Bọn Rợ Rình Trước Cổng

Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 16

❊ ❊ ❊

Một sự yên tĩnh kỳ lạ ngự trị trên Phố Wall khi các bên đấu thầu bắt đầu các quá trình phân tích hậu kỳ vào sáng thứ Hai. Thị trường tài chính im ắng. Các nhân viên ngân hàng ít di chuyển. Đằng sau những cánh cửa đóng kín, cỗ máy tiếp quản khổng lồ của Phố Wall chạy chậm dần rồi gần như dừng hoạt động.

Lý do rất đơn giản: Các ngân hàng đầu tư đã cam kết cho vay gần 15 tỷ đô-la hoặc hơn thế cho người chiến thắng cuối cùng trong cuộc đấu giá RJR Nabisco, vì vậy họ đã dừng tất cả giao dịch với những nhà tiếp quản khác cho đến khi giải quyết xong khoản vay này. Hầu hết các thỏa thuận đều bị hoãn lại vì mọi con mắt đang đổ dồn vào RJR Nabisco. Các nhà đầu tư kiếm lời nhờ chênh lệch giá không có lấy một chút thông tin, bức xúc trước tình trạng giao dịch bị đình trệ, chẳng thể làm gì ngoài chờ đợi và nghe ngóng. Tình trạng này khiến nhiều giao dịch viên liên tưởng tới miền Tây cũ, nơi người dần thị trấn phải dọn dẹp đường phố để những kẻ ngoài vòng pháp luật có thể khai chiến.

-

“Chuột Mickey” Jim Maher tuyên bố với một nụ cười, “vừa trở thành chuột Mighty!”

Phố Wall có thể đang hết sức yên ắng, nhưng sáng thứ Hai đó ở First Boston không có bóng dáng gì của sự tĩnh lặng đó. Đội của Maher không đơn giản chỉ là phấn khích; họ kích động thực sự. Họ đã thành công khi không có người nào - ngay cả bản thân họ — dám mong đợi một kết quả như vậy. Và nếu không giành được chiến thắng, nếu không bao giờ thực hiện một thỏa thuận khác, họ sẽ không bao giờ quên cảm giác hân hoan khi được tham gia vào thỏa thuận này.

Đến 8 giờ, các trợ lý hàng đầu của Maher đã tập trung trong văn phòng bao quanh bằng kính để chúc mừng nhau, và chuẩn bị cho một tuần sắp tới hứa hẹn sẽ rất cam go. “Các bạn của tôi,” Greg Malcolm, người đứng đầu bộ phận trái phiếu rác nói, “con chó đã bắt được xe buýt rồi[1].”

Tiếng cười vang khắp phòng. Maher yêu khoảnh khắc này biết bao. Đó chính là tinh thần đồng đội, điều đang rất cần thiết cho nơi này. Đặc biệt là để giải quyết dự án này. Anh không chắc họ có thể thành công. Nhưng chắc chắn họ sẽ thử, và cố gắng hết mình.

Khi tiếng cười lắng xuống, Maher bắt tay vào công việc, giao nhiệm vụ cho từng trưởng nhóm. Họ chỉ có tám ngày để hoàn thành hồ sơ đấu giá vụ tiếp quản lớn nhất và phức tạp nhất trong lịch sử Phố Wall. Maher biết đây sẽ là bài kiểm tra cuối cùng về khả năng tồn tại của bộ phận này để xem họ có thể giành lại vị trí hàng đầu khi không có Bruce Wasserstein không.

Kim Fennebresque, một cộng sự ăn nói lưu loát của Maher, sẽ đứng đầu nhóm phân tích Nabisco để ước tính First Boston có thể thu về bao nhiêu khi bán các công ty. Brian Finn một mình tác nghiệp, tư vấn cho tất cả các nhóm. Greg Malcolm đảm nhận công việc khó khăn nhất: dẫn dắt nhóm tài chính. Người của Malcolm không chỉ phải huy động hơn 15 tỷ đô-la để mua các công ty thuốc lá của RJR tại thời điểm mà hầu hết các ngân hàng đã ngập đầu trong những khoản vay LBO, mà anh còn buộc phải gánh trách nhiệm tìm ra một ngân hàng để thổi hồn vào kế hoạch ghi chú trả góp của Finn. Đó là một đề xuất đầy rủi ro ngay cả trong điều kiện thuận lợi nhất: Nó không giống chút nào với những gì họ từng cố gắng. Malcolm sẽ phải thuyết phục một ngân hàng cho First Boston vay số tiền lên tới 15 tỷ đô-la, tương ứng với các ghi chú trả góp mà họ sẽ phát hành. Mọi người trong phòng đều biết nhiệm vụ khó khăn nhất đang chờ họ ở phía trước.

Sau đó, Maher sải bước tới phòng họp ở tầng 44, ở đó anh sẽ ăn trưa với Jay Pritzker. Sáng hôm đó, Pritzker đã bay từ Chicago đến và có buổi gặp với Jerry Seslowe, người đã dẫn lối ông đến với thỏa thuận này. Seslowe chẳng ngạc nhiên khi thấy Pritzker vẫn còn khó chịu với màn trình diễn kém cỏi kiểu Keystone Kops của nhóm vào thứ Sáu. “Phải chăng họ chỉ làm việc này như một màn tập duyệt để rồi trở lại như cũ?” Pritzker hỏi.

Trong phòng họp, Seslowe kéo Fennebresque sang một bên và hỏi thẳng: “Các anh đã làm được đến đâu rồi để khẳng định bên anh có thể tham gia cuộc chơi này? Tôi không muốn bị xấu hổ vì Jay cũng vậy. Tôi đã hợp tác với các anh khi chưa có bằng chứng gì về thực lực của các anh. Hãy quên tất cả những lời nói hoa mỹ đi. Các anh có thực sự nghiêm túc thực hiện thỏa thuận này không?” Fennebresque đảm bảo với ông rằng họ rất nghiêm túc. Họ không tham gia vào thỏa thuận này để bị coi là những kẻ ngốc.

Trong khi ăn trưa, Maher thông báo tình hình mới nhất cho Pritzker về tiến triển công việc của họ, và thảo luận về các giá trị ẩn chứa bên trong RJR Nabisco. Mel Klein, trợ lý của Pritzker đến từ thành phố Corpus Christi, khiến Maher ngạc nhiên khi nói rằng anh ta đã liên lạc với người bạn cũ Henry Kravis. “Tôi không chắc chúng tôi sẽ làm gì,” Kravis nói với Klein vào tối Chủ nhật. “Chúng tôi vẫn cố gắng cân nhắc.”

Tất cả mọi người trên bàn ăn đều tự hỏi liệu Kravis có từ bỏ cuộc đấu thầu không; giá thầu 94 đô-la của anh thật nực cười. Họ đưa ra giả thiết rằng Kravis đã mệt mỏi khi phải chống chọi với những điều khủng khiếp ập đến cùng một lúc: bị vu khống, nội bộ đấu đá và công luận. Klein nói dù thế nào đi nữa, anh vẫn muốn gặp Kravis xem anh ta cảm thấy thế nào về khả năng hợp tác. Pritzker nói: “Nghe này Maher, chúng tôi sẽ không làm bất cứ điều gì nếu anh không muốn chúng tôi làm. Chúng tôi chỉ nghĩ rằng chúng ta nên nói chuyện với Kravis.”

Maher đồng ý. Anh thấy còn hơn là vui mừng - thực tế là rất vui - khi được chia sẻ 25 tỷ đô-la với Kravis. “Vâng, chúng tôi muốn tham gia liên minh này,” Maher nói với Pritzker. “Tôi không có vấn đề gì. Đừng lo lắng về quan điểm của chúng tôi.”

Pritzker lại có thâm ý khác. Ông muốn cái tên Pritzker tránh xa các tiêu đề của báo chí. Từ bây giờ trở đi, ông nói, ấn chặt bàn tay xuống bàn để nhấn mạnh, nhóm phải luôn được xác định là: “nhóm của First Boston”. Không ai biết liệu yêu cầu đó xuất phát từ lòng vị tha hay sự lo sợ bị sỉ nhục.

-

Hôm thứ Hai, tâm trạng của Johnson rất tệ. “Thật không công bằng với chúng tôi, Charlie,” lão phàn nàn với Hugel. “Mọi người điều thấy rõ điều đó.”

“Tôi thật sự cảm thấy rất tiếc, Ross.” Hugel nói. “Nhưng chúng tôi không thể làm gì được. Chúng tôi phải thực hiện theo cách này.”

“Tôi chỉ nghĩ điều đó không công bằng với chúng tôi.”

“Các luật sư đã khuyên chúng tôi nên làm vậy,” Hugel nói. “Chúng tôi không thể từ chối một đề nghị khả thi trị giá 110 đô-la/cổ phiếu.”

Hugel có nói gì cũng không làm dịu được cơn giận đang sôi sục của Johnson. Càng ngẫm nghĩ, lão càng cảm thấy tồi tệ. Lão đã bị lừa bởi chính hội đồng quản trị của mình, bởi những người mà lão vẫn coi là bạn. Steve Goldstone đã nói đúng. Họ không còn là bạn của lão nữa. Lão từng không muốn tin vào điều đó, và giờ lão vẫn không muốn tin. Nhưng sâu thẳm trong lòng Johnson biết đó là sự thật. Lão đã mất đi sự hỗ trợ từ chính hội đồng quản trị của mình.

Với Macomber thì lão có thể hiểu. Ông ta từ lâu đã có ý chỉ trích lão. Nhưng còn Marty Davis thì sao? Từ những gì Johnson nghe được, Davis đã quay ngoắt lại chống đối lão. Bill Anderson nữa? Albert Butler nữa? Johnson gọi họ là ủy ban “độc lập giả danh”. Tất cả bọn họ đã trở thành tù nhân của những kẻ giật dây trên Phố Wall, đặc biệt là Atkins, tay luật sư lầm lì mà Johnson đặt cho cái tên “cậu bé cười”. Trong tất cả bọn họ, hành xử của Irina Harris làm lão tổn thương nhiều nhất. Johnson nghe nói Harris đã nói xấu lão trên các sân golf toàn quốc. Lão quen biết Harris đã 10 năm. Thật là đau đớn.

Vào thứ Ba, trong thoáng chốc, Johnson đã sẵn sàng tha thứ cho họ lần này, và dọa sẽ bóp cổ toàn thể hội đồng quản trị nếu còn có lần sau. Trong khoảnh khắc đen tối đó, lão bảo Laurie bắt đầu dọn dẹp căn hộ thuộc quyền sở hữu của công ty. Họ cùng nhau sắp xếp đồ đạc, đánh dấu chúng để chuyển một số đến nhà lão ở Atlanta, một số đến Colorado, một số đến Florida.

Có rất ít việc cần làm để chuẩn bị cho vòng đấu thầu thứ hai. Johnson đã rất sửng sốt với con số 100 đô-la/cổ phiếu, và không hiểu họ sẽ còn phải nâng lên cao hơn bao nhiêu nữa. “Trong lần thứ hai, dù chúng ta có làm gì,” lão nói với Jim Robinson, “chắc chắn cũng không thể vượt quá những gì chúng ta đang có ở lần đầu tiên. Ông có thể muốn xào xáo nó lên một chút — thay đổi cơ cấu tiền mặt — nhưng dù thế nào, chúng ta cũng khó có được thứ hạng cao hơn lần trước.”

Chiều thứ Ba, tâm trạng của Johnson lại chao đảo. Lão triệu tập Goldstone đến Số 9 khu Tây cùng ý tưởng đối phó với hội đồng quản trị. “Hãy nói với họ nếu chúng ta không có được một thỏa thuận rõ ràng, chúng ta sẽ ra đi,” Johnson nói. “Chúng ta đã chịu đủ thứ áp lực, tại sao chúng ta không truyền áp lực đó cho bọn họ? Chúng ta đã không sử dụng sức mạnh mà mình có với tư cách của một bên đấu thầu. Họ đang đưa ra các quy tắc của họ. Tại sao chúng ta không đưa ra quy tắc của mình?”

Goldstone biết rằng đã quá muộn để tấn công một cách hung hăng. Cuộc đấu giá đã công khai, trò chơi đã đi quá xa. Anh trì hoãn không gọi cho Atkins, và tìm mọi cách để khuyên nhủ Johnson đừng làm bất cứ điều gì hấp tấp vào hôm sau. Chiều thứ Tư, Johnson khăn gói lên chiếc máy bay phản lực Gulfstream bay đến Florida trong dịp lễ Tạ ơn.

-

Khi tình hình lắng xuống, các điệp viên bắt đầu xuất hiện.

Sáng thứ Hai, Dick Beattie nói chuyện với Bob Millard, giao dịch viên của Shearson. Hai người bạn vẫn duy trì các cuộc đối thoại không chính thức trong suốt năm tuần qua. Millard là nguồn tình báo có giá trị của Beattie. Nhà giao dịch đã giúp Beattie - cũng chính là giúp Kravis — hiểu rõ các động thái của Peter Cohen.

Buổi sáng hôm đó, Beattie có vẻ lạc quan như thường thấy. “Xin chúc mừng,” luật sư nói, “bên các anh rõ ràng đã có giá thầu tốt nhất.”

Cuộc trò chuyện ngay lập tức chuyển sang gói thầu “kỳ lạ” của First Boston. Đề xuất của First Boston rõ ràng là một sự lừa dối,” Beattie nói. “Chúng tôi đã nghĩ về đề xuất đó, nó không khả thi. Thật là nhảm nhí.”

Millard băn khoăn hỏi rõ to động thái tiếp theo của Kravis có thể là gì. Beattie nói rằng ông không biết, và sau đó tình nguyện chia sẻ những hiểu biết về chiến lược thuế của First Boston.

“Chúng tôi nắm khá rõ về giao dịch kiểu đó,” Beattie nói. “Nếu có thể giúp gì cho các anh, chúng tôi luôn sẵn sàng.”

Millard bất ngờ với đề nghị và giọng điệu của Beattie. Nghe cứ như ông ta đã bị đánh bại. Kravis có vẻ hoàn toàn đã từ bỏ đấu thầu. Millard mạo hiểm đề nghị. “Tại sao ông không gọi cho Peter và chúc mừng cậu ấy,” ông nói. “Hãy gọi cho cậu ấy. Tôi biết cậu ấy rất thích nói chuyện với ông.”

Millard hình dung cuộc trò chuyện với Cohen có thể là vô giá.

-

Chiều hôm đó, Cohen ngồi trong chiếc limousine gọi lại cho Beattie, khi xe đang băng băng về phía sân bay quốc tế JFK. Anh sẽ đến Brussels vào hôm sau để tham dự cuộc họp hội đồng quản trị của một ngân hàng lớn tại Bỉ có tên Société Générale de Belgique của Carlo De Benedetti.

“Giá thầu đó thì thắng rồi, Peter,” Beattie nói. “Tôi phải chúc mừng anh, làm tốt lắm. Tuyệt vời!”

“Vâng. Cảm ơn. Ông nghĩ thế nào về First Boston?”

“Thật điên rồ. Nó không khả thi đâu. Chúng tôi đã tự mình phân tích rất kỹ đề xuất đó. Giờ chúng tôi đang xem xét thật kỹ nó trong một thỏa thuận khác. Họ không thể làm điều đó. Nhất là từ giờ cho đến cuối năm. Không thể được.”

“Chúng tôi cũng nghĩ như vậy,” Cohen nói. “Chúng ta thực sự đã bị lừa. Bên ông đang làm gì vậy?”

“Ồ. Tôi cũng không biết,” Beattie nói. “Ở đây, mọi người đều rất chán nản. Tôi không biết chúng tôi sẽ làm gì với vòng đấu thầu thứ hai này. Có thể chúng tôi sẽ không làm gì cả. Bên tôi, mọi người đi nghỉ cả rồi, tôi nghĩ vậy. George sẽ trở lại San Francisco. Tôi nghĩ Henry sẽ đi trượt tuyết.”

“Vậy à,” Cohen nói. “Tôi sẽ đi xa một vài ngày, nhưng có lẽ sẽ không đi đến cuối tuần sau. Tôi nghĩ Karen và tôi sẽ đến East Hampton. Tôi muốn tránh xa nơi này. Tôi thực sự rất mệt mỏi.”

Sau khi cúp máy, Beattie nhìn điện thoại suốt 1 phút. Ông không nói dối. Ông không cố tình lừa dối Cohen. Đó là sự thật: Kravis không biết mình sẽ làm gì. Mặt khác, ông cảm thấy Cohen cũng không nghi ngờ về điếu ông vừa nói. Nếu Cohen cũng có ấn tượng rằng Kravis sẽ không tham gia đấu thầu vòng hai, vậy thì, cứ để anh ta tin vậy đi.

Dick Beattie không thể biết đó sẽ là cuộc trò chuyện xã giao cuối cùng giữa ông và Peter Cohen trong một thời gian rất dài sau này.

-

Đối với công chúng, cuộc chiến đấu thầu để giành lấy RJR Nabisco dường như rất điên cuồng, sự xuất hiện của nhóm đấu thầu thứ ba đã biến nó thành một cuộc đua mở rộng. Nhưng trong các hành lang và văn phòng vắng lặng của Lazard Freres và Dillon Read, sự cuồng nhiệt như vậy không tồn tại. Đối với các cố vấn của hội đồng quản trị, đề xuất của First Boston chẳng thể là một tin tốt. Hầu như chẳng ai trong số họ tin rằng nhóm của Maher sẽ quay lại sau tám ngày với một đề xuất cụ thể.

Đáng lo ngại hơn nhiều là màn trình diễn đáng thất vọng của Kravis. Giá thầu 94 đô-la/cổ phiếu của anh ta khiến mọi người phải suy ngẫm. Tại sao anh ta lại hành động lạ lùng như vậy? Có phải Kravis đang cố tình để thua không? Tối Chủ nhật vừa rồi, họ còn ra thông cáo báo chí với những lời lẽ ám chỉ rằng có thể họ sẽ không tham gia vòng đấu thầu thứ hai sắp tới, điều này có vẻ rất đáng ngại.

Ngay từ đầu, nhiệm vụ của ủy ban là phải duy trì hai nhà thầu khả thi. Khi đã có hai, họ lại muốn có ba, và cứ thế. Tóm lại, họ đã cố gắng tạo ra giá trị cao nhất có thể cho các cổ đông. Nếu cả First Boston và Kravis không thể xuất hiện trong vòng đấu thầu thứ hai, ủy ban sẽ chỉ còn một lựa chọn: Ross Johnson.

Điều đó khiến Felix Rohatyn, người đứng đầu nhóm nhân viên ngân hàng của ủy ban cảm thấy không yên tâm. Khi làm việc với Dillon và Skadden trong những ngày trước lễ Tạ ơn, Rohatyn đã trình bày hai hướng hành động. Đầu tiên, họ phải cứu Kravis. Cho dù phải trả giá, họ vẫn cần anh ta trở lại cuộc đấu thầu vào thứ Ba tuần sau. Điều đó có nghĩa là họ sẽ phải cung cấp cho anh ta các dữ liệu cần thiết, và đổi lại anh ta phải bảo đảm giá thầu có sức thuyết phục cho RJR Nabisco. Thứ hai, ủy ban phải nỗ lực để hoàn thiện kế hoạch tái cấu trúc phòng trường hợp xấu nhất có thể sử dụng nó làm căn cứ để vay nợ nếu chỉ có một mình Johnson tham gia đấu thầu. Kế hoạch sẽ bao gồm cả việc thanh toán một khoản tiền lớn một lần cho các cổ đông từ nguồn tiền đi vay và việc bán tài sản của công ty.

Chiến dịch giải cứu Kravis bắt đầu vào thứ Hai. “Bên các anh cần chúng tôi giúp đỡ gì để trở lại cuộc đua?” Bob Lovejoy của Lazard hỏi Paul Raether trong một cuộc họp qua điện thoại vào chiều hôm đó.

Raether đang phụ trách một núi thông tin ngày càng chồng đống trên máy tính cho biết anh cần thêm thông tin - và phải là thông tin thực — trong trường hợp Kravis muốn quay lại đấu thầu một lần nữa. “Một là, chúng tôi muốn gặp người bên thuốc lá,” Raether nói. “Chúng tôi muốn Ed Horrigan cũng ở đó. Chúng tôi muốn nghe các kế hoạch chiến lược của ông ấy. Nếu thực sự không thể tiết kiệm tiền từ mảng thuốc lá, chúng tôi muốn nghe chính ông ấy thừa nhận.”

Raether đã thấy John Greeniaus có thể làm gì với Nabisco. Anh rất nghi ngờ rằng Horrigan và Johnson cũng có một kế hoạch, nhưng họ không tiết lộ, về các khoản tiết kiệm tương tự từ mảng kinh doanh thuốc lá, và anh cũng đã nói ra ý kiến của mình. “Nghe này,” Lovejoy nói, “nếu họ có một kế hoạch tổng thể, thì chúng tôi không được biết về nó. Nếu có, tức là họ đang nói dối chúng ta. Họ đã trang trọng thề là họ không có gì giấu diếm.”

Tối thứ Hai, Lovejoy dẫn đầu một nhóm đến văn phòng của Kohlberg Kravis để gặp Raether và Scott Stuart. Một nhóm của Lazard xem xét kỹ lưỡng từng thông tin nhận được từ RJR Nabisco, và sử dụng một số ít dữ liệu mới nhận được từ hồ sơ dự thầu của Johnson vào cuối tuần đó biên soạn ra một bộ dự báo sửa đổi khả dĩ hơn cho Kravis. Bây giờ, các nhân viên ngân hàng của Lazard đang dẫn dắt để chắc chắn Kravis nhận được thông điệp rằng: Có nhiều vấn đề bên trong công ty của Johnson so với vẻ bề ngoài họ đang nhìn thấy.

Josh Gotbaum, khoảng 30 tuổi, nhân viên ngân hàng của Lazard, đưa ra dấu hiệu hòa bình, gợi ý với Raether rằng có thể có thêm khoản tiết kiệm hằng năm trị giá 150 triệu đô-la từ việc kinh doanh thuốc lá. Đó là một tuyên bố rất có giá trị. Trải đều trong 10 năm, giá trị này tương đương với 8 hoặc 9 đô-la/cổ phiếu, đủ để Kravis tăng giá thầu lên hơn 100 đô-la/cổ phiếu. Từ cảm nhận của mình, Lovejoy có thể nhận ra họ đã hiểu thông điệp của ông.

Thực tế, Raether chưa hoàn toàn bị thuyết phục. Anh biết các nhân viên ngân hàng của Lazard rất mong giữ chân Kravis để bên anh tiếp tục tham gia đấu giá, vì vậy anh cho rằng sự tư vấn của họ có thể không đáng tin. Mặt khác, phải thừa nhận rằng thông điệp của họ khiến anh cảm thấy tốt hơn. Đến nước này, một nhân viên ngân hàng Lazard tên Stephen Golub đã gọi Raether ra nói chuyện riêng. Raether đã biết Golub trong nhiều năm và tin tưởng anh ta.

“Tôi chưa bao giờ thấy một công ty nào như thế này,” Golub nói. “Tôi chưa bao giờ thấy một công ty nào lãng phí nhiều tiền như vậy. Tôi đã từng ở GM” - nổi tiếng là chi tiêu vô độ - “nhưng chi tiêu ở đây khiến người bên GM trông như những kẻ ăn xin vậy. Ở đây, tiền nằm đầy trên sàn nhà, cứ việc đến mà lấy. Cho dù anh làm gì, cũng đừng quá bảo thủ. Đừng quá thận trọng.”

-

“Các quý ông, không cần đứng dậy đâu,” Horrigan vừa nói vừa sải bước đi vào phòng họp chật cứng người. “Mọi người đều đã biết lý do tại sao chúng ta ở đây.”

Horrigan mặc nguyên bộ đồ lính chiến trong cuộc thẩm vấn của ông với Kravis vào sáng thứ Ba. Hơn một tá nhân viên ngân hàng và luật sư từ Kohlberg Kravis cùng ủy ban đặc biệt đã ngồi kín quanh chiếc bàn bằng gỗ anh đào tại văn phòng ở New York của RJR Nabisco. Mọi người đều thấy rõ ràng là Horrigan đang vô cùng tức giận, và họ chỉ mất chưa đầy một phút để hiểu lý do tại sao.

“Sáng nay, tôi mới biết rằng các anh sẽ sa thải tôi,” Horrigan tuyên bố, ném một bài báo lên bàn. Sáng hôm đó, tờ News & Record của thành phố Greensboro (Bắc Carolina) đăng tin Horrigan và Johnson sẽ phải “ra đi” nếu Kravis thắng thầu. Nếu điều đó chưa đủ tệ, thì tin tức này trích từ một cuộc phỏng vấn với Paul Sticht, kẻ thù truyền kiếp của Horrigan.

“Chúng tôi không biết gì về điều đó,” Kravis bình tĩnh nói.

“Tôi biết Paul Sticht đã nói điều đó,” Horrigan nói. “Tôi đã nói chuyện với các phóng viên.”

“Tôi không biết gì về điều đó,” Kravis nhắc lại. “Thật tắc trách và hoàn toàn không chính xác.”

Horrigan bắt đầu xổ ra một tràng chống lại Paul Sticht: nào là ông ta đã hủy hoại công ty thuốc lá như thế nào, và đội của Horrigan đã một tay phục hồi nó ra sao. “Tôi mong các vị gặp nhiều may mắn, nếu các vị nghĩ rằng lão già xuẩn ngốc đó sẽ quay trở lại thị trấn trên lưng ngựa[2],” ông nói. “Ngựa nên biết rõ đường bởi người cưỡi ngựa đã bị mù rồi. Các vị tìm nhầm người rồi.”

“Được rồi,” Kravis nói. “Tuy nhiên, chúng ta đến đây là để bàn công việc.”

Horrigan nói một lúc về ngành thuốc lá và về Reynolds. Khi ông ta nói xong, nhóm của Kravis bắt đầu tấn công ông ta bằng một loạt các câu hỏi, nhưng rõ ràng Horrigan không sẵn sàng giúp đỡ.

“Ông có thể làm gì để cắt giảm chi phí?” Cliff Robbins hỏi.

“Không gì cả.”

“Ông và Ross vận hành mảng thuốc lá thế nào?” Paul Raether hỏi. “Ông có kế hoạch gì không? Có khoản tiết kiệm nào ở đây không?”

“Không,” Horrigan nói, “không có. Chúng tôi cho rằng hoạt động ở đây rất hiệu quả, bộ máy được tổ chức tốt và rất tinh gọn. Chúng tôi không lãng phí tiền bạc.”

“Được rồi,” Robinson nói, “thế còn những nhân viên này thì sao?” “Ồ, không, họ ở trụ sở công ty, chúng tôi không thể cắt giảm được.” Horrigan vẫn bất hợp tác. Kravis và những người khác thay phiên nhau đặt ra các câu hỏi tương tự cho ông ta theo bốn hoặc năm cách khác nhau, và mỗi lần như vậy Horrigan đều phủ nhận mọi sự cắt giảm có thể thực hiện.

“Hãy nói về những con số của bên ông,” Robbins tiếp tục đề cập đến những dự đoán sơ sài mà anh đã nhận được. “Ông có thể làm gì đó tốt hơn với những số liệu đó không?”

“Ồ, không.”

“Ông không thể làm gì hơn thế phải không?”

“Không. Chúng tôi đã làm mọi thứ tốt nhất có thể rồi.”

“Những dự báo này do chính ông thực hiện phải không?” Kravis hỏi.

“Đúng vậy,” Horrigan nói. “Chúng tôi không thể làm gì hơn. Thế đó. Chúng tôi không thể làm tốt hơn, cũng không thể làm tệ hơn.” Horrigan tuôn ra một bài phát biểu về tầm quan trọng của Premier, và các dự án khác mà ông ta đã thực hiện.

“Ông có đưa bất kỳ phân tích nào cho người của Shearson không?” Robbins hỏi. “Ông có đưa cho họ bất cứ thứ gì mà ông chưa cho chúng tôi biết không?”

“Không có gì,” Horrigan nói.

Khi Robbins hỏi liệu họ có thể tăng giá của thương hiệu Doral không, Horrigan liền ngắt lời: “Anh mà làm như vậy, chết tiệt, những người mua thuốc ở mức giá sàn sẽ không mua nó nữa đâu.” Rồi ông ta từ chối trả lời thêm bất kỳ câu hỏi nào của vị luật sư trẻ.

“Ông biết đấy,” đến lúc này, Kravis nói, “thật là hay. Ông không thể làm gì tốt hơn. Ông cũng không thể cắt giảm bất cứ khoản nào. Chà, nếu như vậy, tôi phải nói rằng với giá 94 đô-la/cổ phiếu, chúng tôi đã trả giá cao hơn so với giá trị thực. Nếu ông không thể cắt giảm bất cứ khoản nào ở đây…”

“Không,” Horrigan ngắt lời. “Tôi chắc chắn không thể.”

“Được thôi, thật tuyệt vời. Chúng tôi đã đấu giá lần đầu với mức giá quá cao. Tôi không nghĩ mình có thể trả giá cao hơn.”

-

Chán ghét màn trình diễn của Horrigan, Kravis quay trở lại tầng dưới để ăn trưa. Anh dự định dùng bữa với nhóm của Jay Pritzker, Mel Klein và Jerry Seslowe. Kravis không mong đợi gì nhiều từ bữa trưa này. Đã nhiều ngày Klein cứ làm phiền anh, nói cần gặp nhau, thật tuyệt vời khi hai nhóm của họ kết hợp. Kravis thì lại nghĩ họ làm gì có cơ hội hợp tác, mặc dù anh cá rằng một cuộc gặp để đánh giá những nỗ lực kỳ lạ của Maher nghiêm trọng đến mức nào cũng có thể hữu ích.

Bên đĩa mỳ ống, Mel Klein nói về các điều kiện hấp dẫn của RJR Nabisco và dòng tiền mặt của nó. Anh nói một lúc về chiến lược thuế của First Boston, và họ hy vọng nó sẽ khả thi thế nào. Klein đề xuất cách duy nhất để có thể tăng cường hiệu quả cho những nỗ lực là Pritzker hợp tác với Henry Kravis.

“Thế còn First Boston thì sao?” Kravis hỏi.

“Họ sẽ rất vui nếu điều đó thành hiện thực,” Klein nói.

“Tốt,” Kravis nói. “Anh muốn hợp tác thế nào?”

“Chúng ta sẽ là đối tác,” Klein nói. 50-50.”

Kravis lắc đầu. “Điều đó sẽ không bao giờ xảy ra. Ngay cả khi chúng tôi có lợi, mà trong trường hợp này tôi không nghĩ chúng tôi có lợi, thì bên anh cũng chỉ được ít hơn 20%. Các anh có thể đầu tư cùng chúng tôi. Nhưng chúng tôi sẽ điều hành mọi thứ và nắm toàn bộ quyền kiểm soát.”

“Không được,” Pritzker nói. “Chúng tôi không bao giờ làm như vậy. Làm vậy chúng tôi chẳng được lợi lộc gì cả.”

Rõ ràng là có rất ít cơ hội thỏa hiệp. Từ mong muốn hình thành liên minh của đối phương, Kravis biết chắc rằng Pritzker không mấy tự tin nhóm của ông sẽ có cơ hội giành chiến thắng. Sau bữa trưa, Kravis gọi cho Dick Beattie, anh cười khi kể chi tiết về cuộc họp. “Những kẻ đó,” Kravis nói, “sẽ chẳng làm nên trò trống gì.”

-

Chiều thứ Ba, nhóm của Kohlberg Kravis bắt đầu tản mạn đi nghỉ lễ. Roberts lên máy bay về San Francisco. Ted Ammon đến một khu nghỉ mát ở Cộng hòa Dominican, trong khi Scott Stuart chọn đến quốc đảo Barbados. Raether thì bay về Florida để đón lễ Tạ ơn cùng gia đình ở Lost Tree. Kravis đã có kế hoạch cùng Roehm và ba đứa con đến Vail vào lúc 2 giờ 30 phút chiều thứ Tư.

Khi chuẩn bị rời đi, Kravis nhận được một cuộc gọi từ Linda Robinson, cô gọi khi đang ngồi trong xe limousine đến Connecticut. Robinson nhấn mạnh rằng cô không gọi để nói về công việc. Họ vừa cùng nhau mua một con ngựa, và bây giờ họ cần bàn bạc để mua con thứ hai hiện đã có sẵn.

“Chúng ta phải quyết định ngay trong tuần này,” cô nói. “Những người khác cũng đang xếp hàng để mua con ngựa đó.” Rồi cô rên rỉ: “Trời ạ, tất cả thật đáng sợ phải không? Mọi việc cứ tiếp diễn mãi như thế.”

“Cô muốn nói về RJR sao?”

“Đúng vậy.”

“Tôi chẳng thấy đáng sợ chút nào.”

“Sao không? Chúa ơi, thật kinh khủng mà!”

Kravis không tin Linda Robinson đang gọi để hỏi về việc mua ngựa. Cô muốn biết liệu anh có tham gia đấu giá nữa không. Lần đầu tiên, Kravis quyết định thổi phồng sự việc. Anh muốn Linda Robinson truyền đạt lại với chồng có thông tin anh đã từ bỏ cuộc đấu thầu.

“Thôi nào, tôi không thấy tệ chút nào, Linda. Chúng tôi thấy ổn rồi. Chúng tôi đang ở vị trí thứ ba. Vị trí đó cũng được rồi mà.” Kravis hy vọng những lời châm biếm về sự thật hiển nhiên sẽ có tác dụng như mong muốn.

“Tôi mệt quá,” anh nói tiếp, chuyển sang kiểu nói chuyện thân tình. “Tôi sẽ rời đi vào chiều nay. Tôi đang đưa các con và Carolyne đến Vail để nghỉ lễ Tạ ơn. Tôi không thể chịu được nữa. Tôi đã nói với tất cả người của tôi rằng họ không nên nghĩ về thỏa thuận này, thậm chí đừng nghĩ về nó nữa khi đi nghỉ. Tôi thực sự không biết chúng tôi sẽ làm gì vào tuần tới. Có lẽ, chúng tôi thậm chí sẽ không đấu thầu tiếp.”

Nhiều tháng sau, Linda Robinson khẳng định rằng cô không hề tin rằng Kravis đã từ bỏ. “Tôi nghĩ Henry đang cố phỉnh phờ tôi. Anh ta không lừa được tôi đâu.”

-

Chiều thứ Tư, Bill Liss, trợ lý của John Martin, nhận được một cuộc gọi phiền phức từ một trong những công ty truyền thông của RJR Nabisco. Họ là một trong những khách hàng quảng cáo lớn nhất của tạp chí Time, và người của bên công ty truyền thông nói rằng anh ta vừa nghe được tin từ một đầu mối ở Time: Tạp chí đã lên kế hoạch cho một bài báo có tựa đề “Greed on Wall Street” (tạm dịch: Lòng tham trên Phố Wall), nhân vật chính trên trang bìa, không ai khác chính là F. Ross Johnson. Đó là cuộc gọi theo phép lịch sự từ công ty quảng cáo để thông báo cho khách hàng lớn về một bài viết tiêu cực. Nếu khách hàng muốn, họ có thể rút lại quảng cáo của mình trên tờ báo đó.

Liss gọi cho John Martin, anh này chuyển tiếp tin tức cho Linda Robinson. Cả ba người đều lo lắng: Thật chẳng ra sao khi có một bài viết đả kích mạnh như vậy trên trang bìa tờ Time, khi thời hạn nộp hồ sơ dự thầu chỉ còn chưa đầy một tuần nữa. Phải dừng bài báo đó lại. Robinson và Martin nhất trí rằng lợi thế duy nhất của họ là Johnson. Mọi tổ chức truyền thông lớn đều muốn có một cuộc phỏng vấn với lão, và cho đến nay, tất cả bọn họ đều bị từ chối. Hai người hướng dẫn Liss sử dụng triển vọng về một cuộc phỏng vấn độc quyền với Johnson như con bài để mặc cả với tờ Time. Có lẽ, và cũng chỉ có cách đó, họ mới có thể giúp Johnson không phải xuất hiện trên trang bìa.

Liss đang ở vào thế khó. Kể từ khi thành lập ủy ban đặc biệt, ông đã trở thành phát ngôn viên chính thức của ủy ban với truyền thông trên toàn thế giới. Nhưng Liss cũng là một người trung thành với Johnson nên khi Martin ra lệnh, ông đã nhiệt tình ủng hộ Johnson và mặc cả với tờ Time.

Theo chỉ đạo của Robinson và Martin, Liss gọi cho Joe Kane, người đứng đầu văn phòng ở Atlanta của Time, nói rằng vào tối thứ Tư, tạp chí sẽ có một cuộc phỏng vấn độc quyền với Johnson nếu họ hứa không đăng bài báo đó lên trang bìa. Kane bác bỏ đề nghị, nói rằng anh không có quyền quyết định. Tuyệt vọng, Liss đề nghị Johnson sẽ sẵn sàng phỏng vấn nếu tờ báo chỉ để hình lão xuất hiện trong một bộ sưu tập ảnh. Họ hy vọng nếu làm như vậy, ít nhất Johnson cũng không quá nổi bật. Kane xin lỗi Liss, đề nghị ông gọi cho sếp của anh ta ở New York.

Ở Florida, Johnson không chắc chắn có muốn trả lời cuộc phỏng vấn đầu tiên này hay không. Để tìm lời khuyên, Johnson gọi cho người bạn thân là Jack Meyers, từng là chủ bút tờ Time, người từng đến Castle Pines tiệc tùng hồi tháng Tám. “Jack,” lão hỏi, “theo ông, cuộc phỏng vấn là về vấn đề gì, có nên tham gia không?”

Meyers tìm hiểu và biết rằng người viết bài báo là một phóng viên kỳ cựu của Time tên là Frederick Ungeheuer, ông đề nghị Johnson nên tham gia cuộc phỏng vấn. “Ross, về cơ bản, tôi không thấy bất kỳ vấn đề gì.” Meyers nói. Johnson cũng đã bị tấn công nhiều rồi. Còn có gì có thể tệ hơn sao? Johnson đồng ý. “Ông hiểu tôi mà. Tôi sẽ kể cho bọn họ nghe sự thật.”

Ungeheuer bay đến Jupiter cho cuộc phỏng vấn vào sáng thứ Sáu. Martin và Linda Robinson đã dặn dò Johnson từ trước: không được nói những câu bỡn cợt, không được nói về giá trị cổ đông, không trả lời những câu hỏi khó chịu về thỏa thuận quản lý. Đêm trước, Robinson đã chuyển tin tức về cuộc phỏng vấn cho Peter Cohen khiến anh lập tức phát hoảng. Cohen đã trở về từ Brussels, anh đã ngủ suốt quãng đường đến châu Âu, và đón lễ Tạ ơn trong vườn nhà mình. Giống như Steve Goldstone, anh cũng lo lắng về những câu nói không thể lường trước của Johnson. Nhưng Robinson cam đoan rằng Johnson đã được dặn dò kỹ lưỡng.

Sáng hôm sau, Johnson gặp Ungeheuer ở Jupiter Hilton, và phóng viên tờ Time nhận xét vị chủ tịch của RJR Nabisco vẫn bình thường và vui tính. Sau đó, Ungeheuer nhanh chóng viết bài, tạp chí đã có kế hoạch lên sạp báo vào thứ Hai. Sau đó, Linda Robinson gọi để hỏi Johnson về cuộc phỏng vấn.

“Chết tiệt, theo như tôi biết,” lão nói, “nhà báo vẫn là nhà báo. Họ sẽ viết những gì họ muốn.”

-

Sau kỳ nghỉ cùng gia đình, Maher đã trở lại công việc ở First Boston vào sáng thứ Sáu. Hầu hết các thành viên trong nhóm của anh vẫn ở đây suốt lễ Tạ ơn, tiệc tùng với những bữa tối vội vàng cùng món gà tây đựng trong hộp xốp đặt mua từ một cửa hàng bán đồ ăn gần đó. Vào sáng Chủ nhật, nơi này trông như ngôi nhà của các huynh đệ.

Những hộp đựng bánh pizza và thức ăn Trung Quốc gần như trống trơn vung vãi khắp nơi. Một tá bút chì lòi ra không theo hàng lối, không nghi ngờ gì nữa, đó là sản phẩm của những phiên động não suốt đêm.

Nhóm tìm hiểu về Nabisco đang có nhiều tiến triển nhờ sự xuất hiện ba ngày trước của John Greeniaus. Sau khi hướng dẫn Kravis hiểu rõ về công ty, giờ đây Greeniaus cũng làm tương tự với First Boston. Kim Fennebresque cứ kè kè bên vị giám đốc của Nabisco. Fennebresque đánh giá cao Greeniaus, đề nghị thuê anh điều hành công ty nếu họ giành chiến thắng. Greeniaus từ chối; họ có thể bàn về vấn đề đó sau này.

Tylee Wilson cũng tham gia nhóm hỗn tạp của First Boston. Ông ta và Smith Bagley gặp Fennebresque vào sáng thứ Ba. Bagley đang cân nhắc lời đề nghị trở thành nhà đầu tư cho nhóm (First Boston nghĩ rằng tên tuổi của ông có thể có giá trị đối với họ), trong khi Wilson đang cân nhắc lời đề nghị làm CEO sau này. Bagley từ chối; Wilson nhận lời và gia nhập nhóm.

Ông ta lao vào đống tài liệu của RJR được chuyển đến First Boston, giải thích các con số, cảnh báo về những cạm bẫy, tìm ra lợi thế. Wilson rất vui mừng vì cuối cùng cũng được tham gia trận chiến, dù ông ta rất nghi ngờ cơ hội của First Boston. Fennebresque vui mừng khi được Tylee Wilson tín nhiệm, dù anh cũng rất nghi ngờ về người đàn ông này. Sau này, Fennebresque nói: “Về cơ bản, Wilson muốn quay trở lại Winston-Salem trong ánh hào quang rực rỡ. Những gì ông ấy muốn từ chúng tôi là phương thuốc cho một CEO đã nghỉ hưu.”

Tylee Wilson có những hạn chế nhất định. Khi nói đến việc vận động hành lang các giám đốc, ông ta chỉ có thể nhờ sự trợ giúp của hai người bạn còn lại trong hội đồng quản trị, John Medlin và John Clendenin. “Các ông có thể nói với Hugel rằng những người này thật tuyệt vời không?” Wilson nói. “Họ có một ý tưởng hấp dẫn. Tôi nghĩ còn lâu những ý tưởng đó mới thành hiện thực, nhưng nó tốt hơn nhiều so với những gì các ông đang có.” Khi First Boston được phỏng vấn một số giám đốc điều hành thuốc lá, họ nói Wilson đi cùng. “Không. Không được,” ông ta nói. “Nếu tôi bước qua cánh cửa đó, họ sẽ từ chối trả lời các câu hỏi. Các anh có nghĩ rằng họ có thể quay lưng với Horrigan, và sẽ nói với Tylee Wilson bất cứ điều gì không?”

Mặc dù đã thu được một số tiến bộ, Maher vẫn vô cùng lo lắng. Mọi sự chuẩn bị của họ đều không quan trọng, nếu nhóm ngân hàng của Greg Malcolm không thể tìm được nguồn vốn cho đề xuất tiền tệ hóa của Finn, và rõ ràng Malcolm đang gặp vấn đề. Cho đến nay, mọi ngân hàng lớn đều từ chối cấp vốn cho đứa con tinh thần của Finn. Với ba nhóm đấu thầu lớn, các ngân hàng đã phải gánh quá nhiều khoản vay, và giờ lại đang trong lễ Tạ ơn. Citibank còn trơ tráo yêu cầu khoản phí 5 triệu đô-la chỉ để xem xét kế hoạch của họ. Mọi việc có vẻ không tốt chút nào.

Maher lui về văn phòng để suy nghĩ. Số tiền đó quá lớn, họ khó có thể vay được. Anh biết một số thỏa thuận đã mở ra những bước ngoặt cho sự nghiệp của các công ty trên Phố Wall. Rồi anh nghĩ lại về những cuộc tiếp quản đã dẫn đến sự thăng tiến vượt bậc trong sự nghiệp của Wasserstein và Perella, như vụ Carborundum và Pullman, Conoco. Việc hoàn thành những thỏa thuận đó đã góp phần tạo nên tên tuổi của First Boston ngày nay, hoặc ít nhất là trước khi bọn họ rời đi. Với RJR Nabisco, anh đã hy vọng nó sẽ mang lại niềm vinh quang như họ từng có trong quá khứ, nhưng bây giờ những hy vọng đó đang nhanh chóng cạn dần.

Có lẽ chúng ta nên rút lui thôi, Maher nghĩ. Để tránh thiệt hại.

Khả năng phải từ bỏ khiến anh nhăn mặt; “nhục nhã” là từ chưa đủ mạnh để mô tả cảm giác của anh lúc này. Maher âm thầm chiến đấu với lũ quỷ ẩn náu trong con người anh cả ngày. Sau đó, đến chiều thứ Sáu, một tia hy vọng chợt lóe lên.

Greg Malcolm gọi điện, giọng có vẻ phấn khích. Ngân hàng Chase Manhattan đã đồng ý xem xét đề xuất tiền tệ hóa, Malcolm nói, “và từ giọng điệu của gã này, chúng ta có thể thực sự có một cơ hội”.

Maher lại hy vọng.

-

Chiều thứ Sáu, Johnson cố gắng sắp xếp để được chơi đủ một trận golf, sau đó lão nói với Laurie rằng họ sẽ mời John Greeniaus và vợ anh ta đi ăn tối. Gia đình Greeniaus nghỉ lễ Tạ ơn tại khu nghỉ dưỡng The Breakers ở Palm Beach. Johnson cảm nhận được sự lo lắng về tương lai của Nabisco từ người được lão bảo hộ, và muốn đảm bảo anh ta sẽ được chăm sóc chu đáo. “Đây là thời kỳ khó khăn với cậu ấy,” Johnson nói với Laurie.

Greeniaus, người vẫn tiếp tục nói chuyện hằng ngày với Fennebresque ngay cả khi đang ở Florida, đến căn hộ của Johnson lúc 7 giờ 30 phút. Anh sợ chết khiếp. Đã hai tuần nay, hai người không nói chuyện với nhau, và Greeniaus sợ Johnson sẽ hỏi hiện anh đang làm gì.

Khi vào trong căn hộ, nơi có thể nhìn ra Đại Tây Dương ở phía trước, và màu xanh tươi tốt trên hệ thống thủy lộ duyên hải nội thủy ở phía sau, Greeniaus thấy Johnson vẫn như vậy, sôi nổi như thường lệ. Johnson nói, lão vừa được tờ Time phỏng vấn, và có vẻ như lão sẽ xuất hiện trên trang bìa. Trang bìa đấy! Lão rất háo hức. Không phải ai cũng được lên trang bìa đâu, anh biết mà. “Tôi không tệ như Khomeini,” Johnson nói đùa, “nhưng ông ấy cũng được xuất hiện trên trang bìa.”

Như thường lệ, Johnson độc diễn trong suốt cuộc trò chuyện. Sau đó, lão bảo Greeniaus ngồi xuống, và nói với anh về những cơ hội tuyệt vời mà anh sẽ có khi Nabisco bị bán đi.

“Nghe này, ngay cả khi chúng ta có bán rẻ đi một chút, tôi muốn chắc chắn rằng Nabisco sẽ về tay một công ty thích hợp,” Johnson nói. “Như vậy, anh và người bên anh sẽ có cơ hội trở thành những người đứng đầu.”

Tại sao Johnson và những kẻ mafia ở Standard Brands lại làm điều này những hai lần. Cơ hội đó là gì?

Greeniaus cứ liên tục gật đầu.

“Tôi tin chắc mình có thể làm điều gì đó rất có lợi cho anh,” Johnson nói. “Về người của anh, John, có nhiều điều tốt đẹp đang chờ họ ở phía trước như trở thành một phần của Kraft, Philip Morris, Nestles, Unilever, bất kể là ai trong số đó. Bởi họ chắc chắn không có những kỹ năng mà các anh có ở Nabisco.”

Chỉ có điều Nabisco, Reynolds và Del Monte không thuộc về nhau, Johnson nói. “Chúng không có điểm gì chung. Không có sức mạnh tổng hợp. Không có dòng chảy ý tưởng hay nhân sự có thể trao đổi qua lại. Đó là lý do ta phải chia cắt nó. Anh hiểu không, Johnny, có đúng thế không, Johnny?”

Greeniaus lại gật đầu, điều đó với Johnson nghĩa là đồng ý.

Khi đêm chầm chầm trôi, Johnson nói với Greeniaus như thể anh là thành viên của nhóm quản lý, tâm sự với anh những lo ngại ẩn sâu trong lòng về cuộc đấu thầu sắp tới. 100 đô-la/cổ phiếu là một giá thầu khủng khiếp, Johnson nói: “Không biết liệu chúng ta có thể tăng giá lên nữa không.”

“Tôi thực sự có những nghi ngờ riêng, Johnny,” lão nói. “Tôi không biết chúng ta có thể đẩy giá lên cao như thế. Vì như, chúng ta vậy sẽ cần một số lượng rất lớn tiền mặt. Vấn đề lớn nhất của tôi là cố gắng duy trì cho các nhà đầu tư của mình con số 100. Một số kẻ giao dịch ngắn hạn như John Gutfreund, anh biết đấy, theo quan điểm của ông ta và những gã khác, chỉ muốn trả 94 đô-la thôi. “Điều quái quỷ gì khiến tôi đưa ra mức giá 100 cơ chứ, tại sao chúng ta không đề xuất mức giá 97 hay 98 đô-la/cổ phiếu?”

Dù vậy, Johnson nói rõ rằng lão sẽ không xem xét bất kỳ giá thầu nào lớn hơn nhiều so với mức 100 đô-la/cổ phiếu. Từ quan điểm tài chính, những mức giá đó thật vô lý. “Chúng ta đã đưa ra mức giá quá lớn trong lần đấu thầu thứ nhất. Tôi không thấy có bất cứ điều gì thay đổi trong 10 ngày qua cho phép chúng ta trả giá cao hơn nữa.”

Khi thời gian cứ thế trôi đi, đã quá nửa đêm, Greeniaus vô cùng yên tâm. Không chỉ một lần, trong hơn năm giờ trò chuyện, Johnson đã hỏi Greeniaus rằng thời gian qua anh làm gì.

Sau này, những từ duy nhất Greeniaus thốt ra mà Johnson có thể nhớ trong cả buổi tối hôm đó là: “Ross, tôi chỉ mong ông hiểu cho.”

-

Vào thứ Sáu, Paul Raether, người ngày càng háo hức với cuộc đấu thầu, đã gọi cho George Roberts lúc đó đang ở nhà, hy vọng có thể đánh giá sự nhiệt tình của Roberts với vòng đấu thứ hai.

“Chà, tôi cũng không biết,” Roberts nói. “Tôi đang cố gắng không nghĩ đến nó. Tôi phát ốm khi nói về nó.”

“Anh đã nói chuyện với Henry chưa?”

“Chưa, chúng tôi cố tình không nói chuyện với nhau.”

Raether biết Roberts có vấn đề. Anh chưa bao giờ chia sẻ sự nhiệt tình với những người khác trong công ty về RJR Nabisco. Anh có vẻ tự hào với vai trò thủ lĩnh trong bộ máy của Kravis. Nhưng trong trận chiến với RJR Nabisco, Roberts luôn giữ tốc độ của họ thấp đến mức họ phải đứng cuối bảng. Raether thậm chí còn lo lắng liệu Roberts có muốn khởi động vòng đấu cuối cùng hay không.

“Tôi đang nói với anh đấy, George, chúng ta có thể trả giá cao đến 105 đô-la mà vẫn có lợi nhuận tốt,” Raether nói. Nhưng Roberts vẫn giữ thái độ nước đôi. Raether không thể biết liệu thông điệp của mình có tác dụng gì không.

-

Kravis giang rộng cánh tay, và hít một hơi thật sâu không khí mát mẻ ở Colorado. Thật tốt khi có thể tránh xa khỏi sự khắc nghiệt của trận đấu vật với Ross Johnson. Đã hai ngày nay, Kravis cố gạt RJR Nabisco ra khỏi tâm trí. Anh không nói chuyện nhiều với Raether hay Roberts, và chẳng mấy bận tâm về điều đó.

Đây là lần thứ hai Kravise đón lễ Tạ ơn tại nhà mới ở Vail. Có vài nơi khác phù hợp hơn để ở ẩn. Hai năm trước, khi đang đi trượt tuyết trong kỳ nghỉ, Kravis đã gọi điện cho vợ ở New York và gợi ý họ nên tìm một căn nhà bằng gỗ ở đây. Cả hai đều rất thích trượt tuyết, nên điều đó rất hợp lý. Điều kiện duy nhất của Kravis là anh có thể trượt tuyết ra vào ngôi nhà mới đó. Họ cùng nhau lang thang đến xem rất nhiều ngôi nhà, nhưng không có cái nào hoàn hảo. Cuối cùng, họ đi đến sườn đồi bên phải, dù ngôi nhà trên đỉnh đồi có vẻ là một thảm họa, ít nhất là nhìn từ bên ngoài vào. Kravis và Carolyne chưa bao giờ thực sự đi vào trong đó mà chỉ đơn giản là mua nó, chia nó ra và cho nó một thiết kế mới phù hợp với vị trí đó.

Kết quả là một bản giao hưởng vùng Tyrolean, một sự kết hợp của đá, gỗ và thủy tinh, hoàn thành vào lễ Tạ ơn một năm trước đó. Họ đặt tên cho nó là Woodhaven. Kravis yêu ngôi nhà này. Bao quanh nó là những cây dương lá rung cao vút có tán lá như phát ra ánh sáng lấp lánh, và không khí ở đây có mùi thông. Bên trong ngôi nhà là phòng khách nổi bật với một chiếc lò sưởi lớn của Pháp thế kỷ XVII và các cửa sổ hình vòm dài tới hơn 7 mét trông ra các sườn dốc, một thư viện với những tấm ốp bằng gỗ cây Ha-oai trông khá phức tạp, được làm thủ công và đánh bóng bởi một nghệ nhân người Úc. Anh ta đã phải mất nhiều tháng mới hoàn thành tác phẩm đó.

Vài phút sau khi họ đến nơi, Kravis đã ngừng hẳn không nói về thỏa thuận nữa. Roehm băn khoăn hỏi: “Anh nghĩ sao, anh sẽ làm gì?”

“Anh không biết,” Kravis trả lời.

Roehm lại tìm kiếm manh mối trên khuôn mặt của chồng mình, nhưng không thể. Sau này, cô nói: “Anh ấy đã chơi bài poker rất giỏi, rất chắc tay, kể cả với tôi.”

Trong lễ Tạ ơn, họ tổ chức lễ kỷ niệm ba năm ngày cưới. Carolyne tặng Kravis một chú chó Labrador hai tuần tuổi. Thật ra, cô tặng anh một bức ảnh chụp mình cùng chú chó con trên tay. Kravis đã có một con chó thuộc giống này màu vàng tên là Kristi, Roehm đã tặng anh dịp Giáng sinh hai năm trước.

“Bố sẽ đặt tên cho con chó là gì?” Một trong những đứa trẻ nhà Kravis hỏi.

Kravis suy nghĩ một lúc. “Nếu chúng ta kết thúc cuộc đấu thầu RJR Nabisco, và nếu giành chiến thắng, tên của nó sẽ là Nabisco. Nếu không thắng, chúng ta sẽ phải tìm một cái tên khác.”

Bọn trẻ không thích cái tên Nabisco. “Tại sao chúng ta không gọi nó là Oreo?”

Kravis đang trên đường đến sườn núi vào sáng thứ Bảy khi trả lời cuộc gọi của Paul Raether.

“Anh đã nói chuyện với George chưa?” Raether băn khoăn hỏi.

“Chưa, anh gọi chưa?”

“Rồi, hôm qua.”

“Anh ta bảo sao?”

“Anh ta vẫn không chắc chắn có muốn làm tiếp không.”

“Thế còn anh?” Kravis hỏi.

“Này, anh biết tôi mà,” Raether nói. “Tôi luôn luôn lạc quan về vụ này hơn George.”

Họ tranh luận một lúc về việc Roberts không kiên định như thế nào, và nhất trí trước tiên hãy gặp nhau vào thứ Hai để lên kế hoạch cho chiến lược tiếp theo. “Anh biết đấy, George sẽ không muốn rời đi cho đến sáng thứ Hai,” Kravis nhắc nhở. Roberts ghét New York đến nỗi anh luôn muốn tận hưởng đến phút cuối cùng được ở California. “Nếu vậy chúng ta chính thức gặp nhau vào tối thứ Hai đi.” Raether nói.

Vào cuối tuần, lễ Tạ ơn càng lúc càng rộn ràng hơn. Trong tất cả các ngày cuối tuần, nhóm của Shearson và nhóm quản lý đều nghe thấy một thông điệp lặp đi lặp lại ở mọi ngóc ngách:

Kravis sẽ không ở đó.

Kravis sẽ không ở đó.

Kravis sẽ không trở lại.

Thông qua mọi kênh không chính thống, từ những nhân viên ngân hàng đầu tư và luật sư của nhóm Kravis, tin đồn lan rộng. Đang thư giãn ở Connecticut, Jim và Linda Robinson nghe thấy những tin đồn đó, và nhớ lại cuộc trò chuyện kỳ lạ của Linda với Kravis. Ở Hamptons, Peter Cohen cũng nghe thấy tin đó và anh nghĩ ngay đến cuộc nói chuyện của anh với Dick Beattie. Trong ngôi nhà ở bờ phía bắc của Long Island, Tom Hill đã nghe thấy và nghĩ về những cuộc thảo luận riêng của ông ta với Bruce Wasserstein. Tin đồn lan đến từng thành viên trong Chuỗi Xúc xích của Salomon rồi lan đến Lazard và Dillon Read ở mọi cấp bậc. Ở Florida, Johnson đã nghe tin từ Linda Robinson. Tất cả đều nghe thấy một điều tương tự. Kravis sẽ trả giá thấp hoặc là sẽ không đấu giá.

Câu hỏi là: Liệu họ có tin điều đó không?

-

Nhóm của Jim Maher hối hả làm việc suốt cuối tuần, hạn chót ngày thứ Ba đang dần đến. Trong số các nhà đầu tư nhỏ lẻ được mời tham gia đấu thầu, có một công ty đường của Anh tên là S&W Berisford. Jay Pritzker nắm giữ 11 % cổ phần của Berisford, công ty này cũng thuê Jerry Seslowe để tư vấn tài chính.

Seslowe đã có thỏa thuận sơ bộ với công ty đó cho khoản vay 100 triệu đô-la trong số 1,2 tỷ đô-la vốn cổ phần mà First Boston cần. Vào hôm thứ Bảy, các luật sư về thuế của nhóm đưa ra yêu cầu: Trong số 250 triệu đô-la vốn cổ phần cần thiết để mua Nabisco, ít nhất một nửa số tiền đó phải đến từ một bên thứ ba không bị ràng buộc với Pritzker hoặc First Boston. Seslowe đã nghĩ ngay đến Berisford.

Hai trong số các giám đốc điều hành cấp cao của công ty Anh này ở New York, nhưng không ai có thể tìm thấy họ. Seslowe gọi điện cho giám đốc tài chính của Berisford tại London, ông này nhắc cho viên kế toán nhớ ra tại sao anh không tìm thấy hai người họ. Họ là người Do Thái chính thống. Họ không làm việc trong ngày Sabbath[3], hoặc thậm chí không trả lời điện thoại. Seslowe phải chờ cả ngày. Ngay sau khi mặt trời lặn, anh nhận được một cuộc gọi từ Howard Zuckerman, người đứng đầu các hoạt động tại Mỹ của Berisford.

“Howard, chúng tôi cần một cam kết trong vòng hai ngày.”

“Nếu việc quan trọng đến vậy,” Zuckerman trả lời, “tối nay chúng ta gặp nhau đi.”

“Tốt quá,” Seslowe nói. “Hãy qua bên tôi.”

Fennebresque chào đón hai vị giám đốc của Berisford khi họ đến First Boston buổi tối hôm đó. Khi đưa họ vào phòng họp, anh nghĩ mình đã nghe thấy một cộng sự trẻ ở First Boston khẽ huýt sáo. Fennebresque quay lại nhìn Chủ tịch của Berisford, Ephraim Margulies, và ngay lập tức nhận ra giai điệu. Đó là giai điệu dạo đầu của chương trình truyền hình về Alfred Hitchcock những năm 1950. Margulies trông rất giống đạo diễn nổi tiếng người Anh Alfred Hitchcock.

Nhóm phụ trách các công ty thực phẩm của Fennebresque có bài phát biểu dài 40 phút. Sau đó, trợ lý của Maher rất hài lòng; anh nghĩ rằng rất có khả năng phải đến thứ Ba, người của Berisford mới có thể đưa ra quyết định. Hai mươi phút sau, Howard Zuckerman kéo Fennebresque sang một bên.

“Chúng tôi sẽ làm.”

Fennebresque không hiểu. “Ông sẽ làm gì?”

“Chúng tôi chấp nhận khoản vay trị giá 125 triệu đô-la.”

Fennebresque đầy hoài nghi khi Zuckerman nhặt một hộp bánh pizza bỏ đi, và viết vào mép hộp các thông tin để chuyển khoản qua hệ thống cùng số tiền đầu tư cho văn phòng của Berisford ở London. Anh chưa bao giờ thấy ai làm việc nhanh như vậy.

Brian Finn quay sang Hank Handelsman mỉm cười và hỏi: “Những người này có biết họ đang làm gì không?”

“Không,” Handelsman nói. “Họ không biết. Sao vậy?”

“Tôi nghĩ việc này rất quan trọng. Ý tôi là, họ sẽ cam kết khoản vay 125 triệu đô-la. Tại sao họ lại làm thế?”

Handelsman nhìn chằm chằm vào Finn như thể đó là câu hỏi ngớ ngẩn nhất mà anh từng nghe thấy.

“Jay đã yêu cầu họ làm vậy.”

-

Sáng thứ Hai, Felix Rohatyn triệu tập cuộc họp của các cố vấn hội đồng quản trị trong phòng họp 32C ở Lazard. Trong công ty, phòng 32C được mệnh danh là nữ hoàng của các phòng họp được dán gỗ sàn.

Có rất nhiều việc phải làm trong 36 giờ trước khi đến hạn chót đấu thầu. Mọi người đều đã nghe những tin đồn đáng lo ngại về Kravis. Nếu điều đó chưa đủ tệ, thì đã có những động thái đáng lo ngại bắt đầu xuất hiện từ phía First Boston. Họ không còn chắc chắn một trong hai nhóm sẽ tham gia đấu thầu vào ngày mai.

Bây giờ, hơn bao giờ hết, họ phải kiểm tra tính khả thi của kế hoạch tái cấu trúc. Luis Rinaldini đã làm việc suốt nhiều giờ để xây dựng kế hoạch, và tin chắc rằng nó sẽ hiệu quả. Những người khác, trong đó có cả Rohatyn, lại thấy nghi ngờ. Sau này, công ty sẽ ra sao? Và quan trọng nhất là ai sẽ điều hành nó? Làm thế nào để vận hành một công ty sau tái cấu trúc mà không có nhóm quản lý?

Johnson hẳn sẽ cười thầm nếu lão biết ứng cử viên duy nhất bước tới và đề nghị được đảm nhận vai trò lãnh đạo công ty lại là John Macomber. Macomber với tư cách là thành viên ủy ban đặc biệt hiện đang ngồi phán xét Johnson và, ít nhất trước đây, ông ta từng hai lần tham gia vào các nỗ lực đã thất bại từ trong trứng nước để giành quyền lãnh đạo RJR Nabisco. Khi vấn đề tái cấu trúc được đưa ra bàn thảo vài tuần trước đó, Macomber đã tiếp cận Hugel và tình nguyện điều hành công ty nếu Johnson bị thất sủng. Không phải ngẫu nhiên mà Macomber lại là người hăng hái nhất ủng hộ kế hoạch tái cấu trúc trong số các thành viên ủy ban đặc biệt.[4]

Các cố vấn quyết định phải mạo hiểm. Nếu chắc chắn kế hoạch tái cấu trúc có thể được định giá 100 đô-la/cổ phiếu, tại sao họ không thông báo cho các nhà thầu biết điều đó? Bằng cách đó, họ có thể đặt ra giá sàn, gợi ý rằng hội đồng quản trị sẵn sàng từ chối mọi giá thầu thấp hơn giá sàn đó. Dù ít dù nhiều, đó cũng là một sự bịp bợm. Và trong khi động thái này chủ yếu nhắm vào nhóm quản lý, thông điệp về sự công bằng cũng được truyền đến tất cả các bên. Đồng thời họ cũng đặt cược: Giá sàn 100 đô-la/cổ phiếu có thể đủ để khiến ít nhất một trong số các nhà thầu khác yên tâm trả giá.

-

Điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến công du cuối cùng của hội đồng quản trị là nhóm quản lý. Lúc 12 giờ 30 phút trưa thứ Hai, một nhóm bên Shearson-Salomon do Tom Hill dẫn đầu đã gặp nhóm cố vấn của hội đồng quản trị tại Dillon Read.

Trong mắt các nhân viên ngân hàng của hội đồng quản trị, Hill có vẻ tự phụ không thể tin. Ông ta rất thích các động thái trốn tránh của Kravis, còn về First Boston, ông ta cho đó là một trò đùa, “trò trẻ con”. Trong một cuộc trò chuyện bên lề với người bạn chơi golf Rinaldini, ông ta đặt hai nắm đấm cạnh nhau nhấn lên nhấn xuống, mô phỏng một ống thổi, ý nói hội đồng quản trị đã đưa thêm một bên đấu thầu vào để chiến đấu với Kravis và Johnson. “Hill vẫn kiêu ngạo như mọi khi,” một nhân viên ngân hàng của ủy ban nhớ lại. “Thậm chí còn tệ hơn.”

Dillon và Lazard chuyển đến một số thông điệp cho nhóm của Hill. Một là xác định rõ hơn số lượng chứng khoán. Không giống chứng khoán của Kravis, Shearson không có cơ chế “định lại lãi suất” nhằm đảm bảo chứng khoán được giao dịch ở một mức giá nào đó trong một khoảng thời gian nhất định. Giá trái phiếu rác của Shearson có thể tăng hay giảm tùy thích, khiến người mua cảm thấy thị trường rất mơ hồ. Các cố vấn hội đồng cũng đưa ra kế hoạch tái cấu trúc trị giá 100 đô-la/cổ phiếu. Họ nhấn mạnh bất cứ giá thầu nào thấp hơn đều sẽ bị từ chối là không phù hợp.

Thay vì cảm ơn họ, Hill phản đối mọi đề xuất. Chẳng có gì sai với chứng khoán của họ, ông nói. Còn kế hoạch tái cấu trúc ư? Một sự lừa đảo. Ngày hôm đó, Hill đã nghĩ rằng phe ông ta rất chắc chân và có nhiều lợi thế. Các nhân viên ngân hàng chẳng muốn lãng phí thời gian để tranh luận: Nếu Hill muốn bỏ qua các đề xuất, thì đó là việc của ông ta.

Chiều thứ Hai, Felix Rohatyn chuyển những thông điệp tương tự cho Jim Robinson và Henry Kravis, bọn họ đã trở lại New York vào đêm Chủ nhật. “Tôi không chắc chúng tôi sẽ làm gì,” Kravis nói với Rohatyn. “Tôi không biết mình sẽ đấu thầu tiếp hay không. Rồi còn dư luận xấu nhằm vào tôi nữa…”

Rohatyn khuyến khích Kravis đấu thầu tiếp. “Giành chiến thắng sẽ giúp cải thiện hình ảnh của anh trước mắt công chúng, Henry. Anh đã bị tổn thương như thế là đủ rồi. Tôi không thể tưởng tượng dư luận sẽ tệ thế nào nếu anh thắng so với việc anh bỏ cuộc.”

-

Chiều thứ Hai, chỉ còn 24 giờ nữa, nhóm của Kravis vẫn mỗi người một nơi. Sau khi trở về từ Florida, Raether liền lái xe đưa con gái đến New England để nhập học ở một trường tư thục mới. Sáng hôm đó, anh mua đồ tại một cửa hàng bán dụng cụ ở Manchester, Vermont; đến trưa, anh treo móc tường cho phòng ký túc xá của con gái mình. Roberts đang ở trên bầu trời miền Trung Tây; cả hai có hẹn vào cuối buổi chiều.

Đêm đó, Kravis tổ chức bữa tối cho Roberts, Raether và hàng tá người khác ở công ty. Họ nói về việc chiến thắng có ý nghĩa gì đối với công ty. Hầu hết mọi người đều tránh nói về các vấn đề tài chính, họ lo lắng trước những phản ứng từ Washington, cuộc sống sẽ thế nào khi trở thành tiêu điểm của truyền thông, và những khó khăn thực tế của việc nuốt chửng một công ty có quy mô cỡ RJR Nabisco. Công ty chỉ có 15 nhà kiến tạo thỏa thuận. Liệu họ có muốn mua một công ty đòi hỏi cần có sự chăm sóc của tám hoặc chín người?

Trước sự kinh ngạc của Raether, Roberts vẫn giữ vẻ chán chường.

“Đừng đấu thầu nữa,” đến nước này Robert nói.

“George, thôi nào,” Raether nói. “Chúng ta không thể làm thế được. Nếu chúng ta không muốn đấu thầu tiếp, ít nhất hãy khẳng định lại vị trí trước đây của chúng ta.”

Họ bàn bạc một lúc về những gì khiến họ khó chịu, nhưng vấn đề trong hồ sơ thầu của họ vẫn chưa được giải quyết. Ngày mai sẽ có câu trả lời.

-

Vào thứ Hai, những yếu kém được che đậy kỹ lưỡng bên phía First Boston bắt đầu hiện ra. Người đầu tiên vấp ngã là Jerry Seslowe. Các trợ lý của Pritzker đã tập hợp được những cam kết không chính thức từ các nhà đầu tư của mình với tổng trị giá hơn 600 triệu đô-la, lớn gấp rưỡi số tiền 400 triệu đô-la mà họ cần. Mặc dù vậy, hầu như mọi việc đều phụ thuộc vào cuộc họp với First Boston, và việc xem xét dữ liệu tài chính của RJR Nabisco. Seslowe đã sắp xếp để họ có buổi trình bày ở First Boston vào chiều thứ Hai, sau đó ông dự định sẽ tiến tới các cam kết cho vay chính thức.

Skadden Arps vốn không hài lòng với các vấn đề bán trước đã chấp nhận kế hoạch của Seslowe kèm một lời cảnh báo. Để tham dự cuộc họp, người của Seslowe sẽ phải ký một thỏa thuận bảo mật. Ngay khi Seslowe fax bản sao thỏa thuận cho mỗi nhà đầu tư, ông đã vấp phải những sự phản đối.

Trong số các điều khoản có việc hạn chế bán cổ phiếu RJR. Gần như tất cả những người ủng hộ Seslowe đều là dân chơi chứng khoán tích cực, và họ đã tích lũy được số lượng lớn cổ phiếu của RJR. Những người như Martin Gruss, nhà đầu tư ở New York, đã chỉ ra cho Seslowe thấy rằng việc ký kết thỏa thuận như vậy sẽ trói buộc họ, khiến họ dễ bị tổn thất lớn khi giá cổ phiếu bị thổi phồng lên rồi bằng cách nào đó lại rớt giá mạnh. Từng nhà đầu tư của Seslowe bắt đầu rút lui.

“Không… không…” Seslowe rên rỉ khi ông hiểu ra tác động của vấn đề. “Những điều này thật nhảm nhí! Thật ngược đời. Họ đã không đầu tư cho đến khi gặp First Boston. Đây là một thảm họa!”

Skadden Arps từ chối sửa đổi các thỏa thuận. Seslowe chỉ có thể hốt hoảng. Cả ngày thứ Hai và thứ Ba, ông chỉ đấu tranh cho các cam kết: Không phải tất cả các nhà đầu tư của ông đều nắm giữ cổ phiếu. Maher và Pritzker nhìn sự việc với con mắt dò xét, hy vọng Seslowe có thể kiếm được tiền trước 5 giờ chiều.

Ít ra thì tình hình bên ngân hàng cũng khả quan. Dù khó khăn, nhóm ngân hàng của First Boston đã gần như thành công. Điều đó thật không dễ dàng. Mọi ngân hàng lớn của Mỹ đã cam kết giúp đỡ Kravis hoặc nhóm Shearson. Không ai mặn mà giúp đề xuất có phần kém khả thi của First Boston. Các ngân hàng Nhật Bản cũng có vấn đề của riêng họ. “Chúng tôi rất muốn hợp tác với bên ông,” một nhân viên ngân hàng ở Tokyo nói với Dave Batten của First Boston, “nhưng chúng tôi đã làm việc với hai nhóm khác, và chúng tôi không còn nhân viên nói được tiếng Anh nữa.”

Bằng cách nào đó, Greg Malcolm đã có được cam kết trị giá nhiều tỷ đô-la từ Credit Suisse và một ngân hàng của Pháp cho mảng thuốc lá, hoàn thành một nửa kế hoạch của họ. Tất cả những gì còn lại là làm sao để Chase Manhattan hoàn thành công việc cho đề xuất tiền tệ hóa của họ.

Chiều thứ Hai, Malcolm nhận được một cuộc gọi từ David Maletta, người nắm liên lạc của First Boston với các ngân hàng trong dự án tiên tệ hóa. Malcolm nghĩ, nếu gặp may, Chase Manhattan sẽ ký hợp đồng.

“Chúng ta gặp rắc rối lớn rồi.”

“Rắc rối gì?”

“Chase sẽ không ký.”

Malcolm ngán ngẩm: “Anh đùa à?”

“Không, thật đấy.”

“Có chuyện gì vậy?”

Maletta giải thích rằng First Boston đã phải bò qua lớp lớp các thủ tục quan liêu, cuối cùng chỉ để nhận được sự chỉ trích gay gắt từ các nhân viên tín dụng cấp cao của Chase Manhattan. Malcolm sững sờ. Khi Jim Maher nghe được tin này, anh nhắm mắt lại. “Chúng ta gặp rắc rối lớn rồi.”

Tạp chí Time làm loạn các sạp báo vào thứ Hai, và thực tế còn tồi tệ hơn những gì Linda Robinson đã lo sợ. Rồi bài báo có tên “A Game of Greed” (tạm dịch: Một trò chơi của lòng tham) om xòm trên trang bìa với bức ảnh của Ross Johnson đang suy tư, tay chống cằm. Trong đó viết: “Người đàn ông này có thể bỏ túi 100 triệu đô-la từ vụ tiếp quản công ty lớn nhất trong lịch sử. Cơn sốt mua lại liệu có đi quá xa?”

Dù những thứ xuất hiện trên trang bìa có tệ thế nào, thì thiệt hại nặng nề nhất đối với Johnson, như thường lệ, là do lão tự gây ra. Vậy còn thỏa thuận quản lý lớn chưa từng có thì sao? “Công việc của tôi là đàm phán để có được thỏa thuận tốt nhất có thể cho người của mình.” Một giám đốc điều hành có xứng đáng nhận được phần thưởng đó không? “Tiền đâu có quan trọng.” Sẽ không có nhiều người mất việc làm chứ? “Chắc chắn rồi,” Johnson nói, “nhưng những nhân sự của chúng tôi, đặc biệt là nhân sự ở Atlanta, thuộc các ngành nghề rất năng động: kế toán, luật sư, thư ký. Tôi sẽ không đẩy họ vào thế đường cùng. Chúng tôi đã có sự sắp xếp thôi việc tuyệt vời cho họ.”

Điều đó không hoàn toàn đúng, ủy ban đặc biệt muốn mỗi bên đấu thầu đưa ra các điều khoản bảo đảm để bảo vệ nhân viên trong bản dự thảo thỏa thuận sáp nhập của họ, một đề xuất mà nhóm quản lý đã kiên quyết phản đối. Vấn đề này còn được quan tâm nhiều hơn do một nhân viên lâu năm đang vận động hành lang rất mạnh để bảo vệ các nhân viên.

Ward Miller, thư ký của ủy ban đặc biệt, là một luật sư lâu năm của Johnson, giờ đây cũng quay sang chỉ trích lão. Miller gia nhập Standard Brand, khi mới tốt nghiệp trường luật năm 1961. Bây giờ, ông ta đang bày tỏ lo ngại với tất cả đồng nghiệp cũ của mình về việc ai sẽ bị sa thải khi Nabisco tan rã. Trong thời gian tạm lắng giữa các vòng đấu thầu, ông ra đã có cơ hội để thực hiện một số động thái.

Miller khăng khăng yêu cầu mỗi giám đốc đảm bảo một số điểm: đảm bảo trả lương và các quyền lợi cho nhân viên của RJR Nabisco trong ba năm; cho các nhân viên còn lại có quyền thôi việc với gói thôi việc hậu hĩnh nếu họ bị người chủ mới buộc phải thuyên chuyển trong phạm vi quá 60km; đảm bảo người về hưu sẽ tiếp tục được hưởng quyền lợi về y tế.

Các luật sư của Kohlberg Kravis không thích ý tưởng của Miller, nhưng vẫn thương lượng về chúng. Các luật sư của nhóm quản lý thì không hề lay chuyển. Miller quay trở lại với các thành viên hội đồng quản trị, và thông báo với họ điều đó với vẻ giận dỗi. Nhân viên duy nhất mà Johnson có vẻ vẫn quan tâm đến là John Martin. Ông này đã bắt đầu vận động hành lang các giám đốc về một khoản trợ cấp béo bở cho một nhân viên mới gia nhập công ty vào tháng Một.

Chiều thứ Hai, Johnson nói với Hugel: “Tôi thậm chí chẳng muốn hỏi anh xem đây có phải là một cuộc đấu giá công bằng không. Nếu anh hỏi tôi liệu tôi có tin tưởng những người trong ủy ban đặc biệt không, thì câu trả lời của tôi là không.”

Hugel cam đoan với Johnson rằng quá trình này là công bằng. Nhưng khi ông bắt đầu khởi động quá trình tái cấu trúc, Johnson đã chặn họng ông. “Thôi nào, Charlie, những thứ chết tiệt đó thật khiến người ta mệt mỏi.”

Sáng thứ Ba, Hugel, rất ngạc nhiên khi nhận được cuộc gọi của Johnson khi đang ở khách sạn. Đồng hồ chỉ mới 6 giờ 10 phút. “Ông đang làm gì vậy?” Hugel hỏi. Đây là lần duy nhất Johnson thức dậy lúc 6 giờ, ông đoán có lẽ lão đã thức cả đêm.

“Chúng tôi đang cố gắng tìm hiểu chuyện gì sẽ xảy ra với cuộc đấu thầu này,” lão nói. Bên Shearson đang bị chia rẽ. Đa số mọi người đều nghĩ Kravis đã đầu hàng; một số ít người như Johnson sợ rằng anh ta có thể tham gia với giá thầu rất cao, và sẽ khiến mọi người kinh ngạc.

“Tôi không biết họ sẽ làm gì,” Johnson nói.

“Anh đang hỏi tôi cái quái gì vậy?” Hugel nói. “Tôi cũng không biết. Anh chỉ cần đẩy giá lên cao nhất có thể.”

-

Sáng thứ Ba, bên First Boston vẫn đang trong tình trạng lấp lửng. Đã nhiều giờ trôi qua, Seslowe luôn đảm bảo với Maher rằng anh ta sẽ lo liệu được phần của mình. Trong khi Seslowe bận giành giật, Mel Klein cập nhật tình hình bên phía Pritzker. Jay đang đàm phán một thỏa thuận tàu du lịch ở Miami; Tom bị thương ở tai trong một tai nạn khi lặn biển nên không thể đi máy bay và bị bỏ lại tại một khách sạn ở Los Angeles. Cả hai người đều lo lắng nếu Seslowe có biến, First Boston sẽ quay sang đòi hỏi họ thực hiện cam kết. 400 triệu đô-la không phải là một khoản tiền nhỏ, thậm chí là với Jay Pritzker.

“Hãy chuẩn bị sẵn sàng để đưa ra quyết định.” Sáng hôm đó, Klein nêu ý kiến “Chỉ còn hôm nay thôi.”

Sáng hôm đó, Maher và các trợ lý bận rộn thuyết phục những nhân vật cấp cao ở Chase Manhattan về đề xuất tiền tệ hóa. Công việc chẳng đi đến đâu. Harry Gray, đối tác của Klein, đã gọi cho chủ tịch ngân hàng, nhưng giám đốc điều hành của họ đang chuẩn bị sang Nga trong vòng chưa đầy một giờ nữa, và ông ta không có ý định dành thời gian để chỉ đạo các nhân viên tín dụng cấp cao.

Maher choáng váng. Không có sự hỗ trợ của ngân hàng, ý tưởng của Finn sẽ mãi chỉ là một ý tưởng. Maher quyết định không trông chờ vào họ nữa. Nếu ngân hàng không đồng ý tài trợ cho đề xuất tiền tệ hóa, First Boston phải nhờ ai đó chứng minh cho sự đúng đắn của ý tưởng. Maher cần bất cứ thứ gì để có thể thuyết phục hội đồng quản trị rằng dự án của hộ hoàn toàn khả thi.

Mel Klein cố thử liên hệ với ngân hàng Bankers Trust, nhưng chỉ nhận được thông báo rằng họ không có đủ nhân lực dự phòng. Sau đó, vào buổi trưa, Harry Gray đã thử liên lạc với Citibank một lần nữa và thành công ngoài sức tưởng tượng. Một nhóm sẽ đến First Boston lúc 2 giờ.

Vấn đề sắp được giải quyết.

-

Nhiệm vụ rất khó khăn của việc tổng hợp tài liệu và dữ liệu phân tán của First Boston thành một hồ sơ thầu duy nhất dày đến 9cm thuộc trách nhiệm của Gordon Rich, một nhân viên ngân hàng đầu tư 31 tuổi có dáng người thấp, mái tóc nâu thưa thớt và rất dễ bị kích động.

Đến chiều thứ Hai, Rich vẫn không biết First Boston sẽ đấu thầu về cái gì: sáp nhập, tái cấp vốn hoặc một cái gì đó hoàn toàn khác. “Nhìn này, tồi sắp hết thời gian rồi,” anh nói trong một cuộc họp ở văn phòng của Maher. “Tôi phải quay lại văn phòng của mình, và viết thỏa thuận này ngay bây giờ. Nếu các anh không cho tôi biết thỏa thuận này là về cái gì, tôi sẽ gửi những gì tôi viết chứ không phải những gì các anh đã thống nhất.” Nói xong Rich đi thẳng.

Đến 1 giờ sáng thứ Ba, khi Rich triệu tập một cuộc họp với các luật sư trong phòng họp ở tầng 44, anh vẫn chưa bình tĩnh lại. Đi một vòng quanh bàn họp, từng luật sư nêu ý kiến về một tài liệu trong gói thầu của Rich. Các bài phát biểu cứ thế tiếp diễn, lan man. Những lúc như vậy, một số người bắt đầu đếm.

Gordon Rich ngắt lời các luật sư. Anh đã đếm đến 38 trước khi mất bình tĩnh.

“Nghe này, nếu vấn đề không quan trọng, tôi đã chẳng muốn nghe,” Rich tuyên bố. “Tôi không quan tâm đến mọi thay đổi nhỏ cuối cùng. Tôi sẽ thực hiện theo cách của tôi.”

Từ đêm thứ Hai đến sáng thứ Ba, Rich rình chờ ở phòng họp của First Boston, yêu cầu các tài liệu mà anh phải gửi cho Atkins. “Chết tiệt!” anh hét lên với các luật sư. “Đây là cách chúng ta đang làm việc à? Nếu các anh muốn phàn nàn, hãy đến gặp Maher!”

Đến đầu giờ chiều thứ Ba, Rich cảm thấy bất lực. Trong bốn ngày, anh đã cầu xin những người này giao tài liệu của họ ra trước hạn chót 24 giờ. Tuy nhiên, đến lúc này, khi chỉ còn vài giờ nữa, anh vẫn chưa có được một nửa tài liệu mình cần.

Giống như chú lùn thân thiện trong chuyện cổ tích, Rich bắt đầu chộp lấy những ai đi ngang qua phòng anh, căn vặn khi nào phần tài liệu của họ trong gói thầu sẽ được chuyển tới. Khi đến đỉnh điểm của sự thất vọng, anh tìm được Brian Finn. Vì nhiều lý do - Rich không nhớ tại sao - nói chuyện với Finn là việc cực kỳ quan trọng. Khi một luật sư có tên Mike Rothfeld thò đầu vào văn phòng của Rich và gọi Finn, Rich đã tức giận phản đối.

“Không. Không. Anh đừng gọi anh ấy đi đâu hết,” Rich hét vào mặt Rothfeld. “Ra khỏi đây ngay!”

Ngay khi Finn đứng dậy để rời đi, Gordon Rich đã hoàn toàn mất bình tĩnh. Anh chộp lấy chiếc điện thoại có dây nối bằng nhựa màu xám, kéo căng sợi dây hết cỡ, và đập ống nghe vào bàn phím điện thoại bằng tất cả sức lực. Cả ống nghe và bàn phím đều vỡ tan tành. Finn và Rothfeld nhanh chóng rời khỏi hiện trường.

Sau đó, Rich rời khỏi văn phòng, và lang thang qua những văn phòng trống trên tầng 41. Anh quá mệt mỏi đến mức chỉ nghĩ đến việc rời khỏi tòa nhà. Cho rằng mình rất có thể sẽ bị sa thải, Gordon Rich quay trở lại văn phòng và chờ đợi.

-

Nhóm từ Citibank đến First Boston lúc 2 giờ. Vì một số lý do, các nhân viên ngân hàng này đến từ một khu ngoại ô ở phía bắc New York.

Chỉ còn ba giờ nữa, Fennebresque không có thời gian để lo lắng về hành trình của họ, anh hộ tống các nhân viên ngân hàng lên tầng trên, vào một phòng ăn không có người. “Nghe này, tình hình giờ thế này,” anh giải thích với người phụ trách nhóm nhân viên ngân hàng. “Trong vài giờ nữa, chúng tôi phải trình lên hồ sơ thầu. Một trong các ngân hàng đã phá vỡ cam kết với chúng tôi vào phút cuối. Không còn nghi ngờ gì nữa chúng tôi phải có cam kết cấp vốn cho gói thầu. Không còn nghi ngờ gì nữa, để tháo gỡ thế bế tắc, cần phải có tiền của ngân hàng. Chúng tôi muốn các anh cho chúng tôi một lá thư cam kết mạnh nhất có thể.”

Trong 90 phút, Fennebresque thông báo vắn tắt cho các nhân viên ngân hàng về chiến lược của First Boston. Để đề phòng họ không hiểu, anh đưa cho họ một bức thư nháp mà anh đã viết, hay thứ gì đó đại loại như thế, anh nói thêm. Những gợi ý đó sẽ hữu ích với họ.

-

Cả ngày hôm đó, Brian Finn lang thang từ phòng này sang phòng khác, hỏi han và trả lời các câu hỏi. Nhiệm vụ của anh đã hoàn thành lâu rồi. Tất cả vấn đề bây giờ là nguồn vốn, là tiền. Khoảng 3 giờ, Finn gặp Hank Handelsman ở hành lang. Vị luật sư của Pritzker đang cau có.

“Finn, tôi gặp rắc rối lớn rồi.”

“Vấn đề gì?”

“Chúng tôi còn thiếu 250 triệu đô-la.”

“Cái gì cơ?” Finn thất kinh. “Ông đang nói gì vậy?”

“Seslowe không lo nổi tiền.”

Hai người đi dạo một lúc, trong khi luật sư giải thích về tính nghiêm trọng của tình trạng khó khăn. Họ dừng bước cạnh một chiếc bàn trống bên ngoài văn phòng của Maher. Bên trong, Finn có thể nhìn thấy Seslowe đang cúi gằm mặt, đưa ra một loạt những lời nhận lỗi. Viên kế toán bước ra chỗ Finn và Handelsman đang đứng. Anh dừng lại, rồi quay đi. Finn liếc nhìn sang Handelsman. Không nghi ngờ gì nữa, anh bắt gặp ánh mắt đầy giận dữ ác ý của vị luật sư.

Handelsman quay sang Finn khi Seslowe đã đi khuất: “Tôi có thể hỏi Jay về khoản tiền này, nhưng tôi thật sự không thích viễn cảnh này.”

“Tôi không biết điều đó,” Finn nói, “nhưng chúng tôi sẽ không gửi thư dự thầu mà không lo đủ vốn cổ phần.”

Nếu phía Pritzker đóng góp khoản tiền này và thắng thầu, cả hai người đều biết rằng họ có thể huy động phần lớn số tiền đó trong vài ngày; các ngân hàng và các nhà đầu tư tổ chức sẽ hỗ trợ thêm cho họ. Nhưng điều đó có nghĩa là hiện nay tiền không nằm trong túi họ.

“Ông thực sự không có sự lựa chọn nào khác,” Finn nói. “Hoặc là ông phải gọi cho Jay, hoặc là chúng ta bỏ cuộc. Ngay cả khi đã có vốn cổ phần, vụ này chưa chắc đã thành công. Nhưng không có nó, chúng ta sẽ chẳng còn hy vọng.”

Maher cũng có suy nghĩ tương tự, anh từ chối mọi đề nghị đấu thầu mà không có các cam kết về vốn cổ phần. Thiếu cam kết tiền tệ hóa là quá đủ rồi; thiếu tiền góp vốn tương đương với việc diễn một vở hài kịch.

Mel Klein hiện đang kêu gọi một số nhà đầu tư trong quỹ của mình, và cố gắng kiếm chỗ này được 5 triệu đô-la, chỗ kia 10 triệu đô-la. Số tiền đó thật nhỏ nhoi. Một giờ trước khi đến hạn chót đấu thầu, họ vẫn còn thiếu 200 triệu đô-la. Mỗi người bọn họ, Klein, Maher, Finn và Handelsman, đều biết rằng chỉ còn một nơi có thể kiếm được tiền. Nếu ở đó có tiền.

Chiếc đồng hồ bên cạnh bàn của Jim Maher chỉ 4 giờ 15 phút khi cuối cùng Mel Klein cũng gọi được cho Pritzker.

Klein nhanh chóng giải thích tình hình. “Này các ông, chúng tôi phải có một cam kết ngay bây giờ. Không ai khác có thể viết một tấm séc lớn như vậy trong vài phút.”

Có một khoảng lặng ở đầu dây bên kia.

“Jay, Tom, giờ chúng tôi đang ở cả đây,” Klein nói. “Chúng tôi đã sẵn sàng đấu thầu. Chúng tôi cần một cam kết vay 200 triệu đô-la nữa.”

Jay Pritzker nói: “Anh có thể chọn cách khác không?” Klein hiểu cam kết đó lớn gấp đôi cam kết lớn nhất mà phía Pritzker từng thực hiện.

Klein nhìn ra cửa sổ. “Jay, ông đang ở Florida và Tom, anh đang ở California. Tôi không biết liệu một trong hai người có đang ngắm hoàng hôn hay không.” Klein quay sang Maher, anh đang đứng bên bàn làm việc, nét mặt nghiêm nghị. “Tôi đang nhìn Jim Maher. Và anh ấy đang muốn nghe chỉ một lời thôi, để cho phép chúng tôi tiến tới với lời đề nghị đấu thầu của First Boston. Chúng tôi cần nghe ông cam kết hậu thuẫn cho phần vốn cổ phần của Resource Holdings.”

Lại có một khoảng lặng. “Mel, số tiền này quá lớn.” Tom Pritzker nói.

“Tôi biết, bạn tôi, đó là lý do tại sao tôi phải nói chuyện với anh. Chúng tôi hiểu mà.”

“Các anh có lựa chọn nào khác không?” Jay Pritzker hỏi lại lần nữa.

“Không, tại thời điểm này thì không.”

“Chúng ta có nghĩa vụ nào về mặt đạo đức đối với Boston không?” Tom Pritzker hỏi.

Klein suy nghĩ một lúc. Anh liếc nhìn Maher. “Có đấy.”

“Anh có cho rằng First Boston cũng nghĩ chúng tôi nên giúp họ phần vốn cổ phần không?”

“Có chứ.”

Một khoảng lặng dài đằng đẵng. Mel Klein nín thở.

“Cha…” Tom Pritzker bắt đầu nói.

“Tôi biết rồi,” Jay Pritzker nói. “Đồng ý. Chúng tôi sẽ cam kết.”

Klein thở phào. “Cảm ơn hai người.”

Ông gác máy và quay sang Maher, anh đang đứng cạnh bàn, trông như bức tượng gỗ Ấn độ tượng trưng cho thuốc lá Mỹ.

“Xong rồi,” nhà Pritzker cam kết cho toàn bộ khoản vay.

Lần đầu tiên trong ngày hôm đó, Maher có lý do để mỉm cười.

-

Vào lúc 11 giờ sáng thứ Ba, Kravis và Roberts họp với các nhân viên ngân hàng đầu tư, nói với họ bằng giọng điệu không chắc chắn rằng họ vẫn chưa quyết định có nên tham gia đấu giá vào chiều hôm đó hay không. Cả hai người đều có ý tưởng riêng của mình, nhưng những người cuối cùng họ muốn thông báo là các nhân viên ngân hàng đầu tư. Nếu may mắn, sẽ có ai đó vô tình truyền đi thông tin sai lệch, đủ để đến tai Peter Cohen.

Không ai trong bọn họ lo về First Boston. Từ các đầu mối bên ngân hàng của mình, Kravis biết những vấn đề bên phía Maher đang chồng chất. Mel Klein cứ liên tục gọi điện, và bây giờ có vẻ như First Boston đang quan tâm đến việc có được một phần nhỏ cổ phần trong thỏa thuận của Kohlberg Kravis; Kravis luôn nhận ra dấu hiệu yếu thế ngay khi anh phát hiện nó. Bằng một thủ đoạn thông minh, họ cũng đã biết Atkins và các luật sư của hội đồng quản trị đều nhất trí rằng kế hoạch tiền tệ hóa của First Boston gần như chắc chắn không thể thực hiện được. Rất đơn giản, Dick Beattie chỉ cần gọi cho các luật sư thuế của mình, và hỏi về việc thử làm điều tương tự. “Đừng thử,” các luật sư thuế nói, “không bao giờ thành công đâu.”

Sau đó, Kravis và Roberts triệu tập cuộc họp bàn tròn không chính thức ở văn phòng góc của Kravis. Các cộng sự đã quá mệt mỏi với những cuộc họp như thế này, họ gọi đó là “phản xạ quay vòng”. Bắt đầu từ Scott Stuart, họ đi vòng quanh phòng, mỗi người đưa ra quan điểm của mình một lần: Chúng ta có nên làm điều đó không? Stuart và Cliff Robbins giơ ngón tay cái tỏ vẻ đồng tình. Ted Ammon đang lưỡng lự chưa quyết. Bob MacDonnell, cộng sự chung đến từ San Francisco, cố gắng ca tụng hết mình các giá trị của những thương hiệu như Oreo, Nabisco và Ritz. Paul Raether đã sẵn sàng đấu giá.

Đến lượt Henry Kravis. Sau một tuần không đưa ra bất cứ ý kiến gì, giờ Kravis đã chuẩn bị để cố gắng một lần cuối. Không ai trong phòng ngạc nhiên. Những người hiểu rõ về Kravis nhất không bao giờ tin anh có thể từ bỏ một thỏa thuận cỡ này. Nếu đấu thầu, Kravis nhấn mạnh, chúng ta phải làm sao để giành chiến thắng.

Cuối cùng, George Roberts lên tiếng. “Tôi nghĩ tất cả chúng ta nên tự hỏi mình: ‘Vụ này có thực sự đáng để lao đầu vào không? Chúng ta có thực sự muốn làm điều này vì bản thân mình không?’ Chúng ta sẽ nhận được rất nhiều chỉ trích từ Washington, rất nhiều chỉ trích từ các đối tác.” Vừa nói, Roberts vừa nhìn từng người trong phòng. “Còn một điều nữa, tôi không muốn nhìn thấy công ty này gặp rắc rối. Nó có thể đặt dấu chấm hết cho mọi thứ, cho một ngành kinh doanh. Tôi chẳng thấy vui với ý nghĩ rằng chúng ta phải thực hiện thỏa thuận này.”

Bài phát biểu của Roberts khiến họ trở nên bế tắc. Rất hiếm khi Kravis và Roberts công khai bất đồng ý kiến thế này. Vài người trong phòng nhìn nhau với ánh mắt lo lắng. Bây giờ thì sao đây?

“Nghe này,” Kravis nói, “chúng tôi đã thành lập công ty này trên cơ sở rằng George và tôi sẽ đồng ý về mọi thứ hoặc chúng tôi sẽ không làm gì cả.” Anh quay sang Robert: “Có lẽ chúng ta nên đi ra ngoài và bàn riêng một chút.” Roberts gật đầu.

Trong một khoảnh khắc, thỏa thuận trở nên bấp bênh. Rồi Jamie Greene lên tiếng. Greene, một cộng sự ở San Francisco, chịu trách nhiệm huy động hàng tỷ đô-la tiền vay ngân hàng mà Kohlberg Kravis sẽ cần nếu họ mua RJR Nabisco. Ở nhóm của Kravis, trách nhiệm nặng nề đó khiến ý kiến của Greene thêm phần trọng lượng. “Chờ đã, chờ đã,” Greene nói. “Tôi đã thực sự nghĩ rằng chúng ta nên thực hiện thỏa thuận này. Chắc chắn, mọi việc sẽ rất khó khăn. Nhưng tôi nghĩ rằng thỏa thuận này rất tốt, rất đáng để làm.”

Đây là lời tuyên bố độc nhất, hăng hái nhất mà Roberts vẫn trông đợi trong nhiều ngày, và nó đã thay đổi hoàn toàn tâm trạng của bọn họ. Trong vài phút, họ chuyển từ việc thảo luận có nên đấu thầu không sang mức giá đấu thầu.

“Tốt rồi,” Roberts nói, “nếu quyết tâm làm, phải đảm bảo an toàn. Ta phải sử dụng ít tiền mặt hơn rất nhiều so với những gì chúng ta đã công bố. Vào thời điểm quyết định này, hội đồng quản trị sẽ không quá quan tâm đến việc có thêm 3 hoặc 4 đô-la tiền mặt trong giá thầu. Họ sẽ chỉ quan tâm đến giá cao hơn thôi…”

“Và nếu giá bỏ thầu sát sao,” Roberts tiếp tục, “chúng ta sẽ chiến thắng.”

Họ dành nhiều giờ để hoàn thiện cấu trúc tài chính, lựa chọn phương án an toàn bằng cách tăng lượng chứng khoán trả cổ tức bằng hiện vật (PIK), và giảm lượng tiền mặt thực tế trả cho các cổ đông. Nhiều lần, Dick Beattie thò đầu vào phòng, nét mặt lộ vẻ lo lắng. “Chết tiệt, cho tôi hồ sơ thầu đi,” ông nói. “Hết giờ đến nơi rồi.”

“Đi đi, Dick,” Roberts mỉm cười nói. “Ông chỉ cần thay đổi vài con số thôi. Chúng tôi sẽ chỉ cho ông.”

-

Chiều hôm đó, Peter Cohen triệu tập nhóm quản lý họp ở Shearson. Mọi người đều có ý tưởng về mức giá thầu: Trợ lý của Johnson, Benevento và Sage đưa ra con số khoảng 110 đô-la/cổ phiếu, nhưng như thường lệ, không ai lắng nghe ý kiến của họ. Cohen và John Gutfreund mới là những người có ý kiến quyết định.

Cohen cho biết anh ủng hộ giá thầu 102 đô-la, có thể là 103 đô-la. Cảnh giác với kiểu đấu giá sít sao đến cùng, Gutfreund thực sự muốn giảm giá thầu xuống mức 97, 98 đô-la. Cuối cùng, họ đi đến mức giá trung dung: 100 đô-la/cổ phiếu — chỉ đơn giản là nhắc lại mức giá đấu thầu trước đó - họ cảm thấy như vậy sẽ là một cái tát vào mặt của hội đồng quản trị. Nhóm tin rằng nên tăng giá lên một chút để khỏi làm mất mặt các giám đốc vì đã kéo dài thời hạn đấu giá. Điều đó sẽ không chọc giận thêm hội đồng quản trị chắc chắn đang rất tức giận về hình ảnh xấu xí của Johnson trên tờ Time.

Cuối cùng, Cohen và Gutfreund quyết định giá thầu là 101 đô-la, tăng 1 đô-la.

Sau đó, họ tranh luận sôi nổi về chiến lược đằng sau giá thầu. Có phải Cohen và những người khác thực sự tin rằng Kravis sẽ từ bỏ cuộc đấu? “Không ai nghi ngờ về việc chúng tôi đã bị lừa,” Jack Nusbaum, luật sư và cũng là bạn thân của Cohen nhớ lại. “Không có ai đặt câu hỏi. Mọi người có thể nói điều gì khác đây?” Theo Nusbaum, mấu chốt chính là cuộc gọi của Dick Beattie cho Cohen. “Chính cuộc gọi đó đã khiến chúng tôi đi chệch hướng,” anh nói. “Beatie phát tín hiệu rõ ràng cho thấy họ đã bỏ cuộc. Khi anh ta nói điều đó, Peter đã tin… Chúng tôi tin rằng Kravis sẽ không tham gia đấu thầu. Chúng tôi đã tin chắc rằng đối thủ cạnh tranh duy nhất của chúng tôi là First Boston.”

Chaz Phillips, nhân viên ngân hàng Salomon nhớ lại: “Hill cảm thấy chắc chắn KKR sẽ không tiếp tục nữa.” Hill miễn cưỡng đồng ý với điều này: “Với việc Henry đến Vail,” ông nói, “tôi có một dự cảm tốt lành rằng Henry [không] quá nôn nóng với vụ đấu thầu. Trên thực tế, đó là một cú lừa ngoạn mục.” Về phần Cohen, Hill nói: “Peter thực sự tin rằng KKR sẽ không tham gia nữa. Trong thâm tâm, anh ấy thực sự tin vào điều đó.” Theo Hill, khi Cohen trở về New York từ Brussels, “anh ấy cho rằng mình có lý do để tin lời nói từ miệng Dick Beattie, rằng KKR đã bỏ cuộc.”

Cho dù Hill, Nusbaum và những người khác cho là như vậy, nhưng Cohen khẳng định anh không bao giờ tin Kravis đã từ bỏ. “Tôi luôn nghĩ rằng anh ta sẽ không từ bỏ.” Cohen nói: “Hill rất tự phụ và tin chắc rằng anh ta sẽ không tham gia nữa. Tôi nói với ông ta: ‘Chúng ta sẽ không đặt ra giả định đó.’ Tôi tin rằng Henry sẽ tiếp tục… Anh ta đến Vail vào lễ Tạ ơn hằng năm. [Trên thực tế, đó chỉ là lễ tạ ơn thứ hai của Kravis ở Vail.] Tất cả những gì anh ta cần là một chiếc máy fax, và anh ta vẫn đang điều hành công việc.”

Bỏ qua các cuộc tranh cãi đúng sai, giá thầu cuối cùng của nhóm quản lý là dấu hiệu chính xác nhất về niềm tin của họ. Tất nhiên, bất kỳ đối thủ cạnh tranh nào đang tìm kiếm cơ hội giành lấy RJR Nabisco sẽ trả giá cao hơn giá thầu 100 đô-la họ đã đưa ra. Giá thầu 101 đô-la của Cohen là một sự xác nhận ngầm, đúng với suy nghĩ của họ vài tuần trước khi có thông cáo báo chí đầu tiên, rằng nhóm quản lý một lần nữa dự đoán họ sẽ không có đối thủ cạnh tranh. Nusbaum nói: “Với chúng tôi, đó là một sai lầm chết người.”

-

Ở First Boston, Fennebresque chầu chực bên nhóm Citibank cả buổi chiều. Tất cả những gì anh cần là một lá thư đảm bảo rằng ý tưởng của Finn là khả thi. Anh cảm thấy mình như một người cha đầy mong đợi bên ngoài phòng hộ sinh. Dường như cứ sau 10 phút, điện thoại bên ngoài phòng ăn lại reo. “Thư đâu? Bức thư chết tiệt đó ở đâu?”

“Thôi nào, chờ đi,” Fennebresque nhắc đi nhắc lại, chúng tôi đang cố viết xong nó đây…

Phải đến hơn 4 giờ 30 phút, trưởng nhóm bên Citibank mới đi ra từ phòng ăn. Fennebresque đang đi tới đi lui, dáng vẻ lo lắng. “Cảm ơn,” Fennebresque nhận lấy lá thư, và bắt tay nhân viên ngân hàng: “Cảm ơn rất nhiều.”

Bức thư nhanh chóng được nhét vào hồ sơ thầu rồi gửi đến Skadden. Trong thâm tâm, Jim Maher rất bình tĩnh. Hồ sơ thầu đã gần như đạt đến mong đợi của anh. Bức thư cam kết tiền tệ hóa không được như kỳ vọng của anh, đành vậy. Anh tự nhủ rằng họ đã nỗ lực phi thường. Maher cho rằng cơ hội thành công của họ có vẻ rất nhỏ, nhưng bất chấp khó khăn, nhóm của anh đã có bước tiến dài so với trước đây - mới chín ngày trước đây thôi.

“Chết tiệt,” anh nói, “có chăng cơ may sẽ đến một lần nữa.”

-

George Roberts cúi đầu đi vào phòng họp lớn của Kohlberg Kravis lúc 5 giờ kém vài phút.

Hàng tá nhân viên ngân hàng đầu tư, những người được trả lương cao nhất Phố Wall, đang xếp hàng trước mặt anh, hồi hộp chờ đợi tin tức về giá thầu của Kohlberg Kravis. Mỗi nhân viên ngân hàng đều đang tự hỏi: Liệu Roberts và Kravis có đưa ra mức giá thầu đáng thất vọng nữa không? Hay họ cũng muốn giành chiến thắng? Sau này, họ đều khoe khoang rằng mình có tai mắt ở cạnh Kravis, nhưng sự thật là rất ít người có manh mối về việc hai anh em họ sẽ làm gì. Câu trả lời có ý nghĩa rất lớn với hàng chục triệu đô-la tiền phí cho mỗi nhân viên ngân hàng đang đứng trong căn phòng đó.

Đứng bên cạnh Kravis, Roberts thể hiện một bức tranh của sự chán chường, đầu từ từ lắc qua lắc lại, đôi mắt u ám, tay thọc sâu vào túi quần. Anh nói với nhóm bằng giọng điệu đưa đám.

“Chúng tôi xin lỗi,” anh nói. “Chúng tôi đã quyết định quên nó đi. Chỉ vì nó quá lớn.” Anh dừng lại một hoặc hai lần để mọi người kịp hiểu anh đang nói gì: “Chúng tôi chỉ là không thể thành công thôi.”

Cả căn phòng lặng im phăng phắc, có vẻ như khoản phí 100 triệu đô-la đang từ từ bốc hơi.

Roberts thở dài. “Chúng ta sẽ trả giá bao nhiêu đây, Henry? Anh nghĩ là 106. Có đúng không?”

Kravis gật đầu. “Em nghĩ là đúng đấy.”

Đứng bên cạnh hai người, Dick Beattie sẽ không bao giờ quên được phản ứng của các nhân viên ngân hàng khi trò chơi đố chữ đã có lời giải. “Ông có thể thấy những đồng đô-la phát sáng lấp lánh trong mắt họ,” Beattie nhớ lại. “Nó giống như ‘Ồ! Chúng ta sẽ trở lại cuộc đua! Hoan hô!’”

Được tiếp thêm sinh lực, tất cả ngồi xuống và chờ đợi.

[1] Ý nói một người đạt được mục đích của mình một cách bất ngờ nhưng không biết phải làm gì tiếp theo. (BTV)

[2] Ý chỉ hành động bắt đầu làm lại một việc mà trước đó đã gặp thất bại, khó khăn. (BTV)

[3] Ngày nghỉ nổi bật và quan trọng nhất của Do Thái giáo. (BTV)

[4] Macomber từ chối đã đề cử chính mình. (TG)

HoHoàng Thị Ngọc dịch • Barbarians at the gate •
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.