Bọn Rợ Rình Trước Cổng

Lượt đọc: 220 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời kết

❊ ❊ ❊

Sáng hôm sau, Ross Johnson lên máy bay tới Atlanta. Trước khi rời đi, lão ra lệnh phát hành một thông cáo báo chí, trong đó đáng chú ý nhất là: hồ sơ thầu tốt nhất đã giành chiến thắng. Khi Linda Robinson gửi một bản sao đến cho Peter Cohen, anh đã nổi giận. Anh gọi điện cho Steve Goldstone. “Nếu phát hành thông cáo, chúng ta sẽ chết. Bản thông cáo này sẽ giết chết chúng ta.”

Ngay lập tức, Goldstone cảm thấy hoang mang. Anh nghĩ họ đã chết rồi. Cuộc chiến đã kết thúc. Goldstone gác máy, và gọi cho Johnson đang lên máy bay, hướng về phía nam. Johnson thấy khó chịu. Lần đầu tiên trong sáu tuần, lão quyết định tự mình kết thúc mọi chuyện. Vài phút sau, lão gọi cho Cohen. “Peter, kết thúc rồi,” Johnson nói. “Tôi đã chấp nhận thua. Chúng ta sẽ tiếp tục vì ai bây giờ? Chúng ta đã không phục vụ tốt cho công ty hoặc các cổ đông… Kết thúc rồi.”

Tuy nhiên, Cohen, Hill và các nhà kiến tạo thỏa thuận khác của Shearson vẫn dành nhiều ngày để tìm cách trả đũa Kravis. Họ đã xem xét đến một vụ kiện. Tất nhiên, cuối cùng họ không làm gì cả. Năm ngày sau khi Kravis trở thành người chiến thắng, Shearson Lehman Hutton đưa ra một thông cáo báo chí, chính thức kết thúc cuộc chiến RJR Nabisco.

-

Tối thứ Tư, Jim Maher đang nghĩ sẽ về nhà sớm thì Kim Fennebresque gấp gáp đi vào văn phòng của anh. “John Greeniaus đang ở trong thành phố,” Fennebresque nói, “và anh ta muốn nói chuyện với chúng ta.” Giám đốc điều hành Nabisco đang ở trong một phòng họp ở tầng dưới, nhân viên ngân hàng nói. Maher hủy một cuộc gặp, và đi xuống cầu thang với Fennebresque.

“Bất ngờ quá!”

Maher không nói nên lời. Anh suýt quên thứ Tư là sinh nhật mình. Căn phòng đầy bóng bay, bánh, rượu sâm banh và bạn bè. Fennebresque nâng cốc chúc mừng. “Tôi không bao giờ từ chối cơ hội được nâng cốc chúc mừng sếp của mình vào tháng Mười hai,” anh nói, ám chỉ tiền thưởng tháng Một ở Phố Wall. “Thay mặt cho tất cả những người đã làm việc rất chăm chỉ trong hai tuần qua, chúng tôi rất trân trọng sự lãnh đạo của anh đã truyền cảm hứng cho chúng tôi.”

Kinh nghiệm từ vụ RJR Nabisco tỏ ra có lợi cho nhóm của Maher. Bất chấp những dự đoán về sự diệt vong, trong sáu tháng đầu năm 1989, First Boston đã hoàn thành nhiều vụ sáp nhập hơn hầu hết các công ty khác trên Phố Wall. Việc làm ăn của họ với Jay Pritzker thành công trong một số vụ có liên quan đến Pritzker, trong đó đỉnh điểm là vụ First Boston-Pritzker mua American Medical International với giá 1,6 tỷ đô-la vào năm 1989. Tháng Chín năm 1990, Maher được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch của First Boston.

-

Buổi sáng sau hôm giành được chiến thắng vĩ đại nhất trong sự nghiệp, Kravis đến Florida để dự sinh nhật lần thứ 80 của mẹ anh. Ngày hôm sau, anh bay lên phía bắc, tới Atlanta để kiểm tra chiến lợi phẩm của mình. Johnson thẳng thắn thừa nhận thất bại, lão đang đợi anh ở sân bay.

“Nào,” Johnson nói, “chúc mừng, anh bạn. Anh đã có trong tay một công ty khổng lồ rồi đấy.”

Johnson chở họ trên chiếc Mercedes của mình đến Galleria, ở đó lão đưa anh đi một vòng thăm quan trụ sở, và đề nghị giao lại văn phòng cho Kravis ngay lập tức. “Tôi ở đây để anh làm bất cứ điều gì mình muốn,” Johnson nói. “Máy bay là của anh, công ty là của anh.”

“Ross, đâu cần vội thế,” Kravis nói, nhắc nhở lão rằng công ty sẽ không đổi chủ trong nhiều tháng nữa. “Ông cứ tiếp tục điều hành công ty như ông đã làm trước đây.”

Buổi chiều hôm đó, Kravis bay đến Winston-Salem và gặp Ed Horrigan. Horrigan cũng rất lịch thiệp, giống như Johnson, dù ông ta đã sớm bộc lộ rõ vì những lý do khác. Giống như Johnson, Kravis cần chuyên môn về thuốc lá của Horrigan, và vì vậy, với sự khuyến khích của Kravis, Horrigan đã đồng ý trở thành một thành viên dự kiến của nhóm Kohlberg Kravis.

Một tuần sau, Kravis nhận được một cuộc gọi của Horrigan ở New York. “Tôi chỉ muốn nói với anh rằng tôi sẽ không ở dưới trướng ai nữa,” Horrigan nói. “Tôi đã làm việc cho ba người, và hiện giờ họ đều đã trở thành quá khứ: Paul Sticht, Tylee Wilson và Ross Johnson. Tôi muốn hoặc trở thành giám đốc điều hành hoặc sẽ ra đi.”

Từ đó, bắt đầu có những rắc rối phức tạp. Trong mỗi bài phát biểu quan trọng khi tiếp xúc với các ngân hàng cho vay, Horrigan đều nói rằng ông ta thấy không thoải mái khi xuất hiện mà không phải với tư cách giám đốc điều hành. Ông ta không muốn chỉ đạo sai cho các nhân viên ngân hàng khi không còn làm việc ở công ty nữa. Kravis khéo léo tránh sang một bên, hứa sẽ làm rõ ràng tương lai vẫn chưa được quyết định của Horrigan. Đến lần thứ ba, Kravis thấy như vậy là đủ rồi. “Tôi không nghĩ ông nên nói như vậy,” anh nói. “Tại sao ông không từ bỏ đi?”

Vào giữa tháng Hai, Horrigan từ chức. Sự từ chức của ông ta đi kèm: một văn phòng xa xỉ ở Winston-Salem, một thư ký, một quyền chọn mua căn hộ của công ty ở New York và nhà bên ngoài Palm Beach, thực hiện ngay lập tức; và dù vàng trị giá 45,7 triệu đô-la. Sau đó, ông ta dùng một phần số tiền thu được để mua một công ty kẹo ở Atlanta.

-

Vào lúc 8 giờ sáng ngày 9 tháng Hai năm 1989, Kravis mở hầu bao tiếp nhận khoản tiền vay khổng lồ. Sáng hôm đó, Drexel Burnham Lambert chuyển séc, trị giá 5 tỷ đô-la tiền vay họ đã cam kết. Kohlberg Kravis chuyển 2 tỷ đô-la từ tài khoản ngân hàng của chính mình sang cho RJR Nabisco. Ngân hàng Hanover Trust Co. đã tập hợp được 11,9 tỷ đô-la từ các ngân hàng trên toàn thế giới, và chuyển toàn bộ số tiền cho vay này vào một tài khoản ủy thác cho Kohlberg Kravis.

18,9 tỷ đô-la, là số tiền cần thiết để chi trả phần tiền mặt của vụ mua lại. Đó là dòng tiền lớn nhất từ trước đến nay luân chuyển thông qua hệ thống tài chính Mỹ. Cục Dự trữ Liên bang không thể chuyển số tiền lớn hơn 1 tỷ đô-la, vì vậy các ngân hàng phải chuyển nó quanh mức từ 800-950 triệu đô-la. Dòng tiền lớn đến mức số liệu thống kê lượng cung tiền của Mỹ tạm thời phình to khi nó chảy ào ào trong hệ thống.

Tại một phòng họp trên tầng 30 ở công ty của Dick Beattie, Simpson Thacher & Bartlett, có 200 luật sư và nhân viên ngân hàng đóng vai trò là các kỹ sư tài chính của công ty. Họ cẩn thận theo dõi dòng sông tiền, và thấy các nhánh sông đã mở và khóa rất nhịp nhàng, đúng lúc. Đến 10 giờ 45 phút, dòng chuyển động kết thúc. Tất cả số tiền đã về tay chủ mới, và quyền sở hữu RJR Nabisco cũng vậy.

Johnson chính thức từ chức ngay trong ngày hôm đó, kéo dây chiếc dù vàng trị giá 53 triệu đô-la của mình.[1] Chiếc máy bay phản lực Gulfstream mới nhất được đặt mua trước trận chiến LBO bay chuyến đầu tiên đưa lão đến Jupiter. Johnson có một tuyên bố cuối cùng trước khi rời đi: “Quá trình chúng tôi phát động vào tháng Mười năm ngoái đã mang lại lợi ích cho các cổ đông của công ty, và đã chứng minh được sức mạnh tài chính của nhiều công ty khác nhau của chúng tôi.”

Lúc này, sự chú ý của toàn thế giới dồn vào các cổ đông RJR ở Winston-Salem, Bắc Carolina. Họ không cảm ơn Johnson ngay cả khi tiền đang tràn về thành phố. Ngay sau khi Kravis giành chiến thắng, các câu khẩu hiệu đã bắt đầu xuất hiện tràn lan: Tạm biệt Ross, xin chào KKR. Tấm séc trị giá gần 2 tỷ đô-la được chuyển đến bằng thư điện tử vào cuối tháng Hai. Giờ đây, hơn bao giờ hết, Winston-Salem trở thành thành phố của những triệu phú bất đắc dĩ. Dòng sông tiền đã cuốn sạch những cổ phiếu cuối cùng của RJR. Các nhà môi giới và nhân viên ngân hàng địa phương, những người quản lý tiền của mọi người dân đã nhận được những cuộc gọi từ các khách hàng quẫn trí. “Tôi sẽ không bán cổ phiếu đâu,” nhiều người đã khóc nức nở. “Cha tôi nói không bao giờ được bán cổ phiếu RJR.” Họ cứ kiên nhẫn nói họ phải làm như vậy. Nhưng người ta nói với họ rằng thế giới này đã thay đổi rồi.

Ngay khi tấm séc vừa đến, những kẻ lừa đảo tài chính bên ngoài thành phố đã đến Winston-Salem để tư vấn cho người dân nơi đây về cách tốt nhất để chi tiêu cho sự giàu có mới ập đến của họ. Trong các tờ rơi được giấu dưới kính chắn gió trong bãi đậu xe ở Reynolds, trong các cuộc điện thoại gây nhiều phiến phức, trong những cuộc hội thảo tại Holiday Inn, các nhà môi giới chứng khoán đã đề nghị được giúp mọi người tái đầu tư khoản tiền trời cho ấy vào thị trường. Thường thì họ sẽ nhận được câu hỏi đầy hoài nghi: “Ông muốn tôi mua chứng khoán à?”

“Các vị phải hiểu một điều,” Nabby Armfield, Jr., một nhà môi giới chứng khoán đã nghỉ hưu nói, “Reynolds không phải là một thứ cổ phiếu. Nó là một tôn giáo.” Ngài Armfied thậm chí còn thu âm một bài hát đã trở thành bài hát thịnh hành không chính thống thể hiện sự thất vọng của cộng đồng. Bài hát mượn giai điệu của bài “Frosty the Snowman”, điệp khúc của bài hát như sau:

Người tuyết F. Rossie có một giấc mơ với ba lần tỉnh giấc.

Anh lấy sữa tách kem, còn tôi đành lấy kem vậy.

Này tất cả các anh là dân mục đồng, vậy thì thỏa thuận này quá tốt rồi.

Giờ ông lấy trấu đi còn phần tôi lúa mỳ.

-

Vào tháng Mười hai, Johnson gửi cho mỗi giám đốc một bó hoa hồng kèm theo ghi chú: “Chúc mừng các vị vì đã làm được một điều tuyệt vời. Các cổ đông đã giành chiến thắng.” Lão có hơn một buổi ăn tối với họ trước cuộc họp hội đồng quản trị cuối cùng của lão vào tháng Mười hai. Ở đó, mọi người nói chuyện lịch sự, nhưng không thể hiện sự hòa giải. John Macomber đã có sẵn tư tưởng trả thù, nêu ý kiến loại bỏ các khoản thưởng năm 1988 của nhóm quản lý. Bob Schaeberle thực tế đã rơi nước mắt khi nói về sự tan vỡ của Nabisco. Marty Davis gạt bỏ ý tưởng trả cho mỗi thành viên ủy ban đặc biệt một khoản phí 250.000 đô-la.

Các giám đốc ở Winston-Salem phải gánh chịu nhiều chỉ trích của công chúng trong thành phố. Người ta thấy một mệnh phụ thuộc tầng lớp quý tộc gạch tên của John Medlin và Albert Butler khỏi danh sách bữa tiệc Giáng sinh của bà. Một ngày nọ, một nhân viên thuốc lá đã đến gần Medlin và tuyên bố: “Tôi ước mình có 1 triệu đô-la trong ngân hàng của ông, để tôi có thể lấy nó ra và thực sự làm tổn thương ông.”

Đối với các giám đốc khác, cuộc sống vẫn tiếp tục, thậm chí dễ chịu hơn. Năm 1988, tờ USA Today vinh danh Charlie Hugel là anh hùng trong giới kinh doanh. Công ty Combustion Engineering Co. của ông đã được một công ty Thụy Điển mua vào năm sau, và Hugel đã chấp nhận chức danh quen thuộc dưới thời người chủ mới: chủ tịch danh dự không tham gia điều hành. John Macomber được bổ nhiệm làm Chủ tịch của Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ. Vernon Jordan tham gia hội đồng quản trị được tái lập của RJR cùng Medlin với tư cách là người lưu nhiệm.

Paul Sticht quay trở lại làm Chủ tịch của RJR nhiệm kỳ thứ ba, và chẳng để lãng phí chút thời gian nào, ông ta liền gây ra một cuộc hỗn loạn bằng cách thông báo (không chính xác) rằng trụ sở công ty sẽ trở lại Winston-Salem. Một lần nữa, ông ta lại được bay khắp đất nước trong những chiếc máy bay phản lực yêu dấu của công ty, và trở về vị trí cũ trong Bầy thú thủy tinh (Glass Menagerie). Ông ta hài lòng khi thấy cái kết của Ross Johnson, nhưng thừa nhận cái giá phải trả thật quá kinh khủng. “Tôi cảm thấy tồi tệ,” ông ta nói với một vị khách vài ngày sau khi trở về. “Tất nhiên, tôi ước điều đó chưa bao giờ xảy ra.”

Tất nhiên, Sticht chỉ là bù nhìn với tư cách là giám đốc điều hành tạm thời của RJR. Kravis cài cắm quanh ông ta một ủy ban điều hành gồm các giám đốc điều hành là các đối tác và những người đáng tin cậy của RJR để giữ ông ta không quậy phá. Kravis cũng tích cực tìm kiếm một giám đốc điều hành lâu dài cho công ty.

Cùng thời gian đó, vào tối thứ Năm, ngày 9 tháng Ba, Jim Robinson đang ở căn hộ của mình thì nhận được một cuộc gọi từ nhân vật số hai lâu năm của ông, Louis Gerstner, một giám đốc điều hành năng động, người đã có được chữ ký của ông để trang trí cho tấm séc du lịch của American Express. “Tôi cần phải gặp ông vào sáng mai.” Robinson lấy cớ lịch trình của ông rất bận; Gerstner nói rằng ông có việc khẩn cấp. Họ đồng ý gặp nhau tại căn hộ của Robinson vào hôm sau, ngay khi trời vừa sáng. Ở đó, Gerstner tung ra một quả bom: Ông sẽ trở thành Tổng Giám đốc Điều hành tiếp theo của RJR Nabisco.

Cuối buổi sáng hôm đó, khi Robinson đang lái chiếc limousine thì bị giật mình bởi cuộc gọi từ Kravis. Ông vua mua lại xin lỗi vì đã dụ dỗ Gerstner, và nói rằng anh hy vọng điều đó sẽ không khiến American Express gặp quá nhiều rắc rối. Jim Robinson chẳng thể làm gì ngoài việc thể hiện mình là nhà ngoại giao. “Henry, tôi muốn khen cho sự tinh tường của anh,” ông nói. “Anh chỉ mắc một lỗi nhỏ. Anh đã không nói trước với tôi về điều đó.”. Cả hai người cùng cười vang, nhưng sự chua chát là không thể phủ nhận.

Phố Wall thật nhỏ bé, và vì lợi ích của sự hòa hợp, Kravis đã không lãng phí chút thời gian nào, nhanh chóng chữa lành vết thương trong thời gian chiến tranh. Anh đã làm hòa với Peter Cohen tại một hội nghị thượng đỉnh vào tháng Hai, và thực sự đã thuê Tom Hill để điều tra khả năng tiếp quản hãng hàng không Northwest Airlines. Mối quan hệ giữa Kravis và Tom Strauss vẫn căng thẳng. Ngay sau khi thỏa thuận kết thúc, Strauss chuyển đến một căn hộ mới trên đại lộ Park, ngay bên dưới căn hộ của Kravis. Khi giám đốc điều hành Salomon thực hiện một số công việc tu sửa, một vết nứt đã xuất hiện trên tường căn hộ của Kravis.

Kravis cũng chủ động hòa giải với Linda Robinson. Ngay sau vụ việc của Gerstner, Linda nhận được một tin nhắn là Kravis đã gọi. Cô lờ nó đi. Vài ngày sau, cô nhận được chiếc cũi nhốt chó bằng gốm với một ghi chú dễ thương từ Kravis nói rằng anh đang ở trong cũi nhốt chó của nhà Robinson. Linda Robinson đợi vài ngày, sau đó cô gửi cho Kravis một chiếc túi chứa khoảng 1kg thức ăn cho chó. Tất cả đã được tha thứ. Dĩ nhiên, cô và Kravis vẫn sở hữu chú ngựa “Trillion”.

Tất nhiên, các khoản phí liên tục đổ về đã góp phần làm dịu thêm những vết thương trên Phố Wall. Trong những tháng tới, cơn mưa tiền vẫn rơi ở các công ty vừa đủ may mắn giành chiến thắng trong cuộc chiến RJR Nabisco. Drexel Burnham thu về 227 triệu đô-la tiền phí từ khoản vay bắc cầu trị giá 3,5 tỷ đô-la. Họ thậm chí còn thu về nhiều hơn từ việc bán trái phiếu rác. Merrill Lynch nhận được 109 triệu đô-la cho vai trò của mình trong các khoản vay bắc cầu. Một mạng lưới gồm 200 ngân hàng thu được 325 triệu đô-la với cam kết cho vay 14,5 tỷ đô-la. Bản thân Kohlberg Kravis thu về 75 triệu đô-la tiền phí từ các nhà đầu tư. Morgan Stanley và Wasserstein, Perella đã nhận được 25 triệu đô-la cho mỗi bên. Kravis thậm chí còn hào phóng với những người mà lòng tự trọng của họ có thể đã bị anh làm cho bầm dập. Goldman Sachs của Geoff Boisi nhận được công việc bán đấu giá Del Monte, trong khi Lazard Freres của Felix Rohatyn cũng nhận được công việc tương tự với cổ phần của công ty ở ESPN.

Bữa tối kết thúc trận chiến của Kravis khiến kỷ niệm về thỏa thuận này sẽ còn được ghi nhớ rất lâu về sau. Bữa tiệc được tổ chức trong phòng khiêu vũ lớn của khách sạn Pierre, 400 người gồm nhân viên ngân hàng đầu tư, luật sư và những người bạn khác của công ty đã ăn tôm hùm, sau đó là thịt bê với nước sốt nấm và một chiếc bánh cao tới gần 1m, được trang trí bằng bản sao ăn được của các sản phẩm Nabisco, tất cả đều thấm đẫm hương vị rượu vang Dom Perignon chảy tràn từ trên xuống.

“Thật tuyệt vời khi được nhìn thấy tất cả những người bạn của KKR ở đây tối hôm nay,” Dick Beattie phát biểu mở màn bữa tiệc. “Để nghĩ rằng chúng ta chỉ mất 1 tỷ đô-la tiền phí để có thể ở đây cùng nhau.”

Beattie thuộc dạng hiếm, ông trách mắng cả kẻ thù và bạn bè. “Tôi thấy Jeff Beck ở đằng kia,” vị luật sư gây sự chú ý. “Tôi muốn nhắc nhở ông rằng bữa tối này không cấm ghi âm.” Giữa những tràng cười phá lên, giọng nói của Beck vang khắp hội trường. “Nói với Wasserstein ấy! Hãy nói điều đó với Wasserstein!”

RJR Nabisco có thể là lần tung hô cuối cùng của Mad Dog. Tháng Một năm 1990, tờ Wall Street Journal đã cho đăng một bài báo dài cho thấy phần lớn những câu chuyện đầy màu sắc của Beck là bịa đặt. Trong nhiều năm, những câu chuyện mà nhân viên ngân hàng đầu tư này tự tô vẽ như một chiến binh đánh trận trong rừng rậm Việt Nam, và là người thừa kế tài sản trị giá hàng tỷ đô-la đã được kể đi kể lại như thật. Một số giai thoại chỉ xuất hiện trong các phiên bản đầu tiên, chưa được xuất bản của cuốn sách này. Nhưng trong quá trình kiểm tra thực tế, những câu chuyện của Beck không thể chứng thực được, và vì thế chúng đã bị loại bỏ khỏi bản thảo hoàn chỉnh. Phát hiện đó dẫn đến bài báo trên tờ Journal. Sau khi bài báo được đăng, ngài Beck đã từ chức khỏi Drexel.

Nhiều tháng sau chiến thắng, Kravis thật sự tỏa sáng. Tại các bữa tiệc, đám cận thần yêu quý của giới thượng lưu mới nổi hô vang: “Hãy nhường lối cho Vua Henry!” Hồi tháng Năm, khi anh và Roehm cùng một nhóm bạn đi du lịch Ấn Độ, họ đã ăn tối với Thủ tướng Rajiv Gandhi và Thống đốc Jaipur. Kravis và Roehm khoác lên mình những vòng hoa với rất nhiều hoa nhài, hoa huệ, và hoa hồng. Họ được vinh danh như những vị khách quý tại một lễ hội voi, nơi những con thú diễu hành trong trang phục bằng vàng và nhiều màu sắc khác nhau. Họ lướt trên sông bằng sà lan, nghe đàn xi-ta và ăn những bữa tiệc nấu ngay bên bếp lửa ngoài trời. Ở Maharaja, người hâm mộ thổi hơi lạnh từ những khối băng bên trên phủ hoa nhài. “Chúa ơi,” Oscar de la Renta nói, “nếu đây không phải là sự tinh tế, thì là gì đây?” Cuộc sống, như họ nói, thật tốt đẹp.

Nhưng khoảng thời gian đắm mình trong chiến thắng của Kravis khá ngắn ngủi. Vào tháng Tám, cuộc tranh chấp ầm ĩ giữa anh ta và Jerry Kohlberg nổ ra công khai, khi Jerry Kohlberg kiện Kohlberg Kravis, tuyên bố ông ta đã bị lừa về số tiền thu được từ một số khoản đầu tư LBO. Vụ kiện được giải quyết vào đầu năm 1990; các điều khoản không được tiết lộ. Ngay sau vụ kiện của Kohlberg, Kravis lần đầu tiên đối mặt với công luận khi anh bị buộc tội sai hẹn hoặc không thanh toán nợ trong ba vụ LBO, bao gồm cả vụ Owens-Illinois. Tờ The New York Times đăng bài viết với tiêu đề “Cracks in House That Debt Built” (tạm dịch: Rạn nứt trong ngôi nhà khi nợ nần chồng chất).

Kravis nhấn mạnh rằng mọi chuyện không có gì đáng ngại, người ta chỉ cố làm ầm lên thôi, và bắt đầu tập trung sự chú ý vào các mục tiêu ở châu Âu. Tuy nhiên, một năm sau trận chiến RJR, Kravis vẫn chưa bắt đầu một vụ LBO mới. Cạnh tranh vẫn gay gắt, và sau những lần va chạm với công luận từ vụ RJR, Kravis đã không còn mặn mà tham gia các trận chiến được công luận đặc biệt chú ý như cuộc tranh giành hãng hàng không Northwest Airlines. Lần đầu tiên, báo chí và các đối thủ cạnh tranh bắt đầu suy đoán công khai liệu Kravis có còn được như xưa.

Ở RJR, Lou Gerstner đã nhanh chóng cắt tỉa đế chế của Johnson. Có Dick Beattie ở bên cạnh trợ thủ, Gerstner đã bán bảy trong số tám máy bay phản lực cùng hơn chục căn hộ và nhà ở công ty. Chỉ có nhà chứa máy bay rất được yêu quý của Johnson có vẻ không thể bán được. “Nó quá phô trương,” Beattie bực bội nói vào tháng Chín năm 1989. “Không thể bán một thứ như vậy.”

Các cố vấn từ McKinsey & Co. đến đông như kiến ở trụ sở Atlanta, đánh giá mọi thứ và chuyển nhượng nhiều thứ. Các nhân viên cảm thấy như thể họ đang ở trong vùng đất bị chiếm đóng. Đối với nhiều người, đó là cọng rơm cuối cùng. Khi Kravis tuyên bố vào tháng Tư rằng trụ sở sẽ chuyển đến New York, chỉ 10% các nhà quản lý được đề nghị đến làm việc ở trụ sở mới đồng ý chuyển đi. “Tôi không cảm thấy mình đang làm việc cho một công ty nữa,” một người từ chối ra đi nói. “Tôi cảm thấy như mình đang làm việc cho một khoản đầu tư.”

Chỉ có điều, khoản đầu tư đó tốt như thế nào vẫn chưa rõ ràng. Công ty báo cáo lỗ ròng 1,15 tỷ đô-la vào năm 1989, sau khi trả khoản nợ 3,34 tỷ đô-la. Số lỗ tăng thêm 330 triệu đô-la trong nửa đầu năm 1990. Nhưng dòng tiền mặt quan trọng của nó vẫn rất mạnh mẽ, và việc thoái vốn ở một số công ty thực phẩm đã thu về gần 5 tỷ đô-la. (Hoạt động đóng hộp thực phẩm Del Monte đã được bán cho một nhóm, trong đó có Bob Carbonell. Ông này trở thành chủ tịch của công ty mới.)

John Greeniaus đã chứng minh lời nói của mình là đúng, khi tăng gấp rưỡi lãi hoạt động của Nabisco và tăng gấp ba lần dòng tiền mặt vào năm 1989. Chi phí cho giải đấu Dinah Shore LPGA bị cắt giảm một nửa, công ty cũng chối bỏ trách nhiệm tài trợ PGA, và phần lớn thành viên Đội golf RJR Nabisco ra đi vô điều kiện. Trong khi lợi nhuận của Nabisco tỏ ra khó duy trì, Greeniaus trở thành nhân vật được sủng ái của Kravis. Anh được bổ nhiệm vào hội đồng quản trị của RJR Nabisco.

Tuy nhiên, thuốc lá Reynolds lại vướng phải vô số khó khăn. Vào tháng Ba năm 1989, RJR khai tử Premier. Trong vài tháng sau, 2.300 nhân viên bị giảm biên chế. Trong vòng một năm đó, tận dụng sự xáo trộn, Philip Morris ngày càng vượt lên, bỏ xa RJR. Các cuộc tấn công của những người ủng hộ các vấn đề về sức khỏe ngày càng trở nên gay gắt. RJR đã phải từ bỏ một loại thuốc lá mới dự kiến sẽ thu lời lớn, tên là Uptown sau khi Bộ trưởng Bộ Y tế và Sức khỏe Con người Louis W. Sullivan chỉ trích thương hiệu của họ. Ngay cả thành phố lân cận của Winston-Salem, Greensboro, cũng hưởng ứng xu hướng của các sắc lệnh chống hút thuốc lá.

Tuy nhiên, công ty vẫn tạo ra lượng tiền mặt lớn phi thường dưới quyền giám đốc điều hành mới, một nhân viên ngân hàng 43 tuổi đến từ New York tên là Jim Johnston. Từng một thời là nhân viên marketing giỏi ở Thuốc lá Reynolds, Johnston bị sa thải vào năm 1984 vì phản đối việc tích trữ thuốc lá. Anh kết thúc cách làm đó sau khi quay trở lại, buộc xóa sổ 340 triệu đô-la hàng hóa tích trữ kém hiệu quả, nhưng tăng cường hiệu quả sản xuất và phân phối. Sự thay đổi đó cùng việc cắt giảm sâu chi phí đã tạo ra mức tăng 46% trong hoạt động kinh doanh thuốc lá ở nửa đầu năm 1990.

Năm 1990, RJR Nabisco gặp phải thách thức nghiêm trọng đầu tiên, và trớ trêu thay, nó đến từ Phố Wall. Điều khoản “cơ chế định lại lãi suất” rất quan trọng được bất ngờ đưa ra trong những giờ đấu giá tuyệt vọng cuối cùng yêu cầu hơn 4 tỷ đô-la trái phiếu cần được khôi phục về giá trị mệnh giá ban đầu vào tháng Tư năm 1991. Và khi ngày đó đến gần, trái phiếu đã được giao dịch với mức chiết khấu cao: chi phí cho việc “định lại lãi suất” thật sự có thể lên tới hàng tỷ đô-la, quá đủ để làm công ty phá sản. Cố gắng giành giật vì nhẹ dạ ở vào thời điểm đặc biệt đen tối, George Roberts châm biếm rằng nếu không có một hình thức giải cứu ngay lập tức, phần tiếp theo của Bọn rợ rình trước cổng có thể có tên là Bọn rợ đang tháo chạy (Huns on the Run).

Với uy tín của mình, Kohlberg Kravis đã tránh được quá trình đó. Vào tháng Bảy năm 1990, công ty công bố gói tái cấp vốn trị giá 6,9 tỷ đô-la cho phép họ mua lại trái phiếu rác, và thay thế bằng các hình thức vay nợ ít phiền phức hơn. Thủ đoạn tốn kém này có lẽ là để đảm bảo rằng với vụ mua lại này, RJR sẽ không phải là một thảm họa đang ngày càng rớt giá, cũng không phải là một khoản lợi nhuận từ trên trời rơi xuống của Kohlberg Kravis. Dù thế nào đi nữa, họ vẫn đảm bảo các khoản thanh toán lớn đúng hạn cho các nhân viên ngân hàng và luật sư, những người giúp tái cơ cấu thỏa thuận ban đầu: thêm 250 triệu đô-la tiền phí nữa.

Có một điều rõ ràng là cuối cùng, câu hỏi về sự thành công hay thất bại của Kravis sẽ phải mất nhiều năm nữa mới có được lời giải. Để làm cho tình hình tồi tệ hơn, khi cảm nhận được RJR đang yếu thế, Philip Morris đã quyết hạ gục đối thủ, tấn công công ty ở một số thị trường trọng điểm. Họ tăng cường lực lượng bán hàng, tấn công Reynolds về giá cả và thương hiệu giảm giá mạnh của công ty là Doral bằng hai thương hiệu mới giảm giá của chính họ. Các nhà phân tích dự đoán khối lượng thuốc lá bán ra của RJR có thể giảm từ 7-8% vào năm 1989, trong khi Philip Morris sẽ tăng với khối lượng tương đương.

“Philip Morris đang cướp đi bữa trưa của chúng tôi,” Cliff Robbins của Kohlberg Kravis thừa nhận vào tháng Mười năm 1989. “Marlboro là một cỗ máy kiếm tiền không thể ngăn cản. Chúng tôi có rất nhiều việc phải làm.”

-

Đến năm 1990, bữa tiệc trên Phố Wall đã đến hồi kết thúc, những ký ức về các vụ tiếp quản và mua lại thưa dần theo từng ngày.

Theo sau sự kiện mua lại RJR Nabisco, hoạt động LBO đã giảm mạnh, và đến mùa thu năm 1989, cả Kohlberg Kravis và Forstmann Little đều không thực hiện một vụ mua lại lớn nào. Viễn cảnh về luật chống LBO được nêu trong quá trình diễn ra trận chiến RJR đã làm trì hoãn nhiều thỏa thuận. “Nhân tố Ross Johnson” đã khiến những người khác phải dè chừng vì: Rốt cuộc, có rất ít giám đốc điều hành sẵn sàng vượt qua sự bêu rếu công khai mà Johnson phải chịu đựng.

Nhưng điều khiến Phố Wall phải dừng tay là sự rung chuyển trong thị trường trái phiếu rác. Tám tháng đầu năm 1989 đã chứng kiến 4 tỷ đô-la trái phiếu rác không trả được nợ, và khoản nợ đó phải hoãn trả. Điều khiến người ta chú ý lại là rắc rối của doanh nhân người Canada Robert Campeau, ông chủ của đế chế bán lẻ của Mỹ. Vào tháng Mười, việc làm sáng tỏ thương vụ mua lại trị giá 6,79 tỷ đô-la của hãng hàng không United Airlines gây hoảng loạn trên Phố Wall khiến chỉ số công nghiệp trung bình Dow Jones giảm gần 200 điểm, và dẫn đến những lo ngại về sự sụp đổ mới của thị trường.

Đúng như Ted Forstmann đã chỉ ra, trái phiếu rác có thể là một công cụ hữu ích, nếu được sử dụng đúng cách. Tất nhiên, vấn đề là chúng đã bị lạm dụng với số lượng quá lớn. Trong những tháng tới, sự sụt giảm của trái phiếu rác sẽ ngày càng sâu sắc, cắt đứt nguồn nhiên liệu cho cỗ máy tiếp quản trên Phố Wall. Khi các ngân hàng siết chặt nguồn tiền với Drexel Burnham - vốn đã điêu đứng vì phải chi trả 650 triệu đô-la để giải quyết phần của họ trong vụ kiện của Milken - công ty vốn là biểu tượng của kỷ nguyên trái phiếu đã phải đệ đơn xin được bảo vệ phá sản, và tuyên bố ý định thanh lý công ty.

Với sự sụp đổ của Drexel, cùng các lời biện hộ chối tội của những người khổng lồ trong ngành tài chính như Ivan Boesky và Michael Milken trong các vụ bê bối nội gián, ý kiến phổ biến là kiên quyết quay lưng lại với Phố Wall, và sự tham lam vô độ của những năm 1980. Phản ứng dữ dội đó kết hợp với sự sói mòn các nền tảng tài chính cơ bản càng thúc đẩy ngày tàn của một kỷ nguyên không giống như bất kỳ kỷ nguyên nào Phố Wall từng chứng kiến.

Một luồng gió mới đang thổi đến. Khi một thập kỷ mới bắt đầu, món đặc sản nóng hổi nhất dành cho các cử nhân MBA trẻ tuổi là tái cấu trúc tài chính, tức là sửa chữa các vụ mua lại bị phá sản của những năm 1980. Hàng nghìn nhân viên Phố Wall, bao gồm số lượng lớn những triệu phú dưới 30 tuổi, đã mất việc khi ngành tài chính vướng vào sự sụt giảm hứa hẹn sẽ chỉ kéo dài trong một năm. Cuốn hồi ký của một nhân viên bán trái phiếu trẻ tuổi, của Salomon Brothers tên là Liar’s Poker (Trò bịp trên Phố Wall[2]) đả kích một thập kỷ vượt quá giới hạn trên Phố Wall lọt vào danh sách bán chạy nhất, và giữ vị trí đó suốt gần một năm. Ở khắp mọi nơi, các nhân viên ngân hàng đầu tư cùng việc sáp nhập bị tấn công như thể tội phạm chiến tranh nhưng ở mức độ thấp hơn. Theo nguyên tắc đó, những vụ tiếp quản sẽ bị chế giễu một cách công khai, thậm chí đôi khi là bởi những người từng tạo ra cả gia tài nhờ chúng.

Phần lớn bọn họ, các thành viên của Nhóm, nổi lên từ đống đổ nát trong tình trạng tốt. Vào tháng Chín năm 1990, Tom Hill được bổ nhiệm làm đồng giám đốc điều hành tại bộ phận ngân hàng đầu tư của Shearson Lehman. Eric Gleacher rời Morgan Stanley để bắt đầu thành lập công ty của riêng mình, Gleacher & Co., và nhanh chóng thành công khi kết hợp với Beatrice mua ConAgra trị giá 1,34 tỷ đô-la từ Henry Kravis. Steve Waters là một trong hai nhân viên ngân hàng đầu tư nắm quyền tại Morgan sau khi Gleacher rời đi. Bruce Wasserstein phải chịu một loạt chỉ trích truyền thông cho vai trò của mình trong một số thỏa thuận đáng thất vọng.

Một trong số những người không thể sống sót qua thời đại đó là Peter Cohen, anh đồng ý từ chức Chủ tịch Shearson do áp lực vào tháng Một năm 1990. Mối quan hệ giữa Cohen và Jim Robinson đã căng thẳng sau trận chiến RJR Nabisco lại xấu đi nhanh chóng vào năm 1989, khi Shearson cứ mãi lặn ngụp trong những thất bại, bao gồm cả việc tái cấu trúc không được công bố rộng rãi, dẫn đến sự từ chức của Tổng Giám đốc Jeff Lane. Khi xuất bản cuốn sách này, Cohen đã rất ngạc nhiên khi biết chi tiết về vai trò bí mật của Linda Robinson khi đàm phán với Henry Kravis. Tiết lộ được đưa ra vào thời điểm nhạy cảm đối với Cohen, anh cảm thấy điều đó khiến quyền lực của anh bị suy yếu, và cuối cùng dẫn đến sự tuyệt giao với Robinson. Sau đó, anh nói với một số người rằng cuốn sách này miêu tả anh không công bằng, và Jim Robinson là người ủng hộ mọi quyết định mà anh đưa ra trong thỏa thuận Nabisco, bao gồm cả việc đàm phán gói lợi ích của Ross Johnson.

Tất nhiên, Ted Forstmann cảm thấy mình đã chứng minh được bản thân đúng hoàn toàn thông qua sự sụp đổ của kỷ nguyên trái phiếu rác. Ông là người anh hùng được ca ngợi với một loạt bài báo, là tiếng nói đơn độc trong bóng tối, là người đã chiến thắng lòng tham. Các cố vấn khuyên Forstmann nên giảm bớt sự tự tán dương, và ở một mức độ nào đó, ông đã nghe theo lời khuyên của họ. Sự ngay thẳng luôn có sức hút rất lớn, Forstmann đã thu hút sự chú ý, và ông xứng đáng với điều đó. Sự trớ trêu cuối cùng xuất hiện vào đầu năm 1990, khi Henry Kravis cố gắng giữ cho RJR Nabisco không bị chia tách, Forstmann đã thực hiện các thỏa thuận trở lại. Không có nhiều, chỉ có chỗ này một thỏa thuận, chỗ kia một thỏa thuận, nhưng như vậy đã nhiều hơn bất kỳ ai thành công trong ngành LBO. Khi trái phiếu rác đã hết thời, tiền thật của Forstmann lại lên ngôi. Lần đầu tiên trong nhiều năm, Ted Forstmann trở thành người được kính trọng.

Ở Atlanta, vào tháng Năm năm 1989, Johnson có thái độ tự hào thái quá về sự suy thoái. “Tôi e là tất cả chúng sẽ quay trở lại tủ đựng tài liệu,” lão nói và cười khúc khích. “Có đến 80 hoặc 90% các công ty có các nghiên cứu về LBO. Và bây giờ, có người nói với tôi: ‘Chúa ơi, Ross, chúng tôi đã đốt mọi tài liệu mình có.’”

Không giống những người khác, Johnson không ủ ê chán chường cũng không ngoảnh đầu nhìn lại. Thất nghiệp, lão chuyển đến làm việc tại một văn phòng ở Galleria, chung tầng với một đài phát thanh nhạc đồng quê. Công ty mới cộng tác với John Martin của lão có tên RJM and Co.. Hai người bạn cũ luôn thấy khó khăn khi muốn nói chính xác RJM Associates hoạt động trong lĩnh vực gì dù biết rõ công việc của họ là đưa ra lời khuyên đặc biệt cho bạn bè với mức tiền phí 1 đô-la một năm. (Với gói thôi việc dù vàng trị giá 18,2 triệu đô-la của riêng mình, nhu cầu về thu nhập của Martin không nhiều hơn so với Johnson.)

Johnson cùng một số người bạn cũ đầu tư vào một liên doanh mua hoạt động của Nabisco ở vùng Viễn Đông. Nhưng lão chủ yếu tìm thú vui cho bản thân. Giữa các kỳ nghỉ đi chơi golf và trượt tuyết, Johnson loanh quanh với bảy hội đồng quản trị mà lão tham gia. Lão đi xem phim với Laurie, và tiếp tục trông nom cậu con trai Bruce. Anh đã thoát khỏi tình trạng hôn mê, nhưng vẫn phải ở trong bệnh viện để điều trị chấn thương, và vẫn không thể nói được. Anh cũng đã bắt đầu giao tiếp thông qua đánh vần. “Chúng tôi thấy rất phấn khởi,” lão nói vậy vào mùa hè năm 1990.

Mặc dù Johnson tuyên bố rất vui với cuộc sống nửa về hưu hiện tại, bạn bè nghi ngờ lão sẽ tiếp tục sống như vậy. Một trong những lý do là bởi lão không phải là người sẽ chịu bay ở hạng thương gia. Bạn bè cho rằng có thể phải mất một thời gian để lão phục hồi lại danh tiếng, nhưng Ross Johnson sẽ trở lại. Trong những câu nói có thể dùng để ghi trên bia mộ, lão không hề phủ nhận điều đó. “Tôi luôn sẵn sàng để thay đổi,” lão nói.

Dù xảy ra nhiêu biến động, rất ít người ở Winston-Salem đổ lỗi cho Kravis. Thay vào đó, họ tiếp tục phỉ báng Johnson. Chỉ một số ít người có cái nhìn rộng lượng hơn. “Nếu Ross Johnson không xuất hiện,” Gene Hoots, cựu giám đốc quỹ lương hưu của RJR nói, “thì chắc chắn Phố Wall sẽ cần phải sản sinh ra một người giống ông ta.”

Xét trên quan điểm đó, Johnson là một sản phẩm của thời đại đó, điều này chắc chắn như R. J. Reynolds là của lão vậy. Những năm 1980 ồn ã là thời đại mới của sự giàu có, khi người ta phải giành được chiến thắng bằng mọi giá. Felix Rohatyn từng đặt cho nó cái tên là “Thời đại của những sòng bạc”. Các nhân viên ngân hàng đầu tư vừa là người chia bài vừa là những con bạc. Họ nhồi vào đầu người ta những kế hoạch điên cuồng, dùng bàn phím tạo ra những bản in máy tính mới, và thậm chí điên cuồng biện minh cho các kế hoạch đó hơn, sau đó bày ra trước mặt các giám đốc điều hành những cám dỗ trong “điệu nhảy của quỷ dữ”. Tùy thuộc vào quan điểm của mỗi người, điệu nhảy của nhóm Johnson khởi xướng tại RJR sẽ được coi là cao trào hay thoái trào của thời đại đó.

Không phải ngẫu nhiên mà RJR Nabisco làm ra chuyện này vào thời điểm đó. Khi thập kỷ đó kết thúc, Reynolds chưa xứng đáng là một công ty tuyệt vời nhưng xứng đáng là một cỗ máy vĩ đại trong mơ. Dòng tiền từ thuốc lá của công ty này cho phép tính tự cao tự đại của họ trở nên hoang dại khó kiềm chế, và cho phép những sự tưởng tượng kỳ quặc trở thành sự thật. Paul Sticht có thể đi dạo với các vị vua. Ed Horrigan có thể sống như những vị vua. Các giám đốc có thể được đối xử như những vị vua.

Với việc tự đưa mình lên sàn đấu giá, công ty đã biến chính họ thành một lăng kính khổng lồ, qua đó rất nhiều nhân vật trên Phố Wall tự ngấm nghía ánh hào quang của mình phản chiếu trong đó. Jim Maher có thể khôi phục sự vĩ đại của First Boston. Ted Forstmann có thể theo đuổi cuộc thánh chiến. Peter Cohen có thể đi từ vị trí quản trị viên đến hoàng tử trong lãnh địa ngân hàng đầu tư. Henry Kravis có thể một lần chạm tới ngôi hoàng đế. John Gutfreund có thể ghi tên mình vào bên trái của bảng quảng cáo đen trắng.

Những người sáng lập của cả RJR và Nabisco hoàn toàn không hiểu được chuyện gì đang xảy ra với công ty của họ. Có lẽ cũng không khó hình dung ra cảnh R. J. Reynolds và Adolphus Green lang thang khắp các cuộc tàn sát trong trận chiến LBO. Thỉnh thoảng, họ lại quay sang hỏi nhau những câu hỏi khó hiểu. Tại sao những người này lại quan tâm đến những thứ được in ra từ máy tính của họ nhiều đến vậy, trong khi không mấy để tâm đến sản phẩm mà các nhà máy của họ làm ra? Tại sao họ lại có ý định chia cắt công ty thay vì chung tay xây dựng nó? Và câu hỏi cuối cùng là: Tại sao họ lại làm tất cả những điều này với một công ty đang hoạt động?

[1] Tổng giá trị do tờ Business Week cung cấp. (TG)

[2] Cuốn sách đã được Alpha Books mua bản quyền và xuất bản năm 2010. (BTV)

HoHoàng Thị Ngọc dịch • Barbarians at the gate •
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.