Cửu Châu - Thiết Phù Đồ

Lượt đọc: 21 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Một
Con Đường Này Lên Trời

❊ ❊ ❊

Ba ngày trước, chính là lúc Yểm Hỏa Thành nóng nhất trong năm, thương đạo từ Thanh Đô đến Hãn Châu cũng chỉ vào cái mùa nóng bức này mới có thể thông hành. Con đường duy nhất nổi tiếng này đi qua Yểm Hỏa Thành, kéo dài về phía tây, uốn lượn quanh co giữa những rãnh sâu đổ nát ở Ninh Tây, dâng lên từng lớp như bậc thang, từ mặt biển cứ thế dâng mãi lên đến đỉnh núi Diệt Vân Quan cao vút tận mây xanh, khí hậu dọc đường từ oi bức chuyển thành cực hàn, đường đi lại càng hiểm trở tuyệt luân, giống như một sợi tơ nhện cực mảnh vấn vít giữa chốn vạn trùng sơn lĩnh, người ta gọi đó là "Đăng Thiên Đạo".

Tương truyền các thương lữ xuất phát từ Yểm Hỏa, mười phần thì có bốn phần sẽ vì lạc đường hoặc chết cóng, đói khát, thổ phỉ bỏ thây trên sợi tơ nhện này, mà trong sáu phần sống sót trở về, lại có ba phần hoặc vì súc vật ngã xuống vực thẳm mà tổn thất hàng hóa, hoặc bị quan kiểm bóc lột quá mức mà mất cả vốn liếng — bất cứ lúc nào cũng vậy, người kiếm được tiền luôn là số ít — dẫu là thế, đối với nhiều người mà nói, liều một phen mạng sống vẫn còn hơn chết ở cái Hạ Thành Yểm Hỏa dơ bẩn, chật chội, hôi thối, rách nát, nghèo túng, nhớp nhúa lại đè nén, thiếu hy vọng.

Người Vô Dực ở hạ thành Yểm Hỏa Thành tuy đều không thuộc chủng tộc có thể bay lượn và có quan hệ mật thiết với rừng rậm, nhưng họ sống ở Ninh châu đã lâu, sớm đã chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi phong tục của người Vũ, tin rằng giữa cây cối và con người sẽ có mối cảm ứng kỳ diệu, cho nên trong tháng này, trước cửa của rất nhiều hộ gia đình ở hạ thành đều sẽ dựng lên một cây liễu dài. Họ sẽ điêu khắc khuôn mặt của người đi xa lên thân cây liễu, nếu cây liễu nảy mầm, điều đó có nghĩa là người ở phương xa vẫn bình an vô sự; nếu cây liễu héo khô, thì tức là người ở bên ngoài cũng đã gặp tai ương. Các thương nhân ở Yểm Hỏa Thành đều gọi tháng này là tháng "Độc Mộc".

Cách cửa tây Yểm Hỏa Thành hơn mười dặm đường, tựa lưng vào vách đá cao ngất bên bãi biển, có một quán trọ nhỏ như thế. Quán trọ không có bảng hiệu, nhưng lại có ba chiếc xương ngà hải mã khổng lồ vắt chéo nhau trên mi cửa, trước cửa không cắm cây liễu, mà lại dựng hơn mười cây mâu đã ngả đen, những cây mâu đó rõ ràng đều từng trải qua nước biển ngâm tẩm lâu ngày, cán gỗ bị ăn mòn sắp gãy đến nơi, phần mũi mâu vốn sắc bén đến đáng sợ nay phủ đầy những đốm đồng màu lam xanh.

Quán trọ tuy nhỏ, nhưng hàng rào gỗ dày dặn lại vây ra một cái sân vô cùng rộng rãi, dăm ba cây hòe cổ thụ đầu vẹo cổ, rải xuống một khoảng râm mát khắp mặt đất. Một bên sân chất đống những tảng thịt cá khô to tướng, mỗi tảng rộng ba thước vuông, bên kia lại bày bảy tám cái bàn, ngồi xuống chiếc ghế băng dài, liền có thể nhìn thấy ánh nước lấp lánh dưới vách núi.

Đây chính là thời điểm bận rộn nhất trong tháng Độc Mộc, quanh bàn vây ngồi sáu bảy vị khách qua đường dừng chân, ai nấy y phục rách rưới, vẻ mặt phờ phạc, bộ dạng như vừa chết đi sống lại, chính là những vị khách từ Hãn Châu quay về.

Từ Yểm Hỏa mang theo lụa là, vải vóc, đồ gốm vàng bạc, trang sức châu báu xuất phát, qua Tam Mỉa Hà, Thiết Kiếm Hạp, Hổ Bì Dục, Diệt Vân Quan, cho đến tận Đề Sóc Phương Nguyên, rồi lại mang theo da thú, Thanh Dương Hồn, vàng ròng, sắt thô theo đường cũ trở về, ngót nghét vừa tròn ba mươi ngày. Những người có thể thông qua hành trình kinh tâm động phách ba mươi ngày này mà trở về, đều là những thương phán cường tráng nhất, hung ác nhất, cảnh giác nhất, xảo quyệt nhất, gan lơớn nhất và vận may tốt nhất trong Yểm Hỏa Thành.

Lại nói lúc này, có người ở ngoài sân lớn tiếng gọi: "Hổ Đầu, đừng để thịt cá ở bên ngoài! Trân Châu Trư mà phơi nắng, muối sẽ tủa ra, hương vị nhạt đi thì không ngon đâu."

Hổ Đầu đáp một tiếng, đẩy cửa bước ra từ căn bếp khói bay nghi ngút, hắn ở trần, thắt một chiếc tạp dề rách tung tóe, gương mặt bị bồ hóng bôi đen nhẻm, dưới nách trên vai, chỉ một tay đã vác gọn bảy tám miếng thịt cá, như một ngọn núi nhỏ trực tiếp di chuyển vào trong bếp.

Người gọi lớn chớp mắt đã đến trước sân, một cước đá văng cửa xông vào: "Hổ Đầu, mau dọn bàn ghế, có mối làm ăn tới rồi!" Kẻ hô hào này là một tên mập, đầu trọc lốc, trên đỉnh luôn bốc lên một luồng hơi nóng, thịt trên mặt quá nhiều, ép đôi mắt lại chỉ còn thành một đường chỉ, bên dưới chiếc mũi lại là một hàng rỉa mép đen cực kỳ đậm đặc dày dặn được chải chuốt vô cùng tinh tế. Người này chính là chủ quán trọ Khổ Long.

Khổ Long giắt một chiếc khăn lông, mày cười mắt híp đảo mắt nhìn quanh một lượt, lau tay lên chiếc tạp dề bên hông, ngước lên nhìn mặt trời một cái, rồi lại lách người ra ngoài cửa. Chân hắn ngắn, ngặt nỗi lại thích chạy nhảy, nhìn từ xa trông giống như một giọt thủy ngân lăn qua lăn lại. Con đường phía tây bụi mù mịt, chính là có khách tới.

Bụi mù đến gần thì tản ra, lộ ra một đội nhân mã xe cộ lớn. Đó là hai trăm tên nô lệ, bưng khua tráp đựng đồ, xua đuổi vô số xe bò tiến lên, những tạp dịch quất roi thì cưỡi ngựa phi nước đại chạy đi chạy lại xua đuổi đám nô lệ này, bận rộn đến mức mồ hôi đầm đìa, qua hàng chục chiếc xe bò kẽo kẹt phát ra tiếng động, lao tới từng đội kỵ binh y giáp tươi tắn, hộ vệ cho mười hai chiếc xe ngựa sang trọng, mỗi một chiếc xe ngựa đều do bốn con tuấn mã sắc ngọc bích cao lớn như nhau kéo, bất kể là hàm thiết giậm ngựa đều mạ vàng, bánh xe bọc đồng nghiền ép mặt đất phát ra tiếng rên rỉ không ngừng.

Khổ Long thấy trong đội kỵ binh có một vị tướng quân đang được vây quanh, vị tướng đó mặt vàng da bọc xương, hai chòm râu cứng như kim, mặc giáp đen đội mũ bạc, trên đỉnh mũ có một chòm lông cờ, giống như cán cờ vươn cao lên, trông cũng ra vẻ uy phong lẫm liệt. Y khoác một chiếc áo choàng màu xanh sẫm, bên dưới áo choàng lộ ra một chuôi vỏ đao, trên vỏ khảm hai hạt minh châu lớn. Dù chưa biết thanh đao đó thế nào, chỉ riêng hai hạt châu này thôi đã là giá trị liên thành rồi.

Khổ Long thấy trên cờ hiệu của đội kỵ mã có hình một đóa trà hoa màu vàng, trong số những vị khách ra xem náo nhiệt đằng sau có người "ồ" lên một tiếng, nói: "Nghe nói Sa Th đà Man ở phía tây, Trà Thược Thành sắp mất rồi, hóa ra người giàu sang đều trốn cả đến đây."

Đang nói ngấm ngứa, vị tướng lĩnh kia nhảy xuống ngựa, trừng mắt nhìn đám đông vây xem. Mọi người bị khí thế của hắn áp đảo, đều cung kính cúi đầu xuống. Vị tướng đó ngẩng cao đầu sải bước, hiên ngang đi đến trước một chiếc xe, đột nhiên cúi người xuống, lộ ra vẻ mặt nịnh nọt, nói: "Công tử muốn xuống xe sao?"

Y vất tay một cái, hai tên bộc nhân mặc gấm tím nhanh bước tiến lên, cúi người trước xe. Từ trên xe thêu bức bách thú lưu ly đồ vươn xuống một chiếc ủng da nai, giẫm lên lưng bọn họ, người bước xuống lại là một vị công tử trẻ tuổi mặt đẹp như ngọc. Vị công tử kia nhìn tuy có chút gầy yếu, thế nhưng mặt mũi thanh tú, môi đỏ mặt trắng, mặc áo lụa lấy lụa màu xanh khổng tước làm nền, viền lụa màu trắng, bên trên thêu hai đóa trà hoa to lớn tươi tắn như sắp rỉ nước, trên đai lưng là tua rua bện bằng chỉ vàng, tuy trải qua đường sá mỏi mệt, vậy mà lại sạch sẽ không dính chút bụi nào, trên ngón trỏ tay trái có một chiếc nhẫn màu lục nhạt, lại càng tôn lên đôi bàn tay trắng nõn như ngó sen của vị công tử đó. Người nhìn thấy không khỏi đều cất lời khen ngợi: Quả là một vị công tử tuấn tú.

Vị tướng quân gầy gò vàng vọt giơ roi lên chỉ vào quán trọ, quát lớn: "Mau mau mau, đi dọn dẹp sạch chỗ kia cho ta." Ngay lập tức có hơn mười tên binh đinh đi vào, vách roi xua đuổi toàn bộ số thương khách đang ngồi trong sân ra ngoài. Mấy tên tiểu đồng trốn chậm, cũng ăn mấy roi, trong chốc lát trong quán trọ đã bị dọn sạch trơn.

"Ấy da ấy da, dưới chân quý nhân có vàng." Khổ Long thấy khách trong quán bị đuổi đi cũng không tức giận, cười hì hì chạy nhỏ lên trước đón tiếp hỏi: "Không biết hai vị khách quan muốn dùng gì?"

"Khách quan?" Vị tướng quân kia nghe thấy cách gọi này thì giận tím cả mặt, y trừng to đôi mắt, tựa như chịu phải sỉ nhục cực lớn: "Ta đường đường là Khinh Xa tướng quân, gọi ta là khách quan? Thật sự là vô lý hết sức, ta muốn quyết đấu với ngươi! Quản gia quản gia, người đâu, mau thảo chiến thư cho ta..."

“Đừng mà, đừng mà,” Khổ Long vô tội chớp chớp hai con mắt, dịch chuyển hai cái chân nhường ra một con đường, “Đừng quyết đấu, đừng quyết đấu, quyết đấu rất tổn hại thân thể đấy… Hai vị khách quan cứ tự nhiên, tự nhiên.”

Vị công tử kia bước vào trong sân, dùng một chiếc khăn tay trắng ướp hương che mũi xua xua tay, ngồi xuống bên một chiếc bàn trông còn có vẻ sạch sẽ — trước đó có bộc nhân đã lót một lớp đệm nhung chỉ vàng trên ghế băng — “Tiểu Tứ, đừng bận rộn nữa, dọc đường đi xe xóc nảy dữ dội, ta không muốn ăn gì cả, mang chút điểm tâm trà là được rồi.”

“Phải phải.” Vị Tiểu Tứ tướng quân khom lưng nói, quay đầu lại liền cao lên mấy phần, y cau mày, vẻ mặt nghi ngờ dán chặt vào Khổ Long đánh giá lên xuống: “Ngươi chính là chủ quán? Nơi này có điểm tâm trà gì chứ? Mau chóng chỉnh đốn vài phần tươi mới sạch sẽ dọn lên đây.”

Khổ Long cố sức gạt đám đông ra, xông lên nói: “Ấy ấy ấy, có có có, ở chỗ chúng ta cái gì cũng có, ngài xem nhé, chúng ta có: Tào Lưu Thần Tiên, Bát Vị Vi Điệp, Ngươi Là Vương Bát, Tiên Quả Long Thuyền, Hà Hoa Phù Dung, Ngươi Là Quy, Kim Đường Bạch Ngọc, U Lỗ Thổ Châu, Lão Nương Ngươi Can, Hạnh Nhân Đậu Hủ, Bát Bảo Qua Điêu… Ngài muốn gì là có nấy…”

Tiểu Tứ tướng quân bị một tràng báo món như gió bão của hắn làm cho choáng váng, cũng chẳng nghe ra uẩn khúc trong đó, ngẩn ra hồi lâu mới nói: “Những thứ khác tạm gác lại đã, món ăn nhất định phải sạch sẽ… Công tử nhà chúng ta kiêng kỵ nhất chính là không sạch sẽ…” Y dừng miệng lại, vẻ mặt nghi ngờ nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay đen đúa vừa dầu vừa bùn của Khổ Long hết lần này đến lần khác.

“Tuyệt đối sạch sẽ,” Khổ Long vỗ ngực đầy dầu mỡ bảo đảm nói, “Những cái khác thì không dám nói, chứ nói đến sự sạch sẽ, toàn bộ Yểm Hỏa Thành không có nhà bếp nào dám so phẩm vị với Băng Nha Khách Sạn chúng ta…” Đang nói thì vị công tử kia bỗng thét lên kinh hãi, nhảy dựng lên ghế, chỉ vào hư không hét lên: “Có… có có có côn trùng!” Quả nhiên, từ trong bếp bay ra một con ruồi đen, “bốp” một tiếng đậu ngay chớp mũi Tiểu Tứ tướng quân. Nói thì chậm mà xảy ra thì nhanh, Khổ Long rút chiếc khăn lông từ trên vai xuống, xoạt một tiếng vỗ thẳng lên mặt Tiểu Tứ tướng quân, tay kia lẹ làng thò ra rụt lại, nhanh như chớp, đã bắt gọn con ruồi bị vỗ choáng ngất trong tay. “Không phải côn trùng, là ruồi nuôi trong nhà,” Khổ Long ngượng ngùng giải thích, “Tiểu nhị trông nom không kỹ, thả thú cưng ra ngoài mất rồi.”

Tiểu Tứ tướng quân bị khăn lông quất cho hoa mắt chóng mặt, y mang theo vẻ mặt không thể tin nổi hếch mũi lên, nhìn quanh bốn phía, không tìm thấy con ruồi đó đâu, liền nổi giận đùng đùng: “Ngươi còn nói chỗ các ngươi sạch sẽ? Con côn trùng to thế này…”

Khổ Long kiên nhẫn sửa lại cho y: “Là ruồi.”

Tiểu Tứ gào thét lớn kiên quyết nói: “……Con côn trùng to thế này, đụng làm mắt ta hoa cả lên! Đừng tưởng ta không nhìn thấy, chỗ ngươi chính là không sạch sẽ — ta ghét nhất là có kẻ lừa gạt ta — ngươi có tin không, nếu là mười năm trước, ta đã sớm đâm chết ngươi một dao rồi!”

Thấy y làm bộ muốn rút thanh bảo đao đính minh châu ra, Khổ Long gật đầu liên hồi như gà mổ thóc. “Tin tin tin ta tin,” hắn nói, chớp mắt đã lùi như rắn ra ngoài khoảng cách an toàn.

Vị tướng quân sải bước đi tới đi lui trong sân hai bận, bốn phía kiểm tra xem có vật gì khả nghi hay không, y đá vào đống thịt cá mà Hổ Đầu vẫn chưa dọn xong, phát hiện đó là những tảng thịt cá được xếp chồng lên nhau, “oành” một tiếng lại dấy lên một đám côn trùng hoặc ruồi nhặng đen nghịt như mây đen, lao thẳng vào mặt vào mắt y. Y hét lên như sấm: “Thứ dơ dáy thế này, ta không ăn. Chủ quán ——”

“Có mặt.” Khổ Long lăn như một quả bóng đến trước mặt y.

“Ngươi mau cút cho ta, ta không muốn nhìn thấy ngươi nữa!” Tướng quân vừa nghẹn ngào vừa thét lên, quay ngoắt người chủ quán lại, dùng sức đẩy ra ngoài.

Khổ Long vừa thở dài, vừa nói câu “dĩ hòa vi quý sinh tài” đi ra ngoài, vừa ân cần nhìn Tiểu Tứ tướng quân nói: “Khách quan, ngài hình như đang khóc kìa.”

“Không cần ngươi quản.” Tiểu Tứ quẹt mặt một cái nói, “Chúng ta tự làm.” Y vẫy tay gọi lên bốn năm kẻ ăn mặc như quản gia, phân phó: “Công tử đã nói, làm đơn giản chút.”

Lệnh vừa phát ra, tức thì hàng trăm chiếc xe bò đã bị mở lồng ra, bộc nhân chuyển động tới lui như bánh xe, trong sân chớp mắt đã dựng lên một chiếc ô lụa xanh, màn lụa màu tím thêu rồng vàng lớn được vây quanh khắp sân, mâm quả mứt được dâng lên cuồn cuộn như nước chảy, trong chốc lát đã bày đầy bảy chiếc bàn, còn chất đống cả dưới đất, khiến cho những thương khách lữ hành nhìn đến mức trợn mắt há mốc mồm. Mười hai vị nhạc sư áo rộng tay dài chật vật chạy lên trước, quỳ ngay vào bụi đất giương trận thế, tức thì tiếng tơ trúc nổi lên bốn bề. Tiếp đó lại có hai mươi tên nô bộc áo xanh nhanh bước tiến lên, thậm chí còn mang theo cả xẻng nấu ăn gạch đá, dựng ngay tại chỗ tám chiếc lò bếp quân dụng, họ không tìm được củi khô, liền tháo hàng rào ván gỗ dài bảy tám trượng ra chẻ thành từng thanh nhỏ, lại có thêm mười sáu đồng tử dùng củi hàng rào châm lửa dưới bếp, tám vị đầu bếp cho nguyên liệu nêm dầu, đổ nước suối thanh khiết mang từ Thanh Đinh Sơn đến, nhóm lửa nấu ăn, chẳng mấy chốc toàn sân đã thơm phức mùi thơm.

Tám vị đầu bếp đó đều là những đại sư trù nghệ nổi tiếng trong vương phủ Trà Thược Thành, lúc này ai nấy đều dốc sức, om, chiên, xào, thấu, ninh, dùng hết toàn lực chỉnh đốn món ngon sở trường, báo tên ra đều là những món ăn trân phẩm nổi danh Cửu Châu: Phù Dung Mẫu Lệ dùng trân châu mẫu lệ hồ Băng Kính thành Tuyền Minh làm nguyên liệu, Mật Chế Lộc Phổ dùng thịt hươu đỏ ở rừng cây Khô Tuyền ngoài thành Hoành Ngọc làm nguyên liệu, Hạt Đào Tú Mãng dùng cự mãng ở Thanh Tiêu Sơn làm nguyên liệu, còn có Dực Bạng Tương Tranh dùng chim sẻ ở Quải Bài Sơn và bào ngư ở Đào Uyên Hải làm nguyên liệu.

Vị tướng quân kia giơ chân đá cho một tên quản gia lộn nhào một vòng: “Bọn mày làm ăn kiểu gì thế? Giai Bích Nhưỡng thượng hạng sao lại không ăn kèm với đá lạnh, còn không mau đi lấy tới.”

Quản gia từ dưới đất bò dậy, mặt mếu máo nói: “Chúng ta vốn dĩ trong xe tùy thân đều có chứa hồ băng để ướp rượu, nhưng ban nãy trên đường đều bị hất đổ cả rồi, rượu đã ướp lạnh cũng đều đổ sạch.”

“Vậy thì đi đập thêm ít đá lạnh về ướp đi. Cái này mà cũng cần ta dạy ngươi sao?” Tiểu Tứ tướng quân nhấc chân làm bộ muốn đá, quản gia lăn lê bò trườn chuồn mất, vội vàng hô hào thủ hạ nô bộc kéo tới một chiếc xe bò ở đằng xa.

Hóa ra trên chiếc xe bò kia, lại chở đầy bông gòn và mùn cưa dày cộp, bên trong bọc những tảng băng lớn trong suốt như ngọc. Ngay lập tức hơn mười tên bộc nhân áo xanh dùng rìu bạc dài chẻ ra sáu bảy thùng đá vụn, đưa vào trong sân, rải bày khắp nơi, lại còn đặt hai vòm rượu nhỏ vào trong đống đá vụn. Lúc này đang là giữa mùa hè oi ả, thế nhưng quán trọ nhỏ bé này trong chốc lát lại trở nên băng tuyết rợp trời, hơi lạnh thấu xương.

Tiểu Tứ tướng quân cau mày đánh giá ngược xuôi tất cả những thứ vừa được làm ra này, tám đĩa món nhắm kia lại càng dùng ánh mắt cực kỳ nghiêm khắc cay nghiệt soi xét hết lần này đến lần khác, chỉ chọn ra bốn đĩa trong số đó, rồi cố gắng nứt miệng cười phụ họa với công tử Trà Thược: “Nơi khỉ ho cò gáy thế này, chỉ đành tạm bợ một chút thôi — công tử ngài cứ từ từ dùng.”

Khổ Long từ lúc bị đuổi khỏi sân vẫn luôn đứng ngoài khoanh tay quan sát, người ta đào hố xây bếp trong sân nhà hắn hắn cũng không thèm bận tâm, người ta tháo hàng rào ván gỗ của hắn hắn cũng không tức giận, vẫn giữ nguyên bộ dạng cười hì hì dĩ hòa vi quý sinh tài. Cho đến khi trong sân hương thơm nức mũi, tám vị đầu bếp cung kính lui xuống, đổi lại bốn tỳ nữ mặc áo lụa mang món ăn lên bàn, bày biện xong đũa ngọc chén vàng, cùng bát đĩa men sứ.

Khổ Long chen chúc trong đám đông xem náo nhiệt, vươn cổ nhìn bốn món ăn kia, đột nhiên sải bước tiến lên, một cước đạp lật chiếc bàn. Nước canh mảnh sứ bắn tung tóe bốn phía, văng lên người đám đông đang vây quanh hầu hạ bên bàn.

Tiểu Tứ tướng quân giận dữ, nhảy dựng lên, xoạt một chiếc rút thanh bảo đao sáng loáng nhắm thẳng vào Khổ Long.

Một chi tiết Ất

Lúc mọi người ở Băng Nha Khách Sạn đang rút đao tương hướng, Thanh La đang cho lạc đà uống nước bên một cái giếng trong Yểm Hỏa Thành. Đang là mùa nóng bức nhất của Ninh Châu, toàn bộ Yểm Hỏa Thành dưới ánh mặt trời nóng bỏng rực lửa chẳng khác nào một xưởng rèn.

Thanh La đứng một lúc, liền cảm thấy mái tóc của mình khô khốc xoăn tít, trên đỉnh còn bốc lên làn khói lam.

“Cái thời tiết quỷ quái này.” Y lầm bầm nói, hắt một gáo nước xuống đất, hơi nước nóng rực mang theo mùi đất xộc thẳng lên, làm cho những bình lọ và đồ dùng trên gói đồ trên lưng lạc đà kêu lanh canh. Y vứt chiếc gáo vào cái máng nước đẽo bằng đá xanh, khi đứng thẳng người dậy, vừa vặn chạm phải một đôi mắt mèo màu xanh lục.

“Lạc đà của ngươi đẹp quá.” Nó ngồi trên thành giếng, lắc lư hai chân trước sau như đánh trống nói. Nhìn thoáng qua, cô bé này vừa tròn tuổi cập kê, đúng vào cái loại con gái vừa ngơ ngác lại vừa tâm tính phù nợ, giống như chiếc đĩa nông lòng mà người Ninh Châu dùng để uống rượu, Thanh La cảm thấy bản thân chỉ liếc một cái là có thể nhìn thấu toàn bộ sự xảo quyệt cùng những mưu kế vô hại của cô bé. Sự nông cạn và thuần chân bộc lộ ra ngoài này, khiến y nhanh chóng có thiện cảm với cô bé tinh nghịch giống như con mèo nhỏ này — đại khái đây cũng là tâm tư của tất cả những người đàn ông lần đầu tiên nhìn thấy Lộc Vũ.

Cô bé cười tủm tỉm ngồi ở đó, mặc một chiếc áo ngắn màu lục nhạt ống tay áo hẹp, bên ngoài khoác một bộ váy lụa mỏng manh, chiếc đai lưng thắt ngang vừa nhỏ vừa hẹp, một đôi bàn tay đôi bàn chân trông nhỏ nhắn tội nghiệp đến mức quá mức, giẫm lên chiếc trục giếng quấn thừng thô, cứ luôn bồn chồn dậm tới dậm lui, giống như chóp cái đuôi luôn nguẩy qua nguẩy lại trên mông mèo con.

Có lẽ vì ánh mặt trời quá chói chang, cái bóng của cô bé mờ nhạt, nhẹ nhàng tựa như hương thơm lơ lửng trên mái tranh nhà.

Thanh La nhếch miệng cười với cô bé. Lập tức cảm thấy trong miệng nuốt vào một đống bụi đất. Không biết vì sao, nụ cười tinh nghịch mà cô bé đáp lại y lại mang đến cho y một luồng cảm giác mát mẻ.

“Nó cao thế này trắng thế này, mỗi ngày phải ăn rất nhiều thứ nhỉ?”

“Ừm… nó là lạc đà mà,” Thanh La đáp, “có thể ba bốn mươi ngày không ăn không uống, nhưng một khi đã ăn thì điên cuồng dữ dội, năm mươi tráng sĩ cũng không kéo lại nổi. Ta trước kia từng nuôi một con lạc đà, thích nhất là ăn bánh làm từ ớt đỏ, hương liệu và bột mì, một hơi có thể ăn hơn hai trăm chiếc đấy.”

“Á chà, hơn hai trăm chiếc,” cô bé thét lên một tiếng, đổi sang một ánh mắt ngưỡng mộ nhìn y nói, “Ta không biết có nuôi nổi không nữa.”

Thanh La cười với cô bé, lộ ra hàm răng trắng đều. Răng của người Mãn tộc bọn họ đều đẹp, du mục trên thảo nguyên, cần phải có bộ hàm sắc nhọn như đá cũng có thể gặm nổi này.

Y còn thích cười, cũng thích những người hay cười, thế nhưng từ khi bước vào Yểm Hỏa Thành đến nay, y liền không hề nhìn thấy một nụ cười nào nữa. Có lẽ vì thời tiết quá nóng, mỗi một người y gặp đều giống như khúc gỗ, họ đứng trong mỗi một tấc bóng râm dù chỉ nhỏ bằng hạt mè có thể tìm thấy, ngây người đứng trân trân ở đó. Họ cố gắng dán chân chặt xuống đất, tựa như muốn giống như cây cối, cắm sâu xuống tận đáy đất, hấp thụ chút hơi mát ít ỏi đó.

Trước khi vào thành ở quán trọ ngoài thành, y ngược lại từng gặp một cậu nhóc cười với y, có điều tiểu tử kia trông có vẻ rách rưới, duỗi thẳng chân trên ghế băng, lộ ra phần đế giày mòn vẹt, nghĩ đến cũng là người nơi khác, không tính được. Cho nên lúc này y nhìn thấy nụ cười của cô bé đó, liền cảm thấy trong lòng nhẹ nhõm hơn rất nhiều. Y thầm nghĩ, chà, hóa ra người Yểm Hỏa Thành không đáng sợ như trong truyền thuyết, bọn họ cũng vẫn biết cười mà — hơn nữa lại còn cười đẹp đến thế.

“Bây giờ ta chỉ nuôi nổi một con mèo.” Cô bé nói. Một con mèo đang vểnh cao cái đuôi tựa như từ trên trời rơi xuống đột nhiên xuất hiện trên vai cô bé. Nó xù lông trên lưng chịu đựng hành động thân mật vỗ đầu nó của cô bé, đồng thời lại nheo đôi mắt to màu vàng trừng trừng nhìn chằm chằm vào vị đại hán tràn ngập hơi thở cỏ dại trước mắt, râu dựng ngược lên cả gốc, bộ dáng như sẵn sàng liều mạng nhào tới bất cứ lúc nào. Bộ dáng ấy đang cảnh cáo y, nếu như y cũng dám học theo cô bé vỗ đầu nó, thì phải cân nhắc hậu quả vô cùng nghiêm trọng.

Thanh La uống nước xong cho lạc đà, từ trong bọc lấy ra một chiếc lược sừng trâu dài chải lông cho lạc đà.

Cô bé cười ha hả, tiếng cười giống như một đàn chim bồ câu bay lượn xé toạc cái thành phố oi bức ngưng đọng này.

Thời tiết cuối cùng cũng bắt đầu mát mẻ hơn.

Ánh chiều tà xuyên qua lớp bụi mù bay lượn, biến thành một thứ ánh sáng màu cam kỳ lạ. Bụi đất từ bầu trời xanh nhạt chầm chậm rơi xuống, rơi trở lại con đường màu vàng đất, cây cối xanh tươi và bụi rậm màu đen. Yểm Hỏa Thành dường như sống lại, có thứ gì đó bắt đầu lúc nhúc cử động ở góc phố, đó là những kẻ qua đường và cư dân nhân lúc hơi nóng đã hạ bớt đi ra hoạt động, dường như bọn họ cuối cùng cũng khôi phục lại bản tính con người từ trạng thái thực vật.

Ông trời cũng sống lại, Thanh La cảm giác được hai luồng gió lướt qua bên sườn mình, thổi cho y phục phồng cả lên, thoải mái vô cùng. Y vứt chiếc lược đi, hưng phấn ngẩng đầu gầm lên một tiếng về hướng gió thổi tới, tiếng hú ấy hung ác hệt như con sói đực gầm gừ dưới ánh trăng, truyền đi rất xa.

Ven đường có mấy người quay đầu nhìn y, Thanh La cũng kỳ lạ nhìn lại. Ở chỗ bọn họ, cao hứng rồi thì cứ nhằm vào đại địa vô tận mà hét lên mấy tiếng, hét đến khản cả cổ, hét đến trào máu trong miệng, đó đều là chuyện bình thường không thể bình thường hơn, thế nhưng ở đây, bên cạnh những căn lều thấp tè chật chội này, trong những con hẻm ngoằn ngoèo này, quả thực có chút không hợp thời.

Thanh La vô cùng ngượng ngùng lắc lắc đầu, cúi đầu nhặt lược.

Cô bé hình như cũng bị tiếng kêu của y dọa cho giật mình, cô bé nhìn vẻ mặt lúng túng của y, nhịn không được lại khúc khích cười lên. Thanh La không nhìn thấy nụ cười của cô bé, bằng không y sẽ phát hiện ra đó là một bộ dạng đang trêu chọc người khác. “Ngươi mới tới đây phải không?” Cô bé nói, nhìn y chải lông cho Bạch Quả Bì. Con mèo ngồi xổm trên bả vai cô bé, “meo” một tiếng, đồng ý với suy luận của cô bé, đồng thời đầy cảnh giác nhìn chằm chằm vào từng sợi lông trắng bay phấp phới theo gió được chải ra từ người Bạch Quả Bì.

Bạch Quả Bì được hầu hạ đến là thoải mái, nó nhắm nghi mắt, thong thả di chuyển cái cằm béo múp sang hai bên, không biết đang nhai thứ thức ăn quái quỷ nào trong tưởng tượng của nó.

Cô bé nhịn cười, ra điều nghiêm túc như một người lớn nói với y: “Người xấu ở đây nhiều lắm. Ngươi một mình đến đây — không sợ sao?”

“Không đâu nhỉ,” Thanh La do dự dừng tay cầm lược lại nói, “Họ nói, bên ngoài vẫn là người tốt nhiều hơn.”

Cô bé nhanh chóng ngắt lời y: “Đó là họ lừa ngươi đấy. Ngươi làm sao biết ai là người tốt hay người xấu chứ — ví dụ như, ây, mau nhìn xem, ngươi nói người này là người tốt hay người xấu —”

Thanh La ngẩng đầu lên, nhìn người mà cô bé chỉ điểm, lại là một ông lão râu tóc bạc phơ mặc áo vải xanh, trên quang gánh trùm hai tấm vải trắng, đầu đòn gánh treo hai tấm bảng sắt, rõ ràng là một tên tiểu thương bán bánh quế hoa bình thường. Đòn gánh ép cho lưng ông lão cong như đường núi, lúc này đang đi khập khiễng chầm chậm, chỉ sợ một trận gió thổi tới là có thể cuốn ngã ông lão.

Y phì cười: “Đây đương nhiên là người tốt rồi, còn phải nói nữa sao, ta thấy đưa đao cho ông ấy chắc ông ấy cũng không biết dùng thế nào đâu.”

“Ví dụ như người này, ví dụ như người kia, còn nữa còn nữa, ví dụ như người kia kìa?”

Ánh mắt của y theo ngón tay thon thả của cô bé nhìn qua từng người một, y nhìn thấy một người trung niên mặt mày sầu khổ tay lắc hai chiếc chập cõng đồng bán nước mơ chua, một người mù thể trạng gầy yếu tay gảy đàn tam huyền hát khúc Khương Sơn Điều, một người gầy gò mệt mỏi đẩy xe đẩy làm buôn bán nhỏ, một người trần áo trắng vác trên vai gạt mồ hôi làm cửu vạn tráng sĩ……

“Đương nhiên là người tốt rồi, đương nhiên là người tốt rồi, đương nhiên là người tốt rồi……” Y liên tục đáp lại một mạch.

“Ví dụ như người này.” Cô bé chỉ vào một tên đại hán đang đi về phía bọn họ trên con phố dài.

“Đương nhiên……”

“Này!” Tên đại hán kia gầm lên giận dữ với bọn họ, ngắt lời chữ đương nhiên của y.

Thanh La lúc này mới nhìn rõ tên gia hỏa đang đi thẳng tới này to cao lực lưỡng, toàn thân khoác giáp trụ mắc xích, thắt lưng kêu lanh canh đinh đang, treo đầy những thứ binh khí chuôi ngắn thoạt nhìn vô cùng đáng sợ, sau lưng còn giắt một cây chiến phủ dài.

Thanh La có chút ngẩn người. Y trân trân nhìn thẳng vào tên đại hán vạm vỡ đó, trong đầu chuyển động không ngừng, thế nhưng lại chẳng hiểu ra cái quái gì cả, trơ mắt nhìn đại hán đút hai ngón tay vào miệng, huýt một tiếng còi chói tai.

Lập tức tiếng người kêu ngựa hí, tiếng binh khí va chạm, cùng với tiếng bước chân nặng nề chạy rầm rập của những kẻ mặc giáp trụ, bốn phía vây lại. Những cư dân Yểm Hỏa Thành ban nãy hãy còn chen chúc trên phố, đối với tình cảnh này sớm đã quen đến thành thói quen, chỉ chớp mắt đã tản đi sạch trơn.

Một chi tiết Bính

Sáng sớm tinh mơ ngày hôm nay, lão Hà Lạc Thiên Lan Mạc Đồng đã bị hai con quạ tranh nhau con chuột chết trên mái hiên làm cho tỉnh giấc, hắn phiền muộn trèo ra khỏi chiếc võng treo, gãi gãi cái đầu trọc lóc chẳng còn mấy sợi tóc của mình ngẩn ngơ một lúc. Ánh nắng xuyên qua lớp bụi màu vàng, không chút che chắn xuyên qua khung cửa sổ trống không rọi vào căn phòng trống hoác, đến một chút hơi mát buổi sáng cũng không có.

Cô bé nhảy xuống thành giếng, có điều không có ý định rời đi. Mà là khoanh chân ngồi ngay bên cạnh hắn, chăm chú nhìn từng cử động chải lông của hắn: “Trông nó ngoan quá vậy.”

“Mỗi một con lạc đà đều có tật xấu của riêng nó.” Thanh La chớp chớp mắt, thấy cô bé chẳng thèm phủi bụi đã tót cái ngồi phịch xuống đất đầy bụi đất, không khỏi có chút kinh ngạc, thế nhưng trên thảo nguyên bọn họ cũng đều như thế này, điều này khiến y cảm thấy cô bé này càng thêm gần gũi hơn, “Đây là tục ngữ ở chỗ chúng ta đấy. Ví dụ như, Bạch Quả Bì không thể đụng vào rượu, nếu nó ngửi thấy một chút mùi rượu thôi, cái bộ dáng nổi đóa lên ngươi chưa thấy đâu……” Y làm mặt quỷ, giả vờ làm ra vẻ bị làm cho ghê tởm.

Sáng sớm tinh mơ bị quạ làm cho tỉnh giấc đương nhiên sẽ chẳng có chuyện gì tốt đẹp, Mạc Đồng hối hận vì đã không thả một con mèo ở cây hòe lớn trong sân, thế nhưng hắn mãi vẫn không nghĩ thông suốt rốt cuộc là tiếng chim kêu ồn ào, hay là con mèo ham sắc được câu dẫn đến sẽ kêu hay ho hơn một chút.

Trong vạc sớm đã hết nước, hắn khoác một chiếc áo cộc tay xách theo thùng nước vừa mở cửa ra, thì liền thấy Vương Hổ nhà đối diện hoảng hốt buông thỏng tay vứt chiếc chậu đồng trong tay xuống, chỉ lách người một cái đã thót vào trong cửa, “rầm” một tiếng đóng sập cửa chính lại cái rầm.

Hắn ngẩn ra một tẻo, thắc mắc không biết có phải bản thân vừa mới bị trúng gió méo cằm rồi hay không, cho nên bộ dáng dữ tợn dọa sợ hàng xóm láng giềng? Sau đó hắn quay đầu lại nhìn thấy Lộc Vũ mặc chiếc áo màu xanh lục đi xuyên qua con đường bay đầy bụi mù, nghênh ngang đi tới, bên chân cô bé còn đi theo một con mèo cũng nghênh ngang không kém đang vểnh cao cái đuôi.

“Ta biết ngay mà.” Lão Hà Lạc lầm bầm nói, xách thùng nước lại rụt cổ vào trong sân, dùng động tác linh hoạt không hợp với tuổi tác đóng sập cửa lại như chớp giật, tiện thể cài thêm hai then cửa dày cộp nữa.

Dù sao trong chậu vẫn còn lưng lửng nửa chậu nước, hắn thầm tính toán, tạm bợ chải chuốt một chút cũng được — hôm nay không có cuộc hẹn quan trọng nào chứ? Trái ngược hoàn toàn với sự trống trải đơn giản đến cực điểm trong phòng, trong sân nhà hắn lại chất đầy những thứ tạp vật cũ kỹ: Một số dụng cụ hình thù kỳ quái, một số món đồ gia dụng có kiểu dáng giật mình, sáu bảy con rối gỗ cụt tay cụt chân chất ở góc xưởng, một chiếc vỏ đao trống nhỏ đến nỗi cắm không lọt lấy một cây tăm, lại thêm một chiếc xe bốn bánh nhỏ lật úp bụng lên trời dưới đất, bốn chiếc bánh xe lục cục quay tít không ngừng trong bầu không khí ấm áp.

Cành lá của cây hòe lớn tóm lấy vô số hình ảnh mặt trời thu nhỏ, rung bần bật trên đầu Mạc Đồng không ngừng. Hắn dùng nửa chậu nước nhỏ đánh răng, súc miệng, rửa mặt, cạo râu, tiện thể vuốt phẳng tóc lại, đột nhiên bàn tay của hắn liền dừng lại giữa không trung phía trên đỉnh đầu không động đậy nữa.

Hắn đứng ở đó lẳng lặng lắng nghe, xung quanh không nghe thấy âm thanh kỳ lạ nào, chỉ có vô số những con côn trùng bay nhỏ xíu bay ở sát mặt đất, tiếng vo ve trầm đục phát ra từ hàng ngàn hàng vạn đôi cánh đang múa lượn. Không có cảnh báo cũng chẳng có mùi vị bất thường, ông lão lùn vậy mà lại biết sự việc đã phát sinh một số biến hóa, có sự uy hiếp nào đó đang từ từ áp sát. Khi hắn cúi đầu ngẩn ngơ, liền nhìn thấy trên mặt đất bên chân từ từ phồng lên một cái bói nhỏ, tiếp theo một con nhện đen khua càng lớn từ trong đất nhảy phốc lên. Con nhện đó thoạt nhìn to lớn đến mức kỳ lạ, đứng ở đó liếm liếm chiếc vuốt trước của nó, xoay tròn chiếc đầu nhỏ xíu, dường như cũng có chút kinh ngạc vì sao bản thân lại xuất hiện ở cái nơi này.

Mạc Đồng trầm tư giẫm chết con nhện độc đó bằng một cước.

Sau đó, hắn ngẩng đầu lên, tâm tư đều đặt trên con nhện đó, thế nhưng mặt mày lại thành khẩn hướng về cái cây mà nói: “Ngươi đã rình ở đó hơn nửa đêm rồi, sao không vào trong ngồi chơi nhỉ?”

Một chi tiết Đinh

Vào thời điểm sớm hơn nữa của ngày hôm đó, hai đứa trẻ người Vũ đang đi trên Đăng Thiên Đạo hướng về Yểm Hỏa Thành. Y phục của chúng rách rưới, giày rách đế, mặt đầy bụi đất, hầu như không nhìn ra diện mạo ban đầu. Hai người này chính là Phong Hành Vân và Vũ Thường từ Thiết Nhai Thôn trải qua đường dài gian khổ mà đến, quê hương của họ đã bị đao và lửa của người Mãn tộc phá hủy. (Câu chuyện xem trong 《Cửu Châu · Phong Khởi Vân Lạc · Phong Khởi Hề》)

Vũ yêu Đốc Nhai vốn nằm ở phía đông Yểm Hỏa Thành, thế nhưng họ lại đi lỡ hai ngã rẽ, lại đi vòng sai đường, kết quả là rẽ thẳng đến cổng tây.

Đăng Thiên Đạo mùa này chính là lúc bận rộn nhất, đoạn đường gần Yểm Hỏa Thành này xe ngựa chen chúc người súc vật hỗn tạp. Từng chuỗi đội ngũ lạc đà đặt hàng hóa chất cao như núi trên lưng di chuyển, trâu sừng vẹo lật đôi mắt trắng dã kéo theo gánh nặng không thể chịu đựng nổi, từng đàn lợn sưng đầu gối cúi đầu bước đi như chuyển động chậm chạp, suốt dọc đường đập xuống hai hàng mồ hôi to bằng hạt đậu. Đi ở hai bên chính là những kẻ từ địa ngục trở về.

Phong Hành Vân kéo Vũ Thường bị đám đông đáng sợ này xô đẩy dạt ra bên đường, những hòn đá bị họ giẫm cho lỏng lẻo cứ thế theo những ngọn cỏ đung đưa ven đường lạo xạo lăn xuống vực sâu.

Trên một con đường như thế, họ đột nhiên nghe thấy một tiếng móng ngựa dồn dập, theo sau tiếng móng ngựa là một trận náo động và bụi mù bay ngút trời. Tất cả mọi người đều kéo chặt dây cương súc vật, kinh ngạc nhìn về phía sau.

Lũ người đó xuất hiện, bọn họ cúi đầu rạp mình trên lưng ngựa điên cuồng chạy hết tốc lực, những chiếc roi da dài quất bôm bốp, giáng xuống lưng của những thương phán ngu ngốc và la lừa vẫn còn ngẩn ngơ giữa đường, tựa như một cơn cuồng phong càn quét đám cỏ nổi bồng bềnh trên mặt nước dơ bẩn, khoét ra một con đường giữa đám súc vật và đoàn xe đông đúc chật chội này.

Phong Hành Vân nắm chặt tay Vũ Thường, cậu nhìn qua khe hở giữa đám người thấy những cánh tay giơ cao, những giọt mồ hôi rơi xuống bầu không khí ấm áp; trong khu rừng lúc lắc được cấu thành từ những chân ngựa lướt qua ào ào, cậu nhìn thấy có một nữ chiến sĩ mặc giáp ngắn thắt lưng đang ngồi ngay ngắn trên một con ngựa chiến bờm đen, áo choàng màu đỏ tung bay phấp phới trong gió như cờ hiệu, lộ ra bộ giáp vàng chói lọi như ánh mặt trời ở bên dưới.

Nàng lướt qua trước mặt thiếu niên, khắc sâu vào tâm hồn u tối non nớt của cậu một khuôn mặt quang minh sạch sẽ tựa như minh châu.

Vũ Thường bóp nhẹ cánh tay cậu một cái, cậu mới sực tỉnh lại, phát hiện bản thân bị bao vây trong một đám bụi mù lớn. Bọn họ co ro trong bụi mù ho khụ khụ một hồi lâu mới hoàn hồn lại, ngẩng đầu lên lại nhìn thấy đội kỵ binh nhỏ kia đã đuổi kịp một đội xe cộ đông đúc trang trí hoa lệ. Bọn họ không lướt qua cạnh đoàn xe, mà lại phi ngựa đâm sầm vào chiến mã của những vệ sĩ hộ vệ đoàn xe, đá văng những mảng bùn lớn.

“Đi mau, chúng ta qua xem xem xảy ra chuyện gì.” Phong Hành Vân nói, cậu kéo tay Vũ Thường trèo lên đỉnh một gò đất nhỏ, nơi đó sớm đã chen chúc một đống những kẻ buôn gán bán bưng, bọn họ đều đứng ở đó xem náo nhiệt.

Hai đội nhân mã trừng mắt nhìn nhau, có thể thấy rõ bọn họ từ sớm đã quen biết nhau. Lũ người kia trước tiên là nhổ nước bọt vào nhau, vất bùn, lớn tiếng mắng chửi, rồi sau đó liền lao vào ẩu đả. Người bên đoàn xe đông hơn, tay cầm gậy dài vây lại, thế nhưng nhóm kỵ đội đến sau kia lại hung hãn hơn nhiều, hú hét lẫn nhau, lao thẳng vào đám đông, dùng roi dài và chuôi đao từ trên cao giáng xuống đánh đập mạnh mẽ, lấy ít địch nhiều, không hề sợ hãi.

Phong Hành Vân đứng trên gò đất, cũng xem cuộc ẩu đả một lát, thế nhưng ánh mắt lại liếc sang nữ kỵ thủ mặc giáp vàng kia. Cô bé đó tuổi hãy còn nhỏ, thế nhưng hiên ngang ra dáng đại tướng, điềm tĩnh nhìn cuộc hỗn chiến bên vệ đường, vạt áo choàng màu đỏ tung bay theo gió bên chân nàng. Cậu bị hoa văn màu xanh lam dưới cổ nàng mê hoặc…… Cậu cứ thế trân trân nhìn chằm chằm vào nàng, thế nhưng lại không phát hiện ra Vũ Thường cũng đang đánh giá sườn mặt của mình. Cô bé người Vũ phảng phất như nhìn ra điều gì từ ánh mắt của cậu, cô bé thở dài, nhẹ nhàng buông tay cậu ra.

Cùng đi với nữ kỵ thủ đó có ba năm kỵ vệ hộ tống nàng đứng ở vệ đường, thỉnh thoảng có hai ba người vừa đánh vừa xô đẩy đụng sang bên này, đại hán bên cạnh thiếu nữ liền ra tay đuổi họ ra ngoài.

Sau một trận quần ẩu, thấy đám binh đinh của đoàn xe lớn chịu thiệt không ít, xe cộ cũng bị hất lật hai chiếc, bình rượu rồi hoa quả trên xe văng tung tóe đầy đất. Giữa trận náo động, phía bên kia lại có tên đội mũ bạc giáp đen cưỡi một con ngựa gầy ốm lắc la lắc lư dùng sức tông vỡ đám đông, xông lên phía trước, chụm ngón tay chỉ vào cô bé giáp vàng quát: “Á da phi~~ các ngươi là nhân mã phương nào, dám cả gan hoành hành quan đạo, đánh đập quan sai, quả thực là phản rồi!”

Trên mũ giếng của tên đó dựng đứng một cây tua rua sừng sững, trông cũng ra vẻ uy phong lẫm liệt lắm, lúc này y vuốt vuốt hai chòm râu ria mép, lớn giọng kêu la hống hách, cái đuôi cụt của con ngựa gầy sắc hạt dẻ dưới thân nhảy nhót lanh lẹ dưới ánh mặt trời.

Phía bên này một tên đại hán hộ vệ thiếu nữ cười lạnh một tiếng nói: “Rất không khéo, ngươi là quan mà chúng ta cũng là quan, giữa chúng ta ai phản ai thì hãy còn chưa biết chừng đâu.”

“Oa da,” Tiểu Tứ tướng quân la lên, “Gan lớn thật đấy, vậy mà dám cãi lại bản tướng quân… lẽ nào còn muốn quyết đấu với ta?”

Phong Hành Vân nhìn thấy cô bé đó lưng thẳng tắp ngồi trên ngựa đen, liếc Tiểu Tứ tướng quân một cái, nói: “Hóa ra gia tướng của Trà Thược Vương lại thô lỗ bỉ ổi, không hiểu quy củ như vậy.” Nàng kiêu ngạo ngẩng cao đầu, nói với Tiểu Tứ: “Nghe cho kỹ đây, ta là con gái của Vân Hồn chi hổ Vân Mãnh Thắng thành chủ Nam Dược, quân thượng hộ quân hữu vệ quân Vân Hồn thế tập tòng nhị phẩm khai quốc Nam Dược huân Vân Bùi Thiền. Muốn khiêu chiến với ta? Lập trước tìm người đưa chiến thư đây, sau đó đến Thanh Đô Đài Khởi Gác báo cáo thượng thư phó xạ phê chuẩn, nếu ngươi đủ tư cách, ta tự nhiên sẽ tự tay lấy cái đầu chó nhà ngươi — tên không hiểu quy củ.” Giọng nói của nàng vừa mang nét hoang dã lại vừa cực kỳ êm tai, lượn lờ tản vào Đăng Thiên Đạo đang chen chúc vô số khán giả.

Tiểu Tứ lúng túng gãi gãi đầu, đỏ bừng nửa bên mặt nói: “À há, hóa ra quyết đấu còn có nhiều thủ tục thế cơ à — xin lỗi nhé, ta mới thăng cấp, hãy còn chưa hiểu rõ lắm. Làm phiền làm phiền.” Y quay đầu ngựa, vội vã chuồn thẳng. Phong Hành Vân nghe thấy y vừa đi vừa tức tối nhỏ giọng hét lên: “Quản gia quản gia, người đâu, mau phối cho ta một vị thư ký đến, giúp ta viết chiến thư —”

Trong tiếng cười xung quanh, Phong Hành Vân lại đột nhiên dấy lên một cảm giác khó chịu, tựa như có gai nhọn đâm sau lưng. Cậu ngẩng đầu lên, phát hiện bầu trời không biết từ lúc nào đã giăng đầy một tầng mây mưa dày đặc, trên lớp mây đen kịt nặng nề, Ấn Trì, ngôi sao to lớn thường ngày khó bị nhìn thấy nhất vậy mà lại đang rực sáng thứ ánh sáng màu lam đậm.

Cậu vẫn đang ngẩn ngơ ở đó, Vũ Thường âm thầm giật giật tay áo cậu, cậu kinh ngạc nhìn quanh bốn phía, thấy mấy tên nam tử áo xanh lén lút hành động trong đám đông, bọn họ len lỏi qua đám đông, xuyên lên phía trước, hành động vô cùng không thu hút sự chú ý, tựa như loài cá nhói bơi lội trong vùng biển màu xanh.

Bọn họ vây hợp lại thành một hình bán nguyệt không theo quy tắc nào trong đám đông, thấp giọng dang rộng hai tay, trường bào màu xanh tự động không gió mà bay, những sợi tơ màu xanh thêu trên đó phảng phất như gợn sóng nước. Có một khoảnh khắc nào đó, hơi nước trong không khí nồng đậm đến mức ép cho màng nhĩ đau nhức.

Phong Hành Vân đột nhiên hiểu ra — mục tiêu của bọn chúng chính là thiếu nữ giáp vàng kia. Không cần bất kỳ lý do gì, cậu đã hét lên: “Cẩn thận!”

Vũ Thường không kịp bịt miệng cậu lại, thế nên kéo cậu một cái, cùng cậu trốn vào trong đám đông.

Vệ sĩ hộ vệ bên mình nữ thượng quân trẻ tuổi là kẻ quay đầu lại sớm nhất, tiếp theo đó tất cả những kẻ đang ẩu đả đều dừng tay lại. Ngựa kẹp chặt đuôi, bốn chân đứng trân trân trên vũng bùn. Mọi người trong bụi mù quay đầu lại nhìn gò đất nhỏ. Lúc này, dù là kẻ ngu ngốc nhất cũng có thể nhận ra sự uy hiếp to lớn đang ẩn chứa trong bầu không khí xung quanh, từng chút hơi nước trong không khí phảng phất như đang chấn động với một tần số tà ác.

Một chi tiết Mậu

“Không kịp nữa rồi.” Phong Hành Vân nghe rõ mồn một một tên vu sư áo xanh cười lạnh nói.

Bốn tên nam tử áo xanh này từ trong đám đông nhảy vọt lên không trung, hệt như cá nhói lao vọt lên mặt nước. Bọn họ khoanh chân giữa không trung, hai tay dang rộng về phía trước, tựa như bốn chiếc bóng cắt hình đông cứng, nhìn từ trên xuống dưới từ hình bán nguyệt mà họ vây hợp lại, vừa vặn bao vây thiếu nữ giáp vàng thành Nam Dược cùng đoàn hộ vệ vào bên trong.

Dưới mái vòm ảo này, hơi nước ngưng tụ thành bóng mây mờ ảo, cuồn cuộn dữ dội. Giữa những bóng mây phảng phất như hiện lên hình ảnh một con cóc khổng lồ, một đôi mắt lồi to trừng trừng nhìn xuống phía dưới, cái bóng do nó phóng xuống đã che khuất toàn bộ khu vực hình tròn.

Dưới sự bao trùm của cái bóng đó, sắc mặt tất cả các hộ vệ của nữ thiếu nữ giáp vàng đều biến đổi. Giờ đây ai nấy đều có thể nghe thấy tiếng vo ve phát ra từ cột nước đang khuấy động trong đám mây hình con cóc đó.

“Vũ Chi Kích.” Bọn họ lẩm bẩm nói, không kìm được đưa tay sờ vào chuôi đao bên hông.

Chỉ thấy sắc mặt thiếu nữ kia cũng biến đổi, quát lên: “Không có lệnh, ai dám rút đao? Hạ đao xuống!” Những tên hộ vệ kia như bị lửa đốt rụt phắt tay khỏi eo. Ngựa của họ bất an giậm chân dậm cẳng. Vòng ngoài vẫn còn hàng trăm tên binh đinh đối địch chen chúc lẫn nhau, khoảng cách gần đến mức đồ trang trí bằng đồng trên giáp trụ của họ đã phủ một lớp hơi nước trắng do đối phương thở ra, gần đến mức nước bọt chảy ra từ đôi môi dày cùm sụp của ngựa suýt nhỏ xuống chân chính chúng. Thế nhưng lúc này bọn họ không hề quan tâm đến những vấn đề này, tất cả mọi người đều ngẩng đầu chăm chú không chớp mắt nhìn chằm chằm vào đám mây đang chao lạo.

Bọn họ dừng tay chân lại, dùng một đầu gậy tì vào bụng đối phương, hoặc treo chuôi đao lên đỉnh đầu đối phương, tựa như ai đó đang thi triển một môn Tuệ Chính Băng Đống Bí Thuật phạm vi lớn, khiến họ không thể cử động nổi. Người thành Nam Dược mang theo vẻ mặt không thể tin nổi và phẫn nộ, còn người thành Trà Thược thì trong kinh nghi mang theo chút nhát gan.

Hai trăm năm nay, tranh chấp Nam Dược Trà Thược không ngừng, không thiếu những chuyện mất đi ba năm mạng người, thế nhưng ý nghĩa lần này hoàn toàn khác biệt. Đó là tuyệt sát thuật mà bốn cao thủ Ấn Trì hợp sức mới có thể thi triển ra, mà mục tiêu của bọn chúng lại là con gái của Vân Hồn chi hổ Vân Mãnh Thắng thành chủ Nam Dược.

Cú đánh này ra tay rồi, bọn họ sẽ vĩnh viễn không thể lùi lại được nữa, chỉ có máu và đao mới có thể giải quyết vấn đề của họ — nước mưa đánh xuống, xung đột giữa Nam Dược và Trà Thược sẽ được bày lên mặt bàn của Ngân Ô Quỷ Vương ở Thanh Đô, không thể nào thu thập lại được nữa.

Bọn họ thực sự muốn ra tay thế này sao?

Thiếu nữ giáp vàng cười lạnh dưới cái bóng của đám mây đó.

Hầu như cùng lúc khóe miệng nàng nhếch lên, tám bàn tay dang rộng như đông cứng đồng thời vung mạnh ra ngoài, thét lớn một tiếng: “Cực!”

Hàng vạn sợi tơ cấu thành từ nước mưa đâm thủng màn mây, tuôn trào xuống dưới như vạn đạo lợi tiễn. Vào khoảnh khắc đó, mây tan trời tẻ, ánh nắng vàng rực rỡ xuyên qua khe hở của mây rọi xuống, chiếu xạ lên những mũi tên nước đó, khiến chúng mang theo ánh sáng sắc bén lạnh lẽo chói lọi, đồng thời cũng khiến tim tất cả mọi người co thắt lại, cảm thấy bản thân như đang ở trong hầm băng.

Cũng hầu như ngay tại khoảnh khắc đó, thiếu nữ kia “soạt” một tiếng, loan đao tuốt khỏi vỏ. Theo một tiếng “bốp” vang dội, chiếc áo choàng màu đỏ trên người nàng bung ngược về phía sau, rung bần bật hệt như phiến thiết.

Phong Hành Vân không kìm được nheo đôi mắt lại, cậu chưa từng thấy thứ ánh sáng rực rỡ nào nhảy múa từ vỏ đao của cô gái đó như vậy, xé rách cả bầu không khí. Cậu nhìn thấy theo đường cong thiếu nữ vẽ ra trên không trung trong chớp mắt, một luồng khí xoáy hình bán nguyệt gần như màu bạc trắng xoay tròn tuôn ra, va chạm khiến cho giọt nước kêu lanh canh như châu ngọc.

Luồng khí xoáy hình bán nguyệt lướt qua màn mưa, cắt đứt những sợi mưa tựa như lợi tiễn thành hai đoạn, va chạm khiến chúng văng tung tóe khắp nơi. Nó dư thế không giảm, xông ra ngoài hình bán nguyệt rồi, “bốp” một tiếng nứt thành bốn đạo lao thẳng về phía đám nam tử áo xanh.

Chỉ có số lượng ít ỏi vài sợi mưa xuyên qua đao phong rơi xuống, bắn ra những cái lỗ đen chi chít trên mặt đất, có chừng ba năm đạo mưa tên bắn lên người hộ vệ, lập tức rớm ra những bông hoa máu, thế nhưng những tên đại hán đó vẫn ngồi thẳng tắp như mâu trên lưng ngựa không nhúc nhích.

Vân Bùi Thiền quay đầu nhìn kẻ vừa kêu lên câu “cẩn thận” ban nãy, lại phát hiện đó chỉ là một thiếu niên y phục rách rưới. Nàng nhìn thấy trên vai cậu lộ ra một khúc cung tiêm màu xanh lục, thế nên khóe miệng lại nhếch lên cao hơn, trông có vẻ như một nụ cười khinh miệt. Nụ cười này giống như một mũi kim ong nhỏ, đâm nhói Phong Hành Vân. Nàng “đinh” một tiếng, thu đao lại.

Thuật sĩ Ấn Trì hòa lẫn trong đám đông đã ngã xuống ba người, máu tươi từ lồng ngực bọn chúng chảy ra, nhuộm đẫm đại địa. Thế nhưng lại có một tên thuật sĩ Ấn Trì lùi sang một bên. Vóc người hắn ta cao ngòng cao ngõng, tựa như một cây trúc dài, khuôn mặt vàng vọt hốc hác không có lấy nửa điểm biểu cảm giống như da chết, giữa ấn đường lại có một nốt ruồi đen hình vuông. “Thân thủ tốt.” Hắn gật đầu tán thưởng thiếu nữ kia, rồi sau đó lại đột nhiên quay đầu lại, nhe hàm răng vàng khè cười với Phong Hành Vân một nụ cười như thế. “Tiểu tử giỏi lắm.” Hắn nói, cũng mặc kệ đồng bạn ngã dưới đất, xoay người bước ra khỏi đám đông, sải bước rời đi, chỉ để lại hai hàng dấu chân máu trên mặt đất.

Vân Bùi Thiền cũng không cản hắn, ánh mắt chuyển động, lại chuyển sang Tiểu Tứ vẫn đang đứng ở phía bên kia.

Tiểu Tứ giật mình thót tim, lùi lại hai ba bước, hét lên: “Quản gia, quản gia! Người đâu, người đâu……”

Nữ tướng quân mím môi cười, roi ngựa vung lên quát lớn: “Đừng quản bọn chúng nữa, chúng ta tự đi.”

Binh đinh gia tướng thành Nam Dược thu hồi binh nhận, trên mặt đều là nụ cười rạng rỡ, ngay sau đó phi ngựa hô to, giậm bụi phóng đi. Chớp mắt trên đường chỉ còn lại đám gia binh Trà Thược mang vẻ mặt chán nản thất vọng.

“Quản gia quản gia!” Tiểu Tứ lầm bầm làu bàu lẩm bẩm, nhìn đống bừa bộn khắp đất, phảng phất như nhất thời có chút ngẩn ngơ, không biết nên làm thế nào cho phải.

Một chi tiết Kỷ

Phong Hành Vân bọn họ hất văng sự hỗn loạn trên Đăng Thiên Đạo, sải bước tiến về phía trước. Gió và bụi đất lớn đến nhường nào, thế nên khi bọn họ xuất hiện ở bên vách núi cạnh bãi biển ngoài cổng tây Yểm Hỏa Thành, trông giống như hai tiểu ăn mày dơ dáy.

Yểm Hỏa Thành nằm ngay ở phía trước dưới chân họ, nó nằm xoài ở đó, nằm bên bờ biển sương mù vây quanh. Trên lớp cơ lý màu đen đầy những nếp nhăn, theo gió phấp phới những chiếc túi hướng gió và cờ hiệu hai màu đỏ đen. Nó trông giống như một con thuyền — một con thuyền sắp sửa tháo dây neo, hãy còn chưa giương hoàn toàn buồng buồm.

Cuối cùng cũng đến gần nơi từng vô số lần ngắm nhìn từ xa trong ánh hừng đông buổi sáng và ráng mây chạng vạng này, không biết vì sao, Phong Hành Vân đột nhiên có chút nhát gan.

“Chúng ta nghỉ ở đây một lát đi.” Cậu nói. Ven đường bọn họ đang đứng chính là có một quán trọ như thế, nó cung cấp thứ rượu mạnh để củng cố lòng can đảm cho những lữ nhân sắp sửa lên đường, cung cấp một nơi dừng chân cho những kẻ vội vã qua đường, cung cấp một chốn tĩnh lặng để ôn lại ký ức cho những người quy hương vì gần quê mà sinh ra sợ hãi.

Nó ẩn nấp trong lùm cây hỗn tạp, trước cửa cắm hơn mười cây mâu đã ngả đen, trong sân là ba cây hòe, sau cây hòe là ba cây mơ, bố trí xen kẽ nhịp nhàng, phảng phất như thâm ý sâu xa; bên cạnh là một căn nhà hai tầng, ánh đèn màu vàng hắt ra từ ô cửa sổ tầng trệt, mi cửa xiêu vẹo vắt chéo ba chiếc xương ngà hải mã khổng lồ, hình dáng chén rượu được điêu khắc thô lỗ cho thấy đây là một tửu quán, thế nhưng trên đó không có tên, vô số những mảnh vỡ bàn ghế cũ kỹ chất đống tựa vào tường đầu hồi như say rượu, phảng phất như nơi này đã từng trải qua vô số trận ẩu đả.

Vũ Thường đi vào trong mua chút thức ăn, còn Phong Hành Vân thì ngồi xuống dưới bóng cây ngoài viện, hắn sờ chiếc nhẫn sắt đeo trên cổ, tim đập từng nhịp. Ánh mắt hắn không rời khỏi thành trì truyền thuyết ấy, thỉnh thoảng lại vượt qua thành trì nhìn về phía Vịnh Hồi Kình ở phía đông, ánh nắng rực rỡ nhảy múa trên mặt nước khiến hắn không thể nhìn xa hơn, nhưng hắn biết phía bên kia biển chính là vách đá Vũ Yêu.

Hắn mỉm cười, nhớ lại những ngày tháng tung tăng nhảy nhót trên những vách đá đó, nhớ tới Hướng Ngõa Gia luống cuống thu gom bầy cừu trên đỉnh núi, nhớ những thiếu niên cô gái chen chúc bên khe suối, cười hì hì trêu chọc lẫn nhau. Những ngày tháng ấy đã một đi không trở lại, vào khoảnh khắc đó, tim hắn bỗng thắt lại cực độ – tựa như chính lựa chọn của hắn đã thay đổi tất cả những điều này.

Vượt qua dòng sông đó, sẽ mang lại tai họa cho thôn làng. Trưởng lão trong thôn đã từng nói như vậy. Mà hắn chẳng những vượt qua ranh giới ấy, lại còn bước vào Lam Mị Lâm.

Thực sự là hắn đã mang lại tai họa, thay đổi tất cả những điều này sao?

Cánh cửa khách sạn kêu kẽ kẹt không ngừng, lúc này đang là thời điểm buôn bán phát đạt nhất, Phong Hành Vân phát hiện những kẻ ra vào nơi đây đều là những tên thô lỗ tóc tai bù xù, ánh mắt như sói, y phục của bọn họ kẻ thì tươi sáng người thì rách rưới, nhưng điều đó không cản trở việc chúng giắt những con dao găm và đoản đao sáng loáng bên hông; bọn họ nhả khói phì phèo, ăn nói hàm hồ, thoạt nhìn tuyệt đối không phải loại thiện nam tín nữ. Mỗi khi bọn họ đi qua, dường như đều đang mang theo ý đồ xấu liếc nhìn hắn. Những cảnh tượng này càng khiến hắn thêm phần bất an, nếu có cơ hội lựa chọn lại lần nữa, hắn có chọn con đường này không?

Trên con đường trắng lóa lại cuộn lên một làn bụi mù, nơi đó có một con lạc đà trắng đi tới, giữa những bướu lạc đà lốm đốm là tấm yên cương thêu tua rua lấp lánh. Ngồi trên lạc đà là một tiểu tử trẻ tuổi.

"Tiểu huynh đệ," nhìn thấy Phong Hành Vân, y kéo dây cương lạc đà hỏi, "Từ đây đến thành Yểm Hỏa còn bao xa? Ở đây có người tên là Lộ Mạch không? Ta đang tìm một thiếu nữ tên là Lộ Mạch."

Phong Hành Vân lắc đầu, nở nụ cười áy náy với y.

Tiểu tử kia ngồi cao trên lưng lạc đà, trước khi lộ ra chút thất vọng đã mỉm cười với hắn, để lộ hàm răng trắng đến mức ánh xanh. Phong Hành Vân nhìn thấy trên cổ y có một miếng ngọc hình tròn, đang lúc lắc trên một sợi dây màu đen.

Nụ cười của tiểu tử ấy tựa như một cơn gió phóng khoáng, xua tan mọi đám mây âm u khó chịu, trước khi những đám mây ấy kịp tụ lại lần nữa, y liền hô lên một tiếng, mạnh mẽ đá vào sống lưng lạc đà, thúc nó chạy xa.

"Ấy — da." Một bóng người ló ra khỏi cửa gọi lớn, làm Phong Hành Vân giật mình. Đó là một lão già béo lùn, mặc chiếc tạp dề đã phai màu từ lâu. Lão vui vẻ nói với Phong Hành Vân: "Ngồi xổm đây làm gì thế, phương xa đến đều là khách, đã đến thì vào trong ngồi một lát chứ?"

"Không cần đâu," mặt Phong Hành Vân đỏ lên, "Chúng ta còn phải lên đường."

Vũ Thường vừa hay bước ra, trên tay xách một gói giấy dầu. Đôi mắt nhỏ như cây kim của lão già láo lân đảo quét qua bộ dạng đầy bụi bẩn của họ, lại dừng lại trên chiếc nhẫn đeo cổ của hắn một lát, vui vẻ nói: "Hai người chờ chút."

Lão nhanh nhẹn thụt lùi vào trong ngõ cửa, chớp mắt đã ló đầu ra lại, động tác thuần thục hệt như một con chuột chũi khổng lồ. Lão nhét thêm vào tay Vũ Thường một gói thịt xông khói khô. "Tự xông khói đấy, ngon lắm đấy," lão chép miệng, chớp mắt nói: "Lần đầu đến thành Yểm Hỏa phải không — nơi này tốt hơn các ngươi tưởng tượng, cũng tồi tệ hơn các ngươi tưởng tượng — gặp rắc rối lớn gì, cứ đến đường Trường Sinh tìm Thiết gia, báo tên Khổ Long của ta."

"Chẹp chẹp." Lão giơ một ngón tay chỉ vào chiếc nhẫn của Phong Hành Vân, "Thứ này hiếm lắm đấy, ngươi vẫn nên giấu đi thì hơn."

Chưa đợi Phong Hành Vân nói lời cảm ơn, lão chủ quán béo đã chuồn mất tăm, lão vừa chạy vừa hét: "Hổ Đầu, bảo ngươi bao nhiêu lần rồi, đừng phơi cá khô trên mái nhà, ván lầu sẽ sập đấy —" Lời chưa dứt, bên kia đã vang lên một tiếng "ầm" thật lớn, mảnh vỡ và bụi mù bay tung tóe.

"Á, hóa ra cá khô nặng thế cơ à?" Phong Hành Vân khó hiểu nói.

Một vị khách đứng bên cạnh "phì" một tiếng, nhổ ra một cây tăm. Hắn liếc xéo nhìn họ nói: "Không phải thịt cá nặng, là Hổ Đầu nặng thế đấy." Tên nam nhân đó chân tay dài ngoẵng, mặc y phục thô kệch, trên mũ cắm hững hờ một chiếc lông ưng, mái tóc xoăn màu xám đen cho thấy hắn cũng không phải là người Vũ tộc. Hắn cười trộm đầy ám muội, ném ánh mắt đưa tình với Vũ Thường.

Không biết tại sao, Phong Hành Vân không còn cảm thấy những người này đáng sợ nữa. Trên những con người Vô Dực dân thô lỗ, dơ bẩn, khắp người đầy mùi hôi thối này lại ẩn giấu một thứ gì đó vô cùng gần gũi, gần gũi hơn rất nhiều so với những công tử hay tướng quân mặc y phục lộng lẫy, thân thể ngập hương thơm biểu lộ ra ngoài.

Hắn không còn sợ hãi, hắn không còn lo lắng nơi mình sắp đến sẽ xảy ra chuyện gì, nụ cười của lão chủ quán béo và nụ cười phóng khoáng của kỵ sĩ lạc đà trắng ban nãy đã cho hắn sức mạnh mới.

Vũ Thường đang nhìn hắn.

"Được rồi, chúng ta đi thôi." Hắn nói, ngực ưỡn thẳng. Đội ngũ đông đảo với xe ngựa lộng lẫy kia, đang từ con đường họ vừa đi qua chen chúc đi tới.

Khi nắm tay Vũ Thường rời khỏi nơi này, Phong Hành Vân hoàn toàn không biết, trong tửu quán thoạt nhìn vô cùng thân thiện này, sắp sửa diễn ra một trận Long tranh Hổ đấu.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.