Chúa Tể Sao Hỏa

Lượt đọc: 180 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Dưới Chân Núi

❊ ❊ ❊

Khi chúng tôi ngược dòng sông đang uốn lượn bên dưới những Vách Đá Vàng xuôi ra từ lòng dãy Otz để hòa làn nước u tối của mình vào dòng Iss âm u và đầy bí ẩn, thứ ánh sáng mờ nhạt xuất hiện trước mặt chúng tôi dần lan tỏa thành một vùng hào quang bao trùm tất cả.

Dòng sông rộng dần ra cho đến khi hiện ra như một hồ nước lớn. Mái vòm như lòng chảo của nó được thắp sáng bởi những vòm đá dạ quang rực rỡ, điểm xuyết bởi những tia sáng lung linh từ kim cương, sapphire, hồng ngọc, cùng vô số những viên ngọc không tên khác của Barsoom nằm khảm trong lớp vàng nguyên chất - thành phần chính tạo nên những vách đá tráng lệ này.

Phía bên kia khoảng không rực rỡ của hồ nước là bóng tối mịt bùng—chẳng ai có thể đoán nổi điều gì đang chờ đợi đằng sau quầng thẫm ấy.

Bám theo con thuyền của thần thern băng qua mặt nước lung linh đồng nghĩa với việc tự nộp mình cho kẻ thù phát hiện. Thế nên, dù cực kỳ can tâm khi phải để Thurid khuất khỏi tầm mắt dù chỉ trong tích tắc, tôi vẫn đành phải nép mình trong bóng tối chờ cho con thuyền kia mất hút ở phía bờ bên kia của hồ nước.

Rồi tôi mới khua mái chèo tiến ra mặt nước rực rỡ, hướng theo đường đi của chúng.

Sau một khoảng thời gian dài đẵng dẵng tưởng chừng như vô tận, tôi cũng tới được vùng bóng tối ở bờ bên kia hồ. Tại đây, dòng sông chảy ra từ một khe hẹp thấp lè tè. Để chui qua đó, tôi phải ép Woola nằm rạp xuống lòng thuyền, còn bản thân mình thì phải gập đôi người mới khỏi bị trần đá thấp lè tè quệt trúng đầu.

Ngay sau đó, trần hang lại vồng cao lên ở phía bên kia, nhưng con đường chẳng còn được chiếu sáng rực rỡ nữa. Thay vào đó chỉ có thứ ánh sáng yếu ớt phát ra từ những mảng đá dạ quang rải rác thưa thớt trên tường và trần hang.

Ngay trước mặt tôi, dòng sông chảy vào khoảng không nhỏ hơn này qua ba cửa vòm riêng biệt.

Thurid và các thern chẳng thấy đâu nữa—chúng đã biến mất vào hốc tối nào trong ba cửa hang này? Tôi chẳng có cách nào để biết, đành chọn cửa ở giữa vì nghĩ xác suất nó dẫn đúng đường cũng ngang bằng với những cửa khác.

Tại đây, con đường hoàn toàn chìm trong bóng tối dày đặc. Dòng nước hẹp—hẹp đến mức trong đêm đen tôi liên tục va hết vào tường đá bên này lại đến tường đá bên kia khi con sông uốn lượn trập trùng quanh lòng đá cứng như thép.

Từ phía xa đằng trước, tôi nghe thấy một tiếng gầm vang trầm đục và giận dữ, âm thanh ngày càng lớn dần khi tôi tiến lên, rồi dội vào tai tôi với toàn bộ sự cuồng bạo dữ dội khi tôi ngoặt qua một khúc cua gấp để vào một khoảng nước sáng mờ.

Ngay trước mắt tôi, con sông đổ ào ào từ trên cao xuống thành một ngọn thác hùng vĩ lấp kín cả hẹp núi từ bờ này sang bờ kia, bọt tung trắng xóa cao hàng trăm feet—một khung cảnh tráng lệ nhất mà tôi từng được chứng kiến.

Nhưng tiếng gầm—tiếng gầm kinh hoàng, điếc óc của những dòng nước cuồn cuộn gầm rú bị giam hãm trong vòm đá dưới lòng đất! Nếu ngọn thác không chặn đứng hoàn toàn con đường tiến lên và cho tôi biết mình đã đi sai hướng, tôi tin rằng mình cũng sẽ phải tháo chạy trước sự náo động cuồng loạn ấy.

Thurid và bọn thern không thể nào đi con đường này. Vì đi nhầm đường, tôi đã mất dấu vết, và chúng đã vượt xa tôi đến mức giờ đây tôi có thể không bao giờ tìm lại được chúng trước khi quá muộn, nếu như tôi còn có thể tìm thấy chúng.

Tôi đã mất vài giờ đồng hồ chèo chống ngược dòng nước xiết để tiến lên tới tận ngọn thác, và sẽ mất thêm chừng ấy thời gian nữa để quay xuống, dù rằng tốc độ xuôi dòng sẽ nhanh hơn nhiều.

Trút một tiếng thở dài, tôi xoay mũi thuyền xuôi dòng, dốc sức vung chèo lao với tốc độ kinh người qua kênh đào tối om và ngoằn ngoèo cho đến khi quay lại khoảng hang nơi ba nhánh sông hội tụ.

Vẫn còn hai kênh nước chưa được khám phá để lựa chọn; và tôi chẳng có căn cứ nào để đánh giá xem lối nào có khả năng dẫn đến chỗ bọn âm mưu hơn.

Chưa bao giờ trong đời, theo những gì tôi có thể nhớ, tôi phải trải qua một sự dằn dằn dội của nỗi do dự đến thế. Bao nhiêu điều phụ thuộc vào một sự lựa chọn đúng đắn; bao nhiêu điều phụ thuộc vào sự gấp gáp.

Những giờ phút tôi đã lãng phí có thể sẽ định đoạt số phận của Dejah Thoris vô giá nếu nàng chưa chết—mà lãng phí thêm những giờ phút khác, thậm chí vài ngày trong việc khám phá vô ích một lối cụt khác chắc chắn sẽ dẫn đến thảm họa.

Mấy lần tôi đã định tiến vào lối đi bên phải rồi lại quay ra, như thể được cảnh báo bởi một trực giác kỳ lạ rằng đó không phải là đường đi. Cuối cùng, bị thuyết phục bởi điềm báo lặp đi lặp lại ấy, tôi dặt cược tất cả vào cửa vòm bên trái; thế nhưng với một sự hoài nghi còn vương vấn, tôi ngoái lại nhìn lần cuối vào dòng nước lầm lỳ đang cuộn chảy, đen ngòm và đáng sợ, từ bên dưới cửa vòm thấp lè tè và u ám bên phải.

Và ngay khi tôi nhìn, từ bóng tối mịt bùng của lòng hang bỗng nhô ra theo dòng nước một vỏ quả lớn, mọng nước của cây sorapus.

Tôi hốt nhiên muốn reo hò mừng rỡ khi sứ giả lặng lẽ, vô giác này trôi qua tôi, hướng về phía sông Iss và hồ Korus, bởi nó báo cho tôi biết rằng những người hành trình trên Mars đang ở phía trên tôi ngay trên chính dòng nước này.

Chúng đã ăn thứ quả tuyệt vời mà thiên nhiên đúc kết bên trong lớp vỏ cứng của hạt sorapus, rồi ăn xong đã quẳng vỏ xuống nước. Chẳng thể là ai khác ngoài toán người tôi đang tìm kiếm.

Ngay lập tức, tôi từ bỏ mọi ý định đi vào lối bên trái, và một khoảnh khắc sau đã ngoặt sang lối bên phải. Dòng nước nhanh chóng mở rộng, và những mảng đá dạ quang lại tiếp tục chiếu sáng con đường tôi đi.

Tôi tiến nhanh, nhưng tự biết mình đã chậm mất gần một ngày so với những kẻ tôi đang theo dấu. Cả Woola lẫn tôi đều chưa ăn gì từ ngày hôm trước, nhưng đối với nó thì điều đó chẳng nhằm nhò gì, vì hầu hết động vật ở các lòng biển chết trên Mars đều có khả năng nhịn ăn trong những khoảng thời gian dài đến khó tin.

Tôi cũng không thấy cực khổ. Nước sông ngọt và lạnh, vì không bị ô nhiễm bởi những xác chết phân hủy—như sông Iss—còn về thức ăn, chỉ cần nghĩ đến việc sắp gặp lại người công chúa yêu thương là tôi đã vượt lên trên mọi nhu cầu vật chất.

Khi tôi tiếp tục đi tới, dòng sông trở nên hẹp hơn và dòng chảy siết, cuồng nộ—siết đến mức tôi cực kỳ khó khăn mới nhích được con thuyền lên từng chút một. Tôi chắc chẳng tiến nổi quá một trăm yard một giờ khi tại một khúc cua, tôi đụng phải một chuỗi ghềnh nước nơi dòng sông sủi bọt cuồn cuộn với một tốc độ kinh hoàng.

Lòng tôi rụng rời. Vỏ quả sorapus đã hóa ra một kẻ tiên đoán dối lừa, và rốt cuộc trực giác của tôi mới đúng—lối đi bên trái mới là con đường tôi nên theo đuổi.

Nếu là một phụ nữ, có lẽ tôi đã bật khóc. Ở bên phải tôi là một xoáy nước lớn, di chuyển chậm chạp xoay quanh sâu bên dưới vách đá nhô ra, và để thư giãn các cơ bắp mệt mỏi trước khi quay trở lại, tôi để con thuyền của mình trôi vào vòng tay của nó.

Tôi gần như gục ngã vì thất vọng. Việc quay lại và đi qua con đường duy nhất chưa được khám phá sẽ làm mất thêm nửa ngày nữa. Số phận quái ác nào đã xui khiến tôi chọn trong ba con đường có thể đi đúng hai con đường sai?

Khi dòng nước lờ đờ của xoáy nước đưa tôi từ từ quanh rìa của vòng nước, con thuyền của tôi hai lần chạm vào vách đá của dòng sông trong hốc tối dưới vách núi. Lần thứ ba nó chạm vào, nhẹ nhàng như những lần trước, nhưng sự tiếp xúc lại tạo ra một âm thanh khác—tiếng gỗ gãi vào gỗ.

Trong tích tắc tôi liền cảnh giác, bởi chẳng thể có thứ gỗ nào bên trong dòng sông ngầm này mà không phải do con người mang tới. Hầu như cùng lúc với nhận thức đầu tiên về tiếng động đó, tay tôi đưa ra ngoài mạn thuyền, và một giây sau tôi cảm thấy các ngón tay mình đang bấu chặt vào mạn của một con thuyền khác.

Như hóa thành đá, tôi ngồi yên lặng và căng thẳng, căng mắt vào bóng tối mịt bùng trước mặt nhằm phát hiện xem con thuyền có người hay không.

Hoàn toàn có khả năng có người trên thuyền nhưng vẫn chưa biết sự có mặt của tôi, vì con thuyền đang cọ nhẹ vào vách đá một bên, nên cú va chạm nhẹ của thuyền tôi ở bên kia rất dễ không bị chú ý.

Dù tôi có cố nheo mắt nhìn thế nào cũng không thể xuyên qua bóng tối, rồi tôi chú ý lắng nghe tiếng thở ở gần; nhưng ngoài tiếng ghềnh nước, tiếng cọ nhẹ của hai con thuyền và tiếng nước vỗ vào mạn, tôi không phân biệt được âm thanh nào khác. Như thường lệ, tôi suy nghĩ rất nhanh.

Một sợi dây thừng nằm cuộn ở đáy thuyền của tôi. Rất nhẹ nhàng, tôi gom nó lại, buộc một đầu vào chiếc vòng đồng ở mũi thuyền rồi rón rén bước sang con thuyền bên cạnh. Một tay tôi nắm sợi dây thừng, tay kia lăm lăm thanh trường kiếm sắc bén.

Trong chừng một phút tròn, tôi đứng nehng không nhúc nhích sau khi sang con thuyền lạ. Nó có nhún nhẹ dưới trọng lượng của tôi, nhưng chính tiếng cọ của mạn thuyền nó vào mạn thuyền tôi mới là điều dễ làm động động những kẻ ngồi trên đó nhất, nếu có.

Nhưng không có âm thanh đáp lại, và một lúc sau tôi đã dò dẫm từ mũi đến lái và nhận ra con thuyền hoàn toàn bỏ trống.

Mày mò bằng tay dọc theo bề mặt vách đá nơi con thuyền được buộc vào, tôi phát hiện ra một gờ đá hẹp mà tôi biết chắc phải là con đường do những kẻ đến trước tôi đã đi. Việc họ không thể là ai khác ngoài Thurid và toán của hắn khiến tôi càng thêm tin tưởng bởi kích thước và kiểu dáng của con thuyền tôi vừa tìm thấy.

Gọi Woola đi theo, tôi bước ra gờ đá. Con thú lớn, dũng mãnh và nhanh nhẹn như một chú mèo, bò theo sau tôi.

Khi đi qua con thuyền vốn do Thurid và bọn thern chiếm giữ, nó gầm gừ một tiếng thấp, và khi đến bên tôi trên gờ đá và tay tôi đặt lên cổ nó, tôi cảm thấy bờm ngắn của nó dựng đứng lên vì tức giận. Tôi nghĩ nó đã cảm nhận được bằng ngoại cảm sự hiện diện gần đây của kẻ thù, vì tôi chưa hề cố gắng truyền đạt cho nó bản chất của cuộc tìm kiếm hay tình trạng của những kẻ chúng tôi đang theo dấu.

Sự thiếu sót này giờ đây tôi vội vã sửa chữa, và theo cách của người Mars xanh với thú nuôi của họ, tôi cho nó biết một phần bằng thần giao cách cảm kỳ lạ của Barsoom và một phần bằng lời nói rằng chúng tôi đang theo dấu những kẻ vừa chiếm giữ con thuyền mà chúng tôi vừa đi qua.

Mọt tiếng gừ gừ nhẹ, giống như của một con mèo lớn, cho thấy Woola đã hiểu, và rồi, với một lời bảo nó đi theo, tôi ngoặt sang bên phải dọc theo gờ đá, nhưng vừa làm vậy tôi đã cảm thấy những chiếc răng nanh mạnh mẽ của nó đang kéo dây da giáp của tôi.

Khi tôi quay lại để tìm hiểu nguyên nhân hành động của nó, nó tiếp tục kéo tôi đều đặn về hướng ngược lại, và không chịu buông ra cho đến khi tôi quay lại và tỏ ý sẽ tự nguyện đi theo nó.

Chưa bao giờ tôi thấy nó sai lầm trong việc theo dấu, vì vậy với một sự tin tưởng hoàn toàn, tôi thận trọng bước theo sau con thú khổng lồ. Qua bóng tối dày đặc như Cimmeria, nó di chuyển dọc theo gờ đá hẹp bên cạnh những ghềnh nước sôi sục.

Khi chúng tôi tiến lên, con đường dẫn từ bên dưới vách đá nhô ra ra một khoảng ánh sáng mờ nhạt, và chính lúc đó tôi mới thấy rằng vết đường đã được đục từ đá sống, và nó chạy dọc theo mạn sông vượt qua cả những ghềnh nước.

Trong nhiều giờ, chúng tôi đi theo con sông tối tăm và u ủ càng lúc càng sâu vào lòng Mars. Từ hướng đi và khoảng cách, tôi biết chúng tôi phải ở sâu bên dưới Thung lũng Dor, và có thể là cả bên dưới Biển Omean nữa—chắc chẳng còn xa Đền Mặt Trời là mấy.

Ngay khi trí óc tôi hình thành suy nghĩ đó, Woola đột ngột dừng lại trước một cửa vòm hẹp trên vách đá bên đường. Rất nhanh, nó thụt lùi lại tránh xa lối vào, đồng thời quay mắt nhìn tôi.

Mấy lời nói cũng chẳng thể báo cho tôi rõ ràng hơn rằng mối nguy hiểm nào đó đang ở gần, và vì vậy tôi lặng lẽ tiến lên bên cạnh nó, và vượt qua nó nhìn vào khoảng trống bên phải chúng tôi.

Trước mặt tôi là một căn phòng khá lớn mà từ trang thiết bị, tôi biết chắc đã từng là một phòng gác. Có những giá để vũ khí, và những bệ hơi nâng cao dành cho lông thú và lụa ngủ của giới chiến binh, nhưng giờ đây những kẻ duy nhất chiếm giữ nó là hai gã thern trong toán của Thurid và Matai Shang.

Hai người đang trò chuyện gay gắt, và từ giọng điệu của họ, rõ ràng là họ hoàn toàn không biết rằng mình đang có người lắng nghe.

“Ta nói cho ngươi biết,” một gã đang nói, “ta không tin gã da đen đó. Chẳng có lý do gì phải giữ chúng ta lại đây để gác đường. Để gác cái gì cơ chứ, gác cái con đường thâm thẫm đã bị lãng quên từ lâu này ư? Đó chỉ là một mưu mẹo để phân tán lực lượng của chúng ta thôi.

“Hắn sẽ bảo Matai Shang để lại những người khác ở nơi khác lấy cớ này cớ nọ, rồi cuối cùng hắn sẽ cùng đồng bọn xông vào chúng ta và sát hại tất cả.”

“Ta tin ngươi, Lakor,” gã kia đáp, “chẳng bao giờ có thể có điều gì khác ngoài mối thù thù hằn sâu sắc giữa thern và First Born. Và ngươi nghĩ sao về cái chuyện kỳ quặc về ánh sáng? ‘Hãy để ánh sáng chiếu sáng với cường độ ba đơn vị radium trong năm mươi tal, và trong một xat hãy để nó chiếu sáng với cường độ một đơn vị radium, rồi trong hai mươi lăm tal với chín đơn vị.’ Đó chính là những lời của hắn, mà nghĩ xem gã Matai Shang già khôn ngoan lại đi nghe những chuyện nhảm nhí đó.”

“Đúng là ngớ ngẩn,” Lakor đáp. “Chẳng mở ra cái gì ngoài con đường dẫn đến cái chết nhanh chóng cho tất cả chúng ta. Hắn phải đưa ra câu trả lời nào đó khi Matai Shang hỏi thẳng hắn xem phải làm gì khi tới Đền Mặt Trời, nên hắn vội bịa ra từ trí tưởng tượng—ta cá một vương miện hekkador rằng chính hắn giờ cũng chẳng lặp lại được câu đó đâu.”

“Chúng ta đừng ở lại đây lâu nữa, Lakor,” gã thern kia nói. “Có khi nếu chúng ta vội vã đuổi theo họ, chúng ta có thể đến kịp để giải cứu Matai Shang và trút cơn thịnh nộ của chính mình lên gã dator da đen. Ngươi thấy sao?”

“Chưa bao giờ trong một đời người dài,” Lakor trả lời, “ta trái một mệnh lệnh nào của Cha các Thern. Ta sẽ ở lại đây cho đến khi rục xương nếu người không quay lại bảo ta đi nơi khác.”

Kẻ đồng hành của Lakor lắc đầu.

“Ngươi là cấp trên của ta,” gã nói; “ta không thể làm khác những gì ngươi chấp thuận, dù ta vẫn tin rằng chúng ta thật ngu ngốc khi ở lại.”

Tôi cũng nghĩ họ thật ngu ngốc khi ở lại, vì từ hành động của Woola, tôi thấy con đường dẫn qua căn phòng nơi hai gã thern đang canh giữ. Tôi chẳng có lý do gì để dành chút tình cảm nào cho cái chủng tộc quỷ dữ tự phong làm thần thánh này, nhưng tôi vẫn muốn đi qua họ nếu có thể mà không quấy rầy họ.

Dù sao cũng đáng thử, vì một cuộc chiến có thể làm chúng tôi chậm trễ đáng kể, hoặc thậm chí chấm dứt hoàn toàn cuộc tìm kiếm của tôi—những người giỏi hơn tôi đã ngã xuống trước những tay đấm có năng lực kém hơn nhiều so với những chiến binh thern hung dữ.

Ra hiệu cho Woola đi sát gót, tôi đột ngột bước vào phòng trước mặt hai gã. Vừa thấy tôi, những thanh trường kiếm của họ đã tuốt ra khỏi giáp gối bên hông, nhưng tôi giơ tay lên ra hiệu kiềm chế.

“Ta tìm Thurid, gã dator da đen,” tôi nói. “Mối thù của ta là với hắn, không phải với các người. Vậy hãy để ta đi qua trong hòa bình, vì nếu ta không nhầm thì hắn cũng là kẻ thù của các người như của ta, và các người chẳng có lý do gì để bảo vệ hắn.”

Họ hạ kiếm xuống và Lakor lên tiếng.

“Ta không biết ngươi là ai, với làn da trắng của một thern và mái tóc đen của một người đỏ; nhưng nếu chỉ có Thurid mà sự an toàn của hắn bị đe dọa thì ngươi có thể đi qua, và hoan nghênh, theo như chúng ta quan tâm.

“Hãy nói cho chúng ta biết ngươi là ai, và sứ mệnh nào gọi ngươi đến thế giới vô danh bên dưới Thung lũng Dor này, rồi có thể chúng ta sẽ tìm ra cách để ngươi đi qua thực hiện cái nhiệm vụ mà chính chúng ta, nếu mệnh lệnh cho phép, cũng muốn đảm nhận.”

Tôi ngạc nhiên vì không ai trong số họ nhận ra tôi, vì tôi nghĩ mình đã đủ nổi tiếng dù qua trải nghiệm cá nhân hay danh tiếng đối với mọi gã thern trên Barsoom để danh tính của tôi lập tức rõ ràng ở bất kỳ nơi nào trên hành tinh này. Thực ra, tôi là người da trắng duy nhất trên Mars có mái tóc đen và đôi mắt xám, ngoại trừ con trai tôi, Carthoris.

Tiết lộ danh tính có thể châm ngòi cho một cuộc tấn công, vì mọi gã thern trên Barsoom đều biết rằng nhờ có tôi mà sự thống trị tâm linh từ ngàn đời của họ đã sụp đổ. Mặt khác, danh tiếng chiến binh của tôi có thể đủ để hai gã này cho tôi đi qua nếu gan họ không đủ lớn để đón nhận một trận chiến đến chết.

Nói một cách thành thật, tôi không tự lừa dối mình bằng sự ngụy biện như vậy, vì tôi biết rõ trên một Mars hiếu chiến ít có kẻ hèn nhát, và mỗi người, dù là hoàng tử, linh mục hay nông dân, đều vinh quang trong cuộc chiến sinh tử. Và vì vậy tôi càng nắm chặt thanh trường kiếm của mình hơn khi trả lời Lakor.

“Ta tin rằng các người sẽ thấy sự khôn ngoan trong việc để ta đi qua mà không bị quấy rầy,” tôi nói, “vì sẽ chẳng giúp ích gì cho các người khi phải chết một cách vô ích trong lòng đá của Barsoom chỉ để bảo vệ một kẻ thù truyền kiếp như Thurid, Dator của First Born.

“Việc các người sẽ chết nếu chọn chống lại ta được chứng minh bởi những cái xác thối rữa của tất cả vô số chiến binh Barsoom vĩ đại đã gục ngã dưới lưỡi kiếm này—ta là John Carter, Hoàng tử xứ Helium.”

Trong một khoảnh khắc, cái tên đó dường như làm hai gã lặng đi; nhưng chỉ trong một khoảnh khắc, và rồi gã trẻ hơn, với một cái tên bẩn thỉu trên môi, lao về phía tôi với thanh kiếm lăm lăm.

Hắn đã đứng hơi lùi lại phía sau gã đồng hành Lakor trong lúc chúng tôi thương lượng, và giờ đây, trước khi hắn kịp giao chiến với tôi, gã lớn tuổi hơn đã nắm lấy giáp của hắn và kéo lùi lại.

“Dừng lại!” Lakor ra lệnh. “Sẽ có thừa thời gian để đánh nhau nếu chúng ta thấy đánh nhau là khôn ngoan. Có những lý do chính đáng khiến mọi gã thern trên Barsoom đều khao khát đổ máu kẻ báng bổ, kẻ xúc phạm thần thánh; nhưng hãy trộn lẫn sự khôn ngoan với mối thù hằn chính đáng của chúng ta. Hoàng tử xứ Helium đang đi thực hiện một nhiệm vụ mà chính chúng ta, mới một khoảnh khắc trước, cũng ước mình có thể đảm nhận.

“Hãy để hắn đi và giết gã da đen. Khi hắn quay lại, chúng ta vẫn sẽ ở đây để chặn đường hắn ra thế giới bên ngoài, và như vậy chúng ta sẽ diệt trừ được hai kẻ thù mà không làm mất lòng Cha các Thern.”

Khi gã nói, tôi không thể không nhận ra ánh gian xảo trong đôi mắt độc ác của gã, và dù tôi thấy tính logic rõ ràng trong lập luận của gã, tôi vẫn cảm thấy, có lẽ là trong tiềm thức, rằng những lời của gã chỉ làm bình phong cho một ý đồ đen tối nào đó. Gã thern kia quay sang gã vẻ vô cùng ngạc nhiên, nhưng khi Lakor thì thầm vài lời ngắn ngủi vào tai hắn, hắn cũng lùi lại và gật đầu đồng ý với gợi ý của cấp trên.

“Tiếp tục đi, John Carter,” Lakor nói; “nhưng hãy biết rằng nếu Thurid không hạ gục ngươi thì sẽ có những kẻ chờ đợi sự quay lại của ngươi để đảm bảo rằng ngươi không bao giờ bước ra ánh nắng của thế giới bên trên một lần nữa. Đi đi!”

Trong lúc chúng tôi trò chuyện, Woola đã gầm gừ và dựng bờm áp sát bên cạnh tôi. Thỉnh thoảng nó lại ngước nhìn lên mặt tôi với một tiếng ẳng trầm, như thể van xin một lời lệnh sẽ khiến nó lao cắm đầu vào những chiếc cổ trần trước mặt. Nó cũng cảm nhận được sự độc ác đằng sau những lời lẽ êm ả.

Phía sau bọn thern, vài cửa đi mở ra từ phòng gác, và hướng về cửa ở góc ngoài cùng bên phải, Lakor ra hiệu.

“Lối đó dẫn đến chỗ Thurid,” gã nói.

Nhưng khi tôi định gọi Woola đi theo mình tới đó, con thú lại ẳng lên và thối lùi lại, rồi cuối cùng chạy nhanh đến lối mở đầu tiên bên trái, nơi nó đứng phát ra tiếng sủi bọt như giục tôi đi theo nó đúng đường.

Tôi quay một ánh nhìn nghi vấn về phía Lakor.

“Con thú ít khi sai,” tôi nói, “và dù ta không nghi ngờ kiến thức vượt trội của ngươi, Thern, ta nghĩ mình nên nghe theo tiếng nói của bản năng được hỗ trợ bởi tình yêu và sự trung thành.”

Khi nói, tôi cười lạnh để gã biết mà không cần lời rằng tôi không tin gã.

“Tùy ngươi thôi,” gã đáp với một cú nhún vai. “Rốt cuộc thì cũng thế cả thôi.”

Tôi quay lại và đi theo Woola vào lối đi bên trái, và dù lưng tôi quay về phía kẻ thù, tai tôi vẫn cực kỳ cảnh giác; vậy mà tôi không nghe thấy tiếng động đuổi theo nào. Hành lang được chiếu sáng mờ nhạt bởi những bóng đèn radium thỉnh thoảng xuất hiện, phương tiện chiếu sáng phổ biến của Barsoom.

Những chiếc đèn này có thể đã liên tục làm nhiệm vụ trong những căn phòng ngầm này qua nhiều thế kỷ, vì chúng không cần bảo dưỡng và được pha chế theo cách chỉ tiêu hao một lượng cực kỳ nhỏ chất liệu trong việc phát sáng qua hàng năm trời.

Chúng tôi mới đi được một đoạn ngắn thì bắt đầu qua những miệng hành lang phân nhánh, nhưng không một lần nào Woola ngập ngừng. Chính tại cửa vào của một trong những hành lang này ở bên phải tôi, tôi hốt nhiên nghe thấy một âm thanh nói lên rõ ràng hơn với John Carter, một chiến binh, so với bất kỳ lời nào của tiếng mẹ đẻ—đó là tiếng lách cách của kim loại—kim loại từ trang phục giáp của một chiến binh—và nó phát ra từ một khoảng cách ngắn phía trên hành lang bên phải tôi.

Woola cũng nghe thấy, và nhanh như chớp nó đã quay người lại đứng đối diện với mối nguy hiểm đang đe dọa, bờm dựng đứng và tất cả các hàng răng nanh lấp lánh nhe ra qua làn môi gầm gừ kéo ngược về sau. Bằng một cử chỉ, tôi làm nó im lặng, và cùng nhau chúng tôi nép sang một hành lang khác cách đó vài bước.

Tại đây chúng tôi chờ đợi; và cũng không phải chờ lâu, vì một lúc sau chúng tôi thấy bóng của hai người đổ xuống sàn của hành lang chính ngang qua cửa vào chỗ ẩn nấp của chúng tôi. Rất thận trọng, giờ đây họ đang di chuyển—tiếng lách cách vô tình làm tôi cảnh giác đã không lặp lại.

Một lúc sau họ đến đối diện với vị trí của chúng tôi; và tôi chẳng ngạc nhiên khi thấy hai người đó chính là Lakor và kẻ đồng hành của gã ở phòng gác.

Họ đi rất khẽ, và trong tay phải của mỗi người đều lấp lánh một thanh trường kiếm sắc bén. Họ dừng lại khá gần lối vào chỗ trốn của chúng tôi, thì thầm với nhau.

“Chẳng lẽ chúng ta đã vượt xa họ rồi sao?” Lakor nói.

“Hoặc là thế hoặc con thú đã dẫn gã đi nhầm đường rồi,” gã kia đáp, “vì con đường chúng ta đi ngắn hơn nhiều để tới điểm này—đối với người biết nó. John Carter hẳn đã tìm thấy một con đường ngắn dẫn đến cái chết nếu gã đi theo đường đó như ngươi đã gợi ý với gã.”

“Đúng thế,” Lakor nói, “bao nhiêu khả năng chiến đấu cũng chẳng cứu nổi gã khỏi tảng đá lát sàn xoay. Chắc chắn gã sẽ bước lên đó, và giờ này, nếu cái hố bên dưới nó có đáy, điều mà Thurid phủ nhận, thì gã phải đang lao nhanh xuống đó rồi. Nguyền rủa con calot đó của gã đã cảnh báo gã đi về hướng an toàn hơn!”

“Tuy nhiên vẫn còn những mối nguy hiểm khác phía trước gã,” kẻ đồng hành của Lakor lên tiếng, “mà gã có thể không dễ dàng thoát khỏi—nếu gã thoát được hai thanh kiếm tốt của chúng ta. Chẳng hạn, hãy xem gã sẽ có cơ hội nào khi bất ngờ đi vào căn phòng của—”

Tôi sẵn sàng đánh đổi nhiều thứ để nghe được phần còn lại của cuộc trò chuyện đó để có thể được cảnh báo về những hiểm nguy đang chờ đợi phía trước, nhưng số phận đã can thiệp, và ngay đúng khoảnh khắc trong tất cả các khoảnh khắc mà tôi không muốn làm nhất, tôi đã hắt hơi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.