Bọn Rợ Rình Trước Cổng

Lượt đọc: 220 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 11

❊ ❊ ❊

Đàm phán hòa bình thất bại, nhóm của Cohen chuẩn bị chiến tranh. Với việc Kravis vượt lên với đề nghị đấu thầu 90 đô-la/cổ phiếu, mọi giả định về mức giá thầu ban đầu 75 đô-la của nhóm quản lý phải bị loại bỏ. Một khối lượng lớn các phân tích cần sửa đổi đang được tiến hành. Ước tính số tiền thoái vốn mới đã được tính toán, và các cuộc đàm phán nhằm đảm bảo khoản vay 15 tỷ đô-la từ nhóm ngân hàng đã được khởi động lại. Với tinh thần của những người đàn ông sẵn sàng trả giá để cứu một con tàu đang chìm, những con cá mập tài chính ở Shearson lặng lẽ quẳng xuống biển các công ty của Johnson như những thứ đồ chơi để có thể trả giá thầu cao hơn. “Tất cả máy bay, căn hộ hạng sang, thuốc lá không khói Premier, các câu lạc bộ đồng quê, trụ sở Atlanta,” Tom Hill nhớ lại, “đều phải bị cắt bỏ.”

Giờ đây, Shearson không chỉ vượt trội hơn về chiến thuật, mà còn tinh vi hơn về tài chính, vượt qua Kohlberg Kravis và các cố vấn của họ, Drexel và Merrill Lynch. Việc Kravis đưa cổ phiếu ưu đãi trả lãi bằng hiện vật PIK vào giá thầu 90 đô-la của họ với giá mua toàn bộ 11 đô-la/ cổ phiếu, tương đương gần 2,5 tỷ đô-la, là một nước cờ thông minh mà Shearson không thể dễ dàng theo kịp. Hai năm ủng hộ các tay tập kích công ty của Dan Good đã khiến bộ phận trái phiếu rác của Cohen thiếu trầm trọng kinh nghiệm chuyên môn mà giờ đây họ rất cần. Thị trường cho các cổ phiếu PIK trên toàn thế giới, loại cổ phiếu có thể chuyển đổi thành trái phiếu rác, đạt khoảng 2,5 tỷ đô-la; đề nghị của Kravis sẽ dễ dàng làm tăng gấp đôi quy mô thị trường. Kiểu niềm tin đó không thể đến qua một đêm. Dù cố gắng đến đâu, Tom Hill không thể hiểu làm sao thị trường có thể hấp thụ lượng cổ phiếu khổng lồ đó với giá hơn 5 đô-la/cổ phiếu; sau đó, ông sửa lại con số thành 8 đô-la/cổ phiếu.

Hiện tại, Cohen đã tạm ngừng liên lạc với Forstmann. Forstmann cứ làm phiền anh với các cuộc gọi. Chúng ta phải hành động thật nhanh. Anh nghĩ Kravis cứ ngồi đó mà đợi à? Cứ mỗi lần nói chuyện, anh lại phải chịu đựng 20 phút nghe ông ta giảng giải về việc tại sao Kravis lại đang hủy hoại thế giới này.

Đưa Salomon vào thỏa thuận như một đối tác đứng đầu danh sách ưu tiên của Cohen vào sáng thứ Tư. Hôm đó, Johnson ngủ dậy muộn, sau đó lão hối hả đến văn phòng của Shearson ở Battery Park City để gặp Cohen cùng các thủ lĩnh của Salomon, Gutfreund và Strauss. Sau đó, Cohen hỏi ý kiến Johnson, cho phép Salomon tham gia thỏa thuận.

“Tùy anh thôi,” Johnson hỏi. “Họ có gì khi tham gia vụ này?”

“Rất nhiều,” Cohen trả lời, “quan trọng nhất là 3 tỷ đô-la tiền vốn. Giá thầu đã đạt mức cao, và chỉ riêng vốn cổ phần đã nhiều hơn số Shearson có thể huy động một cách an toàn.” Nếu nhóm của Johnson thắng, Salomon cũng có thể chứng minh họ có giá trị trong việc chào bán trái phiếu rất quan trọng để cấp vốn cho vụ đấu thầu.

“Có ai phản đối sự tham gia của họ không?” Cohen hỏi.

“Không ai phản đối cả,” Johnson nói, “vả lại, các anh đang cần tiền mà.”

-

Nếu Forstmann Little và Shearson hợp lực, có rất nhiều việc phải làm. Buổi tối hôm đó, Nick Forstmann sải bước qua quảng trường Grand Army Plaza đến trụ sở của RJR Nabisco để bắt đầu những gì mà anh hy vọng sẽ là một quan hệ đối tác có lợi.

Nicky Forstmann, kém anh trai tám tuổi, có ngoại hình đẹp như ngôi sao điện ảnh và làn da quanh năm sạm nắng. Giống anh trai mình, anh ghét trái phiếu rác và Henry Kravis. Khi anh đang đi về phía sảnh bao quanh bằng kính ở tòa nhà số 9 khu Tây thì phát hiện Kravis và Roberts ở trong đó, đang tiến về phía anh. Kravis nhìn thấy Forstmann và mỉm cười; anh biết Nicky định đi đâu. Khi Forstmann bước vào cánh cửa quay vòng, Kravis bất ngờ giữ cánh cửa, tạm thời gài bẫy anh chàng trẻ tuổi hơn. Kravis toe toét cười; anh thích chơi đùa với các đối thủ của mình.

Sau một giây, Forstmann được thả ra, mặt đỏ bừng, bước vào sảnh. “Anh đang làm gì ở đây vậy, Nicky? Anh muốn tham gia vụ này với vai trò gì?”

Kravis cười khẩy khi thấy Forstmann đi đến một khoang thang máy cách xa khoang đi đến tầng của Johnson. Kravis nghĩ anh ta đang cố gắng đánh lừa anh. “Anh ta nên khéo léo hơn mới phải,” Kravis nói và mỉm cười.[1]

-

Tối thứ Tư, Johnson chủ trì buổi tài trợ vinh danh Charlie Hugel là Người đàn ông của Năm, của câu lạc bộ Boys Club. Johnson đã hợp tác với tổ chức từ thiện này từ những năm đầu ông đến New York; ông đã đề nghị trao giải thưởng cho Hugel.

Johnson là người thuyết trình hoàn hảo trong bữa tối, lão pha trò và chọc ghẹo Hugel, ủy ban đặc biệt của ông ta sẽ quyết định tương lai của những nỗ lực mua lại của Johnson. Nhiều người tham gia vào thỏa thuận cũng có mặt ở đó: John Greeniaus và Jim Welch từ RJR Nabisco, Ira Harris của Lazard. Freres, Marty Davis của Gulf + Western. “Chào mừng các vị đến với cuộc họp của ủy ban đặc biệt,” Johnson nói, khai mạc bữa tối.

Sau đó, Johnson lui về căn hộ của Jim và Linda Robinson, ở đó hai người nói chuyện đến tận đêm khuya. Johnson nhìn xuống thành phố bên dưới, cầm ly đồ uống trong tay, và tận hưởng giây phút nghỉ ngơi. Ông đã không thoải mái khi đấu thầu với mức giá thấp 80 đô-la/cổ phiếu; bây giờ, họ đang phải xem xét hồ sơ dự thầu với mức giá thấp là 90 đô-la. Ông thấy quãng thời gian này thật khó khăn, chẳng thể tìm lại được sự nhiệt tình trong công việc, ở những mức giá đó, các khoản tiền nợ sẽ chồng chất thêm. Atlanta, Premier, những căn hộ, máy bay, nghĩ đến đây, lão thấy trong lòng run rẩy. Nếu chiến thắng có nghĩa là lão phải từ bỏ mọi thứ mà mình yêu thích, những thứ mà lão đang có nhờ công ty này, nếu vậy lão thà thua còn hơn.

“Giá sẽ còn tăng đến đâu?” Johnson băn khoăn, hỏi rõ to. “Giờ chúng ta đang nói chuyện nghiêm túc về tiền bạc. Jimmy, anh biết đấy, về cơ bản, công ty chỉ có thể sản xuất những gì họ có thể. Cho dù công ty có tốt đến đâu, nếu trả giá quá cao, anh sẽ thua.”

Khi Johnson chia sẻ nỗi sợ hãi của lão với Steve Goldstone, vị luật sư đã cố gắng nói với lão sự thật về Shearson một cách nhẹ nhàng. “Ross, đó là tiền của họ. Nếu họ muốn tiêu tiền, hãy để họ tiêu đi.”

Bây giờ, khi đang nhấm nháp đồ uống và thảo luận mọi thứ với Jim Robinson, Johnson không thể rũ bỏ được cảm giác lão đang mất kiểm soát với Cuộc phiêu lưu vĩ đại mà lão khởi xướng. “Jimmy,” lão hỏi Chủ tịch American Express, “ở đây có bao nhiêu phần điên rồ?”

-

Rất nhiều.

Khi tâm trí rối bời của Johnson dần được giải tỏa, một cảnh tượng hỗn loạn nhỏ đã diễn ra ở trụ sở RJR Nabisco tại tầng 48. Ở đó, các nhân viên ngân hàng đầu tư đến từ Shearson và Salomon gặp Nick Forstmann và một nhóm từ Goldman Sachs do Geoff Boisi dẫn đầu. Sau một tháng làm việc, Tom Hill đã có những lập trường rõ ràng về cách thức tiến hành mua lại, những công ty nào nên bán, về những gì Johnson sẽ và không nên làm. Rõ ràng, Boisi cũng có ý tưởng của riêng mình. Ông nói, nên bán nhiều tài sản hơn và bán nhanh hơn. Hill đã phải kiềm chế. Bất đồng quan điểm giữa hai nhân viên ngân hàng đi đến giới hạn, và chẳng mấy chốc sấm sét ập đến.

Nick Forstmann nói rằng căn phòng không đủ lớn cho hai người cùng có tính tự cao tự đại như bọn họ. Boisi đang cố bắt nạt Hill. Và Hill đe dọa rằng một đối thủ cạnh tranh đang cố gắng giành lấy thỏa thuận này. Forstmann phải đứng dậy và kéo Hill sang một bên.

“Nghe này Tom,” anh nói, “vấn đề không nằm ở những chuyện vặt vãnh đó, phải không? Quan trọng là cách chúng ta hoàn thành công việc này.” Forstmann gợi ý ông hãy quên cuộc cãi vã nội bộ đi.

Sau đó, khi Forstmann đi thang máy xuống cùng với Boisi, rõ ràng nhân viên ngân hàng của Goldman đã nổi giận với cuộc đối thoại một mình của Nick và Hill. “Anh làm thế để làm gì?” Boisi gặng hỏi. “Anh đã nói gì với ông ta?” Forstmann không thể kiên nhẫn với trò đấu trí nam nhi đại trượng phu của nhân viên ngân hàng đầu tư. Anh nhắc lại: “Geoff, vấn đề không phải ở những chuyện vặt vãnh đó. Quan trọng là phải thực hiện được thỏa thuận này.”

-

Sáng thứ Năm, Tom Strauss đang ở trong văn phòng theo phong cách nghệ thuật trang trí của John Gutfreund, ngay bên ngoài sàn giao dịch của Salomon, và nói chuyện với hai nhân viên ngân hàng đầu tư về RJR Nabisco. Gutfreund đã bay đi Madrid đêm hôm trước để mở chi nhánh mới, giao lại thỏa thuận RJR cho Strauss, giám đốc điều hành cấp cao của Salomon. Lĩnh vực tiếp quản tương đối mới mẻ với Strauss, người cả đời chỉ biết đến các giao dịch trái phiếu chính phủ. Hầu hết cả ngày, anh ngồi ở bàn làm việc trên sàn giao dịch, gần bàn của Gutfreund. Ở đó, giữa những người đàn ông đang la hét và giao dịch hàng tỷ đô-la trái phiếu, Strauss cảm thấy thoải mái như ở nhà. Những ngày này, anh đang phải phụ thuộc rất nhiều vào sự tư vấn của các nhân viên ngân hàng.

Điện thoại của Gutfreund reo. Một thư ký cho biết Henry Kravis gọi. Trước khi Strauss kịp nhận cuộc gọi, đường dây điện thoại thứ hai rung chuông. Đó là Gutfreund gọi về từ châu Âu.

Strauss la lớn rằng anh sẽ nhận cuộc gọi của Gutfreund trước. Anh nhấc điện thoại lên, những tưởng sẽ nghe thấy giọng nói cộc cằn của chủ tịch, nhưng thay vào đó, anh lại nghe thấy giọng của Henry Kravis. Không hiểu sao anh lại chọn sai đường dây.

Kravis còn chưa kịp nói lời nào, Strauss đã biết đó sẽ là một cuộc trò chuyện khó chịu. Hai người biết nhau đã 20 năm, nhưng những ngày này, tình bạn của họ đang ở trong tình trạng rất căng thẳng. Những năm 1970, Tom và Bonnie Strauss là bạn thân của Henry và Hedi Kravis. “Khi Henry ly dị Hedi,” một trong những người bạn thân nhất của Strauss nói, “Tom và Bonnie là những người phải chịu trận. Họ gần gũi với Hedi. Khi Henry tái hôn, gia đình Strauss đã tuyệt giao với anh ấy.” Kết quả là, người bạn nói, “Henry cảm thấy bị Tom và Bonnie phản bội.”

Mãi về sau, Strauss mới thừa nhận sự bất hòa, nói rằng: “Đó là điều tự nhiên khi các bà vợ về cùng phe với nhau trong các trường hợp như vậy.” Anh tự đánh giá thấp ảnh hưởng của mình trong thỏa thuận RJR Nabisco, nói rằng: “Tôi nghĩ Henry thừa sức để làm vụ này.”

Bạn bè của cả hai người không đồng ý như vậy. Sự căng thẳng giữa Strauss và Kravis có ảnh hưởng đến một số cuộc đàm phán quan trọng trong thỏa thuận này. “Khi thỏa thuận kết thúc, rất nhiều tình bạn đã tan vỡ lại được hàn gắn,” một người quan sát nói. “Nhưng quan hệ giữa Tom và Henry sẽ không bao giờ trở lại như xưa.”

Buổi sáng hôm đó, Kravis muốn đạt được điều gì đó từ người bạn cũ Tommy Strauss. Anh nói với giọng nhẹ nhàng và hòa giải, hoàn toàn dựa trên quan hệ bạn bè lâu năm.

“Tom, tôi biết bên anh đang nghĩ đến việc tham gia vào vụ này,” Kravis bắt đầu. “Tôi sẽ đánh giá cao nếu các anh không làm vậy. Chúng ta là những người bạn tốt, và tôi chắc chắn sẽ rất vui nếu anh không làm mọi thứ phức tạp hơn.”

Strauss không thể tin vào sự trơ tráo của Kravis. RJR Nabisco là cơ hội tốt nhất để Salomon nhảy vào lĩnh vực ngân hàng đầu tư. Và chẳng phải Kravis đã thuê tới bốn ngân hàng đầu tư khác nhau cho thỏa thuận này sao, nhưng tại sao lại không có Salomon trong danh sách? Tất nhiên, sự tức giận của Strauss không chỉ dừng ở vụ RJR Nabisco. “Đã nhiều năm nay, KKR chơi xấu Salomon,” Chaz Phillips nhớ lại. “Họ đã chi 500 triệu đô-la phí tư vấn cho các ngân hàng đầu tư, Salomon chỉ nhận được khoảng 1 % trong số đó. Và công việc chỉ đến tay Salomon khi chẳng ai muốn làm.”

Sáng hôm đó, Strauss đã quá lịch sự để không nguyền rủa Kravis. “Henry, đây là giao dịch rất có ý nghĩa đối với chúng tôi,” anh nói, thể hiện sự kiên quyết. “Chúng tôi không thể vì anh mà đổi ý được.”

Strauss thoát khỏi cuộc gọi nhanh nhất có thể. Gutfreund vẫn đang chờ anh ở đường dây kia.

-

Đồ vô ơn, Kravis lẩm nhẩm, và đặt điện thoại xuống.

Những năm gần đây, anh đã chuyển một số dự án lớn cho Salomon, và Strauss hoàn toàn phớt lờ điều đó. Strauss thậm chí còn không thể hiện lịch sự bằng một cuộc gọi trước, khi bước vào trận chiến chống lại anh.

Kravis cố gắng rũ bỏ suy nghĩ đó ra khỏi tâm trí. Anh còn quá nhiều thứ quan trọng hơn để lo lắng. Anh sẽ chính thức bắt đầu đưa ra giá thầu vào ngày hôm sau, thứ Sáu. Kravis biết không còn nhiều thời gian từ giờ cho đến khi Cohen và Johnson tập hợp lại số liệu, và đưa ra giá thầu mới. Khi đó, Kravis sẽ phải sẵn sàng để trả giá cao hơn. Trước khi làm điều đó, anh cần hiểu biết nhiều hơn về công ty của Johnson. Và khi không có Johnson trong phe mình, Kravis vẫn ở thế bất lợi nghiêm trọng. Thứ anh cần là một người rất hiểu về RJR Nabisco. Một người thông thái.

Vài ngày trước, anh nhận được một cuộc gọi từ Jim Walter, người sáng lập công ty Tampa mà Kravis đã mua vào năm 1987. Walter ở cùng hội đồng quản trị Anchor Glass với Tylee Wilson, và ông này đề nghị với Kravis rằng Wilson có thể giúp phân tích RJR Nabisco. Kravis do dự, anh không quen biết Wilson. Nhưng nhiều tuần trôi qua và cơ hội hợp lực với Johnson cũng giảm dần, anh đã thay đổi quyết định.

Giờ anh gọi cho Wilson hiện đang ở Jacksonville, bang Florida, cựu Tổng Giám đốc RJR đã chuyển đến đây sau khi bị hất cẳng khỏi công ty. “Tôi biết ông ấy sẽ muốn nói chuyện với anh,” thư ký của Wilson hứa rằng tổng giám đốc điều hành sẽ trả lời cuộc gọi ngay lập tức.

Vài phút sau, Wilson lẻn ra khỏi cuộc họp hội đồng quản trị của American Heritage để trả lời cuộc gọi của Kravis. “Chúng ta có thể gặp nhau không?” Kravis nói sau khi tự giới thiệu. “Như vậy có tiện không?”

“Được chứ,” Wilson nói. Một cuộc gặp được ấn định vào lúc 10 giờ sáng thứ Sáu.

-

Smith Bagley là người không dễ nổi cáu. Là thành viên nổi bật nhất trong số những người thừa kế của gia đình R. J. Reynolds, ông là một nhà quý tộc đáng mến, có cuộc sống phong lưu trong giới văn minh, thường xuyên qua lại những thẩm mỹ viện, các buổi giao tiếp ở Georgetown, và những ngôi nhà trên bãi biển Nantucket. Ông bù đắp cho hình hài cao tới gần 2m bằng cách đi chậm, nói chậm và khom lưng một chút, dường như để không làm ai giật mình. Tóc ông, giờ đã hoa râm, lúc nào cũng rối bù, giống như một cậu học sinh.

Nhưng bây giờ, Bagley đã thật sự nổi điên. Là cháu trai của R. J. Reynolds, và là chủ sở hữu của hơn 1 triệu cổ phiếu cổ phiếu RJR, ông tự coi mình là người thừa kế của gia đình Reynolds. Thật đáng bị nguyền rủa nếu ông cứ ngồi yên, và xem Ross Johnson đánh cắp công ty mà gia đình ông đã làm việc rất vất vả để gây dựng. Chiều thứ Tư, Bagley sải bước quanh văn phòng luật sư của mình, vung vẩy cánh tay và làm náo loạn văn phòng vốn yên tĩnh của công ty luật Arnold & Porters Washington.

“Những tên khốn đó; những tên giám đốc ti tiện đó,” Bagley hét lên. “Những gã ti tiện đó muốn đánh cắp công ty khỏi tay các cổ đông để làm giàu cho bản thân. Tiền đó là của các cổ đông. Thật sai trái. Chúng ta phải làm gì đó.”

Nhưng làm gì? Cho đến bây giờ, Smith Bagley vẫn chưa thực sự quan tâm đến công ty. Ông lớn lên ở Greenwich, Connecticut, cách nhà của gia đình Ted Forstmann vài cánh cửa. Ông đã không quan tâm nhiều đến Winston-Salem, nơi ông thấy rất tù túng về mặt văn hóa. Trong phần lớn cuộc đời của mình, Bagley tránh xa thế giới kinh doanh. Những trải nghiệm của ông với thế giới đó chẳng vui chút nào; vào những năm 1970, ông từng đứng đầu tập đoàn Washington, nhưng kết cục là một thủ tục phá sản, và Bagley phải ra tòa, bị buộc tội thao túng cổ phiếu. Được tha bổng, Bagley trở thành một nhà từ thiện, tích cực tham gia công việc của các quỹ lấy từ lợi nhuận của cổ phiếu RJR. Ông từng là Chủ tịch của quỹ Z. Smith Reynolds Foundation. Ông cũng là Phó Chủ tịch ủy ban Tài chính của Ủy ban Quốc gia đảng Dân chủ, và như vậy, ông đang ở những tuần lễ cuối cùng quan trọng nhất trong chiến dịch tranh cử tổng thống của Dukakis. Việc tiếm quyền của Johnson thật tệ lại đến đúng thời điểm này.

Nhưng Bagley đã quyết tâm hủy hoại lão. Ông cảm thấy đó là nghĩa vụ của một người nhà Reynolds. Mẹ của ông, bà Nancy Reynolda, là con thứ ba của RJ, đã rất quan tâm đến công ty trong một thời gian dài sau khi chính thức cắt đứt quan hệ với nó. Vào đầu những năm 1970, bà đã chiến đấu với đề nghị loại bỏ tên Reynolds ra khỏi tên công ty. Khi viết thư cho các thành viên hội đồng quản trị, bà đã nói: “Hãy bước qua xác tôi.” Và câu nói đó đã có tác dụng. Trong những năm 1980, bà thuyết phục người của Tylee Wilson xuất bản sách lịch sử về công ty dựa trên các tư liệu có thật, những điều đã bị lãng quên từ 20 năm nay. Một số người đã nghĩ rằng cuốn sách hơi chân thực quá và ngăn chặn nó, nhưng Nancy Reynolds đã sống đến khi thấy cuốn sách được xuất bản năm 1985, cùng năm đó bà qua đời.

Giống như mẹ của mình, Bagley đã trở thành đầu mối để gặp gỡ, trao đổi với những giám đốc từng điều hành công ty qua các thời kỳ. Ông ăn trưa với Tylee Wilson khoảng một năm một lần, và thấy thích ông ta. Sau một năm cố gắng sắp xếp, Bagley đã gặp Johnson ở Hội nghị Quốc gia đảng Dân chủ vào mùa hè năm đó. Ông không mấy ấn tượng với lão. “Tên khốn đó,” Bagley đang la lên. “Hắn đã chuyển công ty đến Atlanta và bây giờ lại đang bòn rút tiền của.”

Nhưng phải làm sao đây? Bagley đã hỏi ý kiến một luật sư ở Winston-Salem về việc làm sao để ngăn chặn vụ LBO này một cách hợp pháp, nhưng được thông báo là cơ hội sẽ lớn hơn nếu tổ chức được một nhóm đấu thầu cạnh tranh. Bây giờ, ông đang xem xét các khả năng đó với những luật sư ở Arnold & Porter. Các nhân viên và những người về hưu của RJR Nabisco có thể đang nắm giữ khoảng 5% cổ phần. Liệu họ có thể tập hợp thành một khối chống lại Johnson không? Có thể, luật sư nói. Còn gia đình Reynolds thì sao? Các thành viên trong gia đình Reynolds kiểm soát từ 5-8% nữa. Ý tưởng huy động số cổ phiếu đó vào một trận chiến có sự ủng hộ của gia đình

Reynolds đã lôi cuốn Bagley, mặc dù ông biết điều đó sẽ không thể thực hiện được. Ngoài sự quan tâm hời hợt của Bagley và mẹ ông, nhiều thập kỷ qua, gia đình Reynolds đã không mấy tích cực với các công việc của công ty.

Bagley không muốn công ty bị bán đi, mặc dù ông thú nhận đã có những cảm xúc lẫn lộn khi thấy giá cổ phiếu tăng vọt. Nhưng nếu buộc phải bán, ông muốn có mức giá tốt nhất cho các cổ đông, chứ không phải mức giá tốt nhất cho Johnson. Trên quan điểm đó, việc Johnson công khai thể hiện muốn hợp tác với Henry Kravis là hết sức đáng sợ.

Bagley đã gặp Kravis nhiều năm trước và có ấn tượng tốt về anh. Nếu ông có thể cho Kravis sự ủng hộ của gia đình Reynolds, và sự giúp đỡ của một người hiểu rất rõ về công ty từ trong ra ngoài, thì liệu anh ta có thể nhờ vào lợi thế này mà chặn đứng Johnson hay không? Động thái này không chắc sẽ thành công, nhưng Bagley có rất ít thứ để mất.

Ông quay trở lại văn phòng của mình, và nhanh chóng gọi cho Kravis ở New York. Hiện anh ta định làm gì? Bagley băn khoăn hỏi.

“Tôi đang làm vài việc với công ty của gia đình,” Kravis nói và họ đồng ý gặp nhau vào bữa sáng thứ Bảy ở New York.

Tiếp theo, Bagley gọi cho bạn mình là Tylee Wilson ở Jacksonville. “Nghe này, chúng ta phải tham gia vụ này,” Bagley nói. “Ông có muốn gặp tôi cùng các luật sư không?”

Tylee Wilson có quan tâm đến việc này không? Người từng ngồi ở vị trí cao nhất của công ty trị giá 15 tỷ đô-la hiện đang làm hai việc: điều hành công ty tư vấn chỉ có một người, và tìm hiểu về du thuyền. Hai năm qua, Wilson vẫn nhận được những cuộc gọi từ các đồng minh cũ ở công ty, rỉ tai nhau về những động thái tự do phóng túng mới nhất của Johnson.

Tylee Wilson bị xúc phạm khi thấy một kẻ chỉ biết ăn chơi coi một công ty hàng đầu nước Mỹ như cỏ rác.

Wilson đã giải thích việc bị sa thải của ông như sự từ chối trên nguyên tắc, không tham gia trò chơi chính trị công ty với hội đồng quản trị. “Tôi không muốn theo đuôi bọn họ một cách lộ liễu,” ông nói với bạn bè. Ông đã sử dụng một phần tiền đền bù thôi việc để mua một chiếc du thuyền mới, và đặt tên là The Integrity (nghĩ là “Sự chính trực”). Bây giờ, sự điên rồ của việc để bạt Johnson đã được vạch trần. Nó khiến ông hài lòng, nhưng điều đó thật nghiệt ngã. Ông sẽ còn hài lòng hơn khi được trở lại với thần thế của một người đã bị bỏ rơi đến mất hết hy vọng, nay trở về để cứu vương quốc này thoát khỏi một triều đại tham nhũng.

Tylee Wilson có hứng thú không? Thật tệ khi ông phải nếm trải cảm giác đó. “Ngày mai được không?” Bagley đồng ý. Chỉ có một câu hỏi về vấn đề hậu cần. “Ông có xe limo không?”

“Có chứ,” Bagley trả lời.

Bagley và luật sư của ông bay đến Jacksonville vào ngày hôm sau, xe limo đến lúc 6 giờ. Wilson chào đón họ, ông ăn vận giản dị với áo sơ mi, đeo cà vạt, và vì đó là giờ uống cocktail, nên ông hỏi họ có muốn uống gì không. Vài phút sau, Kravis gọi, nói rằng anh sẽ gửi máy bay phản lực cho Wilson vào buổi sáng hôm sau. Tối hôm đó, hai người dùng bữa tại câu lạc bộ của Wilson, và Bagley phải chịu đựng sự rầy la của cựu giám đốc RJR. Wilson cứ nói mãi về sự lãng phí dưới chế độ Johnson: Những từ như “kinh khủng” và “bệnh hoạn” được ông sử dụng rất nhiều. “Đây là một công ty tuyệt vời với những truyền thống tuyệt vời, và nó đang bị hủy hoại,” ông nói.

“Kravis cần một người quản lý đáng tin cậy,” Bagley nói. “Ông có thể mang đến cho anh ấy kinh nghiệm quản lý, và tôi có thể cho anh ấy sự ủng hộ của gia đình. Chúng ta có thể đánh bại Johnson.”

Một liên minh đã được thành lập. Tối hôm đó, Bagley trở về nhà Wilson, ở đó có Pat, vợ của Tylee, tham gia cùng họ. Đêm đó, họ uống và trao đổi những câu chuyện tranh đấu thời xưa của Reynolds. Thật chẳng hay ho gì, họ trầm ngâm, khi phải đeo dây súng trở lại chiến trường.

Sáng thứ Sáu, trong khi chờ Wilson đến New York, Kravis giật mình khi đọc bài trên tờ Wall Street Journal rằng Kohlberg Kravis đã thuê Wilson làm cố vấn đặc biệt.

“Tin quái quỷ này có thể đến từ đâu vậy?” anh hỏi Roberts. Không ai có chút manh mối nào. Theo họ biết, Wilson đã lên một chiếc máy bay phản lực đi về hướng bắc. Người lái máy bay ư, rất có thể? Kravis và Roberts vẫn đang bối rối về vụ rò rỉ thông tin khi Charlie Hugel gọi đến. Kravis bật loa ngoài điện thoại. Hugel cũng vừa đọc về việc thuê Wilson.

Hugel nói: “Henry, nếu anh thực sự sẽ làm điều đó, hãy để tôi nói với anh một điều. Đừng. Nếu anh làm thế, mọi người sẽ rời bỏ anh. Họ sẽ cho anh ra khỏi cửa. Nếu anh lo lắng về nhóm quản lý, thì có rất nhiều người giỏi trong công ty này. Tôi thậm chí sẽ giúp anh tìm họ. Nhưng anh đang phạm sai lầm lớn khi thuê Tylee Wilson.”

Kravis cảm ơn Hugel vì lời khuyên. Sau đó, trong buổi sáng, anh và Roberts đã gặp Wilson trong hai giờ. Họ thấy kiến thức của ông về công ty đã lỗi thời, và sự say sưa trả thù của ông ta thể hiện rõ ràng. Họ kết luận: sự rò rỉ đến từ chính Wilson. Rò rỉ thông tin! Kravis phát ốm vì điều đó, và không muốn có thêm một giám đốc điều hành không biết giữ mồm giữ miệng. Khi Wilson rời đi, Kravis và Roberts nhanh chóng quyết định không hợp tác với ông ta. Sự nghiệp của Tylee Wilson với tư cách là một cố vấn cho Kohlberg Kravis kết thúc trước khi nó bắt đầu.[2]

-

Chiều thứ Năm, Peter Cohen chui vào chiếc limousine, và quay xe để đón Tom Strauss, họ sẽ đi lên khu vực phía trên thành phố để gặp Ted Forstmann. Salomon đã đồng ý tham gia với nhóm Shearson với tư cách là đối tác 50-50; chiều hôm đó sẽ có một thông báo về sự hợp tác này. Trên đường đi, Strauss kể về sự ngạc nhiên khiến anh thấy coi thường cuộc gọi của Kravis.

Họ được dẫn vào văn phòng của Forstmann, Cohen dạo quanh một vòng, xem bộ sưu tập ảnh nghệ thuật, ảnh gia đình và sách của Forstmann. Forstmann nhận ra Chủ tịch của Shearson đang thầm đánh giá nơi này. Cuộc gặp mặt được coi là cơ hội để kết bạn mới đã thất bại. Forstmann, đang nôn nóng được tham gia trận chiến, đã dành phần lớn thời gian để thuyết giảng chống lại Kravis. Strauss nghĩ Forstmann sẽ không bao giờ ngừng nguyền rủa Kravis.

Geoff Boisi cũng ở đó. Tom Hill đã nói cho Cohen về những nghi ngờ của mình với nhà kiến tạo giao dịch của Goldman: Hill cho rằng Boisi và người của anh ta đã thể hiện sự quan tâm - rất quan tâm - đến việc có được thông tin quan trọng về các công ty Nabisco. Hill không biết về những liên hệ của Boisi với công ty Procter & Gamble và các mối quan hệ khác nữa, nhưng ông nghi ngờ nhân viên ngân hàng Goldman có những lợi ích khác trong công việc hơn là chỉ làm cố vấn cho Forstmann. Hill cũng đã chỉ đạo người của mình không chia sẻ quá nhiều dữ liệu của họ với các đối tác ở Goldman.

Về phần mình, Cohen không đánh giá cao phong cách bắt nạt người khác của Boisi trong cuộc họp đầu tiên của họ vào hôm thứ Ba. Bây giờ, anh căn vặn nhân viên ngân hàng về công việc của ông với tư cách là cố vấn của Forstmann. Khi thấy Boisi có vẻ lập lờ nước đôi, Cohen nhận ra Hill có thể đúng, Boisi có thể tham gia vụ này chỉ để lấy thông tin, nhằm trợ giúp cho nhóm đấu thầu do Goldman đứng đầu. Cohen và Strauss rời văn phòng của Forstmann ngày hôm đó, và vô cùng nghi ngờ về động cơ của Geoff Boisi.

-

Sáng thứ Sáu, Boisi đọc tin tức khi tài xế của ông đang chạy xe chầm chậm trong tình trạng giao thông đông đúc ở Manhattan, trên đường từ nhà ông ở Long Island. Các báo có đầy đủ thông tin về một đối tác tuyệt vời là Salomon sẽ hợp tác với Shearson, nhưng không có một dòng nào đề cập đến Forstmann Little. Theo Boisi, sau thất bại của cuộc gặp vào tối thứ Ba đó, có nhiều bằng chứng cho thấy thân chủ của ông đang bị đối xử rất tệ.

Từ điện thoại trên xe hơi, ông quay số của Forstmann, đánh thức ông khỏi giấc ngủ ngon. Đã đến lúc cần nói chuyện với Cohen. “Chúng ta tốt nhất nên cho anh chàng này biết họ đã không đối xử với chúng ta đúng chừng mực,” ông nói với Forstmann. “Anh ta đang nhìn nhận ông với vai trò người cấp vốn. Anh ta sử dụng từ đối tác, nhưng không biết một đối tác nghĩa là gì. Đã đến lúc cho họ biết phải đối xử với một đối tác như thế nào.”

Cohen đang ở nhà, anh vừa mặc áo khoác và đi ra cửa trước thì chuông điện thoại reo. Anh chạy vào bếp, nhấc điện thoại, và ngay lập tức nghe thấy sự đanh thép trong giọng nói của Boisi. “Peter, Teddy không có việc gì để làm ở đây nữa,” ông nói. “Trừ khi sự việc bắt đầu đi đúng hướng, nếu không chúng tôi chỉ có thể ra đi… anh biết đấy, anh đang đánh mất ông ấy. Đừng ngồi đó nghĩ rằng ông ấy không có bất kỳ cơ hội nào nữa, bởi ông ấy có đấy. Chúng tôi hoàn toàn có khả năng giúp ông ấy.”

“Ông đang nói gì vậy?”

“Tôi đang nói rằng chúng tôi có nhiều cơ hội khác để lựa chọn nếu chúng tôi không thực hiện thỏa thuận cùng các anh.”

“Được rồi,” Cohen nói. “Ông có nhiều cơ hội lựa chọn ư? Điều đó có nghĩa là gì?”

Cohen biết chính xác điều đó có nghĩa là gì. Hill đã đúng: Goldman cũng muốn có được RJR Nabisco. Đối với Cohen, nhân viên ngân hàng Goldman này là dạng điệp viên, đang cố gắng luồn lách vào hàng ngũ chiến lược gia cấp cao của Shearson. Cohen, nói theo cách riêng của anh, “đã phát điên”.

“Nghe này, chúng tôi không cần ông,” anh nói với Boisi. “Chúng tôi không cần Teddy. Chúng tôi không cần bất cứ ai! Chúng ta cũng có thể đi theo con đường của riêng mình… chúng tôi đã chia sẻ tất cả dữ liệu và bí mật của mình với các ông. Bây giờ, ông đang nói với tôi rằng các ông có nhiều cơ hội khác để lựa chọn ư? Điều đó hoàn toàn trái ngược so với những gì các ông đã nói với chúng tôi cho đến hôm nay.”

Cohen gác máy, và biết đó không phải là lần cuối anh có những buổi trao đổi nóng mắt với nhân viên ngân hàng Goldman này. Cuối buổi sáng hôm đó, Cohen gọi cho Forstmann, ông có hẹn đến Shearson sau vài giờ nữa.

“Ông sẽ đưa ai đi cùng?” Cohen hỏi.

Forstmann kể tên em trai, Boisi và Steve Fearin, vị luật sư trông rất nghiêm nghị.

“Chúng ta có thể làm việc mà không có Boisi không?”

“Này, Peter, anh biết ông ấy là cố vấn của chúng tôi mà.”

“Được thôi. Nhưng tôi không cần nhận thêm bất kỳ cuộc gọi nào từ ông ta nữa. Tôi không thích cách ông ta nói chuyện.”

Cohen vẫn còn sôi sục khi nhóm Forstmann đến Shearson chiều hôm đó. Họ ngồi trong thư viện trang trí xa hoa. Cohen quay sang Boisi, và đi thẳng vào vấn đề. “Tôi muốn biết người của các ông đã ký thỏa thuận bảo mật thông tin chưa,” Cohen nói. “Ông có được tự do rời khỏi không? Mặt khác, tôi không biết làm thế nào ông có thể ngồi ở đây, trong căn phòng này với chúng tôi.”

Không, Boisi nói, cả Forstmann Little hay Goldman đều không ký bất kỳ thỏa thuận nào như vậy. Nhưng Boisi đảm bảo với Cohen rằng ông không có ý định tiết lộ bất kỳ bí mật nào của Shearson.

“Peter, tôi đã hứa sẽ bảo mật thông tin.”

“Tôi muốn nghe điều đó từ một luật sư.”

Boisi đổ thêm dầu vào lửa: “Peter, nói rõ xem nào. Lời tôi nói chưa đủ sao?”

Cohen quay sang Fearin, đang ngồi đối diện ghế của anh.

“Này, luật sư.”

Fearin đang ghi chép, dường như không nghe thấy anh nói.

“Này, luật sư. Tôi đang nói chuyện với anh đấy.”

Fearin chớp mắt qua cặp kính của giáo sư, ngước lên. Anh biết Cohen đang cố đe dọa anh. “Anh đang nói gì với tôi à? Anh hỏi gì vậy?”

“Thỏa thuận bảo mật có cho phép anh đưa ra đề nghị đấu thầu riêng với nhóm quản lý không?”

Fearin im lặng một lúc mới trả lời. Khi nói, giọng anh rất bình thản. “Tôi có hai câu trả lời. Đầu tiên, tôi không phải là luật sư của anh. Tôi không cho rằng mình sẽ cho anh một lời khuyên pháp lý. Câu hỏi đó anh nên hỏi luật sư riêng của mình. Hỏi Jack Nusbaum ấy. Anh ấy là một luật sư giỏi. Câu trả lời thứ hai là tôi đã khuyên khách hàng của mình, tất nhiên, họ có thể tự do theo đuổi một liên minh khác.”

Cohen không biểu lộ phản ứng gì. Một phút sau, anh xin lỗi và rời khỏi phòng.

Forstmann không thể tin vào cuộc trò chuyện này. “Ôi, luật sư?” Gã Cohen này nghĩ anh ta là ai chứ? Người đàn ông nhỏ bé, khó tính với cái điếu xì gà to tướng đó. Chuyên gia tâm thần chắc sẽ yêu mến anh ta.

Forstmann cho rằng Cohen rõ ràng đã nhầm lẫn. Forstmann Little đã ký một thỏa thuận bảo mật với RJR Nabisco, ngăn họ tiết lộ bất kỳ dữ liệu bí mật nào của công ty. Không có thỏa thuận như vậy với Shearson cũng như với bất kỳ thành viên nào trong nhóm quản lý. Hoặc sẽ cần có một bản như thế.

Cohen trở lại vài phút sau với một bộ bản sao của bản in từ máy tính. Đây là cách chúng tôi nghĩ rằng một đề nghị đấu thầu của Shearson-Salomon-Forstmann Little trông sẽ thế nào, Cohen nói, trao cho Forstmann một bản sao của tài liệu.

Forstmann nhìn lướt qua, nhưng những con số bên trong chẳng có ý nghĩa gì với ông. Ở khắp mọi nơi, ông đều nhìn thấy trái phiếu rác, trang này tiếp nối trang sau đều được trình bày tỉ mỉ. Ở đâu đó giữa các con số, ông nhìn thấy 3 tỷ đô-la của Forstmann Little bị kẹp giữa các lớp trái phiếu rác. Nó làm ông nổi da gà.

Và còn điều tệ hơn nữa. Rõ ràng, Forstmann Little sẽ không kiểm soát nhóm đấu thầu, và đề xuất của Shearson dường như có nhiều điều khoản nối tiếp nhau, mà mục đích duy nhất của họ là ngăn chặn điều đó xảy ra.

Cohen có thể thấy Forstmann không thích những gì ông đang đọc. “Ông đừng nghĩ đây là một đề xuất bất di bất dịch,” anh nói. “Chúng tôi sẵn sàng điều chỉnh nó theo bên ông một cách hoàn hảo.”

Forstmann lắc đầu. Điều này không được, ông nói. Ông đã cố gắng khiến Cohen hiểu rằng theo đường lối của Forstmann Little với các nhà đầu tư thì cuối cùng, công ty sẽ kiểm soát nhóm đấu thầu. Toàn bộ 37% trong mỗi thỏa thuận của Forstmann Little đã được hứa dành cho những người cho vay, 10-15% khác dành cho nhóm quản lý. Ngay cả khi họ chia nhau 53% còn lại, Forstmann và những người ủng hộ ông sẽ có quyền kiểm soát đa số. Quy định ngăn chặn điều này thật vô lý.

“Peter, đừng cáu, nhưng như thế này không được.”

“Được thôi, chúng tôi sẽ làm lại,” anh đứng dậy và rời khỏi phòng.

Khi Cohen rời đi, Forstmann quay sang Boisi. “Geoff, ta có thể làm gì? Chúng ta thậm chí không thể bàn về điều này. Ông không thể biến kẻ xấu thành người tốt được. Không có gì để thương lượng. Ông có hiểu không? Họ không hiểu điều đó.”

Bốn người họp kín với nhau. Họ nhất trí rằng có lẽ Forstmann nên đề xuất cấu trúc vốn của họ với Shearson. Forstmann nghĩ rằng đó là một ý tưởng tuyệt vời. Ngoài ra, ông đã kiệt sức sau nhiều giờ phân tích không ngừng nghỉ. Ông đứng dậy, và đi tìm Cohen. Ông thấy anh ta đang ở cuối phòng, nhai rào rạo một điếu xì gà trong phòng họp hội đồng dày đặc khói thuốc. Các luật sư và nhân viên ngân hàng đầu tư mặc áo sơ mi ngồi dọc theo các bức tường.

“Nghe này Peter, thế này là không thể,” Forstmann nói. “Tôi mệt rồi. Tôi sẽ trở lại phía trên thành phố. Ở đây, chúng tôi thậm chí không biết bắt đầu từ đâu. Hãy để chúng tôi sắp xếp lại mọi thứ rồi gửi nó cho anh.”

Cohen đồng ý.

Bên ngoài, Forstmann và Boisi leo lên hàng ghế sau trên chiếc Mercedes màu đen của Forstmann. Hai người đang mải trò chuyện khi chiếc xe bắt đầu đi vào đường cao tốc West Side. Đột nhiên, Boisi thấy đôi mắt của Forstmann mở to. Forstmann nhìn thấy chiếc xe đang đi tới, và muốn hét lên, Geoff, tránh đi! nhưng đã quá trễ. Chiếc Mercedes giật mạnh khi một chiếc xe lao vào đuôi phía sau bên trái.

Không ai bị thương trong vụ va chạm nhẹ này, nhưng người lái xe kia không có bảo hiểm. Họ phải chờ hàng giờ đến khi cảnh sát đến. Có vẻ như tuần này với Ted Forstmann không được may mắn.

-

John Gutfreund có chuyến đi xa đến Tây Ban Nha thành công, nhưng khi trở về New York thì thật khủng khiếp. Chuyến bay của ông đến Paris phải chuyển hướng vì thời tiết xấu. Ông đã có cơ hội hạ cánh ở Lyon nhưng bị từ chối. London đang chìm trong sương mù. Cuối cùng, máy bay hạ cánh ở Brussels. Gutfreund bắt được chuyến bay Sabena 130 đến New York, máy bay hạ cánh tại sân bay quốc tế Kennedy lúc 6 giờ kém vài phút.

Mặc quần chùng bằng vải nhung và áo thể thao, Gutfreund lên chiếc máy bay trực thăng do Shearson sắp xếp, và đến trụ sở của Salomon ở khu hạ Phố Wall trong 15 phút, ở đó, ông vào phòng họp và gặp hai cố vấn, Peter Darrow, luật sư lâu năm của ông, có dáng người cao lêu ngêu, và Mike Zimmerman, một nhân viên ngân hàng đầu tư của Salomon, ăn nói rất lưu loát. Trong tay họ là bản sao thỏa thuận quản lý của Johnson.

“Ông sẽ không bao giờ tin điều này,” Zimmerman nói.

Gutfreund lấy một bản sao và đọc. Ông giật mình. Thỏa thuận này béo bở hơn nhiều so với những gì Cohen đã nói bóng gió. Nếu diễn giải chính xác thì nhóm bảy người của Johnson sẽ được hưởng 1 tỷ đô-la, có thể nhiều hơn, miễn phí. Darrow cùng Gutfreund kiểm tra từng điểm của thỏa thuận. Họ nhận ra một điều quan trọng là họ đã tự đưa mình vào vụ này.

Nửa giờ sau khi đến Shearson, Gutfreund chẳng chần chừ đưa ngay bản thỏa thuận quản lý ra nói với Cohen. “Tôi sắp có một đống những khó khăn, và vì ta cùng chung một thuyền, chúng ta sẽ có một đống khó khăn, trừ khi gói thỏa thuận đó có thể giảm bớt điều khoản đi,” Gutfreund nói. “Peter, thật không thỏa đáng

“John, tôi hứa với anh rằng nó sẽ được xử lý,” Cohen nói. Nhưng, anh nói thêm, việc sửa đổi thỏa thuận sẽ chẳng có nghĩa lý gì cho đến khi họ hiểu rõ hơn về mức độ tăng lên của giá thầu.

Thấy nhẹ lòng, Gutfreund đồng ý. Phải đợi thôi.

Các nhân viên ngân hàng bên nhóm của Shearson và Salomon làm việc đến đêm muộn hôm thứ Sáu và cả ngày thứ Bảy. Cả hai công ty đã phải huy động các nhân viên giao dịch và nhân viên bán hàng ở London và Tokyo trong cuộc tranh giành để có được những cam kết tài trợ vốn từ một loạt các ngân hàng nước ngoài. Một nhóm khác do Jim Stern dẫn đầu đã cố gắng xây dựng một cấu trúc vốn thỏa hiệp để Forstmann có thể chấp nhận.

Cohen gần như dành cả ngày thứ Bảy để tìm Forstmann. Anh gọi đến văn phòng và gọi về nhà. Forstmann đã ở đó vào bữa trưa; sau đó ra ngoài cả buổi chiều. Cohen biết ông ta đã nhận được tin nhắn. Cả tuần, Forstmann cứ bắt anh phải nhanh hơn, luôn giục phải nhanh hơn nữa. Bây giờ, khi anh cần ông ta nhất thì lại chẳng tìm thấy đâu. Cohen đoán Forstmann đang cố gắng chơi trò đảo ngược tâm lý để khiến người khác chú ý đến mình.

“Bây giờ, ông ta đang cố tỏ ra dễ thương,” Cohen nói với Tom Strauss.

-

Khi các tin nhắn điện thoại từ Cohen chồng đống, Forstmann lờ chúng đi. Ông đã có bữa trưa kéo dài, và buổi chiều hôm đó chơi tennis ở bên kia sông Đông tại quận Queens. Khi chạy trên sân, ông vẫn suy ngẫm về Cohen và RJR Nabisco. Ông không thoải mái với cách thức thỏa thuận đang tiến hành. Tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ từ bỏ. Chúng ta đang lãng phí quá nhiều thời gian. Anh nghĩ Kravis cũng đang lãng phí thời gian của mình ư? Chúng ta phải nhanh lên!

Khi rời khỏi sân, Forstmann không thể rũ bỏ được cảm giác đã làm ông đau khổ suốt ba ngày nay. Càng muốn đánh bại Kravis bao nhiêu, ông càng cảm thấy thỏa thuận này không giống kiểu của Forstmann Little. Cảm giác này là đúng.

Về đến căn hộ của mình, Forstmann nghe thấy tiếng chuông điện thoại.

“Tôi đã cố gắng tìm ông.”

Giọng nói của Cohen ngay lập tức thể hiện anh ta đang cáu. Cohen đang nói gì đó, nhưng Forstmann không nghe. Tôi không muốn cùng chung thuyền với một gã thế này. Tôi không thích gã. Tại sao anh ta không thể giống Jim Robinson hơn? Mày đang cố gắng biến một ả gái điếm thành một cô gái trong mơ ư, Forstmann tự nói với mình, và sẽ chẳng có tác dụng gì đâu.

“Peter, tôi đã nhận được tin nhắn của anh,” Forstmann nói, “nhưng tôi bận ở bên ngoài cả ngày.”

Cohen xin lỗi vì sự hiểu lầm. “Tôi có một số tin tốt cho ông,” anh nói. “Tôi đang ở nhà của Tommy Strauss. Tôi đã nghĩ ra cách thực sự phù hợp với nguyên tắc của ông. Chúng ta có thể làm theo cách này. Tôi biết chúng ta có thể.” Cohen và Strauss ào vào nhà vị giám đốc điều hành của Salomon ở Armonk, New York, ở đó đang diễn ra một bữa tiệc tối không chính thức, và Cohen đã lẻn ra ngoài gọi điện cho Forstmann.

Forstmann nghe thấy tiếng chó sủa, và trẻ con cười rúc rích trong điện thoại. Ông nghe thấy ai đó, có thể là Cohen, nói đùa: “Hãy đưa con chó đó ra khỏi đây.”

Ngay lúc này, Forstmann bắt đầu thấy thích Cohen, tự trừng phạt bản thân vì đã phán xét gay gắt nhà điều hành của Shearson. Giờ có vẻ giống hơn rồi, Forstmann nghĩ. Chó và trẻ em. Điều này là tốt, đây giống như một gia đình. Điều này giống Forstmann Little hơn rồi.

Cohen phác thảo cấu trúc vốn mới cho Forstmann. Salomon và Shearson mỗi bên sẽ đóng góp 25% vốn chủ sở hữu của nhóm. Forstmann Little sẽ đóng góp 50% còn lại. Quyền kiểm soát công ty sẽ được chia theo cùng một cách, trong đó Forstmann Little chiếm một nửa. Đề xuất này hạ thấp vai trò của trái phiếu rác trong đề xuất trước đó, và hứa hẹn cho Forstmann Little tiếng nói lớn hơn trong nhóm quản lý tương lai của RJR. Một vấn đề khác không kém phần quan trọng là Forstmann Little sẽ phải chịu trách nhiệm về nợ ưu tiên trả trước, không phải là nợ ưu tiên trả sau, với khác biệt về thời gian gần bằng thời hạn thanh toán thẻ American Express và nợ trả ngay IOU[3].

“Thế nào, Ted?” Cohen hỏi.

Forstmann thực sự ngạc nhiên. “Peter, thật là một bước tiến lớn,” ông nói. “Thật là tuyệt vời.”

“Hãy gặp nhau vào ngày mai đi,” Cohen nói.

Cả đêm đó, người của Forstmann phân tích đề xuất của Cohen. Họ đồng ý rằng trông nó có vẻ hứa hẹn. Forstmann tìm được Boisi tại một bữa tiệc tối ở Long Island sau nửa đêm, và hào hứng truyền đạt lại thông tin.

Tối đó, cộng sự của Forstmann, Brian Little, về đến San Francisco sau kỳ nghỉ ở Viễn Đông. Little theo dõi sát sao các diễn biến ở RJR Nabisco tại các điểm dừng ở Hong Kong, Thái Lan và Bali. Ngay sau khi máy bay hạ cánh, ông đã nói chuyện điện thoại với Forstmann, và được thông báo nội dung các cuộc đàm phán với Cohen.

Little ngay lập tức không thích ý tưởng hợp tác với Shearson. “Chà,” ông nói, “vụ này rất khác so với bất cứ vụ nào ta đã làm trước đây, khi làm với những người này.”

Sự e dè của Little về việc hợp tác này còn lớn hơn sự e dè với bảng cân đối kế toán. Ông đã biết Cohen cả chục năm nay. Hai người có nhà nghỉ cuối tuần gần nhau ở Hamptons. Little nghĩ Cohen đại diện cho điều tồi tệ nhất ở Phố Wall, một kẻ trơ tráo, quá tham lam các khoản phí. Ông thấy mình đang hợp tác với một kẻ đáng ghê tởm.

“Teddy,” Little nói, “gã đó là một kẻ côn đồ.”

Forstmann đảm bảo với ông rằng thỏa thuận mà họ đang xem xét sẽ giống kiểu “thỏa thuận của Forstmann Little”. Nhưng Little vẫn không thấy hào hứng với mối quan hệ hợp tác này, trước khi gác máy, ông nhằm vào Cohen nói lời lăng mạ cuối cùng mà một cộng sự của Forstmann Little có thể nói ra: “Tôi thà hợp tác với Henry Kravis còn hơn.”

-

Hầu hết các công ty Mỹ đều thuê người phát ngôn, và người này được trả tiền để nhắc lại y chang đường lối của công ty, cho dù đó là phát ngôn về chất thải độc hại hay cổ tức hằng quý. Đối với các phóng viên, họ được biết đến với cái tên nhạo báng là “hỏa lực phòng không”, và nhiệm vụ chính của họ bao gồm cả việc rêu rao các thông cáo báo chí. Nhưng ở Phố Wall, luôn có những tin đồn và thông tin nội bộ, nên một số chuyên gia về quan hệ công chúng có sức ảnh hưởng đáng kể. Vai trò của họ tăng lên là điều dễ hiểu: Khi các trang báo kinh doanh dành nhiều chỗ hơn để đăng bài về các trận chiến tiếp quản lớn của thập niên 1980, tầm quan trọng của việc thao túng các trang báo này cũng tăng lên. Vào những năm cuối của thập kỷ, mỗi bên khi tham gia vào một vụ tiếp quản thường thuê một công ty quan hệ công chúng để làm việc bên cạnh các nhân viên ngân hàng đầu tư và luật sư.

Trong nhiều năm, quan hệ công chúng ở Phố Wall bị chi phối bởi một công ty duy nhất, Kekst & Co., và người sáng lập công ty là Gershon Kekst, một người có quan hệ rất rộng. Người ta có thể thấy phát ngôn viên của Kekst có mặt trong mọi cuộc tiếp quản lớn, lan truyền những tin đồn nhắm vào kẻ thù hiện tại, đồng thời đưa ra các thông cáo báo chí chính thức theo thông lệ. Chính Gershon Kekst đã khuyên Kohlberg Kravis nên cố gắng đứng ngoài các tiêu đề báo chí trong gần một thập kỷ.

Sau đó, vào cuối những năm 1980, một đối thủ đáng gờm đầu tiên xuất hiện, đe dọa sự thống trị của Kekst trong nhiều năm. Linda Robinson là “hỏa lực” không phải hạng xoàng. Cô có dáng người cao ráo, liễu yếu đào tơ với mái tóc có màu vàng pha đỏ, nụ cười thể hiện sự hiểu biết, có lịch làm việc dày đặc mà chỉ nhìn thôi đã thấy mệt mỏi và tất nhiên, cô rất được yêu quý vì tài ăn nói. Cô lớn lên ở California, là con gái của nam diễn viên thủ vai Amos trong sê-ri kịch nổi tiếng thế giới phát trên đài phát thanh những năm 1940. Cô từng là cô gái mới lớn đã bước vào hôn nhân, và những năm 1970, cô phải trải qua những nhọc nhằn của hôn nhân thất bại, đồng thời phải làm rất nhiều công việc, kể cả làm việc ở một phòng châm cứu.

Là người ủng hộ cực đoan cho Đảng Cộng hòa, cô từng là phó thư ký báo chí cho chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1980 của Ronald Reagan. Sau đó, cô đến làm cho một công ty do cựu Bộ trưởng Giao thông, Drew Lewis, điều hành, ở đây, cô gặp và kết hôn với Jim Robinson. Sau khi cô thành lập công ty riêng ở New York cùng một nhóm bạn, Linda Robinson bắt đầu thể hiện công khai và thường xuyên tình cảm dành cho chồng. “Anh ấy không dễ thương sao?” Cô hỏi một nữ phóng viên, khăng khăng rằng người phụ nữ đó đã mơn trớn bắp tay của Jim Robinson.

Chẳng mấy chốc, cô trở nên có ảnh hưởng, khiến mọi người phải dè chừng, mặc dù cô sẵn sàng nhảy dựng lên với bất kỳ ý kiến nào cho rằng cô được như vậy vì là vợ của Jim Robinson. Cô là cố vấn cho Fexaco trong cuộc chiến kéo dài với Carl Icahn và Michael Milken của Drexel. Bạn bè của cô có Tom Brokaw, Diane Sawyer và Barbara Walters, những nhân vật nổi tiếng trong ngành truyền hình. Sự kiện cô tham dự đám cưới của tổng biên tập tờ Wall Street Journal đã được các nhân viên của tờ báo ghi lại. “Ở tuổi 35,” bài đăng trên trang nhất của tờ Journal năm 1988 viết, “cô ấy có vẻ như đã sẵn sàng dùng ảnh hưởng phía sau hậu trường, theo cách mà một số ít các luật sư giỏi và những nhà tạo dựng hình ảnh thường xuyên làm.”

Ross Johnson đã thuê cô vài giờ sau thông báo ban đầu về vụ LBO của lão. Linda Robinson thấy sự lộn xộn trong nỗ lực quan hệ công chúng của người bạn già. Không có chủ đề, không có vần điệu, không có lý do. Sau khi nhận nhiệm vụ, cô dành cả tuần đầu tiên để đối phó với các cuộc gọi thù địch. Là người phát ngôn chính cho nhóm quản lý của Johnson, cô liên tục nghe điện thoại, công bố thông tin nội bộ cho các phóng viên.

Phong cách làm việc của cô nhanh chóng khác xa so với Bob Baker của bang South Carolina có văn phong chau chuốt, và là chuyên gia quan hệ công chúng cấp cao của Salomon Brothers. Baker nghĩ rằng Linda Robinson nói quá nhiều. Ông phản đối một bài báo đăng trên tờ The New York Times. Trong đó, Robinson có bản mô tả sơ lược Cohen và các nhân vật khác của Phố Wall liên quan đến những thỏa thuận của RJR và Philip Morris. “Ta chỉ làm điều này khi thỏa thuận kết thúc,” Baker nhấn mạnh. “Linda à, trông họ như một lũ ngớ ngẩn chết tiệt đầy tham vọng.”

Chuyện xảy ra khi Baker nghi ngờ Robinson đang âm mưu để Cohen xuất hiện trong chương trình tin tức sáng Chủ nhật có tên “This Week with David Brinkley” (Tuần này với David Brinkley). Người phát ngôn của Salomon đã cố gắng thu hút sự chú ý đến các nhà kiến tạo thỏa thuận của công ty mình, và sắp xếp để Ron Freeman của Salomon xuất hiện cùng Ted Forstmann, đồng thời không muốn Cohen thay thế người của mình.

“Linda, chúng tôi đang phải chiều theo ý cô vì cô làm việc cho nhóm quản lý,” Baker nói. “Tôi không có ý chỉ trích cô khi nói rằng vì cô ngủ với Chủ tịch American Express, nên cô sẽ nghiêng về lợi ích của Shearson. Nhìn bề ngoài, có vẻ như sẽ có sự xung đột lợi ích ở đây. Tôi không có ý đó. Đây không phải là một sự đe dọa. Chỉ cần nhớ rằng, có một cuộc sống khác sau thỏa thuận này.”

Dù suýt nổi nóng với Baker, nhưng Linda Robinson vẫn cố gắng tránh lãng phí thời gian vào những cuộc cãi vã tốn công vô ích. Cô còn có nhiều điều đáng quan tâm hơn. Vợ chồng Robinson có một cuộc sống xã hội bận rộn gồm vô số các cuộc hội hè chính thức thuộc đủ loại chủ đề; cô nói đùa rằng cứ hai tuần, họ sẽ cố gắng dành một đêm rưỡi ở nhà cùng nhau. Trong số những người bạn thân hơn của Robinson có vợ chồng Henry Kravis. Hai cặp đôi cùng ở Connecticut, cách nhau chỉ 20 phút chạy xe, và Linda đang cố gắng khiến Kravis hứng thú với việc kinh doanh các giống ngựa thuần chủng. Cả hai vừa cùng nhau mua con ngựa đầu tiên. Họ đã đặt tên cho nó là Trillion, mặc dù trong vài tuần tới Kravis sẽ đặt cho nó biệt danh Cookie Crumbled (Bánh quy vỡ vụn).

Ngay từ đầu, khi Kravis tuyên bố tham gia đấu thầu, Linda Robinson đã âm thầm vận động anh hợp tác với Johnson. “Linda luôn có cử chỉ thân mật với Henry,” một trong những trợ lý của Kravis nói. “Anh phải hiểu những người này. Họ đều muốn làm bạn với nhau. Henry bắt đầu nhận được các cuộc gọi từ Linda mỗi ngày. Và anh bắt đầu nói chuyện với cô ấy. Cô ấy đang chơi trò mai mối.”

Các cuộc trò chuyện của Linda Robinson với Kravis là một bí mật được bảo vệ chặt chẽ. Ngoài chồng cô và Johnson, chỉ có Steve Goldstone biết về điều này. Goldstone thấy lo ngại: Thật lạ là khi các cuộc công kích trên Phố Wall luôn sẵn sàng chĩa vào họ, liệu có khôn ngoan khi người phụ trách quan hệ công chúng lại là mối liên hệ chính với Kravis?”

“Linda, cô nên cẩn thận,” đã có lúc Goldstone bạo gan nói, “cô không cần thiết phải nói bất cứ điều gì mà không có sự đồng ý trước của nhóm.”

Linda Robinson nói vị luật sư đừng lo lắng. Cô biết mình đang làm gì.

-

Ron Freeman của Salomon là một nhân viên ngân hàng đầu tư kỳ cựu nhưng không có chuyên môn về LBO, ông đã tái mặt và lo lắng khi Sam Donaldson có ý định công kích trong chương trình truyền hình vào sáng Chủ nhật.

“Hãy nói về phạm trù đạo đức, nếu các vị muốn, về những gì đang xảy ra với LBO hiện nay,” Donaldson bày tỏ quan điểm. “Trước đây, các công ty được xây dựng với mục đích tạo ra của cải, sự thịnh vượng và họ thuê người làm việc, kiếm tiền cho các cổ đông… Bây giờ, rất nhiều người tham gia vào ngành kinh doanh này chỉ đơn giản là nhằm mục đích phá vỡ các công ty để kiếm được nhiều tiền nhất có thể rồi chuồn mất tăm. Đó có phải là đạo đức không?”

“Tôi nghĩ đó không phải là cách duy nhất để mô tả hiện tượng LBO,” Freeman đáp lại. “Tái cấu trúc doanh nghiệp xảy ra ở nhiều mức độ, và có những sự khác biệt lớn. Ví dụ, một số tập đoàn lớn nhất và nổi tiếng nhất ở Mỹ đã tự tái cấu trúc, và sau đó thành công đáng kinh ngạc. Atlantic Richfield là một ví dụ điển hình về điều đó. Một ví dụ khác là AT&T. Các trường hợp cực đoan chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ phong trào tái cấu trúc nói chung.”

“Tôi đồng ý đó không phải là bản mô tả duy nhất,” Donaldson nói. “Nhưng chắc chắn có những trường hợp người ta sẽ nói trước rằng: ‘Chúng tôi sẽ can thiệp và chia nhỏ công ty đó, sẽ có giá hơn nếu tách công ty ra thành những phần riêng biệt so với khi tập hợp chúng lại với nhau, chúng ta sẽ bán các công ty con đó, lấy tiền và cao chạy xa bay’, Ngài Forstmann, như vậy có tốt không?”

Điều kiện duy nhất của Forstmann khi xuất hiện trên chương trình của Brinkley là ông sẽ không nói về thỏa thuận RJR Nabisco. Dù sự quan tâm của ông với vụ này đã được công bố trên các báo, nhưng không ai ngoài những người tham gia cuộc trò chuyện này biết ông tham gia sâu đến mức nào.”

“Vâng, đôi khi điều đó cũng tốt, nên làm,” Forstmann nói. “Làm vậy không phải lúc nào cũng xấu.”

“Thế còn các công nhân thì sao, ngài Forstmann?”

“Vâng, họ…”

“Họ sẽ ra sao, dù sao ta cũng nên biết? Ý tôi là nếu họ mất việc làm.”

“Không, đó không phải là vấn đề,” Forstmann nói. “Một lần nữa, trong bài báo của tôi, tôi đã nói rằng nếu không có nguyên tắc, công nhân sẽ là một trong những nhóm có thể phải gánh chịu hậu quả. Nguyên tắc đầu tư là cụm từ mà ta phải quay lại và bàn nhiều về nó. Ban đầu, những người có ý tưởng đổi mới, tôi là một trong số đó, có rất nhiều nguyên tắc… Điều gì đã xảy ra khi có những kẻ bắt chước, hàng trăm kẻ như vậy tham gia vào công việc kinh doanh này, và khi những kẻ bắt chước đó kéo đến với số lượng lớn, các nguyên tắc đó sẽ bị xói mòn, kết quả là những sự đổ vỡ không đáng có đã xảy ra.”

“Tôi không đổ lỗi cho các vị,” ngừng một lát, Donaldson nói, “tôi đoán là mình đang đổ lỗi cho những kẻ bắt chước mà ông đang nói đến. Bây giờ, hãy giải thích tại sao họ có thể có cơ hội mà không có quy định nào?”

“Hiện tại, tôi không nghĩ đó là một cơ hội. Nếu có nhiều thời gian hơn, và chúng ta có thể đi sâu hơn về vấn đề này… Điều sai trái ở đây là mọi người đã tạo ra một nguồn tiền mới thường được gọi là trái phiếu rác…”

Sau khi ghi hình, Forstmann nói Freeman trở về căn hộ của mình, và hai người xem lại chương trình trên tivi. Freeman gọi mẹ vợ ông. “Cái ông ngồi cùng con trông thật dễ thương,” bà nói với nhân viên ngân hàng Salomon. “Ông ấy có phải là người Do Thái không?”

Bên cốc cà phê, Forstmann đề cập đến RJR Nabisco. Sự nhiệt tình của ông vào đêm hôm trước đã bắt đầu nguội lạnh dần. “Ron, tôi không biết chúng ta có thể hợp tác không. Việc các anh đang làm thật sai trái. Tất cả từ trái phiếu rác, cổ phiếu ưu đãi PIK và trái phiếu không nhận trái tức Zero, tất cả mọi thứ. Thật điên rồ. Thỏa thuận với Johnson là cái gì vậy?”

“Thật sự, tôi cũng không biết,” Freeman nói. “Chúng tôi thực sự không có quyền kiểm soát. Chúng tôi là những đối tác thầm lặng.”

“Phải, đây là thỏa thuận lớn nhất mọi thời đại. Và Kravis sẽ giành được nó.”

-

Do vụ đâm xe trên đường cao tốc, Forstmann đến trễ một tiếng so với lịch hẹn ở Shearson chiều hôm đó, cùng đi có em trai ông, Nick, và Steve Fearin. Bộ ba được hộ tống đi qua chỗ các nhóm nhân viên ngân hàng đầu tư đang nhốn nháo qua lại và vào phòng họp, ở đó họ gặp Peter Cohen và John Gutfreund. Forstmann đã khéo léo để Boisi ở nhà.

Khi cuộc họp bắt đầu, Forstmann không biết liệu cuộc đàm phán hôm nay có kết thúc bằng một thỏa thuận chung để cùng đánh bại Kravis không, hay ông sẽ nhận được tấm vé một chiều và ra khỏi thỏa thuận. Chỉ trong vài phút, bức tranh đã hiển hiện rõ ràng.

“Trước tiên, tôi muốn nói rằng tối qua tôi đã nói nhầm,” Cohen bắt đầu cuộc họp. “Tôi đã có một chút nhầm lẫn. Tôi sẽ nói với các vị các điều khoản chính xác ngay bây giờ.”

Cohen đưa ra cấu trúc vốn theo đề xuất của Shearson. Nó không giống như những gì anh đã đề nghị vào tối hôm trước. Trong đó có điều khoản, Forstmann Little sẽ gánh nợ ưu tiên trả sau không phải ưu tiên trả trước. Những thay đổi này rất quan trọng. Forstmann tin rằng Cohen đã không cố tình đánh lừa ông, không ai làm như vậy, và chuyện xảy ra là do thiếu kinh nghiệm.

“Vâng, Peter, điều này rất khác so với những gì chúng ta đã nói tối qua,” Forstmann nói khi Cohen kết thúc. “Tôi không cho là anh đã nhầm lẫn. Chỉ có điều nó rất khác.”

“Vâng, tôi biết.”

Ted Forstmann hình dung đó là một sự điều chỉnh, nhưng trong thâm tâm ông ngờ rằng đó là cọng rơm cuối cùng. Tuy nhiên, Forstmann thấy mình vẫn lắng nghe, khi Cohen lần đầu tiên nêu lên các chi tiết cụ thể của thỏa thuận quản lý. Như Cohen đã giải thích, mỗi bên dường như đều có quyền phủ quyết đối với mọi thứ mà các bên khác làm. Nếu ông nghe chính xác, thì Johnson và nhóm quản lý trên thực tế có thể phủ quyết quyết định sa thải họ.

Điều này thật điên rồ, Forstmann nghĩ. Những kẻ nghiệp dư nhất mọi thời đại này đang chơi trong giải đấu World Series. Họ đang đầu tư hàng tỷ đô-la, và thậm chí họ không thể loại bỏ nhóm quản lý. Họ còn thực sự nghĩ rằng mình cũng sẽ làm như vậy.

Khi Cohen kết thúc, có một khoảnh khắc im lặng. “Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể làm tốt hơn rất nhiều.” Gutfreund nói: “Chỉ có điều chúng ta đang ở đâu trong thỏa thuận này.”

Chủ tịch Salomon quay sang Fearin. “Anh nghĩ thế nào, Steve?”

Fearin nghĩ Gutfreund và Cohen không biết thỏa thuận của họ với Johnson sẽ như thế nào dưới con mắt người ngoài. Họ đã không tính đến bức tranh tổng thể. “Với quy mô của thỏa thuận này,” Fearin nói: “Tôi nghĩ sẽ có sự quan tâm lớn từ giới chính trị gia và quốc hội. Tôi nghĩ rằng phản ứng của họ sẽ có ảnh hưởng đến mọi tổ chức đang có mặt trong căn phòng này. Và tôi nghĩ chúng ta nên ghi nhớ điều đó.”

Anh nói tiếp: “Theo tính toán của tôi, hợp đồng quản lý này trị giá khoảng 2 tỷ đô-la. Có đúng không?”

“Không, không phải chứ,” Forstmann cắt ngang. “Điều đó không đúng.” Ý của ông là: Điều đó không thể đúng.

“Tôi nghĩ con số đó là đúng,” Fearin nói.

Gutfreund nhìn quanh phòng. “Có đúng không?”

Họ cùng tính toán dựa trên các con số được đưa ra. Nếu tất cả các ưu đãi được đáp ứng, trị giá của thỏa thuận có thể lên tới 1,9 tỷ đô-la.

“Điều đó chắc chắn sẽ mang đến khoản lợi lớn cho nhóm quản lý,” Fearin đánh giá.

Họ đồng ý, đúng là như vậy. Cohen nhấn mạnh một lần nữa rằng thỏa thuận sẽ phải được làm lại.

“Hãy nói về các khoản phí,” Ted Forstmann nói.

Gutfreund cười thầm. “Chúng tôi biết Teddy sẽ hỏi về điều này.”

Cohen bắt đầu đọc. Đầu tiên là một khoản phí thành công. Shearson và Salomon sẽ nhận được 120 triệu đô-la nếu vụ tiếp quản thành công. Tiếp đến là một khoản phí 5% được trả cho tất cả các bên góp vốn chủ sở hữu.

“Cái đó để làm gì?” Forstmann hỏi.

“Ồ, bên anh được nhận một phần trong đó,” Cohen nói.

“Ồ,” Forstmann nói.

Shearson dự tính khoảng 103 triệu đô-la tiền phí để bán đấu giá tài sản của RJR Nabisco hậu LBO. Có một khoản phí trị giá 23 triệu đô-la cho cam kết trả nợ thứ cấp. Forstmann Little sẽ nhận được khoản phí 30 triệu đô-la cho phần của họ trong thanh toán nợ thứ cấp.

Forstmann nghĩ rằng danh sách sẽ còn dài mãi. Ông đặt câu hỏi nhưng chỉ giả vờ viết ra câu trả lời. Bên nhóm của ông, Fearin có một số câu hỏi dành cho Cohen.

“Bên anh sẽ thu được lợi ích gì khi phát hành trái phiếu rác để có được các khoản vay bắc cầu?”

“Ồ, vâng,” Cohen nói, “chúng tôi nhận được một khoản phí 3,5% cho việc đó. Khoảng 425 triệu đô-la.”

Fearin thấy anh em Forstmann nhìn nhau với ánh mắt ngơ ngác. “Có phí vay bắc cầu à?” Fearin hỏi. Ông biết nhiều tỷ đô-la tiền vay bắc cầu không được miễn phí.

Cohen gật đầu.

“Khoản phí đó là cái quái gì vậy?” Forstmann hỏi.

Jim Stern đang đứng ở góc phòng. Giám đốc bộ phận trái phiếu rác của Shearson trông như thể anh đã có cả tuần không được ngủ. “Nếu ông muốn mạo hiểm với 1,5 tỷ đô-la,” anh nói, “thì chúng tôi rất vui mừng để ông gánh vác nó.”

Forstmann không thể không nhận thấy sự mỉa mai. Ông trừng mắt nhìn Stern.

“Tôi không biết anh là ai, nhưng Peter, người này là ai vậy?” Forstmann giận đến tái mặt. “Có lẽ anh không biết tôi là ai,” ông nói với Stern. “Tuy nhiên, anh đang nói về việc chấp nhận rủi ro bảo lãnh phát hành 1,5 tỷ đô-la. Còn tôi đang nói về việc đầu tư 3 tỷ đô-la vô thời hạn.” Sự tức giận của Forstmann đang tăng lên, và không ai trong phòng muốn để ông bắt đầu nói về bài xã luận.

Cohen liền can thiệp. Chỉ vào Stern, anh nói với Forstmann: “Ông có muốn anh ta rời khỏi phòng không?”

Forstmann nghĩ Cohen có vẻ giống một bố già mafia. “Không,” ông nói. “Anh ta có thể ở lại.”

Cuộc thảo luận về các khoản phí được nối lại. Fearin hỏi tiếp: “Thế còn các khoản phí ngân hàng thì sao?”

“Vâng, tất nhiên,” Cohen nói. “Có phí ngân hàng.” Shearson thừa nhận được thanh toán một khoản phí 2,5% cho ngân hàng đầu tư của họ, khoảng 375 triệu đô-la.

“2,5%?” Nick Forstmann tròn mắt nhìn anh trai mình.

“2,5% ” Fearin lặp lại. “Nghe có vẻ nhiều tiền đấy.”

Cohen vẫn chưa nói xong. “Và chúng tôi ước tính 75 triệu đô-la cho các khoản phí pháp lý.” Anh quay sang Fearin. “Tôi đoán rằng anh thực sự muốn nghiên cứu kỹ thỏa thuận này.”

“Chà,” Fearin nói, “đó không phải là cách làm của tôi.”

Đến lúc này, Nick Forstmann tạm dừng quá trình tra hỏi. “Đợi đã. Đợi một chút,” anh nói. “Peter, chúng ta đang chi tiêu thế nào cho công ty này? Tôi không hiểu điều này. Nếu tôi tính toán đúng, có vẻ như anh đang vay quá nhiều tiền.”

Khi Nick Forstmann kiểm tra các con số, anh thấy chúng không hợp lý. Nếu anh nghe đúng, Shearson đề nghị huy động 19 tỷ đô-la sau khi các bên đã góp vốn. Nhưng dường như chỉ cần 16,5 tỷ đô-la để mua RJR Nabisco. Có vẻ như họ đang huy động nhiều tiền hơn mức cần thiết đến 2,5 tỷ đô-la, quá nhiều, Nick Forstmann nói. “Tại sao chúng ta lại làm vậy?”

“Điều đó có đúng không?” John Gutfreund hỏi.

Nick Forstmann liếc qua Steve Fearin. Anh không cần nói gì nữa. Những người này có biết họ đang làm gì không?

Họ nghỉ một lát. Nick Forstmann lui về một phòng họp để tính toán cùng hàng tá nhân viên ngân hàng của Shearson và Salomon. Anh trai của anh và Fearin họp kín với nhau trong một phòng họp bên ngoài phòng họp lớn. Đối với Fearin, rõ ràng bài phát biểu của Cohen cho thấy thỏa thuận này là không thể thực hiện.

Fearin trở về phòng họp lớn một mình. “Nghe này, Teddy có thể muốn xem xét lại một số khía cạnh, bao gồm các khoản phí, cơ cấu vốn, thỏa thuận với Ross Johnson và các vấn đề quản trị.”

Nói tóm lại, mọi thứ.

“Tôi cũng lo ngại hơn về cổ phiếu ưu đãi PIK, mà anh cũng biết ông ấy chưa bao giờ sử dụng nó.”

“Được thôi,” Cohen nói.

Sau khi Cohen và Tom Hill trình bày thêm về chiến lược của họ, những người bên Forstmann đi ra ngoài, leo lên chiếc xe đang chờ của họ. Fearin hỏi oang oang bước tiếp theo của họ là gì.

Ted Forstmann nói: “Hãy đi lên khu trên, gọi Boisi và nói cho ông ấy biết chúng ta đang ở đâu.”

“Chúng ta đang ở đâu?” Fearin hỏi.

“Anh biết chúng ta đang ở đâu mà, Steve,” Forstmann nói. “Chúng ta ra ngoài rồi.”

[1] Forstmann phủ nhận việc cố gắng đánh lừa Kravis bằng cách đi sai thang máy. (TG)

[2] Wilson phủ nhận là nguồn gốc của vụ rò rỉ. (TG)

[3] Giấy chứng minh vay mượn không chính thức do người nợ cấp cho chủ nợ, viết tắt của từ I owe you. (BTV)

HoHoàng Thị Ngọc dịch • Barbarians at the gate •
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.