Bọn Rợ Rình Trước Cổng

Lượt đọc: 234 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 8

❊ ❊ ❊

Chiều thứ Sáu, Tom Hill ngồi chôn chân trong một phiên họp chiến lược tưởng như không bao giờ kết thúc của Pillsbury tại công ty luật Skadden Arps trong trung tâm thành phố. Trong thời gian kể từ khi bên nguyên người Anh, Grand Metropolitan, phát động một cuộc đấu thầu thù địch, Pillsbury đã thuê một nửa Phố Wall đến, dựng lên hàng phòng thủ để bảo vệ công ty. Họ đã xem xét các khả năng LBO, tái cấu trúc hệ thống phòng thủ, tăng giá thu mua, chia tách. Cho đến nay, mọi biện pháp hầu như đều không có tác dụng.

Vấn đề là đơn giản có quá nhiều bên tham gia. Hill đại diện cho Shearson. Jeff Beck đứng đầu một nhóm đến từ Drexel. Bruce Wasserstein là trụ cột của đội ngũ đến từ Wasserstein Perella. Các nhân viên ngân hàng bên First Boston cũng qua lại nhộn nhịp.

Cho dù đang phải đối mặt các vấn đề đau đầu ở Pillsbury, Hill không thể ngừng nghĩ về RJR Nabisco. Trò chơi được chờ đợi từ lâu đã bắt đầu. Ủy ban đặc biệt được thành lập, và nếu mọi việc suôn sẻ, họ sẽ tiến tới việc định giá công ty trong hai hoặc ba tuần tới. Đến lúc đó, Hill cá là nhóm quản lý của Ross Johnson đã sẵn sàng lên bàn đàm phán, mặc cả với các giám đốc về giá chào bán và cuối cùng, đồng ý mua công ty với giá chỉ nhỉnh hơn vài đô-la so với giá họ đã đề xuất 75 đô-la, có thể lên mức giá 80 đô-la/cổ phiếu.

Trong khi đó, Shearson vẫn đang rất cảnh giác, canh chừng từng động thái cho thấy các dấu hiệu của đấu thầu cạnh tranh. Chỉ mới 30 giờ trôi qua kể từ khi có thông báo ban đầu của Johnson, nhưng Hill biết tất cả nhân viên ngân hàng đầu tư trên Phố Wall sẽ tìm cách để đặt giá cao hơn mức 75 đô-la. Cho đến giờ, chưa ai có động tĩnh gì; nếu may mắn, sẽ không có ai ra giá. Hill ghét sự chờ đợi. Nó làm ông khó chịu.

Khi các cuộc họp ở Pillsbury cứ kéo dài mãi một cách buồn tẻ, Hill nhận thấy Jeff Beck và Bruce Wasserstein cứ lén lút ra vào phòng họp. Cả ngày hôm nay, hai người họ dường như đặc biệt bận rộn. Hill tự hỏi họ đang làm gì. Ông lại suy nghĩ về điều Beck nói với ông về RJR vào đầu buổi làm việc hôm đó. “Các ông định giá thấp quá.” Mad Dog bảo đảm với ông. “Chắc chắn sẽ có một cuộc đấu giá.” Ngay lập tức, Tom Hill nhận ra tất cả những sự nhốn nháo đó là gì, và cảnh báo của Beck phải có ý nghĩa gì đó.

Là Kravis.

Không thể. Henry Kravis sẽ không thử làm gì đó với quy mô này nếu không có nhóm quản lý cùng phe với anh ta. Ngoài ra, Johnson đã nhiều lần nói rằng Kravis không quan tâm đến RJR Nabisco.

Hill nghĩ rằng phải tìm hiểu cho chắc chắn. Ông xin phép hội nghị ra ngoài, đi thẳng đến một chiếc điện thoại, và bấm số gọi cho Kohlberg Kravis dựa theo trí nhớ. Khi Kravis cầm máy, Hill cố làm cho giọng nói trở nên vui tươi.

“Tôi đang tự hỏi liệu bên anh có quan tâm đến Kraft không?” Hill nói.

“Chúng tôi nghĩ rằng mình có thể giúp các anh.” Lý do của cuộc gọi đã rõ ràng: Kraft đã bị đấu giá bốn ngày nay rồi, quá dài với một vụ tiếp quản. Nếu muốn tiến tới với công ty này, chắc chắn Kravis đã thuê một cố vấn đầu tư.

Kravis gần như không thể kìm nén sự tức giận của mình. “Nhiều người đã hỏi chúng tôi về Kraft, Tom. Chúng tôi có thể bắt tay với một trong số họ. Nhưng sẽ không phải là các ông…”

Chỉ trong một phần giây, Hill hiểu ngay vấn đề. Qua giọng điệu độc địa của Kravis, ông nhận ra nỗi sợ hãi lớn nhất của ông đã thành sự thật. Henry Kravis rất muốn RJR Nabisco. “Henry bộc lộ điều đó ngay trên điện thoại.” Sau này, Hill nhớ lại: “Anh ta đã sẵn sàng chiến đấu.”

Thông điệp của Kravis rất ngắn gọn: “Tom, ông biết đấy, các ông đã vượt mặt chúng tôi trong vụ RJR. Chính tôi đã nêu ý tưởng với Ross Johnson. Chúng tôi có quan hệ đặc biệt với bên ông. Thật bất ngờ, trong một thỏa thuận tầm cỡ thế này mà chúng ta lại không có cơ hội làm việc cùng nhau. Chúng tôi không thể đứng ngoài cuộc chơi này.”

Cuộc trò chuyện nhanh chóng kết thúc. Hill cúp máy, sững sờ.

Đã có những sai lầm khủng khiếp. Và ông phải suy nghĩ thật nhanh.

Rất nhanh, ông gọi cho Peter Cohen ở Shearson, và truyền đạt tin tức về cuộc gọi với Kravis. Trước sự ngạc nhiên của Hill, Cohen có vẻ không mấy lo lắng.

“Vậy anh ta tức giận vì chuyện gì?” Cohen hỏi.

“Tại sao không đến gặp anh ta rồi tìm hiểu xem?”

“Tại sao không tìm hiểu xem rồi hãy đến gặp anh ta?”

Hill suy nghĩ kỹ về các khả năng. Họ có thể ngăn Kravis. Họ có thể xoa dịu anh ta. Cho dù thế nào, họ cũng phải gặp anh ta, dù chỉ để đánh giá chính xác hơn ý định của anh ta. Cohen không cho rằng một cuộc gặp với Kravis là cần thiết. Đây là thương vụ của Shearson; họ đâu cần đến anh ta.

Hill thấy phải làm cho Cohen nhận ra tầm quan trọng của cuộc gọi. Henry Kravis không phải là người cứ muốn cản lại là được.

“Peter, anh phải hiểu…”

Nửa tiếng sau, Hill lại gọi Kravis. “Peter và tôi muốn gặp anh,” ông nói.

Lúc đó đã muộn. Kravis đề nghị họ gặp nhau vào thứ Hai.

Hill tỏ vẻ lo lắng bồn chồn.

“Hãy gặp nhau ngay bây giờ. Tôi nghĩ rằng chúng ta nên gặp nhau.”

“Tom, muộn rồi.”

“Henry, tôi thực sự muốn có cuộc gặp này.”

“Được rồi,” Kravis đồng ý.

Đúng 6 giờ, Hill hối hả chạy trong cơn mưa phùn vào sảnh tòa nhà Số 9 khu Tây. Khi bước vào, ông va phải Jeff Beck và một cộng sự đang đi ra. Hill gượng cười. “Tôi biết các anh vừa mới từ đâu ra.” Vậy là Kravis đã thuê Drexel, ông nghĩ. Từng phút qua đi, tình hình càng trở nên tồi tệ hơn.

Lên đến trên lầu, Hill đợi Cohen, anh bị tắc đường do giao thông chiều thứ Sáu thường rất đông đúc. Khoảng 6 giờ rưỡi, Cohen cuối cùng cũng bước vào.

“Henry,” anh nói cười vui vẻ, “anh làm gì ở đây lúc 6 giờ rưỡi tối thứ Sáu? Anh nên đi trượt tuyết hoặc đi đâu đó chứ.”

“Xem kìa, có phải anh cũng ở đây không?”

Hai người bắt tay nhau. Khi Cohen ngồi xuống, Hill quay sang Kravis.

“Tôi muốn có cuộc họp này, Henry, vì tôi cảm thấy anh rất quan tâm đến RJR,” ông bắt đầu nói. “Tôi nghĩ rằng sẽ rất hữu ích khi biết anh quan tâm đến mức nào.”

“Hiện tại, tôi thật sự rất quan tâm,” Kravis nói. “Và tôi quan tâm đến việc này lâu rồi.”

“Nhưng đây là thương vụ của chúng tôi, Henry,” Cohen xen vào. Anh cố gắng nói cho Kravis hiểu tại sao RJR Nabisco lại quan trọng với tương lai của Shearson. Anh giải thích rằng họ rất coi trọng hoạt động ngân hàng đầu tư, và coi đó là bàn đạp để Shearson Lehman hướng tới lĩnh vực LBO. Hill đang tham gia với tư cách là cố vấn sáp nhập của chính mình, từ đó cho phép Shearson xem xét nhiều cơ hội hơn bao giờ hết. “Anh thấy đấy, chúng tôi phải làm vụ này,” Cohen nói. “Nó hiển nhiên là của chúng tôi. Chúng tôi đã có sẵn kế hoạch cho vụ này rồi.”

“Vậy được rồi,” Kravis nói. “Giờ các ông là đối thủ của chúng tôi.” Ý tứ của anh đã rõ ràng: Nếu Shearson cứ tiếp tục thế này với RJR Nabisco, họ có thể quên đi mãi mãi việc làm ăn với Kohlberg Kravis. “Tôi rất ngạc nhiên khi các ông làm như vậy,” Kravis tiếp tục. “Chúng tôi đã hợp tác với bên ông rất nhiều vụ. Tôi đoán rằng khách hàng không có ý nghĩa gì với các ông nữa.”

“Henry, chúng tôi phải làm vụ này,” Cohen nói. “Đó là tương lai của chúng tôi.”

Cohen nhắc lại cuộc trò chuyện với Kravis vào tháng Hai trước đó. Hai người đi trượt tuyết cùng nhau trong giải đấu hạng nhất American Ski Classic do Shearson tài trợ, diễn ra ở khu trượt tuyết Vail, bang Colorado. Không phải ngẫu nhiên mà họ ở cùng một đội. Khi chờ thi đấu trong cuộc thi vượt chướng ngại vật, hai người đã trò chuyện về những thay đổi mà ngành LBO đang phải đối mặt.

Lúc đó, Kravis đang lo ngại về các đối thủ cạnh tranh mới như Morgan Stanley và Merrill Lynch. “Chuyện gì sẽ xảy ra, Peter?” Kravis hỏi. “Tiếp theo sẽ là ai? Và các anh định làm gì?”

Cohen trả lời bằng việc nói tóm tắt rằng Shearson cũng mong muốn tham gia vào lĩnh vực ngân hàng đầu tư. Anh không đả động đến việc thị trường chứng khoán sụp đổ hồi tháng Mười đã gây thiệt hại nặng nề cho các mảng kinh doanh khác của Shearson. “Lợi nhuận biên của các mảng kinh doanh khác phải chịu áp lực rất lớn,” Cohen nói. “Đó hiển nhiên là cách chúng tôi sử dụng nguồn vốn. Các khách hàng đang yêu cầu chúng tôi thực hiện điều này. Chúng tôi có thể làm điều này vì họ. Đó chính là lý do.” Theo như Cohen nhớ thì trong buổi trò chuyện đó, Kravis đã gợi ý hai bên nên ở ngoài các thỏa thuận của nhau.

Giờ là lúc Cohen đáp trả giống như Kravis đã từng nói.

Anh nói: “Henry, vụ này là của Shearson. Đó chính là điều chúng ta đã nói tám tháng trước. Tôi nghĩ chúng ta đã thống nhất với nhau. Anh đã nói chúng ta sẽ đứng ngoài thỏa thuận của mỗi bên, nào, giờ đến lúc rồi đấy.”

“Chúng ta chưa hề có thỏa thuận nào như vậy, Peter.”

Bài phát biểu nhỏ của Cohen làm Kravis rùng mình. Sự thật hóa ra là vậy, anh nghĩ. Mỗi nhân viên ngân hàng đầu tư khi có chút tiền dư thừa trong túi đều nghĩ anh ta có thể làm LBO. Sau nhiều năm cạnh tranh liên tục, Kravis đã phát ốm vì điều đó. Morgan Stanley, Merrill Lynch, những công ty mà anh chưa bao giờ nghe nói đến, tất cả đều muốn giành giật với anh. Bấy giờ đến lượt Shearson Lehman. Toàn bộ ý tưởng đằng sau việc gây quỹ của Kohlberg Kravis năm 1987 là dành cho các giao dịch rất lớn, để không phải ai cũng có thể tham gia. Lần này và mãi về sau, Kravis đã hy vọng, công ty của anh có thể vượt lên, bỏ xa sự cạnh tranh. Giờ, khi họ vừa mới có thể vạch ra ranh giới rồi tiến vào lãnh địa của riêng mình, thì Peter Cohen lại xuất hiện, người này có lẽ vẫn chưa phân biệt được sự khác biệt giữa LBO và BO (mua lại có đòn bẩy và mua lại); vậy mà anh ta lại tuyên bố có quyền thực hiện một thỏa thuận trị giá 18 tỷ đô-la. Kravis không thể tin sự vô ơn bội nghĩa này, thật trơ tráo. Một phần con người anh muốn dạy cho tất cả bọn họ, đặc biệt là Peter Cohen, một bài học rất sơ đẳng.

“Tôi coi Shearson như một công ty mà chúng tôi có quan hệ làm ăn,” Kravis nhắc lại. “Tôi có quan hệ với bên các anh. Đây sẽ là một thỏa thuận hoàn hảo, là cơ hội dành cho chúng ta.”

“Nhưng chúng tôi đã gây quỹ,” Cohen cũng nhắc lại. “Chúng tôi có trách nhiệm với các nhà đầu tư trong quỹ, chúng tôi phải đưa số tiền đó vào hoạt động.”

“Ai cũng thấy thương vụ này quá lớn,” Kravis cảnh báo. “Tiền của bên tôi cũng đã sẵn sàng, tôi không thể chỉ biết đứng nhìn. Chúng tôi phải là một phần của thương vụ này. Và chúng tôi sẽ tham gia.”[1]

Tom Hill, chỉ biết ngồi quan sát và lắng nghe, ông nghĩ rằng quan điểm của Cohen hơi lạ. Liệu Cohen có thực sự nghĩ Henry Kravis sẽ đứng ngoài thỏa thuận trị giá 20 tỷ đô-la này chỉ vì một cuộc trò chuyện trên dốc trượt tuyết? Dù thế nào, ông cũng thấy cả Cohen và Kravis đều sẽ không đổi ý. Dường như ai cũng tin chắc rằng họ mới là người có quyền sở hữu công ty của Ross Johnson. Hill cố gắng đóng vai người hòa giải, thỉnh thoảng lại chêm vào một cầu: “Vậy chúng ta có thể làm gì?” hoặc “Làm thế nào mới được đây?” Ông đang không biết rồi sự việc sẽ đi đến đâu. Hai người bọn họ đều đang tranh luận quá hùng hồn.

“Tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu cuối cùng anh mua được với giá 75 đô-la,” Kravis nói.

“Tại sao?” Cohen hỏi.

“Chúng tôi đã nhắm vào công ty này từ lâu và chúng tôi biết điều đó. Giá thầu này rất rẻ. Thực sự rất rẻ.”

“Đây thực sự là thỏa thuận của Ross,” Cohen cố chống đỡ: “Chúng tôi chỉ tài trợ tiền thôi.”

“Hiện tại, anh là đối tác của họ.”

“Đó là thỏa thuận của Ross và ông ấy rất thân với hội đồng quản trị.”

Kravis không thể bỏ qua thông điệp của Cohen: Johnson nắm hội đồng quản trị trong tay.

“Anh định sẽ làm gì?” Kravis hỏi.

“Còn anh định làm gì?” Cohen đáp trả.

“Tôi vẫn chưa biết sẽ làm gì.”

“Thế thì làm sao chúng tôi biết phải làm gì.”

“Thôi được,” cuối cùng Kravis nói. “Có lẽ cả hai chúng ta sẽ cùng có vai trò trong vụ này.”

Kravis đã dự đoán sẽ có cuộc đối đầu này. Anh đề nghị ba lựa chọn. “Chúng ta có thể cạnh tranh,” anh nói. Đó là một lựa chọn mà cả Kravis và Cohen đều không thích. Một trận chiến đấu giá kéo dài sẽ khiến giá cổ phiếu của công ty tăng vọt, và vì giá mua càng cao, càng khó tránh khỏi mức nợ sẽ tăng cao hơn, dẫn đến chiến thắng kiểu Pyrros (người chiến thắng cũng phải chịu tổn thất rất lớn).

Nếu Kravis tiếp tục, Shearson và Kohlberg Kravis có thể hợp tác trong cuộc đấu thầu chung để giành lấy công ty. Cả Kravis và Cohen đều là những kẻ tự cao tự đại, nên họ đều không thích ý tưởng đó. Về phần mình, Cohen cho rằng quan hệ đối tác với Kravis hay bất kỳ đối tác nào khác cũng vậy thôi, tức là công nhận Shearson không thể làm vụ này một mình. Bán rẻ một phần cổ phiếu cho một nhà đầu tư cũng là một lựa chọn, và Cohen hy vọng sẽ làm vậy. Một thỏa thuận 50-50 lại là chuyện hoàn toàn khác. Có vẻ giữa hai người họ không thể có được một mối quan hệ đối tác.

Trong trường hợp còn lại, Kravis kết luận: Shearson có thể bán các doanh nghiệp thực phẩm của RJR cho Kohlberg Kravis, và tự mình giữ lấy mảng thuốc lá.

Cohen vẫn chần chừ không quyết. Anh ta sẽ phải bàn lại với Johnson và những người khác trước khi có thể nghiêm túc nói về bất kỳ liên minh nào với Kohlberg Kravis. “Có thể sẽ có lý khi chúng ta làm việc cùng nhau, Henry. Nhưng sau này thì sao? Tôi không biết câu trả lời là gì. Tất cả những điều này có nghĩa gì? Tôi không thể trả lời anh ngay bây giờ.”

Cuộc gặp kết thúc. Cohen đề nghị khi anh đứng dậy chuẩn bị rời đi: Có lẽ, họ nên bàn thêm vào tuần tới.

Sau đó, Cohen và Hill lui về căn hộ của Hill ở khu phía đông thượng Manhattan, ở đó, họ gọi cho Johnson và truyền đạt lại thông tin về cuộc gặp. Cohen đã nói tránh mức độ đối đầu của cuộc gặp, nhấn mạnh rằng anh dự định gặp lại Kravis vào thứ Hai.

Khi hai người nói xong, có một khoảng im lặng kéo đài.

“Theo các anh, điều này có nghĩa là gì?” Johnson hỏi.

“Dù thế nào,” Tom Hill nói, “Henry cũng sẽ tham gia.”

Cohen cũng thông báo về cuộc gặp với ông chủ của mình ở American Express, Jim Robinson, ông này đang ở trang trại tại Connecticut.

Robinson chăm chú lắng nghe. Khi Cohen kể về cuộc đối đầu với Kravis, sự quan tâm của ông chuyển sang lo lắng. Henry Kravis không phải là tay dễ chơi.

Robinson đề nghị có lẽ ông nên tự mình gọi cho Kravis, và nói lý lẽ với anh ta. “Chúng ta có thể hợp tác để làm vụ này,” ông nói.

Cohen phản đối ý tưởng đó, giải thích rằng anh tin điều đó sẽ được coi là một dấu hiệu của sự yếu kém, thiếu năng lực.

Robinson vẫn không chắc lắm. Nhưng ông quyết định tôn trọng ý kiến của Cohen, người trực tiếp phụ trách vụ này. Ông tự nhủ sẽ không hay nếu nghi ngờ các giám đốc điều hành mà ông trao trách nhiệm giải quyết công việc hằng ngày. Ông biết thỏa thuận này có ý nghĩa như thế nào với Cohen và tương lai của Shearson. Cohen sẽ không từ bỏ, dù chỉ là một phần nhỏ của RJR Nabisco, và sẽ chiến đấu đến cùng.

Tuy nhiên, Robinson vẫn tin rằng nói chuyện với Kravis sẽ chỉ có lợi. Đơn giản là anh ta quá mạnh, và khiêu khích anh ta là không cần thiết.

“Hãy để tôi thử nói chuyện lần nữa với Henry,” Cohen nói. “Hãy cứ để cho anh ta có cơ hội chuẩn bị, và tôi sẽ gọi lại cho ông vào sáng thứ Hai sau khi đã nói chuyện với anh ta.” Jim Robinson đồng ý.

-

Kravis không ngồi đó mà đợi Peter Cohen.

Đến tối thứ Sáu, anh đã tập hợp một nhóm nhân viên ngân hàng đầu tư để tư vấn và tài trợ cho một cuộc đấu thầu cạnh tranh nhằm giành lấy RJR Nabisco. Đứng đầu danh sách là Drexel Burnham, ông chủ của Jeff Beck. Mạng lưới trái phiếu rác đầy uy lực của Drexel vẫn còn nguyên vẹn một cách khác thường, mặc dù họ là trọng tâm của cuộc điều tra liên bang kéo dài hai năm qua, xuất phát từ cáo buộc giao dịch nội gián của Ivan Boesky. Tuy nhiên, tương lai của Drexel vẫn là một câu hỏi; vẫn có đồn đại về một bản cáo trạng sắp tới dành cho họ. Và nếu bản cáo trạng đó xuất hiện giữa cuộc cạnh tranh sắp tới, hậu quả cho phía Kravis có thể rất thảm khốc. Để đề phòng, anh quyết định thuê Merrill Lynch để gây dựng quỹ dự phòng.

Morgan Stanley, ngân hàng của Steve Waters và Eric Gleacher, là một lựa chọn tất nhiên để thực hiện các tính toán siêu tốc, và tư vấn thường xuyên hằng ngày mà Kohlberg Kravis sẽ cần. Kravis yêu quý Waters và biết sự nghiệp tư vấn ngân hàng của ông cần một cú hích sau khi đột ngột mất đi quyền lực ở Shearson.

Có tới ba ngân hàng đầu tư làm cho nhóm tư vấn cồng kềnh, đó là chưa kể đến chi phí sẽ đội lên. Đó là lực lượng tư vấn lớn nhất từng được tập hợp cho một thỏa thuận của Kohlberg Kravis. Mặc dù vậy, Kravis quyết định thuê công ty thứ tư: một công ty sáp nhập đầy nhiệt huyết, Wasserstein Perella. Wasserstein có thể được coi là nhà chiến thuật gia về tiếp quản xuất sắc nhất Phố Wall, là tài sản vô giá cho bất kỳ thỏa thuận lớn nào. Nhưng sự tư vấn không phải là thứ Kravis cần ở ông ta. Thuê ông ta hoàn toàn là một động thái phòng thủ: Anh muốn Wasserstein đứng bên ngoài cuộc đua. Buồn vì không được tham gia vụ này, Wasserstein chắc chắc sẽ trở thành kẻ kích động nguy hiểm. Tốt hơn nên thuê tay kiến tạo thỏa thuận béo lùn này, và kìm kẹp ông ta ở bên mình, còn hơn để ông ta chạy lung tung, và có thể sẽ gia nhập một nhóm đấu thầu cạnh tranh.

Việc thuê các ngân hàng đầu tư diễn ra suôn sẻ. Nhưng Kravis đã phải bất ngờ khi bắt đầu tập hợp nhóm ngân hàng đầu tư mà mình cần để huy động hơn 10 tỷ đô-la vốn vay dài hạn. Hôm thứ Năm, anh gọi cho Ronald Badie, trưởng bộ phận ở khu Bờ Tây của Bankers Trust, một ngân hàng lớn ở New York dẫn đầu trong mảng cấp vốn cho sáp nhập. Badie, nhân viên ngân hàng lâu năm của Kravis, hứa sẽ bắt đầu công việc vào ngày hôm sau, sau khi trình bày rõ khoản vay này với các ông chủ của mình ở New York. Nhưng khi Kravis gọi lại vào thứ Sáu, Badie có vẻ trầm tĩnh lạ lùng.

“Henry, có một vấn đề,” nhân viên ngân hàng nói. “Tôi nói thật, chúng tôi vẫn chưa quyết định dứt khoát có tiến hành vụ này với anh hay không. Nhưng tôi sẽ cố gắng sắp sếp xong vào cuối tuần này.”

Kravis rất ngạc nhiên. Chưa từng có việc tương tự xảy ra trước đây. Kravis biết rằng lý do duy nhất có thể khiến Badie từ chối cam kết là Peter Cohen đã thuê độc quyền Bankers Trust, một động thái cực kỳ hiếm có với mục đích triệt tiêu sự cạnh tranh. Rắc rối lớn đến ngay từ thỏa thuận đầu tiên. Bị cắt khỏi nguồn tiền từ ngân hàng thường xuyên, đội quân Kravis coi như chẳng có súng đạn để chiến đấu.

“Ông không thể ký độc quyền với bên khác,” Kravis tức giận. “Ông không thể làm thế.”

Cả ngày thứ Bảy, Kravis suy tính phải làm gì với RJR Nabisco. Càng suy nghĩ kỹ, anh càng lo lắng. Mặc dù không có nhiều kinh nghiệm về mua lại, nhưng Cohen và Hill không phải những kẻ ngốc. Trừ khi có nguồn tin khác xác nhận, Kravis cho rằng họ đã có ngân hàng cho vay và đã sẵn sàng thực hiện thỏa thuận. Theo cách Cohen nói đêm hôm trước, chắc chắn ban giám đốc đã nằm trong tầm kiểm soát của Ross Johnson.

Tình hình bên phía Bankers Trust là một rắc rối quá bất ngờ. Nó không chỉ đe dọa sẽ cắt đứt nguồn tài trợ vốn đáng tin cậy nhất của Kravis, mà còn được coi là bằng chứng rõ ràng cho thấy Shearson đang cố gắng ngăn các ngân hàng lớn cấp vốn cho phe cạnh tranh mua công ty của Johnson. Thêm nữa, Kravis biết rõ hội đồng quản trị American Express dự kiến họp vào thứ Hai. Chỉ có một lý do cho điều đó: Shearson cần sự chấp thuận của công ty mẹ đối với khoản vay bắc cầu khổng lồ mà họ cần để tài trợ cho việc mua lại.

Mọi dấu hiệu đều chứng tỏ Shearson và Johnson muốn nhanh chóng kết thúc thỏa thuận này. Kravis biết rằng rất khó để xen vào nếu họ đã ký thỏa thuận sáp nhập. Tối thứ Bảy, Kravis tham khảo ý kiến của Bruce Wasserstein. Ai cũng biết Wasserstein là một chiến lược gia hung hăng, chuyên có những chiến lược tấn công chớp nhoáng. Ông này nói nếu Kravis quá lo lắng về việc Johnson đã khóa chặt vụ này, cách duy nhất để tiến lên là phải tấn công thật nhanh. Bất kỳ sự chậm trễ nào cũng sẽ giúp Johnson có đủ thời gian để ký một thỏa thuận sáp nhập với một ban giám đốc dường như toàn là bạn chí cốt của lão.

Wasserstein cũng từng học luật, ông dẫn lời cựu thẩm phán Tòa án tối cao Louis D. Brandeis: “Ánh mặt trời là điều kỳ diệu nhất xua tan bóng tối.” Wasserstein lập luận rằng nếu Kravis lo lắng về việc Johnson đang ăn cắp công ty thông qua một thỏa thuận trong bóng tối, thì họ cần phải dùng ánh mặt trời để soi rọi. Ánh mặt trời ở đây là việc lập tức ra giá đấu thầu.

Ngay lập tức, Kravis ra lênh họp toàn đội vào sáng hôm sau.

Phải thật nhanh, thật nhanh, Kravis nghĩ. Hành động nhanh nhất có thể.

-

Trên khắp thế giới có hàng nghìn ngân hàng thương mại. Trong thế giới tiếp quản, chỉ có ba ngân hàng.

Citibank, ngân hàng Manufacturers Hanover và Bankers Trust đã hình thành nên bộ ba quyền lực, họ trao quyền cho các đầu mối bằng cách buông lỏng quản lý, thông qua đó cho vay hàng tỷ đô-la tiền mặt, để cấp vốn cần thiết cho cỗ máy tiếp quản trên Phố Wall. Trái phiếu rác do Drexel Burnham và những kẻ khác bán ra là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho tiếp quản. Không có ba ông lớn này, cỗ máy tiếp quản sẽ dừng ngay lập tức.

Bộ ba này càng mạnh lại càng hăng hái cho vay tiền để tiếp quản, đến mức hồi cuối những năm 1980, cả ba đều đóng vai trò “người vận chuyển chung” cho dòng tiền sáp nhập. Do đó, việc họ đồng thời cho một số lượng không hạn chế các nhà thầu khác nhau đang cùng săn một con mồi vay tiền là không sai. Giống như những người anh em họ hàng xa, các ngân hàng đầu tư, ngân hàng thương mại đã dựng lên “những bức tường vô hình” để giữ kín bí mật cho mỗi bến dự thầu.

Tất nhiên, thỉnh thoảng, cách làm này cũng khiến các khách hàng lâu năm của ngân hàng giận dữ. Gillette, nhà sản xuất lưỡi dao cạo có trụ sở ở Boston, đã cắt đứt mối quan hệ lâu dài với Citibank khi một chi nhánh của ngân hàng đồng ý ủng hộ một cuộc đấu thầu thù địch để giành quyền kiểm soát công ty của họ. Còn có nhiều ví dụ khác nữa. Nói chung, điều này xảy ra khi các ngân hàng nhìn thấy những khoản phí tiếp quản quá hấp dẫn, có giá trị hơn nhiều so với việc bị mất quan hệ làm ăn với một số khách hàng cay cú. Cho dù có nhiều công ty Mỹ phản đối cách làm này, một sự thật vẫn tồn tại là sức mạnh và tầm ảnh hưởng của của các ngân hàng đó sâu rộng đến mức chẳng điều gì có thể ngăn cản họ.

Dù rất hiếm khi nhưng các công ty vẫn có thể thuê độc quyền một trong ba ông lớn trong một vụ tiếp quản lớn. Chi phí sẽ rất cao. Nghi ngờ của Henry Kravis theo hướng ngược lại có thể là Shearson không yêu cầu một thỏa thuận độc quyền với Bankers Trust hoặc Citibank. Không nhìn thấy sự cạnh tranh trước mắt, Peter Cohen hẳn đã nghĩ họ chẳng cần đến độc quyền. Jim Stern, cầu nối liên lạc giữa Shearson với các ngân hàng của họ, đã nêu vấn đề này một cách không chính thức với Bob O’Brien của ngân hàng Bankers Trust, nhưng Bob O’Brien cứ để tình trạng mập mờ như vậy. Tuy nhiên, sau đó Bob O’Brien thừa nhận ông đã cho phép Shearson hoạt động với tư tưởng rằng ngân hàng của ông sẽ không đỡ đầu cho nhóm ngân hàng cạnh tranh nào. Điều này có thể dẫn đến việc ngám hiểu rằng Bankers Trust đang làm việc cho một mình Ross Johnson.

Do đó, khi Ron Badie yêu cầu khoản vay để tài trợ cho Kravis, trước một cam kết không cẩn trọng như vậy cấp trên của O’Brien ở New York, đã chặn khoản vay cho đến khi vấn đề hiểu lầm được gỡ bỏ hoàn toàn. Toàn bộ cuối tuần đó, Badie cố gắng để có được sự chấp thuận cho khoản vay với khách hàng lớn nhất của mình, nhưng vô ích. Nút thắt chỉ được gỡ rối vào tuần sau, ngay sau khi tác động của nó đã hiện hữu, dẫn đến việc Kravis sớm công bố tham gia đấu thầu.

Đến tối thứ Bảy, nhóm của Kravis vẫn chưa tiếp xúc được với hai thành viên khác trong bộ ba ông lớn. Khi Dick Beattie, luật sư kiêm bạn tâm tình của Kravis đang thư giãn trong căn hộ của mình ở Manhattan, thì Mark Solow gọi đến. Solow, người đứng đầu bộ phận cho vay tiếp quản của ngân hàng Manufacturers Hanover, là một nhân viên ngân hàng đầu tư từng trải, rất được kính trọng trong giới tiếp quản Phố Wall. Solow giải thích rằng ông đang cố tiếp cận Peter Solomon ở Shearson. Ông cũng biết Beattie là một trong những cố vấn bên ngoài thân cận nhất của Shearson. Ông hỏi Beattie số điện thoại nhà của Peter Solomon.

“Ông có điều gì muốn bàn với Peter?” Beattie hỏi.

“Có lẽ tôi không nên nói vấn đề này với anh.” Solow trả lời. “Nhưng tôi cần nói chuyện với ai đó ở Shearson Lehman ngay bây giờ.” Điều mà Solow không muốn nói là Bob O’Brien của Bankers Trust đã liên hệ với ông về việc gia nhập nhóm ngân hàng của Shearson, và ông muốn nói chuyện với ai đó ở Shearson trước khi chấp nhận.

Tuy nhiên, Beattie nhận ra cuộc gọi này muốn nhắm tới RJR Nabisco. Solow rõ ràng không biết gì về mối quan tâm của Kravis, và chắc chắn cũng không biết Beattie đang đại diện cho Kravis trong trận chiến quyết liệt với Shearson.

Beattie suy nghĩ rất nhanh. Tiến triển tình hình với Ron Badie khiến ông đặc biệt nhạy cảm đối với các vấn đề liên quan đến ngân hàng. Ông phải chặn Solow lại trước khi ông ta đến với Shearson.

“Thật vui vì ông đã gọi, Mark, bởi Henry Kravis muốn nói chuyện với ông. Tôi có thể nói anh ấy gọi cho ông không?”

“Được chứ.”

Beattie nói với Solow rằng ông không tìm thấy số của Peter Solomon và gác máy. Ông lập tức gọi cho Kravis và giải thích tình hình.

Kravis liên hệ với Solow vào sáng sớm hôm sau. “Có phải Manny Hanny[2] ký độc quyền với Shearson không?” “Không, không có chuyện độc quyền với Shearson hoặc bất kỳ ai khác,” Solow nói.

Kravis cảm thấy nhẹ người khi nghe Solow xác nhận. Nếu vậy, anh nói với nhân viên ngân hàng là Kohlberg Kravis muốn thuê ngân hàng Manufacturers Hanover cấp vốn độc quyền cho vụ đấu thầu RJR Nabisco.

Solow ngạc nhiên. Ông nói: “Chúa ơi, chúng tôi không bao giờ thực hiện được điều đó.”

“Vậy, lần này các ông hãy làm đi,” Kravis nói. “Tôi sẽ trả công hậu hĩnh.”

Đối với Kravis, đó là một tin tốt lành hiếm có. Manny Hanny là ngân hàng mà Peter Cohen không bao giờ chạm tới được.

-

Chính trong cuối tuần đó, các hộp dữ liệu tài chính đầu tiên đã bắt đầu được chuyển đến Lazard Freres và Dillon Read, những khối dữ liệu quan trọng đầu tiên trong núi số liệu mà các nhân viên ngân hàng sẽ nhận được trong những tuần tới để giúp họ xác định mức giá hợp lý của RJR Nabisco. Bên trong các hộp dữ liệu, họ cũng thấy nửa tá các nghiên cứu tài chính của những tác giả bên ngoài, hầu hết chúng được gửi đến với mục đích mê hoặc Johnson thực hiện một số loại tái cấu trúc.

Vào thứ Bảy tuần đó ở Lazard, Luis Rinaldini hối hả bước vào văn phòng của một đồng nghiệp với một nắm tài liệu nghiên cứu. “Anh có thấy những thứ này không?” Người Argentina đó hỏi với vẻ ngạc nhiên.

Tại căn hộ của mình ở Chicago, Ira Harris cũng đã nhận được tài liệu vào sáng thứ Bảy, và những gì đọc được làm ông sốc mạnh.

Không một bản định giá nào công bố giá trị của RJR Nabisco ở mức giá 80 đô-la/cổ phiếu. Hầu hết các tài liệu công bố mức gần 90 đô-la/cổ phiếu. Dự án Project Tara của Dillon Read đưa ra mức giá cho RJR Nabisco từ 81-87 đô-la/cổ phiếu, trung bình trị giá công ty lớn hơn 2 tỷ đô-la so với đề xuất 75 đô-la của Johnson. Dự án Reo của Ruben Gutoff ghi rõ giá tư nhân hóa của công ty lên tới 96 đô-la/cổ phiếu. Tất cả các nhân viên ngân hàng đều biết giá trị của RJR Nabisco đã bị cắt xén nhiều — Lực lượng Không quân của RJR khét tiếng khắp Phố Wall — nhưng họ không ngờ kết quả định giá lại như vậy.

Trong khi các nhân viên ngân hàng kiểm tra kỹ các dữ liệu của Johnson, một gói hàng nặc danh khiến người ta tò mò đã được chuyển đến cho Charlie Hugel ở Connecticut. Bên trong gói hàng, Hugel thấy có một tài liệu kế hoạch của RJR Nabisco, dường như do người của Dean Posvar xây dựng. Bản kế hoạch có tiêu đề Cập nhật Chiến lược công ty, đóng dấu ngày 29 tháng Chín, chỉ ba tuần trước khi Johnson báo cáo trước hội đồng quản trị.

Hugel đọc tài liệu rất cẩn thận. Trong đó đưa ra cái nhìn tổng quan về vấn đề chứng khoán, vạch ra chiến lược để đánh bại Philip Morris, và nêu lên những quan ngại về trách nhiệm pháp lý của thuốc lá có thể khiến công ty trở thành một ứng cử viên không thể bị tiếp quản. Nhưng điều thu hút sự chú ý của ông là giá trị định giá công ty. Từng bước một, tài liệu tập hợp số liệu chứng minh giá trị RJR Nabisco ở mức thấp là 82 đô-la/cổ phiếu và mức cao lên đến 111 đô-la/cổ phiếu. Trong trường hợp thuận lợi nhất, bản kế hoạch kết luận RJR Nabisco có thể từ chối bất kỳ lời đề nghị nào dưới mức giá 110 đô-la/cổ phiếu.

Hugel hoang mang. Thấp là đến 82 đô-la? Nếu chính người của Johnson nói rằng công ty trị giá từ 82-111 đô-la/cổ phiếu, thì tại sao lão lại đấu thầu ở mức 75 đô-la?

Điều làm Hugel tò mò không kém là nguồn gốc của tài liệu. Không có ghi chú kèm theo, không có manh mối nào về danh tính người gửi. Nhưng có một điều rõ ràng: Một người nào đó, gần như chắc chắn là một giám đốc điều hành cấp cao của RJR Nabisco, người có quyền truy cập vào các tài liệu quan trọng, đang có ý định chống lại Ross Johnson.

-

“Chúng ta quan tâm đến một công ty thuốc lá,” Kravis bắt đầu nói, mắt quan sát Bruce Wasserstein, “nhưng tôi vẫn không chắc là mình muốn nói với các vị về công ty nào.”

Kravis cười. Mọi người trong phòng họp đông đúc này đều biết Wasserstein đang phải vất vả trong cuộc đấu giá của Philip Morris để giành lấy Kraft.

Chiều Chủ nhật, các nhân viên ngân hàng đầu tư đi thành từng cặp, nối đuôi nhau từ từ lái xe từ nhà, đi qua những con đường rải đầy lá của công viên Trung tâm, tề tựu đông đủ ở phòng họp của Kohlberg Kravis vào lúc 4 giờ chiều. Kravis và người của anh đã đến từ buổi trưa, và dành gần hết buổi chiều để nghiên cứu những phân tích khác nhau về các giá trị còn chưa tính đến của RJR Nabisco. Kravis ngồi cạnh bàn lớn, quan sát đội ngũ anh tập hợp chuẩn bị cho cuộc tấn công. Ở bên trái, tại chỗ ngồi quen thuộc, là Dick Beattie với đôi mắt xanh nhạt kiên định, quai hàm nghiêm nghị. Bên trái Beattie là Casey Cogut, chàng luật sư có khuôn mặt trẻ con, là người thay mặt cho Beattie. Cogut giám sát phần lớn hoạt động liên quan đến pháp luật của Kohlberg Kravis theo hướng dẫn của Beattie. Sáng hôm đó, hai vị luật sư này lái xe cùng nhau đến từ nhà họ ở Connecticut.

Tiếp theo là Ted Ammon, một cựu luật sư, hiện là cộng sự cấp cao của Kohlberg Kravis, người nổi tiếng với các giải pháp sáng tạo cho những vấn đề tài chính gai góc. Wasserstein ngồi cạnh Ammon. Cho dù có tài và đã có vô số ý tưởng mang đến cho Kravis, Wasserstein chưa từng góp mặt trong đội ngũ thân cận ở Kohlberg Kravis: Kravis và các trợ lý của anh đều phát ngấy với những bài diễn thuyết dài lê thê của ông ta. Một số người bọn họ, đặc biệt là George Roberts, không bao giờ chắc chắn về lòng trung thành của Wasserstein.

Ngồi bên cạnh Wasserstein là Eric Gleacher, Giám đốc bộ phận Sáp nhập của Morgan Stanley, có dáng người thấp bé. Hai người họ là những cái tên nổi bật nhất trong ngành kinh doanh tiếp quản, Gleacher và Wasserstein là nguồn chuyện cười vô tận giúp Kravis và các trợ lý của anh giải tỏa căng thẳng. Trong các cuộc họp, hai người sẽ thay phiên nhau phát biểu trước, và không bao giờ nhầm lẫn thứ tự phát biểu. Có một điều chắc chắn là họ luôn đưa ra những lời khuyên giống nhau, đến mức đôi khi Kravis chỉ còn biết tròn mắt ngạc nhiên. Beattie cho rằng hai người đã bàn bạc trước mỗi phiên họp chiến lược, vì thực tế hôm nay họ đã có bàn bạc. George Roberts rất thích gọi Wasserstein và Gleacher là Siskel và Ebert[3] của ngân hàng đầu tư.

Xa hơn nữa là bàn của Steve Waters và Mack Rossoff, một trợ lý có khuôn mặt ngây thơ của Wasserstein, người được Kravis rất yêu thích vì sự xuất sắc trong suốt quá trình đấu giá Macmillan gần đây. Ngồi bên cạnh là đội của Drexel: Jeff Beck và Leon Black, hai chuyên gia tài chính với những hiểu biết sâu rộng, đã biến nhiều ý tưởng của Mike Milken thành hiện thực. Paul Raether khép lại vòng tròn với một cặp cộng sự cấp dưới làm việc rất chăm chỉ, Scott Stuart và Cliff Robbins.

Sau khi yêu cầu mọi người tập trung chú ý, Kravis thông báo cho nhóm về tình hình hiện tại. “Chúng ta hiểu rằng Shearson đang cố gắng có được các cam kết từ những ngân hàng lớn để ràng buộc họ,” Kravis kết luận. “Trong trường hợp đó, chúng ta phải hành động ngay lập tức để ngăn điều đó xảy ra.”

Cuộc tranh luận kéo dài do giá trị của các tài sản bên trong RJR Nabisco sẽ quyết định vụ mua lại có thành công hay không. Các ý kiến không quá khác biệt. Mọi người đều biết Ross Johnson đang có lợi thế. Câu hỏi là tốt nhất họ nên bắt đầu như thế nào. Cliff Robbins trình bày các lựa chọn trong một bản ghi nhớ cho dự án của nhóm ngày hôm đó mang tên Dự án Peach.

Có ba lựa chọn. Lựa chọn đầu tiên là gửi một lá thư cho hội đồng quản trị, gọi là “ôm kiểu gấu”. Trong đó, Kravis sẽ bày tỏ sự quan tâm dành cho công ty, và trả giá cao hơn mức giá họ đưa ra là 75 đô-la, nhưng dừng lại ở đó và không công khai bỏ thầu. Ở cột ưu điểm, Robbins lưu ý “ôm kiểu gấu” có thể sẽ giúp họ truy cập vào thông tin tài chính của RJR Nabisco, một điều bắt buộc nếu họ tham gia đấu thầu mà không có sự trợ giúp của nhóm quản lý. Điều này cũng sẽ trì hoãn sự chèo lái của nhóm quản lý theo hướng nhanh chóng hoàn thành thỏa thuận. Trong cột “nhược điểm”, Robbins lo lắng bức thư mang tính đe dọa có thể sẽ chỉ dẫn đến một cuộc đấu giá kéo dài. Bản ghi nhớ lưu ý rằng quá trình đấu thầu “sẽ phải giới hạn thời gian”. Anh kết luận: Họ có thể thắng, nhưng việc đấu thầu kéo dài sẽ tiêu tốn hàng triệu đô-la.

Lựa chọn thứ hai là mở một cuộc họp với Shearson và Johnson, nhằm thảo luận về một cuộc đấu thầu chung. “Thể hiện sự yếu kém ư?” là câu hỏi xuất hiện trong bản ghi nhớ. Lựa chọn thứ ba là một đề nghị đấu thầu theo phương pháp tấn công chớp nhoáng mà Wasserstein đã tư vấn. Ưu điểm: có được lợi thế về thời gian… trì hoãn giao dịch của nhóm quản lý. Nhược điểm: không có thông tin… mua lại thù địch… những trở ngại về nguồn cấp vốn.

Khi đến lượt các cố vấn lên tiếng, Eric Gleacher phát biểu trước. Bài phát biểu của ông mang đậm giọng điệu quân đội, kiểu nói khi một người phát biểu trong một chương trình huấn luyện, hoặc trong giờ nghỉ giữa giờ của một trận bóng đá quan trọng. Gleacher là người say mê thể thao, và ông tự hào về điều đó. Ông có tính cách mạnh mẽ, ra dáng bậc nam nhi đại trượng phu trong hình hài một người đàn ông bé nhỏ.

“Anh phải thực hiện đấu thầu,” Gleacher nói. “Rủi ro ở đây là Shearson sẽ có một hợp đồng với hội đồng quản trị trước khi chúng ta có thể làm gì đó. Nếu anh gọi họ và nói: ‘Vâng, chúng tôi rất quan tâm,’ chúng ta cuối cùng sẽ bị quấy rầy liên tục. Một lời đề nghị đấu thầu sẽ đưa anh vào thế cạnh tranh sòng phẳng. Chúng ta phải kiên quyết. Quan trọng là thời điểm phát tín hiệu… Chúng ta phải hành động thật nhanh. Chúng ta phải đánh bại họ hoàn toàn, ngay lập tức.”

Phía bên kia bàn, Dick Beattie cười toe toét. Đó mới chính là Gleacher tài giỏi.

Tiếp theo đến Wasserstein phát biểu, về cơ bản, ông lặp lại thông điệp đã nói riêng với Kravis đêm hôm trước. Cuộc thảo luận tiếp tục, những ưu điểm và nhược điểm của từng lựa chọn được nghiên cứu kỹ đến từng chi tiết. Leon Black của Drexel dường như muốn cảnh báo: “Sao phải vội thế? Tại sao không chờ đợi và ra giá cao hơn?”

“Các anh chơi xấu thật,” Gleacher nói.

Họ tiếp tục bàn bạc. Nhưng đã quá rõ ràng, việc nhóm đang nghiêng về lựa chọn nào.

“Giá bao nhiêu đây?” Kravis hỏi.

“Có lẽ nên bắt đầu với giá 75 đô-la,” Gleacher gợi ý.

Wasserstein lắc đầu: “Tôi nghĩ đâu đó khoảng 90 đô-la.”

Các đối thủ cạnh tranh nói đùa rằng túi tiền của Wasserstein luôn mở, ít nhất là khi ông ta đang tiêu tiền của khách hàng. Các khách hàng của ông ta thường xuyên trả giá cao đến mức những nhà giao dịch nói đó là “phần thưởng thêm của Wasserstein”.

Kravis quay sang Steve Waters, người hiểu rõ Johnson hơn bất kỳ ai trong cuộc họp.

“Ông tìm hiểu được gì về Johnson?” Kravis hỏi.

Waters đọc nhanh hồ sơ theo dõi Johnson, rồi kết luận: “Ross không bao giờ mua bất kỳ thứ gì. Ông ấy luôn là người bán.” Đề nghị đấu thầu 90 đô-la sẽ ngay lập tức đưa ông ấy vào thế phòng thủ. Chỉ có điều, ông ấy sẽ không muốn phải đấu đá. Nhưng quan trọng hơn, so với đề xuất 75 đô-la đã công bố, giá thầu 90 đô-la sẽ bộc lộ rõ rằng Johnson đang đánh cắp công ty. Khi đó, chúng ta hy vọng quan hệ giữa Johnson và hội đồng quản trị sẽ bị hủy hoại.

“Nếu chúng ta tấn công mạnh,” Waters nói thêm, “có thể ông ấy sẽ đầu hàng.”

Cuối cùng, Kravis quay sang đội của Drexel. Liệu trái phiếu có bán được và có đủ tiền để mua RJR Nabisco không? Nhu cầu mua trên thị trường thế giới thế nào? Tất cả họ đều biết rằng việc chào bán trái phiếu đang được xem xét sẽ khiến thỏa thuận lớn nhất lịch sử Phố Wall bị thu nhỏ quy mô. Nhưng vẫn cần phải xem xét liệu bản cáo trạng dành cho Drexel có dẫn đến kết cục thảm khốc cho cả việc tiếp quản và chào bán trái phiếu không.

“Chúng tôi có thể bán trái phiếu rác,” Leon Black nói. “Đừng lo về vấn đề của chúng tôi. Chúng tôi có thể làm được.” Danh tiếng của Black lớn đến mức chẳng ai lo ngại rằng những đảm bảo thường xuyên của ông chỉ là lời hứa suông.

Khi cuộc thảo luận kết thúc, Kravis đưa Paul Raether và các cộng sự lui về văn phòng của mình. Đó là thời khắc quyết định. Bị bỏ rơi, các cố vấn nhân cơ hội đột kích nhà bếp của Kohlberg Kravis và gọi pizza. Khi Kravis đóng cửa văn phòng, không ai biết có một cuộc họp y chang như vậy đang diễn ra đúng thời điểm đó, chỉ cách đó sáu tòa nhà về phía bắc.

-

John Gutfreund vòng tay ôm lấy đứa con trai nhỏ ba tuổi, và bước ra khỏi lề đường đi vào đại lộ Madison. Ông và con trai ra ngoài mua sắm, một tay Gutfreund phải ôm một bọc hàng. Khi qua đường, ông thấy Bill Strong và một nhân viên ngân hàng đầu tư khác của Salomon đang cố gắng tìm chỗ đỗ xe. Ông vẫy tay chào họ.

Gutfreund biết cuộc họp ở căn hộ của ông trên đại lộ số 5 vào buổi tối hôm đó có thể là cuộc họp quan trọng nhất trong sự nghiệp lâu dài và đáng ngưỡng mộ của ông ở Phố Wall. Salomon Brothers nằm trong số các ngân hàng đầu tư mạnh nhất Phố Wall. Mỗi ngày, thông qua sàn giao dịch khổng lồ của ngân hàng có tầm nhìn ra cảng New York, hơn 20 tỷ đô-la chứng khoán được giao dịch, lớn hơn nhiều so với số liệu giao dịch trên Sàn Giao dịch Chứng khoán New York. Nhưng giờ đây, sau ba năm không như kỳ vọng, Gutfreund đã sẵn sàng rời sàn giao dịch, và dự định đầu tư vốn liếng rất khó khăn mới dành dụm được vào một thương vụ lớn thuộc lĩnh vực ngân hàng đầu tư. Bộ phận ngân hàng đầu tư đã đề xuất kế hoạch cùng số tiền họ sẽ sử dụng và gửi cho Gutfreund - cách họ thực hiện và con số họ đề xuất sẽ làm choáng váng tất cả những người nói rằng Salomon không bao giờ đủ tầm để làm bất kỳ điều gì trong lĩnh vực LBO.

Bản thân Gutfreund cũng là lính mới trong lĩnh vực này. Phố Wall luôn chia thành hai phe, và đôi khi họ cũng có xung đột: Một phe là các nhân viên ngân hàng đầu tư, họ ăn nói trơn tru, khéo léo, được đào tạo ở Andover và Harvard, và một phe là các giao dịch viên, những người Do Thái mặt đỏ, và những đứa trẻ người Ireland, học ở trường cao đẳng trong thành phố, kiếm sống bằng cách la ó vào mặt nhau trên sàn giao dịch. Xét về bằng cấp đào tạo và thái độ, Gutfreund là một giao dịch viên.

Từ bàn làm việc trên sàn giao dịch, ông liên tục dẫn dắt Salomon Brothers đi qua một thập kỷ phát triển, cho đến khi nó trở thành công ty lớn nhất, và có khả năng sinh lời nhất trong ngành. Năm 1985, tờ Business Week tôn vinh ông là “Vua Phố Wall”. Với một số người trong ngành tài chính, thì John Gutfreund chính là Salomon Brothers. Trong công ty, lời ông nói là luật, và cấp dưới run cầm cập khi ông hiên ngang đi vào một phòng làm việc nào đó, tay vung vẩy điếu xì gà to ngoại cỡ. Gutfreund thấp và luôn thích mặc những bộ comple tối màu. Ông có khuôn mặt tròn, đôi môi dày gợi cảm và nụ cười giống “Jack hà tiện” được khắc trên đèn bí ngô nên trông có vẻ gượng ép. Ông biết Ross Johnson từ những ngày ở Standard Brands, Gutfreund gọi lão là “lão già đầu óc củ đậu”.

Ở tuổi 55, Gutfreund lại tìm ra lẽ sống mới. Ông kết hôn với người vợ thứ hai, có con trai, gây sự chú ý với nhiều người để rồi trở thành để tài cho người ta bàn luận khắp Phố Wall. Susan Gutfreund, mới bước sang tuổi 40, từng là nữ tiếp viên hàng không của hãng Pan Am, đã biến cuộc sống vốn buồn tẻ của chồng mình thành một loạt những buổi gây quỹ trang trọng và các buổi tiệc tùng xã giao. Họ kết hôn năm 1981, sau đó không lâu Gutfreunds liên tục xuất hiện các trang báo của các tạp chí WWomens Wear Daily. Susan đã ghi dấu ấn cho sự xuất hiện ngày càng nhiều của họ trong giới thượng lưu New York bằng cách giành lấy vinh dự được tổ chức bữa tiệc sinh nhật lần thứ 60 cho Henry Kissinger. Nhiều tháng sau, các khách mời hôm đó vẫn còn nói về món tráng miệng kẹo bông hình quả táo xanh mà đầu bếp của Susan đã chuẩn bị.

Khi Gutfreunds mua ngôi biệt thự thế kỷ XVIII ở khu phố Rue de Grenelle tại Paris, Susan đã dành nhiều thời gian hơn ở Pháp, và ông bắt đầu đáp máy bay Concorde đi về mỗi cuối tuần. Chuyện gì đến sẽ đến, khi lần đầu tiên Salomon Brothers gặp phải vấn đề vào giữa những năm 1980, nhiều người cho rằng Susan Gutfreund đáng bị chê trách vì đã làm chồng mình mất tập trung vào những vấn đề quan trọng hơn nhiều. “Theo tôi, Susan Gutfreund chính là nguyên nhân cho những vấn đề của John,” một người bạn ở Phố Wall nói với tạp chí New York vào đầu năm 1988. “Khi một người đàn ông lớn tuổi phát hiện mình vẫn còn sức sống tình dục, họ sẽ trở nên mê muội.”

Khi Salomon lớn mạnh, căng thẳng phát sinh giữa một bên là văn hóa giao dịch chiếm ưu thế, và một bên là sự phát triển mới ở giai đoạn manh nha của hoạt động ngân hàng đầu tư, hoạt động này từ lâu vẫn được coi là một đứa con ghẻ bị lãng quên trong công ty. Đến năm 1987, những căng thẳng đó đã bùng phát thành một thứ gần giống với một cuộc xung đột công khai, khi các nhân viên ngân hàng đầu tư muốn có tiếng nói lớn hơn trong công ty, và không phải ngẫu nhiên mà họ trở nên xông xáo hơn trong các vụ sáp nhập và những hoạt động ngân hàng đầu tư. Những âm mưu ngấm ngầm xuất hiện ở Salomon khiến người ta liên tưởng tới một cung điện Florentine trong thời cai trị của nhà Medicis, trong đó Gutfreund đã là một nhân vật trong tác phẩm của Machiavelli. Đó là một người đàn ông tàn nhẫn đuổi thầy mình đi, và có vẻ tự hào khi sa thải những kẻ dám thách thức quyền lực của mình, Gutfreund dành phần lớn thời gian để trấn áp các cuộc nổi dậy nội bộ. Cả lợi nhuận và tinh thần làm việc của công ty đều sa sút nghiêm trọng. Các cuộc tái cấu trúc không đến đầu đến đũa dẫn đến một loạt đơn từ chức của nhân sự cấp cao, trong đó có cả nhà kiến tạo giao dịch người Chicago, Harris Harris, và chuyên gia kinh tế Henry Kaufman. Ở thời điểm tồi tệ nhất, Gutfreund thoát nạn vào phút chót trước nỗ lực tiếp quản của nhà đầu tư Ronald O. Perelman.

Trong gần hai năm, Gutfreund phải vượt qua khủng hoảng hết lần này đến lần khác, công ty ông luôn trong tình trạng nước sôi lửa bỏng với những bất ổn triền miên. Giờ đây, khi đang cùng con trai thong thả về nhà, bất chấp những tai họa có thể tiếp tục kéo đến, Gutfreund dường như đã bỏ lại phía sau những điều tồi tệ nhất. Nhiều kẻ gây rối ở Salomon đã bị thanh trừng, lợi nhuận đã tăng trở lại, Gutfreund cùng vợ gần như không còn xuất hiện trên các trang báo của tờ Womens Wear Daily. Lần đầu tiên, Gutfreund, người đôi khi vẫn gọi việc tiếp quản là “các giao dịch”, dành nhiều sự quan tâm đến hoạt động ngân hàng đầu tư, thậm chí ông còn cùng các nhân viên ngân hàng đến thăm xã giao những khách hàng tiềm năng. Giao dịch trên sàn vẫn sinh lời nhưng Gutfreund đã phát hiện ra điều mà mọi giám đốc điều hành khác của Phố Wall đã biết từ nhiều năm nay: Ngày nay, tiền thật sự nằm trong các ngân hàng đầu tư.

RJR Nabisco là bài kiểm tra đối với sự chuyển hướng của Gutfreund. Ông biết bộ phận ngân hàng đầu tư của mình đã chuẩn bị tinh thần giành lấy một phần trong thỏa thuận mà Ross Johnson đã khởi xướng. Gutfreund từng hoài nghi rằng niềm đam mê của họ đối với “thỏa thuận gây sốt” chỉ xảy ra khi một nhân viên ngân hàng tìm thấy vụ tiếp quản của đời mình. Với hầu hết “những người tham gia thỏa thuận”, Gutfreund đã quan sát thấy các triệu chứng xuất hiện hằng tháng hoặc hai tháng một lần. Gutfreund nhận ra các nhân viên ngân hàng tin rằng họ đã tìm được Chén Thánh: gặp được thỏa thuận có thể giúp họ trở lại thời oanh liệt. RJR Nabisco là sự cứu rỗi của Salomon. Với thỏa thuận này, họ sẽ viết lại lịch sử, xóa sạch quá khứ đáng hổ thẹn, và ngay lập tức hình thành một Salomon hùng mạnh trong thế giới LBO.

Gutfreund cho rằng đó là một mục tiêu đáng ngưỡng mộ nhưng không dễ thành hiện thực, và chắc chắn có rủi ro. Những gì Bill Strong nói với ông về RJR Nabisco, công ty của Ross Johnson, có vẻ rất hấp dẫn: thương hiệu tốt, dòng tiền mặt siêu lớn. Nhưng Gutfreund phải nhìn vào cục diện tổng thể. Số vốn mà họ cần — có thể lên đến vài trăm triệu đô-la - sẽ đặt công ty vào gánh nặng nợ nần khổng lồ. Các hoạt động giao dịch trên sàn của Salomon đều sử dụng quỹ của công ty để mua vào một lượng lớn cổ phiếu và trái phiếu, rồi bán chúng với tỷ suất lợi nhuận thấp để kiếm được khoản lợi nhuận khổng lồ. Bất kỳ sự cắt giảm mạnh nào đối với nguồn vốn này có thể khiến các tổ chức xếp hạng xem xét lại xếp hạng tín dụng của Salomon. Bất kỳ sự hạ cấp tín nhiệm nào cũng có thể khiến Gutfreund mất hàng triệu đô-la do chi phí giao dịch cao hơn. Quan trọng hơn, hạ cấp tín nhiệm có thể làm nhen nhóm những sự bất mãn trong hàng ngũ. Gutfreund không thể tự lừa dối bản thân: Nếu xử lý vụ này không thỏa đáng, ông có thể sẽ phải đối mặt với cuộc nổi dậy công khai.

Sau khi đỗ xe, Bill Strong và nửa tá nhân viên ngân hàng đầu tư khác gặp Gutfreund trước cửa căn hộ của ông. Họ được dẫn vào bên trong, đến một phòng chờ hai tầng cao vút có ốp đá xung quanh. Một bên tường treo bức tranh màu nước của Monet. Căn hộ có sáu phòng ngủ này đã tiêu tốn của Gutfreunds 6,5 triệu đô-la - trước khi nó được cải tạo toàn bộ - mỗi thứ treo trên tường lại tiêu tốn không ít tiền bạc. Với các phòng sinh hoạt chung, Gutfreunds ưa thích bầu không khí hoàng gia Pháp của thế kỷ XVIII, trông thật xum xuê với những bức tranh cổ và cây leo đầy trên giàn. Những bà mệnh phụ hay soi mói trong giới thượng lưu rất thích châm chọc việc Susan Gutfreund đã trở nên lai căng thế nào trong thời gian cô ở Paris. Cô đã chào bằng tiếng Pháp “Bonsoir, Madame” khi được giới thiệu với Nancy Reagan.

Nhà Gutfreund chuyển đến đại lộ số 5 sau khi có mâu thuẫn với những người hàng xóm cũ ở khu nhà sang trọng bên sông River House. Susan cứ đòi mua cây thông Giáng sinh Douglas cao gần 7m. Khi cây thông quá cao so với thang máy của tòa nhà, cô đã không chần chừ thuê một chiếc cần cẩu đặt trên mái nhà và tời nó lên, và thật không may điều này chưa được những người thuê căn hộ áp mái cho phép. Thật là một cảnh tượng đáng xấu hổ, tiếp sau đó là một vụ kiện trị giá 35 triệu đô-la. Ngay sau đó, nhà Gutfreund chuyển đến khu nhà lớn hơn trên đại lộ số 5.

Nhóm Strong được dẫn đi xem một vòng căn hộ xa hoa, rồi vào thư viện của Gutfreund, nơi có những bức tường sẫm màu treo đầy tranh sơn dầu. Gutfreund nói: “Nào, hãy nói những điều tôi cần biết về thỏa thuận này.”

Strong thấy lo lắng. Đây sẽ là bài phát biểu quan trọng nhất mà anh từng thực hiện. Anh đang đề nghị Gutfreund thực hiện một cam kết chừa từng có có thể định hình lại toàn bộ tương lai của công ty. Anh nhanh chóng trình bày. Strong giải thích kế hoạch rất đơn giản, Salomon và Hanson sẽ đóng vai trò là các đối tác theo đúng nghĩa, chia nhau 50-50 quyền quyết định với cổ phiếu, chi phí và quyền kiểm soát. Salomon có chuyên môn tài chính, Hanson có kiến thức nền tảng về hoạt động thâu tóm. Điều khác thường là cách thức Salomon chen chân vào thỏa thuận này.

Làm việc suốt cuối tuần qua, nhóm Salomon của Strong đã đưa ra kết luận giống như bên Henry Kravis. Để chen chân vào thương vụ RJR Nabisco, họ cần phải hành động táo bạo. Strong đề nghị Salomon nhanh chóng, và bí mật tích lũy để có lợi thế lớn về cổ phiếu của RJR Nabisco, mặt khác đề nghị được tham gia đấu thầu tự nguyện. Strong lập luận rằng điều này sẽ mang lại cho Salomon lợi thế trong thương lượng. Còn có thêm một lợi thế nữa là ngay cả khi Salomon cuối cùng không giành được quyền kiểm soát công ty, họ gần như chắc chắn sẽ thu lợi lớn từ việc nắm giữ cổ phiếu.

Những gì Strong mô tả chính xác là chiến lược mà những kẻ đột kích công ty như Boone Pickens và Carl Icahn đã sử dụng trong nhiều năm qua. Chưa từng có tiền lệ một ngân hàng đầu tư lớn thử tìm cách tiếp cận tương tự ở quy mô vượt xa thỏa thuận mà Tom Hill và Shearson thực hiện để nhảy vào nắm quyền Koppers vào mùa xuân năm đó. Strong lập luận rằng những thỏa thuận khác thường cần có những chiến thuật khác thường. Nếu Gutfreund chấp thuận, Strong muốn sáng thứ Hai sẽ bắt đầu mua cổ phiếu của RJR Nabisco vào, và tiếp tục mua cho đến khi họ đạt tổng giá trị mua 1 tỷ đô-la.

Strong không hề nông nổi khi đề xuất kế hoạch này. Các nhân viên ngân hàng đã dành cả cuối tuần đã tranh luận về quan điểm này.

Chiến lược có vẻ rất tuyệt vời, mục tiêu chỉ có một lần trong đời là thu mua các thương hiệu đình đám. Đó chính xác là kiểu hành động táo bạo mà theo họ, Salomon nên thực hiện. Càng thảo luận, họ càng trở nên nhiệt tình. Tất cả mọi người chỉ còn một câu hỏi chung: Liệu Gutfreund có đồng ý làm không?

“Không đâu, ông ấy sẽ không bao giờ đồng ý,” một nhân viên ngân hàng tên Charles Phillips (còn gọi là Chaz) nói. Phillips nhận xét, Gutfreund nói không đi đôi với làm, nhưng nếu cứ suy tính trong đầu chi bằng nói ra xem kết quả thế nào. Một số nhân viên ngân hàng trở nên chán nản. Họ rên rỉ nếu Gutfreund không thông qua vụ RJR Nabisco này, thì ông sẽ không bao giờ chấp thuận bất kỳ vụ nào. “Nếu chúng ta không thể tìm ra cách để thuyết phục ông ấy,” một nhân viên ngân hàng kỳ cựu tên Ronald Freeman nói, “thì 15 năm của tôi ở Salomon chẳng có nghĩa gì.”

Giờ đây, khi Strong đã kết thúc bài phát biểu, Gutfreund bắt đầu tấn công, giống như một chiến binh bất ngờ chọc thủng lớp vỏ bọc bên ngoài, lùng sục tìm kiếm những điểm yếu trong kế hoạch của họ. Phong cách của ông là luôn đặt các nhân viên ngân hàng vào thế phòng thủ, buộc họ phải chứng minh cho hành động của mình theo hàng trăm cách khác nhau. Trước khi đánh cược từng đồng đô-la cho thỏa thuận này, Gutfreund nói ông muốn nghe tất cả những điều có thể khiến thỏa thuận đi chệch hướng. “Các vị dường như đang khá dễ dãi với tiền do các cổ đông của công ty giao phó,” ông nghi ngờ. “Điều gì khiến các vị nghĩ rằng ta sẽ thành công?”

Ban đầu, các nhân viên ngân hàng không hiểu ông đang phản đối hay chỉ đơn giản là đặt ra các câu hỏi xác đáng. Còn vấn đề kiện tụng với thuốc lá thì sao? Gutfreund hỏi. “Không thành vấn đề,” các nhân viên ngân hàng đảm bảo. Ông hỏi Chaz Phillips: “Thế thị trường trái phiếu có cung cấp đủ tiền không?”

Họ thảo luận đi thảo luận lại từng mục một trong hơn một giờ, sau đó Gutfreund gọi điện cho một trong những giám đốc có tầm ảnh hưởng nhất của Salomon, Warren Buffett. Buffett nổi tiếng là một trong những nhà đầu tư thông minh nhất Phố Wall. Tiên lượng của ông có thể làm chuyển động thị trường, và thường là đúng hướng. Warren Buffett không phải là một nghệ sĩ kiếm tiền kiểu chụp giật, ông không có khái niệm đột kích. Buffett đầu tư theo kiểu truyến thống: mua và nắm giữ. Ông đã mua 12% cổ phần của Salomon vào mùa thu năm trước, giải cứu Gutfreund khỏi các cuộc tấn công thù địch của Ron Perelman. Khi Buffett bắt máy, Gutfreund bật loa ngoài và trình bày tình hình một cách chi tiết. Họ nên làm gì?

Làm đi, Buffett khuyên. Từng là một trong những cổ đông lớn nhất của RJR, ông hiểu về thuốc lá và thích nó. “Tôi sẽ nói với ông lý do tại sao tôi thích ngành thuốc lá,” ông nói. “Chi phí làm ra nó là 1 xu. Bán nó thu về 1 đô-la. Nó gây nghiện. Và từ đó, nó tạo ra sự trung thành tuyệt vời với một thương hiệu.”

Liệu Buffett có muốn đầu tư cùng Salomon không? Không, nhà đầu tư nói, không phải lúc này. Theo Buffett, đầu tư vào thuốc lá là tốt, nhưng sở hữu một công ty thuốc lá có nghĩa là người sở hữu nó phải sẵn sàng mang trên vai gánh nặng xã hội và tất cả các hoạt động buôn bán thần chết, điều mà ông không muốn vào thời điểm này. “Tôi đủ giàu rồi và không cần phải sở hữu một công ty thuốc lá để rồi phải giải quyết hậu quả với quyền sở hữu của cổ đông,” Buffet kết luận.

Đối với các nhân viên ngân hàng đang ngồi trong thư viện của Gutfreund, phước lành của Buffett dường như đã xóa tan những nghi ngờ cuối cùng của vị chủ tịch. Gutfreund đồng ý, nếu cần phải hành động quyết liệt thì hãy làm đi. Đêm đó, các nhân viên ngân hàng rời khỏi căn hộ của Gutfreund với tinh thần hưng phấn. Chaz Phillips, người nghi ngờ thái độ của Gutfreund nhất, bắt xe buýt về căn hộ của mình ở đại lộ số 5, trong lòng lâng lâng. Phillips chắc chắn vừa chứng kiến một trong những khoảnh khắc quan trọng nhất trong lịch sử của Salomon Brothers. Ông không thể tin nổi.

Gutfreund thực sự sẽ hành động.

Đầu giờ sáng, các nhân viên ngân hàng đầu tư ở Salomon gọi điện chúc mừng nhau. Không thể tin được, vận may đến rồi. Cuối cùng, sau nhiều năm nói suông, Salomon Brothers sẽ thực sự hành động.

-

“Nào, đợi đã,” George Roberts nói. “Tại sao phải là đêm nay? Tôi sẽ đáp máy bay và đến đó vào ngày mai.”

“Mai cũng được,” Kravis nói, “nhưng đến mai có lẽ đã muộn rồi.”

Roberts bật loa ngoài cuộc gọi từ văn phòng của Kravis, anh cảm thấy bất an với đề nghị đấu thầu ngay lập tức. Mặc dù vẫn theo sát sự chuẩn bị của Kravis, nhưng anh không mong đợi một tiến triển thế này. Ngồi ở nhà tại miền Nam San Francisco, tất cả những gì thôi thúc Roberts chỉ là thông báo trên máy tính được gửi đến từ New York hai ngày trước đó. Vốn thận trọng, Roberts muốn biết nhiều hơn trước khi cam kết với đề nghị đầu thầu tự nguyện đầu tiên trong lịch sử công ty.

Kravis đưa ra tất cả các lý do phải hành động nhanh chóng. Các ngân hàng đang chặn những khoản vay. Hội đồng quản trị của American Express sẽ họp vào ngày mai để phê duyệt khoản vay bắc cầu cần thiết nhằm khóa chặt thỏa thuận. Nếu họ không hành động nhanh, Johnson có thể thực hiện xong thỏa thuận này trong vòng vài ngày, nếu không muốn nói là vài giờ. Anh lập luận: Một lời đề nghị đấu thầu là cách duy nhất để Kohlberg Kravis chắc chắn có thể đặt chân vào cửa. Hơn nữa, lời đề nghị đó đảm bảo họ sẽ nhận được phản hồi từ hội đồng quản trị. Luật chứng khoán liên bang quy định cho dù mục đích của một đề nghị đấu thầu là gì, nó phải nhận được câu trả lời chính thức trong vòng 10 ngày. Vì thế, Kravis cho rằng hội đồng quản trị không thể phớt lờ họ.

Hơn nữa, đây không phải là một cuộc đầu thầu thù địch hoàn toàn. Lý do là chính Johnson đã đưa công ty vào cuộc chơi. Và Kravis dự định sẽ đưa ra đề nghị đấu thầu sao cho hội đồng quản trị của RJR Nabisco phải chấp nhận. Anh nói, theo cách đó, họ sẽ có được lợi thế về thời gian mà không cần chính thức đưa ra đề nghị đấu thầu thù địch.

Bruce Wasserstein và Eric Gleacher vào cuộc để thuyết phục Robert. Họ lặp lại chiến thuật quân sự đã bàn cho Roberts nghe. Roberts không mấy ấn tượng với lập luận của hai nhân viên ngân hàng này, mặc dù anh không nói như vậy trước mặt họ. Roberts biết trên Phố Wall đầy rẫy những kẻ như Wassersteins và Gleachers, những kẻ đang cố gắng đẩy Kohlberg Kravis vào những thỏa thuận vội vàng, mà lợi ích chính dường như là để thu những khoản phí tư vấn hàng triệu đô-la. Đặc biệt, Wasserstein là kẻ xấu, luôn làm phiền Henry với những ý tưởng tiếp quản mới. Roberts tuy chấp nhận bọn họ nhưng vẫn luôn hoài nghi, rồi anh ghép họ vào những điều mà anh ghét ở New York. Được một lúc, Roberts nói với hai nhân viên ngân hàng rằng anh muốn đi vệ sinh.

Đó là một quyết định rất quan trọng. Thỏa thuận này lớn gấp ba lần so với tất cả các vụ họ từng làm trước đây. Đó cũng là lần đầu tiên họ tham gia đấu thầu mà không có sự trợ giúp của nhóm quản lý thân thiện. Nếu muốn có RJR Nabisco, có vẻ như họ sẽ phải tự bơi một mình.

Tuy nhiên, Roberts cảm thấy anh đang bị khuất phục trước những lý lẽ bản năng nhưng thực tế của Kravis. Tách biệt ở California, anh thấy sẽ chẳng ích gì khi phản đối số đông ở New York. “Được rồi,” Roberts nói. “Hãy cứ chờ đến sáng mai. Nếu không ai còn chút dè dặt nào, chúng ta sẽ tiến hành.”

Cuộc họp kết thúc lúc 10 giờ 15 phút. Khi Kravis chuẩn bị ra về, Gleacher và Wasserstein bước vào phòng làm việc của anh. “Chúng tôi muốn nói chuyện về phí tư vấn,” một trong hai người nói.

Kravis bực mình với yêu cầu này. Kohlberg Kravis thường đợi đến khi vụ tiếp quản có tiến triển, thậm chí sau khi hoàn thành, mới thương lượng các khoản phí tư vấn với những nhân viên ngân hàng. Kravis coi trọng việc giữ chữ tín với các cố vấn của mình. Anh liếc nhìn hai người với ánh mắt lạnh lùng: Những gã này muốn tăng tiền công sao.

“Tại sao các anh lại nói chuyện đó vào lúc này?” Kravis nói. “Trước kia, chúng ta chưa từng phải băn khoăn về nó.”

Hai nhân viên ngân hàng nhấn mạnh rằng cả Morgan Stanley và Wasserstein Perella sẽ phải nhận được một khoản phí 50 triệu đô-la mỗi bên. Đó là một con số rất lớn. Các khoản phí lớn nhất được đàm phán cho đến thời điểm đó là khoảng 50-60 triệu đô-la, và đó là cho những thỏa thuận đòi hỏi các khoản vay bắc cầu lớn cùng những cam kết cấp vốn hàng tỷ đô-la. Wasserstein và Gleacher muốn số tiền tương tự chỉ cho những lời tư vấn của họ.

Điều này thật nực cười, Kravis nghĩ. Khi anh chuẩn bị phát động trận chiến tiếp quản lớn nhất trong đời cũng như trong lịch sử Phố Wall, các cố vấn của anh lại lo lắng về khoản tiền hoa hồng hơn là chiến thuật của họ.

“Chưa đến lúc đâu,” Kravis nói với hai người. “Chúng ta thậm chí sẽ không bàn về nó. Đây là lần cuối cùng chúng ta nói về nó.”

“Được thôi,” sau một giây, Gleacher nói. “Nhưng điều này rất quan trọng với chúng tôi. Chúng tôi chỉ có thể tin tưởng anh thôi.”[4]

Sau đó, Kravis đã lái xe về căn hộ của mình ở đại lộ Park. Anh rất hài lòng với những gì diễn ra đêm nay. Một đề nghị đấu thầu dường như là cách làm đúng đắn nhất. Anh gần như chắc chắn sẽ làm như vậy. Tất nhiên, cách làm đó sẽ không tránh khỏi hoài nghi. Làm thế nào để các nhà đầu tư trong quỹ của họ hiểu được vấn đề? Báo chí sẽ đăng tin ra sao? Quan trọng hơn cả là hội đồng quản trị RJR sẽ xem xét đề nghị của họ thế nào? Các giám đốc phải tin đó không phải là một đề nghị đấu thầu thù địch.

Kravis muốn trì hoãn một chút. Sáng mai, anh sẽ nói chuyện với Beattie và Roberts, có thể với cả Peter Cohen nữa.

Sau đó, anh sẽ đưa ra quyết định cuối cùng.

-

Mặc cho bên Henry Kravis hối hả chuẩn bị, nhóm quản lý của Johnson đã có cuối tuần nghỉ ngơi trọn vẹn. Đầu giờ tối Chủ nhật, Johnson vẫn vô tư không biết gì về cuộc tấn công đang tiến đến ngay trước mắt, lão ùa vào nhà của Jim và Linda Robinson ở lầu trên Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại. Johnson, với làn da rám nắng và thoải mái trong chiếc áo len cotton và quần vải rộng, đang có tâm trạng tốt. Trong chuyến bay trở về từ Atlanta chiều hôm đó, lão đã dừng chân ở Chattanooga, Tennessee cùng Laurie và John Martin, và đã chơi một trận golf, ở đó có sân golf Honors do một người bạn mà lão yêu quý tên là Jack Lupton sở hữu, ông này từng có xưởng đóng chai Coca-Cola. Cả ba người bọn họ đều chơi tốt, Laurie phát bóng bằng tee[5] ngắn, Johnson sử dụng tee trung bình và Martin sử dụng tee dài.

Johnson chẳng hề lo lắng về mối đe dọa từ phía Kravis. Trên thực tế, lão chẳng có nhiều thời gian để lo lắng về bất cứ điều gì kể từ thứ Sáu. Vào thứ Bảy, lão ngủ đến trưa, sau đó cả buổi chiều lão cùng Martin xem trận bóng đá của sinh viên đại học. Vào thứ Hai, lão và Laurie dự định đến thăm Bruce, anh vẫn còn hôn mê sau tai nạn hơn một tháng trước. Thứ Ba, họ sẽ gặp các nhân viên ngân hàng đầu tư, bước đầu tiến tới khoản vay tối thiểu 15 tỷ đô-la cần thiết cho thỏa thuận này. Đó là khi công việc sẽ thực sự bắt đầu, Johnson suy tính.

Còn về phía Kravis, điều đó không thành vấn đề, Cohen có thể chăm sóc anh ta. Kravis sẽ bình tĩnh lại; mọi thứ sẽ lại đâu vào đấy. Cohen nói có thể lo vệc này trong khi vẫn chưa có tin tức gì mới, Johnson vẫn tin vào anh ta. Dù sao thì Kravis có thể làm gì được đây? Johnson cảm thấy chắc chắn anh ta sẽ không dám đấu giá một công ty trị giá 18 tỷ đô-la mà không có sự ủng hộ của nhóm quản lý.

Jim Robinson lại không thể hững hờ. Vào tất cả các ngày cuối tuần, ông cứ lo lắng thái quá về việc có nên tự mình gọi cho Kravis hay không. Cohen nói anh ta có thể kiểm soát tình hình, nhưng Robinson không thể cứ lờ đi trong khi ông nghĩ mình có thể giúp. Thông qua điện thoại, ông và Johnson cùng Cohen đã dành phần lớn thời gian buổi tối hôm đó để kiểm tra tất cả các khả năng.

Khoảng 11 giờ, Johnsons và Martin về nghỉ ngơi ở căn hộ của Johnsons trên đại lộ số 5, cạnh khách sạn Pierre. Khi họ về đến nơi, Martin rất ngạc nhiên khi nhận được tin nhắn từ trợ lý của mình, Bill Liss. Khi gọi lại, ông thấy Liss gần như hoảng loạn.

Liss giải thích, ông vừa nhận được một cuộc gọi từ phóng viên của tờ Wall Street Journal: “Henry Kravis sẽ đề nghị tham gia đấu thầu vào sáng mai với giá 90 đô-la/cổ phiếu.”

Martin và Johnson nhìn nhau, chết điếng người. “Điên à,” Martin nói với Liss.

“Mất trí à,” tiếng Johnson tiếp lời. “Có ai lại trả đến 90 đô-la?”

Chỉ là lời đồn đại thôi, hai người tự nhủ. Xung quanh một thỏa thuận tầm cỡ thế này, chắc chắn sẽ có hàng trăm câu chuyện kỳ lạ đồn đại về nó. Tuy nhiên, John Martin vẫn nói lại tin đồn cho Linda Robinson.

-

Peter Cohen vừa định đặt quyển sách đang đọc xuống, và chuẩn bị cùng vợ đi ngủ. Anh biết ngày mai sẽ là một ngày khó khăn. Vấn đề với Henry Kravis phải được giải quyết.

Anh đã có một kỳ nghỉ cuối tuần yên ổn. Sau cuộc gặp với Kravis vào tối thứ Sáu, khi về đến nhà, Cohen gần như kiệt sức. Vào thứ Bảy, anh phải chịu đựng sáu giờ học tiếng Pháp. Cohen cần một người dạy kèm — anh cũng đang học cả tiếng Ý — để xây dựng tình bạn mới với Carlo De Benedetti, bởi anh mới gia nhập hội đồng kiểm soát của De Benedetti ở Pháp và Ý. Cohen đảm bảo với vị gia sư rằng anh sẽ cố gắng theo, và học tập chăm chỉ hơn so với mùa xuân năm trước. “Tôi hứa lần này sẽ khác,” anh nói mà không biết đó sẽ là buổi học tiếng Pháp cuối cùng của mình trong nhiều tháng. Cuối buổi chiều hôm đó, anh đến xem trận bóng ném của con trai. Vào Chủ nhật, Cohen quanh quẩn ở nhà cả ngày. Anh nói chuyện nhiều lần với Jim Robinson và Tom Hill. Cả ba người nhất trí là Shearson nên tiếp tục đàm phán với Kravis. Cohen chẳng mảy may có ý tưởng về việc cuộc đàm phán sẽ dẫn đến đâu, nhưng thử và ngăn chặn Kravis trước khi rắc rối leo thang có vẻ là một nước cờ khôn ngoan.

Chuông điện thoại của Cohen vang lên. Đó là Linda Robinson, cô truyền đạt lại thông tin của John Martin, và bày tỏ lo lắng về tin đồn rằng Kravis sẽ đưa ra đề nghị đấu thầu RJR Nabisco.

“Tôi thấy điều đó thật khó tin,” Cohen nói, “chỉ là lời đồn đại thôi.” Giống như Johnson, anh cho rằng tin đồn thường xuất hiện ở bất kỳ cuộc đấu giá lớn nào. Linda Robinson cũng thấy có vẻ hợp lý.

Chưa đầy một giờ sau, Robinson gọi lại. Cô lại nhận được một cuộc gọi từ một phóng viên, người này nói với cô về tin đồn tương tự.

“Không đúng đâu, Linda,” Cohen lặp lại. “Chúng tôi dự định gặp Henry vào ngày mai. Làm sao anh ta có thể làm thế mà không tính đến lợi ích từ một cuộc đối thoại khác? Điều đó thật vô lý. Chỉ là tin đồn thôi.”

-

Trước khi đi ngủ, Linda Robinson gọi lần cuối cho Johnson và thông báo tin tức về cuộc gọi của phóng viên thứ hai. Cô quả quyết rằng lão không cần phải lo lắng. “Myron nói điều đó là không thể,” cô gọi Cohen bằng biệt danh do cô tự đặt. “Bọn họ sẽ gặp nhau vào sáng mai.” Tuy nhiên, Johnson lần đầu tiên cho phép bản thân có chút lo lắng. Sau khi chúc Linda Robinson ngủ ngon, lão nói với Laurie. “Chúa ơi, cô ấy cũng nhận được cuộc gọi. Thật lạ…”

“Có thể là thật không?” Johnson nghĩ. Không, đó chắc chắn là tin đồn. Không thể vô lý như vậy. Chết tiệt, lão thấy bối rối, ngay cả nếu Kravis trả giá cao hơn đề xuất của họ, cũng không thể cao hơn đến 15 đô-la/cổ phiếu.

Không, không thể được…

-

Sáng thứ Hai, Bill Strong, nhân viên ngân hàng đầu tư của Salomon Brothers, dậy từ rất sớm. Anh đang ở nhà tại thành phố Summit, bang New Jersey, sẵn sàng cho một ngày làm việc mới. Hôm nay là ngày mà các nhà kiến tạo thỏa thuận của một Salomon Brothers già nua và trầm mặc sẽ bước sang thế kỷ XXI.

Vào lúc 5 giờ 20 phút, Strong chui vào trong chiếc BMW 735i màu đen, và lái đến một quầy bán báo gần đó. Hai mươi phút sau, khi anh đang trên đường đi về phía đường hầm Holland Tunnel với một đống báo chưa đọc đặt trên ghế bên cạnh, thì chuông điện thoại reo. Đó là một cộng sự của Salomon, David Kirkland. Kirkland vừa nghe trên đài CBS rằng Henry Kravis đã công bố đề nghị đấu thầu RJR Nabisco với giá 90 đô-la/cổ phiếu.

“Ôi, Chúa ơi,” Bill Strong nói.

-

6 giờ sáng, luật sư của Johnson, Steve Goldstone, đang mặc quần tập thể dục thì điện thoại reo. Gần đây, anh đã chuyển đến một căn hộ ở tòa United Nations Plaza. Mỗi sáng, anh tập thể dục ở phòng tập dưới lầu để giảm căng thẳng.

“KKR đã công bố đề nghị tham gia đấu thầu,” Tom Hill nói thẳng vào vấn đề, nhanh chóng phác thảo vài chi tiết của đề nghị mà ông vừa biết.

Lúc đầu, Goldstone không hiểu. “Nói lại xem, ông đang nói cái gì thế?”

Hill lặp lại những gì ông biết.

“Giá bao nhiêu?” Goldstone hỏi.

“90 đô-la/cổ phiếu.”

Goldstone choáng váng. Trong nhiều tuần chuẩn bị của họ, chưa khi nào anh nghe thấy bất cứ điều gì để chuẩn bị tinh thần đón nhận một con số cao đến vậy. Shearson đã nói họ không cho rằng thỏa thuận sẽ có giá hơn 80 đô-la.

“Nói lại đi? 90? 90 ư?”

“Đúng vậy.”

“Tôi sẽ đến văn phòng của ông ngay lập tức.”

Goldstone lặng người, tuột chiếc quần tập ra. Nhiều tháng sau, anh nhớ lại: “Cuộc gọi đó làm tôi thật sự choáng váng.”

-

Sáng thứ Hai, cả tờ Wall Street JournalThe New York Times đều đưa tin Kohlberg Kravis đã công bố đề nghị đấu thầu RJR Nabisco với giá 90 đô-la/cổ phiếu. Quai hàm Dick Beattie chùng xuống khi ông đọc tin trên báo. Đâu đó đã có sự rò rỉ tin tức. Đó là sự vi phạm bảo mật tồi tệ nhất mà ông từng chứng kiến trong 20 năm ở Phố Wall. Ai đó, có lẽ là một cố vấn của Kravis, đã được trả hàng triệu đô-la để tiết lộ thông tin về bước chuyển mình lớn nhất trong sự nghiệp của Kravis. Beattie vẫn còn đang bối rối khi Kravis gọi vào khoảng 7 giờ.

“Ông đã xem tin giật gân trên tờ Times chưa?” Anh hét lên.

“Thấy rồi, tôi rất tức giận vì điều đó. .

“Chết tiệt, Beck!”

“Này, Henry…”

“Thế nhé!”

Kravis, nhắm vào chi tiết liên quan đến Drexel Burnham trong bài báo trên tờ Times, ngay lập tức chỉ ra thủ phạm là Jeff Beck. Trong nhiều năm, anh đã phải chịu đựng những trò đùa quá ngớ ngẩn của Beck. Bây giờ là lúc anh trả hết cho Beck.

Kravis vẫn còn rất giận dữ khi anh đến văn phòng nửa tiếng sau đó. Giờ đây, những e dè vẫn chất chứa trong lòng anh về việc đưa ra đề nghị đấu thầu đã được đưa ra bàn tán. Tin tức lộ ra buộc anh phải công khai kế hoạch. Anh phải tiến lên thôi. Anh chỉ đạo giá thầu sẽ được chính thức công bố vào 8 giờ.

Cố gắng gạt sang một bên cơn giận dữ với Beck, Kravis viết nguệch ngoạc danh sách những người anh cần gọi điện. Chỉ có năm cái tên: Charles Hugel, Ross Johnson, Jim Robinson, Peter Cohen và Ira Harris, người hiện đang làm việc với ủy ban đặc biệt.

Kravis không thể liên hệ ngay được với bốn người đầu tiên. Khoảng 8 giờ kém 20 phút, anh gọi được cho Ira Harris khi ông đang ở căn hộ ở Chicago. Harris, người liên tục phải chiến đấu với vấn đề về cần nặng, đang ngồi trên máy chạy bộ khi Kravis gọi.

“Ôi, Chúa ơi!” Harris thốt lên khi Kravis công bố đề nghị đấu thầu. Nhà kiến tạo thỏa thuận người Chicago nhắc nhở Kravis rằng với tư cách là cố vấn cho hội đồng quản trị, ông hoàn toàn trung lập trong vụ tiếp quản này. Nhưng bất kỳ giá thầu nào làm tăng giá trị thanh toán cho các cổ đông chắc chắn sẽ là tin tốt cho hội đồng quản trị RJR Nabisco.

“Henry,” ông nói, “làm tốt đấy.”

-

Sáng thứ Hai, Peter Cohen dậy sớm, chui vào chiếc limousine trước 7 giờ 30 phút, tài xế đưa anh đến trụ sở của Shearson ở khu trung tâm thương mại của thành phố. Sau khi đưa con đến trường, chiếc xe của Cohen đang đi xuống đại lộ Park thì vợ anh, Karen, gọi điện: “Henry vừa gọi điện nói muốn tìm anh.” Cohen, sáng đó chưa đọc báo, gọi cho Kravis vài phút sau đó. Trong tất cả các cuộc đối thoại giữa họ tại các bữa tiệc tối, buổi khai trương, thậm chí trên những sườn dốc trượt tuyết, anh chưa từng thấy giọng Kravis căng thẳng đến vậy.

“Peter, tôi gọi để báo rằng chúng tôi biết những gì bên anh làm vào cuối tuần. Vì vậy, chúng tôi sẽ công bố một đề nghị đấu thầu vào lúc 8 giờ để mua RJR với giá 90 đô-la/cổ phiếu.”

Cohen đáp trả với giọng bực bội: “Henry, nói rõ đi, chính xác tôi đã làm gì vào cuối tuần?”

“Anh biết rồi còn gì. Anh đã cố gắng chặn các khoản vay ngân hàng và nhiều việc nữa. Chúng tôi biết điều đó. Chúng tôi cũng biết về các cuộc họp hội đồng quản trị.”

“Tôi không biết từ đâu anh có những tin tức chết tiệt đó, nhưng không hề có điều gì giống như vậy xảy ra. Các cuộc họp của hội đồng đã có kế hoạch trong nhiều tháng. Henry, anh đang làm gì vậy? Tôi đang định gọi cho anh. Tôi đã bao giờ nói điều gì đó và không làm chưa?”

“Tôi cho anh biết,” Cohen tiếp tục. “Anh đang phạm sai lầm kinh khủng, Henry, và đừng xem thường chúng tôi.” Cohen không thể kìm được nỗi căm phẫn. Anh cúp máy, cơn giận dữ của Cohen nhanh chóng chuyển thành cơn sốc, rồi lo lắng. Khi chiếc limo lướt nhanh đưa anh vào khu trung tâm thương mại, Cohen cố gắng tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra. Có điều gì đó đã khiến Kravis có hành động này. Anh gọi cho luật sư trưởng của Shearson, Jack Nusbaum.

“Tại sao họ lại làm vậy? Tôi không hiểu! Thật điên rồ,” Cohen nói, giọng anh to dần lên. “Anh ta định sẽ hợp tác với tôi mà.”

Cả hai người đều không thể đoán được chuyện gì đã xảy ra. Nusbaum nói rằng chuyện này cần xem xét trên nhiều khía cạnh. Sẽ không hay chút nào nếu đã có một đề nghị đấu thầu. Chỉ có điều, Kravis làm sao có thể thu xếp vay đến 20 tỷ đô-la trong ba ngày.

“Làm thế nào mà họ nghĩ có thể đầu thầu, Peter?” Nusbaum nói. “Họ đâu có vốn. Thật ảo tưởng. Và anh ta cũng sẽ không dám thực hiện một vụ tiếp quản thù địch.”

-

Ross Johnson vừa ngồi xuống định ăn bữa sáng quen thuộc với bánh mì nướng, thịt xông khói, bánh nướng xốp kiểu Anh và một quả trứng ốp la kiểu Mỹ, thì John Martin xông vào căn hộ. “Là Kravis,” Martin nói, “có rất nhiều nguồn tin, đó là thật.”

Không, Johnson nói. Không thể là thật, lão lắp bắp. Thật vô lý. 90 đô-la/cổ phiếu! Thật điên rồ!

Nhưng đó là sự thật, Martin nói.

Johnson nghĩ ngay đến cuộc gặp của Cohen với Kravis. Có điều gì đó xảy ra vào tối thứ Sáu mới khiến anh ta làm vậy. Có điều gì đó mà không ai nói cho lão biết.

“Chắc chắn đã có kẻ chọc gậy bánh xe. Tôi sẽ tìm hiểu ngọn ngành vụ này.”

-

Ngoài cuộc gặp chẳng đi đến đâu một năm trước, Kravis không thực sự quen biết Johnson. Anh gọi cho Eric Gleacher ở Morgan Stanley để sắp xếp một cuộc nói chuyện qua điện thoại.

“Henry,” Gleacher nói trong sự ngạc nhiên xen lẫn hả hê, “tôi đã đọc về anh trên báo.” Ông cười, không thể kìm được khi có dịp đả kích Jeff Beck, đối thủ cạnh tranh của mình. “Những gã bên Drexel có tin được không?”

“Chết tiệt,” Kravis nổi giận, “tôi chưa bao giờ nổi điên như vậy. Ông tin không? Tôi gần như đã loại Drexel ra khỏi vụ này.”

Gleacher cười thầm, rồi gọi điện đến Atlanta cho Johnson. Vài phút sau, Johnson trả lời cuộc gọi từ căn hộ của lão ở New York. Nhân viên ngân hàng của Morgan Stanley rất ngạc nhiên khi thấy Johnson vẫn ở trong trạng thái hưng phấn cao thường thấy. Thực ra, nếu đề nghị đấu thầu của Kravis làm lão sốc mạnh, thì lão sẽ không cho phép mình thể hiện ra ngoài.

“Chết tiệt, lấy đâu ra cái giá đó chứ!” Johnson la lên. “Ông thấy đấy, thật điên rồ. Nhưng như vậy lại quá tốt cho tất cả cổ đông.”

Gleacher không hiểu ý của Johnson là gì. Có phải lão thực sự không quan tâm rằng mình sắp mất công ty, có thể là mất việc nữa?

Khi Johnson gọi cho Henry Kravis vài phút sau đó, Kravis cũng vậy, anh rất ngạc nhiên trước phản ứng vui vẻ thái quá từ Chủ tịch của RJR Nabisco. Johnson có vẻ chẳng hề hấn gì trước tin tức động trời về động thái của Kravis.

“Chúa ơi, Henry!” Johnson nói. “Tôi biết anh giàu có, nhưng không biết anh giàu đến thế! Cái gì mà đấu thầu…”

Trái ngược với thái độ cởi mở không thể giải thích nổi của Johnson, Kravis giữ giọng nói rất điềm tĩnh, giống như khi bàn công việc kinh doanh: Ross, tôi chỉ muốn thông báo cho ông biết theo phép lịch sự: Chúng tôi muốn mua công ty của ông. Và tôi sẽ rất vui khi chúng ta có thể ngồi xuống và bàn bạc xem liệu hai bên có thể hợp tác không. Chúng tôi rất muốn ông vẫn sẽ điều hành công ty này.”

“Vậy à, để tôi xem chúng ta sẽ hợp tác thế nào,” Johnson nói. “Tôi sẽ gọi lại cho anh sau nhé.”

Cuộc gọi kết thúc chóng vánh.

Cuối giờ sáng hôm đó, sau khi truyền đạt các thông điệp tương tự đến Jim Robinson và Charles Hugel, Kravis gọi điện và đối đầu với Jeff Beck. Nếu có thể thò tay qua đường dây điện thoại và bóp cổ nhân viên ngân hàng đó của Drexel, anh cũng sẽ làm.

“Tôi không thể tin anh lại làm điều này với tôi,” Kravis nói.

Beck ngay lập tức phát hoảng. “Tôi không làm. Henry, anh phải tin tôi. Không phải tôi.”

“Những gì viết trên các báo khiến tôi tin chắc rằng chính ông đã làm điều đó. Tôi không muốn bất cứ kẻ nào không đáng tin ở quanh tôi. Tôi không muốn bất cứ ai trong đội này là kẻ tư lợi. Chúng tôi không thể sử dụng những người như vậy. Thế đấy, Jeff. Tôi không muốn ông đến bất kỳ cuộc họp nào nữa.”

Beck trở nên điên cuồng. Ông sẽ mất khoản phí tư vấn trị giá hàng triệu đô-la, chưa kể đến danh tiếng. “Henry, không phải tôi,” ông nói. “Tôi không làm! Không phải tôi! Anh phải tin tôi! Đó là Wasserstein! Chắc chắn là Wasserstein!”

Beck cầu xin liên hồi, nhưng Kravis đã phát chán với lời chối tội trong khi đang hoảng loạn của ông ta.

Cả ngày hôm đó, cứ 30 phút, Beck lại gọi điện cho Kravis, nhưng anh không trả lời. Beck quay sang cầu xin Paul Raether và những người khác, thề rằng ông ta vô tội, thậm chí còn quay sang các phóng viên báo chí để được họ ủng hộ, nhưng vô ích. Trong nhiều ngày, Beck ở trong tình trạng đứng ngồi không yên, ông không thể ngủ, không chắc chắn có được làm việc tiếp với Kravis hay không.

Cũng chính hôm đó, ông nghe nói Eric Gleacher đang lan truyền tin tức về việc Beck đứng sau vụ rò rỉ tin tức. Ông liền gọi cho Steve Waters, cộng sự của Gleacher.

“Hãy nói với Eric,” Beck đe dọa, “nếu ông ta còn nói vậy một lần nữa, tôi sẽ bẻ gãy cổ ông ta.”

-

Nguồn tin thật sự rò rỉ từ đâu là chủ đề tranh luận kéo dài ở Kohlberg Kravis.

Trong vài tuần, Jeff Beck bị trục xuất khỏi tất cả các cuộc họp chiến lược do Kravis vẫn còn nghi ngờ ông. Cuối cùng, Beck được trở lại khi Kravis tin rằng nhân viên ngân hàng của Drexel đã bị oan bởi một kẻ giấu mặt đã thực sự làm lộ thông tin: Bruce Wasserstein.

Các trợ lý của Kravis đưa ra giả thiết rằng Wasserstein đã làm rò rỉ câu chuyện với báo chí để buộc Kravis sa đà vào trận chiến kéo dài với RJR Nabisco. Động cơ của hành động đó là: Wasserstein muốn ngăn chặn Kravis đấu thầu Kraft. Wasserstein đang cố vấn cho bên nguyên của Kraft, Philip Morris, và ông ta sợ sẽ mất con mồi vào tay Henry Kravis. “Ông ta muốn gây rối trong nội bộ chúng ta,” Paul Raether nói. Trên thực tế, Kravis đã liên lạc với John Richman, Giám đốc Điều hành của Kraft, thông báo chính xác việc đấu thầu muộn nhất là vào chiều Chủ nhật.

Kravis tin rằng để che đậy dấu vết, Wasserstein đã khôn khéo đưa ra các tài liệu liên quan đến Drexel Burnham, trong bài báo đăng sáng hôm đó trên tờ The New York Times, khi biết rằng điều đó sẽ thu hút sự suy đoán tập trung vào tính ba hoa của Beck.

Nhiều tháng sau khi thương vụ đã hoàn tất, Kravis và Raether lại thay đổi giả thiết. Sau khi kiểm tra hồ sơ điện thoại của Kohlberg Kravis vào tối Chủ nhật đó, họ khẳng định có các cuộc gọi xác nhận của phóng viên tờ Wall Street JournalThe New York Times. Kravis tin rằng có hai nguồn tin rò rỉ, từ Beck và Wasserstein, mỗi nguồn cho một tờ báo. Họ phỏng đoán động cơ của Beck chỉ thuần túy là tính tự cao tự đại: Ông ta chỉ muốn nhân thỏa thuận này làm tăng sự tín nhiệm của bản thân. Dù sự thật là gì, cả Beck và Wasserstein đều nhiệt tình phủ nhận việc đã tiết lộ thông tin.

Tranh cãi về vụ rò rỉ thông tin tác động đến Kravis không chỉ trong ngày hôm đó mà kéo dài mãi về sau. Anh phải đối mặt với một sự thật đơn giản: Anh không thể tin các cố vấn, những người mà Kohlberg Kravis cuối cùng sẽ phải trả hơn 500 triệu đô-la tiền phí các loại. Trong suốt thời gian còn lại của trận chiến RJR Nabisco, Kravis, Roberts và các trợ lý của họ chủ yếu tự thân vận động. Mặc dù họ vẫn tiếp tục xin ý kiến tư vấn tài chính từ các nhân viên ngân hàng - anh vẫn phải cần đến họ cho thỏa thuận trị giá 25 triệu đô-la này - nhưng Kravis và Robert đều có xu hướng chia sẻ suy nghĩ thực sự của mình với các đồng nghiệp ở Kohlberg Kravis. Đôi khi, họ cố tình đánh lừa các nhân viên ngân hàng, hy vọng sẽ có một Wasserstein hoặc Beck nữa vô tình truyền bá thông tin sai lệch.

-

Thông báo Kravis phát ra như một vụ nổ bom với kế hoạch của John Gutfreund. Cổ phiếu của RJR Nabisco tăng vọt sau khi có thông tin về giá thầu của Kravis, buộc Gutfreund phải hoãn kế hoạch mua vào cổ phiếu của RJR Nabisco. Lúc 11 giờ, Bill Strong và Chaz Phillips gặp các đại điện của công ty Anh Hanson tại văn phòng của họ ở trung tâm thành phố, và được thông báo rằng hồ sơ dự thầu đang được xem xét lại. Đến 3 giờ, kế hoạch của họ dừng hẳn.

Đến tối, dư âm của cuộc họp tối hôm trước chỉ còn lại trong tâm tưởng của các nhân viên ngân hàng Salomon như một giấc mơ buồn. Gutfreund đến văn phòng của họ ở tầng 17, cố ý hỏi về chiến lược mà mới hôm trước họ còn say sưa trình bày với ông. Có những lúc ông đề nghị họ nên “cavalier”, tức là nên trân trọng tiền đầu tư của các cổ đông. Khi ông đi rồi, một số người với tâm trạng u ám đã tự đặt tên mình là “The Cavaliers”, biệt danh gắn với họ trong một thời gian dài.

“Đêm qua, chúng ta thật sáng láng,” Chaz Phillips đau khổ nói. “Bỗng dưng trong chớp mắt, chúng ta lại thành lũ ngốc.”

-

Ross Johnson ngồi yên lặng trong căn hộ của mình, ở phía đối diện bên kia quảng trường Grand Army Plaza là văn phòng của Kravis, lão cố gắng lý giải các sự kiện xảy ra vào buổi sáng. Lão không thể dũng cảm đương đầu với Kravis và Gleacher. Johnson đã không còn những người bạn thân thiết: Những tay ma mãnh trong Hội anh em vui vẻ luôn khiến đối thủ chóng mặt, cùng kề vai sát cánh.

Johnson nói với John Martin: “Với tôi, tất cả đã kết thúc rồi.”

[1] Kravis phủ nhận đã nói với Cohen và Hill rằng anh phải tham gia vào thỏa thuận RJR Nabisco. Báo chí đứa tin rằng Kravis tuyên bố sẽ bảo vệ “đặc quyền”, Kravis phủ nhận đã sử dụng “từ” này. (TG)

[2] Tên gọi khác của ngân hàng Manufacturers Hanover. (ND)

[3] Siskel và Ebert là hai nhân vật trong phim truyền hình nổi tiếng. (ND)

[4] Wasserstein nói ông ta không nhớ cuộc trò chuyện này, nhưng lại cho rằng đó là điều “hoàn toàn hợp lý”… “Nói chung, chúng tôi đã trì hoãn thảo luận về mức phí với Morgan Stanley. Tốt nhất, anh nên đến hỏi Eric.” Gleacher nói rằng ông không nhớ cuộc trò chuyện này. (TG)

[5] Công cụ để nâng bóng golf lên cao khỏi mặt đất và hỗ trợ cho nó đứng yên. (BTV)

HoHoàng Thị Ngọc dịch • Barbarians at the gate •
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.