Cửu Châu Chí - Bàng Ca Nhiễm Ni

Lượt đọc: 211 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11

❊ ❊ ❊

“Em ấy chưa chết.” Đoạt Hãn bướng bỉnh nói. Nó được gọi từ bãi luyện binh tới, mồ hôi hột to như hạt đậu từ sống lưng ròng ròng tuôn xuống.

“Cãi lại tướng quân, gan cũng không nhỏ.” Tô Minh hờ hững nói, “Thôi được, dẫu sao ngươi là tạp chủng, ta là dã chủng, bộ dáng của mấy vị quan lão gia kia tụi mình cũng chẳng dùng được.”

“Em ấy chưa chết.” Đoạt Hãn từng chữ từng chữ nói.

Tô Minh vươn vai trên chiếc ghế gỗ thiết hồng chạm trổ hoa văn lộng lẫy. Vóc dáng hắn hơi gầy nhỏ hơn người thường, trước mặt những kẻ có địa vị thấp hơn hắn luôn ngồi chứ không bao giờ đứng lên.

“Nếu ngươi cứ đứng ở đây, luyên thuyên mãi câu ‘em ấy chưa chết em ấy chưa chết’ mà Thanh Hải công có thể sống lại, vậy thì cứ tự nhiên.”

Đoạt Hãn nghe ra sự giễu cợt trong giọng nói của Tô Minh, nhưng vẫn giữ vững ý kiến của mình. “Nếu Phương Giám Minh thực sự bệnh chết, trước khi chết em ấy sẽ gọi tôi quay về.”

“Gọi thẳng tên húy của Thanh Hải công là đại bất kính, đáng phạt ngươi trượng trách hai mươi.” Tô Minh đan mười ngón tay vào nhau, chống cằm. Nửa năm trước Tô Minh điều nhiệm từ Thành Thành quan về kinh đô, tiếp chưởng soái ấn Vũ Lâm quân. Sau khi Cúc Thất Thất chết, quyền vị của Tô Minh ngày càng hiển hách, lời nói hành động vẫn cứ đanh đá cay nghiệt.

“Em ấy sẽ không cứ thế mà chết đâu.” Đoạt Hãn nghiến răng nghiến lợi nói. Người đàn ông mà nó tốn trọn ba năm cũng không thể giết chết, lại chết vì một thứ tâm tật chưa từng nghe thấy chưa đầy một tháng sau khi lời cá cược kết thúc. Đây tính là gì? Quả thực là một trò đùa thô thiển.

Soái chủ trẻ tuổi của Vũ Lâm quân nhíu mày, “Phương Trạc Anh, nếu ngươi điếc tai, ta có thể lớn tiếng nói lại cho ngươi một lần nữa. Nghĩa phụ của ngươi qua đời vì bệnh nặng vào sáng hôm trước, sự việc đột ngột, một câu trối trăn cũng không để lại.”

“Trừ phi tận mắt nhìn thấy, bằng không tôi tuyệt đối không tin.”

“Đừng làm trò ngốc nữa, tiểu man tử. Ông ta chết ở Lưu Thương quận, cách kinh đô ngàn dặm xa xôi, đợi ngươi đến nơi, mặt ông ta chắc cũng rot rữa hết rồi.” Tô Minh dị giọng lại, nói, “Ông ta hiện giờ đã chết, ngươi cũng được tự do. Tháng năm có một loạt người mãn hạn về quê, ta sẽ điền tên ngươi vào.”

Đoạt Hãn trân trân nhìn hắn, trong lòng bỗng dâng lên một nỗi sợ hãi tận xương tủy, sợ là mình đã nghe nhầm ý của Tô Minh.

Tô Minh bị biểu cảm của nó chọc cười. “Hạ nhân trong phủ Thanh Hải công đều đã bị giải tán, binh lính thủ vệ người đổi phòng tuyến người về quê. Còn hoàng thượng, ta thấy ngài ấy suốt ngày thần du thái hư, sắp quên luôn mình họ gì rồi. Hiện tại ngoài ta ra, trong kinh đô đã không còn người thứ hai nhớ tới huyết thống man tộc của ngươi nữa, ngươi cứ yên tâm lớn mật làm Vũ Lâm lang của mình đi.”

Đoạt Hãn như ở trong mộng, chỉ biết thẫn thờ gật đầu.

Tô Minh nghiêng đầu, đầy hứng thú nhìn nó, “Trở về rồi, trong nhà ngươi còn những ai?”

Đoạt Hãn ngẩng đầu nhìn thẳng Tô Minh. Cố Đại Thành từng nói, lúc nói dối phải cho năm phần thật, lúc nói thật phải chừa năm phần giả.

“Cha tôi chết ở Hồng Dược nguyên, mẹ tôi là một người phụ nữ Đông Lục, cũng không còn nữa. Chỉ còn lại hai người anh trai.”

Tô Minh gật đầu. “Cặp đôi tạp chủng và dã chủng chúng ta, sau này sẽ không gặp lại nữa. Tự bảo trọng lấy.”

Đoạt Hãn không nói gì gật đầu. Đi đến cạnh cửa, nó xoay người hỏi: “Tại sao anh cứ hay gọi mình là dã chủng?”

“Chưa ai nói cho ngươi biết sao?”

“Họ sợ anh.”

“Thật là oan uổng quá. Ta là một người cực kỳ dễ nói chuyện.” Thanh niên mỉm cười, “Cha ta là đích tử của danh tướng thế gia, mẹ ta lại là một tì nữ, xuất thân từ cái gia đình bần tiện nhất mà ngươi có thể tưởng tượng ra. Ta lớn lên cùng lũ trẻ con của bọn gia nhân, bất kỳ ai cũng có thể cưỡi lên người ta, véo tai ta. Ông ta không thiếu con trai, chưa từng thừa nhận ta, nhưng chung quy vẫn cho ta một bát cơm ăn no, cho đến năm ta mười bốn tuổi, ông ta mê mẩn một ca kỹ. Vì người con gái bằng tuổi với ta ấy, ông ta giải tán mấy bà vợ lẽ, bán tất cả nô tỳ từng có quan hệ với mình, cả con hoang nữa. Lúc này ông ta mới nhớ ra ta là dã chủng của ông ta.”

“Ông ta bán anh?” Đoạt Hãn nhíu mày.

Tô Minh cười lớn, “Ta trốn thoát. Ta trộm một thanh đao cũ, một con ngựa già của ông ta, từ Tầm Châu đi đến Thiên Khải, đầu quân cho Kinh Giai doanh. Lúc Tiếm vương vây thành, ta đã là Vũ Lâm thiên kỵ, phụng mệnh tử thủ cửa Thừa Tắc Thiên Khải, nhìn thấy cờ hiệu của cha ta trong trận giặc phản quân. Đó là ngày sảng khoái nhất trong đời ta. Mười bốn năm trời ông ta không thèm liếc ta một cái, thế nhưng từ ngày đó, ta cho ông ta một đao, ông ta phải đỡ ta một đao, ông ta không thể xem như trên đời không có con người tên ta nữa. Mấy năm sau, ta dẫn bốn vạn binh mã chặn ông ta ở bên sông Tiêu Kim. Ông ta nhận ra khuôn mặt ta, ta đâm thủng bụng ông ta.” Hắn vỗ vỗ thanh đại đao lưỡi rộng cán thép bên hông. “Dùng đao cũ của chính ông ta.”

Giờ giấc sinh hoạt của Vũ Lâm quân rất đơn giản, mỗi tháng có một tuần vào cung luân phiên trực ban, thời gian còn lại tập luyện và nghỉ ngơi. Đoạt Hãn gần như vẫn là một đứa trẻ, hoàn toàn không có tư lịch, thiên kỵ dẫn đội phân cho nó một vị trí canh gác không mấy quan trọng, canh đêm ngoài cửa Bắc Tiểu Uyển. Nơi Bắc Tiểu Uyển ở là những người tạp dịch trong cung, có khoảng hai ngàn người, dệt thêu giặt nhuộm, rèn thép đẽo ngọc, ngành nghề nào cũng có đủ.

Đoạt Hãn trực đêm xong, phần lớn sẽ đến phòng đúc kiếm để tiêu ma thời gian. So với doanh phòng lạnh lẽo, nó thà bị lò lửa nướng cho ướt đẫm mồ hôi còn hơn. Các kiếm sư thích sự nhanh nhẹn tháo vát của nó, có thể phụ giúp làm một nửa học đồ, cũng không đuổi nó đi, đôi khi còn bảo nó trông giúp lò luyện.

Từ tháng tư đến nay, các kiếm sư lại không cho Đoạt Hãn bước nửa bước vào phòng đúc kiếm nữa, họ đang đúc lại một thanh kiếm gãy mà vị hoàng đế đời trước vô cùng trân quý. Đoạt Hãn từng nhìn thấy những mảnh thép tinh luyện đó, chỗ gãy dưới ánh mặt trời hiện lên sắc vàng hồng mê hoặc, cho dù có cầm chúng trong tay bao lâu đi nữa, vẫn lạnh lẽo như băng cứng. Để duy trì ngọn lửa nấu chảy, các kiếm sư đã liên tục nửa tháng luân phiên ca trực, thêm thủy ngân, máu súc vật và than gỗ bách thượng hạng vào lò, khiến ngọn lửa trong lò lúc nào cũng hiện lên màu xanh trắng tinh khiết. Dòng thép đỏ rực chói lọi như sinh vật sống cuồn cuộn trôi chảy trong khoang lò, ngày qua ngày biến đổi, cuối cùng chỉ còn lại sắc bạch kim, mang theo một chút hồng phấn nhạt nhẽo trên má thiếu nữ. Hôm qua lúc Đoạt Hãn đến thám thính, nước thép vừa mới tháo khuôn, phôi kiếm giao cho kiếm sư thủ lĩnh ngoài sáu mươi tuổi độc lập rèn đúc, nghe nói việc ném búa đó phải một ngày một đêm không ngừng nghỉ, chỉ cần đánh hụt một búa, đánh chậm một nhịp, là hỏng bét toàn bộ.

Phòng đúc kiếm hôm nay yên tĩnh bất thường, không có tiếng đe búa vang dội không dứt, ngay cả ống bễ cũng không còn thổi nữa. Đoạt Hãn đoán kiếm đã đúc xong, bèn cẩn thận vén rèm cửa nhìn trộm vào trong.

Các kiếm sư ngủ ngổn ngang đầy đất, tiếng ngáy nối tiếp nhau vang lên. Người đàn ông khoác cẩm bào nền đen đứng trơ trọi một mình trong phòng, giơ lưỡi kiếm chưa lắp chuôi lên trước mắt, tay kia đỡ sống kiếm, tỉ mỉ kiểm tra từng tấc lưỡi kiếm. Dường như phát hiện ra ánh mắt của Đoạt Hãn, hắn đột ngột xoay người, nhìn ra cửa.

Đoạt Hãn sững sờ tại chỗ, thậm chí quên cả cúi người hành lễ.

Đường nét khuôn mặt người nọ cứng rắn hiên ngang, viền vạt dưới cẩm bào là vân hải triều chỉ vàng rộng tầm một thước, cổ áo thêu dày hình một con năm móng uyển chuyển linh động, hai viên hồng lựu đính thành mắt rồng. Là Đế Húc.

Mấy năm nay, trong những lời bàn tán ngoài đường phố và nhà bếp chuồng ngựa của phủ các vị tướng quân, Đoạt Hãn cũng từng nghe qua vô số lời đồn. Đế Húc hầu như không bao giờ lên triều, mỗi lần xuất hiện trên triều đường, phần lớn là để hạ chỉ chém đầu ai đó. Từ sau khi quang phục, thuế khóa ngày càng khắc nghiệt, thế nhưng vẫn không thể thỏa mãn khẩu vị của Đế Húc. Mọi người luôn nói hắn hoang phí vô độ, hành sự lú lẫn, chắc là bị yêu ma nào đó mê hoặc tâm trí. Đoạt Hãn nhớ tới thây ma của A Ma Lan treo trên đầu thành, quạ đen rỉa hắn ta chỉ còn lại bộ xương, từng khúc từng khúc rơi xuống.

Nó vừa định mở miệng, Đế Húc mỉm cười, ra hiệu cho Đoạt Hãn im lặng. Hắn cẩn thận đặt thân kiếm về lại đài rèn, bước ra khỏi phòng đúc kiếm, cử chỉ vững vàng, hoàn toàn không làm kinh động đến bất kỳ kiếm sư nào đang say ngủ.

Họ nói Đế Húc là một vị hôn quân, thế nhưng hôn quân không nên có đôi mắt sắc bén thấu triệt thế sự như vậy. Ánh mắt đó, rõ ràng là một thứ sự điên cuồng tỉnh táo.

Hơi một lúc lâu sau, Đoạt Hãn mới nhớ tới chuyện tiến lên xem thử thanh kiếm đó.

Nó được đúc theo kiểu kiếm rộng, trọng lượng nặng nề, người thường dùng hai tay cũng chưa chắc đã múa may tự do được. Thân kiếm màu vàng hồng dài tới ba thước năm tấc, chỗ dày nhất gần sáu phân, hoa văn lông chim ưng nổi bật không biết làm bằng chất liệu gì, tỏa ra ánh sắc đỏ tươi rực rỡ, từ chỗ nuốt kiếm vươn thẳng lên mũi kiếm, tựa như đôi cánh mãnh thú. Chuôi kiếm vẫn chưa được lắp, để lộ ra phần xương chuôi dài một thước.

Đoạt Hãn nhịn không được vươn tay chạm vào, lại bị phỏng đến mức rụt phắt lại.

Thanh kiếm này vẫn chưa hoàn toàn nguội lạnh, tỏa ra hơi nóng rực như lửa thiêu, làm nổi bật hoa văn chỉ là thứ vàng hồng nóng đỏ. Nó nhìn chằm chằm đầu ngón tay mình, một chuỗi bọng nước đang phồng lên từ vùng da bị bỏng đỏ, đau đớn khó lòng chịu đựng.

Thiên kỵ dẫn đội chặn Đoạt Hãn lại ở cửa Tiểu Uyển, hai tên Vũ Lâm quân lạ mặt theo sát phía sau. Thấy thiên kỵ mặt mày đen sì, Đoạt Hãn bất giác giấu bàn tay bị thương vào trong tay áo.

“Phương Trạc Anh, sao ngươi không ở trong doanh phòng?”

Đoạt Hãn vừa định bịa ra một lý do nghe lọt tai, viên sĩ quan xua tay cắt lời nó: “Ngươi về thu dọn đồ đạc, đi theo bọn họ.”

“Đi đâu?” Trong lòng Đoạt Hãn dâng lên sự hoang mang khó hiểu. Tô Minh từng hứa tháng năm sẽ cho nó rời khỏi Vũ Lâm quân, lúc này điều chuyển, lành dữ khó đoán.

“Từ hôm nay ngươi không cần canh đêm ở cửa Bắc Tiểu Uyển nữa, cấp trên điều ngươi đến Tế Phong quán.”

Đoạt Hãn biết nói nhiều vô ích, đành gật đầu tuân lệnh.

Một trong hai tên Vũ Lâm quân lạ mặt nói: “Hộ vệ của Tế Phong quán đều ở trong quán, ngươi thu dọn đồ đạc xong, thì mang theo lệnh bài đến báo danh.”

Tay phải của Đoạt Hãn cử động trong ống tay áo, suýt chút nữa thò ra ngoài, kịp thời đổi sang tay trái, tiếp nhận lệnh bài khắc chữ “Tế”.

Chiều hôm đó, Đoạt Hãn đi theo nội thị bước vào cửa hông Tế Phong quán, chăn mưu và bọc đồ trong tay chốc chốc lại vướng víu cản trở hai chân.

Tường cung trong quán thâm nghiêm, cổ mộc xanh um, yên tĩnh đến mức suýt đáng sợ, mỗi một bước chân đi, nó lại nghe thấy tiếng giáp trụ và cung tên trên lưng va đập vào nhau, đột ngột tựa như tiếng chiêng trống vang lên.

Trước khi vị hoàng tử thứ ba của tiên đế là Uẩn vương bệnh qua đời, nơi này từng là chỗ ở của ngài ấy. Uẩn vương từ nhỏ thể nhược, hễ chịu chút kinh hãi là sốt cao không lui, tiên đế ban cho ngài ấy ở tẩm cung yên tĩnh nhất trong cấm thành, cũng không thể cứu vãn được vận mệnh chết yểu thuở thiếu niên của ngài ấy. Sau khi Uẩn vương chết, Tế Phong quán bỏ trống nhiều năm, các Vũ Lâm lang trực ban đều là những kẻ hung hãn gan dạ, bọn chúng khoác lác rằng, vào những đêm trăng thanh gió mát, u hồn của Uẩn vương thường đi dạo trên mặt hồ Sương Bình trong quán, một trận gió nhẹ cũng sẽ thổi tan hình thể của ngài ấy.

Vào cửa đi chừng một khắc thời gian, đường đi khúc khuỷu, ngoài thủ vệ dọc đường ra thì hoàn toàn không gặp thêm người nào khác, nội thị dẫn đường cũng từ đầu đến cuối ngậm miệng không nói, Đoạt Hãn thiếu điều nghi ngờ gã đó trong miệng không có lưỡi.

“Ngươi dẫn ta đi đâu?” Nó nhịn không được phá vỡ sự im lặng.

Tên hoạn quan trung niên tái nhợt liếc nó một cái, thần sắc mang theo ba phần nịnh nọt, sống y hệt như một người phụ nữ: “Gặp chủ tử của chúng ta.”

“Nơi này từ bao giờ có người ở?”

“Hoàng thượng ban Tế Phong quán cho Phượng Đình tổng quản đại nhân nhậm chức mới rồi.”

“Phượng Đình tổng quản?”

Hoạn quan đáp bằng giọng nhỏ nhẹ: “Là người đứng đầu nội thị của chúng ta, tổng lĩnh mọi sự vụ hậu cung.”

Hắn ta dừng bước, nghiêng người tránh sang một bên, phía trước là hai cánh cửa lớn sơn son đối mở.

Nếu nói đây là doanh phòng của Vũ Lâm cấm vệ, thì cũng quá mức xa xỉ rồi. Đoạt Hãn khó hiểu nhìn tên hoạn quan, người sau chỉ khiêm cường cúi đầu thấp hơn nữa, ra hiệu cho nó đi vào.

Cánh cửa vừa chạm vào là bật mở, nhẹ nhàng lướt sang hai bên, như thể có bàn tay vô hình đang dẫn dắt. Đoạt Hãn bước chân về phía trước, phát hiện mình đã đến một nội viện thanh tịnh. Nó cởi chiếc khiên và cung trên lưng xuống, xách trên tay. Nội thị không hề đi theo vào, chỉ từ bên ngoài khép nhẹ cánh cửa son lại.

Bốn bề tường viện chỉ còn lại Đoạt Hãn, cùng với tòa tiểu cung có mái hiên chồng chéo nhỏ nhắn ấy.

Nó cất bước đi thẳng tới.

Cửa phòng khép hờ, bên trong rủ xuống bức trướng gấm che kín mít không lọt gió. Đoạt Hãn đặt hành lý chăn mưu trong tay xuống, vén trướng lên.

Tiết trời tháng tư thoang thoảng hơi ấm, trong phòng vẫn đốt lò, nóng đến mức khiến người ta ngột ngạt suýt nghẹt thở. Trong căn phòng rộng lớn chỉ có một ngọn đèn bát giác lưu ly, có người đang nằm nghiêng trên sập, nương theo ánh đèn đọc sách vở trong tay.

Một góc nào đó trong lòng Đoạt Hãn thắt lại. Nó từng bước tiến lại gần, bóng dáng của người nọ giống như từ dòng nước tối từ từ nổi lên, ngày càng chân thật.

“Là ngài.” Đoạt Hãn khẽ nói.

Người nọ không nói năng gì, ngẩng đầu nhìn Đoạt Hãn, đôi mắt dài thanh tú lạnh lùng trong trẻo. Hai tháng không thấy ánh mặt trời, sắc mặt ngài tái nhợt như quỷ hồn, cổ áo cẩm bào hơi hé mở, bên trong nhìn thấy rõ xương quai xanh, đường nét sắc bén tựa lưỡi dao.

Đoạt Hãn im lặng cúi đầu, một cơn run rẩy nhỏ nhoi truyền qua bả vai nó.

Vết sao ở khóe môi người nọ giật giật, vẫn không nói gì cả.

Đoạt Hãn siết chặt hai tay, sự run rẩy ở vai và lưng ngày càng dữ dội, cuối cùng đành phải khom người xuống, vẫn không thể kìm nén được, phì cười thành tiếng. Quả thực là sự hoang đường không sao tả xiết —— con người này vậy mà cũng có ngày hôm nay. Nó cười lớn ngửa cổ, khóe mắt bị nhòa đi bởi dòng lệ.

“Ngài… ngài làm thái giám rồi sao?” Nó cười đến mức đứt hơi.

Nó đã vô số lần hủy hoại da thịt và gân cốt của Phương Giám Minh, nhưng chưa bao giờ đọc được hai chữ “yếu đuối” trên khuôn mặt thanh tú đoan chính đó. Người nọ là kẻ thù, ân sư, kẻ trừng phạt và người bảo hộ của nó, tựa như vách đá vạn trượng sừng sững trước mắt, không thể vượt qua, không thể lay chuyển, người nọ ngày nào chưa bị đánh gục, Đoạt Hãn ngày đó không thể tiến bước.

Đoạt Hãn tốn trọn ba năm thời gian, cuối cùng cũng thừa nhận thất bại, Phương Giám Minh lại có thể tùy ý hủy hoại chính mình như thế. Đoạt Hãn dùng sức lau đi giọt nước mắt trong mắt, thế nào cũng không lau sạch được.

“Bây giờ muốn giết ngài, quả thực dễ như trở bàn tay.” Nó nói.

Người bên ngọn đèn mỉm cười: “Ba năm đã hết rồi. Cho dù bây giờ ta có chết đi, ngươi vẫn cứ là con trai của ta.”

“Tại sao?”

Thứ Đoạt Hãn nhận được chỉ có sự im lặng.

“Tôi hỏi ngài, tại sao lại làm thế này.” Máu nóng ầm một tiếng xộc lên mang tai, Đoạt Hãn giật lấy y phục hai bên vai ngài, trọng lượng trong tay lại nhẹ hơn tưởng tượng rất nhiều.

“Ngươi sẽ không hiểu đâu.”

“Không, tôi hiểu.” Đoạt Hãn phẫn nộ nhìn thẳng vào mắt ngài, “Hoàng thượng đã giết bao nhiêu người, sáu người các ngài chỉ còn lại ba người, là ngài sợ hoàng thượng cũng sẽ giết ngài. Để có thể sống tiếp, ngài đến cả dũng khí làm một người đàn ông cũng không có.”

Phương Giám Minh nhẹ nhàng đẩy Đoạt Hãn ra, dải lụa ẩm ướt quấn quanh tay sượt qua mu bàn tay Đoạt Hãn.

“Tay ngài bị thương sao?” Đoạt Hãn hỏi.

Phương Giám Minh thản nhiên: “Không cẩn thận bị phỏng.”

Đoạt Hãn nhíu mày. Không biết vì sao, nó chộp lấy cổ tay Phương Giám Minh, định giật tung dải lụa ra. Phương Giám Minh thu tay về phía sau, nhưng không thành công, ngài vẫn chưa bình phục, sức lực của Đoạt Hãn lúc này cũng đã có thể đọ sức một phen với người trưởng thành.

Dải băng vải thấm đẫm mỡ cao mùi vị cay nồng, càng tháo sâu vào trong, vết tích nước máu nhạt màu càng lan rộng. Tay Đoạt Hãn run rẩy, nhưng không chịu dừng lại, cho đến khi gỡ bỏ lớp cuối cùng, vết thương mới trên lòng bàn tay vô cùng chói mắt đáng sợ.

Toàn thân Đoạt Hãn cứng đờ, tựa như máu trong khoang tim đã đóng băng. Máu thịt đỏ tươi ẩm ướt, vết bỏng đen thui lún sâu, vừa bị kéo ra, lớp vảy máu vừa chớm đóng lại lại nứt ra, rớm ra chất dịch đỏ sậm, dọc theo đường chỉ tay rách nát lan nhanh ra bốn phía. Đỏ và đen phác họa thành hoa văn lông chim ưng trong lòng bàn tay, từng chùm từng chùm tề chỉnh xinh đẹp xòe rộng ra. Chính là hoa văn sống kiếm.

Đoạt Hãn hất văng bàn tay này, chộp lấy bàn tay kia, thô bạo giật tung ra xem, vết thương in ra hình ba lăng năm đốt, rõ ràng chính là phần xương chuôi chưa được bọc da gỗ cứng.

Giống như có người giáng một quyền vào ngực Đoạt Hãn, xương thịt gân mạch đều bị đập nát, trong lồng ngực chỉ còn lại một cái động máu: “Đây là vết thương của hoàng thượng.”

Trong mắt Phương Giám Minh chỉ gợn sóng chốc lát, rồi lại khôi phục sự trong trẻo bình lặng.

“Ngài ấy tay không đi lấy thanh kiếm vừa mới ra lò, lại hoàn toàn vô sự. Vết thương của ngài ấy đều ở trên người ngài.” Đoạt Hãn từng chữ từng chữ nói, “Đây là yêu thuật gì vậy?”

Quầng đèn mờ ảo chập chờn, trong phòng tĩnh lặng như không có hơi thở của con người.

“Chính vì thứ thuật pháp này sao? Chính vì để bảo vệ hoàng thượng, nên ngài mới làm cái chuyện ngu ngốc này sao?” Đoạt Hãn truy vấn.

Phương Giám Minh lắc đầu, trong mắt mang theo sự thê lương mà Đoạt Hãn không thể đọc hiểu: “Đây là Bí thuật hệ Hằng Bạch độc truyền của nhà họ Phương, mỗi đời chỉ truyền cho đích trưởng tử. Sau khi kết ước kéo dài sinh mệnh với người khác, mọi tai ương huyết thương của người kia, đều dùng thân mình thay thế, dùng tính mạng gạt bỏ.”

“Vậy rốt cuộc tại sao ngài lại muốn làm một… con người như thế?” Đoạt Hãn suýt bị ép đến trào nước mắt.

“Bên cạnh khai quốc hoàng thượng Trịnh triều là Trữ Kinh, từng có một vị bí thuật sư như thế, tên là Phương Cảnh Phong, cũng chính là vị Thanh Hải công đầu tiên của bản triều.” Phương Giám Minh thu lại bàn tay bị thương, đem dải băng vải thấm đẫm mỡ cao từng lớp từng lớp quấn lại như cũ, thái độ vẫn tao nhã điềm tĩnh, “Tước vị công hầu này truyền thừa đến nay đã năm mươi ba đời, mỗi một đời Thanh Hải công đều chịu trăm đắng ngàn cay, cuối cùng thay thế chủ quân mà chết. Hàng trăm năm nay, quả thực nhà họ Phương cẩm y ngọc liễn, một cõi lãnh địa, hoàn toàn dựa vào sự che chở của huyết mạch bí thuật này, thế nhưng huyết mạch này cũng nguyền rủa toàn bộ nhà họ Phương. Ta dĩ nhiên rất muốn có một đứa con trai, để nó cường tráng, an lạc, bảo vệ nó cả đời không phải chịu khổ đau…”

Vết sao bên khóe môi ngài mím chặt lại, gò má dâng lên một chút ửng đỏ, thế nhưng lại nghênh đón ánh mắt của Đoạt Hãn, không hề lùi bước. “Nhưng ta không muốn trên người nó còn vương một giọt máu độc của nhà họ Phương nữa.”

Đoạt Hãn chỉ cảm thấy đôi chân như bị rút cạn sức lực, đành phải chậm rãi ngồi xổm quỳ xuống. Hồi lâu sau, ngài hỏi: “Chẳng lẽ không có cách nào giải sao?”

“Ước hẹn kéo dài sinh mệnh một đời chỉ có thể kết lập một lần, nếu người thi pháp giải ước, thuật pháp phản phệ, người ban đầu được bảo vệ kia sẽ chết.”

“Vậy ngài nên để cho hắn chết.” Trong mắt Đoạt Hãn bùng cháy nộ khí, “Giết Đế Húc đi, chính ngài làm hoàng thượng, thiên hạ này sẽ thái bình hơn nhiều.”

Phương Giám Minh chỉ lắc đầu không nói.

Đoạt Hãn giận dữ tột cùng: “Hắn biết rõ ngài sẽ bị thương, nhưng hắn hoàn toàn không bận tâm. Ngài lại dùng tính mạng của mình để bảo vệ một kẻ như vậy sao?”

“Người được loại thuật pháp này bảo vệ, không sợ rét lạnh, không biết đau ngứa. Hắn không hề biết thanh kiếm đó sẽ làm tổn thương ta.”

“Hắn điên rồi, chẳng lẽ ngay cả ngài cũng điên rồi sao? Sau này phải làm sao đây? Thanh Hải công Phương Giám Minh đã chết, vậy ngài rốt cuộc lại là ai? Ngài cứ rúc trong hậu cung làm một đời thái giám thế này sao?”

“Có những chuyện không thể ra ánh sáng, chỉ có thể do người chết làm.” Phương Giám Minh cười khổ, “Ta cứ tưởng ngươi sẽ hiểu… cũng phải thôi, ngươi còn nhỏ.”

Đoạt Hãn nhịn không được từ dưới đất bật dậy, chặn ngang lời: “Tôi mười ba tuổi rồi, tôi hiểu! Thứ dối trá đê tiện nhất trên đời, ngài đều đã dạy tôi, tôi biết.”

Nó nôn nóng đi tới đi lui trước sập, bỗng nhiên đứng khựng lại.

“Ngài có biết sói trên thảo nguyên là thứ kiêu dũng hung hãn thế nào không? Cho dù là chó chăn cừu cao đến hông người, gặp phải bầy sói cũng chỉ có một con đường chết. Thế nhưng, hễ có một con sói bệnh truyền bá ôn dịch, sẽ hại chết hơn nửa bầy sói. Lúc này con sói đực cường tráng nhất sẽ đi cắn chết con sói bệnh đó, bằng không bầy sói trưởng thành chết sạch, không sinh ra được những con sói con khỏe mạnh, toàn bộ bầy sói sẽ tiêu đời.”

Trong mắt Phương Giám Minh lóe lên ý cười: “Hắn không phải sói, ta cũng không phải.”

“Ngài quyền khuynh một nước, lại trơ mắt nhìn vị hoàng đế điên rồ này hành hung. Ngài là một kẻ hèn nhát.” Đoạt Hãn đứng tại chỗ quật cường trừng mắt nhìn, “Tôi không muốn làm con trai của một kẻ hèn nhát.”

“Ngươi hối hận rồi sao?”

Đoạt Hãn cứng họng, qua một hồi lâu, mới ngoảnh mặt đi.

“Con cháu của Viêm Long và Thiên Mã vĩnh viễn không bội ước.”

“Định nhờ cái tính bướng bỉnh cứng đầu của ngươi đấy, bằng không đời này ta đừng hòng có con trai.” Phương Giám Minh cười yếu ớt, thần sắc chớp lóe một nét nghịch ngợm.

Trạc Anh cảm thấy một cục tức nghẹn ứ trong lồng ngực, không tài nào phát tiết ra được, đành phải đột ngột xoay người bước ra ngoài, tiếng bước chân vang vọng trong căn phòng trống trải.

“Trạc Anh.” Phương Giám Minh gọi với theo từ phía sau.

Đoạt Hãn khựng lại, nhưng không ngoảnh đầu nhìn.

“Lúc ta hạ quyết tâm kết lập lời thề vĩnh viễn không thể phản bội với hoàng thượng, đã mười bảy tuổi rồi.” Thể lực Phương Giám Minh hao kiệt, giọng điệu phù phiếm yếu ớt, “Ngươi có khí phách hơn ta đấy, Trạc Anh.”

Cơ thể Đoạt Hãn căng thẳng ngay đơ, giống như một cái nêm cắm phập xuống đất không tiếng động: “Có khí phách giống ngài á? Tôi mới không thèm.”

Nó sải bước tiếp tục đi ra ngoài.

“Ngươi đi đâu?”

“Đi gọi ngự y đến băng bó vết thương cho ngài.”

Đoạt Hãn dùng sức hất mạnh tấm trướng gấm thêu đầy hoa văn tử kim ở cửa ra, ánh hoàng hôn mờ ảo hắt vào, kéo lê cái bóng dài của nó in trên nền nhà.

“Em ấy chưa chết.” Đoạt Hãn bướng bỉnh nói. Nó được gọi từ bãi luyện binh tới, mồ hôi hột to như hạt đậu từ sống lưng ròng ròng tuôn xuống.

“Cãi lại tướng quân, gan cũng không nhỏ.” Tô Minh hờ hững nói, “Thôi được, dẫu sao ngươi là tạp chủng, ta là dã chủng, bộ dáng của mấy vị quan lão gia kia tụi mình cũng chẳng dùng được.”

“Em ấy chưa chết.” Đoạt Hãn từng chữ từng chữ nói.

Tô Minh vươn vai trên chiếc ghế gỗ thiết hồng chạm trổ hoa văn lộng lẫy. Vóc dáng hắn hơi gầy nhỏ hơn người thường, trước mặt những kẻ có địa vị thấp hơn hắn luôn ngồi chứ không bao giờ đứng lên.

“Nếu ngươi cứ đứng ở đây, luyên thuyên mãi câu ‘em ấy chưa chết em ấy chưa chết’ mà Thanh Hải công có thể sống lại, vậy thì cứ tự nhiên.”

Đoạt Hãn nghe ra sự giễu cợt trong giọng nói của Tô Minh, nhưng vẫn giữ vững ý kiến của mình. “Nếu Phương Giám Minh thực sự bệnh chết, trước khi chết em ấy sẽ gọi tôi quay về.”

“Gọi thẳng tên húy của Thanh Hải công là đại bất kính, đáng phạt ngươi trượng trách hai mươi.” Tô Minh đan mười ngón tay vào nhau, chống cằm. Nửa năm trước Tô Minh điều nhiệm từ Thành Thành quan về kinh đô, tiếp chưởng soái ấn Vũ Lâm quân. Sau khi Cúc Thất Thất chết, quyền vị của Tô Minh ngày càng hiển hách, lời nói hành động vẫn cứ đanh đá cay nghiệt.

“Em ấy sẽ không cứ thế mà chết đâu.” Đoạt Hãn nghiến răng nghiến lợi nói. Người đàn ông mà nó tốn trọn ba năm cũng không thể giết chết, lại chết vì một thứ tâm tật chưa từng nghe thấy chưa đầy một tháng sau khi lời cá cược kết thúc. Đây tính là gì? Quả thực là một trò đùa thô thiển.

Soái chủ trẻ tuổi của Vũ Lâm quân nhíu mày, “Phương Trạc Anh, nếu ngươi điếc tai, ta có thể lớn tiếng nói lại cho ngươi một lần nữa. Nghĩa phụ của ngươi qua đời vì bệnh nặng vào sáng hôm trước, sự việc đột ngột, một câu trối trăn cũng không để lại.”

“Trừ phi tận mắt nhìn thấy, bằng không tôi tuyệt đối không tin.”

“Đừng làm trò ngốc nữa, tiểu man tử. Ông ta chết ở Lưu Thương quận, cách kinh đô ngàn dặm xa xôi, đợi ngươi đến nơi, mặt ông ta chắc cũng rot rữa hết rồi.” Tô Minh dị giọng lại, nói, “Ông ta hiện giờ đã chết, ngươi cũng được tự do. Tháng năm có một loạt người mãn hạn về quê, ta sẽ điền tên ngươi vào.”

Đoạt Hãn trân trân nhìn hắn, trong lòng bỗng dâng lên một nỗi sợ hãi tận xương tủy, sợ là mình đã nghe nhầm ý của Tô Minh.

Tô Minh bị biểu cảm của nó chọc cười. “Hạ nhân trong phủ Thanh Hải công đều đã bị giải tán, binh lính thủ vệ người đổi phòng tuyến người về quê. Còn hoàng thượng, ta thấy ngài ấy suốt ngày thần du thái hư, sắp quên luôn mình họ gì rồi. Hiện tại ngoài ta ra, trong kinh đô đã không còn người thứ hai nhớ tới huyết thống man tộc của ngươi nữa, ngươi cứ yên tâm lớn mật làm Vũ Lâm lang của mình đi.”

Đoạt Hãn như ở trong mộng, chỉ biết thẫn thờ gật đầu.

Tô Minh nghiêng đầu, đầy hứng thú nhìn nó, “Trở về rồi, trong nhà ngươi còn những ai?”

Đoạt Hãn ngẩng đầu nhìn thẳng Tô Minh. Cố Đại Thành từng nói, lúc nói dối phải cho năm phần thật, lúc nói thật phải chừa năm phần giả.

“Cha tôi chết ở Hồng Dược nguyên, mẹ tôi là một người phụ nữ Đông Lục, cũng không còn nữa. Chỉ còn lại hai người anh trai.”

Tô Minh gật đầu. “Cặp đôi tạp chủng và dã chủng chúng ta, sau này sẽ không gặp lại nữa. Tự bảo trọng lấy.”

Đoạt Hãn không nói gì gật đầu. Đi đến cạnh cửa, nó xoay người hỏi: “Tại sao anh cứ hay gọi mình là dã chủng?”

“Chưa ai nói cho ngươi biết sao?”

“Họ sợ anh.”

“Thật là oan uổng quá. Ta là một người cực kỳ dễ nói chuyện.” Thanh niên mỉm cười, “Cha ta là đích tử của danh tướng thế gia, mẹ ta lại là một tì nữ, xuất thân từ cái gia đình bần tiện nhất mà ngươi có thể tưởng tượng ra. Ta lớn lên cùng lũ trẻ con của bọn gia nhân, bất kỳ ai cũng có thể cưỡi lên người ta, véo tai ta. Ông ta không thiếu con trai, chưa từng thừa nhận ta, nhưng chung quy vẫn cho ta một bát cơm ăn no, cho đến năm ta mười bốn tuổi, ông ta mê mẩn một ca kỹ. Vì người con gái bằng tuổi với ta ấy, ông ta giải tán mấy bà vợ lẽ, bán tất cả nô tỳ từng có quan hệ với mình, cả con hoang nữa. Lúc này ông ta mới nhớ ra ta là dã chủng của ông ta.”

“Ông ta bán anh?” Đoạt Hãn nhíu mày.

Tô Minh cười lớn, “Ta trốn thoát. Ta trộm một thanh đao cũ, một con ngựa già của ông ta, từ Tầm Châu đi đến Thiên Khải, đầu quân cho Kinh Giai doanh. Lúc Tiếm vương vây thành, ta đã là Vũ Lâm thiên kỵ, phụng mệnh tử thủ cửa Thừa Tắc Thiên Khải, nhìn thấy cờ hiệu của cha ta trong trận giặc phản quân. Đó là ngày sảng khoái nhất trong đời ta. Mười bốn năm trời ông ta không thèm liếc ta một cái, thế nhưng từ ngày đó, ta cho ông ta một đao, ông ta phải đỡ ta một đao, ông ta không thể xem như trên đời không có con người tên ta nữa. Mấy năm sau, ta dẫn bốn vạn binh mã chặn ông ta ở bên sông Tiêu Kim. Ông ta nhận ra khuôn mặt ta, ta đâm thủng bụng ông ta.” Hắn vỗ vỗ thanh đại đao lưỡi rộng cán thép bên hông. “Dùng đao cũ của chính ông ta.”

Giờ giấc sinh hoạt của Vũ Lâm quân rất đơn giản, mỗi tháng có một tuần vào cung luân phiên trực ban, thời gian còn lại tập luyện và nghỉ ngơi. Đoạt Hãn gần như vẫn là một đứa trẻ, hoàn toàn không có tư lịch, thiên kỵ dẫn đội phân cho nó một vị trí canh gác không mấy quan trọng, canh đêm ngoài cửa Bắc Tiểu Uyển. Nơi Bắc Tiểu Uyển ở là những người tạp dịch trong cung, có khoảng hai ngàn người, dệt thêu giặt nhuộm, rèn thép đẽo ngọc, ngành nghề nào cũng có đủ.

Đoạt Hãn trực đêm xong, phần lớn sẽ đến phòng đúc kiếm để tiêu ma thời gian. So với doanh phòng lạnh lẽo, nó thà bị lò lửa nướng cho ướt đẫm mồ hôi còn hơn. Các kiếm sư thích sự nhanh nhẹn tháo vát của nó, có thể phụ giúp làm một nửa học đồ, cũng không đuổi nó đi, đôi khi còn bảo nó trông giúp lò luyện.

Từ tháng tư đến nay, các kiếm sư lại không cho Đoạt Hãn bước nửa bước vào phòng đúc kiếm nữa, họ đang đúc lại một thanh kiếm gãy mà vị hoàng đế đời trước vô cùng trân quý. Đoạt Hãn từng nhìn thấy những mảnh thép tinh luyện đó, chỗ gãy dưới ánh mặt trời hiện lên sắc vàng hồng mê hoặc, cho dù có cầm chúng trong tay bao lâu đi nữa, vẫn lạnh lẽo như băng cứng. Để duy trì ngọn lửa nấu chảy, các kiếm sư đã liên tục nửa tháng luân phiên ca trực, thêm thủy ngân, máu súc vật và than gỗ bách thượng hạng vào lò, khiến ngọn lửa trong lò lúc nào cũng hiện lên màu xanh trắng tinh khiết. Dòng thép đỏ rực chói lọi như sinh vật sống cuồn cuộn trôi chảy trong khoang lò, ngày qua ngày biến đổi, cuối cùng chỉ còn lại sắc bạch kim, mang theo một chút hồng phấn nhạt nhẽo trên má thiếu nữ. Hôm qua lúc Đoạt Hãn đến thám thính, nước thép vừa mới tháo khuôn, phôi kiếm giao cho kiếm sư thủ lĩnh ngoài sáu mươi tuổi độc lập rèn đúc, nghe nói việc ném búa đó phải một ngày một đêm không ngừng nghỉ, chỉ cần đánh hụt một búa, đánh chậm một nhịp, là hỏng bét toàn bộ.

Phòng đúc kiếm hôm nay yên tĩnh bất thường, không có tiếng đe búa vang dội không dứt, ngay cả ống bễ cũng không còn thổi nữa. Đoạt Hãn đoán kiếm đã đúc xong, bèn cẩn thận vén rèm cửa nhìn trộm vào trong.

Các kiếm sư ngủ ngổn ngang đầy đất, tiếng ngáy nối tiếp nhau vang lên. Người đàn ông khoác cẩm bào nền đen đứng trơ trọi một mình trong phòng, giơ lưỡi kiếm chưa lắp chuôi lên trước mắt, tay kia đỡ sống kiếm, tỉ mỉ kiểm tra từng tấc lưỡi kiếm. Dường như phát hiện ra ánh mắt của Đoạt Hãn, hắn đột ngột xoay người, nhìn ra cửa.

Đoạt Hãn sững sờ tại chỗ, thậm chí quên cả cúi người hành lễ.

Đường nét khuôn mặt người nọ cứng rắn hiên ngang, viền vạt dưới cẩm bào là vân hải triều chỉ vàng rộng tầm một thước, cổ áo thêu dày hình một con năm móng uyển chuyển linh động, hai viên hồng lựu đính thành mắt rồng. Là Đế Húc.

Mấy năm nay, trong những lời bàn tán ngoài đường phố và nhà bếp chuồng ngựa của phủ các vị tướng quân, Đoạt Hãn cũng từng nghe qua vô số lời đồn. Đế Húc hầu như không bao giờ lên triều, mỗi lần xuất hiện trên triều đường, phần lớn là để hạ chỉ chém đầu ai đó. Từ sau khi quang phục, thuế khóa ngày càng khắc nghiệt, thế nhưng vẫn không thể thỏa mãn khẩu vị của Đế Húc. Mọi người luôn nói hắn hoang phí vô độ, hành sự lú lẫn, chắc là bị yêu ma nào đó mê hoặc tâm trí. Đoạt Hãn nhớ tới thây ma của A Ma Lan treo trên đầu thành, quạ đen rỉa hắn ta chỉ còn lại bộ xương, từng khúc từng khúc rơi xuống.

Hắn vừa định mở miệng, Đế Húc mỉm cười, ra hiệu cho Đoạt Hãn im lặng. Hắn cẩn thận đặt thân kiếm về lại đài rèn, bước ra khỏi phòng đúc kiếm, cử chỉ vững vàng, hoàn toàn không làm kinh động đến bất kỳ kiếm sư nào đang say ngủ.

Họ nói Đế Húc là một vị hôn quân, thế nhưng hôn quân không nên có đôi mắt sắc bén thấu triệt thế sự như vậy. Ánh mắt đó, rõ ràng là một thứ sự điên cuồng tỉnh táo.

Hơi một lúc lâu sau, Đoạt Hãn mới nhớ tới chuyện tiến lên xem thử thanh kiếm đó.

Nó được đúc theo kiểu kiếm rộng, trọng lượng nặng nề, người thường dùng hai tay cũng chưa chắc đã múa may tự do được. Thân kiếm màu vàng hồng dài tới ba thước năm tấc, chỗ dày nhất gần sáu phân, hoa văn lông chim ưng nổi bật không biết làm bằng chất liệu gì, tỏa ra ánh sắc đỏ tươi rực rỡ, từ chỗ nuốt kiếm vươn thẳng lên mũi kiếm, tựa như đôi cánh mãnh thú. Chuôi kiếm vẫn chưa được lắp, để lộ ra phần xương chuôi dài một thước.

Đoạt Hãn nhịn không được vươn tay chạm vào, lại bị phỏng đến mức rụt phắt lại.

Thanh kiếm này vẫn chưa hoàn toàn nguội lạnh, tỏa ra hơi nóng rực như lửa thiêu, làm nổi bật hoa văn chỉ là thứ vàng hồng nóng đỏ. Nó nhìn chằm chằm đầu ngón tay mình, một chuỗi bọng nước đang phồng lên từ vùng da bị bỏng đỏ, đau đớn khó lòng chịu đựng.

Thiên kỵ dẫn đội chặn Đoạt Hãn lại ở cửa Tiểu Uyển, hai tên Vũ Lâm quân lạ mặt theo sát phía sau. Thấy thiên kỵ mặt mày đen sì, Đoạt Hãn bất giác giấu bàn tay bị thương vào trong tay áo.

“Phương Trạc Anh, sao ngươi không ở trong doanh phòng?”

Đoạt Hãn vừa định bịa ra một lý do nghe lọt tai, viên sĩ quan xua tay cắt lời nó: “Ngươi về thu dọn đồ đạc, đi theo bọn họ.”

“Đi đâu?” Trong lòng Đoạt Hãn dâng lên sự hoang mang khôn tả. Tô Minh từng hứa tháng năm sẽ cho nó rời khỏi Vũ Lâm quân, lúc này điều chuyển, lành dữ khó đoán.

“Từ hôm nay ngươi không cần canh đêm ở cửa Bắc Tiểu Uyển nữa, cấp trên điều ngươi đến Tế Phong quán.”

Đoạt Hãn biết nói nhiều vô ích, đành gật đầu tuân lệnh.

Một trong hai tên Vũ Lâm quân lạ mặt nói: “Hộ vệ của Tế Phong quán đều ở trong quán, ngươi thu dọn đồ đạc xong, thì mang theo lệnh bài đến báo danh.”

Tay phải của Đoạt Hãn cử động trong ống tay áo, suýt chút nữa thò ra ngoài, kịp thời đổi sang tay trái, tiếp nhận lệnh bài khắc chữ “Tế”.

Chiều hôm đó, Đoạt Hãn đi theo nội thị bước vào cửa hông Tế Phong quán, chăn mưu và bọc đồ trong tay chốc chốc lại vướng víu cản trở hai chân.

Tường cung trong quán thâm nghiêm, cổ mộc xanh um, yên tĩnh đến mức suýt đáng sợ, mỗi một bước chân đi, nó lại nghe thấy tiếng giáp trụ và cung tên trên lưng va đập vào nhau, đột ngột tựa như tiếng chiêng trống vang lên.

Trước khi vị hoàng tử thứ ba của tiên đế là Uẩn vương bệnh qua đời, nơi này từng là chỗ ở của ngài ấy. Uẩn vương từ nhỏ thể nhược, hễ chịu chút kinh hãi là sốt cao không lui, tiên đế ban cho ngài ấy ở tẩm cung yên tĩnh nhất trong cấm thành, cũng không thể cứu vãn được vận mệnh chết yểu thuở thiếu niên của ngài ấy. Sau khi Uẩn vương chết, Tế Phong quán bỏ trống nhiều năm, các Vũ Lâm lang trực ban đều là những kẻ hung hãn gan dạ, bọn chúng khoác lác rằng, vào những đêm trăng thanh gió mát, u hồn của Uẩn vương thường đi dạo trên mặt hồ Sương Bình trong quán, một trận gió nhẹ cũng sẽ thổi tan hình thể của ngài ấy.

Vào cửa đi chừng một khắc thời gian, đường đi khúc khuỷu, ngoài thủ vệ dọc đường ra thì hoàn toàn không gặp thêm người nào khác, nội thị dẫn đường cũng từ đầu đến cuối ngậm miệng không nói, Đoạt Hãn thiếu điều nghi ngờ gã đó trong miệng không có lưỡi.

“Ngươi dẫn ta đi đâu?” Nó nhịn không được phá vỡ sự im lặng.

Tên hoạn quan trung niên tái nhợt liếc nó một cái, thần sắc mang theo ba phần nịnh nọt, sống y hệt như một người phụ nữ: “Gặp chủ tử của chúng ta.”

“Nơi này từ bao giờ có người ở?”

“Hoàng thượng ban Tế Phong quán cho Phượng Đình tổng quản đại nhân nhậm chức mới rồi.”

“Phượng Đình tổng quản?”

Hoạn quan đáp bằng giọng nhỏ nhẹ: “Là người đứng đầu nội thị của chúng ta, tổng lĩnh mọi sự vụ hậu cung.”

Hắn ta dừng bước, nghiêng người tránh sang một bên, phía trước là hai cánh cửa lớn sơn son đối mở.

Nếu nói đây là doanh phòng của Vũ Lâm cấm vệ, thì cũng quá mức xa xỉ rồi. Đoạt Hãn khó hiểu nhìn tên hoạn quan, người sau chỉ khiêm cường cúi đầu thấp hơn nữa, ra hiệu cho nó đi vào.

Cánh cửa vừa chạm vào là bật mở, nhẹ nhàng lướt sang hai bên, như thể có bàn tay vô hình đang dẫn dắt. Đoạt Hãn bước chân về phía trước, phát hiện mình đã đến một nội viện thanh tịnh. Nó cởi chiếc khiên và cung trên lưng xuống, xách trên tay. Nội thị không hề đi theo vào, chỉ từ bên ngoài khép nhẹ cánh cửa son lại.

Bốn bề tường viện chỉ còn lại Đoạt Hãn, cùng với tòa tiểu cung có mái hiên chồng chéo nhỏ nhắn ấy.

Nó cất bước đi thẳng tới.

Cửa phòng khép hờ, bên trong rủ xuống bức trướng gấm che kín mít không lọt gió. Đoạt Hãn đặt hành lý chăn mưu trong tay xuống, vén trướng lên.

Tiết trời tháng tư thoang thoảng hơi ấm, trong phòng vẫn đốt lò, nóng đến mức khiến người ta ngột ngạt suýt nghẹt thở. Trong căn phòng rộng lớn chỉ có một ngọn đèn bát giác lưu ly, có người đang nằm nghiêng trên sập, nương theo ánh đèn đọc sách vở trong tay.

Một góc nào đó trong lòng Đoạt Hãn thắt lại. Nó từng bước tiến lại gần, bóng dáng của người nọ giống như từ dòng nước tối từ từ nổi lên, ngày càng chân thật.

“Là ngài.” Đoạt Hãn khẽ nói.

Người nọ không nói năng gì, ngẩng đầu nhìn Đoạt Hãn, đôi mắt dài thanh tú lạnh lùng trong trẻo. Hai tháng không thấy ánh mặt trời, sắc mặt ngài tái nhợt như quỷ hồn, cổ áo cẩm bào hơi hé mở, bên trong nhìn thấy rõ xương quai xanh, đường nét sắc bén tựa lưỡi dao.

Đoạt Hãn im lặng cúi đầu, một cơn run rẩy nhỏ nhoi truyền qua bả vai nó.

Vết sao ở khóe môi người nọ giật giật, vẫn không nói gì cả.

Đoạt Hãn siết chặt hai tay, sự run rẩy ở vai và lưng ngày càng dữ dội, cuối cùng đành phải khom người xuống, vẫn không thể kìm nén được, phì cười thành tiếng. Quả thực là sự hoang đường không sao tả xiết —— con người này vậy mà cũng có ngày hôm nay. Nó cười lớn ngửa cổ, khóe mắt bị nhòa đi bởi dòng lệ.

“Ngài… ngài làm thái giám rồi sao?” Nó cười đến mức đứt hơi.

Nó đã vô số lần hủy hoại da thịt và gân cốt của Phương Giám Minh, nhưng chưa bao giờ đọc được hai chữ “yếu đuối” trên khuôn mặt thanh tú đoan chính đó. Người nọ là kẻ thù, ân sư, kẻ trừng phạt và người bảo hộ của nó, tựa như vách đá vạn trượng sừng sững trước mắt, không thể vượt qua, không thể lay chuyển, người nọ ngày nào chưa bị đánh gục, Đoạt Hãn ngày đó không thể tiến bước.

Đoạt Hãn tốn trọn ba năm thời gian, cuối cùng cũng thừa nhận thất bại, Phương Giám Minh lại có thể tùy ý hủy hoại chính mình như thế. Đoạt Hãn dùng sức lau đi giọt nước mắt trong mắt, thế nào cũng không lau sạch được.

“Bây giờ muốn giết ngài, quả thực dễ như trở bàn tay.” Nó nói.

Người bên ngọn đèn mỉm cười: “Ba năm đã hết rồi. Cho dù bây giờ ta có chết đi, ngươi vẫn cứ là con trai của ta.”

“Tại sao?”

Thứ Đoạt Hãn nhận được chỉ có sự im lặng.

“Tôi hỏi ngài, tại sao lại làm thế này.” Máu nóng ầm một tiếng xộc lên mang tai, Đoạt Hãn giật lấy y phục hai bên vai ngài, trọng lượng trong tay lại nhẹ hơn tưởng tượng rất nhiều.

“Ngươi sẽ không hiểu đâu.”

“Không, tôi hiểu.” Đoạt Hãn phẫn nộ nhìn thẳng vào mắt ngài, “Hoàng thượng đã giết bao nhiêu người, sáu người các ngài chỉ còn lại ba người, là ngài sợ hoàng thượng cũng sẽ giết ngài. Để có thể sống tiếp, ngài đến cả dũng khí làm một người đàn ông cũng không có.”

Phương Giám Minh nhẹ nhàng đẩy Đoạt Hãn ra, dải lụa ẩm ướt quấn quanh tay sượt qua mu bàn tay Đoạt Hãn.

“Tay ngài bị thương sao?” Đoạt Hãn hỏi.

Phương Giám Minh thản nhiên: “Không cẩn thận bị phỏng.”

Đoạt Hãn nhíu mày. Không biết vì sao, nó chộp lấy cổ tay Phương Giám Minh, định giật tung dải lụa ra. Phương Giám Minh thu tay về phía sau, nhưng không thành công, ngài vẫn chưa bình phục, sức lực của Đoạt Hãn lúc này cũng đã có thể đọ sức một phen với người trưởng thành.

Dải băng vải thấm đẫm mỡ cao mùi vị cay nồng, càng tháo sâu vào trong, vết tích nước máu nhạt màu càng lan rộng. Tay Đoạt Hãn run rẩy, nhưng không chịu dừng lại, cho đến khi gỡ bỏ lớp cuối cùng, vết thương mới trên lòng bàn tay vô cùng chói mắt đáng sợ.

Toàn thân Đoạt Hãn cứng đờ, tựa như máu trong khoang tim đã đóng băng. Máu thịt đỏ tươi ẩm ướt, vết bỏng đen thui lún sâu, vừa bị kéo ra, lớp vảy máu vừa chớm đóng lại lại nứt ra, rớm ra chất dịch đỏ sậm, dọc theo đường chỉ tay rách nát lan nhanh ra bốn phía. Đỏ và đen phác họa thành hoa văn lông chim ưng trong lòng bàn tay, từng chùm từng chùm tề chỉnh xinh đẹp xòe rộng ra. Chính là hoa văn sống kiếm.

Đoạt Hãn hất văng bàn tay này, chộp lấy bàn tay kia, thô bạo giật tung ra xem, vết thương in ra hình ba lăng năm đốt, rõ ràng chính là phần xương chuôi chưa được bọc da gỗ cứng.

Giống như có người giáng một quyền vào ngực Đoạt Hãn, xương thịt gân mạch đều bị đập nát, trong lồng ngực chỉ còn lại một cái động máu: “Đây là vết thương của hoàng thượng.”

Trong mắt Phương Giám Minh chỉ gợn sóng chốc lát, rồi lại khôi phục sự trong trẻo bình lặng.

“Ngài ấy tay không đi lấy thanh kiếm vừa mới ra lò, lại hoàn toàn vô sự. Vết thương của ngài ấy đều ở trên người ngài.” Đoạt Hãn từng chữ từng chữ nói, “Đây là yêu thuật gì vậy?”

Quầng đèn mờ ảo chập chờn, trong phòng tĩnh lặng như không có hơi thở của con người.

“Chính vì thứ thuật pháp này sao? Chính vì để bảo vệ hoàng thượng, nên ngài mới làm cái chuyện ngu ngốc này sao?” Đoạt Hãn truy vấn.

Phương Giám Minh lắc đầu, trong mắt mang theo sự thê lương mà Đoạt Hãn không thể đọc hiểu: “Đây là Bí thuật hệ Hằng Bạch độc truyền của nhà họ Phương, mỗi đời chỉ truyền cho đích trưởng tử. Sau khi kết ước kéo dài sinh mệnh với người khác, mọi tai ương huyết thương của người kia, đều dùng thân mình thay thế, dùng tính mạng gạt bỏ.”

“Vậy rốt cuộc tại sao ngài lại muốn làm một… con người như thế?” Đoạt Hãn suýt bị ép đến trào nước mắt.

“Bên cạnh khai quốc hoàng thượng Trịnh triều là Trữ Kinh, từng có một vị bí thuật sư như thế, tên là Phương Cảnh Phong, cũng chính là vị Thanh Hải công đầu tiên của bản triều.” Phương Giám Minh thu lại bàn tay bị thương, đem dải băng vải thấm đẫm mỡ cao từng lớp từng lớp quấn lại như cũ, thái độ vẫn tao nhã điềm tĩnh, “Tước vị công hầu này truyền thừa đến nay đã năm mươi ba đời, mỗi một đời Thanh Hải công đều chịu trăm đắng ngàn cay, cuối cùng thay thế chủ quân mà chết. Hàng trăm năm nay, quả thực nhà họ Phương cẩm y ngọc liễn, một cõi lãnh địa, hoàn toàn dựa vào sự che chở của huyết mạch bí thuật này, thế nhưng huyết mạch này cũng nguyền rủa toàn bộ nhà họ Phương. Ta dĩ nhiên rất muốn có một đứa con trai, để nó cường tráng, an lạc, bảo vệ nó cả đời không phải chịu khổ đau…”

Vết sao bên khóe môi ngài mím chặt lại, gò má dâng lên một chút ửng đỏ, thế nhưng lại nghênh đón ánh mắt của Đoạt Hãn, không hề lùi bước. “Nhưng ta không muốn trên người nó còn vương một giọt máu độc của nhà họ Phương nữa.”

Đoạt Hãn chỉ cảm thấy đôi chân như bị rút cạn sức lực, đành phải chậm rãi ngồi xổm quỳ xuống. Hồi lâu sau, ngài hỏi: “Chẳng lẽ không có cách nào giải sao?”

“Ước hẹn kéo dài sinh mệnh một đời chỉ có thể kết lập một lần, nếu người thi pháp giải ước, thuật pháp phản phệ, người ban đầu được bảo vệ kia sẽ chết.”

“Vậy ngài nên để cho hắn chết.” Trong mắt Đoạt Hãn bùng cháy nộ khí, “Giết Đế Húc đi, chính ngài làm hoàng thượng, thiên hạ này sẽ thái bình hơn nhiều.”

Phương Giám Minh chỉ lắc đầu không nói.

Đoạt Hãn giận dữ tột cùng: “Hắn biết rõ ngài sẽ bị thương, nhưng hắn hoàn toàn không bận tâm. Ngài lại dùng tính mạng của mình để bảo vệ một kẻ như vậy sao?”

“Người được loại thuật pháp này bảo vệ, không sợ rét lạnh, không biết đau ngứa. Hắn không hề biết thanh kiếm đó sẽ làm tổn thương ta.”

“Hắn điên rồi, chẳng lẽ ngay cả ngài cũng điên rồi sao? Sau này phải làm sao đây? Thanh Hải công Phương Giám Minh đã chết, vậy ngài rốt cuộc lại là ai? Ngài cứ rúc trong hậu cung làm một đời thái giám thế này sao?”

“Có những chuyện không thể ra ánh sáng, chỉ có thể do người chết làm.” Phương Giám Minh cười khổ, “Ta cứ tưởng ngươi sẽ hiểu… cũng phải thôi, ngươi còn nhỏ.”

Đoạt Hãn nhịn không được từ dưới đất bật dậy, chặn ngang lời: “Tôi mười ba tuổi rồi, tôi hiểu! Thứ dối trá đê tiện nhất trên đời, ngài đều đã dạy tôi, tôi biết.”

Nó nôn nóng đi tới đi lui trước sập, bỗng nhiên đứng khựng lại.

“Ngài có biết sói trên thảo nguyên là thứ kiêu dũng hung hãn thế nào không? Cho dù là chó chăn cừu cao đến hông người, gặp phải bầy sói cũng chỉ có một con đường chết. Thế nhưng, hễ có một con sói bệnh truyền bá ôn dịch, sẽ hại chết hơn nửa bầy sói. Lúc này con sói đực cường tráng nhất sẽ đi cắn chết con sói bệnh đó, bằng không bầy sói trưởng thành chết sạch, không sinh ra được những con sói con khỏe mạnh, toàn bộ bầy sói sẽ tiêu đời.”

Trong mắt Phương Giám Minh lóe lên ý cười: “Hắn không phải sói, ta cũng không phải.”

“Ngài quyền khuynh một nước, lại trơ mắt nhìn vị hoàng đế điên rồ này hành hung. Ngài là một kẻ hèn nhát.” Đoạt Hãn đứng tại chỗ quật cường trừng mắt nhìn, “Tôi không muốn làm con trai của một kẻ hèn nhát.”

“Ngươi hối hận rồi sao?”

Đoạt Hãn cứng họng, qua một hồi lâu, mới ngoảnh mặt đi.

“Con cháu của Viêm Long và Thiên Mã vĩnh viễn không bội ước.”

“Định nhờ cái tính bướng bỉnh cứng đầu của ngươi đấy, bằng không đời này ta đừng hòng có con trai.” Phương Giám Minh cười yếu ớt, thần sắc chớp lóe một nét nghịch ngợm.

Trạc Anh cảm thấy một cục tức nghẹn ứ trong lồng ngực, không tài nào phát tiết ra được, đành phải đột ngột xoay người bước ra ngoài, tiếng bước chân vang vọng trong căn phòng trống trải.

“Trạc Anh.” Phương Giám Minh gọi với theo từ phía sau.

Đoạt Hãn khựng lại, nhưng không ngoảnh đầu nhìn.

“Lúc ta hạ quyết tâm kết lập lời thề vĩnh viễn không thể phản bội với hoàng thượng, đã mười bảy tuổi rồi.” Thể lực Phương Giám Minh hao kiệt, giọng điệu phù phiếm yếu ớt, “Ngươi có khí phách hơn ta đấy, Trạc Anh.”

Cơ thể Đoạt Hãn căng thẳng ngay đơ, giống như một cái nêm cắm phập xuống đất không tiếng động: “Có khí phách giống ngài á? Tôi mới không thèm.”

Nó sải bước tiếp tục đi ra ngoài.

“Ngươi đi đâu?”

“Đi gọi ngự y đến băng bó vết thương cho ngài.”

Đoạt Hãn dùng sức hất mạnh tấm trướng gấm thêu đầy hoa văn tử kim ở cửa ra, ánh hoàng hôn mờ ảo hắt vào, kéo lê cái bóng dài của nó in trên nền nhà.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.