Bọn Rợ Rình Trước Cổng

Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 4

❊ ❊ ❊

Dù tốt dù xấu, dù khác thường, nhưng bạn luôn suy nghĩ, luôn hành động, luôn làm việc hết mình. Nếu không làm vậy, bạn sẽ chỉ ở đó và trở thành một con người nhàm chán vô vị. Bạn phải tạo ra điều gì đó để vui sống.

— ROSS JOHNSON

Ngày 19 tháng Mười năm 1987, thị trường chứng khoán sụp đổ. Giống như bao kẻ khác trong giới tài chính, Johnson bật Quotron (thiết bị theo dõi giá cổ phiếu và các giao dịch chứng khoán thời bấy giờ) và vô cùng choáng váng. Một tuần trước, cổ phiếu RJR Nabisco giao dịch ở mức giá khoảng 65 đô-la/cổ phiếu, thì nay rơi xuống mức thấp 40 đô-la vào giữa trưa. Trong cơn náo loạn của khủng hoảng, cổ phiếu tụt dốc không phanh trong nhiều tuần.

Cơn khủng hoảng đã khởi đầu con đường dẫn đến sự lụi tàn của Johnson, bởi giá cổ phiếu thấp sẽ ám ảnh lão trong nhiều tháng tới. Đến tháng Mười hai, công ty công bố lợi nhuận tăng 25%, và Phố Wall vẫn phớt lờ họ. Ngay cả khi cổ phiếu ngành thực phẩm đã tăng trong mùa đông năm đó, RJR Nabisco vẫn ở trong tình trạng khó khăn. Bất kể Johnson có cố gắng làm gì, người mua vẫn đối xử với cổ phiếu của lão như cách họ đối xử với cổ phiếu thuốc lá, mặc dù 60% doanh thu của công ty đến từ Nabisco và Del Monte.

Ở Atlanta, Johnson sôi sục. Giống như nhiều tổng giám đốc điều hành khác, lão coi giá cổ phiếu của công ty là cái gì đó tương đương với bảng báo cáo thành tích. Khi thấy các cổ phiếu thực phẩm khác tăng vọt, Johnson cảm thấy như bị ra rìa trong một cuộc bù khú trước nay vẫn là cuộc sống của lão. Nếu mảng kinh doanh mà lão hiểu rõ nhất đang là xu thế, Johnson quyết tâm lao vào cuộc chơi lớn. Lão bắt đầu cân nhắc đến khả năng liên kết với một công ty thực phẩm.

Pillsbury là cái tên xuất hiện đầu tiên trong suy tính của lão. Công ty này đang ở trong tình trạng không ổn định, đúng loại lão thích, sau vụ đầu cơ tiếp quản xoay quanh một tổng giám đốc điều hành, mà kết quả là ông này mới nghỉ hưu. Mặc dù vậy, nếu mua công ty này tức là đi ngược với đường lối điều hành của Johnson. Lão luôn là người bán, không phải là người mua. Lão xem xét thành lập một liên doanh. Tại sao không kết hợp Pillsbury và Nabisco, rồi bán cổ phiếu ra công chúng, qua đó làm tăng giá trị các tài sản thực phẩm còn lại bên trong RJR Nabisco?

Johnson liền trao đổi với Sage và Benevento về ý tưởng này, nhưng họ chẳng tỏ ra một chút mặn mà. “Pillsbury là một con chó nhỏ,” họ nói, “các công ty cốt lõi của nó kinh doanh khá èo uột.” “Tại sao ông không mua hẳn một công ty lớn, mà lại muốn sở hữu một phần của một công ty thực phẩm bé xíu?” Khi Sage đánh máy xong bản ghi nhớ chối tỷ cho Johnson, Benevento nhìn qua vai ông ta. Ý nghĩ của họ gặp nhau. Khi đối mặt với những vấn đề tương tự, General Motors đã tạo ra các loại cổ phiếu riêng biệt cho công ty mẹ và các công ty con như Hughes Aircraft và Electronic Data Systems. Nếu Johnson lo lắng thuốc lá đang kéo giá cổ phiếu thực phẩm của công ty xuống thấp, tại sao không để chúng giao dịch như các loại cổ phiếu riêng biệt? Nếu GM có thể có cổ phiếu H cho Hughes, tại sao RJR không thể có cổ phiếu F cho thực phẩm? Họ thêm nó vào cuối bản ghi nhớ. Khi nhìn thấy nó, Johnson nhún vai, rồi để Benevento xem xét trước kế hoạch cổ phiếu kép. Đó cũng chỉ là một ý tưởng nữa mà thôi.

Johnson không phải là người duy nhất nhận thấy giá cổ phiếu của RJR Nabisco đang xuống rất thấp. Tháng Một năm đó, nhà báo chuyên mục Dan Dorfman đã viết về công ty như một ứng cử viên để tiếp quản. Johnson bác bỏ quan điểm đó, dù vậy, một số trợ lý của ông, bao gồm cả Ed Robinson, đã trở nên lo lắng. Sau đó, vào tháng Hai, Paul Sticht đến gặp Johnson sau một cuộc họp hội đồng quản trị. Hai người hầu như không nói chuyện từ khi Sticht bị lật đổ sáu tháng trước đó. “Ross, cuối tuần này ông có xuống Florida không?” Sticht hỏi.

“Có. Tôi sẽ xuống đó giải quyết vấn đề về thuế cho bố tôi.”

“Vậy ông có thời gian rảnh không?”

“Rảnh ư, không đâu,” Johnson nói, muốn tránh việc Sticht đưa ra lời mời nào đó. “Tôi bận lắm.”

“Có một cổ đông rất quan trọng, và tôi nghĩ ông nên làm quen với ông ấy. Ông ta có một số ý tưởng, và sẽ đến Lost Tree vào cuối tuần này. Tên ông ta là Spangler.” Johnson miễn cưỡng đồng ý gặp Sticht và bạn ông ta, Spangler, vào thứ Bảy tuần sau ở thành phố Jupiter, Florida.

Clemmie Dixon Spangler, Jr., là hiệu trưởng của Đại học Bắc Carolina. Trước khi lên nắm quyền vào năm 1986, “Dickie” Spangler là một nhân vật có quyền lực, tính tình ngay thẳng trong giới kinh doanh ở Bắc Carolina: Ông là Tổng Giám đốc của C. D. Spangler Construction Co., Charlotte, và là Chủ tịch của Ngân hàng Bắc Carolina, ngân hàng này được bán cho tập đoàn NCNB khổng lồ vào năm 1982, nhờ đó mà ông trở thành một người giàu có. Gia đình ông cũng là một trong những cổ đông lớn nhất của RJR Nabisco.

Spangler cũng rất giận dữ khi Johnson rút trụ sở khỏi Winston-Salem. Ông đã gọi cho một người bạn học cũ ở trường Kinh doanh Harvard, Richard H. Jenrette, Chủ tịch của công ty bảo hiểm Equitable Life Insurance Society, một trong những công ty bảo hiểm lớn nhất nước Mỹ. Dick Jenrette là dân gốc Bắc Carolina và biết rõ gia đình Spangler. Spangler muốn biết liệu công ty của ông ta, một trong những tổ chức đầu tư quyền lực nhất cả nước, có quan tâm đến việc ủng hộ quyền bỏ phiếu của một số cổ đông trong cố gắng đảo ngược quyết định di dời RJR Nabisco đến Atlanta hay không.

“Ông có nghĩ chúng tôi có thể có đủ phiếu bầu để ngăn chặn điều đó không?” Spangler hỏi.

“Nói thật nhé,” Jenrette trả lời. “Không.”

Jenrette quên luôn cuộc gọi đó. Sau đó vài tháng, Spangler gọi lại. Ông nói: “Này Dick, ông có muốn thành lập một nhóm để thực hiện LBO với Reynolds không? Tôi nghĩ ta có thể làm được.” Spangler nói ông ta đã có kế hoạch tiếp cận Paul Sticht, và hy vọng Robinson của American Express cũng sẽ quan tâm vụ này, cùng với một số người ông ta đã tiếp xúc ở Woodberry Forest, Virginia.

Jenrette cân nhắc lời đề nghị này vài ngày trước khi quyết định thật không phải đạo khi một công ty bảo hiểm lớn lại đầu tư vào một doanh nghiệp sản xuất thuốc lá, khi công ty này đã chi trả hàng triệu đô-la cho các nạn nhân của căn bệnh ung thư. “Tôi không thể tham gia,” ông nói với Spangler.

Spangler đứng ngồi không yên khi cổ phiếu của RJR Nabisco lao dốc trong khủng hoảng. Ông kiên quyết đổ lỗi cho Ross Johnson cho sự sụt giảm đó - cả những người ở Bắc Carolina cũng vậy. Ông tiếp cận Sticht thông qua một người bạn chung, John Medlin ở Wachovia. “Nếu tôi có thể dùng tiền để lấy lại quyền kiểm soát công ty, ông có muốn giúp tôi đem mọi thứ trở lại vị trí cũ không?” Spangler hỏi.

Sticht tỏ vẻ nghi ngờ. Ông nói: “Thôi nào, tôi không nghĩ có thể thực hiện điều đó. Chẳng thực tế chút nào.” Nhưng khi Spangler mời ông ta đến một cuộc họp có tính thăm dò ở New York, Sticht đã chấp nhận. Hóa ra, đó là cuộc họp với một nhóm các giám đốc điều hành của Citibank. Spangler muốn ngân hàng khổng lồ này tài trợ LBO của RJR Nabisco.

Sticht thấy ấn tượng. Ông ta rất thực dụng. LBO không phải là một công cụ thù địch. Nếu muốn mua RJR Nabisco, nhóm Spangler sẽ phải liên hệ với Johnson. “Ông có thể sắp xếp để tôi gặp ông ta không?” Spangler hỏi.

Và thế là vào một buổi sáng thứ Bảy cuối tháng Hai, một mình Johnson đến mở văn phòng của Đội Nabisco ở thành phố Jupiter. Thấy Sticht cố ngăn mình chơi golf, lão hy vọng họ có thể nhanh chóng kết thúc buổi gặp. Khi được giới thiệu với Spangler, thoạt đầu Johnson nghĩ ông ta và Sticht là cặp đôi tuyệt vời. Dickie Spangler có mái tóc đen bóng lộn, đeo kính gọng trong suốt, khoảng ngoài 50 tuổi.

“Tôi thực sự không có gì để bàn với ông,” Sticht bắt đầu. “Dick đến gặp tôi. Ông ấy có một số ý tưởng. Và tôi nghĩ ông ấy nên nói chuyện với ông.”

Spangler bắt đầu nói, RJR Nabisco là một công ty tuyệt vời, có triển vọng lớn, vậy mà vẫn bị định giá thấp.

Điều đó quá rõ ràng rồi, Johnson nghĩ.

Spangler thao thao bất tuyệt về việc ông ta cảm thấy ngớ ngẩn như thế nào khi không bán cổ phiếu ở mức 70 đô-la, và cảm thấy tồi tệ ra sao khi giá bây giờ sụt giảm mạnh chỉ còn 50 đô-la/cổ phiếu. Gia đình của ông ta đã vô cùng tức giận với ông ta vì không bán cổ phiếu đúng thời điểm được giá.

“Tôi không thể nói với ông khi nào giá sẽ quay trở lại 70 đô-la,” Johnson nói, “tất cả những gì tôi có thể làm là điều hành công ty.” Lão đang rất muốn được chơi golf.

Spangler tiến tới với ý tưởng LBO của mình với giá 70 đô-la/cổ phiếu hoặc hơn thế. Ông ta và Sticht đã gặp Citibank để thương lượng về điều đó, Spangler nói, và ngân hàng cũng rất nhiệt tình với vụ này.

Johnson sững sờ. Ông ta và Sticht đã làm gì?

“Bây giờ, vai trò của tôi chỉ là cố vấn,” Sticht nói xen vào.

Johnson nhìn Sticht và nghĩ: Vai trò của ông chỉ là rình chờ, đồ khủng long già. Nhưng Johnson không có ý định đối đầu, chưa kể ẩu đả với hai người này sẽ chẳng đi đến đâu, nghĩ vậy, lão mỉm cười. “70 đô-la/cổ phiếu với tôi là ổn, Paul.” Thật là một con số tuyệt vời.

Johnson sẽ là nhân vật chính, Spangler tiếp tục. Lão sẽ được sở hữu 15% công ty, các giám đốc điều hành khác chia nhau sở hữu 10%. “Ross, tôi biết rất nhiều người giàu có,” ông ta nói. “Ông có thể trở thành một tỷ phú.”

Sau đó, Johnson rời cuộc họp trong tình trạng quá sốc vì kinh ngạc. Sticht nghĩ ông ta đang làm gì vậy? Ông ta có thể là một lão già ngốc ngếch, Johnson tự nhủ, nhưng với tư cách là một cựu chủ tịch, ông ta là một kẻ ngốc già nguy hiểm. Sự hiện diện của ông ta cho thấy ông ta tin tưởng vào lời đề nghị điên rồ của Spangler. Chẳng nhẽ Sticht không biết Chủ tịch của Citibank, John Reed, là một giám đốc của Philip Morris? Nếu tin này lộ ra, đó có thể là liều thuốc nổ cực mạnh trong tay của đối thủ cạnh tranh.

Johnson lao về căn hộ của mình và gọi điện thoại loạn lên. “Trời ạ,” lão nói với Andy Sage, ông này đang đi nghỉ ở Jackson Hole. “Tôi kinh ngạc quá. Spangler muốn mua công ty!” Lão gọi cho Jim Robinson. Robinson nói với lão: “Tất cả những gì tôi biết là ông ta có rất nhiều tiền và rất thân với Dick Jenrette.” Johnson trở nên cảnh giác. Lão biết loại hỏa lực mà Equitable có. “Chết tiệt, hãy triệu tập ban giám đốc,” lão nói với Harold Henderson vào cuối ngày hôm đó. Johnson có cuộc họp với Ban cố vấn quốc tế ở Palm Springs hôm thứ Hai. “Tôi sẽ họp với họ ngay khi quay trở về,” lão nói.

Johnson và các giám đốc họp kín vào thứ Ba. Họ đồng ý rằng việc gặp gỡ Citibank là cần thiết để xem Spangler đã tiến hành đến đâu. Johnson gọi cho John Reed và sắp xếp một cuộc gặp. Reed xác nhận vấn đề đã được đưa ra bàn thảo, và đề xuất rằng ngân hàng của ông sẵn sàng theo đuổi vụ này “Chúng tôi luôn sẵn sàng phục vụ,” ông ta nói với Johnson.

Vào tuần sau, Johnson đón Spangler ở Bắc Carolina, và họ bay đến New York. Trên đường đi, Spangler cho lão xem một bản in từ máy tính với nhiều phương án tài chính. Nó cho thấy công ty sẽ được giữ nguyên, rằng các khoản tiết kiệm cần thiết có thể đến từ việc cắt giảm chi phí vốn. Johnson chẳng bận tâm: Đồ nghiệp dư, lão nghĩ.

Đối với Johnson, cuộc họp tại Citibank là một sự giải tỏa lớn. Ngân hàng cho rằng có thể thực hiện LBO ở mức giá 65 đô-la/cổ phiếu, và 10% sẽ được chuyển cho Johnson. Rõ ràng họ đã thương thảo với nhau rất kỹ. Johnson công khai tỏ thái độ lạnh lùng với ý tưởng đó. Trên chuyến bay trở về, Spangler xin lỗi. Vụ mua bán đó đã bị hủy bỏ.

Johnson trở về Atlanta, ngay lập tức gửi những lá thư mang thông điệp “Cảm ơn, nhưng tôi không quan tâm” đến Citibank và Spangler. Sau đó, lão bàn với Henderson xem nên xử lý Sticht thế nào. Ông ta đơn giản là không được phép tiếp tục can thiệp vào các vấn đề của RJR Nabisco nữa. Ngày hôm sau, Henderson bay đến Winston-Salem và công khai chỉ trích hành động bừa bãi đó của Sticht. Chỉ sau hai cuộc họp hội đồng quản trị, họ buộc ông ta phải dự kiến nghỉ hưu vào tháng Năm. Việc Sticht cũng dự họp khiến Johnson rất thỏa mãn. “Chúng tôi tống khứ ông ta cùng những quyền lợi cũng như cam kết, và chỉ có vậy,” Johnson kể lại, khẳng định đó là lần cuối lão nhìn thấy Paul Sticht.

Sau vụ Spangler, Johnson càng nỗ lực hơn để làm tăng giá cổ phiếu đang tiếp tục sụt giảm. Trong cuộc họp hội đồng quản trị vào tháng Ba, ông đưa cho các giám đốc hai lựa chọn: Một là mua Hunt Wesson để nhấn mạnh hơn rằng công ty đang nghiêng về mảng thực phẩm; Hai là mua lại nhiều cổ phiếu hơn nữa. Số lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường ít đi sẽ là cơ hội cho giá cổ phiếu tăng lên. Các giám đốc không chia sẻ những lo ngại ngày càng tăng của Johnson về việc giá cổ phiếu cứ giảm dần đã chọn mua thêm cổ phiếu.

Johnson cho mua lại cổ phiếu dưới sự giám sát của Lazard Freres, công ty của Ira Harris. Cuối tháng Ba, RJR Nabisco công bố sẽ mua lại 20 triệu cổ phiếu của họ với mức giá từ 52-58 đô-la/cổ phiếu. Một tháng sau, họ đã mua thậm chí còn nhiều hơn, 21 triệu cổ phiếu ở mức giá trung bình 53,5 đô-la/cổ phiếu. Sau khi giao dịch quanh mức giá 52 đô-la nhờ việc mua lại, cổ phiếu RJR Nabisco ngay lập tức rơi trở lại mức khoảng 45 đô-la/cổ phiếu. Johnson đã chi hơn 1,1 tỷ đô-la mua cổ phiếu, và giá của nó lại càng trở nên thấp hơn bao giờ hết.

-

Mùa xuân năm 1988, Phố Wall vẫn chưa hồi phục sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán hồi tháng Mười năm ngoái. Các nhà đầu tư cá nhân đồng loạt rời bỏ thị trường. Khối lượng giao dịch sụt giảm mạnh. Khi nhu cầu sụt giảm mạnh, các công ty Mỹ không còn hứng thú với việc chào bán cổ phiếu mới. Trong số các hoạt động kinh doanh khác vẫn đang thực hiện, Phố Wall chuyển sang lĩnh vực đảm bảo nguồn thu nhập cho họ: tiếp quản.

Sáp nhập và mua lại (M&A) là cứu cánh cuối cùng của Phố Wall, vì thắng, thua hoặc hòa thì họ đều thu được các khoản phí: phí tư vấn, phí thoái vốn doanh nghiệp không mong muốn, phí cho vay tiền. Đúng như kỳ vọng, hoạt động này đã khơi mào cho sự phát triển mạnh mẽ của Phố Wall trong suốt những năm 1980, phí tiếp quản công ty một lần nữa giúp duy trì lợi nhuận của ngành công nghiệp chứng khoán vào mùa xuân năm đó.

Ba tháng im ắng kỳ lạ sau sự sụp đổ của thị trường, vào tháng Một, Phố Wall bắt đầu chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ của hoạt động tiếp quản, khi các công ty trong và ngoài nước đều được lợi nhờ mức giá quá hời của các cổ phiếu mới hạ giá. Sau đó, tại đây đã diễn ra hơn chục cuộc đua tiếp quản lớn, đỉnh điểm là thương vụ trị giá 6 tỷ đô-la để kiểm soát công ty cũ của Paul Sticht, chuỗi cửa hàng bách hóa tổng hợp liên bang có trụ sở ở bang Cincinnati. Các cuộc tiếp quản thực hiện thành công trong nửa đầu năm 1988 nhiều hơn số vụ sáp nhập trong cả năm 1985, đó cũng là một năm thành công rực rỡ. Phố Wall trở nên nghiện sáp nhập chỉ trong một thời gian ngắn. Và các văn phòng của RJR đã sớm trở thành phòng triển lãm, chuyên sưu tập các vụ sáp nhập mới nhất.

Thành công nhất trong làn sóng tiếp quản mùa xuân năm đó thuộc về bộ phận sáp nhập của Shearson Lehman Hutton, bộ phận môi giới phát triển rất nhanh của tập đoàn tài chính khổng lồ American Express. Với việc mua E. F. Hutton vào mùa đông năm đó, Shearson đã sẵn sàng thách thức Merrill Lynch trở thành nhà môi giới hàng đầu Phố Wall. Đứng đầu bộ phận sáp nhập của họ là hai nhà kiến tạo giao dịch kỳ cựu. Họ từng có một thập kỷ hoạt động dưới cái bóng của những đồng nghiệp nổi tiếng hơn, giờ đây, họ đã sẵn sàng để tạo dựng tên tuổi cho riêng mình.

Steve Waters, một cựu phi công từng chiến đấu ở Việt Nam là trưởng bộ phận này. Trong con người ông vẫn còn vương vất bầu không khí chiến tranh. Ông coi nhóm sáp nhập của Shearson là một đơn vị thủy quân lục chiến có lối đánh nhanh và trực diện. Tuy nhiên, lợi thế của ông ta là sự mềm dẻo khéo léo. Waters không ngại nói thẳng. Ông và vợ mở các lớp học buổi tối Chủ nhật tại nhà thờ Presbyterian ở Connecticut. Nếu ông ta không phải là một nhà chiến thuật tiếp quản tài ba, thì Waters, với cách cư xử dịu dàng, khoan dung, thái độ thẳng thắn, thật thà — một tính cách rất hiếm có trong giới của ông — rất được Johnson yêu quý. Johnson cũng biết ông từ hồi lão còn ở Standard Brands.

J. Tomilson Hill III, tốt nghiệp Đại học Harvard, trường Kinh doanh Harvard, cùng Steve Waters tạo thành cặp chiến binh chiến đấu nhiệt thành trên mọi chiến hào ở Phố Wall. Đối với kẻ thù — ông ta cũng có vài kẻ thù — Tom tạo cho họ cảm giác ông giống như nhân vật Gordon Gekko, để tóc dài khoảng 15cm, xoa dầu bóng hất ngược về phía sau, vẻ mặt lạnh lùng như người theo đạo Tin lành. Hill ăn mặc đẹp và tự hào về điều đó. Một đối thủ cạnh tranh gọi ông là “Người đàn ông ăn vận bảnh bao nhất Phố Wall”, và Hill mặc bộ đồ tối màu của Paul Stuart trông như áo giáp. Phòng làm việc của ông trưng bày toàn những tác phẩm nghệ thuật hiện đại tuyệt vời, và bia đá phủ Lucite để tưởng nhớ các chiến thắng trong quá khứ.

Hill có thể có vẻ ngoài quyến rũ nhưng hiếm khi ăn nói lưu loát; đôi khi ông nói theo cách cứ như đã chọn từng từ trong từ điển. Ở Shearson, chẳng mấy người ưa thích ông. Đã có nhiều đồng nghiệp hỏi: “Có thể tìm một người duy nhất thích gã này được không?” Một đồng nghiệp lâu năm mô tả Hill là “một kẻ dị giáo tối thượng. Anh không thể tin ông ta sùng đạo đến mức nào đâu. Ông ta như một chiến binh trong rừng… ông ta có khả năng trở thành một gã thực sự khó chịu.” Theo các đồng nghiệp, Waters và Hill đã tạo nên một cặp đôi khó tin.

Mùa xuân năm đó, các kỹ năng chiến thuật của Hill cần được dùng đến hơn bao giờ hết. Ông đã tư vấn các quyết định chính xác để bảo vệ Federated và thiết kế một loạt đề nghị mua thù địch được Shearson ủng hộ, trong đó có vụ đấu giá Black & Decker cho nhà sản xuất bồn cầu vệ sinh lớn, American Standard. Nhưng khi uy tín của Hill tăng lên - vào cuối năm đó, một bài viết về ông được đăng trên tờ USA Today — Waters thấy mình bị lôi kéo vào một trận chiến nội bộ khó chịu để giành nhiêu phần thưởng hơn cho đội của họ. Tại một cuộc họp của các giám đốc hàng đầu Shearson, Waters đã thẳng thắn phản đối cơ cấu tiền thưởng, tiết lộ rằng ông đã thúc giục một số cộng sự sáng giá của bộ phận cân nhắc việc rời đi nếu họ không được trả lương tốt hơn. Bài phát biểu khiến nhiều người ở Shearson tức giận, trong đó có nhân vật quan trọng nhất là ngài Chủ tịch, Peter A. Cohen, người tin rằng Waters đang kích động tình trạng bất ổn trong đội ngũ. Khi Waters xin từ chức, ông liền được chấp thuận. Waters chẳng hề ngạc nhiên khi biết Hill đã âm thầm đảm bảo với các giám đốc điều hành cấp cao của Shearson rằng ông ta có thể tự mình điều hành bộ phận này. Khi ông đang dọn dẹp phòng của mình vào ngày làm việc cuối cùng ở Shearson, Hill bước vào, đưa tay ra tỏ ý chào từ biệt. Waters không đáp lại để ông ta cứ giơ tay ra mãi. Ông nói: “Tôi sẽ không đối xử với ai đó theo cách anh đối với tôi.” Khi ông rời Shearson vào mùa xuân năm đó, nhiều người ở Phố Wall đã ngờ rằng những dấu vân tay của Tom Hill vẫn hằn trên chiếc dao găm nhô ra từ sau lưng Steve Waters.

Khi đối tác của mình đã rời đi, Hill thăng tiến rất nhanh. Waters đã mang đến những khách hàng tốt nhất cho Shearson, và giờ đây, việc của Hill là làm sao để đảm bảo không ai trong số họ đi theo ông ta. Đứng đầu danh sách Hill phải giữ lại bằng được là RJR Nabisco. Ross Johnson là người có tới năm mối quan hệ béo bở nhất với bộ phận của ông ta. Và Hill có linh cảm thời cơ đã chín muồi để thực hiện một thỏa thuận. Ông đã lấy được một bảng cân đối kế toán của RJR Nabisco. Bất kỳ kẻ ngốc nào cũng có thể thấy việc kinh doanh thuốc lá đang tạo ra một lượng lớn tiền mặt, và số tiền đó phải dùng vào việc gì đó. Ông nghĩ, có điều gì đó rất lạ, sắp có chuyện rồi. Hill quay số của Andy Sage, và hẹn buổi gặp đầu tiên với ông ta.

Trong khoảng thời gian sau khi rời Shearson, Waters đã nói chi tiết về các lựa chọn của mình với một số khách hàng, bao gồm cả Johnson. Lão cũng đã cho ông một nơi làm việc trong quá trình ông tìm kiếm hướng đi mới. Một khách hàng khác đã giúp Waters có cơ hội việc làm là Henry Kravis. Một ngày nọ, cũng vào mùa xuân năm đó, Waters nói chuyện với Kravis và thấy anh ta có tâm trạng tốt. “Sáng nay, tôi vừa tìm được một người bạn mới,” Kravis nói.

Tom Hill gọi điện đến. Waters biết hai người này không hợp nhau. Kravis từng khó chịu khi Hill khước từ đề xuất của Kravis với hội đồng quản trị Federated ba tháng trước. “Bỗng dưng tôi là gã tử tế nhất thế giới,” Kravis thốt lên, với vẻ ngạc nhiên và mỉa mai, ý nói về cuộc nói chuyện với Hill. “Và ông ta có những ý tưởng thú vị nhất thế giới. Thật buồn cười là những ý tưởng như thế này có thể thành hiện thực.”

Cuối cùng, Waters chấp nhận lời đề nghị làm việc với người bạn cũ, Eric Gleacher ở Morgan Stanley. Ngày thứ hai ở chỗ làm mới, Waters ngồi với Gleacher trong góc phòng làm việc của ông ta để thảo luận về những khách hàng mà họ hy vọng có thể sẽ giành được từ Shearson. Johnson là người đứng đầu danh sách. “Nghe này, cứ hai hoặc ba năm ông ta lại làm một vụ lớn,” Waters nói. “Chúng ta thực sự muốn tiếp cận cơ hội đó. Có chuyện lớn sắp xảy ra. Tôi linh cảm thấy thế.” Được sự đồng ý của Gleacher, ông thành lập một nhóm các nhân viên ngân hàng đầu tư với ưu tiên hàng đầu là tạo ra những ý tưởng để tiếp cận Johnson.

-

Vào cuối mùa xuân, lời đồn lan truyền trên khắp Phố Wall rằng Ross Johnson đã sẵn sàng để thực hiện một thương vụ. Jeff Beck biết điều đó; ông ta vẫn đang tiếp tục thúc giục Johnson thực hiện LBO. Ira Harris cũng biết điều đó. Hill và Waters cũng thế. Mỗi người bọn họ đều có ý tưởng riêng về cách tốt nhất để thuyết phục Giáo hoàng bắt tay với mình.

Khi các nhân viên ngân hàng đã tạo thành vòng tròn khép kín vây quanh lão, Johnson vẫn như đang chết đứng vì giá cổ phiếu quá thấp. Nó giống như con ghẻ mà lão phải liên tục gảy ra. Hầu hết các giám đốc điều hành đều không thấy phiền về điều đó. Nhiều công ty vẫn chấp nhận giá cổ phiếu thấp trong suốt thời gian tồn tại. Và hầu như không có giám đốc điều hành nào nghĩ Phố Wall có thể ra giá cho cổ phiếu của họ. Còn các giám đốc của RJR Nabisco thì sao, họ cũng chẳng mấy quan tâm. Bởi lợi nhuận đã tăng, doanh thu cũng vậy. Nhưng Johnson không thể chịu được khi lão càng cố gắng thì giá cổ phiếu lại càng rớt thê thảm. Những thôi thúc như đã ngủ yên trong con người lão lại trỗi dậy, thúc giục lão hành động. Và giá cổ phiếu chỉ đơn giản là biểu hiện mới nhất của sự thôi thúc ấy.

Nhiều tháng sau, khi bạn bè hỏi lão tại sao lại đâm đầu vào ngõ cụt này, Johnson lại nói về số nhân của cổ phiếu và cấu trúc vốn. Lão đọc thuộc tất cả các bước đi mà lão đã làm để tăng giá cổ phiếu: tăng lợi nhuận, làm cho bảng cân đối kế toán thật đẹp, mua lại cổ phiếu và thuốc lá không khói Premier. Tất cả những điều đó đều đúng, nhưng đó chỉ là sự che đậy thông minh cho những sự thật sâu sắc hơn nhiều. Lão đã không kiềm chế được bản thân. Lão cứ luôn muốn khuấy tung mọi thứ lên.

Với danh nghĩa thúc đẩy việc tăng giá cổ phiếu, Johnson đã xem xét hàng tá phương án. Benevento đã rất tâm đắc với ý tưởng về cổ phiếu General Motors của mình, nhưng Johnson lại giết chết ý tưởng đó trong cuộc họp ngày 31 tháng Năm. Benevento thích độ phức tạp đến phát điên của kế hoạch đó. Nhưng với Johnson, đó chỉ là kế hoạch trên giấy tờ. “Thánh thần ơi,” lão la lên, “nó quá phức tạp.”

Johnson nuôi mãi ý tưởng liên doanh với Pillsbury, lão chỉ đạo phòng lập kế hoạch của Dean Posvar thực hiện rất nhiều đánh giá về công ty đó, khiến họ mệt nhoài. Lão yêu cầu Beck dùng mọi cách để tiếp cận nếu có thể. Lão đưa Jim Welch đến thăm Giám đốc Điều hành của Pillsbury, Bill Spoor. Spoor đã thích ý tưởng này, nhưng ông yêu cầu phải có các thỏa thuận về hạn chế quyền, để đảm bảo Johnson không thể nắm quyền kiểm soát công ty.

Khi các cuộc đàm phán với Pillsbury đổ vỡ hoàn toàn, Johnson yêu cầu Ira Harris kiểm tra khả năng tiếp cận có thể với công ty Quaker Oats. Lão lý luận rằng có lẽ hai công ty có thể kết hợp kinh doanh các sản phẩm bách hóa. Nhưng Bill Smithburg, Giám đốc Điều hành của Quaker, là một người kịch liệt phản đối việc hút thuốc, và ông ta không muốn dây dưa với RJR Nabisco. Steve Waters đã cố gắng khiến Johnson để tâm đến việc tiếp quản Kraft, gã khổng lồ thực phẩm ở Chicago. Johnson không đồng ý. Kraft quá lớn, quá đắt và các thương hiệu của nó không phù hợp với Nabisco. Tom Hill cũng chứng tỏ là người kiên trì đeo bám lão. Ông ta giới thiệu rất nhiều ứng cử viên có thể thâu tóm. Johnson vui vẻ duyệt qua các phương án, nhưng lắc đầu vì chúng quá đắt.

Tất nhiên, có nhiều cách khác để làm tăng giá cổ phiếu. Johnson đặt nhiều hy vọng vào việc thuốc lá không khói Premier sẽ được đưa ra thử nghiệm trên thị trường vào mùa thu tới. Mọi thứ đã được chuẩn bị để công bố Premier vào tháng Chín năm ngoái trong một cuộc họp báo được chuẩn bị công phu tại khách sạn Grand Hyatt, New York. Tin đồn đã càn quét thị trường chứng khoán một tuần trước đó rằng công ty đang phát triển một loại thuốc lá mới mang tính cách mạng, và cổ phiểu đã tăng ba điểm. Premier được đánh giá là tin tức “tối quan trọng” với các cổ đông của RJR Nabisco, và họ buộc phải công khai. Một giám đốc của Reynolds tên là Dick Kampe điều khiển con trỏ chạy trên một sơ đồ cắt ngang lớn, giảng giải về Premier cho báo chí. Trong một phòng riêng, Horrigan chuyển các tin nhắn cho các nhà phân tích tài chính. Với khuôn mặt rạng rỡ, Horrigan tuyên bố, “Nói một cách đơn giản, chúng tôi cho rằng đây sẽ là loại thuốc lá sạch nhất thế giới.”

Có một điều mà cả hai người không ai nhắc đến là vẫn còn một số vấn đề tồn tại với loại thuốc lá này. Thật ra, người của Horrigan chưa muốn giới thiệu sản phẩm này sớm như vậy. Premier còn lâu mới đủ điều kiện để đưa ra thị trường, nhưng tình hình trước mắt buộc họ phải hành động. Một là Premier không đạt yêu cầu trong thử nghiệm về hương vị. Theo các đánh giá trong phòng thí nghiệm tại Mỹ, các nhà khoa học của Reynolds phát hiện chưa đến 5% người hút thuốc thích hương vị của nó. Ở Nhật Bản, một nhóm các nhà nghiên cứu khác đã nhanh chóng học cách dịch ít nhất một câu của người Nhật sang tiếng Anh: “Hương vị như mùi rắm.” Đó là vấn đề rất cơ bản với loại thuốc này: Hương vị sẽ rất tệ nếu châm nó bằng diêm thay vì bật lửa. Lưu huỳnh trong que diêm phản ứng mạnh với đầu chứa carbon của Premier. Nó bốc mùi rất kinh khủng, “như mùi rắm” là cách nói tinh tế của Johnson về nó. Nếu tất cả những điều đó chưa đủ tệ thì vẫn còn nữa: Premier rất khó để rít vào, cực kỳ khó. Trong công ty, người ta gọi hiện tượng đó là “hiệu ứng thoát vị”.

Trong nội bộ, các giám đốc điều hành biết rằng họ cần nhiều năm để khắc phục nhược điểm khó đỡ này. Ngay cả khi sản xuất với số lượng nhỏ, đầu ngậm carbon của Premier thường có xu hướng bị rơi ra. Dự đoán nội bộ xác định rằng Premier chưa thể sẵn sàng cho các thử nghiệm trên thị trường trước năm 1991, sớm nhất là năm 1990. Tuy nhiên, Horrigan lại hứa với thế giới rằng Premier sẽ trình làng vào năm 1988.

Nhưng sau đó, đôi khi các giám đốc điều hành hàng đầu của công ty không còn muốn nghe những đánh giá có lý nữa. Khi nhà vận động hành lang của Washington là Paul Bergson nghi ngờ sự khôn ngoan của dự án Project Spa, cảnh báo về các vấn đề liên quan đến luật pháp, ông này đã bị Horrigan hất cẳng và thay thế bằng một luật sư của Winston-Salem được Horrigan đỡ đầu tên là Champ Mitchell. Charlie Hugel cho rằng ý tưởng về thuốc lá không khói là gàn dở và nói thế này: Mọi người thích thổi khói ra, gạt tàn và nhìn điếu thuốc lá cháy. Tầm bậy, Johnson gay gắt nói. Premier chỉ là sự thay đổi cần thiết về sản phẩm trước những mối lo ngại đang gia tăng về sức khỏe trên khắp đất nước, đặc biệt là vấn đề “hút thuốc thụ động” dẫn đến việc cấm hút thuốc ở nơi công cộng. “Hãy đưa nó ra thị trường,” Johnson tức giận nói, “hãy để cho người tiêu dùng quyết định.”

Khi Premier được giới thiệu vào mùa thu năm đó, một hy vọng mới lại nhen nhóm, rằng nó sẽ thúc đẩy giá cổ phiếu tăng vào tháng Sáu. Ở tòa án liên bang New Jersey, một người đàn ông góa vợ tên là Anthony Cipollone đã kiện một số công ty thuốc lá vì đã góp phần gây ra cái chết của vợ ông ta. Người vợ, tên là Rose Cipollone, đã hút thuốc trong suốt cuộc đời bà ta. Reynolds không phải là bị cáo, nhưng số phận của nó gắn liền với số phận của các công ty thuốc lá. Vụ kiện do Anthony Cipollone khởi xướng được coi là một trong những vụ kiện lớn nhất từng có chống lại ngành công nghiệp thuốc lá. Các luật sư của nguyên đơn đã công khai một loạt các tài liệu chứng tỏ thuốc lá là tác nhân gây hại cho sức khỏe. Johnson suy đoán nếu thuốc lá giành chiến thắng sẽ khiến giá cổ phiếu của công ty tăng vọt. Bồi thẩm đoàn cuối cùng đã đưa ra phán quyết, làm gián đoạn chuỗi bất bại của ngành công nghiệp thuốc lá, nhưng vừa vặn để xóa đi những âm mưu chống lại ngành này, và họ chỉ phải bồi thường thiệt hại 400.000 đô-la. “Một khoản bồi thường nhỏ dành cho Anthony Cipollone,” Johnson thích thú trước phán quyết và chờ đợi giá cổ phiếu của RJR Nabisco tăng vọt. Chẳng có đợt tăng giá nào. Phòng làm việc của Johnson trở thành nơi khóc than, nơi để mọi người đồng thanh kêu ca về tất cả sự bất công mà họ phải chịu. Horrigan đặc biệt cay đắng. Ông ta đã dự đoán cổ phiếu sẽ tăng ít nhất 6 điểm. “Thị trường chưa bao giờ đánh giá đúng giá trị của chúng,” Henderson phàn nàn. “Thị trường vốn cổ phần không tạo ra một cấu trúc vốn thật sự phù hợp cho một số công ty.” Trên thực tế, lập luận lấy lại cổ phiếu từ tay công chúng là nền tảng tư duy cho LBO, mặc dù lúc đó không ai công khai ủng hộ điều này. Horrigan nghĩ Johnson sẽ không bao giờ tư nhân hóa công ty này. “Vấn đề là nếu ông ta tư nhân hóa công ty,” ông tự nhủ, “thì sẽ không còn ai để ý đến ông ta nữa.”

-

Các nhân viên ngân hàng đầu tư không phải là những gương mặt mới duy nhất xuất hiện trong phòng làm việc của ban giám đốc RJR Nabisco vào mùa hè năm đó. Sau 10 năm, Hội anh em vui vẻ của Johnson đã đường ai nấy đi. Peter Rogers đã chuyển qua ba vị trí lãnh đạo cấp cao ở Nabisco và chuẩn bị rời đi vào mùa thu. Bob Carbonell, Phó Chủ tịch, đảm nhận vai trò là cánh tay phải của Johnson ở Atlanta, đã nhiều lần gây rối với Horrigan và bị điều đi Miami để lãnh đạo Del Monte ở đó. Thế vào chỗ của họ là người bạn thân nhất của Johnson, John Martin, Phó Tổng Giám đốc công ty.

Ở tuổi 46, Martin có phần nào đó liên hệ với Frank Gifford, diễn viên, cầu thủ bóng đá kiêm bình luận viên thể thao nổi tiếng. Trong những năm 1970, ông là một trong những chàng trai trẻ sáng giá tại ABC Sports. Là giám đốc hậu cần cho chương trình Monday Night Football, Martin trở thành con trai đỡ đầu của Howard Cosell. Là một giám đốc chương trình ở ABC, anh đã mang về ba hợp đồng Olympic. Martin là một bình luận viên thể thao trên tivi có giọng nói mượt mà, nhỏ nhẹ, êm tai, chắc chắn gây được ấn tượng tốt ngay từ đầu. “Anh ấy rất hòa đồng”, người ta nói về Martin như vậy. Vì ăn mặc đẹp, nên những người bạn thân ở ABC gọi ông là “luật sư”. Ông cũng là một tay golf giỏi, từng là nhà vô địch câu lạc bộ tại Winged Foot, một trong những câu lạc bộ đồng quê danh tiếng ở New York. Martin gia nhập RJR Nabisco vào tháng Một năm 1988. Trước đó, ông làm cho Ohlmeyer Communications. Rất nhanh, ông và Johnson trở thành bộ đôi không thể tách rời.

Họ trở nên thân thiết đến mức Martin chuyển đến sống ở tầng hầm nhà Johnson trong nhiều tháng trước khi tìm được một ngôi nhà ở Atlanta. Khi đã chọn được nhà, chỉ cách đó một khoảng bằng cây gậy sắt số 9, ở cùng con phố, ông vẫn ở dưới tầng hầm trong khi Laurie Johnson trang trí ngôi nhà. Cả ba liên tục đi cùng nhau, chơi golf, đi du lịch và dành hàng giờ cùng xem các chương trình thể thao trên truyền hình. Trên sơ đồ tổ chức của công ty, Martin dường như không nắm nhiều quyền lực, nhưng ông là tai mắt của Johnson, và bắt đầu đóng vai trò như một người gác cổng. Không ai ghen tị với sự thăng tiến của Martin hơn Horrigan. Ông ta chế nhạo rằng Martin với làn da rám nắng nhắc ông ta nhớ về nam diễn viên George Hamilton.

Một số người lặng lẽ cười thầm rằng Martin làm ma cô cho Johnson để thăng tiến. Ông cũng mang đến nhiều gương mặt mới. Một người là bạn lâu năm của Martin, Giám đốc Điều hành liên đoàn bóng chày Peter Ueberroth. Martin cũng là bạn của người quản lý cho võ sĩ Mike Tyson, Jimmy Jacobs, và phụ trách mảng quảng cáo của nhà vô địch trong thời gian rảnh. Đó chỉ là những thông tin thêm, nhưng nó cho Johnson quyền đến với các giải đấu. Vào tháng Sáu, lão mời các doanh nhân ở Atlanta và giới tài phiệt chính trị đến xem trận đấu của Mike Tyson với Michael Spinks trên tivi tại trụ sở công ty. Lời mời được chạm khắc bằng chữ vàng trên găng tay đấm bốc bằng da màu đỏ, và được gửi tới 100 khách mời chọn lọc. Khách mời được chào đón trên sân thượng, bởi những người phục vụ đeo găng tay trắng, mời họ rượu sâm banh Dom Perignon. Đôi khi, Martin cũng có chút bất cẩn khi giới thiệu ai đó. Khi họ ở Anh vào tháng Sáu năm ngoái, ông đã giới thiệu Johnson với một người Scotland vui tính. Anh này là một tay sai vặt ở ABC Sports, London. Johnson lặng lẽ chấp nhận và mời anh ta đến nhà mình ở Atlanta. Khi anh ta đến, Johnson mời anh ta làm vệ sĩ. Người đàn ông vui vẻ chấp nhận, và bắt đầu sống ở nhà Johnson; hai người rất hợp nhau. Đến mùa thu, khi xem xét lại thị thực của anh ta, Johnson và Martin mới phát hiện anh ta đã tham gia vào một băng đảng trộm két trên khắp Scotland. Gã đã nhiều lần phải ngồi tù, trong đó có một lần vì tội giả mạo giấy tờ. Người Scotland vui tính nhanh chóng được tặng một vé máy bay một chiều để quay trở lại Glasgow.

Một số bạn bè nghĩ rằng việc sa thải các cố vấn đáng tin cậy như Carbonell là biểu hiện của một số thay đổi đáng lo ngại ở Johnson. Lần đầu tiên, truyền thông đã chú ý đến lão. Tờ Fortune có bài viết về lão trên trang bìa với một câu chuyện được thổi phồng vào mùa hè năm đó như “Người bán hàng gai góc nhất nước Mỹ”. “Ông ấy rất giỏi phá bỏ văn hóa của một công ty lâu đời có nề nếp và thay thế chúng bằng một tổ chức mới trong đó hòa trộn sự náo loạn, thận trọng và quyết tâm.” Bài báo viết tiếp: “Trong ba lần tái tổ chức, ông ấy đã đưa 2.650 công ty trở lại đúng công việc sở trường của họ hoặc biến mất hẳn khỏi thương trường. Johnson đang hướng sự chú ý của các giám đốc dưới trướng đến những lợi ích cá nhân hơn là tới tương lai của công ty.”

Tờ Business Week cũng có bài viết nhưng ít ấn tượng hơn. Họ ghi nhận giá cổ phiếu của RJR đang ở mức thấp, triển vọng của công ty mờ nhạt, và hiệu suất hoạt động của thuốc lá đang giảm dần. Tạp chí này thoạt đầu giống như đang hướng đến một câu chuyện thậm chí còn khó nghe hơn. Họ nói nhiều đến thói chi tiêu xa hoa của Johnson, và đặt câu hỏi về khả năng điều hành của lão. Nhưng công ty đã gây áp lực buộc bọ phải bỏ bài báo đó. Martin nói với tổng biên tập, Stephen Shepard, rằng một phóng viên có thành kiến với Johnson đã đến và có bài viết bôi xấu công ty. Ông đe dọa sẽ từ chối quyền tiếp cận của tờ báo với RJR trong tương lai. Câu chuyện xuất hiện trên mặt báo dưới hình thức nhẹ nhàng hơn, và chỉ phàn nàn đúng một dòng về Johnson, rằng lão thường xuyên ấn một tờ 50 đô-la vào tay người quản lý rượu vang. “Chúa ơi,” Johnson đau khổ nói, “đã lâu rồi tôi không trả tiền boa ít như thế.”[1]

Bạn bè của Johnson có thể sẽ hối tiếc vì hai điều: Lão bắt đầu tin vào những bài báo viết về mình. Họ lo “marketer gai góc nhất nước Mỹ” sẽ thực sự trở thành marketer lạc hậu nhất. Lão thích khoe khoang rằng quan hệ của lão với các tay buôn bán tạp hóa có giá trị bằng bốn hoặc năm điểm thị phần — tương đương với hàng trăm triệu đô-la. Những tay giám đốc điều hành siêu thị mà lão dành nhiều thời gian trong những ngày này là một nhóm ba người, đều là cựu vận động viên, và lão thích chơi golf với họ. Johnson gọi họ là “Trâu” (“the Buffaloes”).

Đồng thời, người đàn ông sáng tạo nên môn khoa học về tấn công những giám đốc ngày càng trở thành kẻ nịnh đầm trong các cuộc họp hội đồng quản trị. Họ gặp nhau ít hơn và khoảng cách mỗi lần gặp cũng lâu hơn. Mới chỉ có một buổi được tổ chức trong khoảng thời gian từ tháng Năm đến tháng Mười năm 1988, và quan hệ công việc của họ cũng ngày càng trở nên lỏng lẻo. Các nhân viên công ty sẽ thấy khó khăn khi tập hợp slide báo cáo vấn đề tài chính, họ chỉ biết đứng nhìn khi Johnson cắt bỏ chúng. “Trượt hết slide đi,” lão nói, “tôi sẽ nói với họ các con số đều tốt.” Cắt bỏ cũng là thói quen của lão khi tập dượt báo cáo trước hội đồng quản trị.

Giống như điều đã xảy ra ở Standard Brands và Nabisco, Johnson dường như đang mất hứng thú với việc điều hành công ty. Càng ngày, lão càng tập trung vào hai việc: vui vẻ và cách tăng giá cổ phiếu. Một câu cửa miệng mới bắt đầu thay thế cho cụm từ cũ “BGO” (sao bây giờ mới nói), Johnson thường bắt đầu bằng: “A, mẹ kiếp.”

-

Vào tháng Bảy, Ed Robinson và Harold Henderson lo lắng rằng giá cổ phiếu của công ty tiếp tục ở mức thấp sẽ khiến nó dễ bị thâu tóm. Nhận được sự cho phép của Johnson, họ đã tiếp cận Shearson Lehman để bàn về các biện pháp bảo vệ, không để công ty bị thâu tóm. Họ muốn có một nghiên cứu ở cấp độ cao nhất, một loạt kế hoạch có thể được thực hiện ngay khi các dấu hiệu đầu tiên của một kẻ đột kích thù địch xuất hiện. Johnson cho rằng việc tiếp quản công ty này là điều không thể. Nhưng Henderson khẳng định họ phải chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất.

Shearson là lựa chọn hợp lý để thực hiện nghiên cứu. Johnson có chân trong hội đồng quản trị của American Express, đồng thời quen cả Tổng Giám đốc Điều hành của Shearson, Peter Cohen và Tổng giám đốc điều hành của American Express, Jim Robinson. “Hãy cùng Shearson nghiên cứu mọi phương án cùng những thứ nhảm nhí mà chúng ta có thể phải đối mặt để họ xem xét tất cả các kịch bản và xem họ nói gì,” Johnson nói. “Nếu có ai đó muốn mua chúng ta, họ mua để làm gì và khi đó ta sẽ phải làm gì?”

Khi cuộc họp hội đồng quản trị vào tháng Bảy của American Express kết thúc cũng là lần đầu tiên Johnson tiếp cận Cohen về kế hoạch bảo vệ công ty. “Andy Sage sẽ gọi cho anh,” lão nói, “ông ấy muốn có một cuộc trò chuyện riêng tư với anh về công ty của chúng tôi.” Cuối tháng Bảy, Andy Sage cùng trợ lý của Johnson gặp Cohen ở văn phòng của ông trong khu hạ Manhattan, nơi từ đó có thể nhìn ra con sông Hudson nổi tiếng. Họ muốn nghiên cứu tất cả các lựa chọn khả thi: một loạt kế hoạch tái cấu trúc cũng như các đề xuất mua lại một phần và toàn bộ. Sage khăng khăng rằng các phương án này phải tuyệt mật. Theo ông, chỉ cần một dấu hiệu nhỏ về sự tồn tại của dự án cũng có thể dẫn đến đồn đoán về việc thực hiện nó. Ông tin rằng nếu một công ty đang lo lắng về việc bị đầu cơ tiếp quản, điều đó chắc chắn sẽ thu hút các nhà đầu cơ chú ý tới công ty. Chỉ có năm giám đốc điều hành của Shearson, trong đó có Cohen và Tom Hill, biết rõ kế hoạch. Hill đặt cho dự án một cái tên mà sự trớ trêu của nó sẽ không thể xóa đi nhiều tháng sau đó: Dự án Stretch[2].

Đồng thời, Johnson đã yêu cầu hội đồng quản trị của RJR Nabisco phê duyệt một loạt điều khoản chống thấu tóm mà Robinson và Henderson đã soạn thảo với sự trợ giúp của Davis, Polk & Wardwell, một công ty luật ở Phố Wall. Hội đồng quản trị cũng đã phê duyệt các thỏa thuận thôi việc có tên “dù vàng” cho mỗi người trong số 10 nhân sự cấp cao nhất công ty. Hầu hết các công ty lớn ở Mỹ đều có những thỏa thuận tương tự, thường được xem xét như một phần và theo gói cho kế hoạch dự phòng chống tiếp quản. Điều duy nhất khác thường ở RJR Nabisco là quy mô của các thỏa thuận này quá lớn: cả thảy trị giá 52,5 triệu đô-la.

Có một điều khiến các nhân viên trong bộ phận tài chính của công ty bối rối. Theo chỉ đạo của Johnson, số tiền cho “dù vàng” nằm trong các quỹ ủy thác bảo vệ gọi là “quỹ ủy thác rabbi”. Theo các điều khoản của quỹ này, nếu RJR Nabisco đổi chủ, người chủ mới sẽ không thể động đến quỹ. Theo cảm nhận của các nhân viên tài chính, có vẻ như Johnson đang chuẩn bị làm gì đó.

-

Khi họ tìm kiếm giải pháp để giải quyết các vấn đề giá chứng khoán mà Johnson vẫn lo ngại, tất cả những người tham gia đều đã phân tích và đề cập đến khả năng LBO. Đó là một giải pháp tiêu chuẩn cho bất kỳ công ty nào có cổ phiếu giảm giá. Tất nhiên, LBO không hẳn là một giải pháp cho vấn đề theo kiểu: thôi nào, hãy kết thúc đi. Tư nhân hóa công ty chỉ đơn giản là thu cổ phiếu về, tập trung vào một số cổ đông từ rất nhiều cổ đông nhỏ lẻ. Nhiều nhân viên ngân hàng đầu tư kêu gọi Johnson nên xem xét thực hiện điều này.

Chẳng mấy chốc, những ý tưởng LBO đến tới tấp mà không báo trước. Dillon Read đã đề xuất LBO một phần, đặt tên là Dự án Tara. Ruben Gutoff, kẻ đồng mưu với Johnson ở Standard Brands, đề xuất một kịch bản do công ty ông ta tư vấn có tên là dự án Reo. Chủ để này thậm chí còn được đưa ra bàn vào một đêm khi Johnson đang ngồi với những người hàng xóm quanh một hồ bơi. Một người nói: “Này Johnson, tại sao ông không tư nhân hóa công ty của mình?”

Với mỗi dự án, Johnson đều trả lời lão không quan tâm. “Không được,” lão nói trong một buổi tập hợp các cấp phó của mình vào tháng Bảy. “Tại sao tôi lại muốn làm điều này? Tôi đang có một cuộc sống tuyệt vời; tôi đang có một công ty tuyệt vời, như vậy chưa đủ sao?” Cuối cùng, ít nhất cũng có một người trong số những người dùng bữa trưa ngày hôm đó nghĩ rằng lời từ chối của Johnson không chân thật. Peter Rogers đã quen biết Giáo hoàng từ rất lâu. Khi cho rằng một ý tưởng là ngớ ngẩn, Johnson sẽ từ chối nó với sự khinh miệt khôi hài. Trong lúc ra ngoài với John Greeniaus sau bữa trưa, Rogers đã nói: “Tôi cho rằng Johnson đã không thành thật, và ông ấy sẽ thực hiện việc đó.”

Tuy nhiên, lúc này, Johnson có vẻ tò mò về mọi kế hoạch khả thi ngoại trừ LBO. Kế hoạch lớn nhất đến với lão vào tháng Bảy. Trong nhiều tháng, lão cố gắng thu hút sự chú ý của Philip Morris đến việc kết hợp hai công ty quốc tế thành một liên doanh. Philip Morris bày tỏ mong muốn mua lại RJR Nabisco, nhưng Johnson thay vì chấp nhận lại đề nghị liên doanh. Tất nhiên, Horrigan ghét ý tưởng đó. Liên minh với kẻ thù ư? Giơ cờ trắng ư? Nhưng bị Johnson thúc giục, ông ta đã gặp một số kẻ đối đầu bên phía Philip Morris.

Sau nhiều tháng đàm phán hợp rồi tan, Johnson từ bỏ ý tưởng. Ngay cả khi họ đi đến thỏa thuận, lão vẫn nghi ngờ rằng các chính phủ nước ngoài sẽ phản đối việc sáp nhập do muốn chống độc quyền. Giờ đã là cuối tháng Bảy, Johnson gọi cho Tổng Giám đốc Điều hành của Philip Morris, Hamish Maxwell, với một ý tưởng mới. Không giống như những người tiền nhiệm, hai người rất hợp nhau. Johnson dường như có thể hòa hợp với bất kỳ ai. Họ gặp nhau, cùng ăn tối tại phòng hạng sang dành cho RJR Nabisco ở khách sạn Regency, New York. Để tỏ lòng tôn trọng chủ nhà, Maxwell hút thuốc lá Winston trong khi chăm chú lắng nghe lúc Johnson vạch kế hoạch.

“Hãy đối mặt với điều đó,” Johnson nói. “Đa dạng hóa sản phẩm không phù hợp với chúng tôi cũng như Philip Morris. Cả hai công ty chúng ta vẫn giao dịch trên danh nghĩa cổ phiếu thuốc lá.”

Điều đó chỉ đúng một nửa. Trong ngành kinh doanh thuốc lá cốt lõi của họ, Maxwell đang có thuốc lá Queen Mary và Johnson có African Queen. Thương hiệu hàng đầu của Philip Morris, Marlboro, đang dẫn đầu thị trường và ngày càng vượt xa so với các thương hiệu của Reynolds, tỷ suất lợi nhuận cũng cao hơn, cùng việc lưu chuyển tiền mặt vượt xa RJR Nabisco. Các nhà đầu tư cổ phiếu là những tổ chức xã hội, các quỹ lương hưu và quỹ tương hỗ có thể nâng đỡ hay vùi dập các cổ phiếu. Thường chỉ có một cổ phiếu thuốc lá được chọn trong danh mục đầu tư của bọn họ, và đa số bọn họ chọn Philip Morris. Với sự chống lưng của các tổ chức này, cổ phiếu của Philip Morris đã tăng 25% kể từ đầu năm 1987. Trong khi đó, cổ phiếu của RJR Nabisco sau khi tăng vọt rồi giảm sâu, giờ đi theo chiều ngang. Các nhà quản lý danh mục đầu tư thích khả năng phán đoán của Philip Morris. Họ cho rằng họ biết Maxwell sẽ đi đâu về đâu. Nhưng họ chẳng bao giờ biết Johnson định làm gì.

Maxwell lắng nghe còn Johnson đề nghị Philip Morris và RJR Nabisco kết hợp bộ phận kinh doanh thực phẩm của hai bên thành một liên doanh dưới hình thức công ty đại chúng. RJR Nabisco sẽ sở hữu 37,5% bằng với Philip Morris; 25% còn lại sẽ được bán ra công chúng. Giá cổ phiếu đại chúng tăng lên, Johnson nói, tựa theo lý thuyết cũ rích của Jeff Beck, sẽ làm nóng cổ phiếu của hai công ty mẹ.

Johnson nói tiếp: “Tôi cho rằng chúng ta có thể tạo ra một công ty trị giá 18 tỷ đô-la hùng mạnh.” Sau đó, lão thả mồi: “Tôi sẽ nhường quyền điều hành cho ông.”

Sau khi hai công ty thực phẩm kết hợp với nhau, Johnson dự kiến sẽ từ chức Tổng Giám đốc Điều hành của RJR Nabisco, để lại mảng thuốc lá cho Horrigan quản lý. Đó là một đề nghị kỳ quặc, nhưng Johnson cá là Maxwell có thể sẽ đồng ý.

“Ross, đó là một ý tưởng tuyệt vời,” Maxwell nói khi Johnson trình bày xong kế hoạch, “nhưng liên doanh sẽ có nhiều vấn đề đây.” Chỉ riêng vấn đề hậu cần đã đủ đau đầu: Rất nhiều người từ nhiều công ty khác nhau sẽ buộc phải làm việc cùng nhau. Ngay cả khi Johnson và Maxwell hợp nhau, ông nói tiếp, thì có gì đảm bảo những người kế nhiệm cũng sẽ như vậy? Tuy nhiên, Maxwell nói với Johnson rằng ông ta sẽ suy nghĩ kỹ đề nghị này.

Hai tuần sau, khoảng giữa tháng Tám, Maxwell gọi lại. Ông ta nói: Xin lỗi, Philip Morris không thể làm vụ này. Đơn giản là có quá nhiều vấn đề. Johnson cố gắng tỏ ra bất cần. Điều đó không có nghĩa là lão không có gì khác trong tay để tăng giá cổ phiếu. Vẫn luôn là Premier. Tuy nhiên, giờ lão muốn nghỉ ngơi, thoát khỏi những cơn lốc ý tưởng mà lão đã khuấy động, cũng như thoát khỏi cái nóng nực, oi bức của mùa hè đang bao trùm khắp Atlanta. Lão lên máy bay phản lực, đến Colorado, nghỉ ngơi vui chơi vài tuần.

-

Câu lạc bộ golf Castle Pines cách thành phố Denver 25 dặm về phía nam, và với những người đam mê golf như Johnson, nơi đây như thiên đàng. Khung cảnh nơi này quá đẹp để xây dựng một sân golf. Một thung lũng tự nhiên hoang sơ, bao quanh là thành phố Castle Rock, đỉnh Pike, dãy núi Rocky phủ đầy tuyết trắng. Đường golf chạy qua những đồng cỏ xanh tươi trên sườn núi, trên đó trồng nhiều thông làm đẹp thêm khung cảnh. Sân golf này được xếp hạng nhất trong số 30 sân golf hàng đầu cả nước. Castle Pines do Jack Nicklaus thiết kế, và Gấu Vàng tạo ra lỗ thứ chín khó chơi nhất: 410m, bốn gậy, đường đi khó khăn, có hố nước bên phải, các chướng ngại vật ở bên trái, phát đánh thứ hai đến khu vực đánh bóng không rõ ràng, hướng lên đồi, đến lỗ golf ở giữa vùng đích. Đằng sau những hàng thông phía bên trái của đường di chuyển trong sân golf là một cụm biệt thự ba tầng. RJR Nabisco sở hữu một căn trong đó và nó như một nơi ở ẩn dật của công ty, và chính tại đó, vào một ngày cuối tuần, 21 tháng Tám, Johnson tổ chức một trong những bữa tiệc đáng nhớ nhất trong sự nghiệp của mình.

Cuối tuần đó, Castle Pines tổ chức một giải đấu golf chuyên nghiệp, giải International, và Johnson đã mời nhóm bạn thân nhất đến góp vui cùng lão. Peter Ueberroth và Roger Penske đã ở đó, Roone Arledge cũng đã đến từ hội nghị của đảng Cộng hòa ở New Orleans. Jack Meyers, chủ bút của tạp chí Time đã nghỉ hưu cũng xuất hiện, và bộ ba “trâu” của Johnson, trong đó có Floyd Hall, Chủ tịch của chuỗi siêu thị Grand Union. Charlie Hugel và Ira Harris cũng đến, và như thường lệ, Martin Emmett cũng có mặt.

Đó là kiểu cuối tuần mà Johnson mong mỏi. Khi đó, lão có thể chơi golf vào buổi sáng, xem những tay chơi chuyên nghiệp vào buổi chiều và tận hưởng cuộc tán gẫu đẳng cấp thế giới vào ban đêm. Không quân RJR sẽ ứng trực nếu cần, để đưa Harris tới một đám cưới ở Chicago. Tối thứ Bảy, một cặp trong đội Nabisco, Fuzzy Zoeller và Raymond Floyd, đến tham gia bữa tối. Ben Crenshaw cũng đến vào lúc đang có sự tranh đua quyết liệt ở giải đấu.

Hôm đó, sau bữa tối, Johnson có điều bất ngờ dành cho các vị khách. Lão hỏi: Có phải mọi người đã nghe nói đến loại thuốc lá mới không khói của công ty? Mọi người đều gật đầu. Ed Horrigan giới thiệu một cuốn băng video cho thấy sức hấp dẫn của Premier. Sau một giờ giải thích về các cơ sở khoa học của nó, Johnson mở một bao Premier và chuyển các điếu thuốc cho mọi người cùng xem. Hãy cho chúng tôi biết suy nghĩ của các ông về tất cả mọi thứ, Johnson mời họ hút thuốc rồi nói: hương vị, bao bì, tiếp thị, điểm yếu.

Lão không chủ ý thực hiện vụ hỏi ý kiến này, nhưng rất háo hức muốn nghe những ông bạn VIP của mình nói về Premier. Lão và Horrigan chăm chú theo dõi khi Ueberroth và những người khác bắt đầu kiểm tra thật kỹ các điếu thuốc lá, quan sát những lỗ nhỏ trên đầu carbon, cảm nhận vỏ bao cứng như thế nào so với thuốc lá bình thường. Rất chậm, họ bắt đầu châm thuốc hút. Mùi thuốc lá không thể nhầm lẫn và rất khó chịu.

“Có mùi như xà lách cháy,” có người nào đó nói.

“Rất khó rít vào,” người khác nói.

Cần có thời gian để quen với hương vị của nó, Johnson thừa nhận. “Chúng tôi sẽ nói trong quảng cáo là hãy thử nó trong một tuần.”

“Tôi không biết có thể hút hết một gói hay không,” một người nói.

Họ tiếp tục nhìn vào những mặt tích cực của Premier, Penske ca ngợi công nghệ sản xuất. Arledge tự hỏi ai sẽ là người phát ngôn trong chương trình tin tức; Premier sẽ gây chú ý khi được giới thiệu ra thị trường. Johnson thừa nhận lão không để ý mấy đến vấn đề này. “Ông nên chuẩn bị cho điều đó,” Ueberroth xen vào. “Các phương tiện truyền thông sẽ rất quan tâm và sẽ có những câu hỏi khó kiểu như: Nếu đây là một loại thuốc lá an toàn hơn, có nghĩa là ông thừa nhận những loại khác của các ông không an toàn phải không?

“Vấn đề nằm ở chỗ đó,” Johnson công nhận. “Loại thuốc lá này an toàn hơn, nhưng ta không thể cứ thật thà mà nói vậy.”

Khi phiên họp kéo dài thêm, Johnson có thể nhận thấy Premier có nhiều vấn đề nghiêm trọng hơn lão vẫn lo. Không ai thích mùi vị của nó. Johnson từng hy vọng họ sẽ thích loại có tinh dầu bạc hà nhưng họ chỉ cau mày, nhăn mặt, cố gắng hít khói thuốc. Lão và Horrigan vẫn lạc quan cho dù qua tất cả các kết quả kiểm tra đều kém. Johnson suy tính nếu chỉ có 5% người hút thuốc cho rằng Premier ngon miệng thì đó vẫn sẽ là một cú hích lớn. Lão chỉ đơn giản tin rằng Premier sẽ làm nên chuyện.

Nhưng khi nghe Ueberroth, Arledge và những người khác nói lên cảm nhận của họ, Johnson nhận ra những dự đoán dè dặt của các nhân viên là chính xác: Premier sẽ cần nhiều năm, và nó không thể thành công trong vài tháng tới. Cơ hội cho một cú hích tan thành mây khói chỉ qua một đêm, sau các nhận xét ngắn gọn từ những người bạn rất có ảnh hưởng của lão. Đó cũng là hy vọng cuối cùng và lớn nhất của lão để tăng giá cổ phiếu.

Giải đấu The International kết thúc vào ngày hôm sau, và Không quân RJR nhanh chóng đưa những người bạn của Johnson đến những nơi họ muốn. Johnson ở lại để chơi golf, nhưng lên lịch một cuộc họp với các trợ lý cấp cao vào thứ Hai tuần sau để thảo luận các vấn đề về Premier. Horrigan, Henderson và Martin đều đến họp. Ngoài ra, còn có một nhóm các chiến lược gia thuốc lá và những người ngoài cuộc gồm Stanley Katz, người đứng đầu FCB Leber/Katz, công ty quảng cáo cho Reynolds, và Herb Schmertz, cựu Giám đốc Quan hệ công chúng của Mobil Oil.

Thay vì bàn tới các vấn đề chính về mùi vị và hương vị, nhóm bàn thảo cách để giới thiệu Premier cho báo chí. Ví dụ ai sẽ là phát ngôn viên chính? Horrigan ủng hộ để Johnson là người phát ngôn. Nhưng những người khác lại lưỡng lự. Lão có thể là Tổng Giám đốc Điều hành của công ty thuốc lá lớn thứ hai nước Mỹ, nhưng Johnson không phải là chuyên gia về thuốc lá, và lão có thể nói bất cứ điều gì xuất hiện trong đầu. Lão thích nói thế này: “Khí CO từ thuốc lá mà các bạn hít phải chẳng thấm tháp gì so với lượng khí thải ra từ những chiếc xe buýt ở New York.” Cuối cùng, mọi người nhất trí chọn Dick Kampe là người đứng đầu nhóm phát triển Premier. Horrigan và Martin tranh cãi việc làm thế nào để Kampe có sự chuẩn bị tốt nhất khi xuất hiện trong chương trình Nightline.

Cuộc họp kết thúc vào giữa buổi chiều, tất cả ra về, chỉ còn Horrigan cùng Henderson ở lại. Sáng hôm sau, Johnson và Horrigan nằm dài trên những chiếc ghế bành trong phòng khách ở căn biệt thự của lão. Trận golf của họ sẽ bắt đầu lúc 10 giờ; Henderson đã ra ngoài để tập phát bóng.

“Tôi đã nói với anh tất cả những gì tôi nghĩ,” Johnson nói, trở lại bàn về Premier. “Chúng ta phải chuẩn bị với truyền thông ngay từ bây giờ. Nhưng tôi nghĩ chúng ta sẽ phải tốn nhiêu công sức cho nó. Chúng ta sẽ còn nhiều việc phải làm. Chúng ta sẽ phải thử. Nhưng tôi có cảm giác thử nghiệm thị trường lần này sẽ gây rắc rối cho chúng ta.”

Johnson tiếp tục, điều thực sự khiến lão phiền lòng không phải là tiến độ của Premier mà là nó không thể giúp tăng giá cổ phiếu. “Điều đáng nói là,” Johnson nói, “chúng ta đang kìm hãm giá cổ phiếu thực phẩm đáng ra đã đạt đến mức trần - Del Monte đáng giá gấp 18 lần, tiếp tục là Nabisco cũng đáng giá gấp 22-25 lần. Nhưng tất cả những điều đó chẳng có ích gì. Ta vẫn đang giao dịch ở mức giá gấp chín lần. Ta vẫn là một công ty thuốc lá. Giờ có vẻ như đã đến lúc Premier sẽ có tác dụng. Nếu không được như vậy, tình hình vẫn tiếp tục tiêu cực trong ngắn hạn.” Với tư cách là một công ty thuốc lá, cuộc sống thật không công bằng. Bất kể họ có làm gì, Phố Wall cũng chẳng hề tin họ. Cổ phiếu của họ tiếp tục lao dốc. “Chúng ta rồi sẽ đi đến đâu?” Johnson hỏi.

Trong khi Johnson đang độc thoại, Henderson bước vào sau khi tập phát bóng. “Ross, thị trường sẽ không bao giờ định giá chính xác,”

Henderson nói, và đề cập đến vấn đề ông từng đề xuất. “Ta nên trở thành công ty tư nhân.”

“Được rồi,” Johnson nói, “cơ chế pháp luật để tiền hành tư nhân hóa là gì? Làm thế nào để thực hiện LBO?”

Henderson phác thảo những điều cơ bản, nói rõ nhất có thể theo sự hiểu biết của ông. Sau khi nhóm quản lý đề xuất mua lại, sẽ phải thành lập một ủy ban đặc biệt gồm các thành viên hội đồng quản trị để xem xét vấn đề. Đồng thời phải công khai đề xuất này tới các cổ đông phổ thông. Và khi đã làm như vậy, các công ty khác, thậm chí là những kẻ đột kích ở Phố Wall, sẽ được tự do đặt giá cao hơn, nên sẽ có rủi ro.

“Trên thực tế, ta sẽ hoạt động như thế nào dưới cấu trúc LBO?” Johnson hỏi.

Thay vì trả lời, Henderson đặt câu hỏi. “Đầu tiên, ta có thể huy động số tiền cần thiết để mua RJR Nabisco không? Thoạt nhìn đã thấy rõ ràng đây sẽ là vụ LBO lớn nhất, vụ tiếp quản lớn nhất chưa từng có. Ta sẽ phải bán bao nhiêu công ty để trả nợ? Họ có duy trì trụ sở ở Atlanta hay buộc phải quay trở lại Winston-Salem để tiết kiệm tiền? Họ có đủ khả năng chi trả để đưa Premier ra thị trường không?

Henderson tiếp tục, nếu đã rất hứng thú với LBO, ta sẽ cần sự giúp đỡ. Ông đề cập đến một số luật sư Phố Wall mà ông biết. “Được rồi,” Johnson nói, “giờ chúng ta cũng nên xem xét cẩn thận hơn những gì Shearson sẽ mang lại cho mình.”

Điều này sẽ không xảy ra. Horrigan nghĩ vậy khi họ đi ra sân golf. Ông đã từng thấy có quá nhiều “ý tưởng hằng tuần” của Johnson đến mức chẳng thể khiến lão quan tâm thực sự đến LBO. Henderson cũng vậy, ông ta nghi ngờ tính nghiêm túc của Johnson khi lão nói về vấn đề này. Ông nghĩ LBO đòi hỏi quan tâm đến nhiều vấn đề, nhiều chi tiết, và điều này chẳng hợp với phong cách của Johnson.

Về phần mình, Johnson vẫn rất lưỡng lự. Những gì diễn ra hai tuần qua nhắc nhở lão đang có một cuộc sống rất tốt. Một ngôi nhà do công ty cấp ở gần một sân golf tuyệt vời. Rất nhiều người bạn thân thiết thuộc hàng VIP. Một máy bay phản lực luôn sẵn sàng chờ lệnh di chuyển của lão. Nhưng có một bài ca quyến rũ đang kêu gọi lão hành động. “Tất nhiên, tôi có thể đem tất cả ý tưởng LBO nhét vào ngăn kéo phía dưới bên trái tôi, và tiếp tục con đường mình đang đi rất vui vẻ,” sau này lão nói. “Nhưng tôi biết có điều gì đó cứ thôi thúc trong tôi.” Rõ ràng, lão rất muốn thực hiện điều đó và cứ mãi loay hoay với nó.

Vài ngày sau, Johnson gọi Andy Sage khi ông ta đang ở trang trại tại bang Wyoming. Lão yêu cầu ông ta ghé qua Castle Pines trên đường đi về phía đông. Khi họ đi dạo vào một buổi chiều, Johnson đã nói về ý tưởng mới nhất của lão. “Tất cả những gì có thể nghĩ ra chúng ta đều đã thử, nhưng chúng không hề có tác dụng. Cổ phiếu vẫn chỉ dừng ở mức đó,” lão nói. “Andy, tôi đang cố gắng tìm một cấu trúc thay thế vì lợi ích của mọi người.”

Sage không nghĩ LBO sẽ là giải pháp cho các vấn đề của RJR Nabisco, và tựu chung là ông không muốn nhìn thấy những công ty lớn của Mỹ thay thế vốn cổ phần của các cổ đông tốt bụng nhưng lạc hậu bằng nợ ngân hàng. Một trong những điểm cực mạnh của nền công nghiệp Mỹ, như Sage và những người thuộc thế hệ của ông nhận thấy, là cơ sở vốn của nó. Và lúc này, khi Mỹ phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường thế giới, ông ghét phải chứng kiến lợi thế đó bị phung phí. Ông cảm thấy các công ty nên tập trung tạo ra việc làm mới, sản phẩm mới, và nếu cứ mải đối phó với nợ nần thì làm sao có thể tạo ra việc làm và sản phẩm tốt. Quan trọng hơn, ông không chắc chắn về một người có kiểu chi tiêu tự do như Johnson có thể cam chịu cắt giảm chi tiêu đến mức khắt khe để trả đống nợ cao như núi. Tuy nhiên, ông chỉ giữ sự nghi ngờ ấy trong lòng.

Johnson bảo Sage gọi Shearson và thực hiện Dự án Stretch. Đội của Hill đã bắt đầu nhiệm vụ hết sức khó khăn là ghl chép cụ thể giá trị của các doanh nghiệp thuộc RJR Nabisco. Johnson muốn công việc phải được hoàn thành vào giữa tháng Mười để họ có thể nhanh chóng bắt đầu xem xét khả năng LBO. Sage gọi Benevento và một lần nữa yêu cầu anh ta dừng các nghiên cứu LBO cũ. Tuy nhiên, giống như Horrigan, Sage đã cố gắng không lo nghĩ quá nhiều về nhiệm vụ mới được giao. Suy tính của Johnson giống như thời tiết ở New York: rất dễ thay đổi ngay cả với những tác động nhỏ nhất.

Cuối tuần đó, Johnson gọi cho Charlie Hugel, thoải mái đề cập đến nghiên cứu của Shearson. “Thật tình cờ,” Johnson nói, “chúng tôi đã yêu cầu họ xem xét có thể thực hiện LBO không. Tôi không biết giá trị của vụ LBO này là bao nhiêu, nhưng họ đang tiến hành. Ông nghĩ sao?”

Hugel không dài dòng mà nói thẳng vào vấn đề. Hugel lớn hơn Johnson ba tuổi, nhưng tầm nhìn của hai người lại cách nhau một thế giới. Hugel thuộc lớp người cũ, ông đã trải qua nhiều vị trí ở AT&T trước khi rời khỏi đó vào năm năm trước để về lãnh đạo Combustion Engineering. Ông là người tin tưởng vào các nền tảng của công ty, và không tin những phát minh điên rồ ở Phố Wall như LBO có thể có ích cho doanh nghiệp. Ở Combustion, Hugel là giám đốc điều hành làm việc chăm chỉ để mở các thị trường mới ở nước ngoài. Ông ở trong các khách sạn nổi tiếng tồi tàn ở Moscow, và tự mình lau sàn nhà. Điều đó làm Johnson thích thú khi lão đến Moscow ký kết làm ăn, và cố gắng đặt một phòng hạng sang.

“Ross, tại sao ông muốn làm điều đó?” Hugel hỏi. “Ông thật sự vẫn chưa hoàn thành mọi thứ ông đang làm. Tại sao bây giờ ông lại muốn từ bỏ chúng?”

“Phải, tôi không thấy mình đủ nhiệt huyết để điều hành công ty,” Johnson thừa nhận. Lão nhắc lại tất cả những gì đã làm để cố gắng kéo giá cổ phiếu đi lên. Bản thân Hugel đã phải đối mặt với những vấn đề khó khăn hơn nhiều so với việc giá cổ phiếu thấp. Theo ông, LBO giống như bắn vào ai đó để giúp anh ta giải thoát khỏi đau đớn do bị xước măng rô.

Hugel nói, quyết định đánh vào những thứ sống còn với Johnson: “Ross, ông có thể phải cắt giảm máy bay phản lực, trụ sở chính, tất cả những thứ là cuộc sống với ông. Ông có thực sự muốn làm điều đó không?” Họ nói chuyện thêm một lúc nữa và khi Johnson gác máy, Hugel nghĩ rằng ông đã thuyết phục được Johnson không theo đuổi LBO.

Khi Johnson trở lại Atlanta sau Lễ Lao động, lão chỉ ở lại đúng một hôm. Sáng hôm sau, lão tới London. Ở đó, lão và John Martin có một lịch trình cấp tốc: họp với hội đồng quản trị General Electric, họp với những người trong ngành thuốc lá quốc tế, và một cuộc chuyện trò riêng không chính thức với David Montagu của Rothmans International, một công ty thuốc lá của Anh đang quan tâm đến việc mua một phần các công ty thuốc lá quốc tế. Khi máy bay cất cánh, Johnson đề cập ý tưởng LBO với Martin. Anh nói muốn ngủ một chút, và họ sẽ bàn về LBO vào sáng hôm sau.

Họ không bao giờ có cơ hội. Khi đang ngủ gật trên bầu trời Bắc Đại Tây Dương lúc 2 giờ kém vài phút vào sáng thứ Tư, ngày 7 tháng Chín, một cảnh sát ở ngoại ô quận Westchester, New York đã dừng lại trên đường cao tốc Saw Mill River. Anh phát hiện một chiếc Nissan 1987 bị nghiền nát và lật nghiêng, cách đường khoảng 90m. Chiếc xe rõ ràng đã đâm vào biển báo giao thông trước khi bị mất kiểm soát và lật nhào. Gần đó, nhà chức trách tìm thấy Bruce, con trai 26 tuổi của Johnson, mình đầy máu nằm bất tỉnh. Anh được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện gần đó.

Johnson vừa đăng ký tại một khách sạn ở London gần công viên, thì Laurie gọi điện báo tin. Cô không rõ Bruce còn sống hay đã chết. Johnson và Martin nhảy lên chiếc Concorde đầu tiên bay về nhà. Trên chuyến bay, Johnson châm một điếu Premier trong khu vực Không hút thuốc. “Sẽ thật thú vị, để thử xem có ai chú ý không,” lão nói với Martin. Khi Johnson đến bệnh viện ở quận Westchester, con trai lão đã hôn mê. Các bác sĩ không chắc chắn khi nào anh sẽ tỉnh lại. Johnson ở tại nhà của Frank và Kathie Lee Gifford ở Connecticut. Gifford cố động viên lão: Con trai ông, Kyle, từng bị chấn thương nặng ở đầu vì tai nạn nhưng vẫn qua khỏi.

Thứ Năm, Jim Robinson đến thăm Bruce. Hai người bạn đi dạo trong khuôn viên bệnh viện. “Ross, anh phải đảm bảo có được sự chăm sóc y tế tốt nhất có thể,” Robinson nói. “Ngoài ra, hãy hy vọng, còn có quá nhiều thứ để hy vọng.”

“Tôi biết anh đã trải qua hoàn cảnh tương tự,” Johnson nói.

“Anh hãy giữ vững sự tập trung và nhìn về phía trước,” Robinson khuyên nhủ lão, “và hãy tiếp tục sống.”

Thứ Sáu, Johnson nhìn chằm chằm vào chiếc cặp hồ sơ đang mở. Thư từ gửi đến chất đống trong phòng làm việc. Lão biết đã đến lúc quay lại với công việc, trở lại guồng máy đang quay. Lão quyết định nghe lời Robinson, gạt nỗi đau và lao vào công việc. Sáng thứ Hai, lão đến bệnh viện thăm Bruce, sau đó lái xe đến Manhattan để gặp Sage và Benevento.

Bước vào văn phòng làm việc của mình, Johnson lấy ra một cây bút chì nhọn, máy tính và bảng tính kế toán, những thứ lão đã học cách sử dụng tại General Electric 30 năm trước. Xung quanh lão trên sàn nhà và bàn ghế chồng đống các báo cáo từ phòng kế hoạch, báo cáo nhân sự, các nghiên cứu từ những nhân viên ngân hàng đầu tư và bản in từ máy tính. Lão muốn tự mình xem xét thế nào là LBO, vì lão không còn tin tưởng rằng các nhân viên ngân hàng đầu tư hoặc những tính toán trên máy tính có thể cho lão câu trả lời chính xác. Khi Benevento nhìn lão với vẻ ngạc nhiên, Johnson cúi gằm xuống bảng tính và tiếp tục công việc. Lão nói: “Không ai có thể làm việc này giỏi hơn tôi.”

Benevento hiểu những gì Johnson phải trải qua, anh cũng có ba đứa con trai. Lần đầu tiên, Johnson đắm chìm vào những tiềm năng, cơ hội và thách thức của LBO. Trong nhiều giờ, lão và Benevento vật lộn với các con số, mổ xẻ các vấn đề về dòng tiền mặt, thị phần, lợi nhuận và dự báo bán hàng cho tất cả các công ty trực thuộc RJR Nabisco. Thỉnh thoảng, Johnson đứng dậy, gọi đến Atlanta hoặc Winston-Salem yêu cầu cung cấp thông tin cập nhật.

Johnson muốn định giá từng doanh nghiệp, xác định những gì có thể bán. Số liệu đó cộng với số liệu về dòng tiền mặt từ thuốc lá trong tương lai sẽ rất hữu ích để lão xác định mức giá có thể đề nghị, nếu có, khi thực hiện LBO. Cho đến đêm thứ Hai, lão có cảm giác không những mình có thể huy động đủ tiền để cố gắng mua lại công ty, mà lão đã sẵn sàng nhìn nhận nó một cách nghiêm túc. Buổi tối đó, khi bước vào căn hộ của mình, Johnson cảm ơn Chúa vì đã cho lão những thứ để bận tâm, giúp lão tạm quên nỗi dày vò về tình trạng của con trai.

Sáng hôm sau, một đội quân của Shearson do Peter Cohen và Tom Hill dẫn đầu đã đến Nine West. Hai giám đốc điều hành của Shearson trao cho Johnson một số tài liệu mà lão có thể cần nghiên cứu sơ qua nếu muốn thực hiện mua lại. Và Johnson yêu cầu họ nghiên cứu tất cả các khía cạnh của công ty khi thực hiện LBO. Johnson nhận thức rất rõ dự án mà họ đang dự tính có thể dẫn đến một vụ LBO lớn gấp ba lần so với bất kỳ dự án nào từng thực hiện trước đây.

“Peter, anh có nghĩ những điều này khả thi không?” Johnson hỏi Cohen. “Ở đây chỉ thấy nói đến một đống tiền mặt. Chỉ cần tiền mặt thôi sao?” “Vâng,” Cohen nói một cách chắc chắn. “Chúng tôi có thể làm điều này.”

Ngày hôm sau, Johnson trở lại phòng bệnh của con trai. Trước đó, lão đã hủy một cuộc họp của ủy ban điều hành dự kiến vào thứ Năm với lý do về tai nạn của Bruce. Ngoài ra, lão nói với Hugel rằng thực sự không có vấn đề gì cấp bách cần phải bàn.

-

Jeff Beck thấy bối rối. Ông ta không thể tiếp cận Johnson.[3] Mỗi lần ông cố gắng gọi đến, Jim Welch lại trả lời. Hai người này đang ganh đua nhau vì một chuyện nực cười. Welch, một cựu binh ở Nabisco, vốn là người lịch thiệp, đã lịch sự phản đối khi Beck cứ gọi ông ta là Jimmy. Welch nói rằng ông đã quá già, và đừng gọi ông như thế. Tất nhiên, Beck bỏ qua lời nói đó. Vì vậy, Welch gọi Beck là Jeffy. Lần trước, khi Welch trả lời một trong những cuộc gọi của mình, Beck đã thăm dò một cách tinh tế những dấu hiệu thay đổi trong tầm nhìn của Johnson.

“Ông biết đấy, Jimmy, chúng tôi có rất nhiều tiền, đủ cho ông nếu ông muốn thực hiện thỏa thuận này.” Beck không cần nhắc đến từ mua lại, ông đã đẩy vấn đề đi xa đến mức Welch hiểu ý ông muốn nói gì.

“Tôi biết điều đó, Jeffy.”

“Tôi biết mà, ông biết chuyện quái quỷ đang xảy ra. Và tôi thấy thật lạ khi ông phải trả lời tất cả các cuộc gọi cho Ross.”

“Chúng tôi không biết bất cứ điều gì,” Welch nói. “Chẳng có chuyện gì đang xảy ra đâu.”

Có điều gì đó đang diễn ra. Beck có thể cảm nhận được. Một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu ông rằng Johnson có thể đang cố gắng thực hiện LBO, rồi lại lập tức bác bỏ quan điểm đó. Chẳng phải Drexel đã cố gắng khuyến nghị phương pháp đó trong hai năm nay mà không thành công sao. Tuy nhiên, hẳn là có điều gì đó đang thay đổi. Có lẽ họ đang chuẩn bị một số việc kiểu như tái cấu trúc, Beck nghĩ.

Ngày 12 tháng Chín, Beck nói nghi ngờ của mình với một người mà ông đang tìm mọi cách để làm thân, cũng nhiệt tình như cách ông làm với Johnson: Henry Kravis. Beck đã giúp Kravis trong một số vụ, bao gồm cả vụ lớn nhất của anh ta, Beatrice. Khi ông đến văn phòng của Kohlberg Kravis, thật trớ trêu thay, nó ở tầng sáu, ngay dưới văn phòng của RJR ở New York. Beck vào ngay vấn đề.

“Tôi nghĩ đã đến lúc làm gì đó với RJR.” Beck nói.

“Tại sao?” Kravis băn khoăn.

“Vì một số lý do nào đó mà Johnson đã không nhận cuộc gọi của tôi. Ông ta giao cho Jim Welch trả lời điện thoại. Chúng ta phải gặp và đưa ra một đề nghị với ông ta.”

“Có lẽ ông nói đúng,” Kravis nói. “Hãy cho tôi những con số và chuẩn bị một số việc.”

Beck đồng ý. “Mặc dù vậy, có một vấn đề. Anh sẽ không thể cho Ross thứ ông ấy muốn.”

“Thứ gì?”

Beck đã nhiều lần trò chuyện với những người của Johnson, đủ để biết họ có những lo lắng về LBO. Johnson chỉ đơn giản là không muốn làm việc cho ai đó. “Có điều chắc chắn là,” ông nói với Kravis, “họ muốn kiểm soát hội đồng quản trị.”

“Đúng vậy, chúng ta sẽ cho ông ta điều đó,” Kravis nói. “Vấn đề chính là ở đó.”

Hai người nói chuyện một lúc lâu nhưng không thể đưa ra giải pháp. Rõ ràng là không thể làm gì đó nếu không nói chuyện trước với Johnson. “Phải cố gắng chuẩn bị một kế hoạch,” Kravis nói, “và chúng ta sẽ thảo luận về nó trong một buổi gặp.”

Sau đó, Beck gọi lại cho Welch thương thảo về một cuộc gặp giữa Johnson và Kravis. Welch không hứa chắc chắn, nhưng gợi ý họ có thể gặp nhau vào tuần cuối của tháng Mười hoặc tuần đầu tiên của tháng Mười một. Tất nhiên, Mad Dog không biết rằng, đến lúc đó đã quá trễ để bàn về đề nghị của ông.

[1] Shepard phủ nhận tạp chí đã bị ảnh hưởng bởi áp lực từ phía công ty, nói rằng bất kỳ thay đổi nào trong câu chuyện đều là kết quả của công việc biên tập hết sức bình thường. (TG)

[2] Stretch còn có nghĩa là bị treo cổ. (ND)

[3] Ông cũng không thể liên lạc với Andy Sage, người đã ngừng trả lời các cuộc gọi của Beck sau khi Johnson bắt đầu xem xét khả năng LBO. “Tôi không muốn nói với ông ta sự thật,” Sage nói, “và tôi cũng không muốn nói dối.” (TG)

HoHoàng Thị Ngọc dịch • Barbarians at the gate •
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.