Dấu Hiệu Của Bộ Tứ

Lượt đọc: 165 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
Câu Chuyện Của Người Đàn Ông Hói Đầu

❊ ❊ ❊

Chúng tôi theo chân người Ấn Độ đi dọc theo một hành lang tồi tàn và tầm thường, ánh sáng lờ mờ và đồ đạc càng xập xệ hơn, cho đến khi hắn dừng lại trước một cánh cửa bên tay phải và đẩy mở tung ra. Một luồng ánh sáng vàng rực rỡ chiếu rọi vào chúng tôi, và chính giữa chói lòa ấy là một người đàn ông vóc người nhỏ thó với chiếc đầu rất cao, viền xung quanh là hàng tóc đỏ cứng như bàn chải, cùng với một chỏm đầu hói nhẵn bóng nhô lên giữa đám tóc ấy chẳng khác nào một đỉnh núi mọc giữa rừng thông. Hắn xoắn xuýt đôi tay trong lúc đứng đó, nét mặt giật giật không ngừng, lúc thì cười cợt, lúc lại cau có, nhưng tuyệt nhiên không có lấy một khoảnh khắc nào yên tĩnh. Tạo hóa ban cho hắn một chiếc môi trễ xuống và một hàm răng vàng khè, khấp khểnh lộ ra quá mức, khiến hắn cứ phải lúng túng dùng tay che đi phần dưới khuôn mặt. Bất chấp chiếc đầu hói dễ đập vào mắt người nhìn, hắn vẫn mang lại cảm giác của một thanh niên trẻ tuổi. Thực tế thì hắn vừa bước sang tuổi ba mươi.

“Xin chào tiểu thư Morstan,” hắn cứ lặp đi lặp lại bằng một giọng thanh và cao. “Chào các ngài. Xin mời bước vào chốn u tịch nhỏ bé của tôi. Một nơi chốn khiêm tốn thôi, thưa tiểu thư, nhưng được bài trí theo đúng sở thích của riêng tôi. Một ốc đảo nghệ thuật giữa chốn sa mạc hoang vu ở Nam Luân Đôn.”

Tất cả chúng tôi đều ngạc nhiên trước diện mạo của căn phòng mà hắn mời vào. Giữa cái ngôi nhà tồi tàn ấy, nó lạc lõng chẳng khác nào một viên kim cương thượng hạng được gắn trên chiếc đế bằng đồng thau. Những tấm rèm và thảm treo tường sang trọng và óng ả nhất phủ kín các bức chỗ nọ chỗ kia được vén lên để lộ ra những bức tranh được lộng kiếng lộng lẫy hoặc những chiếc bình phương Đông. Tấm thảm trải sàn mang hai màu hổ phách và đen, mềm mại và dày cộp đến mức bàn chân chìm xuống một cách dễ chịu, hệt như đang bước trên một thảm rêu. Hai tấm da hổ lớn vắt ngang qua càng làm tăng thêm vẻ xa hoa đậm chất Á Đông, giống như chiếc tẩu thủy lớn đặt trên một tấm thảm ở góc phòng. Một chiếc đèn lồng hình chim bồ câu bằng bạc được treo lơ lửng bằng một sợi dây vàng gần như tàng hình ở chính giữa căn phòng. Khi ngọn đèn cháy lên, nó làm ngập tràn bầu không gian bằng một thứ hương thơm dịu nhẹ và phảng phất mùi nhựa thơm.

“Thưa ngài Thaddeus Sholto,” người đàn ông nhỏ thó vừa nói vừa tiếp tục giật giật mặt và mỉm cười. “Đó là tên tôi. Tất nhiên cô chính là tiểu thư Morstan. Còn các vị đây—”

“Đây là ông Sherlock Holmes, và đây là bác sĩ Watson.”

“Một vị bác sĩ ư?” hắn kêu lên đầy vẻ hào hứng. “Ngài có mang theo ống nghe không? Tôi có thể nhờ ngài—ngài có lòng nào... Tôi đang vô cùng lo lắng về van hai lá của mình, nếu ngài có thể rộng lượng giúp cho. Về van động mạch chủ thì tôi có thể yên tâm, nhưng tôi rất muốn lắng nghe ý kiến của ngài về van hai lá.”

Tôi lắng nghe nhịp tim của hắn theo lời thỉnh cầu, nhưng không tìm thấy điều gì bất ổn, ngoại trừ việc hắn đang sợ hãi đến cực độ, bởi cơ thể hắn cứ run lẩy bẩy từ đầu đến chân. “Mọi thứ có vẻ bình thường,” tôi nói. “Ngài chẳng có lý do gì phải lo lắng cả.”

“Xin tiểu thư Morstan cứ lượng thứ cho sự lo lắng của tôi,” hắn thản nhiên nhận xét. “Tôi vốn là kẻ mang nhiều bệnh tật, và từ lâu đã luôn hoài nghi về chiếc van tim ấy. Thật nhẹ nhõm biết bao khi nghe nói rằng những lo lắng ấy là vô căn cứ. Giá như thân phụ của tiểu thư, thưa cô Morstan, không tự dồn áp lực lên trái tim mình, thì có lẽ ông ấy vẫn còn sống đến tận bây giờ.”

Tôi suýt nữa thì vung tay đấm vào mặt gã, cơn giận bốc lên ngùn ngụt trước cách nhắc đến một vấn đề tế nhị đầy vô cảm và dửng dưng như thế. Tiểu thư Morstan ngồi xuống, khuôn mặt trắng bệch đến tận đôi môi. “Trong thâm tâm, tôi vẫn luôn biết rằng cha mình đã qua đời,” cô nói.

“Tôi có thể cung cấp cho cô mọi thông tin,” hắn nói tiếp, “và hơn thế nữa, tôi có thể đòi lại công bằng cho cô; tôi chắc chắn sẽ làm thế, mặc cho người anh trai Bartholomew có nói gì đi chăng nữa. Tôi rất vui vì các bạn của cô có mặt ở đây, không chỉ để làm người hộ tống cho cô, mà còn làm nhân chứng cho những gì tôi sắp sửa làm và nói. Cả ba chúng ta có thể cùng nhau hiên ngang đối mặt với anh trai Bartholomew. Nhưng chúng ta sẽ không cần bất kỳ người ngoài nào cả—không có cảnh sát hay giới chức trách gì hết. Chúng ta hoàn toàn có thể giải quyết mọi chuyện một cách thỏa đáng giữa những người trong cuộc mà không cần bất kỳ sự can thiệp nào. Không gì khiến anh trai Bartholomew khó chịu hơn là sự công khai.” Hắn ngồi xuống chiếc ghế dài thấp lè tè và chớp chớp mắt nhìn chúng tôi đầy dò xét bằng đôi mắt xanh nhợt nhạt và lờ đờ.

“Về phần tôi,” Holmes nói, “bất cứ điều gì ngài chọn nói ra cũng sẽ không lọt ra ngoài đâu.”

Tôi gật đầu để tỏ ý đồng tình.

“Thế thì tốt quá! Thế thì tốt quá!” hắn nói. “Tôi có thể mời tiểu thư Morstan một ly rượu Chianti chứ? Hoặc rượu Tokay? Tôi không trữ loại rượu nào khác cả. Tôi khui một chai nhé? Không ư? Vậy thì, tôi hy vọng cô không phiền nếu có chút khói thuốc lá, với mùi hương thơm dịu nhẹ của thuốc lá phương Đông. Thần kinh tôi hơi yếu, và tôi nhận ra chiếc tẩu của mình là một thứ thuốc an thần vô giá.” Hắn châm một que diêm vào nõ tẩu lớn, và làn khói sủi tăm vui thích qua lớp nước hoa hồng. Cả ba chúng tôi ngồi thành một nửa vòng tròn, đầu hơi cúi về phía trước, cằm tì lên hai bàn tay, trong khi gã đàn ông kỳ lạ, hay giật cục với chiếc đầu cao láng bóng, đang phì phèo làn khói đầy bồn chồn ở chính giữa.

“Khi tôi mới quyết định thổ lộ chuyện này với cô,” hắn nói, “lẽ ra tôi có thể cho cô xin địa chỉ của mình, nhưng tôi sợ rằng cô có thể bỏ qua lời thỉnh cầu của tôi và dẫn theo những kẻ phiền phức. Do đó, tôi đã mạn phép sắp xếp một cuộc hẹn theo cách mà người của tôi là Williams có thể gặp cô trước. Tôi hoàn toàn đặt niềm tin vào sự kín đáo của anh ta, và anh ta đã được lệnh rằng nếu có điều gì không vừa ý, thì không được phép tiến xa hơn trong chuyện này. Cô sẽ tha thứ cho những sự cẩn trọng này chứ, nhưng tôi là một người có gu sống có phần khép kín, thậm chí có thể nói là tinh tế, và chẳng có gì kém thẩm mỹ hơn một gã cảnh sát cả. Tôi vốn có bản tính né tránh mọi hình thức vật chất thô tục. Tôi hiếm khi tiếp xúc với đám đông xô bồ. Như cô thấy đấy, tôi sống giữa một bầu không gian tao nhã nhất định. Tôi có thể tự gọi mình là một người bảo trợ cho nghệ thuật. Đó là điểm yếu của tôi đấy. Bức phong cảnh kia là một tác phẩm Corot chính hiệu, và mặc dù một nhà sành sỏi đôi khi có thể hoài nghi về bức Salvator Rosa kia, thì hoàn toàn không thể có chút nghi ngờ nào về bức Bouguereau. Tôi rất ưa chuộng trường phái hội họa hiện đại của Pháp.”

“Xin lỗi ngài Sholto,” tiểu thư Morstan lên tiếng, “nhưng tôi đến đây theo lời yêu cầu của ngài để tìm hiểu về một điều mà ngài muốn kể cho tôi nghe. Đã rất muộn rồi, và tôi muốn cuộc gặp gỡ này diễn ra ngắn gọn nhất có thể.”

“Dù thế nào đi nữa thì nó cũng sẽ mất chút ít thời gian,” hắn đáp; “bởi vì chúng ta chắc chắn sẽ phải đến Norwood và gặp anh trai Bartholomew. Tất cả chúng ta sẽ cùng đi và thử xem liệu có thể đánh bại được anh trai Bartholomew hay không. Anh ấy rất giận tôi vì đã chọn con đường mà tôi cho là đúng đắn. Tối qua chúng tôi đã lời qua tiếng lại khá gay gắt. Cô không thể tưởng tượng được anh ấy là một gã đáng sợ thế nào đâu khi nổi giận.”

“Nếu chúng ta phải đi Norwood thì có lẽ tốt nhất là nên khởi hành ngay lập tức,” tôi mạo muội lên tiếng.

Hắn cười vang cho đến tận khi đôi tai đỏ bừng cả lên. “Như thế thì khó mà được,” hắn kêu lên. “Tôi không biết anh ấy sẽ nói gì nếu tôi đường đột dẫn cô đến theo cái cách đó đâu. Không, tôi phải chuẩn bị tinh thần cho cô trước bằng cách cho cô thấy tình trạng giữa chúng tôi hiện ra sao. Trước hết, tôi phải nói với cô rằng có một vài điểm trong câu chuyện mà chính bản thân tôi cũng không rõ. Tôi chỉ có thể bày tỏ các sự thật trước cô theo đúng những gì mà chính tôi được biết.”

“Cha tôi, như cô có thể đoán được, chính là Thiếu tá John Sholto, từng thuộc quân đội Ấn Độ. Ông đã nghỉ hưu khoảng mười một năm trước và đến sinh sống tại Pondicherry Lodge ở Thượng Norwood. Ông đã phất lên ở Ấn Độ và mang theo một khoản tiền kết xù, một bộ sưu tập lớn các món đồ cổ quý giá cùng một đội ngũ gia nhân người bản xứ. Với những lợi thế đó, ông đã tậu cho mình một căn nhà và sống trong sự sung túc tột bậc. Người anh song sinh Bartholomew của tôi và tôi là hai đứa con duy nhất.”

“Tôi nhớ rất rõ sự chấn động do sự biến mất của Đại úy Morstan gây ra. Chúng tôi đọc các chi tiết trên báo chí, và vì biết rằng ông từng là bạn của cha mình, chúng tôi đã bàn tán rất thoải mái về vụ án ngay trước mặt ông. Ông thường tham gia vào những phỏng đoán của chúng tôi về chuyện gì đã có thể xảy ra. Chưa có một khoảnh khắc nào chúng tôi nghi ngờ rằng ông lại cất giấu toàn bộ bí mật sâu thẳm trong lòng—rằng trong số tất cả mọi người, chỉ có một mình ông là biết rõ số phận của Arthur Morstan.”

“Tuy nhiên, chúng tôi vẫn biết rằng có một bí mật nào đó—một mỗi hiểm họa thực sự—đang bao trùm lấy cha chúng tôi. Ông rất sợ đi ra ngoài một mình, và luôn thuê hai đô vật để làm người gác cổng tại Pondicherry Lodge. Williams, người đã lái xe đưa cô tối nay, là một trong số đó. Anh ta từng là nhà vô địch hạng nhẹ của nước Anh. Cha chúng tôi không bao giờ chịu kể cho chúng tôi nghe ông sợ điều gì, nhưng ông có một sự ác cảm rõ rệt đối với những kẻ cụt chân gỗ. Có lần ông thực sự đã nổ súng lục vào một người đàn ông cụt chân, hóa ra đó lại là một thương nhân vô hại đang đi chào hàng. Chúng tôi đã phải trả một khoản tiền lớn để ém nhẹm chuyện đó đi. Anh em chúng tôi từng nghĩ đó chỉ là một thứ sở thích kỳ quái của cha mình, nhưng những sự kiện diễn ra sau đó đã khiến chúng tôi thay đổi quan điểm.”

“Vào đầu năm 1882, cha chúng tôi nhận được một bức thư từ Ấn Độ khiến ông bị sốc nặng. Ông suýt ngất xỉu tại bàn ăn sáng khi mở nó ra, và kể từ ngày đó, sức khỏe của ông suy sụp cho đến tận lúc chết. Nội dung trong bức thư là gì thì chúng tôi không bao giờ có thể khám phá ra, nhưng khi nhìn ông cầm nó, tôi có thể thấy rằng nó ngắn và được viết bằng những nét chữ nguệch ngoạc. Ông đã chịu đựng căn bệnh lách sưng to trong nhiều năm, nhưng giờ đây tình trạng trở nên tồi tệ hơn một cách nhanh chóng, và vào khoảng cuối tháng Tư, chúng tôi được thông báo rằng bệnh tình của ông đã vô phương cứu chữa, và ông muốn đưa ra lời trăn trối cuối cùng với chúng tôi.”

“Khi chúng tôi bước vào phòng, ông được kê gối đỡ cao và thở một cách nặng nhọc. Ông nài nỉ chúng tôi khóa cửa lại và tiến lại đứng ở hai bên giường. Sau đó, nắm lấy đôi tay chúng tôi, ông đã đưa ra một lời tuyên bố đáng kinh ngạc bằng một giọng nói đứt quãng vì xúc động cũng như vì đau đớn. Tôi sẽ cố gắng kể lại cho cô nghe bằng chính xác từng từ của ông.”

‘Cha chỉ có một điều duy nhất,’ ông nói, ‘cứ vướng bận trong tâm trí vào thời khắc tối quan trọng này. Đó là cách cha đối xử với đứa con mồ côi của tội nghiệp Morstan. Sự tham lam đáng nguyền rủa đã trở thành tật xấu đeo bám cha suốt cả cuộc đời đã tước đoạt khỏi cô ấy kho báu, mà ít nhất một nửa trong số đó lẽ ra phải thuộc về cô ấy. Thế mà bản thân cha lại chẳng hề sử dụng đến nó—sự tham lam quả là một điều ngu ngốc và mù quáng làm sao. Cảm giác được sở hữu đơn thuần lại quá đỗi thân thuộc với cha đến mức cha không chịu nổi việc phải chia sẻ nó với người khác. Hãy nhìn chuỗi hạt đính ngọc trai bên cạnh lọ quinine kìa. Ngay cả thứ đó cha cũng không nỡ rời xa, mặc dù cha đã lấy nó ra với dự định gửi cho cô ấy. Các con của cha, hãy trao cho cô ấy một phần công bằng trong kho báu Agra. Nhưng đừng gửi cho cô ấy bất cứ thứ gì—thậm chí cả chuỗi hạt—cho đến khi cha qua đời. Suy cho cùng, có những kẻ còn tệ hơn thế này mà vẫn có thể chuộc lại lỗi lầm.’

‘Cha sẽ kể cho các con nghe Morstan đã chết như thế nào,’ ông nói tiếp. ‘Ông ấy đã chịu đựng căn bệnh tim yếu trong nhiều năm, nhưng lại giấu giếm mọi người. Chỉ một mình cha biết điều đó. Khi ở Ấn Độ, ông ấy và cha, qua một chuỗi các sự kiện đáng kinh ngạc, đã có được một kho báu đáng kể. Cha mang nó sang Anh, và vào đêm Morstan đến, ông ấy đã đi thẳng đến đây để đòi phần của mình. Ông ấy đi bộ từ nhà ga đến, và được đón vào bởi người đầy tớ già trung trung thành Lal Chowdar của cha, nay đã qua đời. Morstan và cha đã có sự bất đồng quan điểm về việc phân chia kho báu, và chúng ta đã lời qua tiếng lại gay gắt. Morstan bật dậy khỏi ghế trong cơn giận dữ tột độ, khi đột nhiên ông ấy đưa tay ôm lấy sườn, khuôn mặt chuyển sang màu tái xám, và ngã ngửa ra phía sau, đầu va vào góc của chiếc rương chứa kho báu. Khi cha cúi người xuống kiểm tra, cha bàng hoàng nhận ra rằng ông ấy đã chết.’

‘Trong một thời gian dài, cha ngồi như người mất hồn, tự hỏi không biết mình nên làm gì. Bản năng đầu tiên của cha, dĩ nhiên là kêu gọi sự trợ giúp; nhưng cha không thể không nhận ra rằng có rất nhiều khả năng cha sẽ bị buộc tội là kẻ sát nhân giết hại ông ấy. Cái chết của ông ấy diễn ra đúng lúc xảy ra cuộc cãi vã, và vết rách trên đầu ông ấy, sẽ là những bằng chứng bất lợi cho cha. Hơn nữa, một cuộc điều tra chính thức không thể diễn ra mà không làm lộ ra một số sự thật về kho báu, điều mà cha đặc biệt khao khát muốn giữ kín. Ông ấy từng nói với cha rằng không một linh hồn nào trên đời biết được ông ấy đã đi đâu. Dường như chẳng có sự cần thiết nào để bất kỳ ai phải biết điều đó cả.’

‘Cha vẫn đang trầm ngâm suy nghĩ về vấn đề này, thì khi ngước lên, cha nhìn thấy người hầu của mình, Lal Chowdar, đang đứng ở ngưỡng cửa. Hắn rón rén bước vào và chốt cửa lại phía sau. “Xin đừng sợ, thưa Sahib,” hắn nói. “Sẻ chẳng ai cần biết rằng ngài đã giết ông ta đâu. Chúng ta hãy giấu xác ông ta đi, và ai mà biết được chứ?” “Ta không giết ông ta,” cha nói. Lal Chowdar lắc đầu và mỉm cười. “Tôi đã nghe hết rồi, thưa Sahib,” hắn nói. “Tôi nghe thấy ngài cãi vã, và tôi nghe thấy cả tiếng va đập. Nhưng đôi môi tôi đã được niêm phong. Mọi người trong nhà đều đang ngủ cả rồi. Chúng ta hãy cùng nhau xử lý thi thể ông ta đi.” Điều đó là đủ để quyết định hành động của cha. Nếu ngay cả người hầu của mình mà còn không tin vào sự vô tội của cha, thì làm sao cha có thể hy vọng chứng minh được điều đó trước mười hai gã thương nhân khờ khạo trong bồi thẩm đoàn đây? Lal Chowdar và cha đã phi tang thi thể vào đêm hôm đó, và chỉ trong vài ngày, các tờ báo Luân Đôn đã tràn ngập tin tức về sự mất tích bí ẩn của Đại úy Morstan. Các con có thể thấy từ những gì cha nói rằng cha khó lòng mà bị trách cứ trong chuyện này. Lỗi lầm của cha nằm ở chỗ chúng ta không chỉ che giấu thi thể, mà còn che giấu cả kho báu, và cha đã giữ khư khư phần của Morstan cũng như phần của chính mình. Do đó, cha muốn các con hãy đền bù điều đó. Hãy áp tai vào miệng cha đây. Kho báu được giấu ở...’

“Vào khoảnh khắc đó, một sự thay đổi kinh hoàng hiện lên trên nét mặt ông; đôi mắt trợn trừng hoảng loạn, hàm trũng xuống, và ông thét lên bằng một giọng nói mà tôi không bao giờ có thể quên được: ‘Hãy ngăn hắn lại! Vì Chúa, hãy ngăn hắn lại!’ Cả hai chúng tôi quay ngoắt lại nhìn tấm cửa sổ phía sau lưng, nơi ánh mắt ông đang dán chặt vào. Một khuôn mặt đang nhòm vào chúng tôi từ bóng tối bên ngoài. Chúng tôi có thể nhìn thấy phần chóp mũi trắng bệch vì bị áp chặt vào kính. Đó là một khuôn mặt râu ria xồm xoàm, với đôi mắt hung dữ tột cùng và vẻ mặt biểu lộ sự thù hận đến tột độ. Anh em tôi lao về phía cửa sổ, nhưng gã đàn ông đó đã biến mất. Khi chúng tôi quay lại bên cha, đầu ông đã gục xuống và mạch đã ngừng đập.”

“Chúng tôi đã lục soát khu vườn đêm hôm đó, nhưng chẳng tìm thấy dấu hiệu nào của kẻ đột nhập, ngoại trừ việc ngay dưới cửa sổ có một dấu chân duy nhất hằn rõ trên luống hoa. Nếu không vì dấu vết đơn độc ấy, có lẽ chúng tôi đã nghĩ rằng trí tưởng tượng của mình đã vẽ ra khuôn mặt hoang dại, hung hãn đó. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, chúng tôi lại có thêm một bằng chứng ấn tượng hơn nữa cho thấy có những thế lực bí mật đang hoạt động xung quanh chúng tôi. Cửa sổ phòng cha bị mở tung vào sáng hôm sau, các tủ và hộp đựng của ông đã bị lục tung, và trên ngực ông được ghim một mảnh giấy rách, nguệch ngoạc mấy chữ ‘Dấu hiệu của bộ tứ’. Cụm từ đó có ý nghĩa gì, hay vị khách bí mật của chúng tôi là ai, chúng tôi chưa bao giờ biết được. Theo như chúng tôi có thể phán đoán, không có tài sản nào của cha thực sự bị đánh cắp, mặc dù mọi thứ đã bị xới tung lên. Anh em tôi tự nhiên liên kết sự cố kỳ lạ này với nỗi sợ hãi đã ám ảnh cha trong suốt cuộc đời ông; nhưng đến nay nó vẫn là một bí ẩn hoàn toàn đối với chúng tôi.”

Gã đàn ông nhỏ thó dừng lại để châm lại chiếc tẩu và phì phèo làn khói đầy suy tư trong giây lát. Tất cả chúng tôi đều ngồi chết lặng, lắng nghe câu chuyện phi thường của hắn. Trước lời kể ngắn gọn về cái chết của cha mình, tiểu thư Morstan đã tái xanh cắt không còn giọt máu, và có khoảnh khắc tôi đã sợ rằng cô ấy sắp ngất đi. Tuy nhiên, cô ấy đã hồi sức lại sau khi uống một ngụm nước mà tôi lặng lẽ rót ra từ chiếc bình bằng thủy tinh Venice đặt trên chiếc bàn phụ bên cạnh. Sherlock Holmes ngả người ra sau ghế với vẻ mặt đăm chiêu và đôi mắt nheo lại che khuất đi ánh nhìn sắc lẹm. Khi liếc nhìn anh, tôi không khỏi nghĩ đến việc ngay ngày hôm đó anh đã phàn nàn cay đắng về sự tẻ nhạt của cuộc sống. Ít ra thì ở đây cũng có một vấn đề sẽ thách thức sự nhạy bén của anh đến tận cùng. Ngài Thaddeus Sholto đưa mắt nhìn hết người này đến người khác trong chúng tôi với vẻ tự hào hiển hiện về hiệu ứng mà câu chuyện của hắn vừa tạo ra, rồi tiếp tục nhả khói từ chiếc tẩu quá khổ của mình.

“Anh em chúng tôi,” hắn nói, “như các vị có thể tưởng tượng, đã vô cùng phấn khích về kho báu mà cha đã nhắc đến. Trong suốt bao nhiêu tuần lễ và tháng trời, chúng tôi đã đào bới ở mọi ngóc ngách trong khu vườn, mà chẳng tài nào tìm ra nơi cất giấu của nó. Thật phát điên lên được khi nghĩ rằng nơi cất giấu ấy đã ở ngay trên cửa miệng ông vào lúc ông qua đời. Chúng ta có thể đánh giá được sự lộng lẫy của khối tài sản bị thất lạc qua chuỗi hạt mà ông đã lấy ra. Xoay quanh chuỗi hạt này, anh trai Bartholomew và tôi đã có một chút tranh luận. Những viên ngọc trai hiển nhiên có giá trị rất lớn, và anh ấy không muốn rời xa chúng, bởi vì nói thật với nhau nhé, bản thân anh trai tôi cũng có chút xu hướng giống như tật xấu của cha. Anh ấy cũng nghĩ rằng nếu chúng ta bán chuỗi hạt đi, nó có thể làm dấy lên những lời đồn thổi và cuối cùng đẩy chúng ta vào rắc rối. Tôi đã phải cố gắng hết sức để thuyết phục anh ấy cho phép tôi tìm địa chỉ của tiểu thư Morstan và gửi cho cô ấy từng viên ngọc trai rời rạc vào những khoảng thời gian cố định, để ít nhất cô ấy không bao giờ phải cảm thấy túng quẫn.”

“Đó là một suy nghĩ đầy tử tế,” người bạn đồng hành của chúng tôi chân thành nhận xét. “Ngài thật sự rất tốt bụng.”

Gã đàn ông nhỏ thó xua tay tỏ ý khiêm nhường. “Chúng tôi là những người được ủy thác tài sản của cô,” hắn nói. “Đó là góc nhìn mà tôi đã chọn, mặc dù anh trai Bartholomew không hoàn toàn nhìn nhận theo hướng đó. Bản thân chúng tôi có thừa tiền bạc. Tôi chẳng mong muốn gì hơn thế. Hơn nữa, sẽ thật là một sự thiếu tinh tế tột cùng khi đối xử với một thiếu nữ theo cái cách bủn xỉn như vậy. ‘Le mauvais goût mène au crime.’ Người Pháp có cách diễn đạt những chuyện này rất gọn gàng. Sự bất đồng quan điểm của chúng tôi về vấn đề này đã đi xa đến mức tôi nghĩ tốt nhất là nên tự sắm cho mình một chỗ ở riêng: thế là tôi rời khỏi Pondicherry Lodge, mang theo người gia nhân cũ khitmutgar và Williams đi cùng. Tuy nhiên, ngày hôm qua, tôi được biết một sự kiện vô cùng quan trọng đã xảy ra. Kho báu đã được tìm thấy. Tôi lập tức liên lạc với tiểu thư Morstan, và giờ đây tất cả những gì còn lại là chúng ta lái xe đến Norwood và đòi lại phần của mình. Tôi đã giải thích quan điểm của mình tối qua với anh trai Bartholomew: thế nên chúng ta sẽ là những vị khách đã được báo trước, dẫu có thể không được chào đón cho lắm.”

Ngài Thaddeus Sholto ngừng lời, ngồi giật giật cơ mặt trên chiếc ghế dài sang trọng của mình. Tất cả chúng tôi vẫn giữ im lặng, tâm trí bận suy tư về diễn biến mới mà vụ việc bí ẩn này vừa rẽ hướng. Holmes là người đầu tiên bật dậy khỏi chỗ ngồi.

“Ngài đã làm rất tốt, từ đầu cho đến cuối,” anh nói. “Có thể chúng tôi sẽ có thể đền đáp ngài một phần nhỏ bằng cách làm sáng tỏ những điều vẫn còn mịt mờ đối với ngài. Nhưng, như tiểu thư Morstan vừa lưu ý khi nãy, trời đã muộn rồi, và tốt nhất là chúng ta nên giải quyết dứt điểm vụ này không chậm trễ.”

Người quen mới của chúng tôi rất từ tốn cuộn tròn ống hút của chiếc tẩu thủy lại, và lôi từ sau một tấm rèm ra một chiếc áo khoác dài dáng rộng đính bím dây bện với cổ và viền tay áo bằng lông thú Astrakhan. Hắn cài khuy thật chặt, bất chấp cái nóng bức đến ngột ngạt của đêm hè, và hoàn thiện trang phục của mình bằng cách đội một chiếc mũ lông thỏ có hai mảnh tai rủ xuống che kín cả tai, sao cho chẳng còn phần nào trên cơ thể hắn lộ ra ngoại trừ khuôn mặt linh hoạt và nhọn hoắt của mình. “Sức khỏe của tôi có phần mong manh,” hắn giải thích trong lúc dẫn đường đi dọc hành lang. “Tôi buộc phải trở thành một kẻ hay lo lắng về bệnh tật của mình.”

Chiếc xe ngựa đang đợi sẵn chúng tôi bên ngoài, và kế hoạch rõ ràng đã được sắp xếp từ trước, bởi người đánh xe lập tức khởi hành với tốc độ cao. Thaddeus Sholto huyên thuyên không ngừng nghỉ, với một giọng nói lấn át cả tiếng lạo xạo của bánh xe.

“Bartholomew là một gã thông minh,” hắn nói. “Các vị nghĩ xem làm thế nào mà hắn tìm ra kho báu được chứ? Hắn đi đến kết luận rằng nó được giấu ở đâu đó trong nhà: thế là hắn tính toán toàn bộ không gian khối của ngôi nhà, và đo đạc ở mọi ngóc ngách, sao cho không bỏ sót dù chỉ một inch. Trong số những việc khác, hắn phát hiện ra chiều cao của tòa nhà là bảy mươi bốn feet, nhưng khi cộng tổng chiều cao của tất cả các căn phòng riêng lẻ lại, và trừ hao mọi khoảng trống ở giữa mà hắn xác định được qua việc khoan tường, hắn không tài nào cộng lại ra con số lớn hơn bảy mươi feet. Có bốn feet không cách nào giải thích được. Chúng chỉ có thể nằm ở phía trên cùng của tòa nhà. Do đó, hắn đã đục một lỗ trên trần nhà làm bằng trát vữa và dát lười của căn phòng cao nhất, và quả nhiên ở đó, hắn chạm trát ngay vào một căn gác mái nhỏ xíu khác nằm phía trên, vốn đã bị bịt kín và chẳng ai hay biết. Ở chính giữa gác mái đặt chiếc rương khobáu, nằm tựa trên hai thanh xà nhà. Hắn hạ nó xuống qua cái lỗ đó, và nó đang nằm ở đó kìa. Hắn ước tính giá trị của số trang sức ấy không dưới nửa triệu bảng Anh.”

Khi nghe nhắc đến khoản tiền khổng lồ ấy, tất cả chúng tôi đều tròn mắt nhìn nhau trân trân. Tiểu thư Morstan, nếu giành lại được các quyền lợi của mình, sẽ một bước từ một gia sư túng thiếu trở thành nữ thừa kế giàu có nhất nước Anh. Đáng lẽ ra một người bạn trung thành phải vui mừng trước tin tức đó; thế nhưng tôi lấy làm hổ thẹn mà thừa nhận rằng sự ích kỷ đã chiếm lấy tâm can tôi, và trái tim tôi bỗng nặng trĩu như chì. Tôi ấp úng vài lời chúc mừng ngắt quãng, rồi ngồi thẫn thờ với cái đầu gục xuống, điếc đặc trước những lời huyên thuyên của người quen mới. Hắn rõ ràng là một kẻ trầm cảm bệnh hoạn kinh niên, và tôi mơ màng nhận thức được rằng hắn đang tuôn ra vô số những triệu chứng bệnh tật, đồng thời khẩn khoản đòi hỏi thông tin về thành phần và tác dụng của vô số loại thuốc lang băm, một vài trong số đó hắn mang theo bên mình trong một chiếc cặp da nhét túi áo. Tôi chỉ mong rằng hắn sẽ không nhớ bất kỳ câu trả lời nào mà tôi đã đưa ra cho hắn tối hôm đó. Holmes khẳng định rằng anh đã nghe lỏm được lúc tôi cảnh báo hắn về mối nguy hiểm lớn nếu uống quá hai giọt dầu thầu dầu, trong khi tôi lại khuyên dùng strychnine liều cao như một loại thuốc an thần. Dù thế nào đi nữa, tôi thực sự cảm thấy nhẹ nhõm khi chiếc xe ngựa của chúng tôi khựng lại với một cú xóc mạnh và người đánh xe nhảy phắt xuống để mở cửa.

“Thưa tiểu thư Morstan, đây chính là Pondicherry Lodge,” ngài Thaddeus Sholto vừa nói vừa đưa tay đỡ cô bước xuống xe.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.