứ duy nhất bên trong, một cái chai ở ngăn trên cùng.

“Chúng ta đang bị săn đuổi. Anneli à, em có ý thức được không - thật sự hiểu ấy? Tất cả đã thay đổi. Cảnh sát đang thực sự lùng sục chúng ta ngoài kia.”

Anh quấn khăn bông trắng quanh cái chai, chỗ giao giữa cổ chai và thân chai.

“Mọi thứ đã thay đổi - và rồi sẽ còn thay đổi nữa. Đây mới chỉ là sự khởi đầu, sau này còn khó khăn hơn , em biết mà. Em biết mọi thứ - bởi vì anh tin tưởng em.”

Cái chai thật đẹp với nút chai lớn và phần nhãn dán được thiết kế thanh thoát nằm dưới lớp khăn bông đang được hạ vào xô đá.

“Không bao giờ được để lại bất kỳ dấu vết nào. Không được mạo hiểm lộ diện. Chúng phải không được biết gì, không có manh mối gì. Những dấu vết duy nhất còn lại là những gì ta bày ra có chủ ý. Chúng ta là một băng cướp năm người chưa từng có tiền án tiền sự - thứ chúng chưa bao giờ bắt gặp trước đây. Ta là những tên cướp sành sỏi thực hiện những vụ động trời nhưng lại không tài nào tìm được trong hồ sơ cảnh sát. Chúng ta là cơn ác mộng tồi tệ nhất - chúng ta không tồn tại.”

Anh lại túm lấy cô, nhưng không giống lần trước mà nhẹ nhàng hơn, anh kéo cô lại gần.

“Hai cuộc sống, Anneli ạ? Một là trước mắt hàng xóm. Hai là cuộc sống thực của chúng ta - những kẻ cướp ngân hàng mà báo chí sẽ luôn phải nhắc tới.”

Trong cái tủ đựng chén gần như trống trơn có hai chiếc ly để uống champagne mới tinh vì từ trước tới giờ họ chẳng uống lần nào. Leo đặt hai cái ly cạnh nhau trong bồn rửa, rồi mở nắp chai. Tiếng nổ hệt như trong phim, bọt sủi lên khi anh rót rượu đầy hai ly mỏng tang.

“Uống mừng thôi, Anneli, vì ngôi nhà mới của chúng ta.”

Anh ấy đã bảo mấy đứa em về nhà vì anh biết mình không muốn chúng ở đấy.

Anh ấy đã bỏ sẵn một chai Dom Pérignon đắt tiền trong tủ lạnh, bởi vì anh cho là mình cảm thấy ly rượu sủi bọt có mùi như táo vàng này và màn chúc rượu đó có vẻ gần gũi hơn.

“Chúc mừng.”

Cô nâng ly, nhìn anh, rồi uống. Nó gần như chẳng có mùi vị gì, như thể trôi tuột xuống cổ họng nhưng rồi lại chảy hết ra bên ngoài. Cô không hiểu được. Cô đã bật cười một mình trong xe, cô đã nhận ra thứ luôn đeo đẳng trong tâm trí mình - nỗi sợ hãi cô chẳng thuộc về nơi đâu. Đó chính là cái cô đã mang ra từ cánh rừng, cảm giác được trở thành một phần của cả nhóm, vậy mà ngay lúc này đây anh đã tước đoạt nó khỏi cô. Dù cô có cố gắng mỉm cười đến thế nào, nó sẽ không bao giờ trở lại với cô nữa.

CÔ THƯỜNG THÍCH KHỎA THÂN bước qua mặt sàn gỗ bóng loáng. Chính cô là người đã dạy anh ngủ khỏa thân, khỏa thân đánh răng, rằng anh có quyền phô ra thân hình khẳng khiu trắng nhợt của mình. Trong bếp vẫn là chiếc bàn cũ từ thời đó. Vào buổi sáng hôm ấy, khi sự ngượng ngập hóa thành sự im lặng, John đã ngồi ở đúng cái chỗ mà anh đang đứng bây giờ, đối diện với cô. Họ toàn nói những chuyện tầm phào, cốt để không phải nhìn thẳng vào nhau, rồi chợt bàn chân cô chạm vào chân anh. Chỉ cần có thế, một cái chạm nhẹ vào chân là đủ để sự gần gũi và tin tưởng của đêm hôm trước lại ùa tới, mặc dù trong một quãng thời gian rất dài anh đã từng nghĩ mình chẳng bao giờ có thể trần truồng trước mặt bất kỳ ai trên đời này.

John Broncks rót sữa trắng vào cốc trà đen.

Anh biết em không muốn nói tới chuyện này. Em đã bỏ qua quá khứ sau lưng. John? Anh thừa biết thế.

Đặt cái chén trống không vào bồn rửa, anh mặc quần áo, bước từ căn hộ một phòng ngủ của anh ra sân. Nơi đó nằm ở mạn Tây Södermalm của thành phố Stockholm. Tiết trời buổi sáng thật ấm áp mặc dù đã là tháng Mười một. Hình như mùa thu và mùa đông đang ngủ quên và thế là mùa hè lẻn quay lại chơi đùa chốc lát. Anh bước ngang khoảng sân về phía ngôi nhà cổ trên phố Högalid và một nhà thờ lớn với hai tháp cao bên cửa. Cái chuông to nặng nề của nó in bóng lên bầu trời, cứ mỗi giờ lại gióng lên bốn tiếng nghèn nghẹt, thứ tiếng động mà trong mấy năm đầu tiên sống ở đây anh lúc nào cũng thấy khó chịu, còn bây giờ thì thậm chí anh còn chẳng để ý xem cái chuông còn ở đấy hay không. Rồi anh đi ngang qua một cửa sổ luôn luôn mở toang vọng ra tiếng đài phát thanh Stockholm và thông tin về tình hình giao thông, bước vào quán cà phê mà thực chất là tiệm bánh với hai cái bàn nhỏ, mùi bánh mì vừa ra lò, người thợ bánh bưng ra những chiếc bánh mì kiểu Ý trong khi miệng hát opera tiếng Ý. Anh ta biết John thích bánh yến mạch không kẹp cà chua.

Thêm một tách trà nữa.

Ngày này hai năm trước, chính anh đã gói ghém những món đồ cô cất trong tủ, sữa tắm không mùi và thuốc đánh răng. Cuốn Giới tính thứ hai và đĩa nhạc Cơn mưa tím, những thứ mà người ta đem theo khi dọn tới ở chung với ai đó, hòa nhập từng ít một với tâm hồn người đó. Anh đã đặt chiếc túi Ikea to màu vàng lên mặt thảm hành lang và bảo cô hãy đi đi. Trong khi cô còn chưa kịp hiểu gì, anh đã bỏ sang ngồi ở đúng cái quán này, uống trà thảo mộc cách đó có một tòa nhà để đảm bảo khi anh quay lại thì cô đã đóng cửa ra đi hẳn rồi.

Broncks chộp lấy một cốc nước cam và một cái bánh bích quy loại nhỏ, hơi khô vẫn còn nằm trên khay nướng bánh.

Anh nghĩ về em từng ngày.

Anh đã yêu cầu cô ra đi. Anh cảm thấy khi cô đã quá gần gũi với anh, toàn bộ quyền lực cũng nằm trong tay anh. Nhưng khi đó anh không hiểu rằng nó chỉ phát huy tác dụng khi ta sử dụng cực kỳ cẩn thận, đủ sắt đá, trong khi nếu không biết kiểm soát, nó sẽ biến mất mười năm sau trên một chiếc xuồng nhôm - giờ cô mới là người có quyền quyết định, còn trong anh chỉ còn lại sự trống trải.

Còn em thì chưa từng nghĩ tới anh.

Vẫn ngữ điệu ấy, vẫn sự lạnh lùng ấy, hệt như khi cô viết những báo cáo pháp y hay phân tích những địa điểm mà bọn cướp có thể đã cập bến bên hồ Drevviken.

Cà phê, nước cam, bánh mì dày, thậm chí cả chiếc bánh quy khô tròn xoe - anh vẫn thấy đói sau khi đã tống vào bụng tất cả những thứ đó và lướt ngón tay trên mặt đĩa, không bỏ sót từng mẩu vụn nhỏ.

Bờ hồ Drevviken.

Anh quay lại chỗ đó hết lần này tới lần khác. Dù anh đã tìm kiếm khu đó. Trong một thoáng cô không còn nói bằng giọng dửng dưng nữa. Anh vẫn phải quay lại - và tiếp tục rà soát. Hẳn bọn chúng biết rõ nơi đó như lòng bàn tay, và đã từng đến đó vài lần.

Anh gật đầu với người thợ bánh bận tạp dề trắng rồi bước chậm rãi về phía những hàng xe cộ nối đuôi nhau trên phố Långholm trên đường tới chỗ làm. Anh tới chân cầu Västerbron, lách giữa những vũng nước đọng lại sau trận mưa đêm qua mà leo lên tới đỉnh, nơi cảnh vật đúng là có một không hai. Stockholm hiện ra thật đẹp đẽ trước mắt anh. Anh lùi một bước thật xa khỏi lan can, e sợ chính mình sẽ muốn nhảy xuống sau khi đã lên tới độ cao thế này.

Jafar. Và Gobakk.

Vẫn còn những tên khác.

Có kẻ đã chờ sẵn trên xuồng chỗ bến thuyền, nơi bầy chó nghiệp vụ không còn đánh hơi được gì nữa. Một kẻ khác đã chờ chúng trong bóng tối và chỉ cho chúng lối thoát thân.

Ở đầu cầu bên kia lan can cao hơn, dốc xuống mặt đất trên đảo Kungsholmen. Anh lại bước tới gần lan can, cảnh vật ở đó không còn tuyệt mỹ như trước.

Nhiều khả năng trong vụ này vẫn còn những kẻ khác.

Ai đó đã lái xe chở chúng tới Farsta. Không thấy báo cáo có vụ cướp xe nào, không có chiếc xe nào bị bỏ lại, và chẳng ai lại đi xe lăn, đeo mặt nạ đi tàu điện ngầm hay xe buýt tới nơi gây án cả.

Một cầu thang đá dẫn xuống công viên Rålambshovs. Anh đi qua chỗ máng để trượt ván, sân chơi bi và những người chạy bộ tập thể dục, sang bên kia con phố trước mặt những ngôi nhà đắt đỏ có mặt tiền nhìn về phía hồ, tới khu Kronoberg, trụ sở chính của toàn bộ cảnh sát Thụy Điển.

Có bốn, hoặc năm tên. Một nhóm. Mà đã là nhóm thì phải có kẻ cầm đầu thúc đẩy cả bọn, một người có quá khứ dữ dội, có kinh nghiệm. Con người ta đâu thể một chốc mà trở thành những kẻ cướp ngân hàng được; những gì chúng làm chỉ là tổng hòa của tất cả những hành động trước đó. Chúng mày là ai - Jafar hay Gobakk? Tên thật của chúng mày trong hồ sơ là gì? Chúng mày đã từng gây ra những vụ việc gì trước đây? Chúng mày có liên quan gì với dấu vết cuối cùng đó, với bờ hồ và bến thuyền mà chúng mày chọn để tẩu thoát?

Leo cầm cốc cà phê trong tay, nhìn qua cửa kính bám đầy bụi của căn bếp ngắm bầu trời buổi sớm, nhìn những tia nắng lẻ loi cố xuyên qua màn mây. Anh có cảm giác điều gì đó không ổn, mưa vẫn không ngừng và anh đã quen với âm thanh đơn điệu khi những giọt nước đập vào cửa sổ. Gạt những chiếc thùng trên sàn, bước qua bóng đèn trần trụi treo giữa trần nhà, anh mở rộng cửa sổ. Không khí thoáng đãng tràn vào cuốn đi mùi hôi của căn nhà đã bỏ không hàng tháng trời chờ đợi chủ nhân mới đến giội nước vào toilet, phòng tắm và bồn rửa mặt.

Anh bỏ hai ly champagne trên thùng các tông vào bồn rửa.

Cô không hề tỏ ra vui vẻ. Nhưng anh chẳng còn lựa chọn nào khác.

Ba bản vẽ xếp thành đống trên một chồng thùng chuyển đồ khác. Leo cầm tờ đầu tiên lên xem xét. Băng chuyền. Bơm nước. Ống xi măng. Anh đã tự tay thiết kế và vẽ lại từng bước. Anh biết chúng hoạt động thế nào và rồi chúng sẽ biến nơi này thành Hang Đầu Lâu của anh ra sao.

Lên kế hoạch trước, chắc chắn mình có thể kiểm soát mọi việc.

Vẫn cầm bản vẽ trong tay, anh bước từ bếp ra hành lang vào căn phòng trống duy nhất không có cái thùng các tông nào, ngay bên trái lối vào, căn gác lửng trước đây từng được dùng làm văn phòng.

Và thực hiện thật hoàn hảo để không ai lần ra được.

Dù là khi dành cả giờ ra chơi ghi lại những cột thu phí đỗ xe mà anh bắt gặp trên đường tới trường - chỉ cần dùng đục và búa tháo mũ hai đinh tán mặt sau máy, và rồi hằng ngày khi không ai để ý mở tấm chắn ra lấy hết tiền xu bên trong. Hay lúc giả vờ gọt bút chì trong tiết học cuối cùng trong khi nhẹ nhàng hé mở cửa sổ, sau đó chạy thật nhanh về nhà đặt đồng hồ báo thức - nửa đêm quay lại cùng Felix hãy còn ngái ngủ, thằng em đứng bên ngoài cầm một túi đựng rác to tướng màu đen trong khi Leo nhảy vào qua cửa sổ và ném hết các mô hình mà giáo viên đã đặt mua ra ngoài - máy bay Airfix từ Thế chiến II và xe Revell y như trong phim American Graffiti, những mô hình này lẽ ra sẽ được dùng trong các tiết học được gọi là Giờ Nghỉ.

Mãi sau này anh mới nhận ra - một điều lần nào cũng thật hiển nhiên.

Nếu anh làm những gì không ai ngờ tới.

Nếu anh đẩy lùi những giới hạn bên trong bản thân mình mà không biểu lộ ra.

Nếu anh sử dụng những quy tắc mà tự anh đã sửa đổi.

Những đồng năm mươi xu trong máy thu phí đỗ xe, hay mô hình trong lớp học. Bao giờ anh cũng tự kiểm soát cái thế giới của riêng anh, nhìn từ bên ngoài không ai có thể thấy được. Anh đã quyết tâm không bao giờ theo gương bố, lúc nào cũng quá ồn ào và lộ liễu đến mức bị bắt. Anh cũng đặt ra những quy tắc riêng giống như bố anh đã làm, nhưng anh giữ chúng cho riêng mình, nơi không ai có thể thấy hay thấu hiểu được.

John Broncks luôn bước vào sở cảnh sát Kronoberg bằng lối phố Bergs. Mỗi buổi sáng, quanh năm, bao giờ anh cũng đi bộ từ tiệm bánh Ý nhỏ nhắn bên kia cầu Västerbron, hai mươi phút bình tâm suy nghĩ tránh xa khỏi những xe buýt và tàu điện ngầm. Anh vẫn làm việc trong cùng một văn phòng từ cái ngày anh trút bỏ bộ đồng phục cảnh sát để mặc thường phục. Không còn là kiểu cảnh sát lúc nào cũng lăm lăm tay súng có mặt tại hiện trường đầu tiên, anh trở thành một thám tử, người bao giờ cũng đến sau, xâu chuỗi lại sự việc từ những mảnh vụn còn sót lại - tiếng vang đe dọa, hơi nóng từ thân thể kẻ định trốn chạy - chậm rãi vẽ lại bản đồ bạo lực.

Anh mở tập hồ sơ và lật qua ghi chép các buổi thẩm vấn nhân chứng, báo cáo giám định, ý kiến chuyên gia. Cái phong bì màu nâu đặt dưới cùng - ảnh chụp phóng to những mảnh kính vỡ trên mặt ghế, vết đạn trên cửa ô tô. Broncks hết xoay rồi lật, đưa tới gần, đưa ra xa cho tới khi anh chịu thua, gạt chúng khỏi bàn phím máy tính và mở một ngăn Hồ sơ tội phạm. Anh lật giở lại sự việc, theo ý kiến của Sanna, từ nơi người ta nhìn thấy Jafar và Gobakk lần cuối, tìm kiếm bất kỳ ai có liên quan tới khu bơi lội bỏ hoang ở Sköndal, kẻ nào đã cẩn thận xóa mọi dấu vết xác thực nhưng vẫn để lại những dấu vết về tinh thần, cái cách chúng sử dụng vũ lực.

Một bản đồ lớn đặt trong ngăn thứ hai. Anh mở nó ra và bắt đầu dùng bút dạ đỏ lần theo bờ hồ Drevviken, rồi vẽ theo đường màu đen của một con phố, cứ thế, cho tới khi quay lại bờ hồ nơi mọi thứ bắt đầu và các dấu vết thì kết thúc.

Một khu vực rộng ba dặm vuông.

Một ngón tay đặt trên hình vuông, anh dừng lại ở từng con phố mới, đánh từng địa chỉ vào máy tính để tìm kiếm lượt đầu - những người sống trong hình vuông đó đã từng ngồi tù vì các tội ác liên quan tới vũ lực.

“Chào anh.”

Tìm kiếm lượt hai - những người không sống ở đó nhưng đã từng ngồi tù vì các tội danh liên quan tới sử dụng vũ lực bên trong khu vực.

“John? Chào anh?”

Anh ngẩng lên khỏi màn hình. Thậm chí anh không nghe thấy tiếng cô bước vào phòng.

“Em đánh thức anh đấy à?”

Sanna hơi tựa vào khung cửa, cầm một tập giấy tờ.

“Tất cả vỏ đạn đều được dán lên phía sau nhãn 80 700.” Cô nhìn quanh phòng khi bước vào, xem xét nó cẩn thận theo thói quen của nhân viên pháp y hay cũng có thể đơn giản chỉ là vì tò mò.

“Điều này xác nhận những gì chúng ta đã biết - vũ khí quân dụng do Thụy Điển sản xuất.”

Cô đưa tập tài liệu cho anh, nhưng mắt vẫn nhìn xung quanh. Căn phòng được sử dụng hoàn toàn cho công việc. Những thùng các tông xếp dọc tường và trên sàn nhà, cảm giác như anh chưa từng dọn hẳn đến đây, cảm giác như nơi này chỉ là một bến đỗ xe buýt.

“Anh đã... dùng văn phòng này bao lâu rồi?”

“Từ khi anh chuyển đến đây.”

“Thế là gần mười năm rồi. Nhìn chẳng có dấu hiệu gì chứng tỏ đây là phòng anh cả. Không một đồ vật riêng tư. Không một bức ảnh. Chẳng... có gì hết.”

“Phải.”

“John... thậm chí chỗ này còn không có mùi của anh nữa.”

“Anh muốn thế đấy.”

Anh lật tập tài liệu mà không hề ngẩng mặt lên.

“Em xong việc ở đây chưa, Sanna?”

Anh không nhìn khi cô xoay người và bắt đầu bước ra khỏi phòng.

“Rồi, xong rồi, John ạ.”

Nhưng anh vẫn nghe thấy tiếng bước chân cô mà anh đã biết quá rõ nhỏ dần dưới cầu thang.

Anh nhìn lên màn hình máy tính hiển thị hệ thống cơ sở dữ liệu và những kết quả sau hai lượt tìm kiếm.

Anh nhận được tổng cộng mười bảy kết quả.

Căn buồng phụ, Leo đã đo đạc thật chính xác, mười một mét vuông.

Anh nhìn qua cửa sổ duy nhất của căn phòng ra phía lối đi, nhìn thấy mấy người kia đang tới, cả ba ngồi trên băng ghế trước.

Bản vẽ vẫn nằm trong tay anh. Hang Đầu Lâu và lời giải cho bài toán về nơi lưu trữ của họ.

Chúng đỗ xe chỗ cửa trước, cạnh cầu thang ngắn và hành lang tạm bợ. Chúng đến đúng giờ. Cả ba đều ăn mặc đúng kiểu. Felix mở tấm phủ thùng xe rồi Jasper và Vincent nhấc xuống cái búa khoan nặng hai mươi bảy cân, bốn cái mai, bốn cái xẻng, một hòm đồ nghề bằng gỗ, một túi đựng khẩu trang và găng tay phẫu thuật, một két Coca-Cola.

“Chúng ta là những người phải đẩy lui mọi giới hạn, phá vỡ các quy tắc.”

Trong khi Leo nói, mấy người kia chất đầy đồ nghề vào phòng.

“Những giới hạn, quy tắc chỉ còn hiệu lực cho đến ngày chúng mở kho vũ khí ra và phát hiện 221 khẩu súng máy đã biến mất.”

Anh đưa cái xà beng dài trong hộp cho Felix, giữ lại thanh ngắn. Đầu tiên là tấm lát chân tường, tấm thảm nhựa màu vàng, sau cùng là lớp Masonite và gỗ dán. Họ tháo chúng ra, bẻ gãy, xé làm đôi. Trong khi Jasper và Vincent mang từng mảnh ra ngoài xếp thành đống cạnh chiếc xe tải.

“Giờ chúng ta sẽ đẩy lui giới hạn chút nữa. Thiết lập lại các quy tắc.”

Chỉ sau vài phút đồng hồ sàn nhà đã bị lật tung lên.

“Để khi chúng mở kho vũ khí và khám phá ra vụ trộm, chúng ta đã kịp chuẩn bị một kho vũ khí cho riêng mình.”

Anh quỳ xuống, dùng thước gập và bút chì đo một hình chữ nhật giữa phòng - 2 mét chiều dài, 1,6 mét chiều rộng. Sau đó họ đem tới chiếc búa khoan nặng trịch, có đầu nhọn lớn bằng thép giật ầm ầm khi đục xuyên qua lớp xi măng.

“Chúng ta có lợi thế về thời gian, và ta sẽ tận dụng triệt để lợi thế đó - phải hành động thật nhanh. Đầu tiên là sau mười ba ngày nữa.”

Họ đã bỏ lại băng chuyền trên thùng xe tải, giờ Jasper và Vincent khiêng nó vào. Bốn cánh tay căng lên, run run khi đặt thiết bị cồng kềnh đó ngoài sân rồi chuyển đến vị trí cạnh cửa sổ - để chuyển đất và xi măng ra ngoài.

“Một ngân hàng chỗ bùng binh.”

Họ đã thuê xe tải cả ngày. Nó được đỗ dưới băng chuyền, đất sét rơi xuống thùng xe để rồi được chở đi. Felix phải lùi xe vài lần mới vào được đúng vị trí.

Mùi hôi thối, tanh tưởi lưu cữu của cây cối phân hủy hàng trăm năm. Họ bắt đầu đào sâu hơn hai mét xuống dưới sàn nhà, từng xẻng bùn đặc quánh, đảm bảo dọn sạch lớp bùn dưới đáy hồ xưa kia. Cứ sau mỗi nhát xẻng là bùn lại ùa tới lấp kín như cũ. Hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn xẻng bùn nhưng mỗi người lại làm việc một kiểu khác nhau. Leo nhìn Felix, cả hai làm nhanh như nhau, Felix không bao giờ biết mệt, và kể cả có mệt thật đi nữa nó cũng không để lộ ra. Với những động tác thuần thục lặp đi lặp lại, nó đào theo cách sao cho tiết kiệm sức lực nhất, lắc lắc xẻng một chút trước khi nhấc lên cho không khí lọt xuống dưới để khỏi bị đối lưu đáy. Jasper đứng ở góc thứ hai của hình chữ nhật, mặt và tóc bám đầy bùn, nó khịt mũi, đào bằng cả thân người và rồi chẳng bao lâu nữa thể nào cũng làm chậm lại, bắt đầu nói huyên thuyên, trốn việc bằng cách pha trò. Vincent đứng gần băng chuyền nhất, mỗi nhát xẻng chỉ xúc được một ít, hai cánh tay nó khẳng khiu, tấm lưng dài ngoẵng, nó liếc nhìn hết Leo lại đến Felix để cố bắt chước theo.

Ba mươi phân.

“Khi bước vào ngân hàng và bắn vỡ camera, nhân viên sẽ nhấn nút báo động. Và nếu có tay cớm nào lảng vảng trong xe cảnh sát gần đấy, chúng phải hiểu rằng ta sẽ chẳng ngại ngần sử dụng vũ lực hơn mức cần thiết.”

Tiết kiệm, khịt mũi, bắt chước, cả ba xúc từng xẻng bùn lên băng chuyền, ra cửa sổ, lên thùng xe tải. Vẫn còn thứ đất khá cứng.

Họ đang đào xuyên thời gian.

Một trăm năm trước, nơi đây là rừng thưa, hai trăm năm trước, một cái ao bỏ hoang ở đúng chỗ này, ba trăm năm trước, một cái hồ tràn đầy sự sống - nòng nọc, giáp xác và cá.

“Chuyện là thế đấy, bọn cớm không thể, không nên, can thiệp nếu ta được vũ trang tốt hơn chúng.”

Bảy mươi lăm phân.

“Thuần túy từ góc độ tâm lý, sẽ không có thằng cảnh sát khốn kiếp nào dám đến gần nếu chúng ta tỏ rõ mình được vũ trang tốt hơn, tập trung, có tổ chức - và sẵn sàng nổ súng.”

Giờ không còn có thể tựa vào thành hố đầy đất sét và đào từ bên cạnh nữa. Leo và Felix đứng giữa một đám sền sệt màu nâu, đưa từng xô đầy lên cho Vincent, khi đó quỳ bên trên đổ đất lên băng chuyền để chuyển ra cửa sổ lên thùng xe nơi Jasper dùng xẻng san ra cho đều.

“Vậy nên bọn cớm sẽ dè chừng, gọi thêm cứu viện. Khu vực cần tìm kiếm khi chúng bắt đầu điều tra sẽ ngày càng rộng ra... nhưng khi chúng bắt đầu tìm kiếm thì ta đã cao chạy xa bay rồi.”

Một trăm hai mươi phân.

Mỗi người ngồi ăn một chiếc bánh pizza từ quán Robban trong trung tâm mua sắm màu xanh mới mở bên kia đường. Vincent hạ xuống một xô nước ấm, nhưng dù Leo có cố kì cọ bàn tay đầy bùn cỡ nào, chiếc pizza vẫn có mùi tởm lợm khi anh đưa nó lên miệng. Đáy hồ cổ xưa này đã dần thấm vào anh.

Một mét rưỡi.

“Khi đã tập hợp đủ lực lượng, chúng sẽ nhận ra chúng ta có tới sáu mươi tư lối thoát. Đúng là một cú sốc.”

Leo để cái xô xuống bùn rồi duỗi lưng.

Bốn mươi hai ngày trước đó, họ đã cùng đào một cái hố dưới kho vũ khí, chẳng khác gì đường hầm để thoát khỏi trại tù binh. Giờ họ đã đào gần xong Hang Đầu Lâu và nhìn nó cũng giống một ngôi mộ tập thể của cuộc chiến đó.

“Chúng sẽ bỏ cuộc. Chúng chỉ muốn về nhà nằm duỗi trên ghế xem tivi thôi. Bọn cớm cũng có gia đình mà, vợ, con. Buổi tụ tập tối thứ Sáu. Trong khi đó chúng ta cũng sẽ thay quần áo, đổi xe lái về nhà nằm dài trên ghế tận hưởng tối thứ Sáu bằng những ly rượu.”

Hai mét.

Họ đã gần tới đích lắm rồi. Nhưng kiệt sức. Sự mệt mỏi khiến Jasper trở nên đần độn, lảm nhảm những câu không ai hiểu về tốc độ bắn của một khẩu AK4, rằng nó mơ ước có được biển số xe là UZI 600 - thử nghĩ mà xem, Felix, sáu trăm viên một phút. Felix đào còn giống cái máy hơn cả khi trước, không suy nghĩ hay cảm giác gì, tiếp tục xúc những xẻng đầy đất sét xanh sền sệt, hôi thối. Vincent ngồi trên miệng hố, hai chân buông thõng bên cái thang nhôm, mày mệt à, Vincent, ngáp như đứa trẻ, không, em có mệt đâu, chỉ chợp mắt tí thôi, lại ngáp. Rồi Anneli bước vào với chiếc máy ảnh, cả nhóm cùng tạo dáng, phá lên cười với nhau như một đội bóng vừa mới thắng trận đấu mà đối thủ là đất sét dưới hố - Leo đứng giữa choàng tay qua vai hai đứa em còn Jasper ở phía trước, quỳ một chân trong bùn và giơ hai ngón tay thành hình chữ V, Được rồi, giờ chụp ảnh cả nhóm, cố mà nghiêm túc xem nào. Và cứ sau mỗi tấm ảnh Anneli chụp họ lại cười to hơn, nhìn này, hội nhà xí vừa thực hiện thành công vụ cướp nhà vệ sinh công cộng lớn nhất thế giới, cho tới khi những vệt bùn đất trên khuôn mặt họ bắt đầu nứt ra.

Hai mét bảy.

Leo gấp cái thước đo và kiểm tra thước thủy để đảm bảo mặt đất sét không bị dốc. Nước chầm chậm chảy tới, hệt như những cái hố mà hồi bé họ bỏ ra bao nhiêu công sức đào trên bãi biển để rồi chẳng bao lâu lại đầy nước biển. Anh đã tiên liệu và hiểu rằng phải lên kế hoạch trước. Mỗi kế hoạch bao giờ cũng có một khoảnh khắc then chốt, một bước ngoặt, định đoạt toàn bộ kết quả. Tấm ốp chân tường kho vũ khí bung ra. Một chiếc xuồng bị bóng tối nuốt chửng phóng đi bỏ lại chiếc xe tải bọc thép phía sau. Khi họ bước vào ngân hàng ở Svedmyra và bắn rụng camera sau hai tuần nữa - lúc đó mới cố kiểm soát mọi việc thì đã muộn. Bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra, bọn thu ngân, phản ứng của khách đến giao dịch, tất cả đều khó mà dự đoán được. Ngay sau đó, họ sẽ tận dụng cảnh rối ren để biến mất trong không khí - thay đổi bộ dạng từ những tên cướp ngân hàng trở thành những người thợ mộc bình thường - lên kế hoạch cho tất cả những cái đó từ trước sẽ giúp họ có được lợi thế. Đó chính là điều mà bọn nghiệp dư, mấy thằng gangster nửa mùa không làm. Chúng không tiên liệu những khoảnh khắc then chốt, mất kiểm soát đúng lúc đó và vì thế để cho bọn cớm áp đảo.

“Leo?”

Những kẻ nghiệp dư không thực hiện chắc chắn từng bước - cứ để mặc đống lửa khói um sau lưng - và sau cùng bị cảnh sát bao vây. Rồi phải trả giá khi chẳng còn cách nào thoát thân.

“Leo?”

Khoảnh khắc then chốt. Bước ngoặt.

Hệt như bây giờ, đào một cái hố nơi lẽ ra chẳng thể có cái hố nào, chống lại hàng trăm năm lịch sử - đối mặt với nước, chặn đứng nó, xây dựng một hệ thống để đảm bảo anh mới là người kiểm soát được luồng nước chứ không phải thời gian.

“Leo? Anh trai? Mệt rồi à?”

Đứa em út, anh đã không nghe thấy tiếng nó trèo lại xuống hố. Anh mỉm cười khi nghe đúng cái câu mình đã hỏi lúc trước, đúng cái giọng mà mình dùng để nói với nó.

“Không đâu. Chỉ nhắm mắt tí thôi.”

Vincent đứng trong hành lang với cái xe đẩy chứa đầy sỏi thô, tròn và sạch. Cái lốp cao su xịt một tiếng khi nó đẩy xe qua ngưỡng cửa, rồi khi tới cạnh hố thì đẩy thẳng hai tay cầm lên trên. Tất cả trút hết xuống hố. Jasper đẩy vào một xe nữa, mỗi xe hai mươi tư gallon, rồi đến Felix - phải mười hai chuyến xe mới phủ được một lớp sỏi mỏng trên đáy hố. Ống xi măng cần hai người phía trên và hai người đỡ phía dưới mới di chuyển được. Nó được đặt giữa căn buồng bí mật, rộng chín mươi phân và cao sáu mươi phân. Phải mất năm mươi hai chuyến xe đẩy mới san phẳng được sàn, lấp đầy khoảng trống xung quanh ống xi măng đến tận miệng, tạo thành ống thoát nước dưới sàn. Khi nước từ đáy hồ cổ xưa này bắt đầu dâng lên, nó sẽ lấp đầy ống và một cái phao sẽ tự động bật máy bơm.

Leo cúi xuống, nhìn chăm chú bề mặt bóng loáng, nước sạch rỉ qua lớp sỏi như một tấm gương, và anh biết vấn đề nơi cất giấu từ nay đã được giải quyết. Hình ảnh khuôn mặt anh dưới đó nứt ra, biến thành những vòng tròn nhỏ, rồi vòng tròn lớn, kết thúc khi gặp phải thành ống.

“Cái giếng ước của riêng chúng ta đấy, Leo ạ.”

Một thứ gì ánh bạc nổi lên bề mặt và nằm dưới đáy ống. Anh nhặt nó lên. Một đồng xu 1 krona.

“Phải để lại nó ở đấy, nếu anh muốn nó linh nghiệm. Anh không biết à?”

Felix đứng bên rìa ống, một tay cho vào trong túi. Nó lấy ra một đồng xu mới và ném tới nhưng Leo bắt được trước khi nó rơi xuống nước.

“Chẳng có gì gọi là may mắn hết, nếu ta là người định đoạt. Tao đã lên kế hoạch hết rồi. Chúng ta chẳng cần cái giếng ước nào hết.”

JOHN BRONCKS KHÔNG CHẮC anh đã từng đến nơi này. Từ xưa đến giờ. Một nhà thờ, một nhà ga, một bể bơi trong nhà, một thư viện. Những cảnh vật ở vùng ngoại ô mà thông thường người ta vẫn lái xe ngang qua nhưng chẳng ngó ngàng gì tới.

Anh hạ cửa kính. Mấy ngày qua trời đã ấm hơn và mưa bắt đầu chuyển thành sương mù khiến việc nhìn ra ngoài trở nên khó khăn. Anh đã khoanh vùng một khu vực ba dặm vuông bằng bút đỏ, sau đó tìm trong cơ sở dữ liệu tất cả các vụ bạo lực xảy ra trong khu này - và nhận được mười bảy kết quả.

Từ đây đến nơi anh muốn tới chẳng còn bao xa. Những tòa nhà thấp bao quanh bởi những bãi đỗ xe, quảng trường Ösmo, và ngay phía sau là một tòa nhà gạch hai tầng. Đó là đích đến của anh.

Mười bảy kết quả tương đương mười bảy vụ án trong phòng hồ sơ lưu trữ của Kronoberg dưới tầng hầm, thảy đều đã bị truy tố và khép lại. John đã đem hết lên, phân loại ra, để thành từng chồng trong văn phòng mình.

Hai người trong danh sách đã chết. Ba người không sống ở Stockholm nữa mà ở Gothenburg, Berlin, hay Costa del Sol ở Tây Ban Nha. Họ đều có chứng cứ ngoại phạm được cảnh sát xác nhận. Bốn người hiện vẫn ở trong tù, ngồi sau song sắt khi vụ cướp diễn ra. Năm người bị buộc tội hiếp dâm, cưỡng bức và có hành vi đồi bại với trẻ em - những tội danh chẳng mấy liên quan tới vụ việc mang tính chất bạo lực này.

Anh dừng lại cạnh một hòm thư mà chủ nhân của nó đã tự sơn, đỗ xe ngay phía trước. Ai đó đang theo dõi anh qua cửa sổ.

Còn ba hồ sơ điều tra sơ bộ nữa. Những vụ này cần phải gặp mặt trực tiếp, và anh đã đem chúng theo trên đường tới gặp những người có tiền án tiền sự ở khu Sköndal này, những kẻ hoàn toàn có khả năng thực hiện vụ cướp đó.

Cuộc gặp mặt đầu tiên chỉ cách sở cảnh sát có hai tòa nhà, trên phố St. Erik, một người bị buộc tội buôn bán ma túy. Ông ta cỡ bốn mươi tuổi nhưng cơ thể thì như một ông lão tám mươi, lưng gù, tóc thưa, má hóp, mắt mờ đục - Broncks chỉ thoáng nhìn ông ta trong căn hộ bẩn thỉu là đủ loại trừ ngay khỏi diện nghi vấn thủ phạm vụ cướp kéo dài chưa đến hai mươi phút kia. Anh đi ngay khỏi tòa căn hộ nhìn ra kênh Karlberg, rồi sau đó mới nhận ra ông ta và anh cũng bằng tuổi nhau và nếu hai người đổi con đường mình đã chọn cho nhau, hẳn bây giờ vị trí của hai người cũng hoán đổi cho nhau y như vậy. Thời gian đâu chỉ tính bằng giờ phút.

Một căn hộ bằng gạch với mảnh vườn rộng. Nhìn hàng hiên và cửa sổ anh đoán có lẽ nó phải được xây từ hồi thập niên 1920. Giờ thì anh biết chắc, một người đàn ông đang ngồi sau cửa sổ.

Anh đã lái xe từ phố St. Erik, đi về hướng Jakobsberg tới địa điểm thứ hai trong khu vực. Sau cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, John cũng loại trừ ngay người này. Đó là một người đàn ông 47 tuổi phạm tội giết người - khi đôi chân gã vẫn còn đi lại được. Giờ đó chỉ còn là một người béo phì, về hưu sớm, chẳng còn sợi tóc nào, nói năng lí nhí gần như thì thầm, uống cà phê trong căn nhà giống hệt tất cả các nhà khác trong dãy phố. Gã đã được lắp chân giả ở cả hai đầu gối sau một trận đòn rất bài bản, được ghi lại trong hồ sơ là một vụ trả thù; cuộc điều tra này sau đó đã bị bãi bỏ khi tất cả nhân chứng rút lại lời khai.

Chỉ còn lại một người. Người đó đang ngồi sau những bức rèm đã được treo lên không biết từ bao giờ đằng kia.

Broncks mở một tập tài liệu vốn đã nằm trong kho hồ sơ cảnh sát suốt mười lăm năm. Giờ nó đang nằm trên ghế bên, những hàng chữ đánh máy miêu tả một người đàn ông 51 tuổi nhập cư từ Nam Tư hồi thập kỷ 60, đã vào tù ra tội vài lần. Lần gần đây nhất là một vụ bạo lực, mười tám tháng trong trại cải tạo Norrtalje - những tấm ảnh của một phụ nữ đứng trước phông nền xanh như ảnh chụp học sinh, mái tóc vàng buộc cao để lộ ra những vết thương - những vết bầm tím quanh mắt rồi sẽ lan xuống dưới, vết rạn rất rõ trước trán nơi bác sĩ pháp y đã lau sạch máu để nhìn rõ những vết thương xuyên sâu vào trong. Tuy thế, những cái đó vẫn chưa thấm vào đâu so với phần còn lại của khuôn mặt bà - máu tụ thành một mảng lớn dưới da, những mao mạch bị vỡ giờ nhìn thâm lại thành màu xanh và vàng. Tấm ảnh cuối cùng chụp phần dưới phía bên phải, chỗ da trắng quanh chiếc áo ngực cũng màu trắng, một vết bầm rất lớn choán toàn bộ khu vực giữa phần dưới cánh tay và hông. Ông ta đã cẩn thận đánh đập bà không sót chỗ nào.

Broncks lật úp tập ảnh xuống. Anh chưa muốn xem chúng. Nhưng quá muộn rồi. Bất chợt, như vẫn thường xảy ra, tâm trí anh tràn ngập những hình ảnh của một người mẹ khác, và anh tự hỏi khi đứng trước ống kính của bác sĩ pháp y bộ dạng của bà có giống như vậy không - mái tóc buộc cao sẫm màu hơn, những vết sưng và bầm tím khác nhau - nếu bà tố cáo với cảnh sát.

Cơn mưa đã quay trở lại, tuy chỉ là mưa bụi nhưng cũng đủ che mờ căn nhà trước mắt anh. Anh toan bật cần gạt mưa, nhưng lại thôi - nếu anh không nhìn thấy gì bên ngoài thì người đàn ông ngồi dưới tầng trệt căn nhà kia cũng thế.

Thêm những cuộc điều tra, thêm những tội danh khác. Bao giờ cũng là những vụ bạo lực, hay bạo lực nghiêm trọng. Thụ án ở nhà tù Österäker, trại cải tạo Asptuna và Gävle. Tấn công đốc công tại dự án cải tạo công trình ở Huddinge, tấn công người soát vé trên bến phà giữa Slussen và Djurgarden, tấn công hai người đàn ông trong câu lạc bộ trên phố Regering, dẫn tới vụ tấn công hai cảnh sát khi đó tới hiện trường để bắt ông ta. Người này, bất chấp những tấm ảnh dễ sợ chụp thân người đàn bà kia, không chỉ đơn giản là một kẻ chuyên đánh đập vợ - ông ta đã tấn công rất nhiều người khác, không trừ một ai.

Còn một tài liệu trong tập hồ sơ. Chính là hồ sơ mà chiếc máy tính ở sở cảnh sát đã tìm thấy khớp với những gì anh đang tìm.

TÒA ÁN QUẬN HANDEL VỤ 301-1

BỊ CÁO Dûvnjac, Ivan

TỘI DANH Phóng hỏa nghiêm trọng

ĐIỀU 8 CHƯƠNG 6 § Brb

BẢN ÁN Bốn (4) năm tù giam

John Broncks lật qua những trang giấy chi chít chữ ghi lại một loại tội ác hoàn toàn khác. Phóng hỏa nghiêm trọng, tại một căn nhà nhỏ ở Sköndal, chỉ cách khu bơi lội và bến thuyền nơi các dấu vết kết thúc có vài trăm mét, và bản án bốn năm tại nhà tù Österäker.

Một người thường sử dụng bạo lực, có thể có liên quan tới khu vực đã khoanh vùng, thậm chí là liên quan tới chính Jafar và Gobakk.

Broncks chui ra khỏi xe, mở cổng.

Người đàn ông mà anh đã thoáng thấy sau bức rèm cửa sổ tầng trệt góc bên phải vẫn còn ngồi nguyên ở đó.

Họ đã gia cố và đúc khuôn sàn gạch quanh miệng giếng, xếp gạch xỉ than quanh thành giếng từ đáy tới miệng, sau đó trát xi măng. Họ cũng đã lắp máy bơm dưới đáy giếng và nối với công tắc nổi tự động bật khi mực nước lên quá cao.

Bản vẽ đầu tiên, công trình xây dựng sàn và tường Hang Đầu Lâu vậy là hoàn thành.

Leo gấp nó lại, bỏ vào hộp đồ nghề, lấy ra bản vẽ thứ hai. Bản lề. Vải nhung đen. Két sắt. Đó là thiết kế lối vào của anh, qua một cánh cửa két hoàn toàn bình thường mà không ai phát hiện được. Anh ra khỏi căn phòng giờ đã có một cái hố sâu hơn hai mét chính giữa và bước ra sân tiến về phía garage.

Đi được nửa đường thì anh nghe thấy tiếng động - tiếng lưỡi kim loại từ từ cắt qua mặt sau két sắt. Khi mở cửa, anh bắt gặp từng chùm chớp sáng, những hạt kim loại bùng cháy khi bắn ra khỏi bề mặt. Felix đang đứng trong căn garage gần như trống trơn, cúi mình bên cái két sắt nặng nề đặt trên bàn, mặt nạ chống nhiệt làm bằng polyamide màu đen trùm trên khuôn mặt đầy mồ hôi.

“Felix - tao đã lên thời gian và địa điểm rồi.”

Những tia sáng cuối cùng, tấm chắn phía sau két sắt rời hẳn ra.

“Một ngân hàng ở Svedmyra, ngày 11 tháng Mười hai, vào thứ Tư.”

Đó là một két sắt hoàn toàn bình thường. Vuông vức và hơi xỉn tối. Sản xuất tại nhà máy két sắt Hans Dahlkvist ở Mora. Leo xoay mã số mở két, rồi nhìn xuyên ra phía sau. Nhìn Felix - đang nhìn lại anh từ đầu bên kia.

“Rồi sau đó là hai ngân hàng, cùng một lúc - vào ngày 2 tháng Một, thứ Năm.”

Một tấm nhung đen. Leo trải nó lên nửa còn lại của bàn làm việc, đo đạc, đánh dấu bằng phấn trắng lên mặt sau. Tay cầm cái kéo mới mài, anh cắt nó thành từng mảnh.

“Tao đã tìm được chỗ đó. Hai ngân hàng có chung vách tường. Một thị trấn nhỏ với một quảng trường nhỏ ở giữa, mày có thể lái xe đến ngay trước cửa ngân hàng theo đúng nghĩa đen.”

“Thế còn đường thoát?”

“Tha hồ chọn. Đường lớn - cao tốc 73. Hay một mê cung những ngóc ngách - tất cả đều dẫn ta trở lại đây.”

Tuýp keo đã hơi khô. Leo gạt lớp keo đã cứng lại ở trên rồi dùng một con lăn nhỏ, anh phủ lớp keo dính vải màu trắng sữa lên thành két.

“Ở đâu?”

“Ösmo.”

“Ösmo?”

“Ừ.”

“Nếu thế... em nghĩ ta nên đi lối đường nhỏ. Qua Väggarö và Sunnerby. Hay Sorunda. Con đường nhỏ dẫn đến Tumba.”

Những tấm nhung hình vuông được dán lên thành két sắt phủ keo.

Họ kéo căng những tấm vải rồi vuốt bàn tay lên trên để chúng dính chặt, không còn nếp nhăn hay bong bóng bên dưới.

“Ösmo?”

“Ừm.”

“Ösmo phải không Leo? Rồi... anh làm cái quái gì ở đấy?”

Họ đang ngồi hai bên một cái két không còn mặt sau, vậy nên khó mà tránh ánh mắt nhau.

“Leo này?”

“Gì?”

“Anh đã làm cái quái gì ở Ösmo?”

“Thám thính.”

“Anh đã đến đó.”

Felix nhìn kỹ đôi mắt quá quen thuộc với nó.

“Leo?”

Đôi mắt không dám nhìn thẳng vào nó.

“Anh đã đến đó... tới nhà lão. Lão già khốn kiếp!”

“Phải. Tao đến đó đấy.”

“Tại sao?”

“Tiền. Tao nợ lão. Mày biết mà? Tao trả lão hết rồi. Để không bao giờ phải nghe đến chuyện đó nữa.”

“Chúng ta đếch nợ nần quái gì lão cả, Leo ạ. Chẳng biết bao giờ anh mới hiểu! Và anh muốn trả lão lúc nào cũng được cơ mà!”

Chỉ còn một miếng nhung nữa. Anh gắn nó vào mặt sau két - lối vào Hang Đầu Lâu.

“Vậy tại sao anh lại làm chuyện đó... lúc này? Leo, trả lời em đi, mẹ kiếp! Khi ta vừa mới cướp một cái xe chở tiền và lên kế hoạch cướp ba ngân hàng khốn kiếp trong vòng năm tuần!”

“Tự nhiên nổi hứng thôi.”

“Tự nhiên nổi hứng cục cứt ấy! Anh muốn nói thẳng với lão.”

“Không.”

“Đúng là anh muốn nói với lão!”

“Sao tao phải làm thê?”

“Sao? Sao? Em hiểu anh quá rõ, Leo ạ. Em biết chuyện giữa hai người là thế nào. Lão đã nhồi một đống rác rưởi vào đầu anh, và thế là chuyện cứ dây dưa mãi.”

“Mẹ kiếp, sao mày cứ phải nhặng lên thế. Quên nó đi được không, Felix?”

“Được. Em sẽ quên chuyện của nợ đó. Quên cả Svedmyra, anh trai ạ. Quên cả Ösmo khốn kiếp đi. Em rời khỏi nhóm. Ngay từ bây giờ.”

Felix đã bước nửa đường ra tới cửa garage thì Leo túm lấy vai nó.

“Mẹ kiếp, Felix, bình tĩnh lại đã.”

Hai người đứng đó, nhìn chằm chằm vào nhau một lúc lâu.

“Leo, hứa với em đi!”

“Hứa gì?”

Felix vẫn nói như hét.

“Hứa với em rằng anh sẽ không gặp lại lão nữa trong khi em còn lãnh trách nhiệm lái xe chở ta tẩu thoát!”

“Tao...”

“Hứa đi. Hứa đi!”

Leo đặt bàn tay còn lại lên vai bên kia của Felix.

“Được rồi. Tao hứa. Hài lòng chưa? Tao hứa sẽ không bao giờ liên lạc gì với lão già nữa.”

Đầu nghiêng sang một bên, hơi mỉm cười, Leo kéo hai bờ vai thậm chí còn hơi rộng hơn vai anh.

“OK?”

Em trai anh không trả lời, nhưng anh cũng chẳng chờ đợi gì.

“OK rồi chứ Felix? Hài lòng chưa? Đã nói là không bao giờ nữa.”

Broncks bấm chuông cửa. Cái chuông nhỏ ngộ nghĩnh nhìn như một bông hoa.

Nếu người ngồi sau bức rèm kia đứng dậy bước ra hành lang mở cửa, Broncks sẽ thực hiện đúng như những gì đã làm với người đàn ông béo phì ở Jakobsberg và gã nghiện ở Sankt Eriksgatan: hỏi những câu chẳng liên quan gì tới mục đích của anh nhưng lại thu được câu trả lời mà anh đang tìm kiếm - giờ ông là người thế nào, ông có thể làm được gì, ông đã ở đâu giữa 5:54 và 6:14 chiều ngày 19 tháng Mười.

Tiếng bước chân. Ai đó bước nặng nề, giậm cả bàn chân xuống sàn. Một bóng đen xuất hiện sau lớp kính cửa ra vào. Tiếng vặn ổ khóa.

“Xin chào, tôi...”

“Steve không có nhà.”

Người đó to lớn hơn nhiều so với John tưởng tượng. Không cao hơn, không khỏe mạnh hơn, chỉ là to lớn hơn theo cái kiểu ta thường thấy khi đứng gần ai đó.

“Ông ta sở hữu nhà này. Tôi chỉ thuê lại thôi.”

Mái tóc sẫm màu chải ngược ra sau, cáu bẩn, hai bên tóc mai rậm rạp, như Elvis Presley nếu để tóc dài.

“Thế nên anh quay lại sau nhé.”

Bàn tay thô ráp nắm lấy quả đấm cửa toan đóng lại, hai khớp ngón tay lún xuống, gần như phẳng, chỗ ngón trỏ và ngón giữa, một đặc điểm thường thấy ở những người hay dùng đến nắm đấm.

“Tôi không đến gặp Steve. Tôi tới đây để gặp Ivan Dûvnjac.”

Broncks giơ phù hiệu cảnh sát ra, người đàn ông lực lưỡng chỉ thoáng nhìn nó.

“John Broncks, thuộc sở cảnh sát thành phố.”

Anh nhìn người đàn ông rồi ngoái đầu qua nhà hàng xóm hai bên, những căn nhà với những khu vườn rộng.

“Chúng tôi đã nhận được vài báo cáo những vụ đột nhập ở khu này mấy tuần qua. Ông có để ý thấy có gì bất thường không?”

“Thế nên lũ cớm các anh mò ra đi gõ cửa hỏi từng nhà?” Cùng một giọng nói với Gã Nghiện và Ông Béo. Những kẻ đã quá quen với việc này: mở cửa ra gặp cảnh sát, đối phó với hệ thống luật pháp tại tòa, rồi đi tù. Lúc nào cũng nghi ngờ, luôn có cảm giác bị buộc tội thậm chí trước cả khi điều đó thực sự xảy ra.

“Phải, ông nói thế cũng đúng.”

“Vậy thì... anh muốn cái quái gì ở tôi?”

Broncks đã chờ đợi thái độ này. Anh chẳng mơ mộng gì một cuộc nói chuyện lịch sự giả dối về chuyện trộm cắp vặt ở trong khu dân cư tử tế. Anh tới đây để loại trừ một người khỏi danh sách tình nghi sau cuộc tìm kiếm trong hồ sơ trên máy tính.

“Tôi đã cho ông xem thẻ căn cước của tôi. Giờ tôi muốn xem thẻ của ông.”

“Tôi làm gì có thẻ căn cước quái nào.”

“Không có à?”

“Không.”

“Thậm chí cả hộ chiếu cũng không có? Không gì cả?”

“Tại sao tôi phải cần đến chúng? Luật ghi thế à? Tôi có cần đứng đây trình giấy tờ mỗi khi có tay cớm khốn nạn nào gõ cửa nhà tôi?”

Họ đứng sát nhau trên hành lang hẹp. Nói chuyện đến tầm này thì Gã Nghiện và Ông Béo đã bắt đầu trả lời các câu hỏi của anh, trình thẻ căn cước. Mặc dù cũng có cảm giác mình đang bị buộc tội, họ muốn mình được minh oan ngay.

“Có lẽ với tư cách là một thành viên của xã hội?”

“Tôi có thể thuê nhà ở đây mà chẳng thuộc xã hội quỷ quái nào hết.”

Nhưng đây, vẻ thách thức vô cớ, người này sẵn sàng đứng đây đôi co bao lâu cũng được, coi mỗi khoảnh khắc là một cuộc đối đầu mới.

“Vậy còn cái xe đằng kia thì sao?”

Broncks hất hàm về phía lối vào, nơi đỗ một chiếc Saab cũ han gỉ, con lăn sơn và cái thang gấp thò ra từ ghế sau.

“Đó có phải xe của ông không? Trong trường hợp đó, ông phải có giấy phép lái xe.”

Một bàn tay đưa lên vuốt mái tóc kiểu Elvis.

“Anh tưởng tôi là dân trộm cắp khốn nạn hay sao? Thật à? Anh tưởng thế? Anh đã dò xét hết giấy tờ của tôi, vốn được lưu trữ trong cái xã hội khốn kiếp của anh.”

“Tôi muốn biết ông đã ở đâu giữa năm giờ ba mươi và sáu giờ ba mươi chiều ngày 19 tháng Mười.”

Một tràng cười ngắn vang lên trong khoảng không giữa hai người, chẳng lấy gì làm thân tình.

“Loại trộm nào mà lại đi đào tường khoét ngạch từ năm đến bảy giờ tối?”

Người đàn ông lực lưỡng, choán một khoảng không gian rộng lớn giờ tiến lên nửa bước.

“Tôi đã gây ra nhiều chuyện. Tôi đã không kiểm soát được bản thân. Nhưng một tên trộm khốn kiếp... thế quái nào anh lại cho là tôi lẻn vào nhà người ta mà ăn cắp? Tôi không bao giờ lén lút. Tôi chiến đấu một cách đường hoàng. Anh cũng nhìn thấy trong hồ sơ còn gì.”

John Broncks không nhúc nhích. Không đời nào nếu vẫn chưa nhìn thấy căn cước của ông ta.

Ông đã hành hạ vợ mình.

Ông đã ném bom xăng vào nhà bố mẹ bà ấy.

Dùng bạo lực để khống chế người khác, tôi chẳng cần giấy tờ quái nào hết. Tôi đã biết cả rồi.

“Thôi được. Mẹ kiếp. Nhưng xong việc thì mời anh cút về cái xe cảnh sát khốn kiếp của mình đi nhé.”

Ông ta vẫn để cửa mở, biến mất trong hành lang vào một phòng có lẽ là căn bếp. Một tập vé số và hai chai vang ngổn ngang trên bàn. Một chiếc áo khoác xám vắt trên lưng ghế, trong túi đựng một chiếc ví đã sờn.

“Cảm ơn.”

Broncks lấy tấm thẻ nhựa nằm lẫn lộn với đám hóa đơn và mấy tờ 20 krona. Tấm bằng lái. IVAN ZORAN DÛVNJAC. Được cấp cách đây bảy năm, còn hạn ba năm nữa.

Anh đưa trả nó cho ông ta.

“Lẽ ra ngay từ đầu ông có thể cho tôi xem mấy thứ này.”

“Tại sao tôi phải làm thế? Anh đến nhà tôi, sẵn có thành kiến trong đầu. Ngay cả khi anh thừa biết tôi chẳng làm cái thá gì suốt mười năm. Và tôi không đời nào rình mò nhà người khác như loài chuột cống đâu.”

“Ai có thể xác nhận được điều này không?”

Họ đứng thật gần nhau, nhưng vẫn chưa đủ gần. Người đàn ông, giờ đã được xác định chắc chắn là Ivan Dûvnjac, bước lại gần hơn một chút, hất đầu ra sau, đưa cằm ra, mắt nhìn chòng chọc. John đã không còn vướng vào cái trò đọ sức này từ rất lâu rồi, hồi anh mới chỉ là nhân viên cảnh sát quèn.

“Anh đến đây để gây khó dễ cho tôi. Có lẽ thế. Cứ tiếp tục đi.”

Nhưng anh không chịu lùi bước.

“Ông đang đe dọa tôi à?”

“Anh muốn nghĩ sao cũng được.”

“Có ai làm chứng ông đã ở đâu chiều tối ngày 19 tháng Mười không?”

“Có Steve.”

“Steve?”

“Chủ nhà của tôi. Ông ta sống ở tầng trên. Ông ta có thể xác nhận điều này. Cứ gọi đi. Ông ta làm ở... cứ gọi đến bến phà Gotland.”

Anh bước xuống cầu thang và lối đi lát đá ra xe. Broncks không cần ngoái nhìn lại. Anh có thể cảm thấy đôi mắt dõi theo mình sau tấm rèm.

Anh đã tìm được mười bảy kẻ tình nghi, những kẻ đang thụ án và đã được thả, những kẻ đã và đang là tội phạm. Anh đã kiểm tra, loại từng người khỏi diện nghi vấn. Đây là người cuối cùng. Anh tin ông ta. Một người lúc nào cũng dùng đến vũ lực, nhưng không bao giờ trộm cắp.

Jafar và Gobakk đang ở một nơi khác.

Bản vẽ thứ nhất - xây một căn buồng bên dưới một căn buồng khác. Bản vẽ thứ hai - cưa đứt rồi hàn lại mặt sau cái két sắt. Bản vẽ thứ ba - thứ mà rồi đây sẽ trở thành mái và lối vào Hang Đầu Lâu - nằm trong tay Leo, đã hoàn thành được một nửa.

Ống thủy lực. Nắp đậy. Quai cầm.

Đầu tiên, họ đặt dầm thép từ bờ tường bên này tới tường bên kia ngay phía trên căn phòng bí mật mới đào - một bộ khung kim loại sau này sẽ được đặt trong xi măng, tạo thành sàn phòng trên và trần phòng dưới, một thì nhìn thấy được, một thì không, chỉ là một ảo ảnh. Sau đó họ sẽ treo cái két đã được sửa lại chính giữa lớp dầm thép, xoay mặt có khóa lên trên và mặt sau hàn thêm bản lề phía dưới. Trong khi họ đóng đinh cái thùng gỗ bên dưới lưới thép và đổ bê tông vào, nhìn cái két cứ như đang lơ lửng, hơn ba trăm sáu mươi cân lủng lẳng trong không khí.

“Em muốn nghe anh nhắc lại lần nữa.”

Leo gập bản vẽ, nằm xuống sát bên thành theo chiều dài hố, cầm cái bảng từ tay Felix khi đó đang nằm đối diện.

“Cái gì?”

Thứ chất sền sệt, xám xịt, lổn nhổn đã phủ kín những thanh dầm sắt và họ san đều nó ra, xoa những tấm bảng gỗ từ bên nọ sang bên kia.

“Nghe anh hứa.”

“Gì thế, Felix?”

Quả tim Felix đập thình thình như tiếng đập vào cánh cửa lẽ ra phải khóa kín - đó là lỗi của nó, nó đã mở cửa cho bố xông vào bếp và suýt nữa đánh đập mẹ nó đến chết.

“Anh đã hứa không bao giờ gặp lại lão già ấy nữa.”

“Mày dai như đỉa ấy - lão đã gây ra chuyện đó, chịu hình phạt thích đáng, thế nên đừng có mà nhắc đi nhắc lại nữa!”

“Gì thế này, anh còn bào chữa cho lão à? Nhắc lại lời hứa của anh đi, mẹ kiếp!”

Mặt bê tông giờ hoàn toàn láng mịn. Còn phải thực hiện ba bước nữa - quai cầm để có thể mở bằng cách kéo thẳng lên trên, dầu thủy lực trong máy nén sao cho mặt sau cái két mở xuống dễ dàng, cái thùng gỗ lắp rời mà Leo đang đổ chỗ bê tông cuối cùng vào rồi đây sẽ trở thành nắp hầm.

“Được rồi. Tao hứa. Thêm lần nữa.”

Họ đã đặt hẳn cái két xuống mặt sàn - tốn bao nhiêu công sức, cuối cùng căn phòng bí mật cũng đã hoàn thành. Anh đứng thẳng dậy, bước ra ngoài. Ra khỏi căn phòng, ra khỏi ngôi nhà.

“Leo, anh biết tại sao em cảm thấy thế, phải không?”

Felix theo anh ra ngoài, đứng bên cạnh, rồi bước ra trước mặt anh.

“Leo, mẹ kiếp!”

“Chúng ta có một ông bố ăn hại. Thì sao?”

Một vòi nước nằm trên mặt đất bên cạnh máy trộn xi măng. Leo chĩa miệng vòi vào máy, phun nước cho đầy một nửa rồi bật lên cho nó quay tròn, y như một cái máy giặt.

“Vậy anh thực sự không hiểu?”

“Felix? Chúng ta giờ là người lớn cả rồi. Bỏ qua chuyện đó thôi.”

“Chẳng lẽ anh không hiểu rằng... chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra nếu em không mở cửa?”

“Cửa rả quái gì?”

“Em đã mở cửa. Hồi ấy. Khi lão già khốn nạn định tới giết mẹ chúng ta. Em đã mở cửa. Em đã để cho lão vào.”

“Mày không phải người mở cửa.”

“Em đã mở và...”

“Tao đã mở cửa.”

“Leo, em không đùa đâu.”

“Và tao cũng đâu có đùa. Việc quái gì mày phải mở cửa cho... lão?”

“Có lẽ em không biết đó là... lão.”

“Mày chắc chắn không mở cửa. Felix à, mày lúc nào cũng rúm cả người lo sợ chuyện đó. Mày nhớ nhầm rồi. Tao đây mới là người mở cửa.”

“Anh?”

“Mày nhớ nhầm rồi. Đừng có mà nghĩ ngợi mãi chuyện đó nữa. Bởi vì nó là do tao làm.”

“Anh nhảy lên lưng lão như con khỉ ấy. Anh xông vào giữa hai người. Còn em... em đã mở cửa cho lão vào!”

Cái máy trộn xi măng quay tròn phát ra những tiếng động đều đều buồn tẻ - tiếng nước sóng sánh cuốn theo xi măng bám bên trong.

“Khi đó em đã quyết tâm, Leo ạ! Không bao giờ nữa! Anh nghe rõ chưa? Bất cứ thứ gì lão già ấy chạm vào cũng đáng tống xuống địa ngục! Mẹ kiếp, bao giờ anh mới chịu hiểu?”

Cái máy trộn xi măng giờ đã sạch. Anh tắt máy rồi đổ nước giờ đã chuyển hẳn thành màu nâu ra ngoài, sau đó tráng lại một lần cuối cùng.

“Nếu ta để lão trở lại, Leo ạ... anh cũng như em hiểu quá rõ lão sẽ làm tiêu tan mọi thứ này, tất cả những gì chúng ta gây dựng được.”

Cái cầu thang bao giờ cũng kêu cọt kẹt mỗi lần ông đi lên, nhưng khi đi xuống thì chẳng hiểu sao nó lại không kêu. Mười sáu bậc thang bằng gỗ thông chật chội. Căn bếp của Steve nằm ngay bên trên căn bếp nhà ông. Chỗ đó sạch sẽ hơn, có nhiều ghế đặt quanh bàn hơn, trên bậu cửa sổ lại còn đặt mấy chậu hoa. Vài tờ báo cũ phát hành cách đây mấy hôm nằm trên cái ghế đẩu cạnh lò nướng. Ivan cầm theo chúng, nhưng cũng mở tủ bên dưới bồn rửa, nơi lúc nào cũng đặt một chồng báo chờ đem đi tái chế.

Tên khốn kiếp đó lù lù xuất hiện trước cửa nhà ông. Bận quần bò và áo da màu đen. Gã cớm ngu ngốc lảm nhảm về mấy thằng trộm cắp vặt lẻn vào nhà người ta chẳng khác gì lũ chuột cống.

Ông lại bước xuống nhà, gạt đống vé số và chai rượu qua một bên trong khi giở tập báo thập cẩm cả báo quốc gia lẫn báo địa phương từ hai tuần qua. Chẳng thấy nhắc đến vụ trộm cắp nào ở khu vực này cả.

Lẽ ra ông đã tống một cú vào quai hàm gã cớm nhãi nhép đó nếu trước đây ông đã không tự hứa với mình rằng sẽ không bao giờ làm như thế nữa. Ông đã phát hiện ra một thứ khác. Có nhiều cách để khủng bố người khác mà sau đó không phải ngồi tù. Chỉ cần ông lên giọng và nhìn thẳng vào mắt họ - tất cả mọi người trên cái đất nước khốn nạn này đều sợ cụp vòi ngay. Chẳng khác nào đấm một cú giữa mặt họ trong khi thực ra vẫn đứng yên. Người ta lẩn tránh, mắt không dám nhìn thẳng, rồi đầu hàng.

Không một cú đấm trong suốt mười năm.

Ấy thế mà ông vẫn bị gã cớm khốn nạn kia đối xử như vậy đấy, buộc tội ông cứ như thể từng ấy năm chưa từng trôi qua, như thể một người đàn ông không bao giờ có thể thay đổi được.

Ông bận áo khoác xám và đi giày lười. Sau cơn mưa bụi, ngọn đồi dốc xuống quảng trường Ösmo trở nên lầy lội và trơn tuột, đế giày mòn vẹt của ông chẳng có tí ma sát nào. Ông bước qua các hiệu tạp hóa, ngân hàng, quán ăn. Cái chuông treo trên cửa hiệu thuốc lá của Jonsson kêu mấy tiếng inh tai. Thế quái nào mà lão ấy chịu được tiếng chuông inh ỏi đó mỗi khi ai đó muốn hút thuốc?

Ivan nhìn quanh, giá để thuốc lá đặt cạnh giá kẹo, rồi đến quầy báo. Sau quầy không có ai. Trong căn phòng phía sau vang lên tiếng xối nước, đó là toilet nhỏ mùa hè năm ngoái bị rò nước mà ông đã giúp sửa, đổi lấy bao nhiêu là thuốc lá. “Ivan.”

Bức rèm bị gạt sang một bên, Jonsson vuốt mái tóc lưa thưa như thể dùng nó thay cho khăn lau tay.

“Báo buổi tối. Cả hai tờ.”

“Hôm nay không có mục cá cược đâu, Ivan. Ông cũng biết là chỉ thứ Ba mới có mà.”

“Báo buổi tối.”

Ông lấy chiếc phong bì gập nhàu nát trong túi áo ngực duy nhất của chiếc sơ mi. Sau đó ông giở tập 500 krona rồi đặt một tờ lên mặt quầy.

“Tôi không còn tờ nào nhỏ hơn cả.”

Người chủ hiệu lau cặp kính mà họa hoằn lắm ông mới đeo, sau đó cầm tờ tiền soi lên bóng đèn trên trần.

“Thế này thì tôi đến chết mất.”

“Giờ nhiều việc mà.”

“Ông kiếm được từng đó từ việc đi sơn tường và làm đồ gỗ? Thế thì đúng là tôi chọn nhầm nghề mất rồi. Ông có cả phong bì dày cộp, trong khi tôi phải khó khăn lắm mới có đủ tiền trả lại cho tờ này. Ai mà trả lương cao thế?”

“Thỉnh thoảng tôi cũng băn khoăn chuyện đó đấy. Nhưng rồi cũng tìm hiểu được thôi.”

Jonsson để tiền thừa trả lại lên mặt quầy, những tờ 100, 50 và 20 krona. Ivan đếm tiền rồi ra chỗ gần quầy xổ số giở qua mấy tờ báo.

“Chẳng có một từ khốn khiếp nào hết.”

“Về chuyện gì?”

“Ăn cắp.”

“Ăn cắp?”

“Trong khu này. Mấy vụ. Vào nhà.”

“Tôi chẳng nghe tin nào như thế. Trong khi ai cũng đến đây tán gẫu. Nếu có thật thì tôi đã biết.”

Ivan cuộn hai tờ báo rồi bỏ mỗi tờ vào một bên túi áo khoác.

Ông đang ngồi cạnh cửa sổ thì tay cớm kia đến với một cuộc nói chuyện có vẻ giả dối. Thằng khốn đó đâu có lượn qua mấy nhà hàng xóm trước khi bấm chuông nhà ông, lại còn đi một mình. Nếu thật là hắn đi dò hỏi tất cả mọi người khu này, hẳn là hắn phải để xe chỗ quảng trường rồi đi bộ tới từng nhà chứ không đỗ xe ngay ngoài cửa nhà ông như thế. Vả lại, nếu thế phải có ít nhất hai tên cớm mới dám tới nói chuyện với một người đã từng có tiền án hành hung cảnh sát. Bọn chúng lúc nào cũng đi theo cặp, y như loài linh cẩu. Vậy thằng khốn nạn kia đến buộc tội ông là vì lý do khác.

“Ông xem xong chưa?”

“Chẳng có gì mà đọc.”

“Thế thì cứ để lại. Không phải trả tiền đâu. Thay vào đó cứ lấy một bao thuốc lá cuốn cũng được.”

Ông giở hai tờ báo ra, cố vuốt cho thật thẳng rồi lấy bao thuốc lá ở ngăn dưới.

“Hôm trước con trai ông đã đến đây.”

Ivan khi đó đã sắp sửa bước ra ngoài.

“Giờ nó to lớn thật, vai rộng. Nó trông giống ông lắm, Ivan ạ, ngoại trừ mái tóc vàng.”

Tiếng chuông lại vang lên inh ỏi khi cửa ra vào từ từ khép lại.

“Nhưng cũng lâu rồi nhỉ. Giờ hai bố con lại làm việc với nhau à?”

Người đàn ông đứng sau quầy kia, người dùng bộ tóc thay cho giẻ lau tay, muốn nhận được một câu trả lời. Còn lâu mới có chuyện đó. Vì thằng con cả của ông giờ đã mở công ty riêng cùng với mấy đứa em nó.

Ivan không mỉm cười, nhưng cũng gần như thế.

Ít nhất ông cũng đã dạy được mấy đứa con mình điều này: luôn luôn đoàn kết khi chống lại bất kỳ ai, kể cả chính ông.

Chiếc container đã nằm bên kia đường cao tốc được hơn một tháng. Giờ nó đang rời khỏi Nhà Xanh, chầm chậm lăn lại gần. Hai cái ngạnh bằng thép to tướng như ngà voi phía trước cái máy kéo - đi qua con phố hẹp trước mặt căn nhà bên cạnh, qua hàng rào cao rồi ngang qua sân - hai cái ngà bằng thép hạ gần hai tấn xuống bên ngoài cửa sổ.

Họ đã chờ bê tông khô lại và cái két được cố định hẳn xuống sàn. Họ cũng đã lắp đặt hai sợi dây cáp điện - một nối với máy thủy lực và một nối với một ổ cắm thông thường gắn trên tường. Sau đó họ đặt mấy cái giá thành hai hàng dọc theo tường.

Một chiếc container màu đen trong tiết trời tối tăm của mùa thu. Họ có thể hành động - chuyển những gì nằm trong container vào nhà, xuống Hang Đầu Lâu - mà không bị ai nhìn thấy.

Jasper cầm hai khẩu súng một lúc rồi đưa báng súng vào trước qua cửa sổ. Felix đứng bên trong nhận lấy, rồi chuyển qua cho Vincent khi đó cúi mình bên cái két gắn dưới sàn và nhét chúng vào bên trong. Hết khẩu AK4 này tới khẩu AK4 khác, như thể cái tủ kim loại này đang nuốt chửng đống súng máy một cách tham lam vô độ.

Leo chắc giờ đã mỏi nhừ cả hai cánh tay, đôi vai. Nhưng khi trèo lên thang và chui ra khỏi cái két, ra khỏi dạ dày con quái vật háu đói dưới lòng đất, anh cười lớn, cái cười thật nhẹ nhõm. Dưới đó cũng như trên này thật là tuyệt. Mặt sàn quanh cái két đã được phủ lớp vinyl kẻ sọc, tường được sơn một màu xám nhạt ấm áp, phào dọc theo trần và sàn nhà ánh lên một lớp sơn dầu rồi sẽ khô vào sáng mai.

Anh đi tiếp lên tầng hai.

Anneli nằm sấp vắt ngang qua chiếc giường đôi, đang ngủ trong khi vẫn mặc nguyên quần áo. Gần đây cô ngủ rất nhiều; mỗi người lại đối phó với sự lo lắng theo những cách khác hẳn nhau.

Anh dùng mu bàn tay vuốt nhẹ lên má cô, cho tới khi cô thức giấc.

“Mấy... giờ rồi?”

Mắt cô nheo lại tránh ánh sáng.

“Sáu giờ ba mươi.”

“Sớm thế? Em ngủ tiếp đây.”

“Tối.”

Anh cầm tay cô rồi kéo nhẹ.

“Coi nào.”

Cô nhìn anh, nhưng không chịu nhúc nhích.

“Đi thôi. Đến gặp Siêu nhân Bóng Ma nào.”

Anneli đứng dậy, tay buông thõng, hai cẳng chân vật vờ bước theo anh mà chẳng hiểu gì hết, xuống cầu thang tới căn phòng đối diện bếp nơi cả nhóm đã tiêu tốn bao nhiêu thời gian.

“Có người đang trốn chạy.”

“Trốn chạy? Ai?”

“Chẳng ai hết. Nhưng cứ tưởng tượng vậy đi, Anneli. Ai đó đang trốn chạy rồi ẩn náu ở đây, trong ngôi nhà này, bọn cớm thì tới sục sạo khắp nơi.”

Một căn phòng bình thường. Sàn, tường, trần nhà. Tất cả đều đang có mặt ở đó, Leo, Felix, Vincent và Jasper. Họ nhìn cô, tỏ vẻ hài lòng ra mặt.

“Em chẳng hiểu gì cả. Anh nói gì thế?”

Những tấm vinyl màu trắng và đen hình vuông - lớp trên cùng của mặt sàn dưới tấm thảm dày mà họ đang đứng - mỗi bề bốn mươi phân. Leo buông tay cô rồi ngồi xổm xuống. Anh liếc nhìn cô, vẫn đầy vẻ hài lòng, lật tấm thảm lên rồi chỉ vào bốn tấm vuông bằng nhựa, hai tấm màu trắng cùng hai tấm màu đen, sau đó để lộ ra hai quai cầm bằng kim loại.

“Bọn cớm tới đây lùng sục. Và vì một lý do quái quỷ nào đó, chúng tìm ra hai viên gạch lát sàn bị long ra. Rồi cả mấy thứ này nữa, hai quai cầm bằng sắt để có thể cầm và nhấc cái nắp lên.”

Anh cầm hai khoen tròn, nhấc lên, cả một khối xi măng cũng bị nhấc lên theo.

“Chúng khám phá ra cái đó, chỗ miếng xi măng rời này. Rồi sau đó nhìn thấy thứ này. Một cái két sắt. Trát cố định xuống sàn. Ui cha, bọn cớm mới vui làm sao. Giờ thì chúng tóm cổ được ta rồi!”

Anh nhẹ nhàng cầm cái ổ khóa bằng mã số.

“Thế rồi nhờ một phép mầu nào đó, chúng dò ra được mã số. Cứ thử tưởng tượng nhé, rằng chúng đã dò ra mã số rồi.”

Anh vặn tay nắm mở cánh cửa thép ra. Bên trong cái két. Đúng như những gì người ta có thể đoán trước. Một túi nylon nhỏ đựng đầy những tờ năm trăm krona. Một chiếc máy ảnh. Mấy viên đạn rời. Một tập giấy nhìn như thể giấy chứng nhận và các loại hợp đồng. Leo cầm lấy chúng rồi đặt xuống sàn cạnh cửa két.

“Sau bao nhiêu may mắn chúng mới tìm được một cái két được chôn xuống sàn nhà, miệng ngửa lên trên. Chúng đứng ở chính cái nơi mà chúng ta đang đứng bây giờ, run lên vì bồn chồn và hy vọng, để rồi, bằng cách nào đó chúng mở được cái két ra. Chúng sẽ thấy - thứ này. Chẳng có gì hết. Đi vào ngõ cụt. Vậy là chúng sẽ tiếp tục chuyển sang các phòng khác, trong bụng mừng thầm vì tìm được mấy thứ bí mật gồm một ít tiền, vài tài liệu có vẻ quan trọng cùng mấy viên đạn súng trường để sau đó đem về xét nghiệm một cách vô ích.”

Cái két có viền nhung đen, không có đường may, dán thật kín. Leo bước tới cửa sổ duy nhất trong phòng, có gắn hộp điện bên trên. Anh tháo ốc, nhấc cái nắp ra. Hai sợi dây điện. Một đỏ và một xanh. Trong hộp chỉ có thế, hai đầu dây chỏng chơ. Anh nhìn cô và lại mỉm cười như lúc nãy, chạm hai đầu dây vào nhau thành mạch kín.

“Ra chỗ cái két và nhìn xuống dưới mà xem.”

Có tiếng ù ù. Rồi... đáy két từ từ biến mất trong khi tất cả mọi người chăm chú nhìn xuống... bên dưới.

“Bọn cớm bỏ đi. Và vậy là chúng bỏ qua hết thảy. Tất cả đều nằm bên dưới cái két.”

Một nụ hôn phớt qua trên má cô khi anh đi tới cái lỗ và cúi xuống, đặt chân lên cái thang nhôm, trèo xuống dưới bật đèn. Một căn phòng đột ngột hiện ra nơi trước đó chẳng có căn phòng nào. Giá gỗ xếp thành hai hàng dọc tường. Lúc chuyển súng vào đây, Leo là người đứng cuối hàng và anh đã xếp chúng dựng lên, súng máy đặt ở ngăn trên, còn súng AK4 thì ở ngăn dưới.

“Siêu nhân Bóng Ma và Hang Đầu Lâu.”

Năm khẩu súng máy nằm trên sàn, bên cạnh cái thang.

“Em có thấy không? Đây là cái két của Siêu nhân Bóng Ma, nơi anh ta để lại lời nhắn cho đội Gác Rừng.”

Bàn chân trần của cô đặt trên những bậc thang hẹp. Cô loạng choạng, nhưng rồi lấy lại được thăng bằng và bước xuống sàn nhà lạnh toát.

“Em biết đấy, cái két trong văn phòng cảnh sát ấy mà. Bóng Ma có một đường hầm bí mật dẫn tới đó, anh ta mở đáy két rồi đặt vào đó thông điệp cho đại bản doanh đội Gác Rừng. Mỗi lần Bóng Ma hay tay tù trưởng đến đó là đã có sẵn một lời nhắn, đó là cách họ liên lạc với nhau.”

Căn phòng chứa đầy súng máy xếp thành hàng trên giá gỗ - cũng lớn gần bằng kho vũ khí trước kia. Anneli nhìn cái thang mà cô vừa dùng để trèo xuống, nhìn hai xi lanh kim loại đỡ đáy cái két và hạ cánh cửa bí mật xuống.

“Sờ thử chỗ này đi.”

Leo cầm tay cô, đặt lên mặt tường xi măng.

“Khô ráo, phải không nào? Không ẩm ướt, không có tí nước nào.”

Anh quỳ xuống mở một cái nắp trên sàn để lộ ra một ống nước lớn bằng xi măng và một máy bơm đặt trong hầm.

“Căn nhà này được xây dựng trên một đáy hồ. Vì thế ta không thể xây tầng hầm được. Nhưng với cái này, chúng ta có thể kiểm soát mực nước. Khi nước dâng lên đến đây, mức tối đa, máy bơm sẽ bắt đầu chạy.”

Leo và Anneli đúng bên nhau, ôm lấy nhau giữa căn phòng bí mật có sàn nhà lạnh toát và lỗ hổng trên trần, cùng 221 khẩu súng máy xếp thành hai dãy. Một Hang Đầu Lâu mà không bao giờ có ai khám phá ra nổi. Đó là tất cả những gì họ cần cho vụ cướp kế tiếp, vụ sau đó, rồi không biết bao nhiêu vụ sau này nữa.

KHI CỐ NHÌN QUA CÁI MẶT NẠ trượt tuyết màu đen, anh thấy chẳng khác nào ai đó đang nhìn qua ống nhòm trong phim thời xưa - đường viền màu đen bao quanh những hình ảnh thực cô đọng hơn, tươi sáng hơn.

“Sáu mươi giây.”

Thứ đầu tiên anh nhìn thấy là hai ống tay của bộ áo liền quần màu xanh. Chúng rất rõ ràng, ngay cả khi hai cái lỗ khoét chỗ mắt anh không đều nhau cho lắm. Hai tay áo xanh cầm một khẩu súng máy dài, nặng, màu xám.

“Năm mươi giây.”

Khi anh ngẩng lên, tình hình vẫn không thay đổi. Đường viền đen vẫn còn đó, nhưng hình ảnh thực tế thì như to lớn hẳn lên. Anh có thể thấy mình đang ngồi xổm trên sàn một chiếc xe thật lớn, chiếc xe van cũ hiệu Dodge mà họ đã mua lại, các bộ phận bị tháo rời ra và giờ còn chẳng có ghế ngồi. Anh cũng có thể thấy sự im lặng, vốn khi ngồi trong một chiếc xe van như thế này đã có dáng vẻ thật khác biệt. Nó không thể hiện ở vẻ ngoài - tất cả đều mang súng máy, đương nhiên rồi, đeo ba lô rỗng, ăn vận giống hệt nhau với áo liền quần, chân đi bốt, mặt nạ trùm kín mặt.

Nhưng bên trong thì khác.

“Bốn mươi giây.”

Hai Xanh ngồi sau lưng anh, người sẽ chở cả bọn tới đó - nó hoàn toàn bình thản và biết mình phải làm gì bất kể có rơi vào hoàn cảnh nào.

“Ba mươi giây.”

Ba Xanh ngồi đối diện với anh, sẽ bắn hạ camera theo dõi phía sau - nó đã mất ngủ mấy ngày nay vì bồn chồn và sốt ruột.

“Hai mươi giây.”

Bốn Xanh ngồi cạnh anh, sẽ nhảy lên quầy thọc tay qua cửa kính lấy chìa khóa - nó đang run lên mặc dù cố che giấu điều đó, không dám chắc liệu mình có bước đi đúng như một người đàn ông trưởng thành hay không.

“Mười giây.”

Anh nhìn mắt chúng qua những lỗ tròn khoét trên mặt vải, tay cũng ôm súng hệt như anh. Vậy nếu ai đó phải chết trong ngân hàng kia. Nếu ai đó buộc chúng phải nổ súng - khi đó chỉ còn là những hành động nối tiếp nhau, chuyển động, máy móc, một cái bóp cò giải phóng năng lượng thành dạng hơi bắn 850 viên đạn một phút qua nòng súng.

“Năm giây.”

Khi ai đó làm thế, họ đã tự lựa chọn.

“Bốn, ba, hai, một... Xuất phát.”

Cửa bên hông mở ra. Chạy tám bước tới ngân hàng. Lao vào sảnh. Chênh chếch bên trên là chiếc camera soi mặt trước, anh xoay người bắn nó. Không có tiếng nổ. Thế nên anh hét pằng! pằng! pằng! liên hồi. Ba Xanh bước tới giương súng của nó lên, dồn trọng lượng sau báng súng khi cúi ra trước nhắm vào chiếc camera thứ hai. Cả tiếng súng của nó cũng không nghe thấy được, và giọng nó hét lên điên cuồng PẰNG! PẰNG! PẰNG! Còn Bốn Xanh, khi ấy đứng ngay sau nó, bước qua hai phụ nữ nằm trên sàn và chạy thẳng tới quầy, đứng như kế hoạch.

“Tay thu ngân khóa cửa rồi.”

Bốn Xanh đột ngột dừng lại. Một Xanh tiếp tục hét vào tai nghe.

“Bốn Xanh, hành động đi! Phản ứng đi! Ô cửa bị khóa rồi!”

Bốn Xanh nhìn ô cửa quầy thu ngân, do dự.

“Nếu cửa khóa thì nã súng phá tung ra đi!”

Bốn Xanh mướt mồ hôi đầm đìa, chĩa súng vào cửa kính đã dập xuống và người thu ngân ngồi phía sau quầy. Nó kêu pằng, pằng, pằng nhỏ hơn những tên còn lại, và cũng chẳng có hồn tí nào.

“Được rồi. Chúng ta nghỉ giải lao vài phút.”

Leo cuốn cái mặt nạ màu đen lên trán. Họ đã chạy ra chạy vào tòa ngân hàng giả tưởng đặt trong garage suốt bốn tiếng, mỗi lần tập lại phạm ít sai lầm hơn. Anh đặt khẩu súng máy và đôi găng tay da lên bàn, tháo micro khỏi cổ áo rồi nhét nó vào túi.

“Vincent - tao đã bảo mày phải làm gì nếu chúng đóng cửa kính?”

Bốn Xanh lột mặt nạ ra.

“Bắn tung nó ra.”

“Và rồi?”

“Nhảy vào trong.”

“Ta không bao giờ được ngừng di chuyển, hiểu chưa? Như thế là lãng phí thời gian. Và tất cả những cái này sẽ trôi xuống địa ngục hết. Chúng ta phải là người kiểm soát được thời gian - chứ không phải bọn chúng.”

Căn garage lớn đi kèm với căn nhà của Leo, và đó cũng là nơi công ty xây dựng của anh tập luyện. Những hình chữ nhật khổng lồ được đánh dấu bằng băng dính trên mặt sàn bẩn thỉu, một bản sao đúng kích cỡ thật của chi nhánh ngân hàng Handels tại Svedmyra - mấy băng dính đánh dấu bức tường phía ngoài, tấm gỗ thay cho cửa ra vào. Quầy thu ngân làm bằng đinh tán và gỗ dán. Năm hình nộm lúc thì đứng, lúc thì nằm bên này quầy thu ngân - khách hàng - còn ba hình nộm nữa thì ngồi trên ghế phía bên kia - nhân viên thu ngân.

Đồ chơi cao bồi và người da đỏ trên sàn phòng ngủ của một cậu bé. Hay những hình nộm giả vụ cướp ngân hàng nằm trên sàn garage.

Khi ngày ấy đã trở thành hiện tại, khi trò chơi trở thành chuyện nghiêm túc.

“Vincent?”

Felix rời ghế lái của chiếc ô tô đỗ bên ngoài cái ngân hàng xây bằng băng dính và gỗ vụn.

“Chuyện gì thế?”

“Tao đã bảo mày rồi!”

Jasper vẫn đeo mặt nạ, trả lời cái câu mà chẳng ai hỏi mình.

“Nó không làm nổi! Lẽ ra nó phải bắn vỡ cửa kính cường lực đó!”

Felix chuyển một khách hàng đang nằm sang cạnh chỗ mấy tấm gỗ dán không sơn phủ gì đặt giả làm quầy thu ngân. “Ô cửa đó có thể còn mở mà, đúng không?”

“Leo đã nói tay thu ngân đã kịp đóng cửa mà!”

Jasper gào lên, nhưng Felix chỉ mỉm cười. Nó không ưa la hét nên chỉ gõ lên một tấm gỗ có viết bảy chữ cái và một số ba to tướng màu xanh da trời - Thu ngân 3.

“Nhưng cái gì kia? Rõ ràng - cửa kính vẫn mở, anh không thấy à?”

“Đây chỉ là một buổi tập chó chết thôi!”

“Còn anh chỉ là một thằng lính khốn kiếp nhìn thấy những thứ chẳng hề có trên đời. Đừng có gây sự với Vincent nữa.”

“Đây chẳng có gây sự quái gì hết! Nó phải có gan một tí chứ. Không được do dự! Mày chỉ do dự khi không tin tưởng vào vũ khí mình đang có trong tay thôi. Phải không, Leo?”

Jasper gần như chạy tới chỗ hai tấm Masonite treo bằng dây trên trần nhà ghi mấy dòng chữ viết tay - Camera giám sát 1 và Camera giám sát 2 - và thúc mũi súng vào chúng.

“Đây và kia là hai cái camera đã bị bắn hạ. Mày biết tại sao không?”

“Tất cả những gì tôi thấy chỉ là hai miếng Masonite mà anh đã viết nguệch ngoạc mấy chữ lên thôi.”

Jasper đập mũi súng vào hai tấm bảng khiến chúng rung lên, trong khi nó lắc đầu.

“Khi nổ súng ngoài trời, mọi người có thể sợ hãi. Một khẩu súng máy nổ cũng to lắm. Nhưng ở trong nhà thì lại khác. Tiếng nổ the thé inh tai. Như tiếng dao đập vào tường rồi dội vang cho tới khi mày thủng cả màng nhĩ, tiếng súng vang vọng trong tai khiến người ta hoảng loạn và mất phương hướng. Trong nhà, bọn chúng còn hơn cả sợ hãi. Chúng nằm mẹp ra sàn, không chỉ để tự bảo vệ mình - khả năng nhận biết phương hướng có ý nghĩa sống còn. Chúng cố tìm kiếm một thứ gì rắn chắc, như sàn nhà chẳng hạn - một khái niệm mới về không gian. Bởi vì cái mà chúng có trước đó, chúng ta đã cướp đi khi bắn rụng mấy cái camera.”

Jasper nhìn Felix khi đó vẫn im lặng, rồi nhìn Vincent cũng im lặng nốt. Leo thoáng gật đầu.

“Và rồi... đây là phần quan trọng nhất. Bọn cớm phải biết bén mảng đến chỗ bọn ta làm ăn là nguy hiểm cỡ nào. Và nếu chúng nó vẫn đến, chúng là những kẻ sẽ quyết định những sự việc tiếp theo.”

Leo quay lại phía hai đứa em, nhìn Felix, rồi Vincent.

“Jasper nói đúng. Nếu chúng chĩa súng vào ta, ta cũng sẽ giương súng chống lại. Nếu chúng muốn nổ súng triệt hạ, ta sẽ giết chúng. Nếu đó là chuyện mạng sống của chúng hay... bọn mày hiểu không?”

Anh nhìn ánh mắt chúng và hiểu hai đứa hoàn toàn tin tưởng anh. Giờ anh phải quyết định có thể đặt lòng tin ở chúng hay không. Leo với lên tấm Masonite treo thay cho camera, chúng lẽ ra phải được treo thấp hơn - anh tháo dây và hạ xuống một chút. Rồi anh đứng đó, hơi xa mấy người kia một chút. Như thế thì dễ nhìn được toàn cảnh hơn. Khi phải cân nhắc ai đó có đủ khả năng hay không. Anh liếc nhìn Felix khi đó đang tựa vào chiếc xe van kiểm tra đôi tai nghe, nhìn Vincent đang quỳ xuống chỉnh lại tay của người nộm, nhìn Jasper ngồi trên ghế thu ngân mở đóng liên tục chốt an toàn của khẩu súng vẫn còn nạp đạn.

“Tất cả. Lên xe.”

Một đứa nhóc mười bảy tuổi thậm chí chưa từng đi nghĩa vụ quân sự, một đứa hai mốt tuổi đã đăng ký nhưng rồi được miễn, một đứa hai hai tuổi lúc nào cũng làm bộ như lính thủy đánh bộ chuyên nghiệp. Nhiệm vụ của anh là làm sao để chúng hành động như một nhóm thống nhất.

“Một lần nữa. Coi nào! Tao sẽ đếm, ba phút, tính từ... bây giờ.”

Leo mở cánh cửa trượt và nhảy ra khỏi xe, đi tám bước thật nhanh về phía tấm bảng gỗ và mấy cái băng dính. Bốn mươi sáu tiếng nữa, họ sẽ thực sự ra tay.

HỌ ĐANG NGỒI trên đúng chiếc xe lần trước. Tuy thế, nó đang hướng về phía Bắc theo đường cao tốc E4, trong ánh sáng bình minh. Chiếc xe giờ đã được ráp lại thành một chiếc Dodge bình thường, ghế ngồi được gắn lên sàn xe. Cái đó cũng là một phần quan trọng của kế hoạch chẳng kém gì việc tập luyện của họ.

Cả nhóm tiếp tục diễn tập cuộc tấn công ngân hàng giả tưởng, chạy từ xe ô tô tới quầy thu ngân, tới chỗ két để tiền rồi tẩu thoát ra ngoài. Hai mươi tám lần Một Xanh mở cánh cửa bên hông xe, hai mươi tám lần cả nhóm người đeo mặt nạ đen ùa vào ngân hàng, vào vị trí, lặp lại quy trình, tập dượt từng chi tiết cho thật hoàn hảo. Sẽ không ai ngồi trên chiếc xe này cần phải dừng lại suy nghĩ một giây nào trong khi hành động. Trong tâm trí họ, một lối mòn đã được hình thành, để rồi được biến thành hành động tại một nơi mà thậm chí chưa ai từng đặt chân vào. Leo từng thong dong bước trên quảng trường, ăn uống trong quán pizza cạnh đó vài lần. Nhưng chính anh cũng chưa bao giờ bước qua cánh cửa ngân hàng đó. Hiển nhiên không ai trong nhóm được phép làm như thế. Chiều cao, cân nặng, dáng đi của họ sẽ bị ghi lại bởi camera an ninh để rồi sau đó được so sánh với chiều cao, cân nặng, dáng đi của bốn tên cướp mặc áo liền quần xanh và đeo mặt nạ đen sau này.

Con đường nhựa thu hẹp lại, biến thành đường đất. Chẳng còn bao xa nữa.

Anneli là người duy nhất đã lọt vào phía sau lớp cửa kính bên ngoài ngân hàng, đứng trước những chiếc camera và nhân viên thu ngân, bao quanh bởi đám khách tới giao dịch. Trong mỗi buổi viếng thăm ngắn ngủi đó, cô đều vẽ lại một phần sơ đồ ngân hàng lên mặt sau một tờ giấy gửi tiền, sau đó anh ghép chúng lại trên mặt bàn bếp, biến chúng thành một bản vẽ mặt bằng hoàn chỉnh.

“Alô?”

Chiếc điện thoại di động nằm trong túi áo ngoài của chiếc áo khoác. Anh nhấc máy chỉ sau một hồi chuông.

“Leo... cái phong bì.”

Chính là giọng nói đó.

“Giờ tôi không có thời gian cho chuyện này.”

“Món nợ chó chết của mày, Leo. Món tiền trong phong bì. Mày đã nói mày không còn nợ nần gì tao nữa, đúng không?”

“Tôi thực sự không có thời gian. Tôi không thể nói chuyện này bây giờ được.”

“Mày vác mặt đến đây sau bao nhiêu năm cầm theo chừng ấy tiền, cho là từ giờ mày chẳng còn nợ nần gì tao nữa... thế có nghĩa là mày vẫn còn rất nhiều tiền đâu đó. Làm gì có chuyện mày dốc túi đến đồng xu cuối cùng cho tao. Vậy thì món tiền đó ở chỗ quái nào mà ra?”

Cái nút nằm phía bên phải, anh chỉ cần ấn một cái là giọng nói kia sẽ biến mất ngay.

Và anh ấn nút thật.

“Ai thế?”

Felix nhìn anh, chờ đợi câu trả lời.

“Chẳng có gì quan trọng đâu.”

“Nghe có vẻ quan trọng đấy chứ.”

“Tập trung nhìn đường đi.”

Felix ngồi trên ghế lái như thường lệ; giờ nó đã quá rành cái xe này, nó tăng tốc thế nào, khoảng cách từ lúc nhấn phanh cho tới khi dừng hẳn là bao xa. Cái bánh lái giờ đã trở thành một phần nối dài của cánh tay nó. Một chiếc xe van Dodge. Chính là loại xe mà họ sẽ sử dụng trước và sau vụ cướp ngân hàng kéo dài đúng ba phút này, và họ cũng sẽ đổi sang một chiếc loại này khi trốn khỏi hiện trường. Ngoài tập lái, Felix còn tìm hiểu thật kỹ cấu tạo xe. Nó phải đánh cắp hai xe đêm trước, vậy nên nó đã dành hàng giờ luồn miếng kim loại phẳng vào khe hở giữa cửa kính và khuôn cửa cao su, lắc lắc, vặn vặn móc vào chốt khóa, cho tới khi yên trí rằng mình có thể mờ cửa bất kỳ chiếc Dodge nào trong vòng chưa tới hai mươi giây - cùng lúc đó nó đã tháo ra lắp lại ổ khóa không biết bao nhiêu lần để tập cách phá và khởi động xe sao cho dễ dàng nhất.

Trường bắn cũ nằm cuối con đường rải sỏi. Họ đỗ xe lại, nghe tiếng súng vọng lại từ đằng xa.

“Có người ở đây.”

Vincent chăm chú xem xét những bục bê tông nằm cách 45, 180, 275, 620 mét với bức tường cát để chặn và giữ lại vỏ đạn.

“Anh nghe thấy không?”

Mang theo túi đạn, bốn tấm thảm dùng khi cắm trại và súng máy, họ bắt đầu bước trên con đường rải sỏi, rồi sau đó là con đường đất. Hai người đang nằm trên bục xi măng cách mục tiêu và bờ cát 275 mét.

Leo ngừng lại, nghe ngóng.

“Súng MP5. Chắc chắn là bọn cảnh sát đặc nhiệm.”

“Leo, đi thôi, chúng...”

Vincent kéo tay anh cả.

“... đang truy lùng bọn ta, mẹ kiếp!”

Họ đang đi khắp nơi với đống vũ khí ăn cắp từ kho vũ khí quân dụng - những vũ khí có thể dùng để lần dò ra một vụ cướp khác.

“Ta phải đi khỏi đây.”

“Không. Mày phải tập.”

“Leo, mẹ kiếp, chúng ta...”

“Nghe này. Bọn cớm đang truy lùng hai tên Ả Rập.”

Vincent đi chậm lại, tụt xuống gần cuối đoàn. Nó đã từng thấy Leo như thế này rồi. Những lúc như vậy nó không thể nói chuyện với anh, khi anh cảm thấy muốn thách thức, chiến thắng mặc dù chuyện đó chẳng cần thiết mà chỉ để tỏ rõ khả năng của mình. Đúng lúc đó, hai người mặc quân phục sâm màu đứng dậy, thu dọn súng ống và bước đi.

Về phía họ.

Bước tới từ đầu kia con đường hẹp, nhìn họ to lớn hơn hẳn. Vai rộng, cổ lớn, đúng như những người đàn ông trưởng thành, thậm chí Leo cũng chẳng có dáng đi như thế.

“Đến đây tập bắn à, các cậu?”

Lớp sỏi lạo xạo dưới chân khi họ tiến tới xem xét mấy khẩu súng.

“Đoán thử xem nào... Cảnh Vệ đúng không?”

Mọi chuyện diễn ra quá nhanh. Vừa mới đây họ còn đứng thành một hàng dọc, còn giờ thì không.

Jasper đột ngột nhảy lên đám cỏ, ngang qua mặt Leo, khoe những vũ khí của họ một cách đầy tự hào.

“Chính xác. Tiểu đoàn cảnh vệ Jarva.”

Hắn ôm khẩu AK4 như một bức tượng cẩm thạch, nụ cười tự mãn nở ra dưới cái mũi và cằm nhọn hoắt, để lộ ra khe hở giữa hai răng cửa. Vincent lùi thêm một bước, cúi xuống. Jasper cũng giống như Leo - dường như hắn làm vậy đơn giản để thể hiện khả năng. Hoặc là, cũng có thể hắn chẳng giống Leo tí nào. Leo muốn thi thố, giành chiến thắng. Jasper thì lại thích được ngưỡng mộ, được hòa nhập.

“MP5?”

Ngay sau đó mấy người kia chỉ xem xét khẩu súng như thể một vũ khí bình thường. Và đúng lúc họ chuẩn bị bỏ đi.

“Các anh trong đội Đặc nhiệm phải không?”

Vincent nhắm mắt. Thế vẫn chưa đủ hay sao? Khoe vũ khí ăn cắp, mạo hiểm mọi thứ. Jasper còn phải ra đó cầm lấy súng của hai người kia nữa. Hắn đứng đó, nhìn họ bằng ánh mắt ngưỡng mộ, cảm thấy vô cùng thỏa mãn. Không phải ngưỡng mộ những gì bọn cớm đang làm, mà là những gì chúng có, tình hữu hảo anh em, sự đoàn kết, tinh thần tương trợ lẫn nhau.

“Ừ. Bọn tôi thuộc đội đặc nhiệm. Chúc may mắn nhé. Hôm nay không có gió, quá tuyệt để tập bắn.”

Họ gật đầu như thường lệ khi người ta chuẩn bị rời đi. Vincent nhìn xuống đất, đến thở cũng cẩn trọng hết mức cho tới khi họ đi hẳn khỏi đó.

“Cậu kia.”

Chính là người nói nhiều nhất và đem khoe vũ khí của minh, anh ta dừng lại ngay trước mặt Vincent.

“Chẳng phải cậu quá trẻ để tập bắn hay sao?”

“Tôi...”

Vincent cố ngẩng mặt lên mà không được.

“CVTN.”

Leo trả lời thay.

“Cảnh vệ thanh niên.”

Viên cảnh sát, người không những thuộc đội Đặc nhiệm mà còn mang vẻ già dặn hơn Leo, vẫn nhìn Vincent chằm chằm.

“Khi ở tuổi cậu, tôi dành thời gian đi săn gái chứ không phải tập bắn đâu.”

Vincent cố hết sức, thật thế, nở một nụ cười gượng gạo. Vẫn không dám thở, nó phô ra cho hai viên cảnh sát kia một cái nhếch môi méo xẹo. Nó không dám thôi cho tới khi hai người kia đã thu dọn mấy thứ súng ống khốn kiếp của họ mà bỏ đi. Ngay cả khi Jasper đã trải mấy tấm thảm cắm trại trên mặt bê tông, ngay cả khi Leo đã lấy một lô bia tập bắn trong kho và đặt chúng trước bờ cát, ngay cả khi Felix đã mở hộp chia đạn cho mọi người, nó vẫn không thể cảm thấy thoải mái cho tới khi hai cảnh sát nọ đã nổ máy và phóng đi trên con đường đất khô khốc đầy bụi.

“Họ còn đếch thèm kiểm tra mã số.

Leo mỉm cười, nụ cười thật lòng chẳng có vẻ gì là gượng gạo. Anh vui vẻ, tự hào. Anh đã đối mặt với hai người kia với niềm tin mình sẽ chiến thắng, và quả là anh đã chiến thắng thật. Giờ anh nhét hai mươi viên vào băng đạn, đứng luồn quai đeo súng qua cánh tay, chuyển sang chế độ bắn tự động, ngắm vào tấm bia bằng bìa cứng rồi bóp cò. Bộ mặt trơ trơ bằng giấy bị xé toang thành từng mảnh.

“Để học sử dụng súng AK4 cho đúng cách, mày phải học cả tư thế đứng nữa.”

Anh nạp đạn, sau đó đưa khẩu súng cho Vincent - nhưng vẫn không buông tay ra.

“Nếu không dùng trọng lượng cơ thể đỡ lại lực giật ra sau, không ấn cả vai và tay trái lên khẩu súng, nó sẽ giật tung lên trời và vậy là mới phát súng thứ ba đã chệch phía trên mục tiêu đến sáu mươi phân rồi.”

Anh quỳ xuống, dồn trọng lượng lên chân trái, tay trái đỡ nòng súng, ngắm rồi bắn một loạt đạn nữa, lần này vào tim của hình người bằng bìa.

“Nạp đạn rồi đấy.”

Anh lại đưa nó cho Vincent và lần này thì buông hẳn tay ra.

“Phải chĩa súng thẳng ra trước, mở khóa an toàn.”

Thật khó để hít thở bình thường, để tay nó khỏi ướt đẫm mồ hôi. Vincent ấn sát báng súng vào người như Leo đã dạy, dồn trọng lượng lên chân trái như Leo, đặt tay lên trên nòng súng như Leo. Rồi bắn. Báng súng giật vào vai nó. Nòng súng giật tung lên như thể bị một sợi dây vô hình lôi đi. Nó mất thăng bằng, loạng choạng vài bước rồi mới đứng vững.

Hai mươi viên găm vào bờ cát. Hình người bằng bìa cứng vẫn nhơn nhơn nhìn nó.

“Phải dồn thêm trọng lượng vào chân trước, coi nào. Vincent! Tập trung!”

Jasper gần như lao vọt ra trước giống lúc gặp hai cảnh sát ở đội Đặc nhiệm, đá nhẹ vào chân trái Vincent.

“Hai chân rộng ra! Rồi ấn tay trái như Leo bảo ấy. Ấn đi, mẹ kiếp!”

“Anh im đi.”

Felix đã rời vị trí của mình cũng nhanh chẳng kém, đứng giữa Vincent và Jasper.

“Khi anh nói chuyện với em trai tôi thì không được la hét hay đá nó. Hiểu chưa?”

“Lui ra. Cả hai đứa.”

Leo chờ cho đến khi chúng thôi nhìn nhau chằm chằm.

“Chú ý nhịp thở, Vincent ạ.”

Anh nhẹ nhàng xoay mặt đứa em trai lại cho tới khi hai người nhìn thẳng vào mắt nhau.

“Hít vào, thở ra. Hít vào, thở ra. Rồi... bắn.”

Báng súng tì chặt vào vai. Tay trái khóa chặt nòng súng.

Vincent bắn lượt nữa. Và... bắn trúng! Loạt đạn đi trúng đầu, cổ, ngực hình người bằng bìa.

Thêm một băng đạn mới. Lại bắn. Cho tới khi kẻ thù đầu hàng và bị xé toang thành từng mảnh trên mặt đất. Leo vội vã chạy trở lại kho lấy thêm bia - thỉnh thoảng, cũng như trong garage hôm qua, anh đứng lui lại một chút, quan sát đứa em mà anh từng bế ra khỏi nôi, cùng xây những thành phố xanh đỏ bằng Lego, làm bánh kẹp mứt cho ăn. Mày chưa đủ tuổi bỏ phiếu. Chưa đủ tuổi mua vang đỏ ở quán rượu. Rồi anh mỉm cười đầy tự hào. Nhưng mày có thể sử dụng súng máy và ba mươi ba tiếng đồng hồ nữa, mày sẽ xông vào cướp cái ngân hàng đó.

KHI HỌ LÁI XE vào đến khoảng sân thì đã khuya. Leo mang mấy túi tạp hóa vào cho Anneli, trong khi Felix, Vincent và Jasper mang thiết bị và súng ống vào garage. Vincent đặt túi băng đạn và các thứ đạn dược còn lại xuống sàn. Nó có thể cảm thấy vai phải giật giật một cách vô thức, như thể hết cú giật này đến cú giật khác của khẩu súng đã ăn rễ vào đó, như một bầy giun bò quanh giữa những búi cơ và khớp xương mà chẳng hề hay biết mình đang trườn đi đâu.

Nó đã nổ hàng trăm phát súng, được Leo khen nhiều lần, một cách thật lòng. Trái lại, Jasper thì vẫn cứ cố bới móc tìm lỗi, chỉ ra những chi tiết phải sửa. Nhưng chẳng sao, cái chính là sự bồn chồn lo sợ của nó đã biến mất, dần dần rút đi mỗi lần nó bắn trúng chính giữa mục tiêu.

“Lau súng thôi.”

Vincent biết rõ cái đó thực chất là gì. Lúc nào cũng vậy. Đó là cách Jasper cố hòa nhập với cả nhóm, cũng giống như khi đứng trên con đường mòn mỉm cười và tán gẫu với hai đặc nhiệm - với ai hay ở đâu không quan trọng, miễn là được hòa nhập.

“Felix, Vincent, coi nào, mẹ kiếp!”

Jasper đặt súng lên bàn.

“Này! Tụi mày phải biết cách làm việc này chứ!”

Rồi nhanh tay tháo từng bộ phận ra.

“Giờ thì tụi mày làm đi. Tháo và vệ sinh vũ khí của mình. Để tao xem.”

Felix đặt khẩu AK4 mà nó đã dùng để tập bắn xuống, nhưng thay vì làm theo lời Jasper, nó lại cúi xuống và nói thầm.

“Jasper này?”

“Gì thế?”

“Sao anh cứ phải làm như bị một khẩu súng máy cắm vào đít thế?”

“Cái gì cơ?”

“Anh cứ làm như mình là một loại lính đặc công khốn nạn nào đó không bằng. Tôi và Vincent đây không... thích thế.”

“Đây chỉ là một buổi tập chó chết!”

“Thì sao?”

“Mỗi buổi tập cần một người chỉ huy. Nhưng mày đâu có hiểu! Vì mày đã bao giờ trong quân ngũ đâu.”

“Tôi chỉ nói một lần. Anh thôi ngay đi.”

“Thôi cái gì?”

“Thì cứ thôi đi.”

“Khi nào vào đường cùng rồi mày sẽ biết ơn tao cho mà xem.”

“Đường cùng?”

“Khi lâm trận, chỉ cần lưỡng lự một chút mày sẽ tiêu ngay. Đơn giản thế thôi.”

“Nghe này... nếu chúng ta phải bắn nhau, đó là lỗi của anh.”

Jasper xáp lại gần, nhìn nó chằm chằm. Vincent đã từng thấy ánh mắt đó - giống như lúc Jasper cầm một cái dùi cui đi lại để ý xem có kẻ nào nhìn đểu mình không. Sau cùng hắn cho là thằng Steffe Béo đã phạm phải lỗi đó và đập hai cái vào cổ tay thằng này. Hắn vẫn tỉnh bơ khi thằng này gãy cả xương, đơn giản, mày thấy chưa, như nhánh cây khô thôi. Tối hôm ấy hắn mới hối hận, lo lắng phát điên, không phải lo cho Steffe, mà là lo mình sẽ gặp chuyện rắc rối, rằng như vậy hắn sẽ không thể thực hiện nghĩa vụ quân sự. Giờ hắn đứng đó nhìn Felix bằng ánh mắt ấy, còn Felix cũng nhìn lại như mọi khi. Đúng lúc ấy Leo mở cửa bước vào, tay bê một cái hộp bìa các tông lớn.

“Có chuyện gì đây?”

Cả Felix lẫn Jasper không ai nói gì, lùi lại một bước.

“Không có gì.”

“Tao thấy có chuyện.”

Jasper lại đặt vũ khí lên bàn lần thứ hai.

“Chúng nó lại nghi ngờ trình độ của tao, chuyện đó làm tao phát ngán!”

“Không phải trình độ - mà là thái độ của anh!”

“Thái độ? Tao chưa từng nghi ngờ hiểu biết của bọn mày ngoài công trường, khi bọn mày nói tao cầm búa quá cao hay để nhầm hộp - tao đã nghe lời mày, tôn trọng bọn mày! Thế nên bọn mày phải nghe tao khi tao dạy mày những thứ mà tao thật sự giỏi.”

Leo tiến tới đứng giữa bọn chúng, đẩy nhẹ hai đứa sang hai bên.

“Jasper? Mày im đi.”

“Mày đã nói tao phải dạy chúng tất cả những gì tao biết.”

“Mày ngậm mồm lại rồi lau súng đi. Còn mày, Felix? Mày phải nghe lời Jasper trong những việc kiểu này - nó biết mình đang nói gì. Nó biết mày phải làm thế nào để bảo vệ bản thân. Chẳng khác gì lần chính nó ra tay bảo vệ mày ấy! Lần mà mấy thằng khốn ở chỗ nhà tròn nện mày một trận, còn nó vẫn trụ lại đó mặc dù đã ăn cả một gậy bóng chày vào đầu, trụ lại đánh nhau với chúng cho tới khi tao tới nơi. Mày không nhớ à?”

Chúng mệt mỏi lắm rồi, anh biết thế. Và căng thẳng. Không còn nhiều thời gian nữa.

“Được chưa?”

Anh chờ một trong hai đứa mở mồm ra phàn nàn như thường lệ. Nhưng lần này chỉ im lặng, một sự im lặng mà anh lần đầu đặt chân vào.

“Tốt. Thử duyệt lại một lần cuối nhé. Có mặc áo chống đạn. Đầy đủ thiết bị trên người.”

Cái hộp bìa trên mặt sàn garage dán quá nhiều băng dính, buộc bằng những sợi dây quá dài, xù xì, xơ xác. Bên trong lót một lớp nylon. Tem mác và nhãn dán đều của Mỹ - Auburn, Alabama. Không bao giờ được mua vũ khí từ các công ty Thụy Điển. Nếu bọn cớm bắt đầu điều tra các công ty này, yêu cầu họ tiết lộ thông tin, đó sẽ trở thành manh mối cho chúng. Còn thứ này, Giáp chống đạn của Mỹ, dùng cho quân đội Mỹ, thì an toàn hơn.

Leo mở hộp và đưa mỗi người một chiếc áo chống đạn. Đám áo chống đạn anh đã đặt mua lần trước có phần bảo vệ cổ và vai khiến chúng trở nên vô dụng. Anh đã đặt mua bốn chiếc nữa, không có tấm bảo vệ cổ và vai, đánh đổi sự an toàn lấy sự cơ động - họ cần cử động thật thoải mái khi đã lọt vào trong ngân hàng.

“Nếu tất cả nhìn giống hệt nhau.”

Chiếc hộp thứ hai đã nằm dưới bàn làm việc khá lâu. Bốn bộ áo liền quần màu xanh nước biển hệt như lần trước. Lần ấy Vincent bị mắc tay áo vào một cái đinh khi nhảy qua khung gỗ giả làm ô kính quầy thu ngân. Bộ của Jasper thì quá nhỏ nó không mặc áo chống đạn được, trong khi bộ của Felix bám đầy dầu khi tháo mấy cái ghế trong xe ra.

“Nếu cả bốn chúng ta nhìn giống hệt nhau, sẽ cực kỳ khó để chúng miêu tả lại cho cảnh sát.”

Một lần cuối.

Tổng duyệt. Đầy đủ đồ nghề. Khống chế mục tiêu.

Chạy từ chiếc Dodge tới ngân hàng giả định rồi quay trở ra.

Đúng 180 giây.

Sau đó cái quầy thu ngân kia sẽ trở lại chỉ là những tấm gỗ dán, còn tường, cửa sổ, két sắt ngân hàng trở thành những cục băng dính nhàu nát.

“Mày lấy can xăng và túi rác rồi đi theo tao.”

Leo gật đầu với Jasper rồi trở lại garage, nơi không ai nhìn thấy được - một bức tường ngăn với nhà hàng xóm, một hàng rào chắn phía đường. Một thùng phuy han gỉ nằm cách đó có vài bước chân. Anh đổ túi rác đầy vào đó trong khi Jasper đổ xăng.

“Năm giờ năm mươi lăm phút chiều. Còn mười phút nữa là tới giờ đóng cửa. Tất cả mọi người đều đang cố hoàn thành công việc cho kịp giờ.”

Hai que diêm. Những bản phác thảo, bản vẽ, bản đồ bùng cháy.

“Jasper - mày phải bĩnh tĩnh.”

“Tao biết mình đang làm cái quái gì mà.”

Leo nhìn Jasper khi đó đang nhìn ngọn lửa nuốt chửng những bản vẽ kế hoạch hành động và lối tẩu thoát.

“Giống như khi mày tống mũi súng vào mồm tay bảo vệ đó đúng không?”

Không được mất bình tĩnh. Không bao giờ để bị bạo lực cuốn đi, mà phải điều khiển nó. Anh đã nhìn thấy cái đó trong mắt bố anh từ ngày xưa, và giờ nó hiện lên trong mắt Jasper - thể hiện nó đang bị bạo lực điều khiển chứ không phải ngược lại.

“Hay khi mày bắn cái xe chở tiền mặc dù đã thấy ánh đèn xe cảnh sát?”

Sự khác biệt giữa đấm vỡ mũi và đốt nhà một ai đó.

“Nhìn tao đây, Jasper. Phải làm sao để tao có thể tin tưởng mày. Mày làm được không?”

Hơi ấm dễ chịu tỏa ra từ dưới đáy thùng phuy, cả hai đưa tay lại gần chỗ đó.

“Được. Mày cứ tin ở tao.”

Còn mười chín giờ và mười hai phút nữa.

“NẾU EM MẮC KẸT THÌ SAO?”

“Mắc kẹt?”

“Nếu em mắc kẹt ở ô cửa sổ?”

“Cửa sổ nào?”

“Ô cửa ở quầy thu ngân, khi em đang chui qua được nửa chừng.”

Nó sắp sửa cướp ngân hàng đầu tiên trong đời sau bốn phút mười hai giây nữa.

“Mày sẽ không bị kẹt đâu.”

“Nhưng lỡ thế thật thì sao?”

“Vincent?”

“Vâng?”

“Nhìn tao đây.”

“Em đang nhìn anh mà.”

“Mày sẽ không bị kẹt đâu. Miễn là đừng có lo nghĩ chuyện đó - như thế sẽ không bị kẹt. OK?”

Leo nhìn đứa em trai út cởi cúc chiếc áo chống đạn tới thắt lưng rồi thắt lại đai buộc chặt thêm một nấc. Họ có thể nhìn thấy nhau, nhưng không thể nhìn ra ngoài, vì lúc này họ đang ngồi xổm trong khoang một trong hai chiếc xe van mà Felix đã ăn cắp đêm qua. Tuy thế, anh biết đích xác giờ mình đang ở đâu, đã đi khỏi nhà bao xa - anh không nhìn thấy cái bùng binh vừa đi qua, nhưng có thể cảm nhận được khi xe tới chỗ đó.

Họ phải tìm kiếm một chiếc xe van có hình logo một hãng xây dựng nào đó bên sườn, và sau cùng cũng tìm được một chiếc thật hoàn hảo. Với một decal lớn in dòng chữ Roto - Rooter, đây chính là loại xe có thể đi tới sát ngân hàng mà không gây báo động ngay lập tức - và bất kỳ ai nhìn thấy nó đều có thể miêu tả lại thật rõ ràng sau này.

Leo bám lấy tay nắm cửa để giữ thăng bằng khi xe rời chỗ bùng binh, trong khi Vincent và Jasper ngồi xổm đối diện với anh thì bám vào hai con ốc nhô lên dưới mặt sàn. Còn chừng gần hai mươi mét nữa - một ổ gà thật lớn khi họ rời đường Handelsvägen, đi ngang qua vỉa hè sang quảng trường Svedmyra. Đoạn đường cuối cùng, lốp xe phanh trên mặt đường ướt, một tiếng rít lướt dưới sàn xe.

Leo kéo thẳng cái bảo vệ tai, kiểm tra chiếc micro đã được kẹp chắc chắn vào cổ áo bộ đồ áo liền quần, trong khi đó Vincent, Jasper và Felix cũng chỉnh lại tấm bảo vệ tai của mình.

“Chuột Mickey.”

Những chiếc mặt nạ đen vẫn cuốn trên trán, giờ tất cả kéo mặt nạ trùm xuống mặt. Từ khoảng cách này, nhìn cứ như thể ai đó đã cắt mấy miếng trong tạp chí rồi dán lên mặt vải, tạo thành đôi mắt giấy, cái miệng cũng bằng giấy.

“Nghe chưa?”

Jasper mỉm cười khi ấn tay lên cái che tai phồng lên thành hai cục tròn lớn dưới lớp vải đen.

“Chuột Mickey đây, mẹ kiếp!”

“Jasper, đủ rồi.”

“Chuột Mickey, chuột Mickey, chuột...”

“Đủ rồi.”

Leo vừa mới động viên Vincent đừng lo về chuyện bị mắc kẹt ở cửa kính - nhưng sự bồn chồn của Jasper thì khó thấy hơn, một gã đàn ông chuẩn bị cho những hành động bạo lực của người lớn bằng cách cư xử như trẻ con, chẳng có chút trách nhiệm nào.

Đây là vụ cướp ngân hàng đầu tiên. Mỗi người có cách biểu hiện riêng.

“Tao kiểm tra lại đây.”

Bộ truyền dẫn nằm trong túi áo bên phải, đặt ngón trỏ trên cái nút nhỏ góc cạnh, anh nói nhỏ.

“Một hai. Một hai.”

Tiếng nói của anh vang vọng trong đầu chúng. Chính là giọng nói mà một lúc nữa sẽ chỉ huy cả nhóm.

“Nghe thấy gì không?”

Bộ mặt trùm mặt nạ trước mặt anh gật đầu. Đó là Vincent. Bộ mặt trùm mặt nạ trên ghế lái xoay lại, gật đầu. Đó là Felix. Bộ mặt trùm mặt nạ chếch phía trước anh chẳng gật đầu. Là Jasper.

“Này? Jasper? Bộ lọc tiếng ồn ấy. Mày phải giảm nó đi.”

Nó vẫn đang hát mấy bài của chuột Mickey, hát bằng giọng trẻ con trong khi sắp sửa nổ súng cùng đồng bọn.

“Felix, máy quét cảnh sát thì sao?”

Felix đã để ý đỗ xe sao cho nó có thể nhìn thấy toàn bộ ngân hàng qua gương, còn trong gương chiếu hậu nó thấy ba tên cướp ngân hàng đang sửa soạn xông ra ngoài.

“Đúng tần số. Đã khóa mã rồi. Chúng ta sẽ biết đích xác vị trí bọn cớm.”

“Tốt. Vincent?”

“Vâng?”

“Chúng ta sẽ xuyên thẳng vào nhé.”

“Xuyên thẳng vào.”

Một tiếng động kỳ lạ của bốn khẩu súng máy lên đạn cùng một lúc trong chiếc xe van đóng kín vang vọng trên thành và sàn xe.

“Năm...”

Bây giờ là năm giờ năm mươi lăm phút chiều.

“Bốn.”

Leo nhẹ nhàng đặt tay lên tay nắm cửa sau.

“Ba, hai...”

“Khoan đã!”

Felix vặn gương chiếu hậu.

“Một ông già đang chống khung tập đi ra ngoài. Theo sau là một bà già.”

Leo hạ vũ khí. Anh đã đếm ngược. Vincent đã bình tĩnh lại. Jasper thì đã tập trung. Lẽ ra giờ là lúc hành động.

Nhưng lại bị cắt ngang.

“Felix, mẹ kiếp...”

“Chúng ta còn thời gian mà. Cứ đợi họ đi ra đã.”

“Làm gì có lão già chống xe đẩy nào! Làm gì có mụ già khốn kiếp nào! Từ giờ... đon giản là chúng không tồn tại. Chúng ta sẽ đi xuyên qua chúng. Thứ duy nhất có ý nghĩa trong đó là tiền.”

“Nói xong chưa?”

“Felix, chúng ta...”

“Một ông già chống xe đẩy. Và một bà già.”

Felix vặn gương chiếu hậu một chút.

“Họ ra rồi.

CHẠY TÁM BƯỚC tới cửa kính ngân hàng Handels.

Không hề cảm thấy tội lỗi, không lo lắng, không nghĩ về quá khứ, không nghĩ tới tương lai - mỗi cử động đều là một phần của cử động tiếp theo.

Leo dẫn đầu. Vincent theo sau một bước, Jasper chạy hai bước phía sau.

Trời lất phất mưa. Mùi những chiếc lá mùa thu ẩm ướt màu nâu trơn tuột dính xuống mặt đá quảng trường giờ thấm qua lớp mặt nạ đen. Những cặp mắt ở khắp nơi. Mọi người ngồi thành hàng ngang, uống bia cạnh cửa sổ quán pizza. Người bán hoa ngồi cùng vợ trong những bộ đồ ấm cúng dưới tấm bạt. Hai khách giao dịch cạnh quầy thu ngân quay đầu lại.

Chúng nhìn thấy ta. Chúng biết bọn ta đang ập tới. Nhưng chúng vẫn không hiểu gì hết.

Những chiếc lá và những cặp mắt là có thật. Mưa thật. Người thật. Bầu trời thật, những ngọn gió thật.

Cánh cửa ngân hàng thật.

Họ đã luyện tập xong xuôi. Giờ thì không thể thoái lui được nữa.

VINCENT CHỈ TẬP TRUNG nhìn cổ Leo. Miễn là cứ nhìn không rời mắt khỏi đó, miễn là giữ đúng tốc độ này, nó sẽ tới ngân hàng và bước theo anh vào bên trong.

Để vụ này thành công - mày phải có vẻ như một người trưởng thành. Hiểu chưa, em trai?

Sáu bước chân nữa. Năm bước. Bốn bước.

Trong ngân hàng đó, bọn thu ngân sau lớp kính, chúng phải thật sự tưởng rằng đó là ba gã đàn ông trưởng thành bước qua cánh cửa.

Tấm áo chống đạn cồng kềnh, ép chặt bên dưới bộ áo liền quần khiến nó khó mà cử động được bình thường.

Khi đi thì phải thẳng người. Đặt cả bàn chân xuống.

Khẩu súng máy đeo chéo trên vai nó vẫn cứ cạ vào như trước.

Tưởng tượng mày tăng cân, nặng nề hơn, và biết rõ mình đang đi đâu.

Bất kể có cố nhìn cổ Leo cỡ nào, nó vẫn cảm giác mình chẳng tới gần ngân hàng hơn chút nào khi vẫn phải cẩn trọng đặt cả bàn chân xuống khi đi như thế.

Nó chẳng tới gần hơn chút nào.

Nó chẳng tới...

Nó chẳng...

“Vincent?”

Leo dừng lại. Anh chỉ còn cách cửa có một bước chân, nói vào micro nối với ba cặp tai nghe.

“Cứ thế đi xuyên qua nhé.”

Anh xoay người lại, đặt tay lên vai Vincent như thỉnh thoảng anh vẫn làm.

Cứ thế đi xuyên qua.

Giọng người anh lớn vang vọng trong tâm trí đứa em trai, cái giọng nói bao giờ cũng có ở đó. Leo đặt một tay lên cổ áo và chiếc micro để che nó đi, sau đó cúi người ra trước, tay kia kéo cái che tai của Vincent.

“Vincent này?”

Rồi anh thì thầm.

“Em biết đấy, anh yêu em.”

Sau đó, anh xoay người lại, hướng về phía ngân hàng.

Leo mở cửa kính ngân hàng, Vincent bám theo vào bên trong. Mẹ yêu con. Chỉ có mẹ từng nói với nó như thế. Họ bước qua một lối vào hẹp, hơi nóng thổi xuống từ trên trần, còn nó tự hỏi Leo nói thế có ý gì. Có phải anh đang tìm cách giúp nó thư giãn, bước đi như một người đàn ông qua những con người vẫn còn đang ngơ ngác kia, hay họ sắp sửa đi đến chỗ chết, Leo hiểu điều đó mà không biết nói thế nào.

Không còn tiếng động nào.

Không thấy tiếng động khi Leo xoay người bắn mười tám phát vào chiếc camera an ninh. Nó vỡ toác ra, như một bông hoa trên trần. Những cánh hoa dài và mảnh tỏa ra từ ống kính. Không thấy tiếng động khi Jasper nã mười lăm phát vào chiếc camera thứ hai khiến nó tan thành từng mảnh rơi lả tả xuống sàn.

“Bốn Xanh!”

Leo hét lên với nó, môi mấp máy sau lớp mặt nạ đen, nhưng nó thậm chí còn không nghe thấy.

“Bốn Xanh!”

Vincent liếc nhìn những con người đang nằm rạp cạnh chân mình, tay ôm đầu.

“Bốn Xanh - ô cửa quầy thu ngân.”

Nó lại bắt đầu chạy.

Chạy về phía quầy thu ngân. Nó nhìn thấy người phụ nữ bận áo khoác màu vàng quá muộn - giẫm lên cánh tay cô ta trong khi người thu ngân đóng sập cửa rồi khóa lại, sau đó lăn xuống sàn phía sau quầy.

Lỡ ô cửa bị đóng.

Lỡ nó không thể nhảy lên quầy rồi chui qua ô cửa đó.

Lỡ nó bị kẹt.

“Sáu mươi giây!”

Leo chạy phía sau nó, hò hét điều gì đó, trong khi đó anh lại giương súng, nhún nhảy nhẹ nhàng trên đầu gối, tay trái đặt trên tay cầm bằng gỗ. Mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi phát súng.

“Bốn Xanh - hành động!”

Vincent lại nghe thấy tiếng anh. Mọi thứ giờ quá rõ ràng rồi.

Mặt kính lơ lửng trong không trung lâu hơn một chút, như thể hàng nghìn mảnh vụn của nó vẫn chưa hiểu mình phải rơi xuống. Nó chạy về phía ô kính quầy thu ngân, giờ đây không còn nằm đó chắn đường nó nữa, mình bận chiếc áo chống đạn giờ không còn cảm giác quá chật, dây đeo không còn chà qua chà lại. Nó thực sự có thể nghe thấy tiếng gót chân trái giẫm lên đống kính vỡ trên sàn khi chạy, tiếng động rõ ràng, lạo xạo khi nó nhảy lên quầy, gót chân phải của nó giẫm lên kính trên mặt gỗ tạo ra tiếng như khi nhai đá, rồi cả hai chân nó chạm mặt sàn bên kia, tiếng kính vỡ ép lên mặt thảm như kính bị đập trong túi vải. Rồi nó chạy tới cánh cửa bên trong để mở cho Ba Xanh, quay lại quầy hét lên với người thu ngân đưa tao chìa khóa két bằng đúng cái giọng như nó đã tập luyện - điều này có tác dụng ngay, những ngón tay đánh sơn móng màu đỏ chìa ra, trong tay là một chùm chìa khóa.

“Chín mươi giây!”

Anh đang đứng giữa ngân hàng, sáu người la liệt dưới chân - người phụ nữ mặc áo khoác vàng không dám kêu lên tiếng nào khi Vincent giẫm lên cô ta - một người đàn ông bận áo khoác và giày lười màu nâu không chịu nằm xuống cho tới khi Leo phải ép buộc ông ta bằng báng súng - một bà già nép vào quầy dõi mắt nhìn anh, không van xin, không sợ hãi, đúng hơn là hình như bà ta muốn ghi nhận lại toàn bộ những gì đang xảy ra - hai thanh niên tầm tuổi Vincent nằm sau một cây cọ lớn gần cửa sổ mặt trước, những người sau đó sẽ kể lại họ đã có mặt ở đó giữa một vụ cướp ngân hàng ra sao - sau cùng là một phụ nữ cầm chiếc túi mua sắm mà từ đó mấy chiếc bánh ngô, bánh mì và một hộp sữa bột trẻ con lăn ra ngoài.

“Một trăm hai mươi giây!”

Từ vị trí giữa ngân hàng, anh có thể thấy Ba Xanh mở két, xúc từng đống tiền trên ba cái giá vào túi đeo trên vai, rồi nã súng phá tung một cái két, khuân rỗng từng tập 500 krona vốn đã được đếm, phân loại và quấn một dải giấy cứng xung quanh. Anh cũng nhìn Bốn Xanh lần lượt đi từ quầy nọ sang quầy kia, đạp đổ những chiếc ghế trên đường, lôi từng ngăn kéo ra đổ tiền vào túi.

Jasper hành động hoàn hảo. Vincent hành động hoàn hảo.

Chỉ còn lại Felix.

“Một Xanh gọi Hai Xanh.”

Anh kéo micro ở cổ áo tới gần miệng hơn, nhìn qua cửa sổ về phía chiếc xe khi đó vẫn nổ máy trên quảng trường.

“Có thấy gì không?”

“Có thấy. Anh biết cạnh ngân hàng này là gì không?”

“Ý tao là...”

“Quán Pizza Kiến. Cái tên mới ngu ngốc làm sao.”

“Hai Xanh... có thấy gì không?”

“Ba người đang ngồi gần cửa sổ. Mỗi người uống một cốc bia. Chúng nhìn em chằm chằm, uống bia và...”

“Mẹ kiếp, Hai Xanh! Còi hụ, lũ cớm, mày có nghe hay thấy gì như thế không?”

“... thỉnh thoảng chúng lại liếc nhìn qua ngân hàng. Hình như là bia loại nhẹ, em đoán thế. Mấy cái cốc thì lại to.”

Đó là giọng Felix, nói toàn những chuyện đâu đâu.

Chẳng hề liên quan tới việc đếm thời gian, kiểm soát, adrenaline.

“Bia lúa mạch, Leo à. Hình như chúng đang chén pizza, nấm đóng hộp và thịt nguội. Có vẻ vui đây.”

Đó là một giọng nói bao giờ cũng gầm gừ và chất vấn, nhưng lại là thứ mà ta có thể hoàn toàn tin cậy. Chính thế nó mới nói về bia và nấm đóng hộp, ba gã ngồi trong quán pizza, cố trấn an anh trai đang đứng bên kia cửa kính, trong ngân hàng, những con người khiếp đảm nằm la liệt dưới chân, còn miệng anh thì vẫn đếm thời gian.

“Một trăm năm lăm giây!”

Đã tới lúc Jasper ra khỏi kho đựng tiền, Vincent xử lý xong mấy cái ngăn kéo, Felix đặt tay lên bánh lái, nhìn gương chiếu hậu sẵn sàng phóng đi ngay khi cả bọn lao ra khỏi ngân hàng.

Leo vẫn tiếp tục đếm thời gian, rời ngân hàng sau cùng và canh chừng lối đi từ ngân hàng đến xe tẩu thoát.

“Một trăm sáu mươi giây!”

Họ đã thành công.

Vincent nhảy qua quầy thu ngân, đi né những người nằm trên sàn tới đứng sau lưng anh. Felix giậm chân ga bên ngoài cửa sổ. Và dĩ nhiên Leo vẫn đứng yên, quan sát, tính giờ. Thêm một phát súng nữa. Đó là Jasper. Lẽ ra nó chỉ được ra sau Vincent một bước chân, nhưng nó vẫn cứ nán lại trong kho tiền, bắn phá cái két tiếp theo, mở những ngăn đựng từng chồng 500 krona rồi nhét tiền vào túi.

“Một trăm bảy mươi giây!”

Cái két tiếp theo.

“Một trăm bảy lăm giây!”

Rồi lại một cái két nữa.

“Một trăm tám mươi giây!”

Họ đã nhất trí từ trước rằng phải sử dụng phương pháp nào sao để thu được lợi nhuận tối đa mà không tăng mức độ rủi ro - giao ước đó giờ đang bị vi phạm, thêm lần nữa.

“Ra!”

Leo chĩa súng lên trần nhà.

“Ra ngay!”

Và nổ súng.

“Ra ra ra!”

Hai phát súng lên trần nhà ngay trên kho tiền. Bụi vữa tường và những mảnh nhựa rơi xuống những người đang nằm úp mặt xuống sàn nhà. Dường như Jasper chợt hiểu - nó bỏ cái thùng mình vừa mới khuân rỗng, kéo khóa túi rồi chạy ra lối đi, ra quảng trường, nhảy lên xe.

HỌ ĐANG NGỒI XỔM cạnh nhau. Họ vẫn chưa lái xe được bao xa.

Từ quảng trường nhỏ lao qua vỉa hè, ra thẳng mặt đường. Đi một quãng ngắn ra bùng binh rồi lập tức rẽ trái dưới những trụ xi măng lớn chống đỡ đường ray tàu điện trên cao. Leo có thể nghe thấy tiếng tàu chạy trên đầu. Bọn cớm vẫn chưa chặn các phương tiện đi khỏi đó.

Hoàn toàn tĩnh mịch, hoàn toàn yên tĩnh trong bóng tối.

Đó là một bãi đỗ xe chỉ cách ngân hàng vừa cướp chưa đầy 150 mét, lối vào ga tàu điện ngầm phía trước mặt, bên phải là một quầy bán xúc xích và bệnh viện Stureby, bên trái là một khu dân cư gồm toàn những căn nhà nhỏ xíu xây dựng từ thập niên 1930.

Súng lên đạn sẵn sàng, mặt nạ trượt tuyết trùm kín mặt.

Anh lại bắt đầu đếm.

Họ sẽ ngồi đây, trên chiếc xe này, trong đúng khoảng thời gian mà anh đã định sẵn.

TRONG NGHĨA TRANG NÀY bao giờ cũng thật lạnh lẽo.

Nhưng khi lá cây phủ kín mặt đất, mọi thứ dường như ấm áp hơn, được bao bọc, chăm sóc và bảo vệ.

John Broncks lau nước trên băng ghế ọp ẹp rồi ngồi xuống.

Một trong số ba mươi nghìn chốn an nghỉ tại một trong những nghĩa trang lớn nhất Thụy Điển.

Norra Begravningsplatsen, nghĩa trang phía Bắc. Khu 18A. Lô 575.

Suốt một thời gian dài, anh đã tránh không tới đây, phớt lờ những nắm đấm đã bị chôn vùi và mãi mãi chẳng còn quyền lực gì.

Tấm bia mộ rất đẹp. Tuy được làm bằng loại đá granite đen, nhẵn, chưa tới hai mươi năm, tấm bia này nhìn có vẻ lâu năm hơn thế nhiều, như để hòa nhập cùng những tấm bia khác đã được dựng lên từ rất lâu trước đó.

Anh cúi xuống chỉnh lại một bụi cây màu nâu mọc lan um tùm nhìn giống như thạch nam, tưới cho nó một ít nước. Trên đống bê tông và đất đã không còn sự sống này, ai đó vẫn thường đặt những đóa hoa, và anh tự hỏi đó là ai. Bản thân anh chưa bao giờ làm thế. Hay là mẹ anh? Sao bà lại để hoa ở đây? Trên nấm mộ của bố anh?

Anh đặt tay lên rìa tấm bia. NĂM SINH. NĂM MẤT. GEORGE BRONCKS. Những con chữ mạ vàng mà người thợ đá đã dùng sức mạnh khắc lên. Khi chiếc quan tài màu nâu được hạ xuống hố, anh mười sáu tuổi. Anh vẫn nhớ vì một bên quan tài quá nặng, suýt nữa thì nó bị lật. Trong khi đó, mẹ đứng ngay cạnh anh mà khóc. Chỉ vậy thôi, gương mặt mẹ anh. Tất cả những người khác giờ đây chỉ là một khối đen kịt, tụ lại thành một thực thể duy nhất - gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người John biết tên nhưng chưa từng gặp. Chiếc ca vát trắng cọ vào cổ anh, và thế là khi xong xuôi anh cởi phăng nó ra, đem đốt, thề sẽ không bao giờ đeo ca vát nữa.

Mẹ muốn quay lại đó ngay hôm sau.

Vậy là anh đi cùng bà; anh cho đó là vì bà đã không biểu lộ những cảm xúc thật của mình ở đám tang - sợ rằng cái đám người đen kịt kia có thể nhìn thấu những suy nghĩ thực của bà về chồng mình. Nhưng cuối cùng lại không phải thế. Bà vẫn chưa tiếp thu được hết những gì đã xảy ra, sự thật - bà đã chấp nhận bị đánh đập, đè nén hết ngày này qua ngày khác. Một vài lần John đã thử hỏi bà về chuyện đó, rằng bà cảm thấy sao. Những lúc ấy dường như bà chẳng nhớ gì hết, ý con là gì, như thể nó đã bị chôn vùi quá sâu trong tâm khảm, mẹ biết ý con muốn hỏi gì mà, đến nỗi chính mẹ anh cũng không thể với tới được nữa, John à, mẹ không thích con nói chuyện kiểu đó.

Họ đặt vòng hoa lên nấm mộ, nói những câu cần thiết.

John đứng cạnh bà. Bà nhìn ngôi mộ bằng ánh mắt trống rỗng, và anh chợt nhận ra lý do bà khóc, không phải là vì bố anh, mà là vì Sam, người đã không đầu hàng số phận như bà, và có lẽ chính lúc ấy bà quyết định thôi không nhớ tới chuyện ấy nữa.

Một vài giọt mưa nữa. Chiếc đèn lồng nằm hơi chênh, anh ấn chặt nó xuống nền đất mềm.

Xe anh đỗ ở lối vào, và vậy là anh chậm rãi rời bỏ sự tĩnh mịch nơi đây, bước dọc phố Nhà thờ Solna về phía trung tâm thành phố. Đi được nửa đường về sở cảnh sát, anh nghe thấy báo động lần đầu tiên. “Cướp ngân hàng. Svedmyra.” Chỗ đó ở tận đầu kia thành phố, quá xa, thế nên anh tiếp tục lái xe về Kronoberg. Giọng nói trên radio lại vang lên. “Có vũ trang.” Nghe quen quen. “Vũ khí quân dụng.” Anh lắng nghe rồi chuyển hướng, phóng về phía Nam. “Xả súng dữ dội.” Vẫn không hiểu tại sao, thường thì phải mãi về sau anh mới hiểu, anh tăng tốc.

Đã xác định được vị trí chiếc xe tẩu thoát.”

Những kẻ này đã cố tình hành động thật ồn ào để buộc người ta phải tránh xa, dùng súng máy để khủng bố và dọa dẫm, sử dụng bạo lực thái quá.

“Cách hiện trường khoảng 140 mét.”

Jafar. Và Gobakk.

“Trong bãi đỗ cạnh ga tàu điện ngầm Svedmyra.”

Nhưng lần này thật lạ lùng.

Lạ lùng đến nỗi chẳng còn hợp lý chút nào.

Chẳng có bọn cướp ngân hàng nào lại lái xe đi 140 mét, đỗ xe lại, lấy vé, trốn đi bằng tàu điện ngầm.

“Nghi phạm chưa ra khỏi xe.”

John Broncks chụp lấy radio và nói vào micro.

“Broncks của sở cảnh sát thành phố đây. Nhắc lại xem nào.”

“Nghi phạm CHƯA ra khỏi xe.”

Chuyện này vốn đã vô lý, giờ lại càng vô lý hơn.

Lái xe đi được vài giây, chúng đỗ lại ngay ở ga tàu điện ngầm gần nhất.

Và ở nguyên đó.

Trong xe.

Ngay gần ngã tư, một cảnh sát mặc áo phản quang vẫy anh tạt vào lề đường. Ngay đằng kia, quá ngã tư một chút, gần hiện trường, có ánh đèn xanh nhấp nháy - hai chiếc xe cảnh sát đỗ chéo ngang đường.

“Xin lỗi, đường này bị cấm. Tôi buộc phải yêu cầu anh vòng lại hoặc rẽ.”

Broncks lục túi trong lấy phù hiệu cảnh sát bằng da màu đen, tấm thẻ có hình chiếc khiên màu vàng, xanh và đỏ.

“Tôi là John Broncks, đội cảnh sát điều tra.”

Một khuôn mặt trẻ măng, lấp lóa trong ánh đèn pin, xem xét tấm thẻ của anh rồi gật đầu, cân nhắc liệu cái người có mái tóc sẫm cắt ngắn trong ảnh, dáng người trung bình có đúng là người đang ngồi trên ghế lái kia không. Broncks đã quen với điều này. Mỗi lần đi qua quầy kiểm tra hộ chiếu, nhân viên ở đó bao giờ cũng so sánh ảnh chụp với thực tế vài lần mới nhìn được nét mặt trung dung của anh.

Sau cùng đồng nghiệp của anh cũng làm được chuyện đó, gật đầu, đổi giọng.

“Hình như bọn chúng vẫn đang ở đó.”

“Tôi có nghe rồi.”

“Có vũ trang.”

“Cái đó tôi cũng nghe rồi.”

Anh ta đứng lui lại và hô mấy tiếng sang phía bên kia ngã tư - người của ta, để anh ta đi qua - trong khi đó Broncks kéo cửa kính lên, bỏ lại bộ mặt bồn chồn của viên cảnh sát trẻ phía sau, đi theo đường zigzag giữa những chiếc xe cảnh sát đỗ chéo, rồi tiếp tục phóng trên con đường giờ hoàn toàn vắng bóng người. Cả chỗ đường ray tàu điện cũng thế, vào giờ này lẽ ra cứ mỗi phút lại có một đoàn tàu vụt qua, giờ cũng vắng lặng. Đó chính là điều anh nhìn thấy trong mắt viên cảnh sát trẻ tuổi kia. Tất cả những cái bình thường đột ngột biến đi, cùng với cảm giác an toàn của anh ta. Lẽ ra những cặp đèn pha ô tô phải chiếu lên nhau trong bóng tối, những đường ray rít lên khi đoàn tàu nặng vài tấn chạy qua, mọi người trên đường về nhà.

Anh giảm tốc cạnh một bùng binh. Những dải băng xanh và trắng đu đưa trong gió nhẹ buổi tối trước ngân hàng trên quảng trường Svedmyra, ngăn những người cho đến giờ vẫn còn không biết chuyện gì đã xảy ra.

Anh đỗ xe trên đường dành cho xe đạp, chạy vụt qua bãi cỏ ướt phủ bóng những chiếc cột xám vuông vức như bao diêm, ngạo nghễ nâng tuyến đường sắt trên cao.

“Có bao nhiêu người vào vị trí rồi?”

Người cảnh sát mặc đồng phục đầu tiên khi đó đang chờ đợi ngoài rìa bãi đỗ xe khiêm tốn này - nấp sau những chiếc cột lớn. Broncks quay về phía một trong số họ. Người đó trạc tuổi anh, chiều cao cũng ngang bằng anh, người mà anh nhận ra mình còn chẳng nhớ tên, hạ sĩ ở Sodertorn, một trong số rất nhiều cảnh sát mà anh đã gặp trên ranh giới giữa hai địa bàn hệt như trong vụ này.

“Một đội đã leo lên đường ray. Một đội nấp sau ki ốt đằng kia, thấy không? Một đội phục trên đường đi bộ, chỗ đó, cạnh bệnh viện. Một đội nấp trong khu đất rộng của căn nhà vẫn bật đèn sáng đằng kia.”

Viên cảnh sát không tên dùng cả cánh tay chỉ các hướng khác nhau, và John Broncks cảm thấy xấu hổ. Lẽ ra anh phải biết tên người đó mới phải.

“Còn ở chỗ kia, ngay trước mặt chúng ta - một đội Đặc nhiệm chuẩn bị xuất phát.”

Bãi đỗ xe chẳng có gì đáng chú ý, chỉ là mười lô nằm kẹp giữa những trụ bê tông, một nơi anh thường đi qua mà thậm chí còn chẳng nhìn đến. Mấy cột đèn đường chẳng rọi sáng chỗ đó là mấy. Hai chiếc xe đang đỗ. Một chiếc cũ hơn, loại xe Ford màu nâu mà khung xe bao giờ cũng rung lách cách mỗi khi đi qua ổ gà, Broncks gần như có thể nghe thấy tiếng bộ giảm ồn ở ống xả khi nó bị ám tro thêm chút nữa. Chiếc còn lại là một xe van Dodge màu vàng, hay ít nhất anh nghĩ thế, vì màu sơn của nó lẫn vào bóng tối. Thứ duy nhất nổi rõ là những con chữ to tướng Roto-Rooter hai bên sườn.

“Thế quái nào mà lại có kẻ cướp ngân hàng rồi dừng lại ngay cạnh hiện trường?”

Người đàn ông vô danh nhìn chiếc xe. Anh ta đã đứng nguyên như thế từ lúc Broncks tới - như thể anh ta bị hút vào bên trong lớp vỏ thép của chiếc xe mỗi lần hít vào, rồi chui ra với những hình ảnh hoàn toàn mới mỗi lần thở ra.

“John? Anh hiểu không? Nếu chúng vẫn còn ở đó. Đúng là phô trương bỏ mẹ! Cướp ngân hàng. Chui vào xe. Lái 140 mét. Đỗ lại. Rồi... chờ đợi.”

John. Anh ta đã gọi anh bằng tên. Quá muộn mất rồi. Giờ tới lượt John phải nói tên anh ta, để chứng tỏ mình nhận ra, xác nhận hai người đã từng gặp nhau rồi.

“Không...”

Cảm giác tội lỗi. Khốn nạn thật. Giữa lúc đang truy lùng bốn tên cướp ngân hàng? Nhưng anh không thể chịu đựng nổi những kẻ không nhớ tên người khác. Anh luôn khinh bỉ những kẻ không nhớ nổi anh và cái tên của mình.

“... tôi cũng không hiểu nổi.”

“Tất cả vào vị trí”

Viên cảnh sát vô danh đeo radio trên cổ áo bên phải, từ đó vọng ra một giọng nói lớn và rõ ràng, lẽ ra nó phải được vặn nhỏ đi để tránh bị nghe thấy từ trong xe.

“Xông vào sau năm, bốn, ba, hai, một... Xuất phát.”

Từ trong bóng tối những cảnh sát xuất hiện từng người một, ai cũng đội mũ đen, áo chống đạn, súng chĩa lên trời - tám người cử động như một. John Broncks đã nhìn thấy cảnh này vài lần trước đây. Và anh cũng còn cảm nhận được nó vài lần nữa. Vào vị trí sửa soạn đối đầu với bạo lực. Tuy chưa từng nhìn tận mắt một vụ cướp ngân hàng khi nó đang xảy ra, anh đã kiểm tra lại băng ghi hình chúng nhiều lần, và bao giờ những hình ảnh đó cũng rất rõ ràng - những cảnh sát bận đồng phục lượn quanh chiếc xe kia cũng có động cơ hệt như những kẻ đeo mặt nạ trượt tuyết trốn bên trong - đối mặt với kẻ thù, xem ta có đủ dũng cảm hay không, liệu ta có thực hiện nổi những gì đã tập luyện thuần thục mà không gặp phải tổn thất gì.

Tám bóng đen tiến lên phía trước.

Một người đứng lại chỗ hàng cột bê tông chĩa súng nhắm vào ghế lái. Hai người khác quỳ xuống, nhắm vào phần hông xe không có cửa sổ. Hai người nữa tiếp tục đi qua bên kia chiếc xe và chĩa súng vào cửa sau.

Anh thậm chí chẳng còn cảm thấy hơi thở phả vào gáy mình nữa.

Viên cảnh sát không tên ngừng thở, như thể anh ta đã cuốn theo những hình ảnh bên trong chiếc xe vào trong mình sau từng nhịp thở, giờ anh ta giữ tất cả chúng ở đó, đông cứng.

Hai trong số ba cảnh sát của đội Đặc nhiệm tiếp tục tiến tới chiếc xe, dừng lại cách đó một đoạn rồi ngó vào trong. Trống không. Những kẻ đang trốn trong xe đều chui hết vào khoang sau, nơi tất cả cảnh sát đang chĩa súng vào.

Chỉ còn một cảnh sát.

Người đó bước tới cửa hông xe, chiếu đèn pin vào.

Cửa xe không khóa.

Anh ta nhẹ nhàng đặt tay trái lên tay nắm, giật cửa mở ra thật nhanh rồi nằm rạp xuống đất.

Không thấy vụ nổ nào lóe lên trong bóng tối.

Không phát súng nào vang vọng giữa những hàng cột bê tông.

Không thấy tiếng hò hét, không có sự căm thù nào, chỉ một giọng nói trên radio.

“Trong xe trống không.”

LEO LẮC CÁI CHAI THẬT ĐẸP, khiến nút chai nẩy bật ra đúng kiểu. Rượu champagne, được gọi là Pol Roger, sủi bọt đầy tràn qua miệng những chiếc ly thuôn khi cả nhóm uống mừng vụ cướp ngân hàng đầu tiên, hát hò rồi ôm lấy nhau. Anneli uống hết ly của mình rồi rót thêm ly nữa. Vincent, không nói một lời từ khi còn ở ngân hàng, giờ nâng ly và hú lên y như Felix, gạt bỏ sự kiềm chế đã giúp gắn bó cả nhóm, nơi mỗi người có thể quay về để được tiếp thêm sức mạnh mỗi khi cần thiết. Jasper luôn mồm kể nó đã nã súng phá tung từng ngăn trong kho đựng tiền, sau đó nâng cốc chúc rượu với giọng sôi sục vì champagne.

“Tất cả vào vị trí.”

Cả bọn im lặng, cúi người ra trước, lắng nghe tiếng máy dò tín hiệu radio của cảnh sát đặt giữa bàn uống nước giữa đống cốc bia vơi một nửa và mấy chai whiskey vừa mở.

“Xông vào sau năm...”

Một giọng khàn khàn đếm ngược trong khi tám Đặc nhiệm từ từ tiến tới chiếc xe van của hãng sửa ống nước.

“... bốn, ba, hai, một...”

Giờ giọng nói đó cũng tắt, giống như giọng nói của tất cả mọi người trong căn phòng này. Trong khi đó họ nghe thấy những tiếng động khác, tuy không phải ngôn từ nhưng vẫn là một thứ ngôn ngữ riêng.

tiếng chân bước lao xạo

tiếng thở hổn hển

tiếng cửa xe rít lên khi mở ra

Và rồi.

Tiếng động mạnh mẽ và rõ ràng nhất.

sự im lặng

Sự im lặng khi một nhóm người đứng bên nhau, lắng nghe một đối thủ đã bị mình đánh bại.

“Trong xe trống không.”

Và rồi, những tràng cười nổ ra. Jasper bật cười vang cả nhà, cười hệt như khi nó ra lệnh, một người chưa từng biết mình cười như thế nào. Felix thì khúc khích ở các cao độ khác nhau, từ nốt trầm tới nốt đô cao, giữa chừng bao giờ cũng phải dừng lại lấy hơi. Thỉnh thoảng giọng cười của Anneli chen vào, từ phía sau, tiếng cười thứ ba lang thang giữa những tiếng cười khác mặc dù chẳng dừng lại bao giờ. Vincent, dù điệu cười của nó gần như không nghe thấy được, tiếng nó vẫn nổi hơn hẳn mọi người, xuyên trong không khí, còn Leo mỉm cười với nó, kẻ không còn cứ hơi tí phải xin phép, có dáng đi như một người đàn ông trưởng thành, dám nhảy qua cả quầy thu ngân. Những tràng cười dần chuyển thành những chiếc cốc nâng cao, những màn chuốc rượu trịnh trọng cần thêm những cái chai được mở và rót ra. Leo nhìn quanh, từng khuôn mặt, anh không cần cười, lúc nào anh cũng biết trước mình sẽ làm gì, và có lẽ anh cũng vui vẻ. Anh đã bắn tan lợi thế của cảnh sát thành từng mảnh, và giờ bọn khốn đó đang đứng vây quanh chiếc xe đầu tiên của anh, chẳng hiểu làm cách nào bốn tên cướp ngân hàng đã biến mất khỏi đó.

Đấm con gấu giữa mũi rồi nhảy quanh, đoán trước và chờ đợi sự sợ hãi của kẻ thù, tấn công thẳng vào trung tâm, nơi chúng mạnh nhất và vì thế cũng yếu nhất - nơi sự rối loạn say ngủ giữa trật tự, và ta chỉ cần dùng vũ lực phá tan cảm giác an toàn của chúng rồi thay bằng sự hoảng loạn.

Và hành động trong đúng khoảnh khắc ấy.

Cảm giác an toàn mà mọi người thường coi là chuyện đương nhiên, thực ra chỉ là ảo tưởng. Sự rối loạn và trật tự giống như hai con rắn quấn chặt lấy nhau, đổi chỗ cho nhau khi người ta bước qua một giới hạn không lường trước. Bạo lực tạo ra khoảnh khắc ấy. Thời gian đã đóng băng với những người nằm trên sàn ngân hàng, những kẻ hò hét qua radio rằng bọn cướp xả súng bắn loạn xạ - những điều họ không thể hiểu nổi vì chúng chẳng thuận theo logic. Vì thế, chuyện đó làm họ càng thêm hoảng loạn, để cả nhóm có ba phút tự do hành động.

Bọn cảnh sát bận đồng phục ở đó tưởng rằng mình sẽ lập lại được cái đó, sự an toàn, trật tự. Chúng mở cửa. Chiếc xe trống không. Những tên cướp đều đã yên vị ở nhà.

“Vincent?”

Giữa những cái ôm và những ly champagne, Leo vẫn để mắt quan sát Vincent, người dường như chẳng bao giờ diễn tả nổi thành lời những cảm xúc và ý nghĩ của mình.

“Sao thế?”

“Đi theo tao, Vincent.”

“Đi đâu?”

“Thì cứ đi đi.”

Họ rời căn phòng nơi mọi người đang hân hoan ăn mừng vụ cướp, mặc dù giờ niềm vui ấy đã bị pha loãng bớt bởi những chai rượu đắt tiền và khói thuốc dày đặc, bước vào căn bếp chỉ đặt mỗi một chai whiskey và hai cái ly. Anh rót cho mỗi người vài phân rượu. Bên ngoài tối om, căn bếp bên nhà hàng xóm nhìn như thể một cái sân khấu được chiếu sáng. Một phụ nữ trẻ đặt cái bát thủy tinh lên chiếc bàn tròn, trong khi một người đàn ông buộc một đứa bé vào chiếc ghế cao, đeo yếm lên ngực rồi đặt cái thìa vào tay nó, rõ là đứa bé nằng nặc đòi tự ăn một mình.

“Mày còn nhớ không? Hồi bé lúc nào ăn chuối nghiền mày cũng phun hết cả ra.”

“Em vẫn nhớ.”

“Nhưng mày lại khoái món đào đóng hộp. Nếu tao cắt ra thành từng miếng vuông.”

Hồi đó mày một tuổi, còn tao tám tuổi. Cả một quãng đời thật dài đã trôi qua.

“Hôm nay mày làm tốt lắm.”

“Không. Em đã do dự.”

“Nhưng sau đó, không một sai lầm nào. Mày nhảy lên quầy, lấy chìa khóa kho tiền, mở cửa cho Jasper, lục hết các ngăn kéo. Tất cả đều đúng theo kế hoạch.”

“Có lúc em đã dừng hẳn lại. Ngập ngừng. Lẽ ra mọi thứ có thể đổ vỡ hết.”

“Quan trọng là mày đã giải quyết được. Đúng không nào? Chúng ta đã kiểm soát tốt mọi thứ ở đó trong ba phút. Mày nên nhìn nhận vụ này theo hướng đó, Vincent à - chúng ta được an toàn, trong khi tất cả những kẻ khác thì không. Chính nhờ thế ta mới có đủ thời gian sửa chữa một sai lầm không lường trước.”

Gia đình trong ngôi nhà bên kia đã bắt đầu dùng bữa với món thịt bò hầm và salad. Leo nâng ly, chờ cho Vincent làm theo. Hai người cùng uống cạn.

“Giờ mày phải quên chuyện đó đi. Nghe không? Lúc đó mày không hề ngừng lại. Điều duy nhất mà mày nên nghĩ tới kể từ bây giờ là mày đã hoàn thành rất tốt nhiệm vụ - đó là thứ mà mày sẽ lưu lại trong tâm trí cho tới vụ sau.”

Họ ra khỏi bếp, tới căn phòng ngay trên Hang Đầu Lâu, nơi đặt những chiếc túi mà chỉ mới cách đây một giờ còn đeo trước bụng Vincent và Jasper để chúng nhét tiền vào.

“Hơn một triệu. Có thể đến một triệu rưỡi.”

Một trong hai chiếc túi đựng những tập 500 krona dày cộp. Thứ mùi đặc biệt của tiền làm từ sợi bông. Những tờ tiền một trăm, năm mươi, hai mươi buộc lại với nhau thành từng mớ trong chiếc túi còn lại.

“Sao... cảm giác thế nào?”

Vincent đút tay vào chiếc túi đựng hàng trăm nghìn krona.

“Ảo diệu.”

Họ nhìn nhau. Rồi Leo ngoảnh về phía cửa sổ và bàn bếp căn nhà bên cạnh. Đứa bé một tuổi không tự ăn nữa, người bố đã tới bên cạnh nó, lau sạch cái áo và mái tóc, cho nó ăn từng thìa một.

“Phải rồi. Ảo diệu. Bọn ta đã cướp cả một ngân hàng. Rồi ta biến đi, trong khi bọn cớm chẳng có tí manh mối nào.”

VỤN KÍNH VỠ dưới ánh đèn chiếu thẳng nhìn khác hẳn bình thường. Chiếc đèn pha mà nhân viên pháp y đặt ngoài quảng trường nhỏ chiếu qua cửa kính ngân hàng, tạo thành một màn sương mù lấp lánh qua hàng nghìn mảnh kính.

John Broncks bước đi mà không ngoái đầu lại. Hễ xoay người lại, anh sẽ phải đối mặt với những chiếc micro, camera và hàng đống câu hỏi của đám phóng viên. Lúc vào đây anh đã tránh được bảy nhóm đưa tin chực sẵn ở hiện trường, và anh vẫn muốn tiếp tục tránh mấy người đó.

Giữa ngân hàng, bụi và các mảnh vụn bay lơ lửng từ trần nhà xuống bám vào một hộp sữa bột trẻ con màu đỏ. Người phụ nữ đó đã phải úp mặt xuống sàn đá lạnh, chiếc túi của cô bị lật ngay cạnh chân tên cướp. Lúc ngồi trên ghế băng trong góc nghe những câu hỏi của Broncks, cô còn chẳng thể trả lời được. Anh đã từng nhìn thấy điều này - vẻ mặt bối rối, một người đang cố gắng thấu hiểu thực tế trong khi đầu óc đã bị tê liệt, tiếng súng vang vọng liên tục đã làm hỏng thính giác cô, thủng cả hai màng nhĩ, khiến cho trong đầu cô lúc nào cũng vang lên tiếng ù kinh khủng.

Anh không ngoảnh lại mặc dù hai người quay phim đang chạy ngay sau lưng anh, kêu gọi anh khi anh bước qua vỉa hè mà chiếc xe kia đã phóng vụt qua trên đường tẩu thoát - khi anh bước tới bùng binh, vẫn theo đúng đường của chiếc xe, hai người kia chịu thua và chạy ngược trở lại chỗ ngân hàng nơi còn những người khác tiềm năng hơn để phỏng vấn.

Lúc trước anh đã nhặt hộp sữa bám đầy bụi đưa cho người phụ nữ bị thủng màng nhĩ. Ở đó có cả thảy chín nhân chứng. Ba nhân viên ngân hàng và sáu khách hàng, tất cả đều nằm trên sàn trong ba phút mà họ cảm giác như kéo dài bất tận. Hai trong số đó hoảng loạn đến nỗi không miêu tả lại được những gì đã xảy ra. Lời khai của sáu người còn lại tuy hợp lý nhưng lại không thống nhất, thậm chí đến hai cậu thiếu niên đứng cạnh nhau chỗ cửa sổ còn chẳng nhất trí nổi với nhau về bộ dạng bọn cướp,

RICKARD TORESSON (RT): Tôi thấy chúng bận... áo liền quần màu xanh, giống thợ sửa xe ấy.

LUCAS BERG (LB): Không phải áo liền quần, nhìn giống áo khoác và quần dài có túi hai bên hơn.

hay bộ dạng của kẻ bắn vỡ tấm kính bảo vệ, kẻ khuân tiền trong kho, và kẻ đếm thời gian,

RT: Chúng đều đeo mặt nạ kín mặt, chỉ lộ ra hai con mắt.

LB: Không phải tất cả đều đeo mặt nạ, ít ra thì tôi không nghĩ thế. Tôi nhìn thấy rõ ràng ít nhất một cái miệng.

đúng như cái cách mà tâm trí mỗi người lĩnh hội những sự kiện khác hẳn nhau khi phải đối mặt với bạo lực tột đỉnh - nỗi sợ hãi bóp méo hình dáng, kích cỡ, thời gian.

RT: Tôi nằm ngay dưới chân nó. Nó cao phải ít nhất một mét chín. Tôi cam đoan. Đứa nào cũng cao khủng khiếp.

LB: Tôi nằm ngay chân nó, nhìn nó hơi lùn, không cao hơn tôi đâu, và hơi mập nữa.

Chỉ một nhân chứng duy nhất có thể bình tĩnh miêu tả lại chính xác những gì mình thấy - một phụ nữ trạc năm mươi nấp sau QUẦY SỐ 3 khi tên cướp đeo mặt nạ chĩa súng máy nã bốn mươi phát vào cửa kính chỗ đó. Bà ta có đôi mắt nhỏ u buồn, lúc nào cũng có vẻ ngẫm nghĩ trong khi lẽ ra chúng phải tỏ vẻ thất thần mới phải, và bà ta cho anh thấy mình đã đưa bàn tay sơn móng màu đỏ về phía cái giọng nói ra lệnh cho bà ta phải giao nộp chìa khóa kho tiền, như thế nào trong khi từng mảnh kính vỡ rơi lả tả khỏi quần áo, tóc, làn da của bà ta.

Inga-Lena Hermansson (IH): Người Thụy Điển. Không nói phương ngữ hay giọng địa phương. Giọng nó trầm, hơi gượng ép, như thể quá trầm. Mắt nó - cứ như thể nó đang nhìn bên trên tôi, xuyên qua tôi chứ không nhìn thẳng vào tôi.

Giọng nói ra lệnh và cặp mắt không nhìn thẳng - rồi ném chùm chìa khóa cho tên cướp đi cửa sau vào khu vực của nhân viên thu ngân, bà ta đã kịp nhìn thấy vậy khi nằm áp mặt xuống sàn.

IH: Tên còn lại đứng lui lại một chút, mặc áo giáp như của lính. Tai lồi ra, tất cả bọn chúng đều thế.

Một đứa đòi giao chìa khóa còn đứa kia vào mở kho tiền. Cả hai, bà ta chắc chắn, liếc nhìn vài lần kẻ đứng bên ngoài quầy thu ngân.

IH: Thằng đó đếm thời gian, không cao giọng lấy một lần. Cho tới khi kết thúc.

Đôi tai lồi ra - tai nghe. Không cần cao giọng - một chiếc micro.

Tên cầm đầu.

Kẻ thống trị, và những kẻ bị trị.

Broncks đứng giữa bùng binh nhìn quanh kiểm tra cho chắc chắn không ai bám theo mình, rồi anh bước qua bên kia đường, trở lại bãi đỗ nơi chiếc xe van trống không nằm đó. Một chuyến tàu điện ngầm chạy qua cây cầu bên trên, những rung động đều đặn của tuyến đường sắt mới được mở trở lại.

Thiết bị liên lạc. Áo tải đồ chuyên dụng. Súng máy.

Một chiến dịch quân sự.

Phương tiện của chúng, một chiếc xe Dodge màu vàng có dòng chữ huỳnh quang in hai bên sườn mà theo như lời hãng sửa ống nước sở hữu chiếc xe, nó đã bị đánh cắp từ đêm. Broncks tính toán - khoảng từ mười ba tới mười tám tiếng từ khi bị đánh cắp cho tới khi nó được sử dụng làm phương tiện tẩu thoát. Đèn pha đã được dựng lên và các nhân viên pháp y cũng đang bò lổm ngổm khắp nơi này.

“Lối vào ga tàu điện ngầm. Cả mặt trước, mặt sau, hai bên đều là đường phố. Từng dãy giá để xe đạp. Chúng ta đang đứng giữa một giao lộ khốn kiếp! Đây là chỗ mà hành khách chuyển từ đi tàu sang đi xe buýt, từ xe buýt sang tàu điện, đến hoặc đi bằng xe đạp hay cuốc bộ, ai cũng di chuyển không ngừng.”

Viên cảnh sát Huddinge vô danh đang lượn vòng quanh những cây cột xù xì.

“Vậy mà không ai thấy chúng ra khỏi xe!”

Broncks không trả lời, nhìn về phía ngân hàng, quảng trường, bùng binh. Từ đây - chúng có thể lựa chọn bốn lối đi. Cứ mỗi lối, đi vài dặm là lại tới một bùng binh ở ngã tư nữa. Bốn nhân bốn nhân bốn. Sáu mươi tư lựa chọn. Số lối đi nhiều ngang với số ô trên bàn cờ vua, và như vậy cũng có chừng ấy cách thoát thân.”

“John?”

Người đàn ông vô danh nọ lại gọi tên anh. Và John không thể - như lúc nãy - không trả lời, trong khi vẫn phải giả vờ rằng mình cũng biết tên anh ta.

“Từ lúc chúng ta mở cửa chiếc xe van này đã được bốn mươi phút.”

Có lẽ anh cứ nói chuyện với anh ta, nhưng vẫn ngầm tránh, biết đâu đột nhiên lại nhớ ra.

“Một địa điểm hoàn hảo để thực hiện vụ cướp.”

Không. Anh không thể.

“Khu vực cần điều tra quá rộng.”

Đồng nghiệp của anh, người mà anh đã cùng hợp tác vài lần, cứ sau mỗi câu trả lời lại nhìn thẳng vào mắt anh.

“Anh không biết, đúng không?”

“Gì?”

“Erik.”

“Sao thế?”

“Đó là tên tôi.”

Rồi anh ta vung tay một vòng rộng.

“Nếu chúng tản ra thì sao? Từng đứa một ra khỏi xe rồi biến mất? Nếu tên đầu tiên bắt một chuyến tàu điện ngầm trước khi chúng ta chặn lối đó, đi vài ga rồi lại xuống?”

Anh ta quay về phía bến xe buýt.

“Nếu tên thứ hai đi xe buýt 163 về phía Đông hoặc phía Tây? Nếu tên thứ ba đi xe đạp dọc lối này tới khu dân cư trên kia, còn tên thứ tư đơn giản chỉ việc cuốc bộ đi khỏi đây đến cái xóm chỗ đó?”

Tàu điện ngầm. Xe buýt. Xe đạp. Cuốc bộ.

Hoặc sáu mươi tư lối thoát bằng ô tô.

Broncks nhìn vào chiếc xe van. Hôm qua đây còn là văn phòng lưu động của hãng sửa ống nước, rồi nó bị đánh cắp và biến thành một thứ xe quân sự, vừa để tiến công vừa để tẩu thoát, và vài ngày nữa sau khi phòng pháp y của sở cảnh sát đã kiểm tra thật kỹ càng, nó sẽ trở lại chỉ là một chiếc xe van của thợ sửa ống nước mà thôi.

“Erik này?”

Người đồng sự của anh có vẻ hài lòng, rõ ràng là thế. Nhưng anh lại thấy không thoải mái khi nói ra một cái tên mà mình chỉ vừa mới được biết.

“Chúng đến đây với đầy đủ lệ bộ - không ai có thể đi khỏi đây cầm theo súng máy, áo chống đạn, áo khoác đồ nghề và thiết bị liên lạc mà không bị phát hiện cả.”

Lại một tàu điện chạy qua. Bên trên đầu họ. Một nhịp đập trong mạch máu của cái hệ tuần hoàn chuyên chở con người.

“Hẳn phải có nhân chứng.”

John Broncks gõ nhẹ lên cánh cửa hông mà đội Đặc nhiệm đã lẻn tới và mở ra, cái vỏ kim loại vẫn phát ra tiếng trống rỗng hệt như khi trước.

“Hẳn ai đó phải nhìn thấy chiếc xe đến đây, nhìn thấy chúng bước ra. Bốn gã đàn ông trưởng thành đeo mặt nạ đen chẳng thể tự nhiên biến mất không một dấu vết như thế được.”

Ảo diệu.

Từ khi trả lời câu hỏi của Leo, Vincent đã nhắc lại từ đó ba lần. Khi họ đếm từng chồng 500 krona trong một túi: 924.000 krona. Ảo diệu. Khi họ đếm từng tập tiền đủ màu sắc và mệnh giá trong chiếc túi còn lại: 810.540 krona. Ảo diệu! Và sau đó khi họ cộng tổng số tiền ở cả hai túi: 1.734.540 krona. Ảo diệu quá đỗi!

Leo và Vincent ngồi đối diện nhau trên sàn, vốn cũng là nóc Hang Đầu Lâu. Tránh khỏi những ly champagne sủi bọt, những tiếng lè nhè vui vẻ của Felix và Jasper lẫn với tiếng của chiếc máy quét tín hiệu radio của cảnh sát - giá mà chị được xem chuyện đó, Anneli - Jasper bắt chước động tác của Leo khi bắn tấm kính cường lực trên quầy thu ngân - chị đứng ngay đây, có tưởng tượng được không, Anneli - rồi chùng chân như để minh họa cách chuẩn nhất để sử dụng một khẩu súng máy - đây là chiến trường, Anneli ạ, và điều tối kỵ khi trong hoàn cảnh ấy là do dự, như những gì Vincent đã làm - Leo nhìn thấy ngay Vincent đang lắng nghe câu đó. Leo nhìn thẳng vào mắt nó, cái nhìn như có ý nói kệ mẹ nó đi và đứng dậy đóng cửa.

Họ đã từng làm điều này quá nhiều lần. Tuy thế, bao giờ nó cũng có cảm giác thật nghiêm trang.

Lật tấm thảm, nhấc mấy viên gạch lát, nắm chắc tay cầm bằng kim loại, nhấc miếng bê tông rời khỏi sàn, mở két.

“Vincent này?”

“Sao thế?”

“Có duy nhất một khoảnh khắc trong vụ cướp đó không thể nào để sai sót được. Và nó chẳng liên quan gì đến những thứ mà thằng Jasper kia đang lảm nhảm. Hiểu không?”

Leo cầm vài tập 50 krona đã cũ, một hộp đựng trang sức bằng da cá sấu, hai chiếc đồng hồ Rolex dưới đáy két.

“Khoảnh khắc quyết định. Và nếu đúng lúc ấy mày làm rối lên...”

Không khí lại đượm vẻ nghiêm trang. Mở nắp hộp điện nối hai đầu dây. Nhìn mặt sau cái két mở ra để lộ căn phòng bí mật.

“... mày phải dùng cái này.”

Cạnh những túi tiền là hai chiếc hòm. Anh mở một hòm và nhấc khẩu súng máy mà anh đã dùng để khủng bố chín người khác.

“Nhưng khi người hoạch định kế hoạch vẫn là tao và mọi người biết đích xác phải làm những gì, chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra được.”

Anh ngồi cho hai chân xuống lỗ, trèo thang xuống, cầm lấy phích cắm buông thõng của cái đèn trên trần, rồi cắm vào ổ - bóng đèn trần trụi, giận dữ thắp sáng cả căn phòng.

“Chỉ một khoảnh khắc duy nhất không được phép sai sót. Vincent ạ.”

Anh giơ tay lên đầu, chờ đứa em chuyển xuống những gì đựng trong hai chiếc túi.

“Đó là khi ta đổi xe lần đầu. Biến đổi.”

Broncks chưa từng thích cái mùi này. Thứ mùi ôi thiu của dầu rán và vỉ nướng, của mỡ động vật và dầu thực vật bám vào các kẽ gạch, lưu cữu sau quầy bếp. Anh buộc phải thở bằng miệng, mặt nhìn ra cửa sổ của căn nhà nhỏ nằm kẹp giữa những hàng cột đường ray tàu điện.

Jarkko Kolkka (JK): Thông thường người ta đến đỗ xe vào buổi sáng và rời đi vào buổi tối. Nhưng cái xe kia, chiếc Ford, màu nâu ở giữa đó, đến vào buổi trưa. Còn chiếc Dodge lớn màu vàng kia... mới đến cách đây một giờ.

Đó là một tiệm hamburger nhỏ đầy dầu mỡ nơi người chủ có thể quan sát rõ cái bãi đỗ xe tối mù. Anh ta là người duy nhất có thể đã nhìn thấy gì đó.

JB: Chiếc xe màu vàng kia - anh không thấy ai chui ra khỏi xe à?

JK: Chẳng có ai.

Broncks ước lượng từ cánh cửa của cửa hàng nhầy mỡ này tới đó chỉ chưa đầy mười lăm mét.

JK: Chuyện này cũng chẳng có gì lạ. Nhiều khi người ta cứ ngồi yên trong xe. Chờ đợi ai đó đến bằng tàu hoặc xe buýt. Rồi họ lại đi ngay.

Anh ta là một người gầy gò nhìn chẳng thể đoán được bao nhiêu tuổi - bộ mặt mà thường sẽ phải trình chứng minh thư khi tới cửa hàng rượu mặc dù anh ta đã là bố của bốn đứa con - bận cái tạp dề đã từng màu trắng, nhưng giờ thì không. Có lẽ đó là lý do tại sao thứ mùi đó vẫn bám theo họ vào nhà ăn bé xíu, nơi mấy chiếc ghế cao được đặt dọc theo quầy.

JB: Còn hôm nay thì sao? Anh vẫn nhìn thấy tất cả mọi người đến và đi khỏi đây chứ?

JK: Tôi nhìn thấy mọi người hằng ngày. Chỉ có mười lô đỗ xe thôi mà. Trong khi tôi đứng đây... suốt ngày.

Với hai tờ giấy ăn trong hộp đựng bằng kim loại trên quầy, một cây bút lấy trong túi áo, Broncks vẽ mười ô chữ nhật hơi dài và viết chữ nâu tại điểm đỗ chiếc xe Ford cũ và chữ vàng tại điểm đỗ chiếc xe bọn cướp dùng để tẩu thoát.

JB: Đây là hai chiếc đã đỗ ở đây. Anh còn nhớ chiếc nào khác không?

JK: Chiếc nào khác?

JB: Các xe khác tới đỗ ở đây trong vài tiếng qua.

JK: Phải rồi. Thí dụ đằng kia, một...

JB: Viết lại vào đúng ô giùm tôi nhé.

JK: Đó... ở đây... một chiếc station wagon. Để tôi viết cho. Station wagon. Tôi không nhớ nó màu gì.

JB: Tốt lắm.

JK: Và chỗ này... một chiếc Dodge xanh đậm. Giống hệt chiếc màu vàng đằng kia, nhưng đỗ bên cạnh. Tôi sẽ viết vào đây là Xe Dodge xanh đậm.

JB: Còn các chỗ khác thì sao?

JK: Chẳng có gì. Ít nhất không có cái nào gần lô cuối.

Người đàn ông bận tạp dề trắng đẩy mấy tờ giấy ăn qua mặt quầy, toan bỏ đi.

JB: Chưa xong đâu. Tôi muốn biết những chiếc xe nào đã rời đi sau khi chiếc Dodge màu vàng được đỗ ở đó.

JK: Sau khi?

JB: Sau khi chiếc xe này đến.

JK: Tôi không nhớ được!

JB: Cứ thử xem.

Tay cầm bút, anh ta nhìn ra bãi đỗ, nhìn mảnh giấy, sau đó lại nhìn Broncks, rồi khoanh một vòng lớn quanh ô ở giữa, chiếc station wagon.

JK: Chiếc đó.

JB: Khi nào?

JK: Tôi không biết... chắc khoảng mười phút sau đó.

JB: Chỉ mỗi chiếc đó thôi à?

Vẫn cầm chiếc bút trong tay, anh ta lơ đãng gõ gõ lên mặt quầy, tạo nên một tiếng động khó chịu.

JK: Rồi đến chiếc Dodge còn lại. Chiếc màu xanh đậm ấy.

Vòng tròn bằng mực quanh ô ghi chữ Xe Dodge xanh đậm được tô lại vài lần cho tới khi nó đã quá dày và không đều nhau.

JK: Chắc thế... phải rồi, nó đi sau đó chừng hai phút. Hoặc năm phút. Hay... khoảng đó.

JB: Chiếc xe ấy à?

JK: Ừ. Cái đỗ ở lô cạnh chiếc màu vàng. Ngay bên cạnh ấy.

Tờ giấy ăn giờ nằm trong tay Broncks. Ô cạnh chiếc xe màu vàng. Anh ngẩng lên khỏi bức vẽ bãi đỗ, mắt nhìn ra bãi đỗ thật. Ánh sáng lờ mờ từ mấy cột đèn đường thấm qua bóng tối chiếu lên bãi đỗ trống không.

JB: Anh chắc không? Nó rời đi ngay à?

JK: Tôi chắc chắn đấy. Nó không đi lùi ra ngoài.

JB: Lùi ra ngoài?

JK: Ai đỗ xe ở đây cũng đi mũi xe vào trước, rồi sau đó khi đi ra phải giật lùi. Nhưng chiếc xe này thì... ngược lại.

John Broncks không nhớ tại sao mình lại vò nát tờ giấy ăn, anh làm vậy một cách vô thức.

Hai chiếc xe đỗ trong bãi ngay cạnh nhau. Hai chiếc cùng một loại. Một chiếc đỗ mũi xe chĩa ra ngoài, chiếc kia mũi xe chĩa vào trong.

Anh ném mạnh tờ giấy vào sọt rác. Nó đi trúng ngay.

Thật dễ dàng - như thể hai người ngủ ngược đầu và chân với nhau.

Hai chiếc xe giống nhau đỗ cạnh nhau, xoay về hai hướng ngược nhau, vì thế cửa hông bên phải của chúng chỉ cách nhau có ba mươi phân - hai cánh cửa trượt.

Broncks gật đầu với người chủ hiệu hamburger, thở dài một hơi cam chịu rồi bước ra bóng tối, khu vực tìm kiếm ngày càng trở nên rộng mênh mông.

Leo vươn tay về phía cái lỗ, cầm lấy chiếc túi thể thao đựng từng tệp 500 krona, đặt nó lên giá ở mé tường phía trong. Chiếc túi tiếp theo, đựng tiền đủ loại mệnh giá, anh đặt cạnh mấy hộp đạn.

Họ đã dừng xe trong bãi đỗ xe đó giữa giờ tan tầm, giữa bao người qua lại, súng vẫn nạp đạn và mặt nạ trùm kín. Hoàn toàn im lặng. Hoàn toàn bất động. Đường ray tàu điện ngay bên trên. Xe buýt dừng lại thả khách xuống. Giọng hai cậu bé vang lên, bước ngang qua đó mà không hề hay biết chỉ một vách kim loại mỏng dính của chiếc xe van ngăn cách chúng với bốn tên cướp ngân hàng đang trốn chạy.

“Mấy cái áo chống đạn, Vincent à, đưa cho tao.”

Vincent đang quỳ cạnh cửa hầm, kéo khóa một cái hòm - súng ống, đạn dược, áo khoác tải đồ.

“Không phải cái đó - là cái hòm kia cơ.”

Khóa kéo của hòm này bị kẹt, nó phải lựa khéo một chút. Áo giáp chống đạn, mấy cặp tai nghe lớn và tròn, chiếc micro nhỏ. Từng thứ một được đưa qua cửa hầm, đặt vào tay Leo, sau đó yên vị trên giá bên trên hai túi tiền.

Họ đã ngồi trong chiếc xe đó sáu mươi giây. Rồi Felix mở cửa hông, với sang chiếc xe bên cạnh được đỗ theo chiều ngược lại, kéo tay nắm mở cửa. Hai chiếc xe giống hệt nhau giờ trở thành một, hai cánh cửa mở đối diện nhau, không ai nhìn thấy được. Chỉ một bước nhảy là đã sang tới chiếc xe tẩu thoát thứ hai. Felix ngồi vào ghế lái, Jasper và Vincent mỗi đứa cầm một chiếc túi, Leo vào sau cùng rồi đóng cửa hai chiếc xe, giờ lại thành hai thực thể riêng biệt. Cùng những động tác giống hệt như trước đó năm phút và ba mươi giây, khi họ sắp sửa xông vào ngân hàng, nhưng lần này với thứ tự ngược lại.

“Vincent? Quần áo và mặt nạ phải được xếp riêng - chúng ta sẽ thiêu hủy chúng.”

Cú đổi xe quan trọng đầu tiên. Chỉ cách cái ngân hàng họ vừa cướp có vài trăm mét. Cả một sự biến đổi. Không ai nhìn thấy họ chui ra khỏi chiếc xe màu vàng, không ai biết họ đã trốn thoát trên một chiếc xe van màu xanh giống hệt. Vòng tròn giờ ngày càng rộng. Cái công thức toán học mà bọn cớm sử dụng trong mọi cuộc truy lùng - thời gian kể từ khi vụ việc xảy ra nhân với khoảng cách tới phương tiện tẩu thoát cuối cùng - vòng tròn đó trở thành khu vực tìm kiếm của cảnh sát, định đoạt khả năng thành công của chúng.

Điểm đổi xe tiếp theo cách đó một dặm, lại một bãi đỗ xe khác trong một khu phố khác, nằm kẹp giữa một ngôi nhà ba tầng và một rừng cây nhỏ. Họ mất ba mươi giây để thay từ áo liền quần và mặt nạ sang quần áo lao động bình thường, ba mươi giây để chuyển những chiếc túi và hòm xiểng qua rừng cây, hai mươi lăm giây để trèo lên chiếc xe tẩu thoát cuối cùng - một trong những chiếc xe Công ty Xây dựng của họ mà rồi sau đó sẽ hòa lẫn vào tất cả những chiếc xe xây dựng khác hướng về nhà sau một ngày làm việc. Felix và Leo ngồi trên ghế phía trước, Jasper và Vincent chui xuống dưới tấm phủ sau thùng xe. Hai mươi phút sau họ đã yên vị trong phòng khách, nghe radio tiếng đội Đặc nhiệm trườn tới mục tiêu trống không.

“Giờ thì đưa tao những thứ trong cái hòm còn lại.”

Leo cầm cả khẩu súng máy và khẩu AK4 đưa qua lỗ, quấn băng đỏ quanh nòng một khẩu rồi để chúng xuống ngăn dưới cùng.

“Leo?”

“Sao?”

Vincent cũng muốn nói lên điều đó. Nhưng cảm giác thật kỳ quặc. Từ xưa đến giờ nó chưa từng nói câu này.

“Anh biết đấy...”

Leo cầm khẩu súng máy cuối cùng, to và nặng hơn hẳn những khẩu khác, đánh dấu nòng súng bằng băng đỏ, rồi để nó cạnh những khẩu sẽ không bao giờ còn dùng đến nữa. Sau đó anh nhìn quanh. Còn lại hai trăm mười tám khẩu súng máy.

“Cái gì?”

Điều này thật khó nói làm sao, nó sẽ có vẻ giả tạo và gượng ép, mặc dù bản chất thì không hề như vậy.

“... em cũng yêu anh.”

JOHN BRONCKS BẬT MÁY TÍNH và nhấp vào file có tên SVEDMYRA. Bên trong có hai tài liệu. Anh đưa con trỏ tới tài liệu đầu tiên có tên CAMERA MỘT - máy quay an ninh lắp trên cửa ra vào. Anh nhấp chuột rồi kéo thanh hiển thị thời gian tới 17:51, thời điểm ba tên cướp đeo mặt nạ xông vào tòa nhà.

Đoạn phim dài cả thảy năm giây. Không có tiếng, không màu sắc. Hình ảnh giật giật đúng như thường thấy khi xem băng ghi hình từ camera an ninh.

Một cái gáy xuất hiện. Đó là thứ đầu tiên camera ghi lại được. Một cái đầu đen thui với hai tai phồng lên, và sau đó một bước chân, tới lượt cái cổ đen hiện ra.

Broncks xem tiếp từng khung hình một.

Cái đầu đen và thân trên xoay lại nửa vòng, nhìn vào camera, giơ vũ khi lên, ngắm vào mục tiêu.

Từng khung hình. Mày thấy tao. Từng khoảnh khắc. Tao thấy mày.

Nhìn thẳng vào mắt - không giận dữ, sợ hãi, căng thẳng.

Pia Lindhe (PL): Chúng sực mùi. Những đôi bốt ấy. Có mùi như xi giày. Anh biết đấy, một mùi giống như xăng và kẹo bơ, giày vừa đánh xi bao giờ cũng có mùi ấy.

Người phụ nữ này khi ấy bước tới quầy thu ngân, tay phải cầm túi nylon, tay trái cầm theo phiếu thứ tự, đã tới lượt cô. Chính khoảnh khắc đó cô nhận thức được rằng có kẻ đang xả súng, và cô cố thấu hiểu một thứ mà mình chưa từng chứng kiến, thu nhận từng chi tiết mà không có điểm quy chiếu nào, không một quy luật, một hố đen trước tiên khiến cô tê liệt, sau đó hoảng hốt, thúc đẩy cô nằm mẹp ra sàn trong khi vụ xả súng vẫn tiếp diễn và bản năng sinh tồn choán hết tâm trí cô.

PL: Giày chúng mang bóng loáng. Khi nhìn kỹ, tôi còn thấy hình ảnh... chính mình trong đó.

Cô không nằm xuống, không che đỡ cho mình, cảm giác như thể tất cả xương cốt, gân khớp cô đều tê liệt. Chẳng có một cử động nào hết, đó chỉ là ngã lăn ra. Cô ngã vật ra nhanh hết mức, nằm bẹp dưới sàn. Và mặc dù sợ hãi tới mức không còn hiểu được những gì đang xảy ra xung quanh, cô ngẩng đầu lên vì tò mò, nhìn bộ mặt đeo mặt nạ.

John Broncks nhấp chuột lên thanh hiển thị thời gian, dừng hình lại.

Suốt buổi phỏng vấn cô ngồi trước mặt anh, dựa vào cửa kính ngân hàng, một tai chảy máu, ít nhất do một bên màng nhĩ bị thủng. Sau đó, cô nằm vật ra, kiệt sức, vẫn khóc nức nở sau vụ tấn công - chúng lao tới như một đội hành quyết, xử tử bất kỳ ai bị bịt mắt đứng trước mặt mình, khủng bố bắt tất cả mọi người phải phục tùng.

“John?”

Sanna đang đứng ở ngưỡng cửa phòng anh, hệt như lần trước. Dù đã rất muộn, cô vẫn còn ở lại sở.

“Em đã phân tích xong. Camera Một - mười tám phát súng khiến nó vỡ tan. Camera Hai - mười lăm phát súng làm nó bung ra và rơi xuống sàn. Kính an toàn lãnh ba mươi tư phát, két sắt lĩnh mười hai phát, và sau cùng trước khi bỏ trốn, chúng còn bắn hai phát lên trần. Em đã kiểm tra thêm lượt nữa. Cả thảy tám mươi mốt phát súng được bắn ra trong ngân hàng đó. Như thế nghĩa là nếu dựa trên những con số hiện có, đây là một trong những vụ cướp ngân hàng bạo lực nhất từ xưa đến nay tại châu Âu.”

Cô thay đổi tư thế, tựa hẳn vào khung cửa. Cô định đứng lại đó.

“Súng FMJ, đạn cỡ 7,62. Do quân đội Thụy Điển sản xuất tại Karlsborg, năm 1980.”

“Thì sao?”

“Em không thể xác định chúng có phải cùng một loại vũ khí, cùng nghi phạm trong vụ cướp xe chở tiền hay không.”

“Nhưng em cũng không loại trừ được khả năng đó?”

“Một thám tử có thể tìm ra những quy luật cho thấy điều đó, John ạ. Nhưng không có chứng cứ nào cả.”

“Ý em là chúng ta có thể đang phải đối mặt với hai băng cướp được trang bị vũ khí quân dụng, gây ra những vụ cướp trên cùng một khu vực, cùng khoảng thời gian này?”

“Ý em không phải thế. Nhưng những chứng cứ pháp y không loại trừ khả năng đó.”

“Gần bốn mươi phát súng đã nổ ở Farsta. Và giờ... tám mươi mốt phát? Đầu tiên chúng xả súng vào một chiếc xe chở tiền, và sau đó là một ngân hàng. Chắc hẳn phải từ một vũ khí!”

“Không.”

“Không à?”

“Không có thứ gì được sử dụng hai lần cả. Em đã xác định chắc chắn tất cả những gì có thể.”

“Có quy luật hẳn hoi đấy. Hành động của chúng.”

“Phải. Nhưng không có chứng cứ nào.”

Anh nhìn cô.

“Thế còn nếu anh muốn nghe thêm một lần nữa ý nghĩ của Sanna, chứ không phải những gì một nhân viên pháp y xác định được thì sao?”

“Có một số... động tác lặp đi lặp lại. Camera Hai. Hình ảnh ghi lại khoảnh khắc ngay trước khi nó bị bắn rụng ấy.”

Anh xoay màn hình máy tính về phía cô trong khi cô nói.

“Đầu gối chùng xuống. Trọng tâm hạ thấp. Đó chính xác là những lời nhân viên an ninh đã nói khi anh phỏng vấn anh ta cạnh chiếc xe chở tiền. Và giờ - anh thấy không? Tay súng này có dáng đứng giống y như vậy.”

Hình ảnh giật, không có âm thanh. Nhưng rất rõ ràng.

“Và sau đó, nhìn ngón tay hắn này, nếu anh có thể phóng hình cho lớn hơn một chút... rõ ràng được đặt trên vòng bảo vệ quanh cò súng, hoàn toàn thẳng song song với nòng súng - như thể hắn đang chỉ về phía chúng ta.”

Vài khuôn hình nữa, rồi Broncks lại dừng đoạn phim và nhìn cận cảnh bàn tay đeo găng.

“Kỷ luật, John ạ. Không bao giờ để lộ đồng bọn, mỗi phát súng đều phải chắc chắn. Tên cướp này không đặt tay trên cò súng cho tới ngay trước khi nhả đạn - hắn muốn đảm bảo an toàn - chứng tỏ hắn không phải tự học. Hắn được dạy dỗ đàng hoàng. Hắn đã tập đứng đúng tư thế bắn súng hàng nghìn lần. Hắn đã được huấn luyện.”

Chỉ hai dặm rưỡi ngăn cách hai hiện trường. Chỉ bảy tuần giữa hai vụ cướp.

Tuy thế - chứng cứ pháp y chỉ ra điều hoàn toàn khác.

Những vụ này có thể đã được thực hiện bởi những kẻ khác nhau.

Năm giờ mười phút. Còn lâu trời mới sáng. Nếu lắng nghe, anh có thể nghe được tiếng Anneli ngáy khe khẽ trên lầu, và anh biết cô vẫn sẽ còn ngủ nhiều giờ nữa, trong khi anh thì ngược lại, không ngủ để lĩnh hội hoàn toàn những gì đã xảy ra hôm qua và chuẩn bị cho giai đoạn cuối cùng của vụ cướp.

Với chiếc hòm nặng hai mươi bảy cân trên vai, Leo bước ngang qua khoảnh sân giữa những bông tuyết đầu tiên của mùa đông. Chúng mới chỉ tạo nên một thứ bột xốp dày vài phân, đôi giày của anh bị phủ một lớp tuyết trắng nhưng vẫn không ướt. Khi đã bước tới giữa sân, anh dừng lại. Một cảm giác dễ chịu dâng lên trong lồng ngực. Những hơi thở sâu của anh biến thành khói, những phân tử ấm di chuyển nhanh hơn những gì bao quanh chúng - giống như ba tên cướp xông vào ngân hàng cuỗm đi mọi thứ bằng cách di chuyển nhanh hơn những người xung quanh, bị bất ngờ và không động đậy gì cả. Vài lần trong đêm, anh ngồi dậy, ra khỏi giường để đọc tờ Teletext và nghe radio. Cảnh sát vẫn chưa tìm được manh mối gì. Kế hoạch hoàn hảo của anh cũng đã được thực hiện thật hoàn hảo.

Anh mở khóa garage rồi bật đèn. Bên trong cũng lạnh chẳng khác gì ngoài trời, và anh kéo hai chiếc máy sưởi lại gần nhau, sau đó cầm chiếc cưa đĩa lên bắt đầu cắt tấm gỗ dán lớn nằm trên bàn ra thành nhiều miếng bằng nhau.

Cho tới khi một chiếc xe dừng lại bên ngoài.

“Năm quái nào cũng thế!”

Cửa kéo lên và một chiếc xe của công ty anh đi vào, cửa sổ đóng kín.

“Bọn ngu không bao giờ chịu thay lốp!”

Felix bận quần áo lao động, tóc rối bù, đôi mắt mệt mỏi tránh cái nhìn chằm chằm của anh trai.

“Mọi sự đang rối tinh lên ngoài kia!”

Nó không chờ đợi câu trả lời, thậm chí chẳng nhìn anh trai khi chui ra khỏi xe mà bước thẳng tới chỗ máy nén và máy bắn đinh, ghép những miếng gỗ dài bằng nhau thành mấy chiếc hộp.

“Felix?”

Thái độ khó chịu và những động tác vùng vằng này Leo đã học cách thấu hiểu từ lâu. Anh chờ thêm một lúc, thường thường bao giờ đó cũng là điều hợp lý nhất, sau đó mở hòm lấy ra ba khẩu súng có băng đỏ đánh dấu - hai khẩu từ vụ Svedmyra và một khẩu từ vụ Farsta - rồi bắt đầu tháo rời ra thành bốn mươi tám bộ phận riêng biệt.

Ba nòng súng cùng ba báng súng được xếp thành từng cụm riêng biệt trên bàn cạnh cái ê tô. Anh bắt đầu với nòng súng dài nhất của khẩu súng máy - kẹp nó cho chắc, thay đổi lưỡi cưa, rồi cắt nó làm ba đoạn. Sau đó căn phòng lại chìm vào im lặng.

“Coi nào, Felix? Bọn ta vừa mới cướp một ngân hàng khốn kiếp hôm qua cơ mà!”

Felix cho nước đầy một phần ba máy trộn bê tông, sau đó nhấc một bao xi măng lổn nhổn. Bụi bay mù mịt khi nó đổ xi măng vào máy. Cái máy quay quá nhanh, phát ra quá nhiều tiếng ồn - nếu tâm trí thoải mái, hẳn nó sẽ làm ăn cẩn thận hơn, không càu nhàu về những kẻ đi trên đường mà không thay lốp.

“Felix? Tao thấy rõ ràng có chuyện gì không ổn.”

Chiếc máy trộn bê tông quay vòng vòng, phát ra những tiếng đều đều, cho tới khi Felix lật cái máy đổ vữa vào xô đặt trên sàn.

“Nó phải thôi ngay đi.”

“Đứa nào?”

“Cứ thôi đi là xong chuyện!”

“Đứa nào?”

“Jasper.”

Felix nhấc cái xô lên rồi đổ xi măng vào mấy chiếc hộp mới ráp.

“Nó phải thôi bới móc Vincent đi. Lúc nào cũng thế! Từng lỗi dù là nhỏ nhất! Mỗi khi thằng bé đứng sai tư thế trong tầm bắn, hay dừng lại vài giây chó chết bên ngoài ngân hàng, cả lúc chúng ta tập luyện ở đây nữa, nó luôn mồm hò hét hệt như lão Ivan.”

Khi những chiếc hộp đã đầy một nửa, Leo dùng búa đập bẹp từng con ốc, sau đó nhét chúng dưới lớp xi măng cùng với những mẩu pit tông và ốc vít.

“Lẽ ra anh cũng phải thấy chứ, Leo? Việc này liên quan tới Vincent, em trai mình!”

“Bọn ta là một đội. Và tao đang cố giữ cho cả nhóm gắn bó với nhau.”

“Còn nó thì lắm mồm quá. Đi khắp nơi với cái áo da mà nó bỏ năm nghìn ra mua, hôm nào cũng đi đúng đôi bốt ấy, Fly High, hay một cái tên chó chết nào đại loại thế, và...”

“Giày Hi-Tec Magnum.”

“Em đếch thèm quan tâm nó được gọi là gì! Nó đi vòng quanh trong bộ dạng như một gã cớm ấy, huyên thuyên chuyện nó đã từng trong đội Đặc nhiệm hay...”

“Mày nói nó làm gì cơ?”

“Sau khi gọi một cốc bia trong quán, uống được hai ngụm, Jasper bắt đầu kể với tất cả những ai muốn nghe rằng nó đã từng tham gia đội đặc nhiệm nào đó và...”

“Khi đó nó vẫn đi đúng đôi bốt ấy?”

Chiếc hộp cuối cùng - từng bộ phận vũ khi chìm trong xi măng.

“Felix? Khi đó nó có đi cùng đôi bốt như lúc trong ngân hàng - và trên xe chở tiền?”

“Đúng đôi bốt ấy.”

Leo mang những chiếc hộp nặng trịch đặt lên thùng xe, kéo tấm phủ trùm lên trên. Sau đó anh ngẩng lên nhìn qua tấm kính trên trần, bầu trời còn chưa sáng hẳn. Cảm giác dễ chịu không còn nữa. Lên kế hoạch kỹ càng vẫn chưa đủ - từng giây phút, lớp ngụy trang, từng cử động, tiếng nói, chiếc xe để tẩu thoát. Sau đó, không hướng dẫn hay đặt ra luật lệ gì, khi cuộc sống trở lại bình thường, anh đã không tiếp tục kiểm soát bọn chúng nữa. Những dấu vết duy nhất còn lại là những gì ta bày ra có chủ ý. Anh phải giải thích rõ ràng hơn, đầy đủ hơn, buộc chúng phải hết lòng.

Không khí mát lạnh. Những bông tuyết rải rác lóng lánh.

Cảm giác ấy không còn nữa, và anh phải làm sao tìm lại được nó.

Không khí thoang thoảng mùi chanh. Và bụi. Tấm giẻ lau bẩn thỉu đập đều đều vào chân tường - John Broncks đoán là ở trên anh hai tầng nhà.

Bình thường có mấy khi ai lau cầu thang đó đâu. Mà lại vào lúc sáng sớm như thế này? Có lẽ từ giờ anh nên để ý đọc những ghi chú gắn trên bảng tin gần cửa ra vào.

Anh rảo bước ra khỏi tòa nhà anh đã sống quá lâu, nơi anh biết mặt tất cả mọi người mà không biết tên ai, ra khỏi căn hộ tầng trệt một phòng ngủ ở mạn Tây Sodermalm này. Không khí buổi sáng lạnh và ẩm. Anh đi ngang qua quán cà phê Ý, bao giờ cũng gật đầu một cái qua cửa kính mờ với chủ quán đang xay cà phê sau quầy.

Bảy tuần giữa hai vụ cướp. Hai dặm rưỡi ngăn cách hai hiện trường.

Và còn dùng vũ khí quân dụng nữa.

Anh đã kiểm tra lại từng vụ việc đang điều tra liên quan tới ăn cắp vũ khí tại các kho chứa của quân đội. Lần tìm kiếm này anh đã ghi thêm cả vũ khí hạng nặng, KSP 58, một loại súng cực hiếm ngoài chợ đen - những vụ ăn cắp vũ khí mạnh đến thế bao giờ cũng khiến cảnh sát để mắt tới.

Không thấy gì. Trong bất kỳ hồ sơ nào.

Phần đường dành cho người đi bộ vắt ngang phố Langholms. Ba mươi nghìn chiếc xe đi qua đây mỗi ngày. Broncks thường cố nín thở khi chạy vụt qua đó, cho tới khi sang đến con dốc đầy tuyết phía bên kia.

Anh chỉ ngủ có ba tiếng, nhưng vẫn tỉnh như sáo.

Anh về tới nhà lúc ba rưỡi sáng, lên giường ngay lập tức, nhưng vẫn để đèn ngủ, so sánh hai đoạn video dài năm và mười hai giây từ camera tại ngân hàng với hai mươi phút của vụ cướp xe chở tiền. Mấy tay người Trung Đông được coi là thủ phạm của vụ việc cách đây bảy tuần. Hôm qua, một băng cướp có kỷ luật và dáng vẻ như quân đội. Chỉ tới khi tắt đèn anh mới nhận ra chỉ duy nhất một người có thể cho anh biết chúng có phải là một hay không - nhân chứng đó sống trong một căn hộ chỉ cách nhà anh có mười phút đi bộ.

Đi xuống đồi, qua một trụ đèn giao thông lúc nào cũng hiện đèn đỏ, ngang qua cầu tiến về phía Reimersholme, một góc buồn tẻ và bị quên lãng của Stockholm nơi những tòa nhà được xây dựng từ thập kỷ 40 nằm cạnh một con kênh. Từng đàn thiên nga lượn qua trước mặt hai bà già cầm túi nylon đựng bánh mì cũ. Broncks trân trọng tất cả những bộ mặt khác nhau của thành phố này. Nơi đây, chỉ cách con đường đầy khói xe đến nỗi anh phải nín thở chưa đầy ba trăm mét, thiên nhiên vẫn ngự trị.

Một ki ốt nhỏ nằm bên kia cầu, do một thanh niên trẻ gốc Kuwait làm chủ, người luôn mở cửa mỗi sáng sớm và lúc nào cũng thân thiện. Broncks dừng lại, mua đồ ăn sáng - một lon Coca-Cola, một thanh kẹo và mấy tờ báo.

Anh đi qua ki ốt một quãng rồi rẽ ngang, vừa đi vừa xem những dòng tít trên báo - VỤ CƯỚP BẠO LỰC NHẤT CHÂU ÂU - những chi tiết anh đã bảo người phụ trách truyền thông công bố với báo chí - 81 PHÁT SÚNG - ta phải cho đi một chút thì mới giữ được phần lớn cho riêng mình - VŨ KHÍ QUÂN DỤNG - sự cân bằng giữa một bên là tính bảo mật cần thiết trong ngành cảnh sát, một bên là sự công khai mà những người trả tiền cho ngành cảnh sát ấy đòi hỏi. Sau những dòng tít và các giả thiết trên trang 8,9,10,11 ở cả hai tờ báo dẫn lời những nhân vật có vai trò quan trọng trong quá trình điều tra, điều mà anh biết thông thường chỉ có nghĩa tay nhà báo này ngồi đoán mò với tay nhà báo khác - một nguồn tin cho hay bốn tên cướp đều là lính đánh thuê, lính bảo vệ hòa bình của Liên Hiệp Quốc, hoặc lính giải ngũ từ khối Đông Âu xưa kia.

Ngôi nhà nằm cuối phố, gần cánh rừng và đường đi bộ. Những giá để thuyền phủ trắng những bông tuyết đầu tiên. Cả chỗ bơi lội và bến thuyền trải dài xuống mặt nước mằn mặn cũng thế.

Anh đi vào theo lối cửa trước. Đó là một tòa căn hộ xây dựng theo kiểu thập niên bốn mươi với lan can và thang máy đặc trưng của thời kỳ đó. Lên tầng năm. Bốn cánh cửa xoay về bên này, không cửa nào ghi cái tên mà anh đang tìm, bốn cánh cửa xoay về phía bên kia, và trên cánh cửa thứ ba, LINDÉN.

Anh bấm chuông cửa, rồi chờ đợi.

Tên chủ nhà được ghi bằng chữ trắng trên nền xanh da trời. Bên trên đó treo một bức vẽ bằng chì sáp và màu nước xanh lá cây, bốn vòng tròn với bốn đường thẳng, đúng là một hình vẽ người que của trẻ con. Hai vòng lớn, hai vòng nhỏ. Bố, mẹ, các con. Gia đình.

Anh bấm chuông lần nữa.

“Gì thế?”

Một ông già bảy mươi mở cửa. Không thấy ông ta trong bức vẽ.

“Tôi đang tìm gặp Jan Lindén.”

Broncks giơ phù hiệu lên.

“Tôi là John Broncks. Cảnh sát thành phố. Việc này liên quan tới...”

“Tôi biết chuyện này liên quan tới cái gì. Nhưng con trai tôi không được khỏe. Tốt hơn là anh nên quay lại đây vào lúc khác.”

Một người đáng tuổi bố anh. Giọng nói thân thiện, khuôn mặt thân thiện. Nhưng ông ta không bao giờ là bố của John được.

“Tôi chỉ cần gặp anh ấy mười phút thôi. Sau đó tôi xin hứa sẽ rời khỏi đây ngay.”

Ông già do dự, nhưng không phải vì bản thân mình.

“Vậy tôi sẽ xem nó có nói chuyện với anh được không.”

Lẽ ra ông ta có thể là người thứ năm trong bức tranh kia, người ông với bộ râu dài. Ông ta đi khuất vào căn phòng có lẽ là phòng khách, và Broncks thoáng thấy cái tivi và bàn uống nước. Căn phòng bên cạnh để ngỏ cửa, đó là phòng trẻ con. Trong phòng, một con robot bóng loáng đứng gác trên chiếc ghế nhựa, những bức vẽ treo trên tường, bộ chăn gối in hình những con cá lớn bơi lội trải trên chiếc giường tầng bằng gỗ thông. Theo như buổi thẩm vấn lần trước, Jan Lindén đã lấy hai tấm ảnh ra khỏi ví trong vụ cướp. Một tấm ảnh đã mờ chụp hình một đứa trẻ xinh xắn đang mỉm cười về phía ống kính, đôi tất đá bóng cuộn xuống dưới. Bức còn lại chụp một đứa bé sún hai răng cửa đang thổi nến trên bánh sinh nhật.

“Anh có thể vào được rồi. Nhưng chỉ mười phút thôi đấy.”

John Broncks cởi giày, toan bước qua ngưỡng cửa vào phòng khách nhưng ông già ngăn lại.

“Tôi muốn anh nhắc lại câu đó.”

“Tôi sẽ rời khỏi đây sau mười phút.”

“Tốt. Trong khi đó, anh có thể ngồi xuống đây.”

Chiếc sofa quá thấp anh không ngồi thẳng được, trong khi mặt ghế giả da khiến lưng anh ngứa ran. Trên tường treo đủ những thứ mà tường nhà anh không có. Những con ngựa gỗ Dala màu cam treo cạnh những mặt nạ Phi châu sản xuất tại Trung Quốc. Một lúc sau anh đứng dậy vì không thể chịu nổi cái cảm giác kỳ quặc ấy. Chỉ những vị khách nào được chủ nhà nghênh đón nồng nhiệt thì mới nên ngồi trên sofa.

Có tiếng bước chân chầm chậm, kéo lê trên mặt sàn gỗ.

“Xin chào. Tôi là John Broncks. Chúng ta đã gặp nhau ở Skondal. Ngay... sau đó.”

“Sau đó?”

Đó là một người mà sau hai tháng vẫn đang sống chật vật từng ngày, khóc lóc, gào thét, đang trong quá trình điều trị. Broncks đã gặp anh ta trước kia, hay những người khác giống như thế. Một số người thì hồi phục. Số khác không bao giờ tiếp tục cuộc sống bình thường được nữa.

“Cạnh xe cứu thương. Chúng ta đã nói chuyện với nhau.”

Đôi mắt vô hồn hướng về anh mà không nhìn gì cả.

“Và giờ tôi lại có chuyện muốn nói với anh đây.”

Ông bố đã về hưu đỡ người con trạc bốn mươi đứng cho thẳng. Đôi tất bông của anh ta không có ngón, hai đầu gối chẳng nhìn thấy dưới chiếc quần thể thao, mấy sợi râu ngắn mọc trên cằm, mái tóc thưa không gội phủ lên đôi mắt phiền muộn - như thể anh ta cảm thấy ngượng ngập, không muốn người ta nhìn thấy mình trong bộ dạng này - người nhân viên an ninh khốn khổ.

“Hắn... hắn nói.”

Lindén ngồi phịch lên ghế sofa chỗ Broncks vừa ngồi.

“Từ đầu đến cuối. Khi hắn thọc súng vào miệng tôi.”

“Hắn nói... gì?”

“Bắn. Bắn hắn.”

Bóng tối trở thành nỗi bồn chồn, dẫn tới chứng mất ngủ mà rồi lại khiến bóng tối càng dày đặc thêm. John Broncks tin là mình hiểu điều này. Đã có thời anh sống y hệt như vậy.

“Đây.”

Một chiếc phong bì với hai tấm ảnh đen trắng, hình ảnh chụp lại từ đoạn video, Broncks đặt chúng lên mặt bàn kính. “Những tên mà anh từng nhìn thấy...”

Nằm bên trái, từ CAMERA MỘT, chụp từ trên xuống, ảnh phóng to đôi mắt và cái miệng.

“... chúng có giống...”

Nằm bên phải, từ CAMERA HAI, bức ảnh góc rộng hơn chụp chúng trong tư thế sắp sửa nổ súng.

“... ai trong số hai tên này không?”

Lindén với bàn tay run run kéo những tấm ảnh đen trắng lại gần.

“Đây... là gì?”

“Hôm qua, lúc năm giờ năm mốt phút chiều, một vụ cướp ngân hàng đã xảy ra ở Svedmyra. Nếu so sánh với hai tên trong vụ cướp ở Farsta - anh có thấy điểm gì giống nhau không?”

Lindén cố cầm hai tấm ảnh lên nhưng vô hiệu, giấy ảnh tuột khỏi những ngón tay ẩm ướt của anh ta.

“Hôm qua à?”

“Phải.”

“Năm giờ năm mốt?”

“Đúng.”

Anh ta cố kéo những tấm ảnh lại gần, nhưng chúng lại dính xuống bàn kính. Vậy là anh ta bỏ cuộc, khoanh tay trước bụng như để tự bảo vệ mình.

“Khi đã xong, một trong hai tên xoay người lại. Không phải kẻ đã cướp thẻ tên của bọn tôi đâu. Là tên còn lại, đứa lúc nào cũng điềm tĩnh ấy. Hắn chẳng vội vã gì, bước tới ghế trước và...”

“Jan?”

“... hắn cử động tay vài lần như tôi đang làm đây. Rồi tôi nghe thấy tiếng kính vỡ rơi xuống sàn xe. Làm thế để mày không bị đứt tay. Hắn nói thế. ‘Để mày không đứt tay.’ “

“Jan, nếu con thấy chưa được khỏe thì thôi.”

“Hắn gạt kính đi để chúng tôi khỏi bị thương. Anh thấy không? Đầu tiên hắn nói, ‘Bắn hắn.’ Sau đó thì lại...”

“Jan, anh ta đã ở đây được mười phút rồi. Ban nãy ta đã hứa cuộc gặp mặt chỉ kéo dài thế thôi.”

“... gạt kính vỡ? Tôi không hiểu. Tôi không hiểu.”

Bố Jan Lindén không thể bảo được anh ta, con trai ông ta thậm chí còn không nghe thấy gì. Vậy là ông ta cúi người gạt những tấm ảnh trên bàn xuống đất.

“Cầm lấy rồi cút đi.”

“Thêm một câu hỏi nữa thôi. Tên cướp gạt kính vỡ ấy, anh thử so sánh hắn với những tấm ảnh này, hắn có phải một trong số chúng không...”

“Đủ rồi!”

Một ông bố lúc nào cũng che chở cho con trai mình.

“Những tấm ảnh đó đâu phải chụp trong phim! Anh là cảnh sát mà không thấy sao? Đây không phải là một cuốn băng video khốn kiếp anh thuê rồi trả lại muộn, sau đó trả thêm năm mươi krona cho cửa hàng và... mọi thứ lại đâu vào đấy. Đây là chuyện thật!”

“Tôi biết đây là chuyện thật. Tôi sống cùng nó suốt đêm ngày. Nhưng con trai ông là người duy nhất có thể giúp tôi điều tra, ngăn chặn những tên khốn kia để không ai còn phải chịu đựng những gì mà anh ấy đã trải qua.”

Cả hai tấm ảnh nằm cạnh chân bàn uống nước trên mặt thảm lởm chởm - chúng nằm lật ngửa, và cả ba người cùng cúi xuống nhìn.

Cho tới khi bố Jan Lindén ngồi xuống ghế, cạnh con trai mình.

“Hãy nhặt những tấm ảnh của anh lên.”

“Chỉ một câu hỏi nữa thôi.”

“Nhặt lên.”

Broncks quỳ xuống cạy hai tấm ảnh đang bị mắc trên mặt thảm.

“Cảm ơn.”

Ông già đưa tay ra.

“Anh đưa chúng cho tôi được không?”

Ông cầm lấy chúng rồi giơ ra trước mặt con mình.

“Jan?”

Jan Lindén nãy giờ nhắm nghiền mắt, không còn để ý gì nữa. Giờ anh ta nhìn những tấm ảnh trong tay cha mình.

“Xem đi. Jan à, cứ nói đi. Chúng không thể trả thù con được nữa.”

Lindén nhìn, rất lâu, không biểu lộ gì.

“Có phải chúng không, Jan, có phải không?”

Anh ta nhấc ngón tay run run, chỉ vào một tấm ảnh.

“Hắn.”

“Anh nhận ra hắn à?”

“Hắn là kẻ chĩa súng vào tôi. Tôi nhận ra rồi. Trên bờ hồ, khi đã ra khỏi xe.”

“Anh chắc chứ?”

“Hắn đứng đúng thế này. Chùng xuống, cầm súng thế này. Đôi mắt cũng đúng như thế này.”

Người nhân viên an ninh sau đó lê bước khỏi phòng y như khi anh ta đã lê bước vào khi nãy.

John Broncks im lặng gật đầu tỏ ý cảm ơn ông bố, sau đó rời khỏi căn hộ, bỏ lại người đàn ông có lẽ sẽ không bao giờ còn tiếp tục cuộc sống bình thường mà không cần thuốc thang, người sau nhiều năm sống tàn phế sẽ về hưu sớm, nhận khoản tiền 29.200 krona vì những tội ác mình phải chịu đựng. Mọi chuyện rồi sẽ như thế đấy. Một tên cướp ngân hàng không chỉ cướp tiền khỏi két, hắn cướp đi thứ mà ta vẫn thường coi là hiển nhiên, hắn cướp đi cảm giác an toàn của ta, và đó mới là tội ác thực sự mà một ngày nào đó hắn phải bị đưa ra xét xử, tội danh cướp có vũ trang nên được thay bằng đánh cắp sự an toàn.

Tuyết vẫn rơi. Cả sáng nay Leo lái xe, Felix ngồi ở ghế bên. Thỉnh thoảng anh dừng lại giữa dòng xe, cố gọi Jasper qua điện thoại mà không được. Anh chờ ngoài ki ốt, trong khi Felix vào mua bốn tờ báo từ những tòa soạn danh tiếng ở Stockholm. Sau đó, họ đi tiếp dọc đường Hornsgatan tới quán cà phê đối diện cửa hàng làm tóc giả ở Folk Opera. Tại đó, họ gọi hai tách cà phê và bánh sandwich rồi so sánh những dòng tít trên trang nhất mấy tờ báo. Khi uống tới tách thứ hai, Vincent tới mang theo hai tờ báo địa phương là SydsvenskanGothenburg Post mua ở ki ốt tại Nhà ga Trung tâm. Những dòng tít được in nhỏ hơn, nhưng vẫn trên trang nhất. Thêm một chiếc sandwich và bánh quế được gọi ra. Leo rời đi sau khi đã uống hết cốc cà phê thứ ba, trả tiền bằng mấy tờ 20 krona bẩn thỉu lấy ra từ quầy thu ngân của ngân hàng trước đó có mười lăm tiếng đồng hồ. Anh ôm mấy đứa em như thường lệ, cảm nhận sự thư thái của chúng - anh biết đây là quãng thời gian tuyệt vời nhất, ngay sau một phi vụ thành công trong khi còn vài tuần nữa mới tới vụ tiếp theo.

Anh lái xe xuôi xuống phía Nam dọc phố Ring, mỗi lần anh đạp phanh, mỗi lần gặp phải ổ gà, năm chiếc hộp gỗ chứa đầy các bộ phận súng ống lại đập vào thùng xe tải. Anh đi về phía Svedmyra. Đi vòng thế này mất thêm mười phút, nhưng anh không kìm nổi. Khi tới đó, anh đi vòng quanh cái bùng binh hai vòng.

Chỗ đó nhìn khác hẳn trong ánh sáng ban ngày.

Bãi đỗ xe đã được rào lại, chiếc xe tẩu thoát thì bị kéo đi. Những dải băng của cảnh sát bay phấp phới quanh quảng trường và ngân hàng. Ngoại trừ vài người vào quán pizza bên cạnh, chỗ đó gần như vắng tanh. Cảnh vật trái ngược hẳn với 180 giây đầy bạo lực, sợ hãi, điên rồ kia và giờ khi quan sát nó ta có cảm giác như chuyện đó chỉ là hư ảo, chưa từng xảy ra.

Anh vẫn gọi Jasper nhưng nó không nhấc máy. Vậy là Leo quyết định đến tận căn hộ nó ở mà gọi cửa. Đi xuyên qua những ngôi nhà nhỏ trên đường Socken, tới những tòa căn hộ cũ kỹ của quận Bagarmossen bên rìa một khu bảo tồn thiên nhiên lớn.

Tầng hai. Chuông cửa kêu đùng đục như thể cái chuông kim loại bị lỏng. Anh đập cửa, đẩy khe đưa thư, cúi xuống mà gọi vào bên trong.

Mất vài phút. Rồi Jasper đầu tóc rối bù, trên người bận mỗi chiếc quần lót trắng ra mở cửa, vẻ mặt sung sướng và tự hào như thường lệ trong những lần ít ỏi Leo tới thăm.

Một hành lang hẹp. Những chiếc bốt nặng trịch trên giá. Nhưng nó không đi đôi đó khi cướp ngân hàng hay vào quán bar. Jasper vào bếp, sau đó có tiếng tủ bếp mở ra và cốc chén leng keng. Nó đem ra một cốc còn nóng đang bốc khói.

“Cà phê pha thêm ít sữa. Đúng kiểu mày thích này.”

Đó là một căn hộ thuê, chỉ có độc một phòng. Những tấm rèm đen ngăn ra một phòng khách có ghế sofa, bàn uống nước và tivi. Và chiếc tủ. Điện thờ.

Suppr Tập một Súng Ruger MKI và súng lục tự động tiêu chuẩn.

Suppr Tập hai Súng Ruger 10/22.

Chúng được đặt thành từng hàng ngay ngắn - những cuốn sách mỏng, sách hướng dẫn, vài cuốn sách nhỏ.

Suppr Tập ba Súng trường AR-7 đặt cạnh Suppr Tập bốn Súng bán tự động UZI & SMG rồi tới cuốn Nòng giảm thanh Hayduke, cuốn Tự chế nòng giảm thanh tại nhà và cuốn Áo chống đạn Mỹ.

Chúng là nửa kia giáo trình mà Vincent chưa được nhận. Bên cạnh những cuốn sách là một lưỡi lê và mũ nồi xanh có đính huy hiệu vàng, giống với chiếc mũ Leo được nhận - chính vì lý do này mà Jasper đã đăng tuyển vào đúng trung đoàn đó, thực hiện nghĩa vụ quân sự giống hệt như anh trong hai năm. Rồi tới một tấm ảnh đặt trong khung mạ vàng, Jasper mặc bộ áo liền quần trắng như tuyết, dưới nách kẹp một khẩu súng nạp đạn trong một buổi tập những tình huống sống còn.

Đó là điện thờ của Jasper. Một thế giới có ý nghĩa cực lớn với nó, mặc dù ngược lại nó chẳng có ý nghĩa gì với cái thế giới ấy cả. Cả cuộc đời nó từng xoay quanh ước mơ một ngày nào đó trở thành sĩ quan. Nhưng người ta nghĩ nó không đủ khả năng lãnh đạo và vậy là điểm cuối kỳ của nó thấp đến nỗi nó không còn ở lại quân ngũ được nữa.

Nỗi khao khát đó có lúc làm nó không thể kiềm chế nổi.

Thí dụ như có lần Jasper đã đi từ chỗ trung đoàn của mình ở Norrland tới Stockholm trong kỳ nghỉ phép đầu tiên, đứng cúi người ra trước đúng tư thế cầm súng suốt cả hai ngày nghỉ cuối tuần, lúc nào cũng chầu chực. Chiếc mũ nồi đội một cách hoàn hảo trên mái tóc rẽ ngôi, cúc áo cài thẳng thớm, khăn quàng gấp thành những nếp tính tươm, đôi bốt bóng loáng. Nó đi đâu cũng hệt như đang diễu hành.

Họ vào bếp lấy thêm cà phê.

Tờ Tin tức hằng ngày mới ra buổi sáng nằm giữa mặt bàn bếp. Cả một trang lớn đưa tin về vụ cướp ngân hàng ở Svedmyra - những tấm ảnh lớn chụp lại những nhân chứng vẫn còn khiếp đảm đứng trên quảng trường. Bên trái tờ báo chính là đôi bốt đen, cổ cao lên tới giữa cẳng chân, mười tám lỗ xỏ dây, làm bằng da và vải chống thấm. Bên phải tờ báo - những hộp xi giày bằng thiếc và mấy tấm giẻ đánh bóng.

“Tao thức trắng cả đêm để chờ. Thế mà chẳng thấy tấm ảnh nào chụp cái camera bị tao bắn rơi.”

Leo nhìn Jasper. Anh phải giải thích rõ hơn cho nó hiểu.

“Jasper này?”

Rằng một tên cướp ngân hàng không chỉ là kẻ cướp khi đang còn ở đó. Tất cả những gì hắn làm phải là một phần diện mạo mới này. Trước, trong, và sau vụ cướp.

“Mày chỉ có thể thành công nếu hòa nhập làm một với công việc của mình.”

Leo chạm tay lên cả hai chiếc bốt. Da mềm, đế cứng bằng cao su. Linh hoạt hơn loại bốt truyền thống trong quân đội. Lớp da giãn ra một cách hoàn hảo.

“Những nghệ sĩ giỏi nhất vẫn là nghệ sĩ khi về nhà dùng bữa tối. Những tay chơi chứng khoán giỏi vẫn cứ là những tay chơi chứng khoán sau năm giờ chiều. Giờ mày là kẻ cướp ngân hàng. Mày phải thống nhất. Mày vẫn phải là một tên cướp ngân hàng khi đã thoát khỏi tay cảnh sát. Chúng vẫn đang truy lùng chúng ta. Chúng đang ngồi trong cái trụ sở khốn kiếp ở Kronoberg, cố điều tra chúng ta là ai. Và chỉ cần ta phạm phải dù chỉ một sai lầm, chúng sẽ lần ra ngay.”

Anh lật đôi bốt xuống, hai tấm lót bằng silicone ở gót rơi ra ngoài.

“Lúc nào mày cũng phải suy nghĩ và hít thở như một kẻ cướp ngân hàng.”

“Mấy tấm lót đó, mẹ kiếp, cẩn thận!”

“Thế nên mày không thể đi thứ này được nữa, Jasper à. Hiểu không? Không bao giờ nữa. Chúng ta sẽ đem đốt, rồi mua đôi mới.”

“Mày nói thế là ý gì?”

“Mày đã đi đôi này ở Farsta. Và cả hôm qua nữa. Rồi mày còn lê la các quán bar. Mẹ kiếp, Jasper! Chúng ta phải tiêu hủy tất cả những gì mình đã dùng. Mày biết thế mà.”

Jasper quỳ xuống cầm lấy hai tấm lót rơi dưới gầm bàn.

“Mày biết là tao... đôi bốt này... tao đã đi nhiều cho giãn ra vừa vặn rồi!”

Leo đứng trước mặt kẻ mà mới mấy tiếng đồng hồ trước đây còn xả súng giữa bao nhiêu người.

“Tao đã lau sạch, đánh xi và... mày biết là nó vừa vặn thật hoàn hảo!”

Một kẻ luôn muốn trở thành người mà mình không bao giờ vươn tới được. Và cũng như chiếc mũ nồi trên điện thờ, nó giữ chặt lấy những gì mà người khác không chịu dành cho mình. Giày Hi-tec Magnum. Loại bốt quân dụng bền nhất. Đầu tiên loại này được cảnh sát và đặc nhiệm Mỹ sử dụng, sau đó rồi tới cảnh sát Thụy Điển, mua tại cùng cửa hàng trên phố Svea.

“Tao biết mày thích đôi này lắm. Tao rất hiểu. Nhưng nếu chúng lấy dấu giày rồi tìm được đôi bốt khốn nạn này - coi như bọn ta tiêu đời.”

Leo vẫn đứng cầm đôi bốt, tay lôi từng ngăn kéo tủ bếp ra một.

“Tao sẽ mang chúng theo. Rồi đốt. Để mày không phải tự tay làm thế. Mày có túi nylon không?”

“Tao muốn tự tay làm.”

“Tao sẽ đốt chúng.”

Jasper nắm chặt tấm lót giày trong tay, sau đó mở một ngăn kéo đựng đầy túi nylon cũ, cầm đôi bốt bỏ vào, túi nylon kêu lạo xạo khi nó buộc hai quai lại với nhau rồi đưa cho Leo. “Tốt.”

Điện thờ bên trong chứa đầy sách hướng dẫn làm thuốc nổ.

Đôi bốt, nằm trên bàn sắp sửa được đánh xi, có ý nghĩa lớn lao với nó hơn hẳn nhiều người khác.

Những gì nó đang làm dường như đã vượt quá sức chịu đựng.

“Mày giỏi lắm, Jasper. Thật sự rất giỏi.”

“Cái gì?”

“Trong vụ cướp ấy. Mày không do dự một giây nào. Nếu không có mày, phi vụ đó chắc chắn không thể thực hiện được.”

Nụ cười trở lại trên môi Jasper, giống như khi nó nhận ra Leo trước cửa nhà mình, hay khi nó bưng ra mấy tách cà phê pha đúng lượng sữa chuẩn.

“Nhưng còn một điều nữa.”

“Gì thế?”

Nụ cười sung sướng trở nên băn khoăn.

“Nhìn tao đây, Jasper.”

“Sao?”

“Có một điều tao muốn mày phải để ý lần sau. Thực ra chúng ta đã nói chuyện này rồi.”

“Gì thế, Leo, tao phải làm gì? Tao sẵn sàng làm bất cứ điều gì, mày biết thế mà.”

“Khi tao nói dừng - mày phải dừng ngay.”

Jasper không kiểm soát bạo lực, nó để cho bạo lực kiểm soát mình. Nó mang bên mình giấc mơ theo nghiệp quân ngũ, và mặc dù không đủ khả năng, nó vẫn cố chứng tỏ người ta đã sai về mình bằng cách làm quá mọi chuyện lên.

“Khi hết thời gian, chúng ta phải rời ngân hàng ngay.”

Jasper không có cái công tắc nào để dừng lại cả, và nếu Leo không giúp nó tìm được, Jasper sẽ không chỉ bắn két sắt và camera an ninh. Nó sẽ bắn xuyên qua đầu ai đó.

“Leo, mẹ kiếp, tao khoắng mấy cái két đó là vì lợi ích của cả nhóm! Tao đảm bảo chúng ta phải lấy được thứ mà mình muốn. Vả lại, tất cả những rắc rối đó lẽ ra đã không xảy ra nếu thằng Vincent không dừng lại bên ngoài như một thằng ngu, nó làm tao bị chậm!”

Jasper lôi một chiếc ghế ra rồi ngồi xuống.

“Leo, mẹ kiếp! Có một điều tao luôn nghĩ tới là làm sao chúng ta có thể tiến bộ hơn, hiệu quả hơn, vớ bẫm hơn. Mày... Leo à?”

Đôi mắt nó lộ vẻ vừa buồn bã vừa bực tức.

“Từ giờ cuộc đời tao là thế đó. Mày, Felix và Vincent. Tao chia sẻ mọi thứ với chúng mày.”

Leo ngồi xuống ghế đối diện với nó.

“Và cả nhóm cần mày. Tao đã nói với mày điều này rồi. Chúng ta sẽ không thể thực hiện nổi nếu không có mày. Mày biết thế mà.”

Hai người ngồi im lặng một lúc. Rồi Leo đứng lên cầm theo đôi bốt đựng trong túi nylon. Jasper lại mỉm cười.

“Nghe này... Tao cũng đang nghĩ tới một chuyện.”

“Gì thế’?”

“Lần sau. Ở Osmo. Trên đường về sau vụ cướp nhà băng kép... chúng ta có thể làm thêm một cú nữa.”

“Một cú nữa?”

“Ở Sorunda.”

Sorunda. Leo biết rõ ngân hàng đó ở đâu. Chỉ cách hai nhà băng nằm cạnh nhau ở Osmo có sáu dặm. Đó là một trong những mục tiêu anh đã thăm dò trước khi chọn Svedmyra. Nhưng khi đó anh chỉ coi nó là một mục tiêu đơn lẻ, không phải mục tiêu thứ ba khi cả nhóm đã trên đường phóng về nhà sau vụ cướp nhà băng kép đầu tiên trong lịch sử Thụy Điển.

“Đó là một ngân hàng lớn, Leo à. Nhưng vẫn có thể thực hiện được.”

Thấy Leo thực sự lắng nghe chăm chú, Jasper nói mạnh dạn hơn.

“Tao biết điều đó hoàn toàn có thể thực hiện được! Miễn là ta có cách nào lùa bọn cớm đi chỗ khác. Nếu chúng ta đe dọa... đánh bom.”

“Đe dọa đánh bom?”

“Ở Nhà ga Trung tâm. Hay sân bay Arlanda. Miễn là đủ xa khỏi chỗ đó.”

Leo tiến lên một bước.

“Chúng ta sẽ không đe dọa đánh bom ở Nhà ga Trung tâm.”

Jasper dò xét khuôn mặt Leo khi đó đang tiến lại gần và chỉ một thoáng sau đã lại đối diện với mình. Nó thực sự không hiểu. Giọng nói và ánh mắt của anh vẫn thân thiện, nhưng ý kiến của nó thì lại bị gạt phắt đi.

“Chà, nếu chúng ta...”

“Chúng ta sẽ không đe dọa đánh bom suông.”

Leo đặt chiếc túi đựng đôi bốt xuống sàn bếp.

“Chúng ta sẽ làm một quả bom thực sự.”

QUÁ NHIỀU NHỮNG NGÔI NHÀ đẹp đẽ. Appelviken. Vịnh Quả Táo. Đến cái tên cũng đẹp. John đã sống cả đời ở Stockholm nhưng lại chưa từng tới đây. Chỉ mất vài phút đi xe, anh đã bước vào một thế giới khác hẳn, như thể cả khu vực này được bao quanh bởi một hàng rào vô hình.

Anh lái xe dọc theo những đường ray hẹp của tuyến tàu điện Nockeby đến chỗ trường học, rồi đi theo những con phố hẹp, tới sát mặt hồ. Broncks kiểm tra tên và số nhà trên các thùng thư, rồi dừng lại trước cửa một ngôi nhà ngay cạnh hồ Malaren. Một lớp tuyết mỏng phủ trên thảm cỏ, anh gật đầu với bức tượng thần lùn trông cứ như đang đứng gác. Xung quanh bức tượng in dày dấu chân hai đứa trẻ và một người lớn - có lẽ là nghi lễ đặt bức tượng thần lùn bằng nhựa với nụ cười thường trực trên môi này.

Anh nhấn chuông cửa. Tấm thảm dưới chân anh ghi dòng chữ Mời vào. Anh có thể ngửi thấy mùi thức ăn bên trong. Những món ăn tại nhà rất tốn thời gian chế biến.

“Chào chú.”

Một cô bé, anh đoán là con gái lớn, sáu tuổi. Cô bé mặc đồ trắng, đội một vành vương miện bằng nến mừng Ngày thánh Lucia giống như mọi cô bé khác ở tuổi này trên khắp Thụy Điển.

“Chào cháu. Bố cháu có nhà không?”

Cô bé vuốt thẳng chiếc khăn quàng làm bằng giấy bóng.

“Cháu là Lucia. Chú là gì?”

“Chà, chú là... Chú Lùn Giáng sinh đây. Nào, bố cháu có nhà không?”

“Chú có phải Chú Lùn Giáng sinh đâu, mà là cháu chứ.”

Cô con gái nhỏ bước tới. Bốn tuổi. Bận bộ pyjamas lấp lánh.

Cô bé nhìn anh từ đầu đến chân.

“Chú thậm chí nhìn còn chẳng giống người lùn tí nào.”

Rồi cả hai đứa trẻ chạy biến đi. Anh nghe thấy tiếng đứa nhỏ gọi thật to, tỏ vẻ bực bội, Bố ơi, có người đến gọi cửa, chú ấy còn nói dối nữa, rồi tiếng những bước chân nặng nề vang lên.

“John hả?”

Sếp của anh, một trong những chỉ huy cảnh sát ở Stockholm, mình bận bộ tạp dề kẻ sọc, một chiếc khăn làm bếp treo trên một bên dây buộc.

“Chúng ta có thể nói chuyện không? Chỉ mười phút thôi. Sau đó tôi hứa là sẽ đi ngay. Ngay bây giờ.”

“Ngay bây giờ?”

“Hôm nay tôi đã lên lịch vài cuộc viếng thăm. Ông có định cho phép tôi vào nhà không?”

Một hành lang đầy những bộ quần áo lớn nhỏ treo trên giá và móc trên tường. Những đôi giày lớn nhỏ nằm trên sàn. Lucia và cô bé Người Lùn ngồi quanh một hộp bánh quy trong phòng khách, trong khi đó Karlstrom dẫn anh lên cầu thang.

“Trên này yên tĩnh hơn một chút.”

Họ đi cầu thang lên tới phòng làm việc tại nhà của Karlstrom, trong phòng có một chiếc bàn cũ, những cái giá chất ngập sách, một chiếc ghế dành cho khách mà Broncks ngồi phịch xuống.

“Hơn một triệu krona bị cướp và bốn mươi phát súng đã nổ tám tuần trước.”

Cảnh vật tuyệt đẹp bên ngoài cửa sổ - mặt hồ đóng băng đối diện thành phố Stockholm.

“Gần hai triệu krona và tám mươi mốt phát súng cách đây hai mươi hai tiếng. Gần như cùng một khu vực, cùng loại vũ khi. Cùng một băng cướp bất thần xuất hiện, rồi biến mất không để lại bất kỳ dấu vết nào.”

Anh chợt nhận ra có tiếng nhạc vọng lên từ dưới nhà, những bài hát mừng Giáng sinh.

“Giả sử chúng không cần thêm thời gian để chuẩn bị cho một vụ cướp thứ ba nữa. Vài tuần? Có thể khoảng một tháng? Đó là khoảng thời gian chúng ta có để điều tra ra tung tích bọn chúng. Như thế ta có thể bắt chúng tại nhà, trên đường đi làm hay đi tập thể dục, hoặc khi chúng rời siêu thị với những túi đồ trên tay. Không phải trông chờ chúng phạm sai lầm trong vụ cướp tiếp theo. Bởi vì với phương thức hành động như thế này, chúng sẽ không do dự chĩa súng - vào chúng ta.”

“Bố ơi?”

Một bàn tay nhỏ xíu mở cửa, cô bé ăn mặc như Lucia đi vào phòng.

“Gì thế con?”

“Bố đang làm gì thế?”

“Đang làm việc.”

“Làm việc gì?”

“Có người đã... làm những chuyện xấu xa.”

“Họ đã làm gì?”

“Những chuyện xấu xa của người lớn.”

“Thế nghĩa là gì ạ?”

“Con xuống nhà với mẹ đi. Bố xuống giờ đây.’

Con cái. Gia đình. Một thế giới khác. Broncks không dám chắc, nhưng hình như Lucia nháy mắt với anh một cái trước khi bỏ đi.

“Sáng nay tôi tới nói chuyện với một người đã bị cướp hết phần con người trong mình. Tôi không bao giờ muốn phải làm điều đó nữa.”

Anh nhìn Karlstrom.

“Bốn mươi tuổi. Anh ta thậm chí còn không thể tự đứng dậy được. Bố anh ta phải đỡ anh ta, chân anh ta đi tất dày, mái tóc cáu bẩn, ánh mắt lộ rõ sự hổ thẹn.”

Rồi nhìn lên chiếc bàn làm việc rất đẹp.

“Tôi từng nói là chúng sẽ còn tiếp tục. Và sự thật đã diễn ra đúng như thế. Chúng sẽ tiếp tục thực hiện những vụ sau nữa.”

Rồi anh nhìn ra cửa sổ, nhìn những thứ trái ngược với những quyết định mà chỉ huy của anh phải đối mặt hằng ngày - những Thần Lùn nhựa trang trí bằng đèn Giáng sinh.

“Cùng một nhóm?”

“Cùng một nhóm.”

“Và làm thế nào mà...”

“Giờ thì tôi biết chắc. Tôi đã nhận dạng được chúng.”

Karlstrom không bao giờ thở dài, ông không phải dạng người đó.

“Từ ngày mai, John à. Cậu phải gác lại hết những vụ khác, tập trung điều tra vụ này cho tới khi ngăn chặn được chúng không cướp thêm ngân hàng nào nữa.”

Broncks gật đầu, bước về phía cánh cửa và cầu thang, toan bước ra ngoài.

“Tôi đã nói là ngày mai.”

Vị chỉ huy quá hiểu anh. John Broncks sẽ đi thẳng về sở cảnh sát ở Kronoberg và dành cả buổi tối ở đó.

“Giờ tôi đã nghe cậu trình bày từ đầu đến cuối, và cậu được phép dành toàn thời gian cho vụ đó. Với một điều kiện. Cậu phải thực hiện điều này cho tôi.”

“Gì thế?”

“Cậu phải ở lại đây ăn tối. Cậu cũng ngửi thấy mùi thơm đúng không John? Xạ hương này. Cần tây này. Hành tăm này. Và rượu vang đỏ thật nặng.”

Tối hôm đó anh ngồi bên bàn ăn cùng với ông chỉ huy, một chú lùn, một Lucia và bà vợ của ông chỉ huy mà anh chưa từng gặp. Bà thuộc mẫu người quảng giao, có thể nhớ tên tất cả mọi người trong bữa tiệc sau vài phút, làm cho ai cũng cảm thấy mình được tôn trọng. Nhưng với anh thì điều này chẳng có tác dụng. Anh thấy khó chịu khi phải ngồi đó giả bộ như mình là một phần của gia đình, đến nỗi ăn uống anh cũng thấy khó khăn, hay việc phải nghe kể chuyện lễ mừng thánh Lucia ở trường mẫu giáo, hay trả lời câu hỏi anh đã làm việc cùng bố hai đứa trẻ được bao lâu rồi. Anh từ chối khi Karlstrom mời thêm một ly brandy nữa, và cảm thấy nhẹ nhõm hẳn sau khi nói lời cảm ơn cả gia đình và với tay toan mở cửa trước.

“John?”

Karlstrom đặt tay lên cánh tay Broncks. Còn Broncks thì không thích thế chút nào.

“Hôm nào cậu cũng ở lại muộn.”

“Phải.”

“Suốt ngày dò tìm.”

“Phải.”

“Tất cả những cuộc điều tra của cậu đều liên quan tới vũ lực thái quá.”

“Chuyện thường tình mà.”

“Khi tôi kết thúc ngày làm việc của mình, tôi đóng tập tài liệu mình đang điều tra và bỏ nó vào ngăn kéo, hôm sau mới cân nhắc có tiếp tục vụ đó không. Nhưng cậu thì lại mở chúng ra xem ngay trước khi về, lật ra những tấm ảnh xương gãy, con mắt bầm tím. Rồi cậu đọc hàng giờ liền.”

“Chuyện thường tình mà.”

Anh cảm giác bàn tay đặt trên cánh tay đang ấn chặt mình xuống, giữ anh ở nguyên chỗ đó.

“Cậu không xem những vụ đó để điều tra. Đúng không?”

“Tôi không hiểu ông đang nói gì.”

“Cậu muốn tới gần người đó.”

“Cảm ơn ông vì bữa tối. Mọi thứ đều rất tuyệt.”

Broncks vặn tay nắm cửa mà anh đã cầm quá lâu và mở cửa trước. Nhưng bàn tay vẫn đặt trên vai anh.

“Tôi chưa nói xong.”

Karlstrom vẫn nắm chặt.

“John, cậu không quan tâm gì tới những con người trong các hồ sơ đó. Tên họ là gì, số phận họ ra sao. Cậu chỉ đang cố... thấu hiểu.”

Cánh cửa mở giữa không khi ấm áp trong nhà và lạnh lẽo bên ngoài. Cái lạnh luồn vào trong áo khoác anh, cái ấm áp của những người dùng bữa với đồ ăn Pháp, áo khoác treo trong hành lang.

“Nhưng cậu sẽ không bao giờ thành công. Hay thấu hiểu được. Nếu cậu không đi gặp anh ta. Một ngày nào đó. Phải không John? Có lẽ cậu nên làm điều đó ngay bây giờ, để đi trước bọn chúng chỉ hai tuần thôi. Hãy đến đó đi.”

Tay Karlstrom đặt trên cánh tay anh. Lẽ ra nó không được đặt ở đó. Anh vùng thoát khỏi tay ông.

“Đủ rồi.”

Karlstrom là chỉ huy của anh, không phải bạn anh.

John Broncks mở hẳn cửa, rồi đóng kín. Tuyết rơi ngày càng dày, và anh cảm nhận nó càng sâu sắc hơn.

Đến đó.

Anh biết ông nói đúng.

TUYẾT BỊ NGHIẾN LẠO XẠO dưới lốp xe khi Leo lái tới một khu rừng âm u, đỗ lại sau khi đi khoảng một dặm vào rừng quốc gia Nacka, nơi con đường thu hẹp lại chỉ còn là một lối mòn. Anh tháo cúc tấm bạt phủ trên thùng xe, mang năm chiếc hộp nặng trịch lên một sườn đồi lởm chởm đá dốc xuống bờ biển không một bóng người.

Trong ánh sáng lờ mờ của đèn pha ô tô, anh ném từng chiếc hộp xuống mặt băng. Mỗi hộp rơi xuống đục thành một lỗ trên băng rồi chìm nghỉm, để rồi chẳng bao lâu sau chỗ đó sẽ lại đóng băng như cũ - gắn lại lớp băng bên trên những mảnh vũ khí đã bị cưa rồi nhét trong xi măng. Tới mùa xuân, tảo sẽ bám kín bề mặt cứng của những chiếc hộp này, khiến người ta không thể phân biệt nổi chúng với phần còn lại của đáy biển. Chúng sẽ hóa thành màu xanh lá, giống như cái bể cá trước đây từng đặt trên một cái tủ hẹp giữa giường Leo và Felix mà cả hai chẳng bao giờ chịu lau rửa.

Sau đó anh đạp một lỗ xuống tuyết dày, dùng xẻng gấp xới đất và rêu lên. Vẫn còn một đôi bốt quân dụng nữa, mới đây còn nằm chờ được đánh xi trên mặt bàn bếp của Jasper. Anh đổ xăng bật lửa lên, khiến đôi bốt thấm đầy chất đó như than củi, rồi châm lửa. Lớp da bóng và gót cao su cứng chảy ra, trong khi từng cuộn khói đen khiến anh cay xè cả mắt mũi.

Vũ khí bị cưa thành từng mảnh. Đôi bốt bị đốt. Luôn luôn xóa mọi dấu vết, luôn luôn di chuyển khi bị truy đuổi. Ngay cả Felix và Vincent cũng không biết nơi anh đã phi tang những thứ không bao giờ được để ai tìm thấy này. Không phải anh không tin chúng, thực sự thì có, nhưng anh muốn giúp chúng khi điều tồi tệ nhất xảy ra - trong buổi thẩm vấn, cảnh sát sẽ tìm đủ mọi chứng cứ để gán tội cho nghi phạm. Chúng sẽ không bao giờ phải ngồi đó lo lắng mình sẽ trở thành kẻ chỉ điểm. Không giống như anh đã phải đối mặt với một tay cớm béo ị luôn mồm tra hỏi cho tới khi có được câu trả lời.

Tôi không phản bội ông. Tôi không lo cứu mạng mình. Tôi đã cứu ông.

Anh đi xuyên qua rừng và thành phố, hơi thở hóa thành khói trong tiết trời lạnh lẽo. Chúng kia rồi, đang chờ anh giữa sân, còn anh lái xe qua cổng. Anh đã gọi điện cho Felix bảo nó tới gặp anh ở nhà. Đầu dây bên kia rất ồn ào, những tiếng động xô bồ của quán bar đối nghịch với sự yên tĩnh trong rừng - Felix không chịu, đúng như Leo đã đoán trước, nhưng một lúc sau nó gọi Vincent, cả hai đứa leo lên taxi và đi khỏi đó.

“Cái quái gì mà quan trọng thế?”

Leo có thể nghe thấy rượu, như thể say rượu có một giọng nói riêng mà chỉ cần nghe một từ anh đã nhận ra ngay, anh lúc nào cũng biết bao nhiêu cốc, bao nhiêu chai chúng đã dốc cạn.

“Hãy cùng bàn chuyện này trong garage.”

Chiếc taxi đỗ cách đó một quãng, vẫn nổ máy.

“Anh trả tiền đi, đại ca. Nếu bọn em vào nhà thì sẽ tốn tiền hơn đấy, vì chốc nữa khi nào ra chúng em sẽ lại lên xe này và nó sẽ vẫn chờ ở đây cho tới khi ta bàn bạc xong xuôi.”

“Vào đi.”

Leo gõ lên cửa kính ô tô, đưa cho người tài xế hai tờ 500 krona. Anh ta còn không thèm kéo cửa kính lên, bật đèn báo xe không có người rồi phóng vụt đi.

“Bọn mày có thể gọi xe khác khi ta xong việc.”

Căn garage tối và lạnh. Anh bật đèn, lò sưởi. Vincent theo chân Leo vào bên trong, còn Felix vẫn đứng ngoài. Tới khi Leo mở ra một tấm bản đồ chi tiết Stockholm và các khu phía Nam, khi ấy nó mới chịu vào.

“Đây.”

“Ở đó có gì?”

“Osmo, khoảng hai mươi ngày nữa.”

Dùng bút đỏ, anh khoanh một khu vực ở gần mép bản đồ, gần đường cao tốc và mặt biển.

“Anh nói nghiêm túc đấy chứ?”

“Chưa từng có ai dám cướp hai ngân hàng một lúc cả.”

“Nhưng mẹ kiếp, bọn em biết cả rồi mà! Có phải đây là lý do bọn em phải rời chỗ ngồi ngay cạnh cửa sổ quán bar, leo lên ngồi trên chiếc taxi khốn nạn đó suốt bốn mươi lăm phút?”

“Felix, nghe này.”

“Anh nghe đây! Bọn em đang ngồi trong quán bar, đang là lễ thánh Lucia, ăn tối, uống bia... còn giờ em phải ở đây, trong cái garage lạnh lẽo khốn kiếp này? Sắp Giáng sinh rồi! Bọn ta cũng nên nghỉ vài ngày chứ!”

“Mày có thể ăn mừng Giáng sinh năm sau.”

Leo vuốt thẳng tấm bản đồ như thể nó là tấm khăn trải trên cái bàn hai đứa em anh vừa mới ngồi ở quán.

“Chưa ai từng cướp hai ngân hàng một lúc. Vậy nên ta sẽ cướp ba ngân hàng.”

Một đường màu đỏ kẻ từ vòng tròn thị trấn nhỏ Osmo, dọc theo cao tốc 225 về phía Tây, rồi một vòng tròn mới được khoanh ở Sorunda, một thị trấn còn nhỏ hơn nữa.

“Trên đường về, chúng ta sẽ đi qua đây. Một ngân hàng nhỏ, hoàn toàn không được bảo vệ.”

Felix nhìn người anh trai đang mỉm cười, rồi lại nhìn bản đồ đánh dấu bằng bút đỏ.

“Là em uống say quá hay là anh thế?”

Nó giật chiếc bút khỏi tay Leo và vẽ một vòng tròn nữa, lớn hơn.

“Từ chỗ đó làm gì có đường thoát nào. Đúng không? Thế mà anh lại còn nghĩ ta nên để lộ vị trí thêm một lần nữa? Để bọn cớm bao vây ta?”

Leo cầm chiếc bút trong tay Felix, vẽ một chữ thập bên ngoài tấm bản đồ - thẳng lên mặt gỗ bàn làm việc.

“Chuyện đó sẽ không xảy ra nếu chúng chẳng còn tên cớm nào mà bao vây ta cả.”

Anh nhìn hai đứa em, rồi chỉ vào chữ thập bên ngoài bản đồ.

“Đây là... Nhà ga Trung tâm. Giữa thành phố Stockholm. Cách đó ba mươi dặm. Bọn cớm đang bận bịu... gỡ một quả bom.”

ANH ĐANG ĐI QUA MỘT VÙNG bằng phẳng, khung cảnh trắng xóa như phấn. Khi anh rời Stockholm thì trời vẫn còn tối, nhưng giờ trời đã sáng, ánh mặt trời phản chiếu trên tuyết làm lóa mắt anh.

Bàn tay Karlstrom như vẫn đang đặt trên cánh tay anh.

Ở lại ăn tối thật là một ý tưởng ngu ngốc. Khi anh nhận lời ăn món thịt gà xốt vang cũng là lúc anh cắt đứt mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới. Karlstrom biết tiểu sử của anh, cảnh sát luôn biết tất cả những kẻ lĩnh án chung thân, nhưng ông chưa từng nhắc đến chuyện đó. Trong hành lang sở cảnh sát, không có bàn tay nào được đặt lên cánh tay ai, nhưng quanh bàn ăn gia đình, giữa sự an toàn và quan tâm, con người thường cởi mở với nhau hơn.

Anh đã phóng đi một cách vô định giữa bóng tối Stockholm, lúc gần nửa đêm ngồi ở một quán rượu ồn ào, vài tiếng sau thì về nhà. Thêm một đêm chỉ ngủ có vài tiếng, một cốc cà phê trong ô tô, sau đó anh lái xe 140 dặm tới Trại cải tạo Kumla. Anh biết mình không làm điều này vì Karlstrom, mặc dù vậy, anh hiểu rằng Karlstrom đã nói đúng.

Cũng giống như Sanna đã nói đúng vậy.

Họ đã dò hỏi tất cả những người có chút quan hệ nào với thế giới ngầm. Không có kết quả. Giờ chỉ còn lại một người - chỉ mình anh quen biết.

Bức tường xám xịt, bảy mét rưỡi bằng bê tông và dây thép gai, đứng sừng sững phía xa bên kia mấy khu đất trống.

Đã vài năm anh không trở lại nơi này. Nhưng vẫn là cảm giác ấy khi anh tới gần - liệu bên trong có thực sự là những con người, đi luẩn quẩn, suy nghĩ, ăn ngủ, chờ đợi cho qua từng quãng dài của cuộc đời?

Anh đỗ lại gần cổng, ra khỏi xe rồi bấm chuông.

“John Broncks, sở cảnh sát thành phố.”

Cái micro kêu loẹt xoẹt liên hồi ở cửa bị hỏng.

“John Broncks, sở...”

“Tôi nghe thấy từ tiếng đầu rồi.”

“Tôi tới thăm Sam Larsen.”

“Anh không đặt lịch hẹn trước.”

“Giờ tôi đang làm thế đây.”

“Sáu tiếng nữa. Kể cả cảnh sát.”

“Đây đếch phải chuyến thăm bình thường, mà là để phục vụ công tác điều tra.”

Cửa lách cách mở ra, đi bộ một đoạn ngắn tới chốt canh nơi một lính gác mặc đồng phục ngồi giữa những hình trang trí Giáng sinh - một ngôi sao bằng nhựa trên cửa kính, một con dê bằng rơm xấu xí đặt trên màn hình chiếu những hình ảnh từ năm mươi tám camera an ninh.

Anh cho họ xem phù hiệu, nhận được một thẻ dành cho khách lẽ ra phải đeo trên ngực thì anh lại nhét vào túi. Một lính gác dẫn anh tới khu thăm tù nhân rồi để anh lại một mình trong căn phòng có một giường đôi phủ màng nhựa xù xì, một chiếc bàn đơn sơ với hai chiếc ghế cũng đơn sơ chẳng kém, một bồn rửa lúc nào cũng rỏ nước long tong, cửa sổ có song sắt nhìn ra bức tường đối diện. Ở đây không có Giáng sinh, không có mùa xuân hạ thu đông, dành cho những con người không còn có cái diễm phúc được theo dõi thời gian.

Anh phải chờ khoảng mười lăm phút, hay ít ra đó là những gì anh nhớ. Đúng là như thế. Sau chừng đó thời gian, cửa mở ra, hai quản giáo bước vào kiểm tra đảm bảo mọi thứ vẫn bình thường, rồi ra ngoài, đóng cửa lại sau lưng. Họ để lại người mà họ giải vào. Hơn John Broncks hai năm, ba tháng, và năm ngày tuổi. Và cao hơn chừng ba phân. Giờ đây anh ta cũng nặng hơn John ba mươi cân. Trước kia hai người có vóc dáng bằng nhau, nhưng sau mười tám năm ngày nào cũng tập tạ, một thứ trật tự khi mọi trật tự không còn nữa đã thay đổi điều đó.

“Chào anh.”

Hai người nhìn nhau. Một người mặc quần bò, áo khoác, đi ủng mùa đông. Một người bận chiếc quần vải thùng thình vừa cứng vừa rộng, chiếc áo phông in logo của nhà tù trên ngực, đôi chân trần đi dép lê.

“Em vừa nói... chào anh.”

Broncks ngồi xuống bên cái bàn ọp ẹp. Trong khi đó Sam bước tới cửa sổ có chấn song nhìn ra ngoài, nhìn bức tường từ một góc nhìn khác.

“Anh khỏe không?”

Hồi đầu anh cũng thỉnh thoảng tới thăm anh ta, trong mấy năm đầu thụ án chung thân, trước là ở Trại cải tạo Hall và sau đó ở Tidaholm. Đó là trước khi anh hiểu rằng không còn được quyền nghĩ tới thời gian nữa cũng đồng nghĩa với không được quyền hy vọng, không còn tương lai. Khi Broncks hiểu ra rằng cuộc sống ở đây có thể thay đổi hẳn con người ta, anh tới thăm ít hơn, và sau cùng thì thôi hẳn. Có lẽ anh cũng chưa từng tới phòng thăm tù nhân này.

“Nghe này... lần sau đến thì mày phải hẹn trước. Như mọi người khác. Như những kẻ không phải cớm. Lần sau tao không muốn bị ai tra hỏi khi về trại giam rằng tại sao lại bỏ việc nướng bánh. Mày phải biết, cũng như tất cả mọi người - rằng một chuyến viếng thăm không lý do của cảnh sát chính là điều tồi tệ nhất có thể xảy ra với những người ở đây!”

Sam vẫn đứng cạnh cửa sổ, xoay lưng về phía Broncks.

“Em mới hỏi anh có khỏe không.”

“Tao có khỏe không à?”

“Phải.”

“Từ lúc quái nào mà mày quan tâm đến chuyện đó thế?”

Anh ta xoay tấm lưng rộng lại, nhìn thẳng vào anh.

“Và vì mày không thể trả lời câu đó - mày làm cái thá gì ở đây?”

John Broncks kéo chiếc ghế thứ hai ra. Mọi chuyện thuận lợi hơn anh tưởng. Hai người đang nói chuyện với nhau.

“Hai vụ cướp lớn. Ở Svedmyra và Farsta. Cùng một băng nhóm.”

Nhưng anh trai anh vẫn đứng.

“Mẹ đã tới đây tuần trước.”

“Được vũ trang kỹ càng. Lên kế hoạch rất cẩn thận.”

“Tao mời bà ấy ăn bánh cẩm thạch. Mày nhớ mùi vị loại bánh đó không, John?”

“Anh có nghĩ đó là một kẻ cùng thụ án với mình không? Hẳn là...”

“Còn lần trước là món... bánh cốc.”

“... trong này người ta cũng đang bàn tán chuyện đó, phải không?”

Một người ngồi. Một người đứng.

“Mày đã không bén mảng tới đây suốt ba năm trời! Thế mà giờ mày tới đây và tưởng...”

Anh ta cúi người qua bàn, giận dữ điên cuồng.

“... rằng tao sẽ tiết lộ thông tin cho mày! Rằng mày có thể lợi dụng tao trong vụ điều tra khốn nạn của mày!”

Sam run lên khi bước tới cái đĩa kim loại gắn trên cửa, với tay về phía cái nút đỏ.

“Đồ khốn!”

“Sam, anh biết là em cũng muốn tới đây gặp anh mà. Anh là anh trai em.”

“Kể cả tao có biết gì đi nữa, không bao giờ có chuyện tao nói cho mày! Nhưng tao không biết gì cả. Không ai biết! Không ai ở đây từng nghe tới bọn chúng! Mày có theo kịp không thế? Không một ai biết chúng. Chúng chưa từng vào tù. Vậy mà chúng vẫn biết rõ mình đang làm gì.”

Sam nhìn thẳng vào John với ánh mắt mà anh không thể hiểu được, rồi lại với tay về phía cái nút đỏ. Anh ta ấn nút, cúi người về phía micro.

“Thăm viếng xong rồi.”

“Anh còn hơn nửa giờ nữa.”

“Có từ nào anh không hiểu không? Tôi muốn quay về trại.”

Trong một căn phòng trần trụi xấu xí, chỉ vài mét vuông, cách biệt hẳn với bên ngoài. Hai người tránh nhìn thẳng vào mắt nhau, hệt như những lần hục hặc hồi nhỏ, khi hai anh em cố hết sức nhìn lên trên hoặc vòng qua người kia.

“Vậy là mẹ đã tới thăm anh?”

Bánh cẩm thạch. Bánh cốc. Những tù nhân phải chịu án dài hạn hoặc bị coi là nguy hiểm bao giờ cũng nướng bánh trước mỗi chuyến thăm. Broncks mỉm cười yếu ớt. Trong phòng thăm tù nhân tại một nhà tù được canh gác nghiêm ngặt - đĩa bánh bông lan nằm trên mặt bàn ọp ẹp cạnh chiếc giường đôi.

“Trông bà ấy thế nào?”

Mặc dù muốn tới thăm bà lúc nào cũng được, anh chẳng bao giờ làm thế. Trong khi đó anh trai anh, người bị giam cầm ở đây thì lại gặp bà thường xuyên.

“Anh có biết không, Sam, rằng anh liên lạc với mẹ còn nhiều hơn em?”

Có tiếng chân bên ngoài, rồi những quản giáo mở cửa ra.

Sam toan bỏ đi, bị hai người áp tải phía trước và phía sau, nhưng rồi anh ta quay lại.

“Mày nên làm thế.”

“Gì?”

“Tới thăm mẹ. Bà ấy già rồi.”

Anh nhìn người anh trai mất hút trong hành lang nhà tù, tấm lưng rộng đi giữa hai người gầy gò bận đồng phục. Sau đó, anh trả lại thẻ khách, đi qua chòi canh trung tâm rồi bước ra khỏi cổng, ngồi yên trong xe không cử động.

Nhưng bức tường cao bảy mét rưỡi. Bốn trăm sáu mươi ba tên tội phạm bạo lực nhất Thụy Điển chịu án dài hạn ở đây. Một người đã được chọn làm phát ngôn viên cho tất cả, một trong những kẻ hiếm hoi mà mọi người đều tiếp xúc.

Chính là anh trai anh.

Ngay cả Sam cũng chưa nghe tin, không hay biết gì. Đến những người sau những bức tường kia cũng không biết tới những kẻ Broncks đang truy lùng.

Anh nổ máy phóng đi. Ánh mặt trời vẫn lấp lánh trên tuyết.

TRÁI NGƯỢC VỚI NHỮNG CON ĐƯỜNG trắng toát và sạch sẽ bên ngoài nhà tù, cách đó 140 dặm lối đi lầy lội và bẩn thỉu khi anh rẽ từ đường cao tốc E4 đi Stockholm sang cao tốc Essinge, tới lối vào garage khoét trong vách đá bên dưới sở cảnh sát ở công viên Kronoberg.

John Broncks cần thông tin về những tội phạm đã từng gây ra những vụ cướp cực kỳ bạo lực. Vì thế, lần đầu tiên trong ba năm, anh đã đi qua cánh cổng của nhà tù canh gác cẩn mật nhất Thụy Điển, nơi người ta luôn phỏng đoán những tội ác kiểu đó, một chủ đề tán gẫu thường trực, kiến thức được truyền thụ từ người này sang người kia.

Không ai biết gì hết.

Anh đang điều tra và truy lùng những kẻ không có quan hệ với ai, nhũng kẻ vô danh nhưng lại hành động như những tên cướp lão luyện, có vũ khí và kỹ năng, nhưng giới tội phạm lại không ai hay biết.

Cánh cửa cuốn mở ra thật êm, anh lái xe vào garage cảnh sát. Bên trong gần như kín chỗ. Trong khi tìm lô đỗ xe, anh nghĩ tới tất cả những người khác ngồi lì cả ngày ở sở, họ làm thế nào cho qua ngày ở đó, làm thế nào mà những giọng nói và xác người của một vụ án lộ ra trên giấy tờ? Trên đường bước tới thang máy, anh nghe thấy tiếng động trong căn garage nhỏ bên trong garage lớn, nơi phòng pháp y lưu giữ những phương tiện để giám định. Anh bước tới và đi vào trong, cô đang ở đó, hệt như lần trước. Lần trước, cô đứng giữa xe tải và một cái xe lăn, còn lần này cô đang nằm chui nửa người vào chiếc xe van có in chữ Roto-Rooter ở hai bên sườn, tay cầm đèn tia hồng ngoại.

“Chiếc xe tẩu thoát đầu tiên. Một chiếc Dodge.”

Sanna chui ra ngoài rồi bước tới chiếc xe tiếp theo, chuyển sang đèn tia cực tím.

“Chiếc xe tẩu thoát thứ hai. Thêm một chiếc Dodge.”

Vẫn giọng nói lạnh lùng máy móc đó. Anh tự hỏi liệu cô có tự ý thức được cái đó, hay chỉ khi nào nói chuyện với anh thì giọng cô mới như vậy.

“Xe đời cũ hơn. Bị đánh cắp đêm hôm trước vụ cướp. Chúng đã sử dụng một trong những chiếc xe loại này.”

Cô cầm một dụng cụ dài, gồm một thanh kim loại thò ra từ cán cầm bằng gỗ - chỉ vào một miếng dán nhỏ màu đen hình vuông trên cửa xe ngay dưới cửa sổ.

“Nhanh không kém gì mở bằng chìa khóa - chỉ cần ấn... vào đây, qua lớp kim loại và... cạch, ta đã vào được trong xe.”

Cô cạo lớp băng dính, để lộ ra một cái lỗ, mở cửa xe rồi chui vào bên dưới tay lái.

“Để khởi động xe, em chưa từng thấy thứ gì như thế này - chúng sử dụng một con vít gỗ, làm bằng thép không gỉ, dài chưa đầy ba milimét, nhỏ và nhọn chọc vào giữa đám dây.”

Cô nhấc tấm chắn được lắp vào sau đó, chúng cũng đã làm y hệt như vậy - đảm bảo không ai nhìn thấy, tránh bị phát hiện, tranh thủ thời gian.

“Một con vít cắm ở đó, chỉ cách nơi để tra chìa khóa có hai hay ba nấc. Tại đây, cả bộ khởi động được làm cho lớn hơn và cố định một chỗ. Chỉ cần đập một cú mạnh vào đầu con vít... bằng một cái đục thông thường cũng được, và thế là xe nổ máy.”

Cô đã xong việc. Broncks nhận ra cái cách cô xoay lưng lại khi không muốn nói chuyện. Cô mở chiếc máy tính đặt trên nóc xe. Không một lời từ biệt. Anh nói, tạm biệt, nhưng cô không nghe thấy, và anh bước ra ngoài. Đi được nửa đường tới thang máy thì cô gọi giật lại.

“John? Em chưa xong.”

Anh dừng bước, xoay người lại.

“Chưa xong à?”

“Còn một điều nữa.”

Cô xoay màn hình về phía anh, chờ anh tới gần hơn.

“Bức ảnh này.”

“Anh đã từng xem rồi.”

“Em biết. Nhưng em muốn anh nhìn lại lần nữa.”

CAMERA HAI. Mười hai giây từ khi bắt đầu. Quay từ trên cao.

“Micro của hắn. Em đã cố tìm hiểu nó là loại gì.”

Những tên cướp bận áo liền quần màu xanh, đi bốt đen, đeo mặt nạ đen.

“Em đã phóng to hình ra và tập trung nhìn chỗ cổ áo, chỉ vài giây trước khi chúng xông vào.”

Cô tua lại, dừng hình.

“Sau bốn giây - tốc độ mười lăm hình một giây. Em muốn anh xem từng khuôn hình một.”

Giọng cô không còn máy móc nữa. Cô đứng gần anh. Anh biết rõ mùi hương của cô. Thật là lạ lùng. Như thể lại như ngày trước. Như thể họ có thể cùng nhau đi khỏi đây và trở về căn hộ chung của cả hai. Như thể mười năm chưa từng trôi qua.

“Đó.”

Tên cướp thứ nhất chỉ còn cách cửa có một bước.

Hắn dừng lại.

“Tay hắn kìa.”

Cô phóng to hình ra.

“Anh thấy không?”

John gật đầu. Anh đã nhìn thấy rõ.

Tên cướp đi đầu dừng bước rồi quay lại, hạ vũ khí, đặt tay trái lên cổ áo nơi gắn micro, che bàn tay lên trên. Hắn cúi người ra trước kéo tai nghe của tên cướp còn lại bằng tay phải.

“Sennheiser. Đó là tên hãng micro. Nhưng chi tiết đó không quan trọng. Ít nhất là hiện giờ.”

Bốn giây, sáu mươi khuôn hình, lại một lượt nữa.

“Cử động... đó.”

Bàn tay đặt trên micro. Bàn tay đặt trên cặp tai nghe. Và rồi, Broncks chắc chắn, hắn... nói thầm.

“Điều này thật vô lý.”

Cô kéo gần lại hình cái miệng và cặp môi mỏng, hai vệt sáng trên nền vải đen đang mấp máy.

“Bàn tay. Thì thầm. Toàn những chuyện vô lý.”

Sanna đứng ngay bên cạnh, nhìn John - hệt như tên cầm đầu băng cướp trong khung hình đứng im đang đứng thật gần, nhìn tên đi ngay phía sau.

“Hình ảnh là của một nhóm lính có kỷ luật cực tốt. Còn giờ thì lại... thế này. Như thể hắn đặt tay lên che micro, rồi nhấc cặp tai nghe một cách gần như trìu mến. Anh thấy không? Ngay trước khi hắn bắt đầu xả súng.”

Hai tháng điều tra không ngừng nghỉ. Anh chẳng tìm ra được manh mối nào, không biết gì về chúng. Nhưng ở đây, John Broncks có thể thấy và cảm nhận được nó. Anh đã có manh mối. Anh không biết rõ là gì, nhưng lần đầu tiên trong cuộc truy lùng những bóng ma này, anh đã nhìn thấy những con người thật. Chúng đứng thật gần nhau theo cái cách đặc biệt mà lẽ ra không thể có giữa hai tên cướp ngân hàng bình thường.

Một thứ mà anh gần nhận ra được.

“Em để lại kích thước cũ được không? Và mở lại đoạn phim? Bốn giây đầu tiên.”

Cô làm theo.

“Dừng... đó. Phóng to... đấy. Mặt hắn. Đúng rồi.”

Ba tên cướp đứng thành hàng sắp sửa xông vào ngân hàng. Ngón tay Broncks chỉ trên màn hình, vào tên cướp đứng giữa.

“Em thấy không? Hắn nhắm mắt.”

Hai lỗ khoét trên mặt nạ chỗ mắt. Rất rõ ràng. Đôi mắt đang nhắm lại.

“Tiếp tục đi.”

Con trỏ chuột đặt trên thanh thời gian, cô kéo nó bằng tay, từng khuôn hình một.

“Hắn do dự. Hắn lo lắng.”

Đôi mắt trên mặt nạ vẫn nhắm nghiền.

“Hắn sợ hãi và thứ đó... giống như là một cái ôm! Tên cầm đầu che micro, hắn đang tỏ ra biết che chở - chúng sắp sửa xông vào thực hiện những hành động cực kỳ bạo lực, và chúng đứng đó... chúng gắn bó với nhau.”

JOHN BRONCKS TRÁNH DÙNG thang máy, đôi khi anh phải giữ cho mình luôn vận động, buộc tim đập nhanh hơn, ép từng hơi thở qua lồng ngực vào cuống họng.

Cầu thang, lên cao. Hành lang, anh không chạy, nhưng cũng gần như thế.

Và rồi - anh mở toang cửa sổ, để không khí ẩm và lạnh buốt từ sân trong sở cảnh sát tràn vào căn phòng ấm và hanh của anh.

Nhìn chúng thật sự thân tình. Hai tên cướp ngân hàng. Lẽ ra chúng không được như thế.

Tên cầm đầu lẽ ra phải ra lệnh - nhưng sự do dự của tên kia lại quan trọng hơn.

Một điều mà Broncks đã nhận ra.

Một tên cao hơn còn tên kia thấp hơn. Một tên có bờ vai rộng hơn trong khi tên kia vẫn còn chưa lớn hẳn. Một tên nhiều tuổi hơn và một tên trẻ hơn.

Mối thân tình. Tin tưởng.

Bàn tay đặt trên micro và giọng nói vọng ra, đánh tan nỗi lo sợ, rồi sau đó chúng tiếp tục bước về phía cửa ngân hàng, cùng nhau.

Đó là điều mà Broncks nhận ra. Tình thân giữa chúng. Một người lúc nào cũng ở bên, ôm anh trong lòng vào buổi tối, nói rằng mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi, để rồi đêm hôm đó lẻn vào phòng bố mẹ cắm một con dao giữa lồng ngực bố. Người anh trai đã ôm anh, thì thầm với anh, trấn an anh, ngay trước khi thực hiện hành vi bạo lực.

Vài hơi thở sâu trước cửa sổ mở rộng. Giờ thì John Broncks đã hiểu.

Lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu điều tra, anh thực sự hiểu được điều gì đó, và giờ chúng không còn hoàn toàn vô định nữa, những hình bóng bắt đầu lộ ra.

Mối thân tình. Sự tin tưởng.

Chúng là anh em.

TRONG MẤY TUẦN VỪA RỒI thời tiết đã thay đổi. Tới đêm Giáng sinh thì tuyết đã tan và tới sáng thì mưa liên tục, mặt đất chuyển thành một hỗn hợp bẩn thỉu của tuyết, sỏi và đất. Anh đã mong chờ đúng điều này. Một Giáng sinh màu xám, những con đường không phủ tuyết. Theo dự báo thời tiết, nhiệt độ sẽ vẫn trên 0 độ và trời thì sẽ còn mưa nữa. Anh hy vọng nó sẽ còn tiếp tục - mặt đường khô ráo sẽ giúp cho việc trốn chạy sau vụ cướp ngân hàng trở nên dễ dàng hơn.

Giấy bạc quấn quanh bốn chiếc sandwich kẹp phô mai. Chén, thìa, sữa, một lọ đường đựng trong túi nylon. Đó là bữa sáng. Bữa trưa cũng đã sẵn sàng. Thịt hầm ăn với một ổ bánh mì. Anh đã nấu sẵn từ đêm hôm trước, trong khi Anneli dọn dẹp các món còn thừa từ Giáng sinh trong tủ lạnh.

Leo đứng cạnh cửa sổ được trang trí cẩn thận mừng Giáng sinh, mắt nhìn ra bình minh xám xịt đầy sương mù. Hai chậu cây trên bậu cửa sổ, giữa chúng là một bức tượng thiên thần bằng sứ - lớp sơn trắng ở một bên thân mình và một mắt đã bong đi gần hết - trước đây từng đặt trong căn nhà thời thơ ấu của Anneli, và bây giờ cứ vài tuần mỗi năm lại nằm trong căn bếp của cô cạnh cây hoa trạng nguyên. Những đồ vật đột nhiên xuất hiện khắp nơi. Một bức tượng ông già Noel to quá cỡ bằng nhựa nằm cạnh tủ lạnh, một bức tượng khác cũng to không kém nằm trên giá để mũ ngoài hành lang, vài bức tượng nhỏ hơn để trên cầu thang lên tầng hai, một bức tượng đặt dưới cây thông Noel trong phòng khách. Những món đồ trang trí mà cô mở ra mỗi dịp tháng Mười hai từ chiếc hộp ghi chữ Trang trí Giáng sinh. Một thứ mà cô đã đem vào cuộc đời anh, một thứ có ý nghĩa với cô. Anh có thể thấy niềm vui của cô, sự bồn chồn, khi cô lựa chọn đặt thứ nào ở đâu, sắp xếp lại cho tới khi tìm được vị trí hợp lý.

Một bức tượng thiên thần bằng sứ đã mòn vẹt, và một đống tượng ông già Noel.

Đây chỉ đơn giản là một ngày bình thường. Có giá trị không khác gì ngày 25 tháng Mười một hay 25 tháng Mười. Có lẽ cô cần một thứ gì đó để bám lấy khi thời gian trôi vụt qua: đêm giao thừa, lễ Phục sinh, Hạ chí, những dịp thực ra cũng chỉ là những ngày tháng bình thường. Một ai khác đã quyết định những cái đó, đã sử dụng cuốn lịch như một công cụ điều khiển cuộc sống con người. Điều quan trọng là ta quyết định gì, làm gì. Tự tạo lịch riêng cho mình - ngày mùng 2 tháng Một, lần đầu tiên trong lịch sử Thụy Điển sẽ có một vụ cướp ba ngân hàng cùng lúc, hoặc ngày 17 tháng Hai, 11 tháng Ba, 16 tháng Tư, những ngày khác mà anh đã chọn sẵn để thực hiện các vụ cướp và vì thế đều mang một ý nghĩa nào đó.

Anh cầm bức tượng thiên thần lên, xoay nó lại, thử đọc tem dán bên dưới, rồi lại đặt xuống.

Những dự tính.

Vì cô cũng mỏng manh như bức tượng kia, anh buộc phải tìm cách thật nhẹ nhàng thuyết phục cô giảm bớt những gì mình mong đợi, giải thích rằng Giáng sinh năm nay sẽ không thực sự là Giáng sinh, họ sẽ ăn mừng thực sự vào năm sau khi tất cả đã xong xuôi, giống như gia đình hàng xóm bên kia bờ rào mà cô thường thích ngắm nhìn qua cửa sổ phòng bếp, gia nhập với họ từ xa. Trong đêm Giáng sinh cô đã tới bên cửa sổ này vài lần. Họ ăn thịt nguội, bắp cải, thịt viên và món Jansson frestelse truyền thống. Anh đưa cho cô món quà Giáng sinh để tặng cho đứa con trai mà cô sẽ tới thăm ngay sau dịp lễ. Họ còn thắp nến, xem vài tiếng liền những bộ phim về vịt Donald, chương trình đêm Giáng sinh, của Karl-Bertil Jonsson giống như bao gia đình Thụy Điển khác, cho tới khi anh không thể chịu được nữa và chui xuống Hang Đầu Lâu tiếp tục hoàn thiện cuốn lịch của mình.

Tay cầm túi nylon, anh bước ra ngoài bóng tối ẩm ướt lúc sáng sớm. Đôi giày mỏng của anh ướt đẫm vì tuyết và mưa trên mặt đường nhựa. Garage thì trái ngược hẳn. Khô ráo và ấm cúng bên lò sưởi đối lưu lúc nào cũng kêu ù ù một cách dễ chịu, trong căn phòng bật đèn sáng choang, Vincent, Felix và Jasper đã chờ sẵn trên những chiếc ghế gỗ đặt quanh cái bàn làm bằng tấm Masonite đặt trên hai bàn cưa. Bản đồ được trải rộng bên trên.

“Cà phê và sandwich đây.”

Leo phân phát những tách cà phê và bánh sandwich kẹp phô mai.

“Sữa nhé?”

Xuyên qua bản đồ - một đường màu đỏ, gần như thẳng. Bắt đầu từ khu phố có tên Kronoberg ở trung tâm Stockholm, nơi tụ tập phần lớn các cơ quan của cảnh sát, kết thúc cách đó ba mươi dặm tại quảng trường Osmo nơi hai ngân hàng chung nhau một vách tường. Một đường kẻ đi xuyên Stockholm, các thị trấn Huddinge, Haninge và Nynashamn, là chìa khóa để đánh lạc hướng cảnh sát và biến mất khỏi hiện trường.

“Mục tiêu Một.”

Một đồng xu 10 krona nằm trong tay Leo. Anh đặt nó trên một ô vuông màu xám gần đoạn cuối đường kẻ mực đỏ, để chỉ khu vực đông dân cư.

“Mục tiêu Hai.”

Một đồng 10 krona nữa. Chồng lên đồng thứ nhất.

“Và đây.”

Ngay bên ngoài cửa sổ hai mục tiêu. Chiếc xe tẩu thoát.

Một chiếc xe đồ chơi cũng màu đỏ y như đường kẻ.

“Là mày đấy, Felix.”

Vẫn còn nhiều món đồ nữa được lấy ra từ chiếc thùng các tông mà họ đều nhận ra. Ba chú lính bằng nhựa màu xanh ô liu trước đây từng đặt trên sàn căn hộ họ sống hồi nhỏ ở Skogas. Cao chừng ba tới năm phân, vẫn có mùi y như hồi trước. Lính Mỹ, tỷ lệ 1:72.

“Đây là Vincent. Và Jasper. Còn đây... là tao.”

Anh tách những đồng xu ra, đặt hình người bằng nhựa cuối cùng lên một đồng.

“Mục tiêu Một - Leo mở cửa. Mục tiêu Hai - Jasper và Vincent mở cửa. Lúc hai giờ năm mươi phút.”

Giờ thì tới chiếc xe đồ chơi. Từ cửa hiệu Dinky Toys. Một chiếc Volkswagen màu đỏ theo model 1300, chiếc xe Beetle mà họ vẫn giữ trong chiếc hộp đựng ban đầu. Họ chưa bao giờ có thể vứt nó đi được.

“Còn Felix ngồi ngoài xe. Hệt như ở Svedmyra.”

“Và cũng giống như hồi xưa.”

Một người khác hiện đang sống trong tòa căn hộ đó, trong đúng căn phòng đó. Một chiếc xe đồ chơi mà Leo đã đánh cắp cho Felix ở cửa hàng Toys & Hobbies ở trung tâm mua sắm Skogas.

“Hệt như hồi xưa, Felix à.”

Một chiếc hộp lớn nữa đựng những hình người tỷ lệ 1:72, vẫn cái mùi ấy sực lên, nhưng đám lính này lại có màu nâu, mũ tròn hơn đám lính Mỹ và cầm vũ khí kiểu khác.

“Lính Nga.”

Anh đổ một mớ lính bằng nhựa lên đường kẻ màu đỏ và xếp chúng thành hàng, sau đó xếp một vài con ở ba địa điểm cách đó một quãng.

“Bọn cớm. Tất cả bọn chúng. Phần lớn đóng quân ở đây... sở cảnh sát thành phố. Một vài tên ở đây, sở cảnh sát Huddinge, và đây, sở cảnh sát Handen. Chỗ này có ít nhất... sở cảnh sát Nacka.”

Anh đảm bảo tất cả đám lính được đặt đúng vị trí. Sau đó anh vung cánh tay xung quanh chúng, như một người khổng lồ nhấc chúng lên và chầm chậm kéo đi tới một điểm nơi đường bộ, đường ray và đường tàu điện ngầm giao nhau thành một mối - khu vực phố xá chằng chịt, màu xám thể hiện trung tâm Stockholm.

“Và tất cả bọn chúng sẽ đổ tới đây. Cả bọn sẽ đổ đến đó, tại Nhà ga Trung tâm. Đó chính xác là nơi mà chúng ta có mặt.”

Anh nhìn Jasper rồi gật đầu.

“Bởi vì chúng ta đã đặt một quả bom ở đó - một quả bom thực sự trong ngăn tủ tại Nhà ga Trung tâm.”

Cho tới giờ Vincent vẫn im lặng, như thường lệ. Giờ nó đặt mạnh cốc cà phê xuống mặt bàn Masonite, khiến những hình người nào còn đang đứng trên bàn đổ rạp hết.

“Vincent, cái quái gì...”

“Giờ ta lại còn là quân khủng bố nữa à?”

“Nó sẽ không nổ đâu. Nhưng bọn chúng phải biết đó là một quả bom thật.”

Leo gom đám lính quanh Nhà ga Trung tâm Stockholm.

“Chiêu đánh lạc hướng đầu tiên của bọn ta là phải làm sao đóng cửa Nhà ga Trung tâm. Và khi bọn cớm đổ xô đến đấy, bận bịu tháo gỡ một quả bom thật, chúng ta sẽ cướp hai ngân hàng cách đó ba mươi dặm.”

Vẫn không ăn thua. Vincent kéo một nửa đám lính về phía khu phố cổ, nửa còn lại về phía Kronoberg.

“Rồi sau đó thì sao? Chúng ta sẽ đe dọa đánh bom chỗ nào nữa? Lâu đài? Sở cảnh sát? Hay một chỗ nào lớn hơn?”

Hơi bực mình. Và cũng thoáng chút tự hào. Leo mỉm cười với Vincent, trong khi đó anh kiên nhẫn kéo đám lính trở lại khu vực quanh Nhà ga Trung tâm.

“Chiêu đánh lạc hướng thứ hai - hai chiếc xe màu đỏ.”

Chiếc Volkswagen Beetle trước đây nằm trơ trọi trên giá chỗ đầu giường Felix. Leo dùng ngón trỏ và ngón cái cầm lấy nó, đẩy nó ngang qua bản đồ - từ chỗ ngân hàng tới những con đường nhỏ xuyên qua vùng nông thôn.

“Chúng ta sẽ sử dụng một chiếc xe mà ai cũng nhận ra được. Và bọn cớm còn sót lại ở mạn phía Nam sẽ tìm ra nó... ở đây.”

Anh đẩy chiếc xe khỏi con đường mà họ sẽ sử dụng, sang con đường lớn bên kia ngân hàng, cao tốc đi Stockholm mà họ sẽ không dùng đến.

“Nó sẽ nằm ở đây. Bọn cớm khi đó sẽ chặn tuyến đường này. Chúng tưởng rằng bọn ta đã chạy theo lối đó.”

“Em không hiểu.”

“Vincent...”

“Em không hiểu tại sao lần trước khi ngồi trong xe, anh vứt cho em một mớ sách rồi bảo chúng ta sẽ đi cướp ngân hàng.”

“Và?”

“Chế tạo bom không phải là cướp ngân hàng.”

“Vincent?”

“Vâng?”

“Nếu chúng ta chế ra một quả bom, và nếu chúng ta sử dụng, nó sẽ không phát nổ. OK?”

Vincent không di chuyển hình người nào nữa. Nhưng nó cũng không nhìn xuống hay nhìn sang ngang. Nó nhìn thẳng vào anh trai.

“Em không hiểu.”

“Vincent, mày không thể...”

“Em không hiểu tại sao chúng ta lại phải chế quả bom khốn kiếp ấy. Sau đó tự dồn mình vào chân tường - chui ra khỏi chiếc xe thứ nhất mà ai cũng nhận ra, ra tới đường chính - một nơi hoàn toàn lộ liễu.”

Leo không cảm thấy khó chịu nữa. Nhưng vẫn thấy một chút tự hào khi Vincent khăng khăng đòi hỏi những câu trả lời từ phía anh.

“Chiếc xe tẩu thoát ở đây đúng không - trên đường chính?”

“Phải.”

“Và bọn cớm sẽ chặn đường đó?”

“Phải.”

“Còn đây, phía sau chiếc xe, bọn cớm đổ tới ngân hàng từ các hướng khác, Nynashamn, và chặn cả lối đó nữa?”

“Phải.”

“Vậy là bọn ta hoàn toàn bị bao vây.”

“Không.”

“Đúng thế, bởi vì...”

Với một chút tự mãn về bản thân, giờ anh mới giải thích.

“Đó chính xác là điều chúng sẽ lầm tưởng. Nhưng bọn ta sẽ ở đây, Vincent ạ, trên một trong những con đường nhỏ tiến tới cướp ngân hàng thứ ba.”

Một đồng 10 krona thứ ba đặt trên bản đồ, dọc con đường nhỏ dẫn tới một thị trấn còn nhỏ hơn là Sorunda.

“Em vẫn chưa hiểu.”

Vẫn với một chút tự hào, anh lấy một chiếc xe nữa ra khỏi túi.

“Mày có biết mất bao lâu tao mới tìm được cái này không? Tao đã đi lùng khắp các cửa hiệu đồ chơi trong thành phố - và rồi tao thấy nó qua cửa kính một hiệu đồ cổ trên phố Ring.”

Một phiên bản thu nhỏ chính xác của chiếc xe tẩu thoát - Volkswagen Beetle màu đỏ model 1300 - anh đặt nó xuống cạnh đồng 10 krona mới.

“Chúng ta sẽ ngồi trên chiếc xe này đi dọc con đường nhỏ.”

Sau đó anh chỉ tay sang phía bên kia bản đồ.

“Cùng lúc đó, một chiếc xe giống hệt sẽ nằm ở đây, trên con phố chính, tất cả đường sá xung quanh bị chặn kín mít.”

Leo nhìn Vincent giờ không còn phản đối được gì nữa, ít nhất là trong sáng nay.

“Một màn ảo thuật, anh em ạ. Bốn ngày nữa.”

CHẬT CHỘI. Lần nào xoay người Felix cũng đập vai vào cửa. Mặc dù nó đã đẩy ghế ra sau hết cỡ, đầu gối nó vẫn chạm vào bảng đồng hồ mỗi khi sang số. Nếu thay đổi tư thế, đùi nó lại mắc vào tay lái.

Động cơ không mạnh. Điều khiển cũng không phải dễ. Nhưng đó không phải lý do họ chọn chiếc xe này - tất cả những ai nhìn thấy nó sẽ nhận ra ngay, và sau đó có thể nhận diện nó dễ dàng.

Nó chờ đợi cửa garage cuốn lên, lái xe vào, đèn pha chiếu về phía bàn làm việc, tấm bản đồ to tướng với ba đồng 10 krona và hai chiếc xe đồ chơi Dinky Toy màu đỏ đặt cạnh một đống lính đồ chơi. Nó hạ cửa kính, cầm mấy thứ dụng cụ mà nó luôn dùng mỗi khi cần tìm hiểu từng ngõ ngách của một mẫu xe mới - mỏ lết, búa trượt, tuốc nơ vít.

“Trên một chiếc xe loại này à?”

Jasper ngồi cạnh Vincent và Leo, sâu hơn bên trong phòng cạnh chiếc bàn làm việc còn lại, tay mở bốn hộp bìa các tông và bốn gói mềm bọc bằng màng nhựa mỏng.

“Phải. Trên một chiếc xe loại này.”

Nó đứng dậy, bước về phía chiếc xe.

“Trong... một chiếc xe con bọ khốn kiếp hả? Felix, những cái kia chỉ là đồ chơi - mày không thực sự tưởng là Leo nói nghiêm túc đấy chứ?”

“Giỏi lắm, Jasper.”

“Thế quái nào mà ta có thể...”

“Thật sự rất giỏi, Jasper ạ. Anh chẳng biết quái gì về xe cộ, thế mà cũng nhận ra và kể tên được cái xe đó. Tất cả những người khác ở quảng trường Osmo cũng vậy.”

Hai mô hình thu nhỏ của chiếc xe đặt trên bản đồ. Đây là chiếc xe nổi tiếng nhất thế giới. Nó đã thuê chiếc này, và giờ nó sẽ tìm hiểu mọi ngóc ngách, tháo cửa, chui vào ghế lái, làm điều tương tự với ổ khóa và khóa bánh lái, tháo ra lắp vào nhiều lần mà không để lại dấu vết, để có thể đánh cắp hai chiếc khác chỉ trong vài giây.

“Cái xe này thật sự quá nhỏ, rõ ràng là thế. Nhưng đúng là loại xe mà ta đã nhất trí.”

Leo, một tay cầm chiếc hộp, một tay cầm màng nhựa, rời khỏi bàn ra đứng giữa Jasper và Felix, giữa cái kẽ đã rạn nứt vài tuần trước và giờ không được phép để lớn thêm nữa.

“Nhưng tao ngồi ghế phía trước. Phải không nào?”

Ba người đứng thành hàng, tất cả đều cao trên một mét tám, cạnh phần nóc xe cong cong, dốc đứng chỗ ghế sau nơi còn chật chội hơn cả phía trước. Leo nháy mắt với hai tên kia, cắt ngang những lời phàn nàn của Jasper và đưa gói nylon cho Felix.

“Loại lớn nhé.”

Một chiếc áo liền quần mới, màu đen. Felix mở nó ra và giơ lên cho tới khi chiếc áo lơ lửng giữa hai người như một hình người trống rỗng.

“Và đây. Cỡ mười một.”

Anh đưa chiếc hộp các tông màu nâu cho Jasper - sực mùi da trước cả khi nó mở hộp ra.

“Bốt của lính dù Israel. Bốn đôi cùng một cỡ, đế không sây sát gì. Khi nhân viên pháp y bò lổm ngổm tìm dấu vết, lấy dấu chân, tất cả sẽ... giống hệt nhau.”

Felix mặc bộ áo liền quần, Jasper buộc dây giày.

Vũ khí mới. Quần áo mới. Và cả xe mới.

Leo gõ nhẹ lên lớp kim loại sơn đỏ trên nóc xe.

“Chúng ta cần hai chiếc nữa giống hệt nhau. Cùng một hãng, mẫu xe, màu sắc. Chúng ta sẽ bắt đầu ở mạn phía Nam, sau đó tản ra. Nếu không tìm được cả hai chiếc ở đó, ta sẽ làm giống như lần trước, đi lên mạn Bắc thành phố. Còn ba ngày nữa.”

ĐÓ LÀ MỘT THIẾT BỊ ĐƠN GIẢN. Hoàn toàn hoạt động bằng cơ khí. Một hộp kim loại dài, hẹp, được đổ đầy một nửa đinh ốc và bu lông cùng thuốc nổ dẻo m/46. Kíp nổ được nối với một lò xo kích nổ tựa vào cạnh ngắn hơn của chiếc hộp. Một phản ứng dây chuyền đơn giản. A dẫn tới B rồi tới C. Khi nắp hộp bên cạnh ngắn mở ra, lò xo kích nổ nhả kíp nổ và mọi thứ trong hộp nổ bung ra, giết chết bất kỳ ai đứng quanh đó.

“Mày có thấy nó đâu không, Felix?”

Leo đang ngồi trên bàn làm việc trong garage, tay cầm một sợi dây thép màu đỏ. Anh cắt đúng mười phân. Tấm bản đồ, mấy đồng xu và đám lính đồ chơi đã được dọn đi, đem đốt - cả nhóm đều đã biết phương thức, địa điểm, thời gian hành động.

“Felix, nghe thấy gì chưa?”

“Gì thế?”

“Mày có thấy Vincent đâu không?”

Felix chuyển từ máy khoan gỗ sang máy khoan kim loại cái lỗ nhỏ buộc phải được khoan chính giữa mặt trên chiếc hộp, một cái nắp đậy bên trên đinh và chất nổ bên trong.

“Nó đang trên đường đến.”

“Khi nào?”

Leo luồn một đoạn dây màu đỏ qua lỗ và quấn nó vào bộ phận kích nổ.

“Felix, khi nào thì nó mới chịu đến?”

“Ngay bây giờ.”

Có tiếng gõ cửa garage.

Leo mở cửa - không khí lạnh và trong lành, một tiếng nổ nghèn nghẹt đằng xa.

“Giờ là mười một giờ bốn mươi. Mày đến muộn.”

“Bắt được taxi đúng là khó hơn cả lên trời.”

Anh đóng cửa rồi khóa lại, sau đó ôm lấy đứa em, lùi lại một bước huýt sáo một tiếng thật lớn về phía Vincent, người bận bộ com lê đen và sơ mi trắng hở cổ.

“Ái chà, nhìn sắp thành người lớn rồi.”

“Hai nghìn krona. Em mới mua hôm nay.”

Vincent cầm một chiếc túi trong tay; nó đưa cho Leo và tiếp tục đi vào garage.

“Đây có phải là... quả bom?”

Leo lấy các thứ trong túi ra rồi gấp nó lại. Hai chai Bollinger. Có vừa đủ chỗ cho chúng trên bàn cạnh ba ly champagne.

“Ừ.”

“Được rồi. Em đoán từ giờ chúng ta sẽ trở nên thế này đây. Những tên khủng bố.”

Vincent nhìn chiếc hộp đen xám, nghe tiếng Felix kéo băng dính khỏi cuộn.

“Mẹ chúng ta có thể là người đặt ví trong cái ngăn tủ khốn kiếp cạnh thứ này!”

“Tao tưởng mình đã bàn bạc xong chuyện này rồi.”

“Đó là anh thôi, Leo. Chứ không phải em.”

“Vincent?”

“Sao?”

“Chúng ta không đặt nó ở đó để giết người, như tao đã nói với mày. Chúng ta đặt bom là để bọn cớm không dám coi thường. Nếu đặt một quả bom giả, chúng sẽ không bị lừa đâu.”

“Nhưng lỡ... lỡ nó nổ thật?”

“Gì đấy?”

Leo cúi người lại gần.

“Nếu nó... nổ. Chẳng may thôi.”

Hơi thở nó sực mùi rượu.

“Vincent? Té ra mày đâu có chờ cái taxi quái nào.”

Rồi anh hít hít vài lần như để chứng minh.

“Mày về nhà uống rượu.”

Leo cố nhìn vào mắt đứa em trai mà không được. Đôi mắt nó đang nhìn chằm chằm vào cái hộp với sợi dây màu đỏ thò ra ngoài cái lỗ khoan trên nắp.

“Vincent? Nếu muốn nói gì với tao thì cứ nói. Cho xong đi. Bọn mình là anh em với nhau cơ mà! Mày không cần phải uống say trước khi đến nói chuyện với tao.”

“Em đã nói rồi. Em cảm thấy chuyện này không ổn.”

“Mày nói ‘không ổn’ tức là sao?”

“Cảm giác không thoải mái chút nào. Và nếu vẫn còn phải chịu đựng cái cảm giác này lần nữa... em sẽ không tham gia đâu.”

“Vincent, nghe tao nói này.”

Leo mở nắp, để lộ ra vài lớp đinh, ốc và thuốc nổ dẻo.

“Nếu giữ cố định cái này...”

Ngón trỏ của anh đặt trên bộ phận kích nổ hình ống màu đen.

“... quả bom sẽ không nổ.”

Sau đó anh đưa ngón tay vào vòng dây màu đỏ ở đầu kia bộ phận kích nổ.

“Vậy nếu tao kéo căng cái này một chút...”

Anh kéo.

“... nếu tao lựa chọn giật vòng an toàn...”

Rồi nhìn Vincent khi đó đang quan sát sợi dây.

“... thì chỉ cần một chuyển động nhỏ như sợi tóc rơi - chúng ta sẽ banh xác ngay. Nhưng chỉ khi tao kéo vòng an toàn.”

Anh nhẹ nhàng rút ngón tay ra.

“Kế hoạch là thế này. Nghe nhé. Đầu tiên, ta báo bọn cớm rằng có một quả bom trong tủ ở Nhà ga Trung tâm. Chúng sẽ tới đó kiểm tra xem đấy có phải một quả bom thật hay không. Chúng phải thực hiện công việc của mình - và ta cũng thế. Chúng ta cướp hai ngân hàng ở Osmo và một ở Sorunda trên đường về trong khi bọn chúng lập vành đai bao vây cả thành phố, dàn quân khắp nơi, cách chúng ta ba mươi dặm trong vài giờ. Sẽ không có ai bị thương cả, Vincent ạ. Không ai phải chết. Thậm chí cả bà già nào đặt túi xách trong ngăn tủ ngay bên cạnh.”

Felix kéo dải băng dính lên trên cái nắp để giữ nó cho chặt, rồi dán thêm một dải băng dính nữa cho chắc. Nó đã đứng giữa hai anh em, lắng nghe mà không đứng về bên nào cả. Nó nhận ra điều này, mặc dù chưa từng xảy ra. Đây là lần đầu tiên Vincent dám phản đối lại anh theo đúng cái cách nó thường làm. Và kết cục cũng hệt như mọi khi. Ông anh lớn biết quá rõ mọi chuyện đến nỗi không thể bị thuyết phục, mặc dù anh có thể thuyết phục tất cả mọi người bằng nhiệt huyết của mình. Vậy nên nếu ai đó phải nhượng bộ, hẳn phải là đứa em. Chúng hoặc đồng ý, hoặc không. Làm theo Leo, hoặc không.

“Vậy là nhất trí. Được chưa?”

Vincent thoáng gật đầu.

“Tốt. Bởi vì chỉ còn mười phút nữa là tới nửa đêm. Tới lúc bật nắp rồi.”

Anh gập áo khoác, cầm lấy mấy cái ly và chai rượu, toan bước ra cửa garage.

“Chưa hẳn... đã nhất trí. Còn một điều nữa.”

Felix rướn người qua bàn làm việc, như thể để tỏ ra mình chẳng vội vàng gì.

“Ý em là, vì có em trai chúng ta ở đây.”

Rồi nó quay lại phía Vincent.

“Ai đã mở cửa?”

Vincent chẳng hiểu gì hết.

“Vincent? Lần đó... khi bố xuất hiện.”

Leo nhìn Felix khi đó đang nhìn chằm chằm vào mình rồi lắc đầu.

“Lạy trời, Felix - sao mày cứ bị ám ảnh mãi chuyện đó thế? Giờ là mười một giờ năm mươi hai rồi. Ra khỏi đây thôi.”

Giờ tới lượt Felix nhìn Leo và lắc đầu.

“Không. Ta phải nói chuyện này cho ra nhẽ.”

Khi đào xong Hang Đầu Lâu, trên người vẫn còn đầy mùi bùn đất, họ đã cãi nhau cạnh cái máy trộn xi măng về việc hôm đó ai đã mở cửa, ai đã để cho cái người lẽ ra không nên có mặt ở đó bước vào nhà, và dần dà nhận ra cả hai đều chắc chắn mình là người mở cửa.

“Vincent - ai đã mở cửa khi ông già đến nhà mình để cố giết mẹ?”

“Hai anh đang nói chuyện gì thế”

“Khi bố ra tù. Sau khi chúng ta chuyển tới Falun. Lão đã lái xe đến đấy.”

Felix nhìn Leo. Để em mở. Leo nhìn Felix. Để anh mở.

“Ai đã mở cửa hôm đó, Vincent?”

“Felix, mẹ kiếp, khi đó nó mới có... sáu tuổi. Giờ mày còn bắt nó làm nhân chứng nữa à?”

Còn Vincent thì nhìn cả hai người.

“Bảy tuổi. Khi ấy em bảy tuổi. Khi lão định giết mẹ.”

Felix làm cái điều mà Leo hay làm, đặt hai tay lên vai Vincent.

“Quên chuyện hai bọn tao là anh mày đi. Cứ nói mày đã nhìn thấy gì. Là tao mở cửa - hay là Leo?”

Leo vẩy chai champagne về phía đồng hồ đeo tay của mình.

“Được đấy. Cứ nói mày nhớ được gì. Để cho Felix được hài lòng rồi bọn ta có thể rời khỏi đây.”

Nó đứng đó. Felix đặt tay trên tay nắm cửa. Còn Leo đang trên đường chạy ra.

“Coi nào! Vincent - mày đã nhìn thấy gì? Là tao hay là Leo?”

Nó nhảy lên. Không với tới. Nhưng cũng gần đến.

“Là em.”

Và rồi, nó với tới thật, vặn tay nắm cửa.

“Em đã mở cửa.”

Leo bật cười nhưng không cười to, cũng chẳng phải vì niềm vui nào.

“Thật là một câu trả lời ngoại giao.”

Felix thậm chí còn không cười.

“Cái quái gì... coi nào! Nói thật đi, bọn tao sẽ không nổi giận, tao hứa... là ai, Vincent... ai mở cửa?”

“Là em. Em nhớ được. Em đứng đó, mở khóa, sau đó giật tay nắm mở cửa ra.”

“Vậy đó là do mày?”

“Phải.”

Mặt Felix đỏ tía lên như mọi lần. Căng thẳng. Cố gắng hiểu được làm thế nào ba anh em có thể đứng cạnh nhau trước cánh cửa để rồi sau này cả ba đều tin rằng mình là người đã mở cửa.

“Thế còn tao thì ở chỗ quái nào? Không phải tao cũng ở đấy à? Leo nhảy lên lưng lão, mày mở cửa còn tao... chắc tao ngồi trên ghế trong bếp à? Trên cái nồi? Hay thậm chí tao không tồn tại... hay cả hai người là những kẻ đã nhổ vào mặt mẹ? Phải không? Là ai trong số các người?”

“Cái đó thì có ý nghĩa quái gì?”

“Mẹ kiếp! Nó có ý nghĩa với tao.”

Căn garage rộng, hoàn toàn im lặng.

Bên ngoài tiếng pháo hoa và pháo bông nổ lúc càng giòn giã.

“Anh là kẻ đó. Kẻ đã nhổ vào mặt mẹ. Nhưng chuyện đó thật vô lý. Đó là một điều... khác.”

Leo gật đầu với Felix.

“Và nó không còn có ý nghĩa gì nữa.”

Ba ly champagne trong tay Leo, ba mươi giây nữa là tới nửa đêm. Anh kéo cửa garage lên bầu trời đêm như tấm thảm thêu đầy sao băng. Bầu trời rực sáng đủ màu sắc, những bông hoa nở tung ra rồi biến mất. Anh bóc lớp vỏ giấy mạ vàng trên cổ chai rồi bật nắp, khiến nó bắn tung đi mất.

“Chúc mừng.”

Những ly rượu sủi bọt trên ba bàn tay.

“Chúc mừng vì Getryggen Farsta và Svedmyra.”

Anh giơ ly rượu lên bầu trời đủ màu xanh lục, đỏ, vàng và xanh dương.

“Chúc mừng năm mới - vì Osmo, Rimbo, Kungsor và Ullared”.

Kho vũ khí. Chiếc xe chở tiền. Vụ cướp đơn lẻ. Vụ cướp kép. Vụ cướp chùm ba.

Tới đó là xong xuôi. Họ sẽ bán lại tất cả đống đó cho cảnh sát, lột bỏ trang phục kẻ cướp và biến đi mãi mãi.

“Nhưng đầu tiên là Osmo. Hai ngày nữa.”

MỘT SÚC NẶNG KIỂU KHÁC. Đinh, ốc, bu lông, thuốc nổ dẻo nặng trĩu từ cánh tay tới vai nó. Bàn tay nó nắm lấy quai cầm. Nó đang đi ở tốc độ vừa phải, ngang qua những người đang ăn xúc xích, xem báo buổi tối, uống cà phê trong cốc giấy, chốc chốc lại nhìn lên bảng thông tin điện tử choán cả bức tường bên trên lối ra chính. Cái túi bằng nylon, nặng chừng chín cân; nó xách tương đối cao để nhìn có vẻ nhẹ hơn, như thể bên trong chỉ đựng quần áo hay mấy chai lọ linh tinh, loại túi mà một hành khách thông thường sẽ cầm khi đi ngang qua khoảnh sân lát đá của Nhà ga Trung tâm.

Tất cả những con người ở đó chuyển động không ngừng. Một ga tàu ở thủ đô là một lãnh thổ riêng, có ngôn ngữ riêng, một nơi vừa chia cắt vừa kéo con người lại gần nhau, tất cả đều ở đó nhưng không một ai có ý nghĩa quan trọng gì.

Nhưng không một ai giống như nó. Một bóng đen với chỉ một mục đích duy nhất.

Tìm và mở một ngăn tủ. Bỏ vào đó một cái túi. Khóa lại. Bỏ đi.

Cho tới lúc này nhiệm vụ của nó chỉ là lẫn vào dòng người, tỏ vẻ như đang trên đường đến hoặc đi khỏi Stockholm.

Một hành khách đội mũ len màu đen và mặc áo rét, cũng giống như những chiếc áo rét của bao người khác.

Khi bước từ phố Vasagatan qua cánh cửa xoay vào sảnh đến khổng lồ này, nó phải đi thành một hình bán nguyệt giữa đám người và các cửa bán vé, dừng lại trước bảng thông báo hành trình, và rồi - bất chấp đám bảo vệ và camera an ninh - lẩn vào đám đông. Sau đó không ai còn có thể nhận ra ai là kẻ đã khiến tất cả những chuyến tàu đến và đi từ mọi ngóc ngách của Thụy Điển bị hoãn lại.

Từ bảng thông tin, nó phải đi thật nhanh tới chỗ thang cuốn, như một hành khách muốn thoát khỏi cái túi vướng víu trong vài giờ, chạy tới dãy tủ để đồ.

Chỗ đỗ xe tạm thời dưới gầm cầu, đối diện khách sạn Sheraton là nơi duy nhất gần với Nhà ga Trung tâm mà Leo biết chắc nằm ngoài tầm nhìn của những chiếc camera lắp trên nóc nhà. Anh đã nhìn theo Jasper đi khuất sau cổng vào chính, lẫn vào một biển những đầu người lố nhố. Anh ngồi trên ghế lái chiếc xe của công ty, động cơ chạy không tải đã được vài phút. Khi Jasper ra khỏi đó, họ sẽ đón Felix và Vincent ở cây xăng bỏ hoang, sau đó đi xuôi xuống phía Nam tới Osmo, nơi có hai ngân hàng liền kề nhau.

Điện thoại di động của anh nằm trong cùng một bên túi áo đựng chiếc thước gập và cái cờ lê. Nó đang đổ chuông. Mặc dù giờ chẳng đúng lúc. Chỉ có sáu người biết số chiếc điện thoại không đăng ký này. Jasper, kẻ đang trong nhà ga, hiểu quá rõ nó không nên gọi điện ra ngoài. Felix và Vincent đang chờ đợi và biết không nên gọi cho anh. Anneli đang ở ngôi nhà của họ tại Tumba, cũng biết rằng mình không nên gọi điện. Mẹ hẳn giờ này vẫn còn đang ngủ vì phải làm ca đêm.

“Lần này đừng có dập máy.”

Và... bố.

“Tao cần nói chuyện với mày.”

“Lần trước tôi đã nói là tôi không có thời gian. Bây giờ cũng thế.”

Leo nghe tiếng ông ta thở phì phò qua lỗ mũi, như thể không khí đang chặn lại những lời nói quan trọng nào.

“Cái phong bì. Leo?”

Hoặc như thể ông ta đang cố kéo dài, cẩn trọng hơn mọi lần.

“Tao không muốn cãi vã về món tiền chết tiệt đó. Nhưng tao đang nghĩ. Mày hiểu đúng không?”

Xe cộ đông đúc trên phố Vasagatan. Một đàn chim bồ câu đậu trên nóc Nhà ga Trung tâm. Một nhóm khách du lịch Nhật Bản đeo bảng tên, tay cầm máy ảnh đứng bên ngoài khách sạn Sheraton. Nhưng vẫn chưa thấy Jasper đâu.

“Nếu mày có thể đưa tao từng đó tiền, kể cả khi mày không cho rằng tao đáng sở hữu, như thế có nghĩa là mày còn nhiều tiền nữa. Tiền đó từ đâu mà ra? Tao cũng làm trong ngành xây dựng này, trong đó hàng bao nhiêu giao dịch chui, nhưng cũng không được trả nhiều thế. Nếu mày có nhiều tiền đến vậy, Leo... hẳn mày đã kiếm bằng cách khác.”

“Ông thì biết quái gì về công việc của tôi.”

“Phải. Tao không biết.”

“Đủ rồi. Tôi sẽ không nói chuyện với ông về vấn đề này nữa.”

“Mày sở hữu một công ty cùng với mấy đứa em... những đứa con trai còn lại của tao, Leo ạ! Như thế có nghĩa là mấy đứa em mày cũng tham gia. Mày phải chịu trách nhiệm về chúng. Nếu bọn mày đang làm gì phi pháp - đấy là trách nhiệm của mày, Leo!”

Lại tiếng thở khốn nạn đó, sát điện thoại, như thể ông già đang nhìn quanh đảm bảo không có ai nghe trộm.

“Nếu mày gặp rắc rối, Leo...”

“Trách nhiệm?”

“Nếu mày gặp rắc rối, Leo... mày có thể nói với tao lúc nào cũng được, trước đây tao đã từng giúp mày.”

“Tôi không gặp rắc rối nào hết.”

“Mày biết đấy, tao đã sống lâu hơn mày hai mươi bảy năm, Leo ạ.”

“Ông không nghe thấy tôi nói gì à?”

“Vậy nên tao có nhiều kinh nghiệm hơn chút ít, Leo. Tao nhìn thấy những điều mày không thấy.”

“Ông ư?”

“Sao?”

“Là ông ư - bố?”

Một tiếng thở nữa qua lỗ mũi, nhưng lần này không phải là thở ra, bố anh đang chờ đợi.

“Sao?”

“Tôi chịu trách nhiệm. Chúng nương tựa vào tôi. Ở đời là thế - nếu đứng ra nhận trách nhiệm, mọi người sẽ tin tưởng ta. Hai mươi bảy năm? Cái quái gì thế? Thời gian! Nhưng nếu ông không sử dụng nó làm gì, nó cũng chỉ có thế... là thời gian thôi. Đừng có lo về Vincent và Felix. Chúng vẫn sống khỏe với thằng chỉ điểm này.”

Đám đông đi lại bên ngoài lối vào Nhà ga Trung tâm. Anh đang tìm kiếm một người đội mũ len và bận áo rét, là một hành khách nhưng bước ra khỏi đó mà không cầm theo chiếc túi nào.

“Và đếch có chuyện tôi nhờ ông giúp đỡ đâu.”

Ngăn tủ chứa đồ phải nằm giữa sảnh đến, cao ngang ngực. Như thể bọn cảnh sát sẽ phải sơ tán toàn bộ nhà ga để robot phá bom hoạt động. Người phụ nữ bên phải nó đóng tủ, xoay chìa khóa, rồi một đồng xu được bỏ lên khay kim loại. Cô ta đã bước đi khỏi đó, nhưng Jasper vẫn xoay mặt lại đề phòng trong khi mở ngăn tủ bên cạnh, số 326. Đôi giày cao gót của cô ta gỗ lộp cộp trên mặt đá, và khi cô ta đã đi xa, nó nhẹ nhàng đẩy cái túi đựng bảy cân vụn kim loại và hai cân thuốc nổ. Một cái đẩy nhẹ cuối cùng, cho nó trượt vào bên trong, nằm thẳng với cửa tủ. Nó quan sát mọi người xung quanh, không ai đang nhìn nó. Thậm chí cả những kẻ có vẻ đáng ngại nhất. Những kẻ mặc đồng phục, đeo ba lô trên vai, đi sau nó chỉ vài chục phân. Những chiếc mũ nồi xanh đậm của chúng lấp lánh. Đột nhiên nó không thể đóng tủ lại nổi, cả cánh tay nó tê dại, tim đập điên cuồng. Ba cái nhánh bằng vàng sáng lên trước mắt nó - một tượng trưng cho Dũng cảm, một cho Quyền uy, một cho Sức mạnh. Lính đặc nhiệm. Năm người để đầu cua đang trên đường tới con tàu đi lên phía Bắc.

Họ đang đi qua mặt mình. Những mái đầu cạo nhẵn, những đôi mắt, tất cả đều vô cùng đĩnh đạc. Họ không thấy mình. Nhưng mình thì lại thấy họ.

Họ không nói với nhau lời nào. Hằng ngày họ được dặn rằng họ không nên làm thế, rằng họ phải là nguồn tin tình báo cho hải quân và lực lượng lính thủy đánh bộ, rằng họ là những quân nhân tinh nhuệ nhất Thụy Điển.

Tôi đã từng là một người như các người.

Chiếc túi nằm trong tủ số 326. Nhưng khóa kéo vẫn chưa đóng kín - phía sau vẫn còn hở vài phân. Jasper nắm lấy cái khóa toan kéo nó lại thì nhìn thấy vòng dây màu đỏ sáng lên trong túi nylon, chiếc vòng an toàn.

Những chiếc mũ nồi chênh chếch đó đang ở ngay sau lưng nó. Nằm một cách hoàn hảo trên những mái đầu đó.

Và rồi nó cảm thấy ghê tởm. Một cảm giác duy nhất.

Ghê tởm những kẻ không biết rằng còn nhiều nhóm khác mời gọi mình, nhũng người lên kế hoạch, tấn công, xả súng, nhả đạn không kém phần chính xác - và còn hơn thế nữa, những người là bạn bè thực sự, là anh em. Ghê tởm những kẻ không hề hay biết tại sao nó đứng ở đó.

Tôi không còn là một trong số các người nữa.

Ngón tay luồn qua lỗ hở, xuyên qua vòng dây.

Vòng an toàn.

Nếu tao giật cái vòng này. Sau đó chỉ cần chúng mày di chuyển chiếc hộp một ly.

Những mái đầu quân đội đã biến mất trong đám đông, hòa cùng bao người khác, nhìn cũng hệt như tất cả những người đang trên đường đi đâu đó.

Tôi lớn lao hơn hẳn các người.

Nếu tao làm thế, kéo vòng dây này, quả bom sẽ nổ nếu bất kỳ ai mở tủ ra. Chúng mày có biết không?

Bảy phút. Nhìn qua cửa kính, Leo tìm Jasper trong đám người liên tục di chuyển.

Lẽ ra giờ này nó phải hoàn thành rồi. Chỉ việc chui vào nhà ga, tìm một ngăn trống, để cái túi vào. Những việc đó chỉ mất ba, hay cùng lắm là bốn phút không hơn.

Chiếc điện thoại vẫn nằm trong tay anh.

Không một cú điện thoại từ ông ta trong suốt bao nhiêu năm trời. Và rồi hai cú điện thoại chỉ trong vài tuần. Giọng nói của ông ta mổ vào sọ anh, thọc vào óc anh, cố chui vào bên trong bằng chiếc chìa khóa giờ không còn tồn tại.

Lẽ ra mình không bao giờ nên đến đó.

Lẽ ra mình không bao giờ nên đưa 43.000, không chỉ cho lão cái xe hay nói về công ty, về những gì mình đang làm.

Lẽ ra mình không bao giờ nên mở cánh cửa cuộc đời bọn mình cho lão.

Giờ thì, đằng kia, qua kính chiếu hậu, chiếc mũ len màu đen, những sải chân dài và chắc chắn bước ra từ lối vào chính của Nhà ga Trung tâm. Jasper không cầm theo chiếc túi nữa.

“Mày làm lâu quá.”

“Tao muốn thật chắc chắn.”

“Chắc chắn?”

“Rằng... không ai nhìn thấy tao.”

Bãi đỗ xe trong bóng tối dưới gầm cầu Trung tâm giờ được thay bằng phố Vasagatan, bầu trời bên trên và ánh sáng ban ngày.

“Đã đặt nó vào vị trí chưa?”

“Đúng tầm ngang ngực.”

Jasper hiếm khi nở nụ cười kiểu đó. Một cái cười nhe răng trên khuôn mặt vốn hiền hòa. Leo nhận ra nó trong tất cả những vụ việc giống như chuyện cái dùi cui và cổ tay bị gãy.

“Khi chúng mở ngăn tủ đó, chúng sẽ biết thôi. Rằng đây là chuyện thật. Từng tay cớm trong thành phố đều sẽ đổ xô hết đến đó.”

“Tốt.”

“Vì đó là cái mày muốn đúng không? Dạy cho chúng... hiểu.”

“Đúng là tao muốn thế.”

Họ lái xe dọc phố Vasa về phía cây cầu, đám người bên ngoài nhà ga biến thành một mớ những chấm nhỏ màu xám trong gương chiếu hậu.

“Leo?”

“Ừ?”

“Cảm ơn.”

“Cảm ơn?”

“Vì đã tin tưởng tao.”

Ngang qua cầu, tòa nhà Quốc hội nằm bên trái, rồi tới khu phố cổ, đi tiếp về phía Slussen.

“Jasper này?”

“Sao?”

“Dây an toàn.”

Nó giật dây an toàn ra, cài khóa trong khi họ đi vào đường hầm bên dưới Sodermalm.

“Ba phút. OK?”

“Ba phút.”

“Felix chờ trong xe bên ngoài. Chỉ mình tao lo mục tiêu Một. Mày và Vincent lo mục tiêu Hai.”

Chiếc taxi đi trước họ đột nhiên giảm tốc, như thể không biết đi đâu. Leo khi đó đi quá sát, nhấn phanh và chuyển sang làn đường bên ngoài cạnh cầu Skanstulls.

“Thế nghĩa là mày có trách nhiệm lo cho đứa em út của tao.”

“Tao hiểu.”

“Không được phép để chuyện gì xảy ra với nó - hiểu chưa? Bất cứ chuyện gì.”

“Tao hiểu.”

Đi lên đồi tới chỗ bùng binh ở quảng trường Gullmars, tới quảng trường màu xám giữa những cửa hiệu bán lốp xe, anh cẩn trọng thả Jasper xuống cách bốt điện thoại công cộng một quãng xa, rồi đi tiếp tới mặt bên kia tòa nhà, lối ra gần siêu thị 7-Eleven. Anh sẽ chờ đợi ở đây.

Ống nghe lạnh ngắt của chiếc điện thoại áp vào tai nó.

“Sở cảnh sát đây.”

Miệng áp lại gần.

“Cô đang nghe đấy chứ?”

“Tôi đang ng...”

“Tại địa điểm sau - trong sảnh đến của Nhà ga Trung tâm, ngăn tủ số 326 - có một quả bom.”

Người phụ nữ bên đầu dây bên kia vẫn đang lắng nghe, chờ đợi, Jasper có thể nghe thấy vài tiếng nói đằng sau, tiếng mọi người đi lại ở tổng đài cảnh sát, sẵn sàng tiếp nhận và đánh giá những cuộc gọi khẩn cấp khác.

“Tôi nhắc lại. Tại sảnh đến của Nhà ga Trung tâm. Trong một ngăn tủ. Được đánh số...”

Giọng nói của nó đã được ngụy trang mà nghe không bị giả, vẫn nghiêm trọng, một kiểu lè nhè đe dọa. Đúng cái giọng nói mà nó thích, rất hiệu quả

“... ba... hai... sáu. 326. Quả bom sẽ được kích nổ lúc 15:00. Việc này không thương lượng được.”

Nó dập máy bằng ngón trỏ. Trong bốt điện thoại chỉ còn sự im lặng.

Nó bước ra ngoài.

Người hơi cúi, tay thọc sâu trong túi áo, đi ngang qua quảng trường về phía tòa nhà có siêu thị 7-Eleven và chiếc xe đỗ phía trước. Một giọng nói mà nó thích, bắt chước giống như Leo, bình tĩnh và rõ ràng - hét lên thì không đáng sợ bằng. Leo ít khi lên giọng, nhưng mỗi khi anh làm thế ai cũng phải để ý, không phải bởi Leo đáng sợ, mà bởi vì họ không thể biết được điều gì sẽ xảy ra.

Động cơ vẫn nổ giống như lúc trước khi nó ngồi xuống ghế bên. Leo đặt máy quét tín hiệu radio của cảnh sát trên đùi.

“Tín hiệu báo động đã được phát đi vài lần. Đe dọa đánh bom ở Nhà ga Trung tâm. Chúng đang trên đường đổ tới đó.”

Hai chiếc đồng hồ đeo tay trên cánh tay anh hơi chặt. Bởi vì anh phải đảm bảo lớp vải của chiếc áo liền quần được giữ chắc bên dưới. Chiếc đồng hồ thứ nhất cũ hơn, với những cái kim màu đỏ xấu xí, nhưng anh đã đổi dây đeo mới bằng da màu nâu nhạt, hệt như dây đeo cũ. Chiếc còn lại thì anh đi mua, đeo gần trên khuỷu tay hơn, như một người trưởng thành: chiếc Rolex với vỏ bằng thép đánh bóng, mặt đồng hồ có kim phát sáng, máy chạy kêu đủ to để anh có thể nghe được từng giây.

Leo, theo những gì trên ghi chú viết tay của anh, phải theo dõi sáu khoảng thời gian khác nhau.

Bước 1: 12 phút. Thay quần áo.

Đổi xe hai lần. Tiếp cận Ngân hàng 1 và Ngân hàng 2.

Bước này ít mạo hiểm nhất. Thay từ quần áo lao động sang trang phục đi ăn cướp tại một cây xăng bỏ không, đổi xe lần đầu sang một chiếc Mercedes. Lái sáu dặm tới chỗ chiếc xe thứ hai và đổi sang chiếc Volkswagen Beetle ăn cắp. Đi tiếp một dặm tới quảng trường Osmo.

Bước 2: 3 phút. Cướp nhà băng kép.

Bước 3: 7 phút. Di chuyển tới Ngân hàng 3.

Bước này là mạo hiểm nhất. Họ sẽ thực hiện hai vụ cướp ngân hàng. Sau đó họ sẽ đi trên những con đường nhỏ ít xe cộ từ Osmo đến Sorunda, đầu tiên là trên một chiếc Volkswagen Beetle ăn cắp mà các nhân chứng đều sẽ thấy và cảnh sát nhận diện được, sau đó là trên một chiếc Mercedes ăn cắp. Nhưng - một quả bom sẽ thu hút nhiều đơn vị cảnh sát tới Nhà ga Trung tâm Stockholm cách đó ba mươi dặm. Số cảnh sát ít ỏi ở gần đó sẽ tìm ra chiếc Volkswagen Beetle thứ hai mà sáng nay Felix đã đỗ gần lối ra khỏi thị trấn.

Bước 4: 3 phút. Ngân hàng 3.

Bước 5: 6 phút. Di chuyển. Thay quần áo. Đổi xe.

Bước này có độ mạo hiểm cao, nhưng lại có thể kiểm soát được. Cướp ngân hàng thứ ba rồi chạy về điểm xuất phát tại cây xăng bỏ hoang. Sau đó thay từ quần áo ăn cướp sang quần áo lao động, đổi từ chiếc Mercedes ăn cắp sang ô tô của công ty. Đó là mục đích anh sử dụng chiếc đồng hồ cũ. Tổng cộng thời gian 31 phút - để theo dõi bao lâu đã trôi qua từ khi họ chuyển thành kẻ cướp cho tới khi họ phải ngừng không được ăn cướp nữa, thời gian ngồi trong chiếc xe ăn cắp, cầm vũ khí ăn cắp, bận quần áo đi ăn cướp, khoảng thời gian mà họ có thể sẽ bị bắt.

Leo nhìn đồng hồ. Cả hai chiếc; 2:51. Chỉ còn một phút nữa cho Bước 1 - một phút nữa là tới Bước 2. Một dặm cuối cùng nữa là tới quảng trường Osmo. Biệt thự, nhà cửa, căn hộ. Đằng xa là mái nhà mà bên dưới nó, một ông già cô độc đang ngồi trong căn bếp dưới tầng trệt, ăn hành tây và thịt hun khói, cầm điện thoại gọi những cuộc mà ông ta không nên gọi.

Bên ngoài, một chiếc xe mà ai cũng biết và nhận diện được. Bên trong, bốn tên cướp ngân hàng. Felix cùng anh ngồi trên ghế trước, Vincent và Jasper trên ghế sau, cả nhóm ăn mặc giống hệt nhau.

Góc cua cuối cùng qua một thư viện và bể bơi trong nhà rồi vào bãi đỗ xe trước một trung tâm mua sắm hình chữ U - hàng thực phẩm bên trái, các ngân hàng ở giữa, ki ốt ở phía cuối bán thuốc lá và giấy cuộn.

“Cúi xuống, bắt đầu.”

Chật chội. Mỗi lần anh cúi người, lùi lại, sang ngang, anh đều va vào thứ gì đó, vậy nên mọi cử động của anh đều nhỏ lại mặc dù cơ thể anh thì không. Trán anh gần chạm vào tay nắm của hộc đựng găng tay, vai chạm vào tay quay cửa kính, cùi chỏ chạm vào cần số và phanh tay. Lưng đeo ba lô quân dụng, mình khoác áo chống đạn, khẩu súng nặng trĩu đặt thăng bằng trên đùi, anh kéo chiếc mặt nạ trượt tuyết trùm qua đầu, vuốt phẳng hai cái lỗ ở mắt.

“Hai mươi giây.”

Từ lúc rời bốt điện thoại ở quảng trường Gullmars, họ đã cẩn trọng không lái xe quá nhanh hay quá chậm xuống phía Nam. Chẳng bao lâu họ bắt gặp chiếc xe cảnh sát đầu tiên. Rồi một chiếc nữa, sau đó là ba chiếc xe cảnh sát lao vụt đi về hướng Bắc, đèn nhấp nháy màu xanh bật sáng, nhằm phía trung tâm Stockholm. Họ ngồi im lặng giữa một thế giới đầy âm thanh. Bản tin phát trên radio cạnh bảng đồng hồ trên xe - Nhà ga Trung tâm Stockholm đã bị phong tỏa do nghi ngờ đánh bom - và từ chiếc máy quét tín hiệu của cảnh sát trên đùi Jasper, giọng viên chỉ huy vang lên - xác nhận có chất nổ - sau khi đội phá bom đã tìm ra chiếc túi nylon chứa bom trong ngăn tủ số 326 và các đơn vị cảnh sát được cử đến giúp sơ tán và phong tỏa toàn bộ khu vực, tạm thời chặn một phần của hệ thống đường tàu điện ngầm, ngưng tất cả các chuyến tàu nội địa và quốc tế; trên đường ray chính, một dãy dài các đoàn tàu đỗ lại, hành khách đứng im không hiểu lý do tại sao.

“Mười lăm giây.”

Mọi chuyện diễn tiến đúng theo kế hoạch. Tuy thế giọng nói chết tiệt của bố anh vẫn cứ mổ vào sọ anh, giằng giật bộ não anh.

Nếu mày gặp rắc rối, Leo...

Một giọng nói lẽ ra không có ở đó, vì anh đã quyết không bao giờ lắng nghe.

... trước đây tao đã từng giúp mày.

Tôi hai mươi tư tuổi rồi - đâu còn là trẻ lên mười! Ông đâu có giúp gì được tôi - chính tôi mới là người đã giúp ông!

Anh tăng tốc độ - không để ý Jasper luôn miệng nhắc anh đi chậm lại, không để ý tới cái máy quét tín hiệu cảnh sát đang phát đi báo cáo đội phá đom đang chuẩn bị mở tủ.

Ông không còn đứa con trai nào hết! Nhưng tôi còn hai đứa em!

Chỉ còn sáu dặm nữa là tới chỗ rẽ. Anh đi trên làn bên ngoài, bốn mươi lăm dặm một giờ đã tăng lên thành bảy mươi dặm một giờ và sau cùng ổn định ở mức tám mươi lăm.

Ông thất bại! Tôi thành công!

Cẳng chân anh cố chống lại, nhưng bàn chân anh giậm mạnh lên chân ga, một cơ thể với hai ý chí trái ngược.

Đừng có cố lôi chúng vào! Đây là việc giữa ông và tôi!

Mãi tới khi Jasper kéo mạnh cánh tay anh và kêu lên thật to, anh mới giảm tốc đột ngột. Trong khi tránh đi quá mất chỗ rẽ sang đường nhỏ, anh thoáng mất kiểm soát chiếc xe, khiến chiếc máy quét tín hiệu cảnh sát rơi khỏi đùi Jasper.

“Mười giây.”

Một lối đi hẹp, ngoằn ngoèo xuyên qua rừng và những đồng cỏ, vài hồ nước thưa thớt - anh đi chậm lại, bàn chân và cẳng chân lại hoạt động như một. Bên ngoài, những cánh đồng đã chuyển từ trắng sang gần như toàn màu nâu, bụi đất và cỏ, sau một tuần nhiệt độ trên mức đóng băng cảnh vật như phủ một tấm chăn bẩn thỉu, họa tiết chẳng theo quy luật nào. Trạm xăng nằm trên đoạn đường thẳng duy nhất của con đường. Nó đã đóng cửa sau khi đường cao tốc gần đó được hoàn thành. Anh giảm tốc độ, lái xe vào chỗ khuất sau tòa nhà - những tấm rèm màu vàng và giá xăng vẫn nằm ở mức 76,4 krona - đỗ chiếc ô tô của công ty cạnh chiếc Mercedes ăn cắp mà Felix và Vincent đã dùng để tới đây.

Họ dùng kìm phá ổ khóa treo trên cánh cổng kim loại han gỉ, thay một ổ khóa mới, đặt toàn bộ đồ đạc lên mặt quầy đã sờn bên cạnh máy đếm tiền. Trong im lặng - trừ tiếng cọt kẹt phát ra từ tấm biển Caltex bạc phếch đung đưa trong gió - họ đổi từ bộ đồng phục này sang bộ đồng phục kia. Vẫn im lặng cho tới khi Leo giúp Vincent thắt chặt bộ áo chống đạn quanh tấm ngực trần, gầy gò và phẳng tại đúng điểm cơ thể không cao lên nữa mà trở nên cơ bắp hơn. Anh đứng đó và thắt chặt dây đai của chiếc áo sao cho vừa khít, không một viên đạn lạc nào có thể đi qua khe hở dưới nách vào tim. Rồi anh dừng lại, cũng đột ngột như khi trong xe nhưng lần này thì ngược lại. Trong khi lúc trước anh bắt đầu phóng nhanh và ẩu, lần này từng cử động của anh lại chậm hẳn lại, rườm rà, gần như quá chuẩn xác. Nó sẽ không bao giờ thay đổi, bất kể họ có cướp bao nhiêu ngân hàng đi nữa - cái thân thể nằm dưới lớp áo chống đạn này cũng chính là người từng bận bộ đồ trượt tuyết màu xanh lá kéo khóa lên tận cằm để tuyết không lọt vào được. Chỉ khi Felix hỏi lần thứ ba có chuyện quái gì thế và anh trả lời cũng lần thứ ba rằng không có gì, anh mới thôi không kéo dây đai nữa.

“Năm giây.”

Từng hơi thở thật chậm.

Cùi tay anh vẫn chạm vào cần số, nhưng tay nắm của hộc đựng găng tay không còn ấn chặt vào trán anh như trước, vì anh đã kéo chiếc mặt nạ trượt tuyết màu đen xuống.

Chiếc xe xóc nhẹ khi rời khỏi đường, đi về phía quảng trường nơi có những cửa hiệu với cửa sổ thật lớn và hai ngân hàng chung một vách tường.

“Trong đúng ba phút. Hai ngân hàng - cùng một lúc. Sau đó ta sẽ lại gặp nhau ở đây.”

Đơn vị cảnh sát: Chống tội phạm

Tội danh: Cướp

Nhân chứng: Hansen, TOMAS

Địa điểm: Ngân hàng Handels, Quảng trường Osmo

Một tay súng xông vào ngân hàng, đeo mặt nạ trượt tuyết đen, miệng hét “Nằm xuống! Nằm xuống!” và bắn vài phát súng vào chiếc camera trên trần và một chiếc nữa lắp trên tường.

Hansen đang đứng xếp hàng, một phụ nữ hét lên rằng mình muốn thoát ra ngoài và rồi cô ta lao ra cửa. Tên cướp túm lấy áo khoác cô.

Người phụ nữ thét lên, trong khi tên cướp đẩy cô ta ngã xuống sàn. Khi đó một nhân viên ngân hàng bảo cô ta nên giữ im lặng và nằm yên.

Sau khoảng thời gian mà Hansan gọi là một “khoảnh khắc”, cô ta đứng dậy. Anh ta sau đó quan sát tên cướp và một nhân viên thu ngân đi vào kho tiền trong khi một tên cướp nữa đứng bên ngoài cửa sổ chĩa súng vào anh ta.

Khi tên cướp đơn độc rời khỏi kho tiền, hắn vác một chiếc túi lớn trên vai. Hắn đi ngang qua người phụ nữ trên đường ra ngoài. Theo những gì Hansen nhớ được, cô ta thực sự khiếp đảm và la hét suốt từ đầu đến cuối.

Đơn vị cảnh sát: Chống tội phạm

Tội danh: Cướp

Nhân chứng: Lindh, MARIT

Địa điểm: Ngàn hàng SE, Quảng trường Osmo

Hai kẻ đeo mặt nạ đen xông vào và hét “Nằm xuống sàn!” và cả hai bắn chừng hai mươi phát vào hai chiếc camera.

Lindh quan sát trong khi một tên cướp nhảy qua quầy thu ngân và nói, “Ai giữ chìa khóa kho tiền?”

Lindh lấy chìa khóa nằm trên mặt bàn làm việc của mình, ấn nút mở cửa ngoài rồi ra mở cửa kho tiền bên trong.

Trong khi hai tên cướp đang trong kho tiền, Lindh nghe thấy một tiếng ù ù, nghĩa là những ngăn chứa đang được mở ra. Chúng khuân rỗng từng ngăn một. Cô ta được khuyên rằng hãy nằm xuống lại như cũ. Cô ta quan sát thấy chúng đi bốt giống hệt nhau.

Một giọng nói lớn vang lên “Còn năm giây, ra ngay, ra ngay!” rồi cả hai tên cướp chạy biến đi. Lindh nói thêm rằng trong suốt vụ cướp cô ta có thể nghe thấy tiếng súng nổ và tiếng người la hét ở ngân hàng bên cạnh.

Leo lao ra bên ngoài tiết trời lạnh cóng mặc dù không có tuyết sau 170 giây, vậy là nhanh hơn mười giây. Tiếng thét của người phụ nữ kia vọng theo anh, tiếp tục vang vọng trong ngân hàng mặc dù anh đã ép cô ta nằm xuống sàn nhà và các nhân viên cố làm cô ta im lặng. Cô ta thét lên trong sự đau đớn, sợ hãi và kinh hoàng. Đúng như một người phụ nữ khác lẽ ra phải thét lên khi một người đàn ông xông vào tới tận phòng của bà và sử dụng vũ lực một cách có phương pháp.

Tại sao hồi đó bà không kêu lên?

Một tiếng vọng dài vang theo nhịp bước chân anh.

Anh đã bắn sáu viên đạn vào mỗi chiếc camera. Vậy là còn thừa tám viên.

Leo kéo thẳng quai đeo trên vai, ném chiếc túi vào cốp xe rồi gật đầu về phía Felix khi đó đang chờ trước mũi xe.

Lúc đó mọi thứ như dừng hẳn lại.

Hay là, không dừng lại, đúng hơn là nó bao bọc lấy anh, trườn lại gần, ép đầu, bụng và ngực anh lại.

Đầu tiên là những cái nhìn vừa sợ hãi vừa thán phục của những người đứng sau cửa kính quầy thực phẩm, tay cầm những chiếc túi đựng đầy một nửa. Sau đó là tiếng sủa điên cuồng của một con chó chăn cừu Đức buộc vào cột đèn giữa quảng trường đang nhảy chồm chồm lên, mõm há ra. Những cái nhìn và tiếng động cũng giống như đôi mắt và tiếng thét của người phụ nữ kia siết chặt anh, khiến anh khó thở, mặc dù thông thường chính tại thời điểm này - sau mỗi vụ cướp - anh cảm thấy bình thản nhất, khi anh không cần phải nghĩ ngợi hay cảm nhận gì, chỉ đơn giản làm theo kế hoạch, đi từ điểm nọ tới điểm kia cho tới khi kết thúc.

Cô ta la hét, la hét và la hét.

Tất cả những gì cô ta phải làm chỉ là nằm xuống. Im lặng không cựa quậy.

Anh đã chuẩn bị tinh thần đối phó với một vài khách hàng nam giới ngu ngốc hay nhân viên ngân hàng muốn sắm vai người hùng, hoặc một cuộc đối đầu với cảnh sát địa phương - chuẩn bị để chĩa súng và nhả đạn để chứng tỏ với chúng anh sẵn sàng dùng đến bạo lực. Thỉnh thoảng anh đã tưởng tượng một tình huống sống còn đối mặt với đám cảnh sát có vũ trang tận răng. Nhưng đây, một người phụ nữ khiếp đảm, khóc lóc, cố bảo vệ mình, một mực muốn xông ra ngoài, anh lại chưa từng tính đến chuyện này.

“Hai phút năm lăm giây! Năm sáu!”

Tiếng Felix gần anh.

“Năm tám! Năm chín! Ra đi... ra đi... ra đi!”

Jasper và Vincent chạy ra khỏi cửa ngân hàng bên cạnh cánh cửa mà anh vừa mới thoát ra, mỗi đứa ném một túi đầy tiền vào cốp rồi nhảy lên ghế sau - trong khi đó Felix nhảy lên ghế lái, đạp côn, rồ ga, sẵn sàng lao đi.

Nhưng Leo vẫn đứng đó, không hề nhúc nhích.

“Một Đen - ba phút rồi!”

Trên quảng trường. Bên cạnh chiếc xe. Anh không nghe thấy tiếng gọi của Felix.

“Một Đen - chú ý thời gian!”

Anh vẫn đang bị cuốn vào đó. Những ánh mắt, âm thanh lẫn lộn nhau.

Khẩu súng có quai đeo quanh cổ.

Một người đang la hét bên kia cửa kính ngân hàng.

Anh cất bước đi ngược trở lại.

Một phụ nữ tự bảo vệ mình trước vũ lực của một người đàn ông.

Hệt như ngày xưa. Nhưng còn một sự khác biệt lớn. Tiếng thét bây giờ đã thế chỗ tiếng thét mà ngày xưa anh không nghe thấy.

Một cái liếc mắt thật nhanh về phía mái nhà phía xa, trước khi anh mở cửa lần thứ hai.

Felix nhấn ga, không nhả chân côn, miệng hét lên về phía anh.

“Một Đen - hết giờ rồi, mẹ kiếp!”

Nhưng Leo vẫn bước đi.

Bóng hình đen kịt của anh biến vào trong ngân hàng, Felix không hề thấy anh giương súng.

Nó nằm thật vững chãi trong tay anh. Khi anh nhắm bắn, khi anh nhả đạn.

Đầu tiên bắn một phát, rồi một phát nữa ngay bên cạnh.

Thêm phát nữa, nhưng ở giữa hai phát súng trước và thấp hơn chút.

Và anh bắn trúng mục tiêu của mình với sự chính xác tuyệt đối.

Khi nãy Leo vẫn còn dư tám viên đạn nhưng giờ thì không còn nữa. Anh hạ vũ khí, mở cửa, và khi anh bước ra ngoài, cảm giác ấy đã biến mất.

Không còn gì bao quanh anh nữa, không còn gì dồn ép nữa. Không còn ai la hét, la hét và la hét.

Im lặng. Hệt như những gì anh nhớ được.

Anh không nghe thấy tiếng đứa trẻ sợ hãi chạy khỏi cái ki ốt bán thuốc lá bên kia quảng trường, hay tiếng con chó nhe răng gầm gừ cạnh cột đèn, cái lưỡi dài hồng hồng thè ra, tiếng những con chim đậu trên nóc, hay thậm chí tiếng lạo xạo của đôi bốt khi đi trên mặt sỏi và nhựa đường.

Anh bước đi trong im lặng.

Và giờ anh lại cảm nhận được đúng cảm giác ấy, sự bình tĩnh và thanh thản từ sâu thẳm tâm hồn.

14:57:30

Ba cánh cửa mở bằng thẻ, hai cửa mở bằng chìa khóa.

John Broncks chạy qua những hành lang cũ kỹ và cầu thang tối tăm của sở cảnh sát, chạy trên những tấm thảm nhựa màu vàng và mặt sàn xi măng xám, ngang qua cánh cửa kim loại xanh nhạt dẫn vào garage.

Năm phút mười lăm giây trước đó - 14:52:15 - một nhân viên trực ở tuyến đầu trong căn sảnh mênh mông của tổng đài cảnh sát thành phố nhận được thông báo một vụ cướp đang diễn ra tại ngân hàng Handels ở quảng trường Osmo.

Lúc 14:52:32 một nhân viên tổng đài ngồi cách đó hai máy nhận được thông báo một ngân hàng khác, ngân hàng SE, cũng đang bị cướp, tại cùng một địa điểm trên quảng trường Osmo.

Lúc 14:53:17 Karlstrom bước vào văn phòng của Broncks mà không gõ cửa để nói chính cái điều mà họ đã dự đoán tại nhà ông trước bữa tối ngày thánh Lucia giờ đã thành sự thực. Bốn tên cướp đeo mặt nạ đen. Xả súng điên cuồng. Vũ khí quân dụng Thụy Điển. Tất cả diễn ra trong vòng đúng ba phút.

Là các người.

Broncks vẫn chạy tiếp xuyên qua garage dưới tầng hầm sặc mùi xăng dầu, trong mùa đông lúc nào cũng lạnh không thể chịu nổi. Trong một tháng vừa rồi đã có ba vụ cướp ngân hàng tại Stockholm, và lần nào anh cũng trực. Ngân hàng Tiết kiệm ở Upplands Vasby - ba người đàn ông đi trên một chiếc xe Opel mang theo súng và rìu, bị bắt ngay tối hôm đó tại một quán rượu chui. Ngân hàng Hợp tác xã tại Norrmalmstorg - một người đàn ông trung niên có vũ khí bị bắt chỉ sau một tiếng trong căn phòng ông ta đã ở hồi nhỏ tại nhà bố mẹ, cả món tiền ăn cướp và khẩu súng lục cải tạo từ loại súng hiệu xuất phát được giấu dưới gầm giường. Một chiếc xe chở tiền bị cướp trên đường tới bưu điện - hai người đàn ông dùng súng trường, vẫn chưa bị bắt.

Nhưng không ai trong bọn chúng cho anh cái cảm giác này.

Là bọn mày - không có tiền án tiền sự, không có quan hệ với xã hội đen, nhưng được vũ trang đầy đủ và có kiến thức, không để lại dấu vết nào cho cảnh sát bám theo.

Anh nổ máy và lái ngang qua cái lồng kỹ thuật của phòng pháp y, nơi chỉ mới vài tuần trước anh đã được xem những điều không thể hiểu nổi trên màn hình máy tính. Một tên cướp sửa soạn thực hiện một trong những vụ cướp bạo lực nhất châu Âu quay người lại, đưa tay lên che micro gắn trên bộ áo liền quần và thì thầm. Cửa garage tự động mở ra, anh lái xe lên dốc về phía barrier chắn đường và ánh sáng ban ngày.

Tên cướp ngân hàng thì thầm, che chở, nhận trách nhiệm.

Đó là điều mà anh đã nhận ra, manh mối đầu tiên và cũng là duy nhất đưa anh tới gần sự thật hơn.

Hai anh em.

Giờ chúng lại ra tay. Lần này là hai ngân hàng một lúc. Chúng đang ngày càng liều lĩnh, và rồi sẽ còn liều lĩnh hơn nữa.

Mỗi lần bọn mày cướp một ngân hàng, ta lại tiến gần hơn một bước.

Những giọt nước đọng trên cửa kính.

Tất cả mọi người đều thở gấp, hổn hển xung quanh Felix, vẫn trùm mặt nạ trượt tuyết đen kín mặt.

Hơi nóng từ bốn cơ thể trưởng thành bị chặn lại trong cái vỏ kim loại lạnh ngắt hình con bọ đặt trên bốn bánh xe, tạo thành một lớp sương trắng sữa trên cửa kính ô tô.

“Chuyện đó là cái quái quỷ gì vậy?”

Felix nhìn thẳng, không rời mắt khỏi đường. Tay nó nắm chặt tay lái. Tốc độ đều đều năm mươi dặm một giờ.

“Mày tự thấy rồi còn gì.”

“Không, em không thấy gì hết! Anh định làm cái quái gì?”

Leo cũng nhìn thẳng về phía những rặng cây ngày càng dày đặc trong khi nhà cửa thưa thớt hơn.

Lúc đó họ đã ở khoảnh khắc kết thúc 180 giây.

Anh đã xong việc. Jasper và Vincent đã xong việc.

Và anh dừng lại. Quay trở vào. Nổ súng - tám lần.

“Anh là người đeo tận hai cái đồng hồ khốn kiếp để theo dõi sáu mốc thời gian! Anh là người lúc nào cũng hô hào thời gian, thời gian, thời gian!”

Vai Leo chạm vào vai Felix khi chiếc xe rời khỏi con đường nhỏ chuyển sang một con đường khác thậm chí còn nhỏ hơn: một lối mòn gồ ghề, đầy ổ gà dành cho máy kéo. Hai đầu gối anh đập vào mặt dưới táp lô sau mỗi ổ gà. Bộ áo liền quần của anh ướt đẫm mồ hôi khi họ dừng lại chỗ một đống đá phía cuối con đường không phủ tuyết.

“Tao có thời gian.”

Tất cả mọi người đều biết rõ quy trình.

Chui ra khỏi xe. Mở cốp. Lấy ra ba cái túi đựng đầy tiền.

“Anh đã quay trở vào đó!”

Sang chiếc xe tiếp theo, chiếc Mercedes đang nằm chờ gần đó.

“Anh đã quay trở vào ngân hàng đó và nổ súng như một thằng đần. Anh khiến tất cả chúng ta gặp nguy hiểm!”

Mở cái cốp xe đó. Ném ba cái túi vào. Chui vào cái xe đó.

Đi ngược lại lối dành cho máy kéo ra tới con đường quê.

“Chúng ta đang ngồi đây. Phải không, Felix? Cách Osmo hơn một dặm trên chiếc xe mới chưa ai nhìn thấy, không bị gã khốn nào bám theo. Nếu mày muốn lèo nhèo, cứ để lúc về đến nhà.”

Leo xoay người lại.

“Và bây giờ, cởi mặt nạ ra.”

Khi lớp vải đã được lột ra, bốn cái đầu giống hệt nhau, nhìn không đoán nổi tuổi tác trở thành bốn thanh niên ở độ tuổi hai mươi, mái tóc ướt dính vào cái trán đẫm mồ hôi. Trên một chiếc ô tô đang đi tới, một phụ nữ có đứa trẻ con ngồi trên ghế bên đi ngang qua mà chẳng phản ứng gì.

Jasper cúi người ra trước từ ghế sau, vỗ nhẹ vai Leo và nói thầm.

“Trang nhất.”

Felix đột ngột quay đầu lại khiến cái xe loạng choạng chèn lên vạch kẻ trên đường. Nó không nói thầm.

“Đằng sau im cái mồm đi.”

Leo vẫn nhìn thẳng phía trước, súng đặt trên đùi, mặt nạ trượt tuyết sẵn sàng.

Ba dặm nữa là đến ngân hàng tiếp theo.

Chiếc xe phía trước John Broncks đứng im lìm. Chiếc xe đi trước xe đó cũng dừng lại. Khi anh lái lên vỉa hè để cố nhìn cho rõ, tất cả ô tô đều nằm kẹt gí, tạo thành một con rắn kim loại nhả khói choán từng mét đường nhựa cho tới Nhà ga Trung tâm.

Anh hạ cửa kính, tìm dưới ghế, lấy ra một bóng đèn hình bong bóng - nó được gắn lên nóc xe bằng nam châm, bóng đèn xanh bắt đầu xoay trong khi tiếng còi hụ của anh nảy bật giữa những tòa nhà. Anh cố rẽ làn xe mà đi, quệt vào hết thanh chắn bùn nọ tới thanh chắn bùn kia, chèn lên vạch liền, đi ngoằn ngoèo giữa những chiếc xe đang tới cố tìm một khoảng trống vốn chẳng hề tồn tại.

Toàn bộ trung tâm Stockholm rối loạn.

Những con đường, những con phố, lối đi cho xe đạp quanh Nhà ga Trung tâm đều hoặc là bị chặn, hoặc là đông nghẹt xe cộ đổ dồn sang. Theo như thông báo trên radio, có kẻ đã gài bom ở nơi trái tim của Stockholm này - ban đầu cảnh sát ngờ rằng đó là một quả bom giả, nhưng rồi họ cập nhật lại rằng đó là một quả bom thật. Đội phá bom, chó nghiệp vụ, robot phá bom điều khiển từ xa vừa mới đến nơi.

“Tôi đang lái xe về phía Osmo. Có bao nhiêu cảnh sát ở hiện trường?”

Một tay anh cầm micro, một tay cầm bánh lái, ngoặt những khúc cua gấp khi đi qua Tòa thị chính và phóng lên cây cầu trung tâm cũng đông nghẹt không kém.

“Một.”

“Một?”

“Một người nữa đang trên đường từ Nynashamn tới đây.”

“Hai. Hai xe cảnh sát?”

Cây cầu trung tâm tuy ngắn nhưng có nhiều làn đường về cả hai hướng. Thế nhưng giữa dòng xe cộ đông đúc chỉ ngăn cách ở giữa bằng một bờ tường xi măng này, dù đã dùng đèn nháy và còi hụ, anh vẫn buộc phải giảm tốc trong khi các xe khác cố nhường đường cho anh.

“Ta chỉ có thế.”

Viên chỉ huy cảnh sát ở khu Nynashamn nói thêm.

“Tính tới thời điểm này.”

“Như thế không đủ. Ta cần đội Đặc nhiệm, chó, trực thăng... ta đang nói tới hai ngân hàng bị cướp ở đây - cùng một lúc!”

Khu phố cổ và Slussen, sau đó tại một nơi nào đó trong đường hầm Soderled, dòng xe cộ giãn ra chút ít.

“Anh có nghe thấy tôi nói gì không?”

“Tôi nghe thấy rồi. Nhưng mà anh là - nói theo đúng cách của anh - thằng quái nào? Tại sao anh đi đến đây?”

“John Broncks, sở cảnh sát thành phố.”

“Cái đó chẳng cho tôi biết anh là ai hay tại sao anh lại đang trên đường tới một địa bàn hoàn toàn không thuộc phận sự của mình.”

“Ngân hàng ở Svedmyra, chiếc xe chở tiền ở Farsta... đều do cùng một nhóm. Tôi biết chắc chắn! Tôi điều tra bọn chúng đã gần ba tháng nay.”

Xe cộ trong hầm thưa hơn hẳn.

Anh hơi tăng tốc độ, đi về phía ánh sáng ban ngày và cây cầu dài phía xa.

“Chúng được vũ trang kỹ càng - sẵn sàng nổ súng. Hai xe cảnh sát à? Anh cần yểm trợ đấy!”

“Làm gì còn.”

“Không còn ai à? Làm thế nào...”

“Tôi đã thử rồi. Nhưng toàn bộ đội Đặc nhiệm, chó và trực thăng, cùng lực lượng cảnh sát còn lại của hạt này đều đang tập trung tại một nơi chỉ cách chỗ anh bắt đầu đi có vài tòa nhà. Và anh biết rõ tại sao họ lại được phái tới đó. Nhưng lực lượng cảnh sát hỗ trợ từ các quận khác cũng đang trên đường tới đây.”

Ánh sáng ban ngày. Cầu Johanneshovs. Một cảnh tượng kỳ lạ. Mặt nước bao phủ bởi một lớp băng màu xanh dương lấp lánh bên dưới còn những đoàn tàu dừng lại trên cầu bên cạnh. Giữa đường ray và đường nhựa, hàng trăm, hay có lẽ là hàng nghìn người đang đi bộ về cả hai hướng, áo khoác, áo choàng, những cẳng chân hòa với nhau làm một, nhìn như một loại côn trùng nào đang di chuyển, hai con rết khổng lồ, những người đã thôi không còn hy vọng chuyến tàu sẽ tới.

Ở bên kia cầu là quảng trường Gullmars - những sân ga, cầu thang, một quảng trường với nhiều đoàn tàu bị chặn lại nữa, từng đoàn người dồn lại thành một mớ hỗn loạn, cố leo lên những chiếc xe buýt được điều tới một cách vội vã. Anh đến chỗ sân vận động, sắp sửa tăng tốc trên con đường thậm chí còn hoang vắng hơn lúc nãy thì một giọng nói đánh tan sự im lặng trên radio.

“Nổ rồi!”

Điều này không mấy khi xảy ra. Khó mà phân biệt nổi những giọng nói cực kỳ chuyên nghiệp liên lạc trên tần số radio hằng ngày với ngữ điệu, âm lượng, sự thờ ơ giống hệt nhau.

“Cả chỗ đó bị... thổi bay rồi! Con robot cũng tiêu luôn!”

Nhưng thỉnh thoảng khi một sự việc bất ngờ xảy ra, khi người ta có thể cảm thấy sự đe dọa kết hợp với hiểm nguy thực sự, những giọng nói đó trở nên thành thật, hiện hữu.

“Một cảnh sát... bị hạ!”

Vincent ngồi đó, ghì mặt nạ vào nòng súng, mắt nhìn ra cửa sổ tới những cánh đồng màu trắng và nâu, sau đó tới những khu rừng chỉ toàn màu trắng và xanh lá, rồi trở lại những cánh đồng như ban nãy. Leo đặt một tay lên tay Felix trên bánh lái, nói rằng mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi. Felix gật đầu, hai người nhìn nhau như bình thường họ vẫn hay làm thế. Ngoài chuyện đó ra, chỉ có tiếng lốp xe dùng trong mùa đông rít trên mặt đường trống trơn. Nhưng đó là trước khi giọng nói kia vang lên. Giọng nói đâm xuyên qua radio như con dao mà Felix và Leo thỉnh thoảng nói tới - con dao đã đâm xuyên qua chiếc áo khoác và vai Leo hồi Vincent còn quá nhỏ không nhớ được.

“Một cảnh sát...”

Mọi thứ đảo lộn. Những cảm xúc. Những ánh mắt. Những ý nghĩ. Sau khi cái giọng nói sợ hãi, lo lắng, giận dữ trên máy quét tín hiệu cảnh sát nói rằng một quả bom đã phát nổ, viên cảnh sát điều khiển robot đã bị dính mảnh bom trong vụ nổ.

“...bị hạ!”

Rồi tiếng anh ta im bặt. Không một thông tin nào về việc liệu người cảnh sát kia còn sống hay đã chết. Chỉ có sự im lặng trên radio, từ một nơi mà người ta đang cố gắng thấu hiểu chuyện gì đã xảy ra.

“Lẽ ra nó không được phát nổ!”

Vincent cúi người ra trước và lách sang một bên, nó muốn thấy mặt Leo, phản ứng của anh, anh thực sự nghĩ gì. Nhưng nó chỉ có thể nhìn thấy cái cổ đang căng lên của Leo.

“Phải không? Anh đã nói là nó sẽ không nổ, Leo, anh đã hứa với em. Mẹ kiếp!”

Leo giảm âm lượng và những tiếng bíp đều đều chấm dứt. Thẳng phía trước mặt là một tấm biển màu xanh bên lề đường cạnh những cánh đồng, SORUNDA 3 km. Họ gần tới nơi rồi.

“Giờ chúng ta không thể làm gì được nữa.”

“Nhưng nếu người đó chết thì sao?”

“Vincent này?”

“Sao?”

“Chúng ta không biết điều gì đã xảy ra. Chúng ta không biết tại sao quả bom lại nổ. Nhưng tao sẽ tìm hiểu chuyện đó. Sau. Khi nào bọn ta đã xử lý xong ngân hàng tiếp theo.”

Một chiếc máy kéo với rơ moóc phía sau hiện ra đằng xa cạnh một nhà kho phủ tuyết. Vài trang trại bỏ hoang, xe đạp trẻ con và ván trượt tuyết để dựa vào tường. Một chiếc xe bán tải nằm trong bãi đỗ, người tài xế đi tiểu sau một gốc cây.

Felix chỉnh lại gương chiếu hậu, quắc mắt nhìn Jasper trên ghế sau, kẻ không dám đáp lại ánh mắt của nó.

“Mày đã kéo cái vòng an toàn. Phải không?”

“Mày đang nói cái quái gì thế?”

“Nhìn tao đây này, Jasper! Mẹ kiếp, mày đã giật chốt quả bom đúng không?”

Trong gương chiếu hậu, Jasper nhìn lại Felix.

“Tao tin chắc tao đã không làm thế.”

Nó nhìn chằm chằm vào Felix đủ lâu để khiến việc đó trở nên khó chịu.

“Tại sao tao phải làm thế chứ?”

Vincent không hẳn là đẩy nó, giống một cú thọc hơn.

“Có người đã bị dính mảnh bom. Ai đó có thể đã chết!”

“Chuyện đó thì liên quan quái gì tới tao?”

Felix vẫn giữ nguyên tốc độ, mặc dù nó tập trung nhìn ra phía sau cũng nhiều ngang với nhìn ra phía trước.

“Mày đang nói dối, Jasper! Tao có thể thấy rõ!”

Leo từ nãy vẫn im lặng. Giờ thì không.

“Thôi đi!”

“Em đã giúp chế ra cái thứ chết tiệt ấy. Em biết nó không thể...”

“Felix, lái xe đi. Mẹ kiếp!”

Vincent không còn phân biệt nổi những cánh đồng trắng và nâu với những khu rừng trắng và xanh nữa. Trong ánh hoàng hôn mọi thứ như hòa lẫn vào nhau. Nhưng nó nhìn thấy một điều khác biệt trong ánh mắt của Felix qua gương chiếu hậu. Leo hiếm khi lên giọng, điều này ai cũng biết, nhưng còn họa hoằn hơn mới thấy Felix buộc tội ai đó nếu nó không hoàn toàn chắc chắn. Đôi mắt đang nhìn đường kia cụp xuống, chúng đã bị Leo áp đảo, nhưng chúng không quan tâm, vì chúng tin chắc việc gì đã xảy ra, không thể lay chuyển nổi.

“Tốt - hành động thôi!”

Lối rẽ vào Sorunda. Vùng ngoại ô với một ngân hàng duy nhất mà theo kế hoạch của chúng là mục tiêu thứ ba. Felix cứ thế lao vọt qua.

“Cái quái gì...”

“Như anh đã nói, Leo ạ. Chúng ta sẽ về nhà. Chúng ta sẽ ‘tìm hiểu chuyện đó’.”

“Đây không phải đường tới... mày đi quá mất rồi!”

Đường cao tốc hẹp đến nỗi các xe đi tới phải giảm tốc để tránh va chạm. Nhưng Felix giậm chân ga khi họ tới gần chiếc xe tiếp theo, phóng đi với tốc độ hơn sáu mươi dặm một giờ.

“Quay lại!”

“Nếu anh muốn tiếp tục thì cứ việc. Em sẽ không tham gia nữa!”

Cổ Felix đỏ tía lên, cả cằm và thái dương cũng thế. Vincent hiểu như vậy có nghĩa là gì - Felix phải cố hết sức mới kìm nén nổi sự phẫn nộ đang dâng lên trong mình. Vincent nhìn thấy điều đó và mặc dù lẽ ra nó phải thấy bất an, tất cả những gì nó cảm thấy chỉ là cái nóng, bốc lên trong lồng ngực. Nếu vẫn còn phải chịu đựng cái cảm giác này lần nữa, em sẽ không tham gia đâu. Nó từng nói thế, hoàn toàn thật lòng. Nhưng cùng lúc đó nó lại cảm thấy rất bình thản. Vì nếu tất cả đều chết trên xe khi đâm vào đâu đó ở khúc cua tiếp theo, nếu viên cảnh sát ở Nhà ga Trung tâm đã chết, nếu quả bom nổ vì ai đó muốn điều đó xảy ra. Không quan trọng. Thực sự là thế. Lần đầu tiên trong đời Vincent nhận ra Leo đã biến đi đâu khi anh chìm trong thế giới riêng của mình. Tới một nơi yên bình, không còn thời gian. Không còn tương lai, không còn quá khứ, vì vậy không còn những nỗi lo. Chỉ có bây giờ. Hiện tại. Thứ duy nhất nó có thể giải quyết là những gì đang diễn ra ở thời điểm này, trên chiếc xe này, với hai người anh của nó.

Xả súng trong hai ngân hàng.

Một quả bom phát nổ giữa trung tâm Stockholm.

John Broncks đã lái xe được hai mươi dặm, còn mười dặm nữa. Vùng ngoại ô cuối cùng phía Nam thành phố hiện ra bên ngoài cửa sổ, cảnh vật trở nên bằng phẳng hơn, chỉ còn những bãi cỏ điểm xuyết vài bụi cây.

Theo lời viên cảnh sát đầu tiên có mặt tại hiện trường ở Osmo, một tên trong băng cướp đã rời ngân hàng rồi quay trở lại sau khi đã cướp xong để nã thêm tám phát; điều mà anh sợ hãi bấy lâu đã trở thành hiện thực - những xác chết.

Theo lời viên chỉ huy chiến dịch tại Nhà ga Trung tâm, đội phá bom xác định vòng dây an toàn đã được đặt sao cho quả bom phát nổ khi ai đó lấy nó ra khỏi ngăn tủ, với một mục đích duy nhất - triệt hạ và giết người.

Hai sự việc riêng biệt, cách nhau chín phút, nhưng theo một cách nào đó lại có liên quan tới nhau.

Buổi chiều tà dần buông sau mỗi dặm đường, vẫn còn mười dặm nữa, và khi anh tới nơi thì trời chắc sẽ tối hẳn, nhưng vẫn còn xác định được phương hướng.

“Broncks?”

Trên radio hai chiều, viên cảnh sát ở Nynashamn.

Giọng nói mà chỉ mới vài phút trước còn tra hỏi thay vì chào đón anh.

“Anh đang ở đâu?”

“Còn cách đó năm dặm.”

“Chiếc xe tẩu thoát.”

“Sao?”

“Chúng tôi đã tìm thấy nó. Một chiếc Volkswagen màu đỏ. Biển số GZP 784. Nằm trên cùng đường mà anh đang đi, ngay cạnh chỗ rẽ cuối đường. Anh sẽ nhìn thấy nó cùng với một xe cảnh sát của bọn tôi trong vài phút nữa.”

Lúc trước chỉ có một xe cảnh sát duy nhất tới hiện trường. Giờ mới có thêm một chiếc xe nữa.

“Các anh tìm thấy nó... lúc nào?”

“15:09.”

John Broncks nghĩ tới một vòng tròn.

Khu vực tìm kiếm ngày càng rộng ra từng phút. Ở Farsta và Svedmyra nó đã mở rộng cực nhanh, trở nên quá mênh mông.

“Có chắn đường không?”

Lần này thì khu vực đó đã được khoanh vùng.

“Hai chiếc xe cảnh sát từ Handen đã phong tỏa xa lộ lên phía Bắc và một xe từ Nynashamn đã phong tỏa xe cộ đi về hướng Nam - chúng tôi đang chặn các tuyến đường chính dọc bờ biển. Những xe khắc đang trên đường từ Huddinge và Sodertalje tới, những nơi này đã bị phong tỏa hoàn toàn từ đất liền - phía Tây và phía Bắc.”

Broncks đếm thật nhanh.

14:56 - một xe Volkswagen chở bốn người đàn ông đeo mặt nạ trốn khỏi hiện trường.

14:58 - vẫn chiếc xe này được đỗ cách đó hai dặm.

14:59 - chúng tiếp tục trốn đi trên một chiếc xe khác.

Khu vực tìm kiếm không mở rộng ra nữa - lần đầu tiên chúng nằm gần nhau.

Lối rẽ khỏi Osmo. Đi quá vài trăm mét là tới một rặng cây thưa - trong lùm cây, lớp sơn đỏ ánh lên qua những cành cây trơ trụi.

Không khí lạnh căm căm, lạnh hơn trong nội thành.

Kiểu tiết trời lạnh cóng như châm kim vào gò má và cổ, làm tê cứng các ngón tay nếu không đi găng.

Broncks đi bộ qua lớp tuyết tới chỗ chiếc xe bỏ không, tránh các vết chân đã có sẵn ở đó. Xe Volkswagen. Beetle. Màu đỏ. Đầu xe đỗ gần một cây thông, gần như ủi vào vỏ cây.

“Có nhân chứng không?”

Người thanh niên có một lớp lông mỏng trên môi chưa kịp thành ria mép. Anh ta bận đồng phục, chào Broncks với bàn tay cũng lạnh cóng như tiết trời xung quanh.

“Không ai thấy có người đi tới hay đi khỏi hiện trường.”

“Còn... đây?”

“Chúng tôi tin rằng đó là chiếc xe mà chúng đã sử dụng - cùng loại, cùng biển số mà vài nhân chứng đã nhìn thấy bên ngoài hai ngân hàng.”

Biển số nằm dưới nắp cốp sau xe.

GZP 784.

Broncks đi vòng lên nhìn qua cửa kính ghế bên. Trên sàn xe, một lon bia nằm cạnh một tờ giấy bọc hamburger, trong gạt tàn là ba bốn đầu mẩu thuốc lá. Để tiến lên, anh phải lách qua giữa thân cây và đám cành rậm rạp. Ở đó còn lạnh hơn, lớp tuyết mỏng bung ra, rơi vào giày anh.

Anh nhìn thấy nó ngay khi bước tới mặt trước xe, mặc dù thân cây đã chắn một nửa tấm biển số.

BGY 397.

Một biển số khác.

Biển số này nếu nhìn từ phía trước - biển số kia nếu nhìn từ phía sau.

Chiếc xe phanh gấp trên mặt đường nhựa phía sau cây xăng bỏ hoang, đèn pha bên phải đâm vào lan can sắt han gỉ gần lối vào, gương bên phải đập vào một vòi nước thò ra bên cạnh tòa nhà.

Felix chạy, điều mà nó hiếm khi làm, chiếc đèn pin trong tay nó chiếu lên cánh cửa kim loại và ổ khóa.

“Felix!”

Leo đuổi kịp và bắt đầu kéo tay nó.

“Chúng ta vẫn còn thời gian!”

Trước đó một dặm. Chỗ lối rẽ. Felix cứ thế đi vọt qua, chặn vụ cướp ngân hàng kép không trở thành ba vụ cướp.

“Chúng ta đã từng có thời gian. Giờ thì không. Hết thời gian rồi.”

Leo kéo tay Felix mạnh hơn, nhưng không bắt nó đứng lại được.

“Chúng ta sẽ tới ngân hàng ở Sorunda ngay bây giờ.”

Một người trong nhóm đã quay lại nổ súng.

Một người khác thì cho phát nổ một quả bom trái với ý muốn của tất cả những người còn lại.

“Thế thì em sẽ không tham gia.”

Chiếc đèn pin kẹp dưới cánh tay nó. Ánh sáng chiếu lên cánh cửa kim loại, chìa khóa tra vào ổ.

“Felix, mày đang làm cái quái gì thế?”

Leo cầm lấy bàn tay đang nắm cái chìa khóa.

“Anh bỏ tay ra. Em sẽ vào trong này, thay quần áo, rồi trở về nhà.”

Tấm biển Caltex bạc phếch chỗ cây xăng rít lên như thường lệ. Ở đây lúc nào cũng lộng gió.

“Quay trở lại xe! Ta còn một ngân hàng nữa!”

“Không. Anh đã bỏ phí hai mươi giây quay lại xả súng trong đó - chúng ta đã cướp hai ngân hàng, được bốn cân rưỡi tiền trong cốp. Hôm nay vậy là đủ rồi.”

Hai bóng đen in trên cánh cửa kim loại trong ánh sáng của chiếc đèn pin duy nhất giờ hóa thành ba khi Jasper bước tới đứng giữa hai người.

“Chúng ta đã lên kế hoạch vụ cướp khốn kiếp này hàng tuần trời!”

Lúc trước nó cầm cái mặt nạ trượt tuyết màu đen trong tay, giờ nó trùm lên đầu, kéo xuống kín mặt.

“Giờ chúng ta sẽ làm việc này, Felix - chúng ta sẽ kiếm thêm hơn hai cân tiền nữa nhé.”

Một chùm chìa khóa vẫn cầm trong tay. Felix lục tìm mấy cái chìa khóa xe, đưa cho hai người kia.

“Thế thì mấy người đi mà lái.”

Jasper nhìn chùm chìa khóa, rồi nhìn Felix.

“Mày nói nghiêm túc đấy chứ? Rằng mày định bỏ cuộc? Chúng ta đã nhất trí thế nào? Chúng ta đã nhất trí thế nào!”

“Chúng ta cũng đã nhất trí không kích nổ quả bom khốn nạn nào.”

Nó chĩa đèn pin vào hai lỗ mắt trên nền vải.

“Tao biết mày đã làm chuyện đó.”

Jasper giơ cánh tay lên che, nheo nheo mắt.

“Mày đếch biết cái cóc khô gì hết.”

“Tao biết mày đã làm chuyện đó.”

Jasper đánh cái đèn pin rơi khỏi tay Felix. Nó rơi xuống đất, tắt ngấm.

“Em không thể chịu đựng nổi nữa. Leo? Em...”

“Trực thăng!”

Nãy giờ không ai nghe thấy tiếng Vincent, khi nó mở cửa xe, khi nó chạy tới chỗ họ.

“Chúng đang nói thế trên radio!”

Nó đứng ngay sau ba người kia, tay kẹp máy quét tín hiệu cảnh sát.

“Rằng chúng có trực thăng!”

“Broncks?”

“Gì thế?”

“Trực thăng anh yêu cầu có rồi.”

Gió thổi lồng lộng. John Broncks áp cái radio hai chiều sát vào má, bàn tay khum khum che ống nghe, những cây thông đu đưa trong gió. Anh đang đứng cạnh một chiếc Volkswagen màu đỏ có một biển số này phía trước và một biển số khác phía sau. Tuyết bắt đầu tan ra ướt đẫm đôi tất mỏng và chảy xuống gót giày, bao kín lấy bàn chân lạnh cóng của anh.

“Đội trực thăng Mười một đã xung phong. Giờ họ đang trên đường tới đó.”

Anh vẫn chưa biết mặt viên chỉ huy ở Nynäshamn. Nhưng giọng nói của anh ta đã trở nên quen thuộc và dần dần cũng tỏ ra đầy hy vọng giống như cảm giác của chính Broncks.

“Anh có thể nghe thấy tiếng trực thăng sau vài phút nữa, nó đang di chuyển về phía anh. Nó sẽ tập trung vào khu vực xung quanh tuyến đường chính.”

Đôi chân lạnh cóng, ướt đẫm. Gió rét căm căm.

Vậy mà thứ duy nhất anh cảm thấy hiện giờ là sức nóng của một vòng tròn đang dần thu hẹp lại.

“Tốt lắm! Tôi...”

“Broncks, chờ đã.”

“Gì thế?”

“Tôi nhận được một... thông báo từ một đồng sự đây.”

“Sao?”

Giữa rặng cây, ánh sáng của dãy đèn đường phía xa tỏa ra yếu ớt.

Trên tai nghe gần như im lặng, nhưng nếu để ý, anh có thể nghe thấy mọi người nói thầm với nhau, rồi tiếng bước chân, ai đó di chuyển micro.

“Điều này...”

Giọng nói đó, mới cách đây vài phút còn đầy hy vọng là thế, giờ tỏ ra ngập ngừng.

“... nghe có vẻ lạ. Nhưng...”

“Sao thế?”

“Chúng ta lại tìm thấy chiếc xe tẩu thoát. Lần nữa.”

“Lần nữa?”

“Cùng chủng loại - cùng biển số. Ngoại trừ việc... nó nằm bên kia thị trấn... trên một con đường quê.”

“Tôi không chắc là mình theo kịp những gì anh nói.”

“Volkswagen 1300. Màu đỏ. GZP 784. Cuối một con đường dành cho máy kéo, gần ụ đá làm mốc. Nó nằm ở phía Tây, cách trung tâm thị trấn cũng xa như anh hiện giờ ở phía Đông.”

Broncks kiểm tra biển số phía sau xe. GZP 784. Rồi anh mệt nhọc lê bước qua lớp tuyết dày lần thứ hai, lách người qua khe hở chật chội giữa đám cành cây rậm rạp kiểm tra biển số phía trước. BGY 397.

Chiếc micro được đưa gần miệng anh.

“Anh có ai ở vị trí đó không?”

“Có.”

“Hãy bảo anh ta đi vòng quanh chiếc xe.”

Những đồng sự của anh nói nhỏ trong tai nghe, nhưng không phải nói với anh. Anh chờ đợi. Cho tới khi giọng nói kia trở lại sau một tiếng lẹt xẹt.

“Anh ta kiểm tra rồi.”

“Thế nào?”

“Chiếc xe có một biển số khác ở phía trước.”

“BGY 397?”

“Phải.”

Chúng đã đánh cắp hai chiếc xe giống hệt nhau, tráo đổi biển số, vậy là có hai chiếc xe giống nhau với cùng biển số ở phía trước và sau để tất cả những người chứng kiến báo cảnh sát.

Trước vụ cướp, chúng đã đỗ một chiếc xe hoặc ở chỗ rặng thông gần xa lộ đi về phía Đông, hoặc phía cuối đường dành cho máy kéo gần con đường quê đi về phía Tây.

Một khu vực tìm kiếm bỗng hóa thành hai.

Giờ đây họ phải nhân đôi số tuyến đường cần chặn, nhân đôi số khu vực lân cận, nhân đôi số vùng cần phong tỏa.

Vì họ không biết chiếc xe tẩu thoát nào đã thực sự được sử dụng trong vụ cướp và bỏ nó lại lấy một chiếc xe thứ ba.

“Broncks này?”

“Ừ?”

“Anh có cùng suy nghĩ với tôi không?”

“Chúng ta cần thêm cảnh sát.”

“Không còn ai cả. Anh biết mà. Vụ ở Nhà ga Trung tâm.”

Những cơn gió. Ngày càng mạnh hơn. Mặc dù những ngọn cây đu đưa ít hơn lúc trước.

John Broncks nhìn quanh trong ánh chiều tà mà chẳng bao lâu sẽ tắt hẳn. Rồi anh nhìn thấy chúng. Những cánh quạt. Vậy không phải là gió thổi mạnh thêm - những cánh quạt kim loại kia đang xẻ không khí.

Và lúc càng tiến tới gần.

“Trực thăng!”

“Sao thế?”

“Cần phải thay đổi lộ trình! Nó phải rời bờ biển và đường cao tốc chính bay sang phía Tây, rà soát các đường nhỏ trong đất liền!”

Tiếng cánh quạt máy bay trực thăng. Ban đầu chỉ lờ mờ phía xa. Rồi càng lúc càng lớn hơn, gần hơn.

Leo nhìn lên bầu trời lẽ ra phải đen kịt.

Nhìn lên ánh đèn pha đâm xuyên qua bóng tối trên những ngọn cây.

“Felix! Vincent!”

Họ đang đứng bên ngoài cánh cửa khóa kín của một cây xăng bỏ hoang trên con đường quê hoang vắng, vẫn bận trang phục đi cướp ngân hàng khi trước. Bốn cân rưỡi tiền mặt nằm trong cốp xe.

“Tấm bạt!”

Cảnh sát Stockholm có hai chiếc trực thăng thì đã đều được điều tới nơi mà anh muốn, lượn vòng quanh cái chỗ mà nó phải lượn - khu vực đe dọa đánh bom.

Nhưng còn chiếc này. Trực thăng quân sự. Anh không lường trước được.

“Phủ lên mấy cái xe!”

Nếu họ bị phát hiện từ trên trời. Nếu vị trí hiện giờ bị lộ. Anh thực sự chỉ có một phương án. Nổ súng. Nhưng trực thăng quân sự có vỏ chống đạn, những tấm chống đạn để bảo vệ các bộ phận quan trọng của động cơ và bảo vệ con người - gần như không có cơ hội bắn rơi được nó trước khi tổ bay phát tín hiệu về trụ sở.

Felix đã chạy tới chỗ chiếc xe của công ty, kéo ghế tài xế ra trước để lộ ra một tấm bạt gấp bên dưới. Trong khi đó, Leo chạy tới chiếc xe còn lại vơ lấy bốn khẩu súng máy trên ghế và sàn xe, quàng một khẩu quanh cổ và ném một khẩu cho Jasper.

“Để ý cái trực thăng nhé!”

Jasper tựa một bên vai vào tường cây xăng, chùng gối và lấy tư thế sẵn sàng bắn về phía ánh đèn.

“Phủ bạt trùm kín mấy cái xe đi!”

Tấm bạt đầy nếp nhăn bằng nhựa màu xanh ô liu kêu lạo xạo khi họ mở ra, trong các nếp gấp còn những chiếc lá khô giòn từ khu rừng quanh kho vũ khí - bị ép dẹp như trong một cuốn sổ sưu tập lá cây - chúng rơi lả tả xuống đất khi cánh tay của ba anh em nắm lấy tấm bạt cỡ bốn nhân sáu mét kéo căng ra.

“Trực thăng đang tới!”

Jasper gào lên, nhưng vẫn khó mà nghe được giữa tiếng động cơ máy bay ầm ầm.

“Mười lăm giây nữa là chúng thấy ta!”

Một cú giật mạnh, tấm bạt phủ kín hai chiếc xe.

“Chạy vào cây xăng - tất cả mọi người!”

Leo lao tới cánh cửa khóa.

“Vào nhanh, vào nhanh!”

Chìa khóa để mở cái ổ khóa kia.

Felix tìm trong bộ áo liền quần, túi ngực, túi sau, túi trước, túi hộp.

Không thấy đâu.

Những đầu ngón tay của nó không sờ thấy những cái răng nhỏ, nhọn, cứng của kim loại.

Nó tìm lại lần nữa. Cái tiếng ù ù khốn kiếp vọng xuống từ trên không trung, cái ánh đèn chói chang chết tiệt, còn cái chìa khóa thì vẫn không thấy đâu!

Nó đã cầm sẵn trong tay chuẩn bị mở khóa thì Leo chụp cổ tay nó còn Jasper hất cây đèn pin xuống đất cho tắt đi.

Nó đã cầm sẵn trong tay chuẩn bị mờ khóa thì...

Nó đã...

“Em không thấy chìa khóa!”

“Felix, mẹ kiếp!”

“Em không tìm thấy! Nhưng còn cái kìm, trong xe, dưới ghế bên, em...”

“Không còn kịp nữa!”

Tiếng ù ù kinh khủng đó. Cái ánh đèn chết tiệt đó.

“Tao có nên ra tay không, Leo?”

Jasper. Quỳ bên cạnh họ ở tư thế nhắm bắn.

“Leo, tao đang chờ lệnh đây.”

Súng chĩa lên trời về phía ánh đèn quét qua khoảnh đất đây đó phủ tuyết.

Báng súng tì vào vai nó.

“Leo, tao đang chờ đây! Ra lệnh đi, tao sẽ bắn nó!”

Leo chờ đợi. Đèn pha của chiếc trực thăng như một con mắt bằng bạc chỉ cách có vài trăm mét. Nếu anh nói bắn, Jasper sẽ nổ súng. Nếu Jasper không cẩn trọng, bắn không chuẩn xác thì cả bọn tiêu ngay.

“Chui xuống dưới xe!”

Anh chạy về phía tấm bạt, kéo một bên mép lên như cửa hang.

“Chui vào!”

Vincent bò vào. Felix cũng chui vào theo.

“Cả mày nữa!”

Jasper đứng lên, chạy hai bước, súng vẫn cầm trong tay, lăn xuống đất, lộn một vòng rồi chui xuống tấm bạt. Leo cũng theo sau, trong khi ánh đèn của chiếc trực thăng quét qua cây xăng, khoảnh sân rải nhựa, tấm bạt.

Bụng dán chặt xuống đất, lưng ép vào hệ thống ống xả và bình hứng dầu.

Nó vẫn ở đó. Trên đầu họ.

Cánh quạt trực thăng ép không khí vào tấm bạt, khiến nó bay phần phật, nhảy nhót theo nhịp điệu không theo quy luật nào. Ánh sáng chiếu xuyên qua tấm bạt thành một màu xanh đậm.

Sau đó, họ nằm im, chỉ dám thở khe khẽ. Vai của Leo ép vào vai Felix. Anh biết đứa em mình đang nghĩ gì.

Nếu Felix không ngăn anh lại. Nếu họ đi cướp ngân hàng thứ ba.

Chiếc trực thăng khi ấy sẽ tới đó trước, phát hiện ra bọn họ.

Mắt, mắt, mũi.

Bên dưới một chút, năm cái lỗ cạnh nhau, tạo thành hình bán nguyệt.

Cái miệng.

Cái miệng đang mỉm cười.

John Broncks đếm. Tám phát đạn được bắn ra, găm vào tấm kính chống đạn trên quầy thu ngân.

Anh đứng giữa cái ngân hàng đã được sơ tán - khách hàng và nhân viên đã được đưa sang phòng đọc sách trong thư viện bên kia quảng trường, ngồi trong sự yên bình và ấm cúng, chờ cảnh sát phỏng vấn. Một phụ nữ trẻ đã được đưa đi bệnh viện, hoàn toàn im tiếng mặc dù theo lời khai của các nhân chứng cô ta đã la hét không ngừng, một bên tay bị sái và vài vết thương ngoài da, các thương tổn này rồi sẽ sớm lành, nhưng tiếng la hét thì sẽ còn trở lại.

Các camera an ninh nằm trên sàn. Những mảnh kính vụn. Trong ngân hàng bên kia bức tường găm đầy đạn này - tình hình cũng y như vậy.

Ba phút, hai vụ cướp, rồi chúng biến đi trên một chiếc xe sau đó được tìm thấy ở hai địa điểm.

Chặn đường không đem lại kết quả gì. Trực thăng quân sự không đem lại kết quả gì.

Bọn mi - giờ bọn mi nằm ngoài khu vực tìm kiếm của ta.

Trên tấm kính chống đạn trên một quầy thu ngân có những vết đạn xếp thành hình một khuôn mặt, có thể xem kích thước cụ thể trong một hồ sơ riêng.

Broncks tới gần, chậm rãi đưa tay qua không khí về phía tám vết đạn.

Một mắt. Mắt bên kia. Cái mũi. Cái miệng.

Anh nhìn khuôn mặt đó, và nó cũng nhìn lại anh.

Nó không chớp mắt, không cử động đôi môi - cặp mắt trống rỗng, cái miệng cứng đờ không thể ngừng mỉm cười, cái mũi ở chỗ chẳng hợp lý chút nào, ở chính giữa nhiều quá. Phần còn lại giống như da mặt, những nếp nhăn xấu xí được tạo nên bởi hàng trăm vết nứt ngang dọc trên mặt kính, tỏa ra từ mỗi vết đạn.

Broncks xoay về phía cửa ra vào.

Mày đã xong việc. Mày đã ra khỏi chỗ đó. Rồi mày quay lại, vẽ cái nụ cười này bằng từng viên đạn.

Một chỉ dấu.

Thứ này có ý nghĩa quái quỷ gì? Tại sao mày lại cười với tao? Vì chúng mày đã lại biến đi không để lại dấu vết - thêm lần nữa? Vì chúng mày đã thực hiện vụ cướp ngân hàng kép đầu tiên trong lịch sử Thụy Điển? Vì sau đây chúng mày sẽ còn thực hiện một vụ lớn hơn?

Anh nhìn khuôn mặt, và nó cũng nhìn lại anh.

Cùng khoảng cách tới căn garage và căn nhà. Bên ngoài tối om. Từ xa có thể dễ dàng nhìn thấy Vincent và Felix đi từ bếp lên phòng khách, qua một căn phòng sáng đèn và rồi ánh sáng xanh của một cái tivi hiện lên.

Leo và Jasper vẫn ở lại bên ngoài.

Gió thổi làm nguội đi gò má nóng rực của họ, trong khi cơ thể căng cứng dần thả lỏng. Họ đã cởi bỏ một lớp y phục ăn cướp, những bộ áo liền quần, và giờ lớp thứ hai đang dần bay hơi, mồ hôi trên người họ.

Khi cánh quạt chiếc trực thăng đã chậm lại và ánh đèn pha mờ dần, họ chui ra ngoài rồi giở tấm bạt ra. Rồi họ phá ổ khóa đó lần thứ hai, thay quần áo rồi lái đi trên chiếc ô tô của công ty. Felix ngồi trên ghế lái, trong khi Leo, Vincent và Jasper nằm dưới tấm phủ trên thùng xe, sau một bức tường ngăn cách hoàn toàn với bên ngoài - ba kẻ cướp nhà băng trên đường tẩu thoát, xung quanh chất đầy những kiện hàng mềm và nhọn.

Họ không nói với nhau câu nào. Tám phát súng vào tấm kính chống đạn và một quả bom bị kích nổ ngăn cách hai người.

“Tao cam đoan đó.”

Jasper bồn chồn bước tới trước mặt Leo.

“Lúc ấy tao đứng ở chỗ cái tủ... cái vòng an toàn vẫn nguyên xi khi tao đóng tủ. Leo? Tao thề độc đấy!”

Buổi chiều muộn. Bên kia hàng rào - những dòng xe cộ giờ cao điểm đi lại không dứt, những con người đang trên đường trở về nhà sau giờ làm việc.

“Tao đã chế ra quả bom đó, Jasper.”

Leo nhìn căn nhà. Felix đang đứng, một tay cầm điều khiển tivi.

“Tao đã thiết kế và làm ra nó. Felix cũng giúp chế tạo. Và nó nói đúng. Tự quả bom không thể phát nổ được.”

Jasper lắc đầu.

“Mẹ kiếp, Leo... mày có biết tao cảm thấy sao khi nghe câu đó không?”

Rồi đấm thùm thụp vào ngực.

“Mày có hiểu không? Khi mày đứng trước mặt tao mà không tin tưởng tao? Thật... đau đớn. Đau đớn!”

Felix ngồi xuống ghế. Hình như Vincent cũng đang ngồi cạnh nó.

“Thế thì giải thích cho tao xem nào. Làm sao mà chuyện đó xảy ra được? Tại sao quả bom lại nổ?”

“Tao biết thế quái nào được. Tao đâu có chế tạo ra nó.”

Nó lại đấm tay lên ngực, nhưng không mạnh như khi nãy.

“Leo... tao thề đấy! Tao chỉ làm đúng những gì mình được bảo.”

Xe cộ giờ tan tầm vẫn không ngớt, chốc nữa có lẽ sẽ còn tồi tệ hơn - phải vài giờ nữa phần lớn mọi người mới về đến nhà. Nhưng anh thì đã ở nhà, sau một ngày làm việc, đi qua hành lang vào phòng khách, trong khi Jasper biến mất trong bếp chỗ cái tủ lạnh.

Đi cầu thang lên tầng hai. Felix và Vincent ngồi trên ghế sofa cạnh chiếc bàn tròn. Máy quét tín hiệu radio của cảnh sát đặt ở giữa, xung quanh lủng củng những ly cốc và chai rượu. Họ cùng ngồi đó giống như sau vụ cướp ở Svedmyra, nhưng cũng không hẳn là giống hệt. Không một tiếng cười, không một giọng nói phấn khởi nào.

Chỉ còn một sự im lặng hoàn toàn. Tivi không bật tiếng. Radio thì đã tắt.

Họ uống whiskey trong những chiếc cốc không chân lớn, im lặng nhấp từng ngụm thay cho những ly champagne sủi bọt hôm trước.

“Bật máy quét lên.”

“Không.”

“Felix? Tao muốn nghe xem bọn chúng nói gì.”

“Sắp đến bản tin rồi.”

Leo ngồi xuống ghế bành và tự rót cho mình vài phân whiskey.

“Thôi càu nhàu đi - trong mấy cái túi ngoài kia phải có đến hơn hai triệu krona.”

Felix không trả lời - thay vào đó, nó chĩa điều khiển vào tivi tăng âm lượng.

“Mẹ kiếp, thôi đi.”

“Thôi đi?”

Felix cầm nửa cốc whiskey trong tay. Nó nốc cạn chỗ đó.

“Lúc ấy anh đã quay trở vào ngân hàng, anh không tôn trọng kế hoạch và... nổ thêm tám phát súng?”

Felix vuốt tóc và cúi đầu. Nó gườm gườm nhìn anh qua hàng lông mày.

“Anh có lên kế hoạch chuyện đó không... hay chỉ là một ý thích tức thời khốn nạn?”

“Nó không phải một ý thích tức thời khốn nạn. Tao chỉ nghĩ nó... phù hợp.”

“Nó đếch phù hợp với em! Anh đã sửa soạn bước lên xe. Chúng ta chuẩn bị cao chạy xa bay khỏi đó. Em đã dượt lại từng khúc cua trên tay lái - và rồi anh quay ngoắt lại!”

Tiếng của cái tivi thay đổi, bản tin bắt đầu bằng một biểu tượng nhã nhặn hơn.

“Bật tiếng to lên chút được không?”

Jasper chui ra khỏi bếp, hai tay quặp theo bốn chai bia.

“Bắt đầu rồi.”

Một quả bom đặt trong ngăn tủ tại Nhà ga Trung tâm Stockholm đã phát nổ lúc ba giờ hơn khi một robot của cảnh sát tới để tháo bom.

Vincent ngồi xa nhất trên ghế sofa, giờ rướn người lại gần để nhìn cho rõ.

Nó nhìn thấy từng cảnh quay dài ghi lại hình ảnh nhà ga giữa thủ đô.

Nó nghe thấy một tiếng nổ đùng đục.

Rồi máy quay vội vã, rung giật quay cận cảnh đám khói đen bốc ra từ tiền sảnh, bốc lên cao rồi dàn mỏng ra.

Nhưng đó không phải thứ mà nó muốn nhìn hay nghe thấy, mà cũng không phải thứ mà nó đã mang theo trong tâm trí từ khi nghe thấy một giọng vừa sợ hãi vừa phẫn nộ trên radio cảnh sát nói rằng quả bom đã phát nổ. Nó muốn thấy hình ảnh người đã bị hạ. Có lẽ là máu thấm trên vải trắng hay nền đường nhựa màu đen. Có lẽ là một cái cáng, bác sĩ cấp cứu. Không thấy gì cả. Bản tin chết tiệt chỉ quay cảnh đống đổ nát trên cầu thang, sảnh đến và khu chờ, thêm những hàng rào chắn đường, những hành khách nối đuôi nhau thành hàng dài.

Một cảnh sát bị thương nhẹ do trúng mảnh bom và đã được đưa đến bệnh viện Sabbatsbergs.

Đây rồi. Cuối cùng cũng thấy hình ảnh xe cấp cứu.

Vincent quay mặt lại phía Leo.

“Nó nói gì vậy?”

“Gì?”

“Nó nói gì về gã cớm đó!”

“Rằng hắn bị thương. Nhưng nhẹ thôi.”

Vincent co rúm người trên ghế sofa. Tay cảnh sát đó chưa chết.

Nó bật cười. Mọi chuyện thật kỳ quặc. Tất cả mọi chuyện, mấy tháng vừa rồi cảm giác cứ như không có thật. Giống như một bộ phim mà họ thường tán gẫu với nhau sau khi xem xong. Một vụ cướp chia thành nhiều cảnh quay. Nhưng bây giờ, nó hiểu đây là chuyện thật. Và nó biết rằng mình hiểu được là do mọi chuyện xảy ra cho tới giờ thật hư ảo. Chỉ tới khi chuyện đã trở nên hư ảo tới mức nó có thể nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy, và cảm nhận được, chúng mới có chút liên quan nào đó với những gì đang xảy ra kia trên tivi.

“Mày hài lòng chưa?”

Felix lại rót đầy nửa cốc rượu whiskey, rồi lại nốc cạn.

“Mày tự hào chưa, Jasper? Một quả bom. Ngay giữa trung tâm thành phố. Cảm giác... có sướng không?”

“Mày chế tạo ra quả bom lỗi thì đếch phải tại tao.”

“Tao chắc chắn đó là tại mày!”

Felix đứng lên khỏi ghế, túm lấy áo Jasper, nhấc nó đứng lên.

“Bỏ ra!”

Một cúc áo rơi xuống nẩy trên sàn. Từng hơi thở điên cuồng. Jasper chộp lấy tay Felix đang lúc càng túm chặt hơn.

“Tao biết đó là tại mày, Jasper!”

Hai người trừng trừng nhìn nhau, trao đổi adrenaline từ hai vụ cướp ngân hàng và cuộc tẩu thoát ngay dưới cánh quạt, trực thăng.

“Ngồi xuống, mẹ kiếp!”

Leo ấn tay lên hai lồng ngực đang gồng lên.

“Hai đứa làm cái quái gì đây? Ngồi xuống!”

“Em biết nó đang nói dối!”

“Ngồi!”

“Em sẽ không ngồi trong cùng một căn phòng với thằng chó má này!”

Felix buông cổ áo Jasper, còn Jasper cũng buông cổ tay Felix và cài những cúc áo còn sót lại.

“Felix - câm mồm đi.”

Leo nhìn em trai mình, cổ nó đỏ lên, hàm răng nghiến chặt.

“Tao tin Jasper. Nó đã nhìn thẳng vào mắt tao mà thề.”

“Vậy là anh tin nó?”

“Tao tin nó.”

“Thằng này hoàn toàn không thể tin cậy được. Nó đã thọc súng vào miệng tay nhân viên an ninh kia, nán lại quá lâu ở Sköndal và Svedmyra mà xả súng bừa bãi... hôm nay... nó lại càng lấn tới. Leo... em không còn tin tưởng nó nữa trong khi chúng ta phải tin tưởng lẫn nhau mới hành động được!”

Quai hàm của nó căng lên, nghiến răng. Leo hiểu như thế có nghĩa là gì.

“Nhưng tao tin Jasper khi nó nói rằng nó không gây ra việc đó.”

“Thế thì anh cũng cút xuống địa ngục cho rồi!”

Felix đá đổ một cái ghế rồi bước ra hành lang.

“Tất cả nghe đây - chuyện đó đếch có gì quan trọng cả.”

Ba ngày trước, khi Vincent lần đầu nhìn thấy quả bom, nó đã dám thách thức cái người đã dạy cho nó tập đi.

Vincent hiểu rằng chính nó có lẽ là người đã châm ngòi tất cả những chuyện này.

“Chuyện đó chẳng quan trọng nữa, Felix.”

Vincent đã xem những cảnh quay dài biến thành hình ảnh chiếc xe cấp cứu và người cảnh sát chỉ bị thương nhẹ.

“Những chuyện xảy ra hôm nay. Không ai chết cả. Thế nên nó chẳng quan trọng nữa.”

Nó đã châm ngòi chuyện này. Có lẽ nó là người duy nhất có thể chấm dứt nó.

“Quên chuyện này đi. Đừng bao giờ nói đến nó nữa. Còn hai người... thôi cãi vã đi.”

Nó nhìn Felix đang đứng ở cửa, nhìn Leo dựng lại cái ghế bị đổ, nhìn Jasper vì đã phát chán với việc cài lại những cái khuy giờ chẳng còn nằm ở đó mà cởi hẳn áo sơ mi ra.

“Vincent nói đúng.”

Leo va phải cái bàn, chai lọ va vào đám ly cốc, tới lượt nó lại va vào cái máy quét tín hiệu cảnh sát. Anh chỉ lên tivi, nơi những hình ảnh hỗn loạn từ Nhà ga Trung tâm đã được thay bằng những cảnh quay một thị trấn nhỏ cách Stockholm ba mươi dặm về phía Nam - những dải băng của cảnh sát, đám người hiếu kỳ đứng trước hai ngân hàng găm đầy đạn, cửa kho tiền mở toang.

“Chuyện này không quan trọng. Điều quan trọng duy nhất là tất cả chúng ta đang có mặt ở đây cùng nhau. Và bọn chúng thì vẫn đang ở ngoài đó, không tài nào biết được chúng ta là ai hay ta sẽ chuẩn bị làm gì tiếp theo.”

Một con ngựa đen với cái bờm rậm và suôn dài. Khi chồm lên hai chân sau, nó nhìn thẳng vào ông.

Vranac. Nhãn dán trên vỏ chai rượu.

Đó là thứ mà tất cả mọi người nhìn thấy. Nhưng con ngựa này tự do, không thể bị khuất phục, nó chồm lên, muốn lao tới một nơi khác. Ông có thể nhìn thấy điều đó. Trong khi đó, tất cả mọi người khác thì chỉ nghĩ họ đang uống một thứ rượu vang rẻ tiền từ Montenegro có vị trái mận và đất.

Ivan đang ngồi trên cái ghế băng cạnh bàn bếp dưới tầng trệt căn hộ mà ông thuê, nằm đắc địa giữa trung tâm Ösmo. Ông đã ngồi thế này gần như suốt cả ngày, thỉnh thoảng ông vẫn làm thế, khi ngoài trời quá lạnh, và ông thì lại có quá nhiều thời gian rảnh. Bàn tay nắm chặt giật cái nút ra, rót một nửa vào cái nồi pha thêm hai thìa đường để nó từ từ tan, sau đó rót tất cả vào cái cốc uống cà phê to tướng gần như đã được rửa sạch. Một ngày bình thường như bao ngày khác. Nhưng không hẳn. Sau mười tờ vé số, chai rượu đầu tiên và điếu thuốc thứ nhất, ông gọi điện cho thằng con trai cả. Đó mới là lần thứ hai ông gọi điện cho nó sau nhiều năm và vì không có danh bạ, ông không dám chắc mình đã quay đúng số. Té ra số đó là chính xác. Nhưng giọng nói bên đầu dây bên kia thì ngược lại. Khó chịu và cộc lốc, tôi không có thời gian. Sau đó là một bản tin dài trên radio nói về một quả bom phát nổ trong ngăn tủ ở Stockholm khi cảnh sát đang cố tháo nó ra. Một quả bom ngay giữa thành phố. Ông đã sống trên đất Thụy Điển này ba mươi năm trời nhưng cũng không thể nhớ được một quả bom nào khác ngoài một quả đặt ở sứ quán Tây Đức và hình như cùng lắm là thêm một quả nữa; những vụ đặt bom là những sự việc xảy ra ở những địa điểm khác với những động cơ khác, nơi mà ông đã bỏ lại sau lưng. Sau đó, thêm hai mươi tờ vé số, từng đám, đội hình, cấu trúc của những con số và dấu chữ thập có mối liên quan mà chỉ mình ông biết trước cả khi loạt quay số diễn ra. Rồi có lẽ là thêm nửa chai nữa, khá nhiều thuốc lá, mở kênh Radio Stockholm nghe tin một vụ cướp ngân hàng, hai vụ cướp ngân hàng ngay tại đây, ở Ösmo này, chỉ cách cửa sổ nhà ông có chưa đầy năm trăm mét.

Một ngày bình thường. Nhưng cũng không hẳn.

Một ngụm đầu tiên thứ gì thật ấm nóng. Thuốc lá cuốn vương vãi quanh một cái gạt tàn lớn, trên thớt là một miếng thịt hun khói nằm cạnh con dao đầy mùi hành tây.

Con ngựa đen chồm lên trên hai chân sau. Ông nhớ một con ngựa trắng không chồm lên như thế mà ông nhận được từ Leo khi đó mời tám tuổi nhân dịp sinh nhật lần thứ ba mươi lăm của ông. Một con ngựa trắng bằng sứ đang nằm, nghỉ ngơi. Con trai ông đã nhìn thấy cái nhãn trên chai rượu này quá nhiều lần, nó cứ tưởng rằng Ivan thích những con ngựa in trên đó.

Thêm những ngụm rượu nữa. Vị của đất và trái mận. Thêm một chút gia vị. Hơi ấm lan tỏa từ cổ họng xuống lồng ngực.

Một vụ cướp, ở đây? Hai vụ cướp? Xả súng điên cuồng?

Cửa sổ lúc nào cũng mở toang nhưng ông lại chẳng nghe thấy tiếng súng nào, ông biết âm thanh của nó - thứ âm thanh rất dễ phân biệt với tiếng pháo, tiếng một phát súng bao giờ cũng tan đi nhanh hơn. Lẽ ra ông phải nghe thấy khi ai đó nổ súng. Theo bản tin trên radio, hàng tá phát súng đã được bắn ra.

Bên trên lò sưởi hẹp trong phòng tắm treo bốn chiếc tất mà ông đã giặt bằng tay. Rượu vang làm dịu cơn đau ở đầu gối và giúp ông chịu đựng đôi tất vẫn còn ẩm khi xỏ chân vào đôi giày sờn.

Hai cái áo khoác trên giá treo mũ. Ông phân vân không biết nên mặc bộ màu xám nhạt hay xám đậm.

Xám nhạt.

Tay đút trong túi áo khoác, lớp vải căng lên sau lưng khi ông bước ra ngoài và đi xuống cầu thang tới cổng. Cái phong bì đựng đầy tiền vẫn khiến ông khó mà cài được cúc túi trên ngực áo, tuy giờ mỏng hơn, nó lại cũng nhàu nát hơn và vẫn chiếm từng đó không gian. Tiền tiêu vặt. Bốn mươi ba nghìn bạc giờ chỉ còn 29.500. Tất cả được nướng vào trò súc sắc, Kizla, Vranac và rất nhiều vé số.

Ông đi qua con phố buồn tẻ, ngang qua những biệt thự và nhà cửa, xuống đồi, ngoặt chỗ bến đợi xe buýt bên ngoài thư viện, và tại đó ông nhìn thấy chiếc xe cảnh sát đầu tiên. Sau đó là quảng trường bị phong tỏa, nơi đám cảnh sát mặc đồng phục và đội những cái mũ kỳ quái đang đi lại, nói chuyện với bất kỳ ai muốn nói chuyện với chúng dưới những bóng đèn Giáng sinh hình bông tuyết, ông già Noel và cây thông. Giáng sinh khốn kiếp. Thói phàm ăn. Con người ních đẫy dạ dày - lợn chết nuôi đám lợn sống này. Những trò vui gượng ép, ai cũng cười phá lên cho tới khi đám trẻ con bắt đầu kêu thét. Nhưng lần này đám đèn Giáng sinh kia cuối cùng cũng được sử dụng để làm điều gì có ý nghĩa soi sáng hiện trường một vụ án. Hình ông già Noel to bự là sáng nhất, ánh sáng của nó phản chiếu lên những khuôn mặt tự cho mình là quan trọng, chúng có một câu chuyện đặc biệt để kể và điều đó khiến chúng trở nên riêng biệt. Ông tiến lại gần hơn tới đám đông những người dân sống ở Ösmo, những người không đủ quan trọng để trở thành nhân chứng cho cảnh sát, nhưng vẫn cứ lê la ở đó, kể với nhau chuyện gì đã xảy ra và mình nhìn thấy những gì - những kẻ đeo mặt nạ xả súng điên cuồng, biến cái thị trấn nhỏ này thành vùng chiến sự.

Ivan nghển cổ nhìn qua đám người. Giờ ông thấy chúng rõ ràng hơn, mặt trước của hai ngân hàng, những người đang đi lại bên trong.

Gã lăng xăng.

Chính là hắn. Hắn là một người trong số họ, Ivan chắc chắn điều đó.

Chính gã lăng xăng này đã khua cái phù hiệu chết tiệt trước mặt ông, ám chỉ Ivan Duvnjac một tên trộm nhãi nhép lẻn vào nhà người ta như loài chuột cống.

Ông gạt những người tò mò đứng xem mà tiến lên, trong khi vẫn nhìn gã lăng xăng kia đi lại quanh tiền sảnh ngân hàng nhìn mấy chiếc camera bị bắn rơi, những cái ghế bị đổ và những hòm tiền úp ngược. Một phụ nữ quỳ bên cảnh hắn, bận áo liền bằng nhựa trắng toát, đi găng tay nhựa đang nhặt những vỏ đạn. Ivan đứng đó cho tới khi gã lăng xăng quay mặt lại và nhìn những người đang quan sát hắn.

Hắn nhìn, nhưng không hẳn.

Mày phải nhận ra tao chứ. Mày đã đến chỗ tao, chọc tức tao. Vậy mà giờ mày nhìn như thể tao không tồn tại trên đời. Bởi vì mày đâu có đến chỗ tao tra hỏi mấy vụ ăn cắp khốn nạn kia, mày đã nói dối mục đích của mình.

Rồi gã lăng xăng đi ra phía sau quầy thu ngân vào cái nơi mà Ivan đoán là kho tiền. Và Ivan thấy thứ mà gã cớm đứng ngay phía trước giương mắt lên nhìn mà chẳng hiểu gì.

Tám vết đạn trên cửa kính an ninh.

Chúng tạo thành một... khuôn mặt. Hai mắt, cái mũi và cái miệng cười méo mó.

Một nụ cười khinh bỉ, vào mặt gã lăng xăng và đồng sự của hắn.

Ivan đứng đó trong bóng tối buổi chiều tà bên ngoài ngân hàng, nhìn thấy bộ mặt giữa những mảnh kính vỡ và vỏ đạn. Trong khi đó ông cố không nghe những kẻ xung quanh ông đang luôn miệng nói mình đã nhìn thấy gì, những chuyện cứ ngày càng trở nên tam sao thất bản và được thổi phồng lên. Và ông nghĩ về những cụm số. Những sự việc thoạt nhìn có vẻ chẳng liên quan gì tới nhau, nhưng thực ra thì có, cũng giống như những dãy số trên tấm vé xổ số. Ông nghĩ về gã lăng xăng, chiếc phong bì trong túi áo ngực, hai vụ cướp ngân hàng cách nhà ông chưa đầy năm trăm mét và nụ cười khinh bỉ, vào mặt những kẻ truy đuổi, vào mặt những kẻ đang đứng xem, vào mặt chính ông.

Ông tách khỏi đám đông, với mỗi bước chân, cảm giác bị ai đó theo dõi ngày càng tăng, hai con mắt trống rỗng không bao giờ chớp đeo đẳng sau lưng.

anh đưa mắt đọc tiếp đoạn dưới. Ngay đó. Bên dưới phần chữ đánh máy chi tiết luật lệ và quy trình, tận dưới cùng. “Kho dự trữ này...” Ban nãy anh không để ý đoạn này. “... đã được kiểm tra...” Anh cúi đầu lại gần, chiếc đèn trên trán soi r
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Anders Rosluno Và Stefan Thunberg

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.