Phàm là đấu tranh với địch, hoặc mọi thứ cạnh tranh, đều cần tìm hiểu tỉ mỉ về tình hình của đối phương mới có thể đề ra những đối sách chính xác để mà đọ sức, thì mới có khả năng giành phần thắng. Nếu như chẳng hiểu biết chút gì về tình hình của đối phương, sẽ rất có thể áp dụng những đối sách sai lầm, và sẽ gặp thất bại. Đấu tranh với địch trước hết phải tìm hiểu tình hình của chúng, và cần thiết phải dùng gián điệp. Để không tiết lộ tình báo cho đối phương lợi dụng thì cần phải giữ bí mật rất nghiêm khắc, phải làm trong sạch nội bộ, bởi vậy dùng gián điệp và giữ bí mật trở nên những thủ đoạn quan trọng nhất trong đấu tranh với địch, đó là chuyện xưa nay vẫn thế, là một thứ bí mật công khai.
Trong “Dụng gián biên – Tôn Tử binh pháp” đã hết sức nhấn mạnh tác dụng to lớn của việc dùng gián điệp. Tôn Tử nói: “Minh quân hiển tướng, sở dĩ hành động mà thắng được người, kẻ thành công trong mọi người, là ở chỗ biết trước. Kẻ biết trước, không thể nhờ quỷ thần, không thể lường bằng việc, không thể đo bằng thước, mà phải là bằng con người – con người biết tình hình của địch vậy”, lại nói: “Cho nên dùng gián điệp thì có năm loại: Có nhân gián, có nội gián, có phản gián, có tử gián, có sinh gián...”, “cho nên trong ba quân thân nhất không bằng dùng gián điệp, thưởng không ai bằng gián điệp, bí mật không ai bằng gián điệp. Không có thánh trí không dùng được gián điệp, không nhân nghĩa không điều khiển được gián điệp, không tỉ mỉ không có được sự thực ở gián điệp!” Tôn Tử cho rằng thường thắng được địch, là bởi vì trước đó, đã nắm được tình hình địch. Mà muốn nắm được địch, không thể dựa vào quỷ thần, suy đoán một cách mê tín và chủ quan, chỉ có thể nắm được qua “kẻ nắm được tình hình”, như vậy tất phải dùng năm loại gián điệp. Mà người khéo dùng gián điệp, chỉ có thể là người có trí tuệ, khôn ngoan, khẳng khái, bởi vì hạng người ấy mới có thể trọng dụng, trọng thưởng cho những người làm gián điệp, như thế, gián điệp mới dám chết vì người ấy. Trong lịch sử, gián điệp có tác dụng vô cùng then chốt trong cuộc đấu tranh đối địch. Nhà Thương hưng thịnh, có quan hệ rất lớn đến Thương Thang với Y Doãn làm tướng, và Y Doãn vốn là đại tướng triều Hạ Kiệt, ông rất am hiểu nội tình của triều đình nhà Hạ. Nhà Chu hưng thịnh, có quan hệ rất lớn với Vũ Vương có Khương Thượng làm tướng, vì Khương Thượng vốn là đại thần của Thương Trụ, ông thông thuộc mọi nội tình của Thương Trụ. Lại như cuộc Hán Sở tranh hùng, Lưu Bang đã cho Hoàng Bình bốn vạn cân vàng, để ông này làm phản gián, ly gián Hạng Vũ với bấy tôi cốt cán của mình là Phạm Tăng, Chung Li Muội, khiến Hạng Vũ cuối cùng thành con người cô quả cô đơn, và bị Lưu Bang đánh bại.
Tam quốc diễn nghĩa tả Khổng Minh, Chu Du, Tư Mã Ý, đoán việc như thần, kỳ thực đều là dùng gián điệp tìm hiểu tình hình địch, mới được như thế. Trong đó kế ly gián được miêu tả nhiều nhất. Bởi vì trong chiến tranh, quân thần một dạ, tướng soái hợp lực, thì khó mà chiến thắng nổi; nếu có thể ly gián được, phân tán được lực lượng của địch thì dễ đánh bại chúng. Phương pháp ly gián không gì ngoài hai cách: gây mâu thuẫn và lợi dụng mâu thuẫn. Kế ly gián đó tức là làm như Tôn Tử nói, “thân để mà ly”. Tam quốc diễn nghĩa có rất nhiều câu chuyện “thân để mà ly” nhằm chiến thắng kẻ thù.
Kiểu cách để ly gián nhiều vô kể, dùng máu ghen của đàn bà để ly gián phải nói là một cách độc đáo.
Kế lạ ly gián: Dương Bưu lợi dụng máu ghen đàn bà
Đổng Trác bị giết, bè đảng còn lại của hắn như Lý Thôi, Quách Dĩ đánh vào Tràng An, thao túng triều chính, hoành hành vô độ. Thái úy Dương Bưu mật tâu với Hiến đế rằng: “Thần có một kế, để cho hai thằng giặc này tàn hại lẫn nhau, sau chiếu gọi Tào Tháo đem quân về sai ngôi?” Dương Bưu gián ngôn với Quách Dĩ, rắt hay ghen, có thể sai người dùng kế phản gián với vợ Quách Dĩ, thì hai tên giặc tất sẽ hại nhau. Hiến Đế bèn đưa chiếu thư ngầm dặn Dương Bưu. Bưu liền ngầm sai phu nhân mượn cớ việc khác vào phủ Quách Dĩ, trong câu chuyện đã nói với vợ Quách Dĩ rằng: “Nghe đồn Quách tướng quân có chuyện mờ ám với phu nhân của Lý Tư Mã, có tình ý rất kín đáo với nhau; nếu Tư Mã mà biết chuyện, tất sẽ bị ông ta hại, phu nhân nên làm sao chấm dứt được sự đi lại này là hay nhất”. Vợ Quách Dĩ kinh ngạc nói: “Thảo nào mà ông ta thường đêm không về, thì ra đi làm cái chuyện điểm nhục ấy! Phu nhân chẳng nói, thiếp không hề biết. Cần phải để phòng cẩn thận”. Vợ Dương Bưu ra về, vợ Quách Dĩ hết lời cám ơn từ biệt. Mấy hôm sau, Quách Dĩ lại sáp vào phủ của Lý Thôi dự tiệc. Vợ khuyên rằng: “Tính Thôi bất trắc, huống chi ngày nay, hai anh hùng không muốn cùng tồn tại, nếu nó cho thuốc độc vào rượu, thì thiếp biết làm sao?” Quách Dĩ không nghe. Đến tối, Lý Thôi cho người bưng cỗ rượu tới. Vợ Quách Dĩ ngầm cho thuốc độc vào, rồi mới dâng lên; Quách Dĩ định ăn, vợ liền nói: “Thức ăn từ ngoài đưa vào, sao vội ăn ngay thế?”. Bèn đem cho chó ăn thử, chó chết ngay. Từ đó Quách Dĩ sinh nghi. Một hôm bãi triều, Lý Thôi lại cố mời Quách Dĩ đến nhà uống rượu. Đến đêm, tiệc tàn, Quách Dĩ say ra về, ngẫu nhiên đau bụng. Vợ nói ngay: “Đúng là trúng thuốc độc rồi!” vội sai lính đổ nước phân, nôn ra hết mới đỡ. Quách Dĩ bực lắm, nói: “Ta cùng Lý Thôi chung lo việc lớn nay vô cớ lại mưu hại ta, ta không ra tay trước sẽ bị với nó”. Bèn ngầm cho tập hợp giáp binh trong phủ, định đi đánh Lý Thôi. Có người ngay từ sớm đã báo cho Lý Thôi. Thôi cũng nổi giận nói: “Quách A Đa lại giám làm thế” bèn cũng điểm binh mã trong phủ, đi đánh Quách Dĩ. Hai nơi dồn quân hàng mấy vạn, đánh lẫn đánh lộn nhau. Hai người câu kết với nhau thì trong triều không ai giám làm gì; gặp khi chia rẽ nhau, hai bên đánh nhau, thế lực ngày càng suy yếu, cuối cùng bị Tào Tháo đánh bại.
Nhằm vào đúng chỗ – Ly gián mới kiến hiệu
Dương Bưu có thể thi hành kế phản gián, vì nắm vững được đặc tính hay ghen của vợ Quách Dĩ, phu nhân của Dương Bưu chẳng qua chỉ nói: “nghe đồn Quách tướng quân với phu nhân của Lý Tư Mã, bèn đã nhen lên ngọn lửa ghen cho vợ Quách Dĩ, không cần phải bày cho nàng cách ly gián, nàng lại có thể “không thầy cũng biết”, từ chỗ bỏ thuốc độc cho chồng, đến chỗ cho uống nước phân, cuối cùng làm chia rẽ Quách Dĩ với Lý Thôi. Mới hay kế ly gián, chỉ cần nắm chỗ yếu là lập tức kiến hiệu. Mà làm kế này, lại thường là người gần gũi bên mình. Sự thất bại của Quách Dĩ với câu hắn nói là trúng phải kế ly gián của Dương Bưu, chẳng thà nói thẳng ra rằng trúng ngay kế ly gián của chính vợ mình.
2. SỬA THƯ TÍN: TÀO THÁO LY GIÁN MÃ HÀN
Khi Mã Siêu đánh vào Tràng An, có trong tay một đạo quân hơn hai chục vạn, khi chạy được về Lùng Tây, chỉ còn sót lại hơn ba chục tên, tại sao mà thất bại thảm hại thế? Bởi vì trúng kế ly gián của Tào Tháo.Mã Siêu và Tào Tháo đánh nhau to ở Đồng Quan, đánh cho Tào Tháo phải cắt râu cởi áo bào ra. Tào Tháo vẫn đóng quân ở bờ bắc sông Vị, mật lệnh cho Từ Hoảng, Chu Linh cố gắng vượt sông sang bờ tây kết doanh trại, để giáp công phía trước phía sau đánh Mã Siêu. Mã Siêu biết tin, bèn bàn với Hàn Toại. Hàn Toại chủ trương trước hãy hòa, đợi mùa xuân ấm lên hãy tính sau. Thế là sai sứ giả đến trại của Tào Tháo viết giấy, bằng lòng cất đất để cầu hòa. Giả Hủ hiến kế với Tào Tháo: “Việc quân không ngại gì lừa dối, hãy cứ vờ đồng ý, sau sẽ dùng kế phản gián, làm cho Hàn Toại, Mã Siêu nghi ngờ nhau, rồi chỉ đánh một trận là phá được”. Tào Tháo xoa tay cười nói: “Người cao kiến trong thiên hạ, nhiều khi hay nghĩ giống nhau”.
Chưa làm rõ chuyện đã nghị – tất nhiên là trúng kế
Hôm sau, Tào Tháo dẫn các tướng ra khỏi dinh, gọi Hàn Toại tới nói chuyện. Trước trận, Tào Tháo chỉ hàn huyên chuyện nhà cửa, tuổi tác, không hề nhắc đến việc binh đao, hai bên nói chuyện ước đến một giờ mới quay ngựa chào nhau, ai về trại nấy. Mã Siêu hỏi có nói gì đến việc quân sự, Hàn Toại cứ tình thực nói lại: “Chỉ nói toàn chuyện cũ”, Mã Siêu bắt đầu sinh nghi, không nói gì lui ra. Ngày hôm sau Tào Tháo tự thảo thư gửi Hàn Toại, những chỗ quan trọng đều dập dập xóa xóa, khi đưa thư cố ý sai nhiều người để Mã Siêu biết được. Có người báo cho Mã Siêu, Siêu đã lấy thư từ tay Toại, thấy có chỗ xoá rồi sửa, nghĩ rằng Toại và Tháo có chỗ bàn mưu kín gì với nhau, nên tự sửa đi. Hàn Toại nói: “nếu cháu không tin lòng chú, hôm sau chú ra trước trận nói chuyện với Tào Tháo, cháu từ trong trận bất ngờ xông ra, đâm chết nó là xong. Siêu nói: “Nếu mà như thế, mới thấy được tấm lòng thực của chú”. Hôm sau, Hàn Toại dẫn các tướng ra trận. Mã Siêu núp ở dưới môn kỳ. Hàn Toại sai người đến trước trại Tào Tháo gọi to: “Hàn tướng quân mời thừa tướng ra nói chuyện!”. Tháo bèn cử Tào Hồng dẫn khoảng chục tên khinh kỵ ra trước trận gặp Hàn Toại. Hồng ngồi nguyên trên ngựa ghé mình nói: “Những điều thừa tướng nói với tướng quân đêm trước, xin đừng chậm trễ”, nói xong tế ngựa đi. Siêu nghe được nổi giận, vác thương thúc ngựa lên đâm Hàn Toại. Sau các tướng xúm lại can, khuyên nên về trại. Toại thấy Mã Siêu như thế, buộc phải ngả sang hàng Tào Tháo, hẹn đến đêm đốt lửa làm hiệu, cùng đánh Mã Siêu. Không ngờ Mã Siêu đã biết mọi chuyện, đem quân đến đánh Hàn Toại. Hai bên đánh lẫn nhau, đại quân của Tào Tháo áp tới, Mã Siêu thua to, chỉ còn lại hơn ba chục quân kỵ, cùng với Bàng Đức, Mã Đại chạy về tận Lâm Thao huyện Lũng Tây.
Một người có giỏi – việc lớn cũng khó thành
Kế ly gián của Tào Tháo quả là độc! Nhưng cũng chưa thật sâu, nếu như người tính kỹ, chỉ cần xem bút tích là biết được ai là người “xóa thư”. Cũng lại gặp Mã Siêu là hạng người hữu dũng vô mưu, chưa cặn nhắc kỹ đã vội cho rằng Hàn Toại có mưu kín với Tào Tháo. Sau này, Hàn Toại ra hàng Tào Tháo cũng tại Mã Siêu ép buộc mà nên thế. Bởi Hàn Toại vốn một lòng cùng Mã Siêu báo thù. Vì Hàn Toại kết nghĩa anh em với cha đẻ của Mã Siêu là Mã Đằng. Mã Đằng bị Tào Tháo giết, Hàn Toại rất căm hận, cho nên Tào Tháo cho sứ giả đưa thư bảo Hàn Toại bắt Mã Siêu rồi về Hứa Đô, hứa sẽ phong cho làm Tây lương hầu, Toại không vì hám được phong chức quan cao, bèn đem việc này nói với Mã Siêu và đem chém sứ giả của Tào Tháo trước mặt Mã Siêu. Điều đó chứng tỏ Hàn Toại ngời ngời nghĩa khí! Mã Siêu lại lấy vụ “sửa thư đem lòng nghi ngờ, dẫn đến đánh nhau, làm chia rẽ nội bộ, đề Tào Tháo lợi dụng được, mới hay một kẻ hữu dũng vô mưu khó thành việc lớn, sự thất bại của Mã Siêu cũng là nằm trong dự tính cả!
3. TUNG TIN NHẢM: KHỔNG MINH TRUẤT TRONG ĐẠT
Sau khi Khổng Minh Nam chinh, đang muốn tiến hành Bắc phạt, nhưng do Tư Mã Ý giữ thành Tây Lương nên chưa giám khinh suất manh động.Mã Tốc hiến kế, Tào Duệ trúng mưu
Mã Tốc hiến kế nói: “Tư Mã Ý tuy là đại thần nước Ngụy, Tào Duệ vẫn nghi trong lòng. Tại sao ta không cho người đến các nơi như Lạc Dương, Nghiệp Quận; tung tin đồn ra rằng, người này muốn làm phản, lại viết giả những tờ yết thị Tư Mã Ý bố cáo thiên hạ dán ở các nơi, như thế Tào Duệ tất sinh nghi và sẽ giết hắn”. Khổng Minh cho là phải và nghe theo, liền sai người làm theo kế đó.
Việc đến tai, Tào Duệ kinh hoàng thất sắc, vội hỏi quần thần. Thái úy Hoa Hâm tâu rằng: Tư Mã Ý dâng biểu xin giữ Ung, Lương, chính vì lẽ đó. Trước đây, thái tổ Võ Hoàng Đế thường nói với thần rằng: “Tư Mã Ý mắt nhìn lấm lét, không thể giao cho giữ bình quyền, lâu ngày tất sẽ gây tai họa cho đất nước: Mưu đồ phản bội đã rõ, cấn phải khử sớm đi”. Tào Chân tâu rằng: “Không được. Nay sự tình chưa biết thực giả ra sao, bồng tăng quân, có khác gì ép người ta làm phản thật. Nếu bệ hạ có lòng nghi, thì hãy bắt chước Cao tổ xưa vờ chơi Vân Mộng, ngự giá đi thăm An ấp, Tư Mã Ý tất sẽ phải ra đón xem động tình thế nào, rồi bắt hắn ngay trước xe cũng được”. Tào Duệ làm theo, tự mình đem mười vạn ngự lâm quân, kéo đến An áp. Tư Mã Ý không hiểu duyên cớ, lại muốn để cho thiên tử thấy sự uy nghiêm của mình, bèn chỉnh đốn binh mã mang hàng vạn giáp sĩ ra đón. Tào Duệ đâm hoảng, sai Tào Hưu mang quân ra đón trước. Tư Mã Ý thấy bình mã tới, lại ngờ rằng xa giá đã đến liền phủ phục ở bên đường để đón. Tào Hưu nói: “Trọng Đạt được gánh vác việc thác cô nặng nề của tiên để giao cho, cớ sao lại làm phản?” Tư Mã Ý kinh hoàng thất sắc, mồ hôi ướt đầm, bèn hỏi duyên cớ làm sao. Tào Hưu kể lại mọi chuyện. Tư Mã Ý nói: “Đây là kế phản gián bằng gian tế của Ngô Thục, muốn để vua tôi phía ta tàn sát lẫn nhau, rồi chúng thừa chỗ trống mà đánh úp. Tôi phải tự đến gặp thiên tử tâu rõ đầu đuôi mới được!”. Vội vàng cho lui quân mã, đến phục trước xe của Tào Duệ khóc mà tâu rằng: “Thần nhận việc hệ trọng mà tiên đế di chiếu lại, đâu có giám mang lòng dạ khác. Đây tất là kế gian của Ngô Thục. Thần xin đem một lữ quân, trước phá Thục, sau phạt Ngô, để đền ơn tiên đế và bệ hạ, và cũng là để tỏ tấm lòng của thần”. Tào Duệ còn nghi ngại chưa quyết. Hoa Hâm liền tâu lên: “Không thể giao cho binh quyền được nữa mà phải lập tức cách chức cho về làm ruộng”. Tào Duệ y lời, liền cách chức Tư Mã Ý đuổi về quê, lệnh Tào Hưu tổng đốc binh mã ở Ung, Lương, Tào Duệ lại xa giá quay về Lạc Dương.
Lợi dụng mâu thuẫn, phản gián thành công
Khổng Minh phao tin đồn nhảm làm Tư Mã Ý bị cách chức, là lợi dụng mâu thuẫn giữa họ Tào và Tư Mã Ý. Họ Tào và Tư Mã Ý vốn không chung một lòng: Tào Tháo xuất thân từ gia đình hoạn quan; Tư Mã Ý lại dòng dõi sĩ tộc. Vào cuối đời đông Hán, sĩ tộc và hoạn quan vốn có mối mâu thuẫn vô cùng sâu sắc, sĩ tộc nói chung coi khinh đám hoạn quan, cho nên Tào Tháo những ngày đầu khởi sự, lôi kéo kẻ sĩ để dùng cho mình hết sức khó khăn. Tào Tháo từng muốn Tư Mã Ý ra làm quan, nhưng ông và ốm không ra, sau này sợ Tào Tháo cắt đầu nên mới miễn cưỡng bằng lòng. Bởi vậy, đối với ông, Tào Tháo rất dè chừng. Hoa Hàm cho biết Tào Tháo từng nói với mình: “Tư Mã Ý có đói mắt nhìn như cú như sói, không thể giao cho binh quyền, lâu ngày tất sinh vạ lớn cho đất nước, câu nói này đủ nói lên ý đó. Hoa Hảm cùng bè đảng với họ Tào nên khi nghe Tư Mã Ý có bụng làm phản, đã chủ trương “khử sớm đi”. Mà Tào Duệ với Tư Mã Ý thì “vẫn nghi trong lòng”, nên tuy biết việc Tư Mã Ý mưu phản chưa hẳn là thực, nhưng cũng nhân dịp này cách chức đuổi về quê. Cũng chính vì họ Tào có mâu thuẫn với Tư Mã Ý, kế phân giản bằng cách lợi dụng mâu thuẫn của Khổng Minh mới kiến hiệu ngay lập tức như thế.
4. KHÉO LY GIÁN: GIA CÁT LÀM TAN BỌN PHẢN LOẠN
Thái thú Kiến Ninh là Ung Dĩ câu kết với Mạnh Hoạch làm phản, thái thú Tường Kha là Chu Bao, thái thú quận Việt Tuấn là Cao Định đã dâng cả thành trì. Gia Cát Lượng quyết định trước khi chinh phục Mạnh Hoạch, phải bình định bọn phản loạn. Ông đã dùng kế phản gián gây nên mâu thuẫn, để chúng đánh giết lẫn nhau, bọn phản loạn sẽ được nhanh chóng bình định.Lợi dụng mâu thuẫn để tiến hành ly gián
Gia Cát Lượng kéo đại quân đến, Ung Dĩ, Chu Bao, Cao Định dẫn quân ra đón đánh, mũi tiên phong của Cao Định là Ngạc Hoán, mới đánh trận đầu đã bị bắt. Gia Cát Lượng biết đấy là bộ tướng của Cao Định, bèn nói rằng: “Ta biết Cao Định là bậc sĩ phu trung nghĩa, nay vì Ung Dĩ mê hoặc nên mới đến nổi thế. Giờ ta tha cho người về lệnh cho Cao Thái Thú hãy sớm ra hàng, để khỏi gặp tai họa”. Rồi tha cho về. Ngạc Hoán về gặp Cao Định, nói lại ân đức của Gia Cát Lượng, Cao Định cũng vô cùng cảm kích. Việc tha cho Ngạc Hoán chính là đã tạo cơ sở cho việc tranh thủ Cao Định và Ngạc Hoán.
Ung Dĩ, Cao Định chia hai cánh quân để đến đánh trại Thục, bị bắt sống vô số. Gia Cát Lượng đưa người của Ung Dĩ, Cao Định giam mỗi người một nơi; rồi lệnh cho quân sĩ truyền xuống “Phàm là quân của Cao Định thì tha cho, người của Ung Dì thì đem giết hết. Gia Cát Lượng lấy người của Ung Dì ra hỏi, đều nói là thuộc hạ của Cao Dịnh, bèn tha cho vẻ. Lại gọi người của Cao Dịnh ra hỏi, đều nói thực là quân sĩ của Cao Định, bèn ban cho rượu và thức ăn, rồi nói với bọn này: “Ung Dĩ hôm nay cho người đầu hàng, muốn dâng đầu của chúa chúng mày và Chu Bao làm công lao, ta thật không yên lòng. Bọn chúng mày đã là quân thuộc hạ của Cao Định, ta tha cho bọn mày về, lần sau không được bội phản. Lần tha thứ hai này, khiến cho Cao Định và Ung Dĩ nghi ngờ lẫn nhau, gieo mầm mống để cho chúng giết nhau sau nay.
Mượn dao giết người, chẳng tốn chút hơi sức nào
Cao Định thấy Gia Cát Lượng hậu đãi mình như thế, chưa biết thật giả ra sao, liền cho người sang trại của Khổng Minh thám thính hư thực, bị quân mai phục ngang đường bắt được đưa lên gặp Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng cố ý nhận rằng đây là quân sĩ của Ung Dĩ, bèn hỏi: “Chủ soái của ngươi đã hẹn dâng đầu của hai tên Chu Bao và Cao Định, tại làm sao mà sai cả ngày giờ?” và viết một lá thư dặn rằng: “Bọn bay mang thư này về trao cho Ung Dĩ, bảo hãy sớm ra tay”. Bức thư đó của Gia Cát Lượng, rõ ràng là bảo Cao Định giết Ung Dĩ. Quả nhiên Cao Định vừa đọc xong bức thư đó, bỗng đùng đùng nổi giận, bèn cùng Ngạc Hoán đang đêm đánh úp trại Ung Dĩ, cất đầu Ung Dĩ về dâng lên Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng chẳng những không ca ngợi công lao ấy, ngược lại còn ra lệnh đem đi chém. Cao Định biện bạch, Gia Cát Lượng nói rằng hắn trá hàng. Định hỏi làm sao mà biết được, Gia Cát lấy ra một bức thư, nói với Định rằng: “Chu Bao đã cho người ngầm dâng thư hàng, nói rằng mày và Ung Dĩ đã kết giao sinh tử, có lẽ nào trong chốc lát mà mày nỡ giết hắn? Cho nên tao biết rằng mày trá hàng”. Cao Định kêu oan, nói: “Chu Bao nó dùng kế phản gián đó!”. Gia Cát Lượng nói: “Nếu mày bắt được Chu Bao, thì mới chứng tỏ lòng thành thực”. Thế là Cao định và Ngạc Hoán dẫn quân đi giết Chu Bao, vừa hay lại gặp nhau trên dọc đường, bèn đâm chết, cắt lấy đầu mang đến gặp Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng cười lớn nói: “Ta cố ý cho người giết hai thằng giặc đó để biểu thị lòng trung”. Bèn lệnh cho Cao Định làm thái thú Ích Châu, cai quản ba quận; lệnh cho Ngạc Hoán làm nha tướng. Quân mã cả ba đường đã được dẹp yên.
Đặc điểm của Khổng Minh khi dùng kế phản gián lần này là, trước hết lấy nghĩa để tranh thủ Cao Định, sau đó gây hàng loạt mâu thuẫn giữa Cao Định với Ung Dĩ, với Ngạc Hoán, dùng bọn phản loạn giết bọn phản loạn, tự mình không phải mó tay vào, khiến Cao Định cất đầu Ung Dĩ, Chu Bao. Kế phản gián của Khổng Minh dùng để làm tan bọn phản loạn đúng là cao thêm một bước.