Bọn Rợ Rình Trước Cổng

Lượt đọc: 250 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 9

❊ ❊ ❊

Theodore J. Forstmann mặc chiếc áo choàng tắm bằng vải bông xù màu trắng, và đi xuống chiếc cầu thang uốn lượn nhẹ nhàng để ăn sáng. Ánh sáng ban mai rạng rỡ tràn qua cửa sổ căn hộ kiểu hai tầng, nằm cao vút bên dòng Sông Đông của ông. Xa xa bên dưới, những người đi làm vào buổi sáng thứ Hai hôm đó len lỏi trong dòng xe cộ đông đúc trên đường Franklin Delano Roosevelt Drive. Trong bếp, Forstmann có thể thấy người giúp việc, Noemi, đang chuẩn bị bữa sáng với cà phê, bánh mì tròn và nửa quả bưởi. Ông muốn có một bữa sáng thong thả để có thời gian đọc báo buổi sáng.

Năm nay 49 tuổi, Ted Forstmann vẫn duy trì được vóc dáng rắn chắc và bờ vai rộng của một cựu vận động viên. Giờ đây, ông chơi quần vợt tương đối tốt, giỏi hơn khi còn ở tuổi thiếu niên, và trên thực tế, đôi khi ông còn đánh vô lê rất chuyên nghiệp. Chất Địa Trung Hải nổi bật trong con người ông với làn da màu ô-liu, món quà từ mẹ ông, một phụ nữ Ý, nếp nhăn quanh mắt ông tạo nên những nét hằn sâu. Ông có mái tóc màu xám mềm mại.

Forstmann ngồi trong phòng ăn, bên dưới bộ đèn chùm kiểu Pháp, giữa các kệ cao chất đầy những cuốn sách bọc bìa da. Những ngón chân ông miết nhẹ lên tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ mềm mại khi ông ngồi xuống chiếc ghế nhung họa tiết da hổ. Một bức chân dung tự họa của Picasso với đôi mắt bất đối xứng mở to, nhìn thẳng qua vai trái của Forstmann. Nhà Forstmann ở nơi dành cho những người giàu có bậc nhất Manhattan: Hàng xóm của ông là Rex Harrison và Greta Garbo, hai diễn viên rất nổi tiếng.

Bất cứ ai ở đây cũng sẽ nói ông là người có tất cả mọi thứ. Là một trong những người đàn ông độc thân nổi tiếng nhất New York, người gây quỹ của đảng Cộng hòa nổi tiếng khắp nước Mỹ, Ted Forstmann sống trong thế giới của những chiếc xe Mercedes có tài xế đưa đón, máy bay phản lực của công ty luôn có đầy trái cây tươi, phòng tắm dát vàng, rèm nhung, rượu… và máy bay trực thăng có trang bị tivi đưa ông vượt qua tình trạng giao thông đông đúc ở Manhattan. Nhờ làm việc chăm chỉ và may mắn, công ty 10 năm tuổi chuyên về mua lại có đòn bẩy Forstmann Little & Co. của ông hiện có doanh thu hằng năm ở mức 8 tỷ đô-la, đủ tiền để Forstmann duy trì ngôi nhà thứ hai gần Southampton và Aspen. Văn phòng của ông treo một vài bức tranh nghệ thuật phương Tây, một bức tranh không thể bỏ qua vẽ công viên Trung tâm, và một bức ảnh Forstmann đang siết chặt tay Ronald Reagan. Lúc rảnh rỗi, ông sẽ xem xét tài trợ cho một nhóm nổi dậy ở Afghanistan.

Nhờ sự giàu có này, dường như Ted Forstmann có thể mua được mọi thứ, trừ sự thanh thản. Forstmann có những cơn giận dữ điên cuồng bùng cháy đầy oán giận mà bạn bè và đối tác kinh doanh đều biết rõ, và những lúc như vậy, cách tốt nhất là tránh xa ra. Ngay khi nghĩ đến một cái tên — cái tên đó — ông liền xổ ngay ra một bài lăng mạ đầy kích động. Bạn bè ông đã nghe những bài phát biểu như vậy hàng trăm lần. Forstmann biết ở Phố Wall có một số người gọi ông là Cassandra, tức là kẻ báo điềm xấu; những kẻ tự cho mình là có đạo đức, các đối thủ cạnh tranh chế nhạo sau lưng ông. Forstmann không bận tâm. Ông đã đọc tiểu sử của Winston Churchill, và đồng cảm với chiến dịch không được mấy người ủng hộ của vị chính khách này cảnh báo thế giới về chế độ Đức Quốc xã.

Sáng hôm đó, Forstmann lại được nhắc nhở về nỗi ám ảnh của ông. Vừa mở tờ Times, đôi mắt ông ngay lập tức bị hút vào tiêu đề ở góc trên bên phải của trang kinh doanh: “KOHLBERG CHÍNH THỨC CÔNG BỐ THAM GIA ĐẤU THẦU”. Ông đọc bài báo rất chăm chú.

Những tên khốn chết tiệt đó, Forstmann nói với chính mình. Lại là bọn chúng.

Forstmann thấy ngay Kohlberg Kravis đang đấu thầu Nabisco với mức giá không tưởng. 90 đô-la/cổ phiếu là một mức giá vô lý. Có thể bọn họ đã chọn bừa một mức giá nào đó. Chết tiệt, Forstmann tự nhủ, bọn rác rưởi đó có thể trả giá gấp đôi số tiền đó nếu đống trái phiếu rác của họ bán được. Một lần nữa, Henry Kravis lại sử dụng một dúm tiền mặt, và một chiếc xe chất đầy nợ nần để cố gắng tiếp quản một công ty lớn của Mỹ. Forstmann đọc kỹ bài báo một lần nữa. Tất nhiên, không có thông tin chi tiết nào về nguồn tiền của Kravis — sẽ không có đâu — hay nhiều thông tin liên quan khác.

Forstmann nhận thấy mức giá thầu mà Kravis đưa ra với điều kiện hiện có của anh, là một điều bất thường: nguồn vốn và sự chấp thuận của hội đồng quản trị RJR Nabisco, cũng như nhiều vấn đề khác. Ồ, giá thầu đó, Forstmann lý giải, sẽ là như vậy nếu Kravis không bị cảm, nếu Dodgers thắng giải World Series, nếu vợ anh ta thiết kế 14 bộ váy nữa…

Ông có thể cảm nhận được sự tức giận trào dâng trong lòng. Cảm giác này rất quen thuộc. Ted Forstmann mang trong lòng nỗi tức giận đó đã năm năm nay.

Forstmann tin rằng Phố Wall đang bị chi phối bởi liên minh trái phiếu rác. Kẻ đứng đầu liên minh đó là Michael Milken của Drexel Burnham Lambert, và thành viên quyền lực nhất của liên minh này là Henry Kravis của Kohlberg Kravis. Liên minh này hiện chiếm thế thượng phong trong trận chiến đang dần lộ diện để tranh giành RJR Nabisco.

Sản phẩm của liên minh này là trái phiếu sinh lời cao, hay còn gọi là trái phiếu rác, loại trái phiếu từng được sử dụng vào năm 1988 để huy động tiền - thường là cho mục đích mua lại của hầu hết các nhà đầu tư lớn, các công ty môi giới và công ty mua lại có đòn bẩy. Ted Forstmann tin chắc rằng trái phiếu rác đã làm hỏng không chỉ ngành công nghiệp LBO, mà cả chính Phố Wall. Trong số các ông lớn trong ngành, gần như chỉ có Forstmann Little từ chối sử dụng chúng.

Đối với Forstmann, trái phiếu rác như một loại thần dược cho phép những người mua lại yếu thế nhất tiếp quản những gã khổng lồ trong ngành, và chính nó đã làm sai lệch các ưu điểm của thế giới mua lại cho đến khi không ai còn nhận ra chúng. Forstmann tin rằng đã qua rồi cái thời các công ty mua lại hợp tác với nhóm quản lý, đồng hành cùng họ, phát triển công ty và bán hết trong 5-7 năm như Forstmann Little đã làm. Vấn đề quan trọng bây giờ là duy trì thỏa thuận với một khoản nợ ổn định, tạo ra các khoản phí thậm chí còn ổn định hơn: phí cho nhóm quản lý việc mua lại, phí tư vấn cho các ngân hàng đầu tư, phí trái phiếu rác cho các chuyên gia trái phiếu. Theo như Ted Forstmann được biết, toàn bộ ngành công nghiệp LBO đã trở thành lãnh địa để các nghệ sĩ kiếm tiền nhanh và dễ dàng.

Forstmann cho rằng bản thân trái phiếu rác không có lỗi. Đúng ra, nó có thể là một công cụ hỗ trợ hữu ích. Nhưng ông kịch liệt phản đối những khuynh hướng đột biến, có vẻ bất ngờ xuất hiện ở mỗi thỏa thuận mới: chứng khoán chỉ được trả lãi bằng các trái phiếu khác (pay-in-kind, hay PIKs tức không dùng tiền mặt), cổ phiếu đó là sự ép buộc với các cổ đông (được gọi theo cách thô thiển là “áp đặt”), và lãi suất của trái phiếu cứ tăng mãi cho đến khi nghĩa vụ nợ bóp chết công ty. Forstmann cười nhạo vào những thứ chứng khoán đó và gọi chúng là “tiền ảo”, “đất nặn”, từ ông yêu thích hơn cả là “Wampum”. (Một loại vỏ sò dùng làm tiền của người da đỏ.) Trong các bài phát biểu trước những nhà đầu tư tổ chức, ông lấy phong trào mua tích trữ vàng trang sức ở Ấn Độ để minh họa cho quan điểm của mình.

Forstmann biết sớm muộn gì thì nền kinh tế cũng sẽ suy sụp, và tất cả những người nghiện trái phiếu rác sẽ thất bại khi họ không thể thanh toán được hàng núi nợ. Họ giống như những nhà đầu tư bất động sản trong túi chẳng có tiền trong khi đã đến hạn trả nợ. Khi điều đó xảy ra, Forstmann lo sợ việc sử dụng nợ trái phiếu rác sẽ lan rộng đến mức toàn bộ nền kinh tế của nước Mỹ có thể bị kéo vào một cuộc khủng hoảng.

Cho đến nay, trong số các khách hàng trái phiếu rác của Drexel, người khiến Forstmann khó chịu nhất là đối thủ chính của ông, Kohlberg Kravis. Kravis không chỉ sử dụng nhiều trái phiếu rác hơn bất kỳ ai, mà anh ta còn sử dụng nó ở sân trước của Forstmann Little, trong ngành công nghiệp LBO. Càng suy nghĩ nhiều về mối đe dọa của trái phiếu rác, Henry Kravis càng trở thành tâm điểm sự tức giận của Ted Forstmann.

Trớ trêu thay, họ từng là bạn bè. Bây giờ, Kravis là nỗi ám ảnh của Ted Forstmann. Forstmann đã nhận thấy sự tương phản trong những lời tiên đoán về điều gì sẽ xảy ra. Đối với ông, Kravis chẳng khác gì nhân vật Faust ở Phố Wall, một kẻ suy đồi đạo đức, người đã bán linh hồn mình cho một đống trái phiếu rác, và một vụ tiếp quản mới được công bố vào mỗi sáng thứ Hai. Khi nhắc đến tên anh ta, Forstmann lại khịt mũi chế giễu, đảo mắt và thở dài. Những từ như “lừa đảo” luôn sẵn sàng tuôn ra từ miệng ông. Những lúc tức giận nhất, Forstmann đã gọi Kravis là “kẻ khốn kiếp” hay “đồ con hoang.”[1]

Những ai đang cố gắng nghiên cứu Kohlberg Kravis và ngành công nghiệp LBO chắc đã nghe đủ những lời nói cay độc chống lại Kravis từ Forstmann. Một tiếng khịt mũi, một tiếng thở dài, một đôi mắt mở to tròn xoe và Forstmann bỏ đi thẳng. Khuôn mặt ông sẽ trở nên trắng bệch. Giọng nói thì lạc đi, không ai có thể nghe rõ ông đang nói gì.

“Thật giống như Alice ở xứ sở thần tiên,” Forstmann nói với giọng điệu bực tức. “Lý do Kravis có thể trả những khoản tiền đáng kinh ngạc này là tiền của anh ta không có thật. Đó là tiền giả, tiền ảo. Tiền vỏ sò. Những kẻ này phải bị truy tố vì tội giết người, và không ai biết điều đó.”

Forstmann nói một cách ngoa ngoắt, các công ty mà Kohlberg Kravis sở hữu không bền vững bằng một nửa những gì họ tuyên bố. Forstmann khẳng định lợi nhuận mà Kravis trả cho các nhà đầu tư của anh ta không bằng một phần của Forstmann Little. Cứ mỗi khi Kohlberg Kravis có một thỏa thuận mới, anh ta lại đẩy cỗ máy mà Forstmann lo sợ đang đe dọa nền kinh tế tiến thêm một bước.

Nhiều người quen biết cả hai đều cho rằng cơn thịnh nộ của Forstmann được kích thích bởi sự đố kỵ. Điều đó chắc chắn đúng một phần. Thỉnh thoảng, sau khi công kích Kravis được khoảng 20 phút, Forstmann sẽ phủ nhận ông có hiềm khích cá nhân với anh ta. “Hơn cả hiềm khích cá nhân,” ông nói. Kravis không phải là kẻ thù của ông: Anh ta đơn giản là triệu chứng nghiêm trọng nhất của một căn bệnh đã lây nhiễm khắp Phố Wall, và hủy hoại ngành công nghiệp mà Ted Forstmann đã có công gây dựng. Forstmann Little rất ít khi đánh giá cao những điểm khác biệt bên ngoài công ty ông.

Đôi khi người ta cho rằng dường như Ted Forstmann có tật tức giận bẩm sinh. Ông nội của ông, một người Đức nhập cư nặng tới 135kg với tính tình độc đoán, đã thành lập một công ty dệt may khiến ông trở thành một trong những người giàu nhất thế giới trước Thế chiến II. Cha của Ted, Julius, thừa kế công ty gia đình, Forstmann Woolens, và nuôi dạy con cái trong giàu sang ở những ngôi biệt thự khép kín ở Greenwich, Connecticut, bên trong có sân tennis và sân bóng chày riêng. Dù giàu có như vậy, toàn bộ người trong nhà Forstmann không hề có cuộc sống bình yên. Julius Forstmann là một người nghiện rượu. Nhà Forstmanns sở hữu súng và Ted con, người con thứ hai trong số sáu anh chị em, lớn lên trong nỗi sợ hãi về thể xác với cha mình. Nhiều đêm, ngôi nhà của Forstmann vang vọng những âm thanh đánh đập gào thét, đôi khi do chính mẹ Forstmann khơi mào thách thức chồng bà có dám uống mà không theo đơn của bác sĩ hay không. Phải mất 10 năm để con cháu nhà Julius Forstmann giải quyết những rối loạn thời tuổi trẻ: Khi trưởng thành, Ted và anh trai Tony không thể nói chuyện trong 10 năm.

Ở tuổi thiếu niên, Ted Forstmann dồn hết sự giận dữ của mình vào thể thao. Năm 16 tuổi, anh trở thành một trong số những tay vợt nghiệp dư hàng đầu của vùng đông duyên hải nước Mỹ. Tuy nhiên, niềm vui của anh với môn thể thao này đã bị nghiền nát dưới áp lực của người mẹ có dáng người nhỏ bé nhưng đầy tham vọng. Ông gọi bà là “Người mẹ quần vợt” và nói: “Bà ấy thúc ép tôi quá nhiều.” Năm 17 tuổi, sự nghiệp đầy hứa hẹn của Forstmann đã kết thúc. Hòa 5-5 một hiệp ở trận chung kết của một giải đấu lớn ở Forest Hills, ông khiếu nại một quả đánh bóng ra ngoài có tính quyết định nhưng không được chấp nhận. Thắng thế, đối thủ của Forstmann tấn công ác liệt. Ông thua hiệp đấu 7-5; tiếp theo thua trắng 6-0. “Tôi không thể chịu đựng được nữa,” ông nhớ lại, và ông không bước đến sân tennis nào trong 17 năm.

Khúc côn cầu là niềm đam mê khác của Forstmann. Là một thủ môn giỏi, cậu bé Forstmann 8 tuổi lần đầu tiên phải đứng trước khung thành vì không thể trượt băng, cậu thích sự độc lập khi đứng trước cầu môn lớn, khi đó thành công phụ thuộc vào chính cậu. Ở Đại học Yale, Forstmann trở thành sinh viên hạng c, và là một thủ môn khúc côn cầu có thể cản bóng từ mọi hướng. Sau khi tốt nghiệp, Forstmann từ chối lời mời tham gia đội tuyển quốc gia Mỹ tại giải vô địch thế giới, không ai biết lý do tại sao. Thay vào đó, ông lang thang trong một năm, làm những công việc không mấy triển vọng như dạy thể dục tại một trường cải tạo thanh thiếu niên, làm việc cho một công ty luật ở Washington. Sau này ông nói, lúc đó ông là một đứa trẻ mất phương hướng, đang cố gắng vượt qua những nỗi ám ảnh thời thơ ấu. Rồi cha ông mất.

Mong muốn mãnh liệt của Julius Forstmann là cho con trai thứ hai của mình theo học trường luật, và ba tháng sau khi cha mất, Ted Forstmann đăng ký học Đại học Columbia. Nhưng tiền từ tài sản để lại của Julius bắt đầu đội nón ra đi ngay sau đó. Nhà máy sợi len Forstmann Woolens làm ăn thua lỗ và bị bán đi. Tài sản của cha để lại, sau khi trả tiền học phí và sách vở chỉ còn lại một khoản rất nhỏ cho Forstmann chi tiêu: 150 đô-la/tháng. Để sống cuộc sống sang chảnh như trước đây, chàng thanh niên giàu có đến từ Greenwich chơi bài bridge với số tiền đặt cược lớn. Chơi giỏi và luôn thắng, Forstmann nhanh chóng có đủ tiền để sống trong một căn hộ cho thuê giá 350 đô-la/tháng ở khu trung tâm Manhattan.

Sau khi tốt nghiệp, anh đến làm việc cho một công ty luật nhỏ ở Manhattan. Và trong ba năm, Forstmann cam chịu và kiên nhẫn với những chi tiết vụn vặt của các công việc liên quan đến luật pháp của công ty. Nhiều ngày, anh lẻn ra ngoài lúc 4 giờ chiều để đi chơi bài, nếu may mắn, một đêm anh có thể kiếm được 1.500 đô-la. Forstmann ghét cay ghét đắng khoảng thời gian dài cúi mặt trong các thư viện luật để tìm kiếm thông tin cho những đồng sự cấp cao, nhưng anh không đủ tự tin dứt áo ra đi - cho đến một ngày, một công ty nhỏ ở Phố Wall hoạt động trong lĩnh vực rất hấp dẫn: thực hiện những hợp đồng bảo lãnh trái phiếu lớn, đề nghị với chàng luật sư trẻ một công việc tạp vụ tối thiểu nhất. “Forstmann,” luật sư cấp cao tự hào nói với anh bằng giọng nói trầm bổng, “anh sẽ là người liên lạc của chúng tôi với nhà in.” Ngay lúc đó, Ted Forstmann quyết định từ bỏ công việc gò bó trong ngành luật.

Anh đến với những người bạn ở Phố Wall, tại đó, anh học và hiểu được mọi ngóc ngách của các hoạt động bảo lãnh chứng khoán cùng những nghiệp vụ tài chính lặt vặt khác. Chẳng mấy chốc, anh chán công việc đó. Anh thiếu kiên nhẫn vì phải gánh thêm nhiều trách nhiệm và cảm thấy bất công vì được trả công quá thấp. Forstmann dành sáu tháng làm việc cho một công ty đầu tư nhỏ khác có tên Fahaerty & Swartwood. Ở đó, anh làm việc chăm chỉ cùng một thanh niên đến từ bang Oklahoma cũng rất siêng năng tên là Henry Kravis. Forstmann sớm rời bỏ công ty đó để đến những công ty đầu tư vô danh khác, đến nay những công ty này không còn tồn tại nữa. Trong ba năm ở đó, thỉnh thoảng anh cũng được tham gia các công việc về bảo lãnh, ngân hàng đầu tư và sáp nhập. Tuy nhiên, cuối cùng, giống như các công ty trước đây, Forstmann cảm thấy gò bó với công việc văn phòng như nghẹt thở dưới đôi mắt soi mói của giám đốc điều hành cấp cao. “Thực tế, tôi chưa bao giờ là một nhân viên giỏi,” Forstmann nói. “Tôi không bao giờ làm những gì được sai bảo, và luôn không làm theo tuần tự công việc mà người ta ra lệnh.”

Năm 1974, Forstmann lúc này đã 30 tuổi, không có việc làm, và không một xu dính túi. Anh quá sĩ diện, không thể xin tiền mẹ thêm nữa, nên anh đành quay sang luồn cúi cầu xin anh trai Tony, người đã thành lập và thành công với một công ty quản lý tiền mặt có tên Forstmann Leff Associates. Sau khi bán xe, Forstmann có 20.000 đô-la. Với số tiền đó, anh nghĩ sẽ tồn tại được một năm. Để có tiền sinh hoạt, anh hối hả đến các bàn chơi bài bridge, làm việc trên sân golf và thỉnh thoảng cố gắng thu xếp các thỏa thuận giữa những người bạn ở Phố Wall. Gần đến tuổi trung niên, Ted Forstmann vẫn như một kẻ tị nạn ở Phố Wall, là một tay chơi hạng hai với một lời tiên đoán buồn về việc khi nào anh mới tạo nên dấu ấn trong đời.

Tuy nhiên, Forstmann lại có được một vị trí trong ban giám đốc của Graham Magnetics, một công ty nhỏ ở Texas được anh hỗ trợ trở thành công ty đại chúng khi làm công việc cuối cùng ở Phố Wall. Không còn lựa chọn nào khác, anh thuyết phục tổng giám đốc công ty không chỉ bán đi công ty mà còn để Forstmann xử lý cuộc đấu giá.

Không có văn phòng, Forstmann liên lạc với thư ký của anh trai mình ở Forstmann Leff để nhận các cuộc điện thoại gọi đến cho anh. Anh hứa thưởng cho cô một chiếc áo khoác lông chồn nếu cô nói với những người gọi đến rằng anh đang họp, và sau đó nhanh chóng chuyển tin tức đến căn hộ của anh.

Phải mất 18 tháng anh mới bán được Graham Magnetics. “Một công việc buồn tẻ,” Forstmann nhớ lại, nhưng khi thỏa thuận kết thúc, anh kiếm được 300.000 đô-la. Anh mở nhờ một văn phòng ở Forstmann Leff, và cố gắng sắp xếp nhiều thỏa thuận hơn. Forstmann thử bất cứ thứ gì, thậm chí có lúc anh còn rao bán các bộ phận lò nung cho lãnh tụ tối cao trong chính phủ Iran.

Trong số những người bạn chơi golf của Forstmann ở Câu lạc bộ đồng quê của giới nhà giàu, Deepdale Country Club, có Derald Ruttenberg, khi đó là tổng giám đốc một công ty công nghiệp tên là Studebaker Worthington. Forstmann luôn cố gắng sắp xếp các thỏa thuận cho Ruttenberg, vì vậy khi em trai của Forstmann, Nick, lúc đó làm việc cho một công ty mới khởi nghiệp tên là Kohlberg Kravis Roberts & Co., nói anh muốn sắp xếp một cuộc họp với giám đốc điều hành, Forstmann đã đánh hơi thấy một khoản tiền hoa hồng. Anh liền nhanh chóng tiến hành.

Cuộc họp đã thay đổi cuộc đời của Ted Forstmann. Trong cuộc họp đó, anh và Ruttenberg đã nghe Henry Kravis và Jerry Kohlberg đề xuất thứ mà họ gọi là mua lại có đòn bẩy. Forstmann đã quen thuộc với khái niệm này, nhưng chưa bao giờ anh thử bất cứ điều gì giống như vậy trong suốt sự nghiệp ở Phố Wall. Ruttenberg nghe họ nói một cách lịch sự, rồi quay sang Forstmann sau khi hai người rời đi.

“Không phải anh từng nói về điều này sao?”

Forstmann không chắc chắn đã hiểu ý của Ruttenberg. “Vâng, đại loại vậy,” anh nói một cách thận trọng

“Này,” Ruttenberg tiếp tục, “tôi và anh chưa làm những điều mà hai gã này đang làm phải không?”

“Chưa.”

“Vậy giờ ta làm được không?”

“Nhưng trước hết, tôi cần có tiền.”

Cuộc trò chuyện đã dẫn đến việc Ruttenberg đề nghị cấp vốn để Forstmann mở một công ty mới. Vị giám đốc điều hành và một nhóm bạn bè của ông tham gia góp vốn, Forstmann và em trai ông sẽ thử sức với việc mua lại có đòn bẩy. Ruttenberg nói với Forstmann một điều mà chàng trai trẻ sẽ không bao giờ quên: “Tất cả những gì tôi có là danh tiếng, và tôi không muốn đánh mất nó,” Forstmann khắc ghi trong lòng tôn chỉ đó như một tín ngưỡng. Anh lập nhóm với một cựu nhân viên ngân hàng đầu tư tên là Brian Little, và năm 1978, Forstmann Little & Co. bắt đầu hoạt động: ba cộng sự, hai người nhận lương, Ted không nhận lương trong vòng một năm và một thư ký.

Forstmann Little là một trong những công ty LBO đầu tiên gây quỹ từ các quỹ hưu trí khổng lồ, mà trên thực tế, Kohlberg Kravis là người đi tiên phong. Giống như một nhân viên bán bất động sản, tôn chỉ hành động của Ted Forstmann rất đơn giản: danh tiếng, danh tiếng và danh tiếng. Đi khắp cả nước trong hành trình vận động quyên góp quỹ, Forstmann thẳng thắn trung thực, đôi khi tự cao tự đại và có một chút ngây thơ ngày một hoàn thiện bài diễn văn đã trở thành thương hiệu của ông. Bài diễn văn đó gây thiện cảm với đối tác, gây cảm giác tẻ nhạt đến khó chịu cho đồng minh, và gây phẫn nộ cho đối thủ. Nó thường bắt đầu với từ danh tiếng — “tốt nhất ở Phố Wall, cứ hỏi mọi người đều biết” — tiến dần tới các cuộc thảo luận về sức mạnh tài chính của Forstmann Little và những cách làm truyền thống, đặc biệt là các phiên thảo luận sau này, lên đến cao trào với những cuộc tấn công tổng lực vào tệ nạn trái phiếu rác.

Dù phát ngôn có vẻ khoe khoang, nhưng lợi nhuận của Forstmann Little thuộc hàng cao nhất. Trong 3-5 năm, họ bán các công ty với giá gấp 4-10 lần giá mua. Trong những năm 1980, chỉ có một công ty tiên phong mà thành công của họ đã làm lu mờ Forstmann Little: Kohlberg Kravis Roberts.

Tín hiệu đầu tiên báo hiệu thế giới của Forstmann Little đã thay đổi xuất hiện vào năm 1983, khi công ty giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu thầu mua lại Dr Pepper Co., một công ty có đặc quyền về đồ uống có ga ở Dallas. Đối thủ của Forstmann, Castle & Cooke, được hỗ trợ bởi Milken của Drexel Burnham, và sau đó là một nhà giao dịch trái phiếu ẩn danh ở California. Giá thầu bằng tiền mặt của Forstmann Little với sự ủng hộ của nhóm quản lý phải chiến đấu với giá thầu của Castle & Cooke hỗ trợ bởi trái phiếu rác đã thắng sau một cuộc chiến kéo dài.

Dù thắng trận đó, nhưng Forstmann đã sớm thua trên toàn chiến trường. Cuộc đụng độ tiếp theo với một thành viên trong bè đảng trái phiếu rác của Milken không chỉ khiến ông phải nhân thất bại cay đắng nhất mà còn dẫn đến sự thay đổi định mệnh trong cấu trúc quyền lực của Phố Wall. Năm 1985, Revlon, gã khổng lồ mỹ phẩm quốc tế, bị tấn công bởi một nhà đầu tư ít được biết đến ở bang Philadelphia: Ron Perelman. Tài sản chính của Perelman, chuỗi cửa hàng tạp hóa tên là Pantry Pride, chỉ bằng một phần nhỏ quy mô vốn của Revlon, nhưng anh ta lại được trái phiếu rác của Drexel Burnham hỗ trợ. Hệ thống phòng thủ sụp đổ, nhóm quản lý của Revlon nhanh chóng mở rộng vòng tay đón chào Forstmann Little mong cứu vớt công việc của họ, dường như là vậy, và nỗi ám ảnh đang tăng lên về sự giàu có của các cá nhân mà họ không nói ra. Nhưng trong một động thái để tạo ra tiền lệ, Perelman đã thắng khi tòa án bang Delaware phán quyết rằng các chi tiết chính trong thỏa thuận sáp nhập của Forstmann là phân biệt đối xử, và không công bằng với Pantry Pride.

Revlon là vụ tiếp quản thù địch đầu tiên với một công ty đại chúng lớn có sự hậu thuẫn của trái phiếu rác. Nó đã mở đường cho một loạt các trận chiến tương tự, bao gồm các vụ tấn công của những kẻ đột kích như Paul Bilzerian và Sir James Goldsmith. Trung thành với cách làm cũ, Ted Forstmann tự thấy mình có trách nhiệm với những kẻ đột kích tàn bạo được hỗ trợ bằng trái phiếu rác đang trút giận lên các công ty Mỹ.

Tất nhiên, trái phiếu rác không chỉ chiến thắng trong cuộc đối đầu với đạo đức kinh doanh của Forstmann. Nó cũng gây tổn thất cho công ty của ông. Do việc sử dụng trái phiếu rác cho phép những kẻ đột kích huy động tiền với chi phí thấp và dễ dàng, nó cũng có xu hướng đẩy giá mua các công ty là mục tiêu tiếp quản lên cao. Forstmann thấy mình mất lợi thế về giá khi mua các công ty mà trước đây ông không có đối thủ cạnh tranh. Trong nhiều trường hợp, ông từ chối tham gia trận chiến tiếp quản khi những người mua có cổ phiếu rác đẩy giá mua lên cao đến mức vô lý, và kết quả là số thỏa thuận ông hoàn thành ngày càng ít đi. Cuối cùng, điều không tưởng đã xảy ra. Năm 1987, sau khi huy động được quỹ mua lại có giá trị kỷ lục 2,7 tỷ đô-la từ các nhà đầu tư, Forstmann Little lại thất bại khi đề xuất một vụ mua lại có đòn bẩy mới. Điều gì khiến Ted Forstmann đang ở đỉnh cao quyền lực ở Phố Wall lại gặp phải vận xui thế này.

Lúc đầu, Forstmann hướng sự tức giận của mình vào Drexel Burnham. Một lần, cấp phó của Milken đến thăm Forstmann Little. Trong một cuộc họp theo sự sắp xếp của một cộng sự trẻ của Forstmann tên là John Sprague, vị cấp phó này đã đề nghị công ty ông nhảy sang ủng hộ phong trào trái phiếu rác. Forstmann trò chuyện lịch sự với nhân viên ngân hàng Drexel, sau khi bắt tay từ biệt, ông gọi Sprague vào văn phòng của mình. Ông nói với chàng trai trẻ: “John, anh còn một cuộc đời rất dài phía trước và có rất nhiều cơ hội để tìm kiếm lợi nhuận. Nhưng đừng bao giờ đưa thứ cặn bã đó đến đây nữa.”

Cảnh báo cho Forstmann đã tăng lên khi các công ty môi giới khác ở Phố Wall ban đầu thờ ơ với trái phiếu rác, nay lũ lượt theo nhau cố gắng giành lấy một phần của thị trường ngày một mở rộng này. “Hãy tưởng tượng có 10 cô gái lần đầu đến một phòng khiêu vũ,” Forstmann nói với các ủy viên hội đồng của ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch. “Đó chính là những người đứng đầu Merrill Lynch, Shearson Lehman và tất cả các công ty môi giới lớn khác. Sau đó, một ả gái điếm đi vào. Đó là Milken. Các cô gái mới đến sẽ không liên quan gì đến người phụ nữ bán thân xác của mình với giá 100 đô-la/đêm. Nhưng ả này lại khác. Ả kiếm được đến 1 triệu đô-la/đêm. Rất nhanh, ta có gì? 11 ả gái điếm.”

Trước đây, chưa bao giờ Forstmann thất vọng như vậy. Chỉ trong thời gian gián đoạn định kỳ của thị trường trái phiếu rác, Forstmann Little mới có thể cạnh tranh bình đẳng trong những vụ mua lại lớn. Công ty đã thành công trong việc thâu tóm con mồi lớn nhất của mình cho đến nay, một nhà thầu trong lĩnh vực quốc phòng ở bang California có tên Lear Siegler, sau khi thị trường trái phiếu rác tạm thời chững lại sau công bố về vụ bê bối giao dịch nội gián của Ivan Boesky vào tháng Mười một năm 1986. Một lần nữa đối đầu với một khách hàng của Drexel Burnham, Forstmann tiến hành cuộc thập tự chinh với chính hội đồng quản trị của Lear Siegler.

“Trước khi nói để các vị biết chúng tôi là ai,” Forstmann nói với các giám đốc trong buổi gặp mặt, “hãy để tôi nói chúng tôi không phải là ai. Chúng tôi sẽ không phải, và cũng sẽ không bao giờ là khách hàng của Drexel Burnham Lambert.” Forstmann phát hiện tiếng thở hổn hển từ phía một nhân viên ngân hàng của Drexel. “Chúng tôi không, và sẽ không bao giờ phát hành những tờ giấy điên rồ để khiến các công ty mà chúng tôi tiếp quản gặp nguy hiểm. Chúng tôi là người thật có tiền thật.” Forstmann nhớ rằng các giám đốc hôm đó đã hoan nghênh ông.

Đáng chú ý, Forstmann chỉ đối đầu với Kravis một lần, nhưng đó là một thỏa thuận để lại dấu ấn không thể phai mờ trong tâm tưởng của Forstmann. Mùa xuân năm 1988, sáu tháng trước trận chiến RJR Nabisco, Kraft rao bán công ty sản xuất pin Duracell của họ. Forstmann đã hăng hái thuyết phục nhóm quản lý Duracell và thành công. Ông gần như đã thuyết phục được Tổng Giám đốc của Duracell, C. Robert Kidder, thực hiện một lời thỉnh cầu khác thường với ban quản lý cấp cao của Kraft: không bán Duracell cho người mua sử dụng trái phiếu rác như Kohlberg Kravis. Kidder cảnh báo trong một lá thư rằng động thái như vậy sẽ hủy hoại công ty. Với sự kỳ vọng lớn của Forstmann, Kidder đã đưa ra lời thỉnh cầu tương tự với Kravis, người cũng rất thèm muốn Duracell. Kravis không chỉ từ chối lời cầu xin của vị giám đốc điều hành, mà còn tăng giá thầu để mua công ty, nhấn chìm giá thầu của Forstmann Little, và khiến Ted Forstmann nổi giận một lần nữa.

Trong suốt mùa hè và mùa thu năm 1988, sự tức giận của Forstmann trở nên không thể kiểm soát. Ông lặng yên quan sát, và kinh hoàng khi thấy Kravis phá vỡ một trong những nguyên lý thiêng liêng nhất của ngành công nghiệp LBO, bí mật tích lũy cổ phiếu của Texaco và Kroger để giành lợi thế, hành động của một kẻ đột kích thù địch. Các chiến thuật tấn công thù địch đó đã khiến Forstmann dù đau đớn vẫn phải đánh giá lại niềm tin của chính mình. Có lẽ mình đã sai chăng, ông tự hỏi trong những giây phút yên tĩnh. Có lẽ chính mình mới là người bỏ qua ánh bình minh của thời đại tài chính mới. Các cộng sự trẻ tuổi đề nghị ông suy nghĩ lại về việc phản đối trái phiếu rác. Bạn gái ông thúc giục ông hãy quên Kravis đi, đừng lo lắng nữa và hãy tận hưởng sự giàu sang hiện tại. Forstmann đã cố gắng thư giãn, nhưng đổi lại, ông chỉ thấy sự kết tội mà ông vẫn nuôi dưỡng trong lòng lâu nay càng trỗi dậy mạnh mẽ hơn.

Chỉ vài tuần trước khi trận chiến RJR bùng nổ, Forstmann cuối cùng cũng công khai cảm giác giận dữ của mình. Ông xin lời khuyên của bạn bè và trở thành tác giả một bài viết công kích trái phiếu rác trên trang xã luận của tờ Wall Street Journal. Bài báo sẽ xuất hiện vào thứ Ba, ngày 25 tháng Mười.

“Tình hình tài chính hiện nay đang ở trong gian đoạn mất kiểm soát quá độ với việc sẵn sàng chấp nhận tỷ lệ rủi ro quá cao so với khả năng thu hồi tài sản,” Forstmann viết. “Mỗi tuần, với mức độ vô trách nhiệm ngày càng tăng, nhiều tài sản trị giá hàng tỷ đô-la đang phải gánh những khoản nợ khổng lồ gần như không có cơ hội trả được. Hầu hết nguyên do của những gì đang xảy ra là vì những lợi ích ngắn hạn của các nhân viên ngân hàng đầu tư và luật sư Phố Wall, các công ty mua lại có đòn bẩy cùng những kẻ buôn bán trái phiếu, mà hậu quả là thiệt hại về lâu dài cho các nhân viên trên Phố Main, cộng đồng, các công ty và nhà đầu tư.”

Các chuyên gia LBO sẽ nhận ra những đoạn quan trọng trong bài báo của Forstmann, sự chỉ trích các khoản đầu tư vào những ngành công nghiệp có tính chu kỳ như dầu mỏ và lâm nghiệp, như một sự công kích không hề che giấu đối với Henry Kravis. “Quan sát cách thực hiện các thỏa thuận này,” Forstmann kết luận, “giống như xem một đám tài xế say rượu phóng xe trên đường cao tốc vào đêm giao thừa. Bạn không thể nói ai sẽ tông ai, nhưng bạn biết điều đó rất nguy hiểm.”

-

Sáng thứ Hai, khi đứng nhìn ra sông Đông, Ted Forstmann biết mình phải làm gì. Đột nhiên, ông thấy thỏa thuận Nabisco không chỉ lớn về quy mô. Đó không chỉ là một thỏa thuận khác trong tuần này của Henry Kravis. Quan trọng hơn, nó đã trở thành thỏa thuận đó. Ông nhận thấy đây sẽ là đỉnh cao của cuộc thập tự chinh mà ông đã theo đuổi năm năm nay, là dịp cho thế giới thấy sự thật về trái phiếu rác và Kohlberg Kravis Roberts. Đây sẽ là trận chiến của Ted Forstmann, người anh hùng đội mũ trắng chống lại Henry Kravis, kẻ địch đội mũ đen. Trong trận chiến này, Forstmann tuyên bố Kravis sẽ phải bộc lộ mình là kẻ gian trá đúng như bản chất của anh ta.

Nhưng trước tiên, ông phải đặt một chân vào cửa. Các bài báo đặt trên chiếc bàn ăn cổ của Forstmann chỉ có một vài chi tiết về đề xuất mua lại của Ross Johnson. Nhưng ông thích những điều viết trong đó. Đọc những dòng chữ đó, Forstmann phán đoán nhóm của Johnson đã bị buộc phải tiết lộ sớm đề xuất của họ. Nếu vậy, có nghĩa là họ có thể mất vài ngày hoặc thậm chí vài tuần để đưa ra một đề nghị chính thức, và chờ đợi các ngân hàng sẵn sàng cấp vốn cho thỏa thuận. Điều đó có nghĩa là Forstmann Little sẽ có một chút thời gian.

Sự hiện diện của Shearson cũng là một điều đáng khích lệ. Mặc dù hầu như không biết ai ở công ty đó, ông cũng dễ dàng nhận ra đội của Tom Hill không giỏi về mua lại có đòn bẩy. Hơn thế, họ có thể sẽ cần một lượng tiền lớn để hoàn thành bất kỳ thỏa thuận nào. Sức mua 9 tỷ đô-la của Forstmann Little đối với họ có thể là vô giá.

Ross Johnson lại là một điểm cộng khác. Forstmann biết Johnson và người vợ trẻ của lão, Laurie, ông cũng yêu quý cả hai người. Lần đầu tiên ông gặp Johnson là vào đầu những năm 1980 khi Forstmann Little đang cân nhắc mua công ty thực phẩm Fleischmann của Standard Brands. Cuộc nói chuyện của họ vào thời điểm đó đã để lại cho Forstmann ấn tượng rằng Johnson là người sắc sảo mặc dù có chút gì đó giống một tay bán hàng. Sau này, Forstmann giới thiệu Johnson làm thành viên ở câu lạc bộ golf Deepdale, nơi ông có chân trong ban điều hành. (Trớ trêu thay, đó cũng là câu lạc bộ nơi Don Kelly sau này thuyết phục Johnson đến gặp Kravis.)

Vài năm sau, Forstmann gọi cho Johnson, mong muốn lão có một khoản đầu tư vào quỹ mua lại của Forstmann Little. Johnson rất háo hức được giúp đỡ và hết lời khen ngợi. “Chúa ơi, thật là một cơ hội tuyệt vời!” Forstmann nhớ là Johnson đã nói như hét vào điện thoại. “Hay quá. Chúng tôi rất thích!” Forstmann gác máy với ý nghĩ rằng chủ tịch của RJR là một tay khá ổn, ngay cả khi lão thể hiện có chút giống một người dẫn chương trình trò chơi.

Khi mải mê đọc những tờ báo sáng hôm đó, các chi tiết của kế hoạch đã hình thành trong tâm trí Ted Forstmann. Ông nhớ lại cuộc trò chuyện bốn ngày trước đó với nhân viên ngân hàng đầu tư đáng tin cậy nhất của mình, Geoff Boisi của Goldman Sachs & Co. Boisi, một trong những nhà kiến tạo thỏa thuận hàng đầu Phố Wall. Ông này đang cố gắng sắp xếp một liên minh với khách hàng VIP của Goldman để trở thành bên đấu thầu thứ ba của RJR Nabisco.

“Anh thấy có vấn đề gì với việc sở hữu một doanh nghiệp thuốc lá không?” Boisi hỏi.

“Có, sao vậy?” Forstmann đáp.

“Vấn đề là gì?”

Forstmann trả lời mà không suy nghĩ: “Tôi không muốn buôn bán căn bệnh ung thư.”

Khi Boisi kiên trì tuyết phục, Forstmann nói rằng ông sẽ suy nghĩ về điều đó. Sau đó, Forstmann liên lạc với các đối tác của mình, và thấy họ cũng không chắc chắn lắm về việc có ghét bỏ ngành kinh doanh thuốc lá không. Nick, em trai ông, cũng đã cai thuốc, cười mãn nguyện khi cộng số tiền mà Shearson và những người khác sẽ kiếm được từ thỏa thuận của Johnson. Ông tính toán chỉ riêng các khoản phí sẽ cao hơn giá trị của khoản mua lại trị giá 500 triệu đô-la mà Forstmann Little đang xem xét. “Giống như ném 50 cân thịt đẫm máu vào bể cá mập,” ông trầm ngâm suy nghĩ.

Tuy nhiên, viễn cảnh được tham gia vào vụ mua lại lớn nhất trong lịch sử có sức hấp dẫn không thể phủ nhận. Để tự bảo vệ mình, Forstmann gọi điện cho luật sư lâu năm của ông, Stephen Fearin của công ty luật Fried, Frank, Harris, Shriver & Jacobson ở khu hạ Manhattan. “Đừng làm bất cứ điều gì với bất cứ ai khác trước khi anh nói chuyện với tôi,” Forstmann nói. Ông rời văn phòng hôm thứ Sáu, để ngỏ vấn đề về RJR Nasbico.

-

Sau khi ăn sáng, Forstmann chui vào chiếc Mercedes màu đen, lái xe đưa ông đến văn phòng ở tòa nhà General Motors đối diện khách sạn Plaza, chỉ cách trụ sở của Kohlberg Kravis ở số 9 khu Tây, phố 57, mấy bước chân.

“Gọi Jim Robinson cho tôi,” ông nói với thư ký.

“Nghe này, Jim,” Forstmann nói khi Robinson gọi lại vào sáng hôm đó. “Tôi không biết chuyện gì đang xảy ra. Nhưng ông biết đấy, danh tiếng của tôi…” Ông lại bắt đầu với tôn chỉ của Forstmann Little.

Robinson ngắt lời trước khi ông đi quá xa. “Teddy, tôi biết tất cả những điều đó,” ông nói, “tôi sẽ cho người gọi cho ông.”

Forstmann hài lòng. Đó là bước đầu tiên. Thể hiện mình là cách tiếp cận nhanh chóng; ông có thể cảm thấy điều đó. Đây là lúc để thể hiện quan điểm.

Nhưng còn một điều khác, một số cảm xúc khác khiến Forstmann không có cảm giác tự hào, và đến nhiều tháng sau, ông mới thừa nhận với chính mình về sự tồn tại của chúng. Sâu thẳm trong lòng, Ted Forstmann biết mình muốn làm tổn thương Henry Kravis.

Mẹ kiếp. Đây sẽ không phải là thỏa thuận tiếp theo của KKR, Forstmann tự thề với chính mình. Mình biết Ross Johnson. Mình biết Jim Robinson. Henry Kravis sẽ không thể có được vụ này.

[1] Forstmann từng tán tỉnh Carolyne Roehm trước khi cô kết hôn với Kravis. Ông là bạn của người chồng đầu tiên của cô và chính là người đón khách trong đám cưới đầu tiên của Roehm. Roehm khẳng định cô và Forstmann chỉ là bạn bè. (TG)

HoHoàng Thị Ngọc dịch • Barbarians at the gate •
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.