Sáng hôm sau, Johnson dậy sớm, ký ức về cuộc họp hội đồng quản trị đêm thứ Tư vẫn còn mới nguyên trong tâm trí lão. Hôm nay, lão có lịch trình họp với Ủy ban lương thưởng ở trụ sở lúc 8 giờ, sau đó là một cuộc họp với toàn thể hội đồng quản trị. Theo dự kiến, thông cáo báo chí về kế hoạch LBO sẽ được công bố lúc 9 giờ 30 phút. Khi đọc những bài viết về mình trên các báo buổi sáng, Johnson cứ cười khúc khích mãi không thôi. Trang nhất mảng kinh doanh của tờ Constitution Atlanta, có một bài báo mang tiêu đề “Các nhà phân tích nói có thể RJR sẽ không tham gia vào bất kỳ vụ sáp nhập nào.”
Tờ báo kết luận RJR Nabisco sẽ vẫn đứng bên lề trong những vụ tiếp quản mới nhất của ngành công nghiệp thực phẩm. Trong khi Philip Morris đang trong cuộc đua tiếp quản Kraft, Grand Metropolitan cũng đã phát động chiến dịch mua thù địch với Pillsbury. “Trời ạ,” Johnson nói với vợ, “chắc chắn họ lại muốn thăm dò điều gì đây.”
Trước khi rời khỏi nhà, lão nhận được một cuộc gọi chúc mừng từ Ronnie Grierson, sau đó là một cuộc gọi lo đầy lắng từ Hugel. Hugel nói một số giám đốc đã họp riêng với nhau sau bữa tối hôm qua, và một số khác, bao gồm cả John Macomber và Vernon Jordan, bày tỏ lo ngại về việc LBO có nghĩa là họ có thể sẽ về hưu với mức lương 50.000 đô-la/năm; điều này sẽ khiến cuộc họp thường niên của hội đồng quản trị trở nên khó khăn. Khi đến trụ sở, Johnson thấy Hugel nói đúng.
Sáng hôm đó, ủy ban sẽ bàn về vấn đề lương hưu trọn đời cho các thành viên hội đồng quản trị theo kế hoạch, đề nghị này hấp dẫn hơn nhiều so với thỏa thuận hiện nay chỉ có 10 năm. Nhưng tất nhiên, giờ đây, bất kỳ động thái nào như vậy đều có vẻ như Johnson đang cố gắng gây ảnh hưởng đến hội đồng quản trị. Lão thúc giục họ bàn thảo về vấn đề này, và họ cũng đã bàn, mặc dù Johnson rõ ràng có cảm giác một số giám đốc có vẻ không hài lòng. Johnson cũng phải trả lời các câu hỏi của hội đồng quản trị về những đặc quyền khác, bao gồm cả việc cắt giảm bảo hiểm ô tô. Rồi đây, họ sẽ còn những đặc quyền gì? Johnson tỏ vẻ khó chịu, lão nói họ phải chờ xem.
Sáng hôm đó, Horrigan cũng ở Atlanta và làm ầm lên về thông cáo báo chí. Theo như bản dự thảo, Johnson đang đứng đầu nhóm mua lại. Horrigan kiên quyết đòi ghi tên ông ta vào, nói rằng ông ta sợ người của mình ở Winston-Salem sẽ nổi loạn nếu họ nghĩ Johnson đang có kế hoạch đánh cắp công ty. “Chúng ta phải nói là Johnson và Horrigan,” ông ta nói với Harold Henderson. “Họ sẽ không thể có bất kỳ nghi ngờ nào khi tôi luôn ở cùng ông ấy.” Và khi thấy mặt Horrigan bắt đầu đỏ lên, Henderson đã nhượng bộ.
Hỗn loạn bùng phát khi thông báo được truyền đi qua bản tin Dow Jones lúc 9 giờ 35 phút. Giám đốc quan hệ công chúng của RJR, Bill Liss, khi thức dậy vào buổi sáng hôm đó đã nghĩ rằng tin tức quan trọng trong ngày sẽ là báo cáo thu nhập quý III và sự chấp thuận của hội đồng quản trị với nhà máy chế biến đậu phộng mới của Planters. Khoảnh khắc im lặng sau thông cáo nhanh chóng qua đi, những cuộc gọi đầu tiên trong số hàng trăm cuộc gọi bắt đầu dồn dập tấn công vào tổng đài điện thoại, từ các dịch vụ có dây đến báo chí, đài phát thanh và truyền hình. Các cuộc gọi đến từ khắp nơi, từ thành phố miền Trung Tây Ames, bang Iowa, thành phố miền Đông Altoona, bang Pennsylvania, từ các phóng viên nước ngoài và những cổ đông quá khích. Các đài truyền hình địa phương đã sớm lập trạm bên ngoài, và một chiếc trực thăng bay lượn trên trời, những người ngồi trong đó nhòm ngó, quan sát qua các cửa sổ trên lầu. Liss chưa từng thấy ngày nào như vậy sau những năm phải xử lý vụ không tặc chuyến bay TWA. Nhưng với mỗi cuộc gọi, ông và nhóm nhân viên bốn người chỉ có thể nói một điều tương tự. Ngoài thông cáo báo chí ra, không có bình luận nào thêm.
Đến trưa, một phóng viên bên ngoài trụ sở nói với khán giả truyền hình rằng anh ta dự định phỏng vấn Johnson khi lão rời khỏi tòa nhà để về nhà ăn trưa. Ở nhà lão trên đường Whitewater, người hầu gái đang xem chương trình đó. “Ồ, ngài Johnson,” người phụ nữ gọi cho Laurie. “Ngài Johnson đang về nhà ăn trưa.” Laurie liền gọi điện hỏi chồng, tỏ vẻ bối rối. “Anh về nhà ăn trưa à?”
Johnson chẳng thể về nhà nếu lão muốn vậy. Tòa nhà vẫn đang bị giới truyền thông bao vây suốt ngày. Ngay cả các phóng viên địa phương cũng đã biết vụ LBO trị giá 17,6 tỷ đô-la này sẽ là vụ tiếp quản công ty lớn nhất trong lịch sử. Đó cũng là câu chuyện lớn nhất trong ngày, và sẽ sớm trở thành câu chuyện kinh doanh lớn nhất trong năm. Trung tâm mua sắm thời thượng ở phía bắc Atlanta đột nhiên trở thành trung tâm của giới kinh doanh.
-
Sáng thứ Năm, Jim Robinson đang ở nhà mẹ ở Atlanta chuẩn bị cho cuộc họp hội đồng quản trị của Coca-Cola, ông vẫn gọi tên nó bằng giọng miền Nam cố hữu là: Co-Cola. Ông lớn lên ở Atlanta và học Đại học Harvard, đến tuổi 52, Jim Robinson được mệnh danh là bộ trưởng ngoại giao của các công ty Mỹ. Công ty mà ông lãnh đạo trong 10 năm qua, American Express, là một trong những siêu cường tài chính thực sự của thế giới, quản lý 198 tỷ đô-la tiền mặt của các nhà đầu tư khác. Có 28 triệu thành viên sử dụng thẻ tín dụng của công ty. Khi Jim Robinson nói, các nguyên thủ quốc gia sẽ lắng nghe. Nhiều năm trước, kế hoạch giải quyết cuộc khủng hoảng nợ của thế giới thứ ba do ông nghĩ ra đã dành được sự quan tâm rộng rãi. Robinson là người khó tính, có sự giao thoa giữa tính cách của người trồng rừng miền Nam và một nhân viên ngân hàng có tầm ảnh hưởng. Vợ ông, Linda, là người có địa vị trong xã hội, bà là chủ của một công ty quan hệ công chúng ở New York.
Khoảng 7 giờ, Robinson nhận được một cuộc gọi từ Peter Cohen, anh nói với ông về thông cáo báo chí sắp tới. Robinson rất ngạc nhiên. Mặc dù không theo từng chi tiết trong vụ này, nhưng ông không mong có bất kỳ thông cáo nào ít nhất cho đến tuần sau, nếu có thể.
“Sao nhanh quá vậy?” ông hỏi.
“Các luật sư cảm thấy đã đến lúc chín muồi,” Cohen nói, “và hội đồng quản trị kết luận rằng cần phải có một thông cáo báo chí.”
Đó không phải là một khởi đầu tốt lành, nhưng cả hai người bọn họ đều không quá lo lắng. Họ mong sẽ không có bất kỳ rắc rối nào.
-
Ngày 20 tháng Mười bắt đầu trên Phố Wall tươi sáng và mát mẻ. Cách đó hai tòa nhà về phía bắc, những người đi làm hối hả đi ra từ các tòa nhà thuộc khu trung tâm thương mại thế giới, đi qua góc phố có tòa nhà Burger King và đi xuống phía nhà hát Broadway, tới bên kia là các văn phòng môi giới. Các cuộc nói chuyện trên phố sáng hôm đó liên quan đến cuộc bầu cử tổng thống sẽ diễn ra chỉ hai tuần nữa và giải bóng chày World Series mà theo dự đoán, đội Los Angeles Dodgers chắc chắn sẽ giành chiến thắng.
Một năm sau Ngày thứ Hai đen tối, Phố Wall vẫn đang co mình trước tàn dư của cuộc khủng hoảng. Cuộc suy thoái thảm khốc đã không lan rộng với mức độ như dự đoán, nhưng cũng không có dấu hiệu phục hồi. Thay vào đó, Phố Wall đang bị sa lầy trong tuyệt vọng. Tình trạng bất ổn tràn ngập các văn phòng điều hành, và thu nhập từ môi giới giảm mạnh. Nhà đầu tư ùn ùn rời khỏi thị trường, và không có dấu hiệu chứng tỏ họ sẽ sớm quay trở lại; giao dịch chứng khoán các loại giảm 22%.
Kể từ sau khủng hoảng, khoảng 15.000 nhân viên ở Phố Wall mất việc làm. Shearson không đơn độc trong cơn bão sa thải; tin đồn quét qua Phố Wall hằng ngày về các cuộc cắt giảm biên chế sắp xảy ra ở nhiều công ty khác. Những người vốn chẳng biết đến sợ hãi trở nên chán nản. Ở những sàn giao dịch trên khắp khu hạ Manhattan, các giao dịch viên kể cho nhau nghe những câu chuyện cười buồn chán và hiếm khi đả động đến cổ phần, cổ phiếu. Thứ duy nhất bay cao là những chiếc máy bay giấy.
Suốt năm nay, nguồn lạc quan duy nhất vẫn là hoạt động sáp nhập, đặc biệt là các nghiệp vụ ngân hàng đầu tư. Và Peter Cohen cũng không đơn độc: Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư nằm trong suy tính của mọi giám đốc điều hành trên Phố Wall. Merrill Lynch khoe khoang rằng danh mục đầu tư LBO của công ty mang lại lợi nhuận 100% mỗi năm. “Đã lâu rồi kể từ thời hoàng kim của J. P. Morgan,” tờ Business Week ghi nhận trong một bài viết trên trang bìa vào tháng Sáu, “Phố Wall mới tiến hành thu mua nhiều công ty đến vậy.”
Sự sụt giảm kéo dài của Phố Wall mở ra một thời đại liều lĩnh đến tuyệt vọng cho cuộc chơi của các ngân hàng đầu tư: Lợi nhuận trời cho từ LBO và các khoản cho vay bắc cầu là cách nhanh nhất để kéo lợi nhuận tăng lên trong khi nguồn thu từ môi giới sụt giảm. Chỉ cần làm một vụ thôi đã có thể thu được khoản phí trả trước từ 50 triệu đô-la trở lên, đủ để cứu vớt công ty trong một quý. Trong tháng Sáu, Morgan Stanley đã công bố khoản lãi trước thuế 120 triệu đô-la từ việc bán 10% cổ phần của họ trong một công ty hóa chất ở Texas; toàn công ty đạt mức lãi kỷ lục 230 triệu đô-la trong cả năm 1987. Khi những con số đó được công bố, ngay cả những người chậm chân nhất trong lĩnh vực ngân hàng đầu tư như Goldman Sachs, ông lớn về giao dịch như Salomon Brothers và ông bé như Dillon Read cũng đang bắt đầu săm soi trên Phố Wall để tìm các cơ hội đầu tư.
Tiên phong trong hoạt động ngân hàng đầu tư là đội quân đông đảo tham gia thị trường sáp nhập. Hầu hết mọi ngân hàng đầu tư đều có một bộ phận sáp nhập, và các nhân vật trong đó đều rất thân thiết với nhau và có phần “loạn luân”. Những người tiền nhiệm của họ trong lĩnh vực ngân hàng đầu tư đã vun đắp tình bạn kéo dài hàng thập kỷ với các khách hàng là những công ty, tham dự vào quá trình sắp xếp nhân sự rất riêng tư. Vào cuối những năm 1970, với sự gia tăng rất nhanh của tiếp quản thù địch, thế hệ mới các nhân viên ngân hàng đầu tư đã nổi lên. Họ là lính đánh thuê, những chiến binh mặc trên mình bộ comple Alan Flusser trị giá 2.000 đô-la, những chiếc áo sơ mi Turnbull & Asset bó sát, đeo đồng hồ Bulgari và cà vạt lụa Hermes mua từ các cửa hàng tại sân bay ở Paris và Brussels. Từ những người như Tom Hill của Shearson, đến những người anh em họ là các luật sư tiếp quản, hầu như bất kỳ vụ tiếp quản nào cũng đều là tiếp quản thân thiện, vì mỗi lần như thế đều phát sinh một khoản phí. Nếu nói rằng các cố vấn sáp nhập Phố Wall có sự chuyển dịch lòng trung thành là sai. Họ tuyệt đối không có lòng trung thành, ngoại trừ với chính họ và các công ty của họ.
“Với tất cả những gã này,” chủ tịch của một trong những công ty lớn nhất Phố Wall cho biết, “có ba điều chắc chắn đúng. Đó là lòng trung thành thứ nhất, thứ hai và thứ ba là đối với bản thân. Lòng trung thành thứ tư và thứ năm là cho đối tác trong cùng thỏa thuận kinh doanh. Lòng trung thành thứ sáu hoặc đại loại thế là dành cho khách hàng.”
Trong thế giới của họ, tiếp quản là các “thỏa thuận” và những người trả giá cao nhất là các “tay chơi”. Những tay chơi trả giá cao chơi trò tung hứng với nhiều thỏa thuận cùng một lúc. Tại bất kỳ thời điểm nào, với số lượng thỏa thuận là bao nhiêu, họ có thể vừa là đối tác vừa là đối thủ với những người bạn thân nhất. Trong khi các nhà kiến tạo sáp nhập thường được so sánh với lính đánh thuê, thì những người còn hoài nghi về điều đó có thể tìm thấy một cách so sánh thích hợp hơn trong môn đấu vật chuyên nghiệp: Một nhóm võ sĩ được trả giá cao lê la hết đấu trường này đến đấu trường khác, khiến người xem hoài nghi liệu tất cả những cuộc tấn công bất thình lình và đánh đấm đó có thật không.
Nòng cốt của đội quân sáp nhập đông đảo là một nhóm tinh hoa gồm khoảng 10 nhà kiến tạo thỏa thuận hàng đầu, những người đó nhanh chóng trở thành bạn bè và đối thủ cạnh tranh của nhau trong hơn một thập kỷ qua. Họ thường tự gán cho mình một cái tên, rất đơn giản là Nhóm. Họ lớn lên cùng nhau, có sự nghiệp gắn liền với vô số những cuộc chiến tiếp quản mà giờ chẳng ai còn nhớ. Hầu hết số sinh viên tốt nghiệp đại học từ cuối những năm 1960 đều trở thành bạn bè khi cùng tiên phong hoạt động sáp nhập vào giữa những năm 1970, và tổ chức các bữa tiệc sinh nhật đầy bất ngờ cho nhau vào cuối những năm 1980 với tư cách là những tay chơi trong các cuộc đọ sức cam go của những thỏa thuận lớn nhất thập kỷ.
Ngoài Hill, các thành viên của Nhóm gồm có Bruce Wasserstein và Joseph Perella, hai siêu sao đầu tiên của kỷ nguyên sáp nhập, đã rời công ty mà họ gắn bó nhiêu năm, First Boston, đang điên cuồng thành lập công ty nhỏ chuyên về sáp nhập của riêng mình có tên Wasserstein Perella & Co. vào đầu năm 1988; Eric Gleacher, dáng dấp nhỏ nhắn, là giám đốc sáp nhập của Morgan Stanley; Donald Drapkin, cựu luật sư đã trở thành Phó chủ tịch của tập đoàn Revlon luôn sẵn sàng tham gia tiếp quản; Michael Goldberg[1] và Morris Kramer, cặp đôi luật sư ở Skadden Arps; Jim Maher, bạn thân với Wasserstein, người thay thế ông đứng đầu bộ phận sáp nhập mới của First Boston; Stephen Schwarzman có tật nói nhanh, Chủ tịch của The Blackstone Group, một công ty sáp nhập hàng đầu khác; và Allen Finkelson, một luật sư nữa đến từ Cravath Swaine & Moore. “Với những người này, tôi có thể đặt cược toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của mình,” Drapkin nói. “Tất cả chúng tôi đều có thói quen hoàn thiện câu nói của nhau.”
Mặc dù các thành viên nằm rải rác ở một số công ty trên Phố Wall, Nhóm xuất thân gần như hoàn toàn từ hai ngân hàng đầu tư First Boston và Lehman Brothers, và hai công ty luật lớn Skadden Arps và Cravath Swaine & Moore. Hầu hết bọn họ là các chuyên gia bảo lãnh phát hành hoặc luật sư thế chấp hạng xoàng, những người luôn khao khát làm điều gì đó gây sự chú ý; họ thành công vượt bậc là nhờ thứ hormone khiến họ hưng phấn hơn trước những khó khăn hay thuận lợi trong các cuộc chiến tranh giành công ty.
Xét về mặt nào đó, hoạt động sáp nhập các công ty Mỹ có thể được xem như một ván cờ ở giai đoạn nước rút giữa những người bạn vốn thân thiết từ lâu. Wasserstein, xét về nhiều mặt là trung tâm của nhóm, là một kiện tướng được tất cả mọi người kính nể. Ông là anh trai của nhà viết kịch Wendy Wasserstein, chính ông đã sáng tạo ra những cách tân trong chiến lược và chiến thuật sáp nhập, nhờ vậy các thỏa thuận trở nên thật kín kẽ. Trong nhiều năm, Gleacher, người lần đầu tiên trở nên nổi bật trong trận chiến Bendix-Martin Marietta, là đối thủ chính của ông. Đến năm 1989, ông này nhượng lại vị trí đó cho Hill, người thà rời First Boston một thập kỷ trước đó còn hơn phải đối mặt với Wasserstein trong cuộc đấu tranh quyền lực.
“Trong hầu hết thỏa thuận,” Hill nói, “một trong những người này sẽ có mặt. Cuộc sống của chúng tôi là những cuộc giao đấu không ngừng nghỉ, chúng tôi có khả năng hành động mau lẹ với một thỏa thuận sắp diễn ra.” Mike Goldberg thì lại nói: “Các anh sẽ thấy Tom Hill và Joe và Bruce và First Boston trong mọi giao dịch. Anh hiểu từng người bọn họ và biết họ sẽ làm gì trong một tình huống nhất định. Và hãy tin tôi đi, anh sẽ không muốn trở thành kẻ mới đến trong một ván bài poker đã diễn ra trong nhiều năm đâu.” Allen Finkelson cũng nói thêm, ông này xây dựng sự nghiệp trong ngành luật, và Wasserstein đã tách ra khỏi công ty của ông: “Mọi người hỏi tôi lý do của sự thành công hôm nay là gì? Điều này một phần là nhờ tuổi tác của tôi. Một phần nữa là nhờ sự đồng hành của cả nhóm. Tất cả chúng tôi đang bước sang tuổi 40. Và chúng tôi giúp đỡ lẫn nhau.”
Người sáng lập Nhóm là Joseph Flom, một luật sư tiếp quản. Ông xứng đáng là một huyền thoại của Phố Wall. Hầu hết mọi người trong Nhóm được Flom kèm cặp về hoạt động sáp nhập. Đối với một số người, ông là một người cha tinh thần. Dù đã về hưu nhưng vẫn tham gia các thỏa thuận, ông giống như thần giữ của và trên thực tế, Flom là cố vấn cho tất cả các thành viên trong Nhóm về mọi vấn đề từ chuyên môn đến cá nhân, là người hòa giải cho các cuộc tranh chấp giữa họ, và theo thời gian, ông trở thành đối thủ cạnh tranh khó chơi nhất của họ. “Thực tế là một chút tình huynh đệ cũng rất tốt cho tính kỷ luật,” Flom nói. “Tôi nhận thấy công việc này giống như việc xét xử ở các thị trấn nhỏ. Anh chiến đấu ác liệt như thể có ai đó sắp giành chiến thắng trong ván cờ này. Anh phải trung thực vì mọi người đều biết nhau quá rõ. Mọi người đều biết những người kia đang làm gì. Không có gì là bí mật ở đây.”
Kiểu suy nghĩ tự nhiên đó đã góp phần dẫn đến các vụ bê bối giao dịch nội gián càn quét qua Phố Wall vào cuối những năm 1980. Đối với Nhóm, các cuộc điều tra làm dấy lên làn sóng xung đột kiểu McCarthyism. (Sự buộc tội về lòng trung thành và sự bội tín mà không cần xem xét đến bằng chứng.) Dường như không có ngoại lệ nào cho dù người bị kết tội là bạn bè và đồng nghiệp của họ. Người đầu tiên được nêu tên liên quan đến bê bối là Dennis Levine, một nhân viên ngân hàng đầu tư đầy tham vọng của Drexel Burnham. Người này do Gleacher thuê và giám sát, sau khi ông ta rời khỏi công ty Smith Barney dù Tom Hill, khi đó đang là giám đốc sáp nhập không hề tán thành. Cho đến nay, cú đánh mạnh nhất có lẽ là bản cáo trạng dành cho nhân viên ngân hàng đầu tư Martin Siegel, bạn thân của Wasserstein, và một số thành viên khác trong Nhóm. Không giống như Levine, người mới trở nên giàu có nhờ tài lươn lẹo, Siegel học Đại học Harvard và là một người được kính trọng trong Nhóm. “Những ai không ở trong Nhóm,” Gleacher nói đùa, “đều đang ở trong tù.”
Liệu tình bạn của Nhóm có làm tổn hại đến lợi ích của khách hàng không? Chỉ có các vị bồi thẩm nghiêm nghị mới biết điều đó. Ngay cả khi họ ở hai đầu chiến tuyến trong cuộc chiến tiếp quản trị giá hàng tỷ đô-la, thì các thành viên của Nhóm vẫn liên tục thông tin cho nhau. Những cuộc đối thoại bí mật giữa họ là phần không thể thiếu trong các thỏa thuận mà họ tham gia. Tuy nhiên, xét về mọi mặt, thì với tình bạn này, đã có bằng chứng cho thấy họ trước tiên là đối thủ, sau mới là bạn. Những người như Hill, Wasserstein và Gleacher, những người đầu tiên tuyên bố họ là những người bạn tuyệt vời của nhau, cũng là những người đầu tiên lan truyền tin đồn về các thất bại của nhau. Những khoản tiền thưởng trị giá hàng triệu đô-la mà họ nhận được là nhờ họ hiểu rõ và đánh bại lẫn nhau.
Tất nhiên, vẫn có những nhà kiến tạo thỏa thuận khác trên Phố Wall không phải là thành viên của Nhóm: Felix Rohatyn, một thủ lĩnh có tính tình bảo thủ của các nhân viên ngân hàng đầu tư có tên tuổi ở Lazard Freres; Ira Harris, Chúa tể của LaSalle Street, phố tài chính ở Chicago; Jeff Beck, biệt danh Mad Dog của Drexel; Geoff Boisi, Giám đốc Ngân hàng đầu tư ở Goldman Sachs. Giống như nhiều thành viên của Nhóm, mỗi người bọn họ đều bị cuốn vào cơn lốc RJR Nabisco.
-
Đó là một tuần bận rộn với Kravis.
Cuộc tấn công bất ngờ của Philip Morris nhằm vào Kraft đã cho anh cơ hội tuyệt vời để bay đến giải cứu công ty ở Chicago. Anh đang đi săn chim ở Tây Ban Nha nhưng vẫn cố gắng liên lạc với John Richman, Chủ tịch của Kraft. Kravis đã đề nghị với ông ta một thỏa thuận, để xem liệu Kraft có muốn thực hiện sáp nhập thân thiện không, và Richman có vẻ quan tâm khi không cảm thấy mối đe dọa nào. Trong khi hiện tại, các cộng sự của anh ở Kohlberg Kravis vẫn đang thu thập số liệu để thực hiện LBO với Kraft. Đó có thể là vụ LBO lớn nhất trong lịch sử với số tiền lên tới 13 tỷ đô-la. Kravis cũng đang để mắt đến Pillsbury, công ty này đã bắt đầu bàn thảo với các đối tác sáp nhập tiềm năng để bảo vệ mình trước sự tấn công của Grand Met. Chiều hôm đó, Kravis đã có kế hoạch trình bày về tình hình tài chính của Pillsbury ở công ty luật Skadden Arps.
Dù đã bận rộn suốt cả tuần, Kravis sẽ còn bận hơn nhiều trong những ngày tới. Khi anh đang đứng nghe điện thoại trong góc phòng có thể nhìn xuống tòa nhà Grand Army Plaza 42 tầng bên dưới, thì cô thư ký đã đến, đặt một bản ghi chú trước mặt anh.
“RJR sẽ tư nhân hóa với mức giá 75 đô-la/cổ phần.”
Kravis suýt đánh rơi ống nghe. Trong một giây, anh không nói nên lời. Điều này thật không thể.
Ngay sau đó, Paul Raether, cánh tay phải của Kravis, bước vào. “Nghe tin gì chưa?” Kravis vội vàng hỏi.
“Tin gì?”
“Ross Johnson sẽ mua lại công ty với giá 75 đô-la/cổ phiếu.”
Raether sững lại một lát mới hiểu ra tin tức này vô cùng quan trọng. “Chúa ơi!” anh nói. Ý nghĩ thứ hai xuất hiện rất nhanh trong tâm trí của Raether: Rẻ quá.
Kravis bắt đầu tức giận. “Không thể tin nổi. Chúng ta đã ngỏ lời! Vậy mà họ thậm chí còn không gặp chúng ta!”
-
Nằm trên cao chót vót, cao hơn cả tòa nhà Radio City Music, văn phòng góc của Eric Gleacher được dán kín từ sát trần xuống đến chạm sàn bằng những bức ảnh có khung màu xanh lá cây của gia đình ông. Quần áo tông trung tính và vẻ ngoài đẹp nhưng thô kệch của họ khiến bức tường trông giống một biển quảng cáo lớn của dòng quần áo polo dành cho dân đua ngựa của Ralph Lauren. Ở góc phòng khác, một chiếc máy hút ẩm đặt phía sau một cây xanh đang miệt mài thẩm tách.
Gleacher đang ngả người trên ghế ở bàn làm việc khi nhìn thấy dòng tiêu đề chạy qua màn hình máy tính. Trong nháy mắt, ông tung người về phía trước, và cắm đầu vào bàn phím điện thoại. “Tôi chẳng thèm biết anh đang làm chuyện quái gì,” ông gào lên. “Xuống đây ngay.”
Vài giây sau, Steve Waters đã xông vào văn phòng của Gleacher. Cả hai sững sờ, nhìn chằm chằm vào màn hình máy tính.
RJR? Mua lại? Không có Morgan Stanley?
Nhìn giá kìa, Gleacher nói. Họ nhanh chóng nhất trí rằng với mức giá 75 đô-la/cổ phiếu, Johnson đang đánh cắp công ty.
Sáng hôm đó, Gleacher và Waters hành động hoàn toàn theo phản xạ. Cả hai người đều hiểu luật chơi, những câu hỏi cần phải được giải đáp là: Thỏa thuận này có thật không? Ai sẽ tư vấn cho Johnson? Ai sẽ tư vấn cho ủy ban đặc biệt? Và quan trọng nhất, làm thế nào để Morgan Stanley có được một phần trong giao dịch này?
Tuy nhiên, trước khi họ có thể làm gì đó, Waters đột nhiên phải đi nhanh xuống sảnh vì chuông điện thoại đang reo.
“Chuyện quái gì đang diễn ra vậy?” Paul Raether gặng hỏi.
“Tôi không biết, Paul. Ngay sau khi tìm hiểu được, tôi sẽ liên lạc lại với anh.”
Ngay khi Waters đặt ống nghe xuống, điện thoại lại reo. Lần này là Kravis.
“Có chuyện quái gì thế?”
“Henry, anh sẽ biết ngay khi chúng tôi tìm hiểu được.”
“Ai? Ai đã làm vụ này?”
“Tôi không biết. Chúng tôi đang cố gắng tìm hiểu. Có thể là Shearson.”
Gleacher và Waters bắt đầu bấm điện thoại. Sau vài phút, khi tin tức về việc tham gia của Shearson xuất hiện trên màn hình cũng là lúc Gleacher dụ được con cá đầu tiên: Andy Sage. Gleacher biết rằng đây không phải là lúc để đao to búa lớn. “Này Andy,” anh tếu táo, “các ông sẽ làm gì với toàn bộ số tiền đó?”
Sage lẩm bẩm điều gì đó không rõ ý.
“Tôi muốn nói rằng,” Gleacher nói, “tôi có chút ngạc nhiên khi chúng tôi không có cơ hội đại diện cho ủy ban đặc biệt. Shearson đã làm gì khiến các ông bắt tay với họ và phớt lờ chúng tôi thế?”
Không phải thế, Sage nói. Andy Sage là tay cáo già, và Gleacher chẳng moi được nhiều thông tin. Sau đó, Gleacher gọi được cho Jim Welch. Welch bảo đảm một cách mơ hồ với ông rằng Morgan bằng cách nào đó sẽ có cơ hội với vụ này. Dưới sảnh, Waters cố gắng tìm Dean Posvar, Giám đốc Kế hoạch của Johnson. Posvar nói với Waters rằng thỏa thuận vẫn chưa hoàn tất. “Chúng tôi mới chỉ bắt đầu thôi,” ông ta nói. “Chúng tôi đang thúc đẩy mọi việc nhanh nhất có thể, và sẽ phải có một thỏa thuận vào giữa tuần tới.”
Waters kết luận họ vẫn còn cơ hội nhưng không lớn lắm. Bất cứ ai muốn mua công ty này sẽ phải hành động thật nhanh.
-
Jeff Beck nghe tin khi đang ở công ty luật Skadden Arps.
Trong nhiều tuần, Beck và một nhóm nhỏ các chiến lược gia từ bốn ngân hàng đầu tư khác nhau đã vạch ra kế hoạch phòng thủ để bảo vệ Pillsbury trước Grand Met. Ngày hôm đó, ông và các nhân viên ngân hàng đầu tư khác của Pillsbury đang tiến hành đàm phán với một số đối tác sáp nhập tiềm năng.
Beck rối bời khi nghe thông cáo của Johnson.
LBO ư? Không có Drexel? Không có mình? Thật vô lý.
Ông đi xe vào khu trung tâm thương mại của thành phố cùng John Herrmann, nhân viên ngân hàng đầu tư của Shearson, người ông đã biết từ thời còn ở Lehman. Herrmann nói cười rạng rỡ, thao thao rằng thật kỳ lạ khi thương vụ này lại về tay Shearson.
“Vụ này lớn chưa từng thấy từ trước đến nay,” ông ta nói khi Beck bước ra khỏi xe để đến văn phòng ở Phố Wall.
Nhân viên ngân hàng đầu tư Drexel gần như không thể kiềm chế được sự tức giận của mình. “Tôi không nghĩ sẽ ra thế này, John. Tôi không nghĩ mọi việc sẽ thành ra như vậy.”
Trên lầu, Beck nhận được cuộc gọi từ Kravis. “Chuyện gì đang diễn ra vậy?” Kravis hỏi.
“Tôi không biết, Henry. Anh cũng biết chúng tôi đang muốn gặp họ. Để tôi gọi cho họ xem việc này thực hư thế nào rồi gọi lại cho anh.”
Beck nhanh chóng gọi cho Johnson đang ở Atlanta, nhưng lại bị thư ký của Johnson, Betty Martin, chặn lại. “Tất cả họ đang họp với hội đồng quản trị,” cô nói.
Beck sôi sục. Phải khai hỏa thôi! Anh đơn giản là phải nói chuyện với Johnson. “Betty, nếu không gọi được ông ấy ra khỏi phòng họp đó, cô biết đấy, cô sẽ không xong với tôi đâu. Việc này rất cấp bách.”
Vài phút sau, Johnson đến bên điện thoại.
“Ông bạn, ông đang làm gì vậy?” Beck hỏi, sự bực tức hiện rõ trong giọng nói.
“Thì chúng tôi sẽ mua lại công ty,” Johnson nói.
“Ông biết đấy, thật tuyệt khi đọc nó trên bản tin, Ross. Tôi thật không hiểu.”
Beck thậm chí còn chẳng cố che giấu sự cáu kỉnh của mình.
Đến lượt Johnson phát cáu: “Chúng tôi đã có các đối tác chính trong vụ này rồi, Jeff. Thế nhé.”
Mad Dog cứng họng.
-
Một trong những cuộc gọi đầu tiên Kravis nhận được sáng hôm đó là của Dick Beattie. Trong giới sáp nhập, Beattie được biết đến với tư cách là cố vấn cho Kravis. Suốt 15 năm qua, ông là một trong những cố vấn bên ngoài đáng tin cậy nhất của anh. Từng giữ vị trí cao trong chính quyền Carter, Beattie cũng là một nhân vật thường xuyên xuất hiện trong giới chính trị thuộc phe Dân chủ ở New York. Ông là bạn của Thị trưởng Ed Koch, và nhiều người có tầm ảnh hưởng tin rằng ông có thể là ứng cử viên tương lai cho chức thị trưởng. Từng là phi công lái máy bay chiến đấu thuộc lực lượng hải quân, Beattie giờ đã ở tuổi 49 với mái tóc màu cát hung đỏ, đôi mắt xanh biếc của trẻ con và giọng nói dịu dàng của một ông chú tốt bụng, nhưng ánh mắt thì lạnh băng đúng “chất” của một cựu lính thủy.
Với Beattie, sự quan tâm của Kravis đối với RJR Nabisco không phải là điều gì bí mật. Trong hơn một năm nay, công ty của ông đã tổng hợp phân tích tình hình pháp lý của thuốc lá để hiểu được tác động của nó đối với công ty.
“Anh biết chưa?” Beattie hỏi.
“Tất nhiên rồi,” Kravis nói.
“Không thể tin nổi. Ta phải tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra.”
“Dick, tôi cũng không hiểu. Chúng ta đã ngỏ lời với Ross. Tại sao ông ấy không nhờ đến chúng ta? Điều này thật vô lý. Chính tôi là người đề xuất ý tưởng.”
“Tôi biết. Thật điên rồ,” Beattie nói
“Thế quái nào mà ông ta lại bắt tay với Shearson, họ chẳng biết gì cả. Họ chưa từng làm vụ nào kia mà.”
Dick Beattie biết rõ điều đó. Sau Kohlberg Kravis, khách hàng lớn thứ hai của ông là Shearson Lehman Hutton.
-
Bob Millard, trưởng bộ phận buôn bán chứng khoán của Shearson, vẫn chưa vượt qua cú sốc ban đầu về bản thông cáo báo chí khi Peter Cohen gọi điện đến. Cohen dành cả buổi sáng trong văn phòng, đi đi lại lại, xem tin vắn trên Quo tron. Cổ phiếu của RJR Nabisco đang tăng vọt; khi kết thúc ngày, nó chắc chắn sẽ có giá 77,25 đô-la, tăng hơn 21 điểm.
“Chúa ơi, Peter,” Millard nói, “thật tuyệt vời.”
Nhưng Millard, một giao dịch viên kiếm sống nhờ theo sát các vụ tiếp quản, đã rất tò mò tại sao Cohen lại chọn phương pháp này. Tại sao Shearson không cố gắng kết thúc thỏa thuận trước khi công khai, sao không làm như Morgan Stanley và những kẻ khác một cách khôn khéo? “Tại sao anh lại để mình rơi vào tình trạng khó đỡ như vậy?” Millard hỏi.
Cohen nói: “Vâng, tôi biết và tôi buộc phải làm vậy.”
“Điều gì khiến anh chắc chắn rằng không có ai trả giá cao hơn?” “Sẽ không có công ty nào khác có đủ nguồn lực,” Cohen nói.
“Vậy những kẻ chuyên mua bán công ty thì sao? KKR thì sao?”
“KKR không thể,” Cohen nói. “Henry không thể cho Ross Johnson những thỏa thuận mà ông ta có với chúng ta.”
“Thỏa thuận gì vậy?”
Millard nhắc Cohen nhớ rằng trong những tháng gần đây, Kravis đã đơn phương tấn công các mục tiêu như Texaco và Kroger. “Nếu chỉ vì họ chưa nắm được nhóm quản lý, Peter, không có nghĩa họ sẽ không tham gia đấu thầu. Tại sao họ không tham gia chứ?”
“Đúng vậy, nhưng họ không thể cho Johnson những thỏa thuận mà chúng ta cho ông ấy,” Cohen nhắc lại.
“Nhưng nếu họ mua nó,” Millard nói, “Johnson có nhận được những thỏa thuận anh đã bàn với ông ta không.” Rõ ràng, Cohen không hiểu Millard đang dẫn dắt câu chuyện theo hướng nào. Nhà giao dịch đề nghị Shearson nên thăm dò cẩn thận ý định của Kravis. “Tốt nhất là anh nên thảo luận với họ,” ông nói.
Cohen có vẻ không muốn làm như vậy.
-
Đến chiều thứ Năm, đội của Johnson nhận ra việc để cho Drexel Burnham tức giận làm huyên náo Phố Wall có thể là việc làm không khôn ngoan, và tìm cách tham gia thỏa thuận này. Jim Welch gọi cho Beck, khi đó ông ta vẫn đang sôi sục.
“Thật điên rồ, Jim,” Beck nói. “Giá mua đó thật điên rồ. Tôi không hiểu các ông đang nghĩ gì, làm gì. Và tại sao Johnson không bắt tay với Kravis? Tại sao chúng ta lại trở nên đối đầu thế này chứ?”
Welch miễn cưỡng nhờ tới sự ủng hộ của Beck. “Chúng tôi muốn Drexel hoan nghênh thỏa thuận này, và hãy là bạn của chúng tôi,” ông nói.
Beck đã rất ngạc nhiên bởi Welch quá ngây thơ.
“Phải, Jimmy, tôi dám chắc ông muốn chúng tôi ủng hộ vụ này. Nhưng trong thâm tâm, ông hẳn không nghĩ vậy.”
“Tại sao?”
“Hơn hai năm rưỡi nay, chúng tôi đã thuyết phục các ông thực hiện mua lại! Giờ ông nghĩ chúng tôi sẽ ngồi nhìn sao, không dính dáng gì đến thỏa thuận lớn nhất trong lịch sử này sao, ý tôi là tôi chẳng còn gì để nói. Tôi không biết phản ứng thế nào với vụ này.”
“Vậy là bên ông sẽ tham gia?”
“Jim, tôi còn nhiều việc phải làm lắm.”
Welch gọi cho Beck vài lần nữa để cố gắng làm dịu Drexel, nhưng Beck rất tức giận vì bị Johnson cho ra rìa. Như vậy, Drexel, mảnh ghép lớn nhất của lực lượng tài chính trên chiến trường Phố Wall, có thể tham gia cùng bất kỳ bên đấu thầu cạnh tranh nào. Beck biết rất rõ bên cạnh tranh đó là ai.
-
Chiều thứ Năm, Kravis và Raether gạt qua một bên nỗi kinh hoàng, và tham dự buổi thuyết trình về Pillsbury ở Skadden Arps. Sau đó, Kravis kéo Beck vào một phòng họp.
“Chuyện bên RJR thế nào rồi?” anh hỏi.
“Tôi không biết. Giờ họ đã cắt đứt mọi thông tin rồi.” Beck nói: “Tôi không biết chuyện này sẽ đến đâu nữa. Nhưng anh biết đấy, chúng tôi phải tham gia. Liệu chúng tôi còn cơ hội không?”
“Đừng lo,” Kravis nói, “sẽ có chỗ cho ông.”
Liệu thỏa thuận này cuối cùng có mang lại cho Drexel 50 triệu đô-la hay không? Ngoài vấn đề tiền bạc, Beck không thể ngừng nghĩ đến việc sẽ hả hê thế nào khi đánh bại được Ross Johnson.
-
Ở tầng 17 của một tòa nhà trống có vẻ bí ẩn nằm chui rúc bên cạnh bến phà Staten Island ở khu hạ Manhattan, Bill Strong, một nhân viên ngân hàng đầu tư có dáng người mũm mĩm, đang nghe điện thoại. Bill Strong có một văn phòng nhỏ chật chội như phòng ngủ, nằm dọc theo bức tường gồm toàn những văn phòng giống hệt nhau: khung cảnh hơi tuềnh toàng, không có đồ đạc bằng gỗ gụ và thảm phương Đông như các bộ phận sáp nhập khác, cho thấy ông chủ của Strong, Salomon Brothers, từ lâu đã lãng quên nơi này. Nhiều năm nay, Salomon kiếm hàng triệu đô-la trên sàn giao dịch chứ không phải trong các phòng họp của ban giám đốc.
Chẳng cần nghe một trong những khách hàng lớn của mình đang nói gì, Strong nhìn chăm chú khi từng chi tiết trong đề xuất khiến người ta tò mò của Johnson chầm chậm hiện ra trước mắt công chúng. Khi đã hiểu ra vấn đề, Strong làm điều mà bất kỳ nhân viên ngân hàng đầu tư có chuyên môn nào cũng sẽ làm. “Ông có hứng thú với vụ này không?” anh hỏi khách hàng qua điện thoại.
“Không,” người đó trả lời.
Strong thấy cần phải hành động táo bạo. Salomon không mạnh trong lĩnh vực ngân hàng đầu tư. Bất chấp tất cả những dự báo khủng khiếp về triển vọng LBO, Salomon mới chỉ làm một vụ lớn với chuỗi nhà thuốc Revco, và thua lỗ. Khi thị trường sụp đổ một năm trước, họ chỉ có một đợt chào bán trái phiếu rác của tập đoàn Southland có trụ ở ở Dallas, và liên tục bị các nhà đầu tư tổ chức từ chối mua do tính không an toàn của trái phiếu; khi đó Salomon là nhà đồng tài trợ. Họ cũng mới chỉ có một khoản cho vay bắc cầu lớn cho một chuỗi đài truyền hình có trụ sở ở thành phố Norfolk, bang Virginia có tên TVX hiện đã sụp đổ. Salomon lại thất bại. Trong ba năm, công ty phải vật lộn để thâm nhập vào lãnh địa ngân hàng đầu tư; kết quả nhận được là một chuỗi nhục nhã mang tên Salomon mà ai nấy đều biết. Từ đó, Strong và các đồng nghiệp phải rất vất vả để dọn dẹp tàn dư thất bại.
Ở Phố Wall, Bill Strong không phải là một tên tuổi lớn, anh vừa mới trở thành đối tác hai năm trước. Nhưng anh làm việc chăm chỉ và luôn tràn đầy nhiệt huyết, mang trong mình đạo đức làm việc nghiêm túc của người miền Trung Tây. Anh tự hào về việc là một cựu nhân viên kế toán đến từ bang Indiana. Strong luôn nhìn thẳng vào mắt khách hàng và nói rằng anh tự hào về sự trung thực và liêm chính của mình, những đức tính mà anh tự tin cho là của hiếm trong giới ngân hàng đầu tư. Rất nhiều nhân viên ngân hàng đầu tư giống nhau ở tài ăn nói. Chỉ có Strong dường như kém ở mặt này.
Giống như mọi nhân viên ngân hàng đầu tư khác ở Phố Wall, Strong bị những khả năng trong đề xuất của Johnson hấp dẫn. Đến tối thứ Năm, anh đã tập hợp được một chồng báo cáo hằng năm của RJR Nabisco, và các báo cáo tài chính theo định dạng 10-K mà họ đã nộp cho ủy ban Chứng khoán và Sở giao dịch. Chỉ cần đọc lướt qua Strong đã bị thuyết phục rằng mức giá 75 đô-la là quá thấp. Những kẻ này đang đánh cắp công ty.
Anh thấy phấn khích. Salomon đã trải qua nhiều thảm họa nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, nhưng nếu thành công trong vụ này, những ký ức tồi tệ đó sẽ được xóa bỏ. Và Strong đã nghĩ đến một đối tác lý tưởng: Hanson Trust, một kẻ mua sắm luôn khát khao các công ty Mỹ đã phát triển được lực lượng và tin rằng mình sẽ trở thành một trong những tập đoàn lớn nhất đất nước. Tận dụng nguồn tài chính hùng hậu của Salomon và kinh nghiệm thương trường của Hanson, Strong nghĩ họ sẽ là một đội không thể đánh bại.
Sáng thứ Sáu, anh trình bày ý tưởng của mình với John Gutfreund, vị Chủ tịch độc đoán của Salomon. Như Strong nói, RJR Nabisco là một trường hợp đặc biệt. Anh giải thích rằng việc nắm được cơ hội này sẽ làm nên thương hiệu cả đời. Dòng tiền mặt khổng lồ từ thuốc lá mạnh đến mức đủ để chi trả cho toàn bộ thỏa thuận. Strong nói với Gutfreund: “Vụ này đáng làm ở mọi phương diện.” Tuy thường hoài nghi về tay kiến tạo thỏa thuận trẻ tuổi nhiệt tình này, nhưng lần này Gutfreund rất chăm chú lắng nghe anh nói. “Được rồi,” ông nói, “gọi điện đi.”
Lúc 10 giờ, Strong gọi đến Hanson. Anh giải thích tình hình, phân tích tóm tắt với một danh sách viết tay liệt kê các điểm hấp dẫn chính của RJR Nabisco. Dòng tiền mặt khổng lồ từ thuốc lá. Các thương hiệu thực phẩm không có đối thủ. Chứng khoán đang ở mức giá hấp dẫn.
“Bên ông và bên tôi sẽ hợp tác để mua lại, mỗi bên một nửa,” Strong nói. Và có một điều là: “Phải trả lời thật nhanh.”
Phía Hanson gọi lại vào lúc 2 giờ.
“Chúng tôi đã quyết xong rồi. Chúng ta cùng làm vụ này,” trợ lý bên Hanson nói.
Strong mừng rỡ. Một cuộc họp được ấn định vào sáng thứ Hai để bàn thêm chi tiết. Từ giờ đến lúc đó, Strong còn rất nhiều việc phải làm. Anh gọi cho Gutfreund và thông báo về việc hợp tác. Vị chủ tịch có vẻ phấn khích. Sau đó, Strong tập hợp một nhóm gồm 10 nhân viên ngân hàng đầu tư, và các chuyên viên phân tích để tìm hiểu dữ liệu về RJR Nabisco ngay trong cuối tuần đó. Đó là một nhóm tư vấn nhỏ nhất cho một dự án khổng lồ. Nhưng Strong không muốn bị để ý và tránh rò rỉ thông tin. Anh muốn chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng để có hành động đầu tiên vào sáng thứ Hai.
-
Đến chiều thứ Năm, văn phòng điều hành của RJR Nabisco đã chật kín người. Nhân viên ngân hàng đầu tư của Shearson - Tom Hill - trông thật bảnh bao trong bộ vest màu xanh, và Jim Stern đang thư giãn sau buổi chạy bộ buổi sáng, cứ đúng loanh quanh và chưa có nhiều việc để làm. Các vị giám đốc đi loanh quanh, vui vẻ uống thứ gì đó. Hugel đã triệu tập các đội của Lazard Freres và Dillon Read từ đêm hôm trước, họ đến lúc khoảng 11 giờ. Felix Rohatyn của Lazard cũng đã có mặt với đôi lông mày muối tiêu cứ liên tục động đậy khi ông nói trông rất ngầu. Đi cùng Rohatyn là Ira Harris đến từ Chicago và Luis Rinaldini, một người Argentina chăm chỉ. Một bộ đôi rất làm việc rất nguyên tắc đến từ ngân hàng đầu tư Dillon Read là Franklin W. Hobbs IV, mà mọi người vẫn gọi là Fritz, và John H. Mullin III, nhân viên ngân hàng đầu tư cũ của Tylee Wilson, cùng đến với họ.
“Chào anh, Johnny!” Johnson la lên khi thấy Mullin. Lão lao đến bắt tay các nhân viên ngân hàng như thể họ đến dự tiệc với món thịt nướng ở sân sau hơn là tham gia một vụ LBO. Đối với các nhân viên ngân hàng đầu tư, do đã nhận thức được nhiệm vụ to lớn nặng nề trước mắt, nên thái độ của Johnson chứng tỏ dường như lão chẳng biết lo nghĩ gì cả.
“Chà, các chàng trai trẻ,” lão bô bô, “bắt đầu cuộc đua thôi. Các anh thấy sao?”
Thẳng thắn mà nói, họ chẳng biết phải nghĩ gì, đặc biệt là khi họ đang được hộ tống vào phòng họp để gặp Hugel. Với tư cách là chủ tịch của ủy ban đặc biệt, Hugel trước hết thông báo vắn tắt cho các nhân viên ngân hàng của Lazard sau đó là cặp đôi của Dillon về các công việc phải làm trước mắt. Cả hai ngân hàng đồng ý đại diện cho Ủy ban với mức phí 14 triệu đô-la mỗi bên. Công việc của họ là phân tích bất kỳ giá thầu nào mà phía Johnson đưa ra, và tư vấn cho ủy ban xem mức giá đó có công bằng với các cổ đông hay không. Họ cũng sẽ làm điều tương tự trong trường hợp có giá thầu đột ngột xuất hiện từ các bên khác, cho dù điều này khó xảy ra.
Một số nhân viên ngân hàng đầu tư ngẩn người khi Hugel khăng khăng muốn họ phải nhanh chóng đưa ra kết luận. Ông đề nghị đánh giá của họ sẽ gói gọn trong 10 ngày, khoảng thời gian mà Rohatyn và Harris cùng cho là quá ngắn đến mức lố bịch. Tốc độ đang ủng hộ Johnson, và các nhân viên ngân hàng ngay lập tức tự hỏi liệu Hugel có ở cùng phe với Johnson hay không. Nhưng hiện tại, họ tạm thời giữ kín sự nghi ngờ này.
Đám đông tập trung ở tầng 21 bắt đầu thưa dần khi các cuộc họp kết thúc vào giữa buổi chiều. Horrigan bay về Winston-Salem để thông báo tin tức sốt dẻo cho đội quân thuốc lá của mình. Johnson ngồi một mình trong văn phòng, mở thư và tập trung vào công việc giấy tờ. Hiện tại, cũng không còn nhiêu việc để làm. Lão nói với Martin: “Này, tôi cảm thấy như mình đang nói mãi về một vấn đề, và không ai đếm xỉa đến điều đó nữa.”
Goldstone cùng những người khác đến từ phố Wall lén lút ra ngoài bằng lối ngầm để tránh đám phóng viên đang chờ bên ngoài. Cùng Peter Atkins và hai giám đốc khác, Marty Davis và John Macomber, anh lên một chiếc máy bay phản lực của RJR Nabisco và bay đến New York.
Atkins hội ý riêng với các giám đốc gần như trong suốt chuyến bay. Khi họ đến gần New York, Goldstone thấy mình và Atkins đang cùng cúi người ở phía sau lối vào buồng lái.
“Nhìn này,” một trong hai phi công nói.
Hai vị luật sư trẻ nhìn qua kính chắn gió. Bên dưới, họ nhìn thấy mình đang bay qua cây cầu Verrazano Narrows chạy dọc theo chiều dài cảng New York đến tận Phố Wall. Mặt trời đang lặn, bến cảng và phần lớn khu hạ Manhattan đang đắm mình trong ánh hoàng hôn, tạo nên cảnh tượng tuyệt đẹp của màu xanh lam và màu đỏ. Goldstone nghĩ rằng đó là một trong những cảnh tượng đẹp nhất mà anh từng thấy. Trong một khoảnh khắc, gánh nặng nghề nghiệp biến mất, anh cảm thấy mình đang ở trong một cuộc phiêu lưu lãng mạn, tuyệt vời.
Anh mỉm cười. “Peter, mọi thứ rồi sẽ ổn thôi.”
“Vâng,” Atkins nói: “Tôi cũng nghĩ vậy.”
[1] Goldberg gia nhập First Boston năm 1989.