Dấu Hiệu Của Bộ Tứ

Lượt đọc: 165 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Bản Trình Bày Vụ Án

❊ ❊ ❊

Cô Morstan bước vào phòng với bước đi vững vàng và dáng vẻ bên ngoài điềm tĩnh. Nàng là một thiếu nữ tóc vàng, vóc người nhỏ nhắn, thanh tú, mang găng tay chỉn chu và ăn mặc có gu thẩm mỹ hoàn hảo. Tuy nhiên, trang phục của nàng lại rất mộc mạc và giản dị, phảng phất nét của một người có gia cảnh eo hẹp. Bộ váy mang màu xám be ảm đạm, không viền không tua, và nàng đội một chiếc khăn vấn nhỏ cùng tông màu, chỉ được điểm xuyết một chút sắc trắng của chiếc lông vũ bên sườn. Guông mặt nàng không có nét nào thực sự chuẩn mực hay làn da kiều diễm, nhưng biểu cảm lại ngọt ngào và khả ái, còn đôi mắt xanh lớn toát lên vẻ tinh tế và đầy đồng cảm lạ lùng. Qua trải nghiệm tiếp xúc với phụ nữ ở nhiều quốc gia và ba lục địa khác nhau, chưa bao giờ tôi ngắm nhìn một khuôn mặt nào lại hứa hẹn rõ ràng đến thế về một bản tính thanh tao và nhạy cảm. Tôi không tài nào không để ý thấy rằng, khi nàng ngồi xuống chiếc ghế do Sherlock Holmes kéo ra, đôi môi nàng run rẩy, bàn tay khẽ lẩy bẩy, và nàng biểu lộ mọi dấu hiệu của sự bấn loạn nội tâm tột cùng.

“Tôi đến gặp anh, ông Holmes,” nàng nói, “vì anh đã từng giúp người chủ của tôi, bà Cecil Forrester, gỡ rối một rắc rối nhỏ trong gia đình. Bà ấy rất ấn tượng trước lòng tốt và tài năng của anh.”

“Bà Cecil Forrester,” anh nhắc lại vẻ trầm ngâm. “Tôi tin rằng mình đã giúp được bà ấy chút ít. Tuy nhiên, theo tôi nhớ thì vụ việc đó rất đơn giản.”

“Bà ấy không nghĩ vậy. Nhưng ít ra anh không thể nói thế về vụ của tôi được. Tôi khó lòng có thể tưởng tượng ra điều gì kỳ lạ hơn, hoàn toàn khó lý giải hơn tình cảnh mà tôi đang rơi vào lúc này.”

Holmes xoa hai tay vào nhau, đôi mắt ánh lên rạng rỡ. Anh rướn người về phía trước ghế, trên những nét mặt sắc sảo, tựa chim ưng hằn lên vẻ tập trung cao độ. “Hãy trình bày vụ việc của cô,” anh cất giọng nhanh nhẩu, đậm chất công việc.

Tôi cảm thấy vị thế của mình thật khó xử. “Hai người chắc sẽ tha lỗi cho tôi chứ,” tôi vừa nói vừa đứng dậy khỏi ghế.

Trái với dự đoán của tôi, nàng thiếu nữ giơ bàn tay đeo găng lên để giữ tôi lại. “Nếu người bạn của anh,” nàng nói, “có lòng ở lại, anh ấy có lẽ sẽ giúp ích cho tôi vô cùng.”

Tôi đành ngồi thụp lại xuống ghế.

“Nói một cách ngắn gọn,” nàng tiếp lời, “sự tình là thế này. Cha tôi là một sĩ quan trong trung đoàn đồn trú tại Ấn Độ, ông đã gửi tôi về nước khi tôi còn rất nhỏ. Mẹ tôi đã qua đời, và tôi chẳng còn người thân nào ở Anh cả. Dẫu vậy, tôi được gửi vào một nhà trọ khang trang ở Edinburgh, và tôi ở đó cho đến năm mười bảy tuổi. Vào năm 1878, cha tôi, lúc bấy giờ là đại úy thâm niên của trung đoàn, được nghỉ phép mười hai tháng và trở về nước. Ông gửi điện tín từ Luân Đôn báo rằng đã bình an vô sự đến nơi, đồng thời bảo tôi hãy xuôi về ngay, và cho biết địa chỉ là Khách sạn Langham. Thông điệp của ông, theo trí nhớ của tôi, tràn ngập tình yêu thương và sự ân cần. Khi đến Luân Đôn, tôi đi xe thẳng tới Langham và được thông báo rằng Đại úy Morstan đang trọ ở đó, nhưng ông đã ra ngoài từ tối hôm trước và vẫn chưa trở về. Tôi đợi suốt cả ngày trời mà chẳng có chút tin tức gì về ông. Đêm hôm đó, theo lời khuyên của người quản lý khách sạn, tôi đã báo cảnh sát, và sáng hôm sau chúng tôi đăng thông cáo trên tất cả các tờ báo. Cuộc dò hỏi của chúng tôi chẳng mang lại kết quả gì; và từ ngày đó cho đến tận bây giờ, chẳng hề có một lời nào đồn đoán về người cha bất hạnh của tôi. Ông trở về nhà với trái tim tràn đầy hy vọng, để tìm kiếm sự bình yên, chút an ủi, thế mà thay vào đó—” Nàng đưa tay ôm lấy cổ, và tiếng nấc nghẹn ngào đã cắt ngang câu nói.

“Ngày tháng cụ thể?” Holmes hỏi, vừa mở cuốn sổ tay của mình.

“Ông mất tích vào ngày 3 tháng 12 năm 1878 — tính ra đã gần mười năm trước.”

“Hành lý của ông ấy thì sao?”

“Vẫn ở lại khách sạn. Chẳng có gì trong đó có thể gợi ý một manh mối nào cả — dăm bộ quần áo, vài cuốn sách, và một số lượng đáng kể các món đồ lưu niệm từ Quần đảo Andaman. Ông từng là một trong những sĩ quan phụ trách đội canh gác tù nhân ở đó.”

“Ông ấy có người quen nào ở trong thành phố không?”

“Chỉ có duy nhất một người mà chúng tôi biết — Thiếu tá Sholto, cùng trung đoàn 34 Bộ binh Bombay với ông ấy. Viên thiếu tá đã về hưu cách đó không lâu và sống tại Upper Norwood. Tất nhiên là chúng tôi đã liên lạc với ông ấy, nhưng ông ấy thậm chí còn chẳng hề hay biết người đồng ngũ của mình đang ở Anh.”

“Một vụ việc kỳ lạ,” Holmes nhận xét.

“Tôi vẫn chưa kể cho các anh nghe phần kỳ lạ nhất đâu. Khoảng sáu năm trước — chính xác là vào ngày 4 tháng 5 năm 1882 — có một mẩu quảng cáo xuất hiện trên tờ Times, dò hỏi địa chỉ của cô Mary Morstan và thông báo rằng nếu cô ấy trình diện thì sẽ có lợi. Không có tên hay địa chỉ nào được đính kèm phía dưới. Vào thời điểm đó, tôi vừa mới vào gia đình bà Cecil Forrester làm gia sư. Theo lời khuyên của bà ấy, tôi đã đăng địa chỉ của mình lên chuyên mục quảng cáo. Ngay ngày hôm đó, có một chiếc hộp các-tông nhỏ được gửi qua đường bưu điện đề tên tôi, và bên trong tôi thấy có một viên ngọc trai rất lớn và sáng lóng lánh. Không có một chữ viết nào kèm theo cả. Kể từ đó, cứ vào mỗi năm đúng ngày ấy, lại có một chiếc hộp y hệt xuất hiện, chứa một viên ngọc trai tương tự, mà hoàn toàn không có bất kỳ manh mối nào về người gửi. Chúng đã được một chuyên gia giám định là thuộc một chủng loại hiếm và có giá trị đáng kể. Các anh có thể tự mình thấy chúng đẹp đến thế nào.” Vừa nói, nàng vừa mở một chiếc hộp phẳng ra và trưng cho chúng tôi xem sáu viên ngọc trai đẹp nhất mà tôi từng thấy trong đời.

“Lời trần tình của cô vô cùng thú vị,” Sherlock Holmes nói. “Còn điều gì khác xảy ra nữa không?”

“Có, và vừa mới xảy ra hôm nay xong. Đó là lý do tại sao tôi phải tìm đến hai anh. Sáng nay tôi nhận được bức thư này, có lẽ các anh nên tự mình đọc lấy thì hơn.”

“Cảm ơn cô,” Holmes nói. “Cả chiếc phong bì nữa, xin vui lòng cho xem luôn. Dấu bưu điện: Luân Đôn, S.W. Ngày: 7 tháng 7. Hừm! Vết ngón tay cái của đàn ông ở góc — có lẽ là của người đưa thư. Giấy chất lượng tốt nhất. Phong bì loại sáu xu một tập. Một kẻ rất kỹ tính trong chuyện văn phòng phẩm. Không có địa chỉ. ‘Hãy có mặt ở cột nhà thứ ba tính từ bên trái bên ngoài Nhà hát Lyceum tối nay lúc bảy giờ. Nếu cô hoài nghi, hãy dẫn theo hai người bạn. Cô là một phụ nữ bị oan ức, và cô sẽ đòi lại được công lý. Đừng báo cảnh sát. Nếu cô làm thế, mọi chuyện sẽ thành công cốc. Người bạn vô danh của cô.’ Chà, thực sự thì đây là một vụ án bí mật nhỏ khá thú vị đấy. Cô dự định sẽ làm gì, cô Morstan?”

“Đó chính xác là điều tôi muốn hỏi anh đây.”

“Thế thì chúng ta chắc chắn sẽ đi rồi. Cô và tôi, và — ừm, sao cơ, Bác sĩ Watson chính là người thích hợp nhất. Người liên lạc với cô nói là hai người bạn. Cậu ấy và tôi đã từng cộng tác cùng nhau trước đây.”

“Nhưng liệu anh ấy có đi không?” nàng hỏi, giọng nói và nét mặt phảng phất vẻ nài nỉ.

“Tôi sẽ rất đỗi tự hào và hạnh phúc,” tôi nhiệt thành đáp, “nếu mình có thể giúp ích được chút gì.”

“Cả hai anh đều rất tốt,” nàng đáp lời. “Tôi vốn sống khép kín, chẳng có bạn bè nào để mà cậy nhờ cả. Nếu tôi có mặt ở đó lúc sáu giờ thì chắc là ổn chứ ạ?”

“Cô không được đến muộn hơn đâu,” Holmes nói. “Tuy nhiên, còn một điểm nữa. Chữ viết tay này có giống với chữ trên mấy chiếc hộp đựng ngọc trai không?”

“Tôi có mang chúng đây,” nàng đáp, rồi rút ra nửa tá mảnh giấy.

“Quả thực cô là một khách hàng mẫu mực. Cô có trực giác rất chuẩn xác. Nào, để chúng ta xem thử.” Anh trải những tờ giấy lên bàn, và liếc nhanh từ tờ này sang tờ khác. “Đều là chữ viết giả dạng cả, ngoại trừ bức thư kia,” lát sau, anh cất lời, “nhưng về tác giả thì không còn phải bàn cãi gì nữa. Hãy nhìn xem chữ e kiểu Hy Lạp cứ trồi lên một cách không tài nào kìm chế nổi kìa, và hãy nhìn cái nét xoắn của chữ s ở cuối từ xem. Chúng đích thị là do cùng một người viết ra rồi. Tôi không muốn gợi lên những hy vọng hão huyền đâu, cô Morstan ạ, nhưng liệu có điểm nào giống nhau giữa nét chữ này và chữ của cha cô không?”

“Không có điểm gì có thể khác nhau hơn thế nữa.”

“Tôi đã đoán trước là cô sẽ nói vậy. Vậy thì chúng tôi sẽ chờ cô vào lúc sáu giờ nhé. Xin hãy cho phép tôi giữ lại những tài liệu này. Tôi có thể sẽ xem xét vụ việc trước thời điểm đó. Bây giờ mới có ba giờ rưỡi thôi. Thôi nhé, tạm biệt.”

“Tạm biệt,” vị khách của chúng tôi nói, và với một cái liếc nhìn tươi tắn, nhân hậu dành cho cả hai chúng tôi, nàng cất lại chiếc hộp đựng ngọc trai vào ngực áo rồi vội vã rời đi. Đứng bên cửa sổ, tôi dõi theo bóng nàng rảo bước nhanh nhẹn dọc theo con đường phố, cho đến khi chiếc khăn vấn màu xám cùng chiếc lông vũ trắng chỉ còn lại như một chấm nhỏ giữa dòng người ảm đạm.

“Quả là một người phụ nữ vô cùng thu hút!” tôi thốt lên, quay sang người bạn đồng hành của mình.

Anh đã châm lại tẩu thuốc, và đang ngả người ra sau với đôi mắt cụp xuống. “Thế á?” anh thốt lên bằng giọng điệu uể oải. “Tôi đâu có để ý.”

“Cậu thực sự là một cỗ máy tự động — một cỗ máy tính toán!” tôi kêu lên. “Đôi lúc ở cậu có cái gì đó hoàn toàn vô cảm.”

Anh mỉm cười hiền lành. “Điều quan trọng hàng đầu,” anh nói, “là không để phán đoán của mình bị ảnh hưởng bởi những phẩm chất cá nhân. Một khách hàng đối với tôi chỉ đơn thuần là một con số — một ẩn số trong một bài toán. Những phẩm chất cảm xúc luôn đi ngược lại với tư duy rành mạch. Tôi đảm bảo với cậu rằng người phụ nữ quyến rũ nhất mà tôi từng biết đã bị treo cổ vì tội đầu độc ba đứa trẻ nhỏ để lấy tiền bảo hiểm, và người đàn ông đáng ghét nhất mà tôi từng quen biết lại là một nhà từ thiện đã bỏ ra gần một phần tư triệu bảng cho người nghèo ở Luân Đôn.”

“Tuy nhiên, trong trường hợp này—”

“Tôi không bao giờ có ngoại lệ. Một ngoại lệ chỉ càng làm bác bỏ quy tắc mà thôi. Cậu đã bao giờ có dịp nghiên cứu tính cách qua chữ viết tay chưa? Cậu rút ra được gì từ mớ nguệch ngoạc của gã này nào?”

“Nó dễ đọc và đều đặn,” tôi đáp. “Đó là con người của công việc và có chút nghị lực.”

Holmes lắc đầu. “Hãy nhìn những chữ cái kéo dài của hắn kìa,” anh nói. “Chúng hầu như chẳng nhô lên cao hơn mức bình thường chút nào. Chữ d đó có thể là chữ a, và chữ l đó có thể là chữ e. Những người có cá tính luôn viết phân biệt rõ ràng các chữ cái kéo dài của họ, dù cho họ có viết ngoằn ngoèo đến đâu đi chăng nữa. Có sự dao động trong chữ k của hắn và lòng tự ái bộc lộ ở những chữ cái viết hoa. Bây giờ tôi phải ra ngoài đây. Tôi có một vài tài liệu cần tra cứu. Để tôi giới thiệu cho cậu cuốn sách này — một trong những tác phẩm đáng chú ý nhất từng được viết ra. Đó là cuốn ‘Sự tử đạo của con người’ của Winwood Reade. Tôi sẽ trở lại trong một tiếng nữa.”

Tôi ngồi bên cửa sổ với cuốn sách trên tay, nhưng tâm trí tôi lại bay bổng đi đâu mất chứ không màng gì đến những phỏng đoán táo bạo của tác giả. Tâm trí tôi cứ quẩn quanh mãi bên vị khách vừa ghé thăm lúc nãy — những nụ cười của nàng, âm vực trầm ấm trong giọng nói của nàng, bức màn bí ẩn kỳ lạ trùm lấy cuộc đời nàng. Nếu năm cha mất tích nàng mười bảy tuổi, thì bây giờ nàng phải tròn hai mươi bảy — một độ tuổi ngọt ngào, khi tuổi trẻ đã trút bỏ được sự ngượng ngùng và trở nên chừng mực hơn đôi chút nhờ những trải nghiệm. Cứ thế tôi ngồi ngẩn ngơ trầm ngâm, cho đến khi những suy nghĩ nguy hiểm len lỏi vào đầu khiến tôi vội vã chạy đến bàn làm việc và đâm đầu một cách điên cuồng vào chuyên luận bệnh học mới nhất. Tôi là cái thá gì chứ, chỉ là một y sĩ quân đội với cái chân yếu ớt và tài khoản ngân hàng còn yếu hơn, mà lại dám mơ tưởng đến những chuyện đó cơ chứ? Nàng chỉ là một đơn vị, một ẩn số — chẳng hơn không kém. Nếu tương lai của tôi có tối tămịt mùng, thì chắc chắn việc đối mặt với nó như một đấng nam nhi vẫn tốt hơn là cố gắng thắp sáng nó bằng những ảo ảnh phù du của trí tưởng tượng.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.