Nghĩ sao ư? Mục đích là tài sản đấy.
Hai người tuổi còn cách nhau như cha con nữa chứ.
Ba mươi sáu tuổi?
Thế chỉ hơn tôi có hai tuổi thôi á?
Tại sao bố tôi không để lại tài sản cho đứa con trai duy nhất là tôi, mà lại chọn người phụ nữ này? Kỳ quái đúng không?
Cô ta lừa tình bố tôi rồi. Chắc chắn là vậy.
Bố tôi bị bệnh mà. Cho nên ông cảm động vì được cô ta chăm sóc lúc bệnh tật thôi, không tránh được bị lừa tình.
Cái gì?
Chẳng có cách nào khác mà. Tôi đang làm việc ở Tokyo nên không thể cứ chốc chốc lại về Hirosaki được. Tôi cũng bàn với bố chuyển lên bệnh viện ở Tokyo nhưng bố tôi là người cả đời không ra khỏi Hirosaki nên chẳng muốn chuyển lên bệnh viên Tokyo.
Ừ, có chăm sóc thì phải, có lẽ thế.
Nếu thế cô thử tính số tiền từ ngày nhập viện xem. Ít hơn số tiền ghi trên di chúc nhiều đấy.
Chỗ dựa tinh thần? Tôi chẳng biết, vì ông ấy có nói gì với tôi đâu.
Cái gì mà cô đơn? Đừng có tự tiện đánh giá như thế chứ! Bố tôi mong muốn vậy mà. Ông ấy cứ mở miệng là kêu tôi lên Tokyo lập nghiệp đi, đàn ông không thể cứ ở cái nơi khỉ ho cò gáy này, phải đến trung tâm của nước Nhật mà thay đổi cuộc đời.
Không liên quan đến tôi phải không?
Cô ta muốn tranh với tôi chứ gì?
Cử cả luật sư đến cơ mà. Họ hàng xa? Hả?
Cái gì mà kinh doanh? Hiệu cầm đồ á? Không thể tưởng tượng nổi.
Cái đó đến thời của bố tôi là kết thúc rồi. Đây cũng là nguyẹn vọng của ông ấy.
Bố tôi ấy mà, ông ấy muốn lên Tokyo nhưng không có cơ hội, cho nên ông ấy không muốn tôi kế thừa cửa hiệu cầm đồ. Vậy đấy, ông ấy nói thế với tôi nhiều lần rồi.
Được chứ. Kết thúc ở đời bố tôi rồi. Cho nên chưa lần nào ông ấy bảo rằng mày không thừa kế gia sản cả. Vì tiền không phải là thứ thừa thải. Tôi phải nhận chứ, đấy là quyền lợi hiển nhiên mà.
Cô nhấn mạnh việc cô ta ở bên cạnh bố tôi, nhưng cũng chỉ một năm ngắn ngủi thôi.
Cô ta làm như hiền hậu lắm, khuyên nhủ tôi nhớ về nhà nhé.
Sao cô ta không xem lại bản thân đi. Cô ta cũng chẳng nuôi con mình mà để chồng cũ nuôi đúng không? Thế cô ta có tư cách gì mà bình luận về mối quan hệ cha con của chúng tôi.
Cái di chúc đó không có hiệu lực.
Vì tôi không công nhận.
Tôi đến bàn tiếp đón, tự giới thiệu tên, bảo rằng mình có hẹn với y tá trưởng, thế là được hướng dẫn vào phía trong ngay lập tức. Cô gái mặc đồng phục y tá trước mặt tôi dừng lại, kéo tấm biển treo trước cửa đổi từ phòng trống thành phòng có người, rồi quay lại phía tôi mỉm cười. Cô ấy mở cửa mời tôi vào ngồi ở ghế chờ y tá trưởng. Căn phòng rộng khoảng bảy mét vuông này được trang trí bằng tranh phong cảnh và bình hoa giả.
Tuần trước, sau bảy năm, Natsuko lại liên lạc với tôi. Lần này cô ta vướng vào một vụ rắc rối khác và nhờ tôi giúp đỡ. Trong bảy năm qua, cô ta đã ly hôn với Yoshiaki và bỏ lại đứa con mà cô ta đặt cho cái tên với ý nghĩa “đứa bé hạnh phúc nhất thế giới”. Còn tôi thì đã kết hôn rồi ly hôn với Sakaguchi. Cuộc đời không như kế hoạch đã vẽ ra.
Cách ga Hirosaki năm phút đi ô tô có một bệnh viện đa khoa, ở đó Natsuko đã chăm bệnh cho Hashimoto Keiichiro, người mà cô ta sống chung như vợ chồng. Keiichiro lập di chúc để lại khối tài sản hơn ba trăm triệu yên, không phải cho con trai mình là Keisuke, mà là cho Natsuko. Lúc nãy tôi đã đến nhà trọ của Natsuko kiểm tra bản di chúc, thấy đó là bản chính thức có công chứng rõ ràng, nói thật tôi thở phào nhẹ nhõm. Natsuko, cô ta dám làm giả cả di chúc lắm chứ, tôi đã mang nỗi nghi hoặc đó đến Hirosaki.
Có tiếng gõ cửa, một người phụ nữ mũm mĩm ghé đầu vào. Chị ta đội chiếc mũ y tá có vạch ngang ở trên, tự giới thiệu tên là Toyoshige Hatsue. Với giọng nói truyền cảm, chị ta kể lại: “Cô Natsuko ấy à, rất thường xuyên đến chăm bệnh đấy. Ông Hashimoto cũng rất dựa dẫm vào cô ấy. Chỉ cần cô Natsuko đến thăm bệnh trễ một chút thôi là mệt với ông ấy rồi. Ông ấy luôn miệng lo lắng nói không biết có phải cô ấy gặp tai nạn hay không mà không đến.”
“Chị là người làm chứng cho bản di chúc của ông Hashimoto đúng không ạ?”
“Vâng. Khi được ông Hashimoto hỏi ý kiến, tôi đã khuyên ông ấy mời công chứng đến bệnh viện, làm một bản di chúc đàng hoàng hợp pháp. Các bệnh nhân rất hay hỏi về việc này. Khi mới bị bệnh, họ chỉ nghĩ đến bản thân mình, nào là đau đớn, nào là sợ hãi, sau khi náo loạn một hồi, họ mới bình tĩnh lại và nghĩ đến cuộc sống sau này của người ở lại. Ông Hashimoto có lẽ cũng đã nghĩ đến điều này. Cô Natsuko với ông ấy không phải là vợ chồng chính thức nên nếu không để lại di chúc thì cô ấy chẳng nhận được gì đúng không? Ông ấy có lời nhờ làm chứng nên tôi cùng hai cô y tá nữa đã giúp.”
“Ở thời điểm đó, ông Keiichiro vẫn ý thức được rõ ràng phải không ạ?”
“Vâng, tất nhiên rồi. Cô có thể hỏi người công chứng cũng như các bệnh nhân cùng phòng. Ông ấy rất minh mẫn.”
“Quan hệ giữa ông Keiichiro và con trai thế nào ạ?”
Chị ta hơi nghiêng đầu. “Câu hỏi này là thế nào ạ?”
Tôi giải thích: “Con trai duy nhất của ông ấy là anh Keisuke cho rằng có lý do gì đấy nên ông ấy không để lại tài sản cho anh ta.”
Chị ta nhìn chăm chú vào mắt tôi, tôi cũng nghiêm túc nhìn lại. Tôi không giống như Ogiwara, vui vẻ nghe theo khách hàng, cũng không thể ra vẻ để trắng trợn thỏa thuận trong khi không hề có manh mối quan trọng nào, cũng chẳng thể giả lả nhiệt tình vồn vã. Nhưng tôi lại có mẹo của mình được tích lũy qua mười hai năm làm luật sư. Đó chính là nghiêm túc nhìn lại. Không có ý đồ gì, chỉ đơn thuần nhìn lại, vậy mà thật kỳ lạ, đa phần đối phương đều nói ra những lời thật tâm. Tôi đã trở thành cái gương để họ nhìn thấy bóng của bản thân mình qua mắt tôi. Trước đây, tôi đã phát hiện ra rằng chỉ mỉm cười không khẳng định cũng chẳng phủ định thì cũng giống như đang nói đối phương cứ đoán đi. Có thời tôi hay sử dụng mẹo này, nhưng cũng có giới hạn, từ khi biết rằng nó không có tác dụng lắm, dần dần tôi không dùng đến nữa. Thay vào đó tôi sử dụng meo biến thành chiếc gương, dựa vào đó cũng có lúc khiến đối phương nói ra những sự thật không ngờ tới. Nhờ vào mẹo này, những phàn nàn khiếu nại về tôi cũng giảm hẳn.
Hatsue thở hắt ra, bắt đầu nói: “Cũng là chuyện thường gặp thôi. Chẳng phải cha con nhà nào cũng hòa thuận với nhau đúng không? Nếu có thêm anh chị em thì chuyện càng phức tạp thêm ấy chứ. Nghe nói vợ ông ấy chết sớm, một mình nuôi con trai nên người. Dù vậy thì cũng có lúc gặp khó khăn mà.”
Sau đó chị ta kể thêm rằng Keisuke đến bệnh viên thăm khoảng hai, ba lần gì đấy, mỗi lần chưa đến ba mươi phút. Tiền nhập viện là do Keisuke trả.
Tôi nhờ Hatsue giới thiệu cho một bệnh nhân tính tình thân thiện trước đây nằm cùng phòng với ông Keiichiro, sau khi cảm ơn và tạm biệt chị ta, tôi nhằm hướng khu bệnh nhân để tìm bệnh nhân đó, ông Kondo Takaaki. Không thấy bóng dáng của ông ấy trong phòng bệnh, theo chỉ dẫn của bệnh nhân giường bên cạnh, tôi thử ra sân tìm. Trong mảnh sân cực nhỏ có đặt ba băng ghế dài, một người đàn ông đang ngồi khoanh tay trên một chiếc ghế trong đó. Người này mặc một chiếc áo len dáng dài bên ngoài bộ pijama.
Tôi tới hỏi xem ông ấy có phải là Kondo Takaaki hay không thì ông ấy ngẩng mặt lên, mắt nheo lại như bị chói, gật đầu. Ngồi xuống bên cạnh, tôi hỏi về Keiichiro, ông ấy gật đầu mấy cái, đáp: “Di chúc đấy phỏng? Cô Natsuko đã tận tình chăm sóc ông ấy nhưng chỉ là vợ chồng không giá thú thôi. Giờ thì cô ấy chắc chắn được nhận tài sản nhỉ?”
“Giờ vẫn đang trong quá trình điều tra ạ.”
“Điều tra cái gì nữa? Ông Hashimoto bảo là đã làm di chúc đàng hoàng rồi nên yên tâm ra đi đấy. Có vấn đề gì sao? A... anh con trai nhỉ? Thật ra tôi cũng đã lo chuyện này xảy ra. Tôi cũng hơi nhiều chuyện thật nhưng đã bảo với ông ấy rằng nếu để lại hết tài sản cho cô Natsuko thì anh con trai sẽ không chịu đâu. Thế mà ông ấy trả lời rằng ông ấy không nuôi thằng con ăn hại chỉ chăm chăm vào tài sản của bố, từ nhỏ đã nói rõ với nó là nó phải tự lực cánh sinh mà sống. Kể cũng ghen tỵ thật đấy, ông Hashimoto trước khi lên thiên đàng còn được một cô gái trẻ như thế chăm bệnh.”
“Vậy có nghĩa là việc không để lại tài sản cho con trai là ý của ông Keiichiro phải không ạ?”
“Ông ấy nói như vậy, còn ông ấy thật sự nghĩ thế nào thì tôi chả biết.”
“Có khả năng đó không phải là điều ông ấy thật sự nghĩ sao?”
Ông Kondo lắc đầu. “Cái đó thì tôi không biết.”
“Ông có cho rằng cô Natsuko khiến ông Keiichiro viết ra một bản di chúc như thế không?”
Ông Kondo nhìn tôi chằm chằm, tôi cũng bình tĩnh nhìn lại. Ông ấy đang đối thoại với hình ảnh của bản thân mình phản chiếu qua mắt tôi. Một lúc sau, trên khuôn mặt ông ấy bắt đầu xuất hiện nỗi khiếp sợ. Cụp mắt xuống, ông ấy kéo lại chiếc áo len đang mặc, rồi ngẩng lên nhìn cái cây gầy guộc phía đối diện, than: “Rét quá! Luật sư, cô có tiền xu không? Ngay góc đó có cái máy bán hàng tự động, cô đãi tôi một cốc cà phê được không nhỉ? Máy bán hàng tự động mà cũng tính thêm tiền thuế giá trị gia tăng, thật chả ra làm sao cả. Từ ngày mồng Một tháng Tư, tất cả các máy bán hàng tự động trong bệnh viện đều tăng giá thêm mười yên. Đời là bể khổ mà.”
Khi tôi đứng dậy, ông ấy còn dặn: “Nhớ nhấn nút tăng lượng để thêm đường và kem đấy!”
Tôi rời đi rồi, ông ấy vẫn dặn với theo: “Ấn mạnh nút tăng lượng vào!”
Tôi đút tiền xu vào máy bán hàng tự động nơi góc cầu thang. Chiếc cốc giấy rơi xuống, tôi hơi cúi người để xác định xem cà phê đã chảy vào cốc chưa rồi đứng thẳng người dậy. Có tiếng lạch cạch vang lên, tôi quay người lại thì thấy một bệnh nhân đang kéo theo cây truyền nước đi tới. Nhìn vào trong sân, ông Kondo vẫn đang ngồi thẫn thờ trên ghế đá. Có lẽ ông ấy đang giấu giấm điều gì đó. Tại sao lại có nỗi khiếp sợ hiện lên trên mặt ông ấy, hay là tôi nhìn nhầm?
Bản thân bản di chúc đó không có vấn đề gì, nhưng tôi không từ bỏ được suy nghĩ rằng có thể Natsuko đã động tay động chân vào. Việc cô ta chăm bệnh, tôi càng nghe càng thấy sao sao đó. Ngay cả lúc cô ta trông có vẻ hạnh phúc với vai trò nội trợ, lấy chồng sinh con, thì vẫn có nghi vấn cấu kết với gã thợ làm tóc để lừa đảo chiếm đoạt tiền bảo hiểm cơ mà. Vì tài sản thừa kế, chắc cô ta cũng không ngại ngày ngày đến bệnh viên chăm bệnh đâu nhỉ? Tôi có hỏi cô ta có tính đến việc đưa lại một phần tài sản cho Keisuke không thì cô ta bảo một đồng cũng không đưa. Và rồi cô ta kể lể dông dài rằng mình đã cống hiến, hy sinh thế nào cho ông Keiichiro. Cô ta càng kể tôi càng thấy giả tạo, tâm trạng cũng trở nên tồi tệ hẳn. Nếu cô ta cứ nói thẳng ra là mình nhắm vào tài sản thì còn thoải mái hơn. Tôi đang chán ngấy đến tận cổ thì cô ta tiếp tục bảo là việc để lại tài sản cho cô ta là ý của ông Keiichiro, nếu không làm vậy ông ta sẽ hiện hồn về liền, rồi cô ta làm động tác hai tay treo lủng lẳng như thây ma. Cái này nhìn thế nào cũng không phải thái độ dành cho người thân yêu vừa mới ra đi, tôi càng cảm thấy nghi ngờ hơn.
Lấy cốc cà phê ra, tôi ấn vào nút trà chanh, mua một cốc cho mình. Hai tay hai cốc, tôi trở lại chỗ ông Kondo. Ông ấy nói cảm ơn, đưa hai tay đón cốc cà phê rồi bảo: “Tôi mới suy nghĩ một tí, có thể nhờ luật sư giúp tôi làm di chúc không?”
Tôi đáp rằng tất nhiên là được, rồi đặt cốc trà chanh xuống ghế, rút sổ tay ra. “Tiếc là hôm nay tôi còn phải đi lòng vòng thêm một số nơi nữa, nên chúng ta hẹn hôm nào đó bàn chuyện nhé?”
Ông Kondo chậm rãi nâng cốc lên uống ừng ực, xong rồi ông ấy cứ nhìn chăm chú vào đáy cốc, nhẹ nhàng lên tiếng: “Luật sư vẫn còn nhiều thời gian.” Ông ấy quay mặt về phía tôi, nói tiếp: “Nhưng tôi là bệnh nhân, chẳng còn mấy thời gian nữa, lần hẹn sau có gặp được hay không,” lại quay đầu về phía cái cây trước mặt, “tôi không biết được.” Lời này như chiếc kim đâm vào tim, khiến tôi nín lặng. Tôi cũng có kinh nghiệm làm di chúc, nhưng khách hàng toàn là người khỏe mạnh. Họ là những người có tiền, chuẩn bị sẵn di chúc để phòng ngừa sau này. Thế nhưng tôi chưa từng làm di chúc cho người sắp chết bao giờ. “Luật sư trông thế nhưng cũng tốt tính phết nhỉ. Khuôn mặt hối lỗi ấy làm tôi mềm lòng đấy. Cô chưa từng làm di chúc bao giờ à?”
“Không, tôi làm rồi.”
“Chắc là không phải cho người chẳng còn mấy thời gian đúng không?”
Tôi chẳng biết nên trả lời thế nào, chỉ biết nắm chặt lấy cuốn sổ tay.
Ông Kondo bảo: “Nguội mất đấy.” Tay chỉ vào cốc trà chanh đang đặt trên ghế.
Tôi lúng túng cầm cốc trà đưa lên miệng uống luôn, cảm nhận được dòng chất lỏng ấm áp chảy xuống họng. “Tài sản cũng chẳng phải nhiều nhặn gì,” ông Kondo nói. “Tôi muốn chuyển lời cảm ơn đến người vợ đã chia tay, cái đó có viết vào di chúc được không cô?”
“Cái này... còn phụ thuộc vào biểu hiện ở mức độ nào và phân lượng ra làm sao nữa ạ.”
“Phân lượng à? Cũng kha khá đấy, chỉ một lời cảm ơn thì chẳng thể nào đủ được, cuối cùng rồi mà.”
Tôi vờ như không nghe thấy chữ “cuối cùng”. “Nếu vậy, chúng ta chia ra viết cả thư và di chúc thì sao ạ? Tôi sẽ giữ cả hai, sau khi bác mất... Sau này, tôi sẽ đưa cho người được chỉ định.”
Ông Kondo mỉm cười ôn hòa, đưa cốc cà phê lên uống. Ông ấy không có vẻ gì khó chịu với những lời thất thố của tôi.
Ông Kondo kể: “Cô Natsuko, người cũng như tên, rực rỡ như mặt trời mùa hạ[[1]], chiếu sáng cả phòng bệnh mỗi lần cô ấy đến. Bệnh nhân ấy mà, mỗi lần mở miệng đều là những lời bi quan tiêu cực. Thế là cô Natsuko bảo là không được, không được, nói chuyện gì vui vẻ đi nào. Cô ấy rủ mọi người xếp hạng những thứ vui vẻ nhất cuộc đời từ một đến mười. Tôi mới bảo làm gì có đến mười thứ. Cô ấy giả làm mặt giận, bảo là có chứ, chỉ là quên thôi. Cô Natsuko nhiệt tình khuyến khích quá nên tôi cũng thử viết ra giấy xem sao. Ban đầu chả nghĩ ra cái gì cả, rên rỉ một hồi tôi cũng nhớ ra từng chút một.” Ông ấy nghiêng cốc uống phần cà phê còn lại rồi đặt lên ghế. “Những ký ức vui vẻ hầu như là lúc sống cùng với vợ, nếu tôi biết trân trọng thì đã khác, nhưng lúc ấy lại chẳng để ý. Chỉ khi mạng sống lay lắt mới nhớ tới thì thật là...” Ông ấy chầm chậm lắc đầu.
Cái cách Natsuko tiếp cận ông Kondo, kẻ chẳng phải đối tượng lừa đảo, khiến tôi ngạc nhiên. Cô ta đã... thêm sắc màu vào cuộc sống bệnh tật của ông ấy. Cái này... e là điều tuyệt vời mà cô ta ít khi làm. Nhận thấy bản thân lại quan tâm đến Natsuko, tôi lúng túng ho mấy tiếng.
2
Tôi bảo với ông Kondo là làm xong chuyện tôi sẽ quay lại bệnh viện. Sau đó, tôi tới văn phòng công chứng ở gần ga Hirosaki. Bước vào thang máy, ấn nút tầng năm, tôi ấn mạnh vào ngực vì cảm thấy không thể bình tĩnh được. Nhìn đồng hồ, còn năm phút nữa mới đến giờ hẹn lúc một giờ chiều. Từ lúc nói chuyện với ông Kondo tới giờ, tim tôi cứ xốn xang kiểu gì ấy, lần đầu tiên trong đời tôi bị như vậy.
Đến tầng năm, tôi bảo muốn gặp Nishino Terumitsu ở bàn tiếp đón, rồi được mời vào một căn phòng nhỏ. Nishino đã ngồi ở trong đó rồi. Không chỉ tóc mà lông mày ông ấy cũng bạc trăng như Bụt. Hai bên tự giới thiệu xong, tôi bèn ngồi xuống đối diện với Nishino. Tôi bảo là mình muốn hỏi chuyện làm di chúc của ông Keiichiro, ông ấy gật đầu, kể lại mọi chuyện như Hatsue đã kể.
Tôi xác mình lại điểm quan trọng: “Việc lập di chúc cũng như nội dung di chúc hoàn toàn là theo ý của ông Keiichiro phải không ạ?”
Ông ấy gật đầu về chắc chắn: “Đúng thế.”
Tôi được cho xem bản gốc lưu trữ tại văn phòng công chứng, không khác gì bản mà Natsuko cho tôi xem, không hề có điểm giả mạo nào.
“Tuy nhiên,” Nishino nói, “trong lòng thế nào thì không biết được.”
Thấy vẻ mặt như muốn hỏi của tôi, ông ấy đặt tay lên bản di chúc để trên bàn: “Bản di chúc này không có gì bất thường cả, tôi đã lập theo đúng thủ tục, ghi lại những điều mà chính tai tôi nghe ông Keiichiro nói. Nhưng mà có người đến cả di chúc cũng chẳng thật tâm đâu. Tôi cho rằng đã đến lúc cuối đời rồi thì cũng nên thành thật với bản thân. Luật sư Ishida có nghĩ như vậy không?”
“Tôi đã từng có kinh nghiệm làm di chức nhiều lần rồi nhưng chưa thụ lý nhiều vụ án đến mức thế. Tôi thật sự không hiểu lắm điều ông vừa nói.”
Ông ấy cười vui vẻ: “Cô đúng là một luật sư thành thật đấy nhỉ. Có trường hợp thế này nhé. Một bà vợ đến chỗ chúng tôi bảo là còn sống không được bao lâu nên muốn lập di chúc, nhưng không muốn để một đồng nào cho ông chồng quen thói trăng hoa. Tài sản mà bà ấy đứng tên là căn hộ và cổ phiếu được thừa hưởng từ bố mẹ đã mất. Trong di chúc ghi rằng chỉ để lại tài sản cho hai đứa con. Sau khi bà ấy mất thì hai cô con gái được mời tới đây, các cô ấy mới nói lại như sau. Họ đã nghe mẹ họ nói về bản di chúc, cũng đã xem bản sao nên biết nội dung rồi. Hai chị em có bàn bạc với nhau và cho rằng di chúc không phản ánh điều mà mẹ họ thực sự mong muốn. Một người hay ghen như mẹ họ, cho đến lúc cuối đời vẫn không bỏ được tính ghen tuông nên mới thế. Họ muốn nhường lại một phần tài sản cho bố.” Ông ấy dang hai tay ra. “Các cô con gái cho là di chúc không phải điều mẹ các cô mong muốn. Tôi thì chẳng biết được điều đó đúng hay sai. Cái này chỉ có người đã mất mới biết được. Vì con người là một loài sinh vật phức tạp mà.”
“Vậy chỉ bản thân ông Keiichiro mới biết được suy nghĩ thật sự của mình sao?”
“Tôi cho là vậy.”
Rời khỏi văn phòng công chứng, tôi bắt taxi đến cửa hiệu cầm đồ của Keiichiro. Không biết có phải là do nghĩ cho khách hàng hay không mà cửa hiệu nằm ở mặt sau một con phố chính. Cánh cửa có thể là lối ra vào cũng bé và không bắt mắt lắm, giờ đang đóng chặt. Đầu tiên, tôi sẽ hỏi thăm từ khu dân cư đối diện nhưng gặp toàn những người kín miệng nên thông tin thu được cũng không đáng kể. Tôi bèn vòng ra con phố chính, vào một quán rượu và bước sâu vào bên trong. Bên cạnh quầy thanh toán có một người phụ nữ đang ngồi cắt giấy. Ngay khi tôi vừa giới thiệu tên và hỏi thăm về cửa hiệu cầm đồ ở mặt sau thì bà ấy đã nói luôn:
“Là ông Hashimoto đấy mà. Nhanh thật đấy, đã mất rồi, trước đây ông ấy khỏe mạnh thế kia. Người ta đồn là do người đàn bà kia hút mất dương khí đấy, cô ta xuất hiện mới ba tháng thì ông ấy đã bị bệnh phải nhập viện rồi.”
“Người đàn bà đó tên là Natsuko phải không ạ?”
“Phải, Natsuko, cứ bắt bọn đàn ông gọi là Nat-chan cơ, tuổi cũng quá ba mươi lăm rồi đấy.” Bà ta nhếch miệng. “Lại còn mặc váy đỏ rực nữa chứ, đầu óc hơi có vấn đề hay sao ấy, váy ngắn cực nhé. Cái cô Natsuko ấy, chỉ cần là giống đực thì đến cả chó cô ta cũng liếc mắt đưa tình. Còn ông Keiichiro, từ hồi còn nhỏ đã rất được con gái thích đấy, trông trí thức mà, toàn đọc mấy cái sách nhìn đã thấy khó rồi, khác hẳn bọn nam sinh bẩn bẩn ở đây. Người ta cứ bảo đúng là người thừa kế đời thứ tư của cửa hiệu Hashimoto. Bọn con gái thầm thì không biết anh chàng sẽ lấy con nhà ai, kết cục lại lấy con gái nhà Noshiro. Là thông qua mai mối đó. Chẳng bao lâu thì sinh được thằng Keisuke, nhưng con chưa được một tuổi thì bà ấy đã mất rồi, Ai cũng nghĩ chắc là ông ấy sẽ đi bước nữa thôi nhưng mà không hề nhé, một tay ông ấy nuôi thằng Keisuke khôn lớn nên người. Thật hiếm có! Cũng nghiêm khắc phết đấy, bao lần tôi thấy thằng Keisuke bị phạt đứng ngoài cửa hiệu rồi. Người như thế mà chớp mắt đã bị con mèo cái kia quyến rũ. Lúc tôi đến thu tiền thì thấy con đàn bà kia gọi ông Keiichiro là “papa”, ngả ngớn không chịu được.”
“Vậy ạ?”
“Cô ta ấy mà, thái độ với đàn ông và phụ nữ hoàn toàn khác nhau nhé. Gần đây có một quán soba[[2]], có Yoshie-chan làm việc ở đấy. Cô ta đi cùng ông Keiichiro và hai người đàn ông khác nữa tới quán vào giờ ăn trưa. Quán rất đông. Yoshie-chan đến để hỏi họ gọi món gì thì chỉ có ba người kia gọi, còn cô ta bảo là chưa nghĩ ra nên ăn cái gì, để xem cái đã. Thế là Yoshie-chan mới chuyển lời lại với nhà bếp làm món cho ba người kia, chờ lúc nữa lại đến hỏi cô ta muốn gọi món gì. Lúc đó cô ta nũng nịu dựa vào ông Keiichiro, dài giọng bảo “Làm sao giờ nhỉ?”. Đây là tôi đang kể lúc ăn trưa đấy nhé, ngoài quán khách xếp cả hàng dài chờ ăn rồi. Yoshie-chan mới bảo là “Khi nào cô nghĩ xong thì gọi nhé”, rồi rời đi làm việc. Phải vậy thôi vì quán đông mà. Cuối cùng cũng nghĩ ra muốn ăn cái gì, Natsuko mới giơ tay gọi thì vì quá bận nên Yoshie-chan không đến ngay được, thế là cô ta có vẻ giận dỗi. Tất nhiên là cuối cùng con bé cũng đến để nghe gọi món rồi. Quán đông nghẹt nên Yoshie-chan phải chạy lòng vòng hết bàn nọ đến bàn kia, khi đang bưng mì soba qua chỗ Natsuko ngồi thì cô ta đưa chân ra ngáng đó. Con bé vấp phải cái chân đó, đang bưng mì thì ngã lăn quay ra, đầu gối rướm máu, nước mì văng cả lên người khách, kinh khủng lắm. Theo lời của Yoshie-chan thì chắc chắn vấp phải cái gì đó mới ngả, theo vị trí mà phán đoán thì chỉ có chân của Natsuko thôi. Thế mà cô ta cũng như mọi người khác, hỏi thăm này nọ, “Ôi trời, em có sao không?”. Thật là không tưởng tượng nổi!”
Sao mà háo thắng thế không biết? Chỉ vì phục vụ không đến ngay mà ngáng chân người ta, chuyện này chỉ trẻ con mới làm. Đây cũng là điểm tôi ghét cay ghét đắng ở Natsuko. Tôi thầm thở dài, hỏi tiếp:
“Mối quan hệ giữa ông Keiichiro và anh Keisuke thế nào ạ?”
“Hả... có vẻ như không mấy khi về thì phải. Làm việc ở Tokyo mà, chẳng làm sao khác được. Nhiều nhà như thế lắm, con cái không nối nghiệp được cha mẹ. Thời đại này cũng khó mà làm khác được.”
Sau đó, bà ấy bắt đầu dông dài về chuyện của con trai và con gái mình. Thấy có vẻ liên miên không biết lúc nào mới xong, tôi giả vờ như vô ý mà nhìn đồng hồ trên tay. Nếu có Ogiwara ở đây, kiểu gì cũng trợn mắt vì hành động này nhưng không sao, ở đây chỉ có mình tôi thôi. Cuối cùng bà ấy cũng ngừng nói. Tôi liền hỏi:
“Bác có biết gì về tài sản của ông Keiichiro không ạ?”
“Tài sản... thì Keisuke thừa hưởng đúng không? Không phải sao? Hử. Con đàn bà kia nói gì à? Vậy à? Luật sư từ Tokyo là do Keisuke mời đến để ngăn cô ta cướp mất tài sản đúng không? Vậy sao?”
Bà ấy không biết gì về tài sản cũng như về bản di chúc, cho nên cũng không còn gì để hỏi. Tôi bảo là minh không thể tiết lộ điều gì, từ chối hết các câu hỏi liên hồi của bà ấy rồi ra khỏi quán. Sau đó, tôi đi vòng vòng hỏi chuyện các nhân vật như là bạn học của Keiichiro, hoặc người hay đánh cờ mỗi tuần một lần với ông ấy, nhưng không thu hoạch được gì. Từ người tự xưng là quen biết từ xưa đến người từng đến bệnh viên thăm nom đều không biết gì về bản di chúc cũng như chưa từng được ông Keiichiro hỏi ý kiến. Cái tôi thu được toàn là những lời ghen ty và đố kỵ với hai kẻ yêu nhau chẳng màng tuổi tác, Keiichiro và Natsuko. Đối với đàn ông, Natsuko được khen là quyến rũ, đáng yêu thì với phụ nữ, cô ta nhận được những lời phê phán nặng nề. Từ xưa vẫn thế mà.
Tôi bắt taxi quay về khách sạn. Để ý thấy sắc hồng của hoàng hôn nhuộm cả vào trong xe, tôi ngoảnh mặt sang trái ngắm mặt trời. Cả một vầng sáng chói lọi chiếu rực muôn phương, chưa bao giờ tôi thấy mặt trời rực rỡ thế này cả, có lẽ là do ở đây không khí sạch hơn ở Tokyo. Trước khi trời chuyển tối, vạn vật như tắm mình trong ánh hoàng hôn đầy phô diễn ấy.
Chợt khuôn mặt của ông Kondo hiện lên trong tâm trí tôi. Ông ấy bị bệnh gì nhỉ? Ông ấy sẽ lập di chúc thế nào đây? Nếu là tôi thì phải làm sao? Như quy định của pháp luật, tất cả tài sản để lại cho người thân là bố mẹ và anh chị cũng chẳng sao, có lẽ tôi không cần phải lập di chúc. Sống như tôi thì chẳng có ai mà để lại tâm nguyện, cũng chẳng có gì mà để lại. Như thế... không phải quá cô đơn ư? Đời tôi là... vậy rồi. Tôi cười cay đắng.
Tuần trước, tôi có xem một bộ phim về cuộc đấu tranh giữa một luật sư mới vào nghề và một thế lực xấu xa. Ở văn phòng luật của Ogiwara, tôi chẳng bao giờ nhận những vụ tai tiếng như thế. Cũng chẳng phải vì vậy mà tôi bất mãn với công việc. Ngày ngày cứ giải quyết các vụ kiện được giới thiệu sao cho không ai phàn nàn, tôi cũng thấy chán chường, nhưng lại bắt đầu có ý nghĩ là ai cũng thế thôi. Cho nên nếu giả sử được thông báo rằng mạng sống chỉ còn đến cuối tháng này thì tôi cũng không có gì lo lắng hay băn khoăn. Từ trước kia tôi đã chẳng phải là đứa trẻ có hoạch định cho tương lai của mình.
Taxi cứ chạy trong ánh hoàng hôn, khoảng mười phút thì về tới bệnh viện. Đi thẳng về phía phòng bệnh, kéo cửa bước vào, tôi lặng người đi. Giường bệnh của ông Kondo đã được dọn sạch sẽ, trên tủ đầu giường cũng chẳng còn gì. Vội vàng tiến lại gần giường, tôi ngẩn ngơ bước vòng quanh. Chẳng lẽ... Lúc sáng ông ấy vẫn còn khỏe mạnh mà.
“Tôi còn sống mà.”
Tôi giật nảy mình, quay lại thì thấy ông Kondo đang đứng ở cửa. Hai chân bủn rủn, tôi phải vịn vào thành giường.
“Xin lỗi nhé.” Ông Kondo tỏ vẻ hối lỗi, cao giọng bảo: “Làm cô giật mình rồi. Cô không sao chứ? Sắc mặt trông xấu lắm. Sau khi cô rời đi thì tôi được đổi sang phòng bệnh khác. Lúc nãy tôi tính đi vệ sinh thì thấy bóng người trông giống cô lắm bước vào phòng bệnh lúc trước, vậy là tôi tới xem thử. Thấy cô lặng người trước cái giường trống không, tôi mới đoán có lẽ là cô hiểu nhầm gì đó. Tôi vẫn sống sờ sờ, không phải hồn ma đâu.”
Theo lời chỉ dẫn của ông Kondo, tôi tới phòng bệnh mới của ông ấy chờ, còn ông ấy đi vệ sinh. Đây là một phòng hai giường, giường trước mặt không có ai, tôi tiến về phía chiếc giường trông có vẻ lộn xộn bên cạnh cửa sổ, trên giá bên cạnh giường có đặt mấy thứ như cốc uống nước, kính mắt. Đưa mắt dõi theo những bằng chứng cho thấy ông Kondo còn sống, tôi mới bình tâm lại. Sao tự nhiên tôi lại kỳ quái thế này, đã nhìn thấy và trò chuyện với ông ấy rồi mà vẫn phải nhìn đồ vật xác nhận lại lần nữa mới yên tâm. Tôi chuyển chiếc ghế tròn trong góc đến gần giường, ngồi xuống ngắm cảnh qua cửa sổ. So với lúc ngắm trên taxi thì giờ mặt trời xuống thấp hơn nhiều, nhuộm đỏ cả khu dân cư. Có tiếng bước chân vang lên, tôi quay lại thấy ông Kondo đang lại gần, một tay che ngang bụng. Ông ấy leo lên giường, chỉnh cho đầu giường nâng lên rồi ngồi dựa vào đó, lấy giấy và bút từ ngăn kéo tủ cạnh giường ra.
“Luật sư à, lúc nãy cô bảo tôi viết thư, tôi có thử nhưng mà chịu thôi, từ nhỏ tôi đã dốt môn Văn rồi. Tôi nói, rồi cô sắp xếp lại viết hộ tôi được chứ?”
“Cái đó thì không sao cả, nhưng làm thế có ổn không ạ?”
“Được chứ, chỉ cần họ hiểu là được.”
“Nếu vậy,” tôi lấy máy ghi âm từ trong túi đặt dưới chân ra. “Chúng ta thu âm nhé!”
Ông ấy cười tươi rói. “Cái này hay quá nhỉ? Cứ thế mà giao băng lại cho họ cũng được đấy. Luật sư, cô chuẩn bị chu đáo ghê.”
Lúc nào tôi cũng mang theo máy ghi âm để thu lại các lời làm chứng quan trọng. Đảo mắt tìm chỗ đặt máy, tôi dọn qua cái tủ cạnh giường rồi đặt nó lên đấy. Sau đó trong khoảng nửa tiếng đồng hồ, hai chúng tôi bàn về các nội dung liên quan đến bản di chúc. Xong tôi kiểm tra lại các mảnh giấy ghi chú xem còn thiếu gì phục vụ cho thủ tục lập di chúc nữa không. Rồi tôi hỏi Kondo xem ông ấy đã sẵn sàng cho việc ghi âm chưa.
Ông Kondo đeo kính vào, nhìn xuống các mảnh giấy ghi chú trải trên nệm giường. Ngón tay ông ấy rà qua rà lại như đang phân vân, cuối cùng cũng chọn một tấm. Đằng hắng mấy cái, xì mũi thật mạnh, rồi ông ấy gật đầu ra hiệu cho tôi ấn nút khởi động.
“Hây, Kosaka, ông có khỏe không? Cũng lâu ngày quá rồi nhỉ! À, tôi muốn để lại cho ông cuốn sách, nên cho phép tôi cho tên ông vào di chúc nhé. Tôi không hiểu giá trị của nó lắm nhưng mà bố tôi rất coi trọng nó. Nếu được, ông nhận giúp tôi nhé, nếu thấy phiền thì ông cứ đem ra hàng sách cũ... bán cũng được.”
Đột nhiên ông ấy dừng lại, tháo kính xuống, thì thầm: “Sao ngày đó tôi lại không nghe lời ông khuyên nhỉ?”
Ông Kondo chậm rãi vuốt má rồi tiếp tục: “Bao nhiêu lần ông bảo tôi là đừng uống rượu nữa. Nhưng tôi lại là kẻ vô dụng. Dù tôi được ông trời ưu ái, được sống trong một môi trường mà chỉ cần tôi cố gắng là có thể có tất cả, thế mà tôi lại chọn cách sống lười nhác. Vì cảm thấy tội lỗi nên tôi mới uống rượu, thế là tỉnh táo cũng là lúc thống khổ nhất, nên cứ uống vào đã rồi tính. Tôi bán hết đất đi, đổ vào rượu, cuối cùng gan phải chịu khổ. Tự làm tự chịu thôi. Bác sĩ bảo tôi chỉ còn sống được nửa năm nữa mà thôi, khuyên tôi nên gặp những người mà mình muốn gặp. Lúc đó trong đầu tôi hiện lên khuôn mặt của ông. Nhưng mà lâu rồi tôi không liên lạc với ông, nói đúng hơn là không dám liên lạc. Ông có nhớ mấy chuyện ngày xưa không? Tôi nhớ rõ lắm. Ông đến nhà tôi chơi, thấy tủ sách của bố tôi thì sướng quá mà reo lên. Sau này ông hay đến nhà tôi chơi, tôi biết là do ông để ý mấy cuốn sách nên mới tới. Tôi bán gần hết rồi nhưng vẫn còn mấy cuốn muốn giao lại cho ông. Lần cuối bọn mình gặp nhau cũng cách đây ba mươi năm rồi nhỉ, là đám cưới của ông đó. Là ngày trọng đại vậy mà tôi lại quá chén. Ngày đó, tôi thề là không uống một giọt nào trước khi đến dự đám cưới. Nhìn thấy cô dâu xinh đẹp của ông, tôi ghen ty muốn chết. Ông lần lượt đạt được hết thứ này đến thứ khác, còn tôi thì dần mất đi, điều đó càng làm tôi nản chí hơn. Tôi muốn xin lỗi ông, xin lỗi vì đã làm loạn hôn lễ của ông, cũng chuyển lời xin lỗi đến vợ ông luôn. Tôi cứ trốn tránh mãi.” Ngẩng đầu lên, ông ấy nhìn bức tường đối diện. “Thật kỳ lạ, lần này tôi lại không dùng rượu để lánh đời. Trong suốt ba tháng, tôi không uống một giọt rượu nào, thế mà vẫn không sao, ngay cả bản thân tôi cũng thấy thán phục mình. Đầu óc hoàn toàn tỉnh táo như thế cũng là hiếm khi có được. Nhưng mà đột nhiên tôi thấy sợ hãi khi mình không sống được bao lâu nữa. Tôi nghĩ ông thì mỗi ngày đều sống tốt rồi, nên tôi có lo lắng cũng bằng thừa thôi, nhưng tôi vẫn muốn nói. Hãy sống sao cho sau này dù có ra đi bất cứ lúc nào cũng không hối tiếc nhé! Ông có cháu chưa, làm ông rồi hả?” Ông ấy bật cười. “Hà hà, tôi với ông chỉ có tuổi là ngang nhau thôi nhỉ. Sống thọ vào đấy! Ông khác với tôi, ông mà mất, chắc là nhiều người đau khổ lắm đó. Tôi xin lỗi vì những điều đã qua. Được gặp ông là may mắn của đời tôi. Cảm ơn ông!”
Dứt lời, ông Kondo cúi đầu thật thấp. Tôi giơ tay ấn dừng máy ghi âm. Căn phòng chợt trở nên tĩnh lặng, tôi cũng không biết nên nói gì nữa. Ông Kondo cầm một mảnh giấy khác lên. “Tiếp theo là cái này, vợ cũ của tôi.”
“Hãy, xin chào, là tôi đây, Kondo Takaaki. Làm thế này cũng hơi xấu hổ thật đấy, nhưng mà lần cuối rồi, phải làm cho đàng hoàng thôi. Khi chẳng còn sống được bao lâu nữa tôi mới nhận ra sự quan trọng của bà. Lúc chúng ta kết hôn, nếu tôi hiểu được thì tốt biết mấy, nhưng kẻ chậm chạp như tôi đến giờ mới nhận ra. Bà có bao giờ nhớ đến tôi không? Còn tôi, tôi nhớ rõ nhiều thứ về bà lắm. Nụ cười của bà. Bà cười rất đẹp. Đây cũng là điều đáng lẽ tôi nên nói với bà, tôi muốn bà giữ được nụ cười ấy. Kẻ làm tắt nụ cười trên môi bà cũng chính là tôi đây. Tôi là một kẻ tồi tệ. Tôi không tin vào lời của những người xung quanh, cứ cho rằng mình cô độc vì không ai hiểu được mình. Tôi sai rồi. Thật ra bà vẫn luôn ở cạnh tôi. Tôi đã có người lo lắng cho đúng không? Giờ tôi đang ở trong phòng bệnh, ghi âm lại những lời này. Ở đây cũng có nhiều dạng người lắm. Có một bà nằm cùng phòng với tôi lúc trước, hở cái là mắng chửi cô con gái ngày nào cũng vào trông nom bà ấy. Nào là “tôi thấy phiền lắm”, “cô nhanh nhanh lên”, rồi nhiều từ ngữ kinh khủng lắm. Thấy cô con gái tội nghiệp quá, tôi mới tức khí mắng bà ta vừa vừa phải phải thôi. Rằng chẳng phải mình bà buồn khổ đâu, trên đời người đau khổ nhiều lắm, chỉ là không nói ra thôi. Rằng bà cứ tự cho mình là khổ đi. Mắng xong tôi cũng giật mình. Chẳng phải là tôi cũng vậy sao, tự cho mình là khổ nhất? Nhưng mà cũng chẳng có ai sống cuộc đời đại đại đại thỏa mãn cả. Mọi người đều sống mà cảm thấy mình thiếu thứ gì đó. Ngày đó, bà sống với tôi chắc là cô đơn lắm. Bên cạnh một kẻ không biết mở lòng, ngày ngày chìm trong men rượu. Xin lỗi bà. Xin thứ lỗi cho tôi. Tôi còn một chút tiền mặt, bà để tiêu vặt cũng được, tôi gửi luật sư để lại cho bà. Tôi mong bà mỗi ngày đều có thể giữ được nụ cười xinh đẹp ấy trên môi. Chắc là bà cũng đang cười đúng không? Cám ơn bà đã kết hôn với tôi.”
Tôi xúc động trào nước mắt, bối rối cho tay vào túi tìm khăn tay nhưng tay run quá, tìm mãi không thấy. Sốt ruột, tôi lục tung túi lên. Có rồi! Tôi đưa khăn lên chùi nước mắt. Có tiếng “tách” của nút bấm máy ghi âm. Ngẩng đầu lên, tôi thấy ông Kondo đang dùng khăn giấy xì mũi thật mạnh, xong vứt vào thùng rác. “Tự nhiên thấy buồn quá nhỉ!”
Ngoài cửa vang lên tiếng xôn xao. “Giờ cơm tối đấy, ông Kondo bảo. “Nghỉ ăn cơm không? Luật sư, nếu không vấn đề gì thì chúng ta cùng ăn với nhau được không? Cửa hàng ở tầng một có bán đồ ăn nhẹ đấy.”
Đồng hồ của tôi chỉ năm giờ chiều. Ông Kondo nói thêm: “Có lẽ đây là lần cuối cùng tôi ăn cơm với ai đó nên cô ăn cùng tôi đi. Mà luật sư ơi, cô cứ mang khuôn mặt ưu phiền ấy, nhạy cảm với những lời cuối cùng của người bệnh là không được đâu. Cứ nghĩ đây là lần cuối thì mới cổ vũ mình sống sao cho trân trọng được. Không nên nói ra miệng những lời bi quan đến vậy.”
Tôi cứ gật đầu cho có lệ rồi ra khỏi phòng bệnh. Trên hành lang có chiếc xe đẩy to, trên đó xếp đầy các suất ăn. Khi đi ngang qua đó, có lẽ là do đã được đậy nắp nên tôi không hề ngửi thấy mùi thức ăn. Xuống cửa hàng mua bánh táo và sữa, trên đường quay lại thang máy, tôi ngồi xuống băng ghế dài nơi sảnh lớn, ngẩn ngơ nhìn cánh cửa sập của quầy tiếp đón đã được đóng lại. Ông Kosaka và vợ cũ của ông Kondo sẽ nghe cuộn băng ấy với tâm trạng như thế nào nhỉ? Hay đó chỉ là chuyện ông Kondo dựng lên? Cái chết... có sức mạnh áp đảo đến vậy sao? Chẳng gì có thể thắng được. Tôi trở nên vô lực, nhìn chăm chăm tấm cửa sập như thể cái chết đang ở trong đó.
Trải qua bao lâu tôi cũng không biết nữa, đột nhiên sực tỉnh thấy mình đang chăm chú nhìn tấm cửa sập trong sảnh lớn không có một ai. Tôi đang làm cái gì vậy, ông Kondo đang ở trong phòng bệnh chờ tôi mà. Nhún mình đứng dậy, tôi bỗng thấy giật mình. Vừa rồi đầu óc và tim tôi rơi vào trạng thái trống rỗng, nhưng cảm giác trống vắng đè nặng lên tim tôi lại không thấy đâu. Cái này là sao đây? Sức mạnh to lớn mà cái chết đem đến đã thổi bay cảm giác trống vắng rồi sao? Chẳng hiểu gì cả. Thứ duy nhất mà tôi hiểu là ông Kondo đã giao cho tôi một trọng trách nặng nề, đó là tiếp nhận và chuyển giao lời nhắn cuối cùng của cuộc đời ông ấy. Tôi có làm được không nhỉ? Lúc nãy rốt cuộc tôi đã khóc. Bao nhiêu năm rồi nhỉ? Cũng lâu lắm rồi, đến mức tôi chẳng nhớ được. Khi kết hôn rồi ly hôn, tôi chẳng khóc. Kể cả lúc tôi vượt qua kỳ thi sát hạch quốc gia làm luật sư, hay khi đậu đại học cũng không. Thời cấp ba, tôi có khóc không nhỉ? Tôi chẳng nhớ sự kiện gì làm tôi khóc cả, nên chắc là không. Cấp hai cũng vậy. Thời cấp một, lúc ngã chảy máu, chắc là tôi có khóc. Nhưng mà khi biết rằng mình có thể bị đưa đi làm con nuôi của người ta, tôi không hề khóc.
Tôi nháy mắt thật mạnh, đứng lên đi về phòng bệnh, ông Kondo vẫn đang chờ tôi. “Tôi xin lỗi vì đã để bác chờ.” Ông Kondo xua tay nói: “Không sao, không sao.”
Trên bàn ăn gắn vào giường bày sáu món ăn, trông có vẻ đầy đủ dinh dưỡng hơn bữa ăn hằng ngày của tôi nhiều. Trong khi ăn, tôi hỏi ông Kondo về mùa đông lạnh lẽo ở Hirosaki, rồi trả lời câu hỏi của ông ấy về tình hình bản thân, rằng tôi đang độc thân, ngày ngủ trung bình sáu tiếng. Ông Kondo húp soàn soạt bát xúp miso có cho thêm chikuwa[[3]] mà ông ấy rất thích. Một lúc sau, ông ấy hỏi: “Cô xong việc chưa?”
“Tôi đã hỏi chuyện những người tôi hẹn gặp.”
“Anh con trai có nói gì đó đúng không?”
“Sao bác lại nghĩ vậy ạ?”
Ông ấy cười ẩn ý. “Người có khả năng suy luận đều có thể đoán được mà.”
Đột nhiên ông Kondo lộ vẻ khó xử, nhìn xuống chỗ thức ăn thừa trong khay. Tôi cố gắng ăn sao cho vụn bánh không rơi vãi lung tung. Đặt đũa đánh “cạch” xuống khay, ông Kondo kể lại: “Cô Natsuko là người dễ gây hiểu lầm, nhưng mà cô ấy đã chăm sóc ông Hashimoto chu đáo lắm. Cho nên tôi nghĩ cô ấy xứng đáng được hưởng thừa kế. Tôi biết tôi chẳng có tư cách phát biểu, nhưng tôi kể cho cô nghe chuyện này, là lúc ông Hashimoto còn tỉnh táo ấy. Họ tưởng là tôi ngủ rồi nên tôi nghe được lời ông Hashimoto nhờ cậy cô Natsuko. Ông ấy bảo rằng nếu phải thở máy thì đừng xem đó là ông ấy nữa. Rằng đó là trạng thái ông ấy đã rời khỏi thế giới này rồi mà còn níu giữ lại. Rằng hãy miễn cho ông ấy, nếu phải thở máy thì nhờ cô ấy bấm nút tắt máy hộ ông ấy.
Tôi mím môi định hỏi thì ông Kondo giơ tay ra hiệu dừng lại, rồi kể tiếp: “Rằng ông ấy có nhờ bác sĩ rồi nhưng họ bảo là không được. Rằng Nat-chan ơi, nếu thế, vì tôi, hãy tắt cái máy ấy đi nhé.”
Tôi không kìm được bật hỏi: “Cô Natsuko bảo sao ạ?”
“Vâng, tôi biết rồi.”
Trong lúc tôi lặng người đi, ông Kondo kể tiếp: “Nat-chan trả lời rằng chắc chắn cô ấy sẽ giúp, còn ngoắc tay với ông ấy nữa. Khoảng hai tuần sau, ông Hashimoto được chuyển sang phòng bệnh riêng, tôi mới đến phòng thăm ông ấy thì thấy ông ấy phải thở máy rồi. Có nói chuyện thì ông ấy cũng chẳng biết gì nữa. Tôi hỏi Nat-chan xem cô ấy có định tắt cái máy ấy đi không, cô ấy trả lời là không thể. Rằng cô ấy hứa với ông Hashimoto rồi nhưng chỉ là nói dối thôi. Rằng cô ấy muốn ông ấy sống cho dù ở trạng thái nào, dù chỉ một ngày, một phút, một giây. Rằng dù ông ấy không nói chuyện được nhưng cầm tay vẫn ấm, vậy là cô ấy thấy vui rồi. Rồi trong suốt một tuần sau, cô ấy vẫn ngày ngày nói chuyện với một ông Hashimoto hoàn toàn không có phản ứng gì cả. Bác sĩ bảo là chẳng còn mấy thời gian nữa, rằng cô ấy liên lạc với gia đình đi. Cho nên cô ấy mới gọi anh con trai về, anh ta về cũng chỉ kịp nhìn mặt bố lần cuối. Đó là tất cả những gì mà anh ta đã làm, về nhìn mặt bố lần cuối. Nhiều người cứ bảo là vì tài sản cô ấy mới trông nom ông Hashimoto, nhưng nếu thế thì đã sao? Tôi nghĩ thế đấy. Cuối đời, lúc cô đơn nhất mà có người làm bạn thì có phải trả tiền cũng được. Việc cùng trải qua quãng thời gian cuối đời có giá trị của nó.”
Ông Kondo nở nụ cười cô độc, chầm chậm cầm đũa lên tiếp tục ăn. Tôi thì bất giác đưa tay lên ấn ngực. Natsuko không liên can gì đến vụ cái chết yên bình, thật là tốt quá. Lúc nghe ông Kondo kể chuyện, tôi tưởng như tim mình ngừng đập rồi. Tôi cứ tưởng tượng ra cảnh vì không thể chờ được đến lúc ông Keiichiro chết để lấy được tài sản nên Natsuko đã ra tay tắt máy thở. Cốt truyện này hoàn toàn có thể xảy ra với nhân vật như Natsuko. Nhưng cô ta không làm vậy. Lúc nghe xong câu chuyện của ông Kondo, cảm giác như được giải thoát trong tim tôi là sao vậy? Trong thời gian dài quen biết với Natsuko, từ bao giờ trong tôi đã nảy sinh cảm giác lo lắng cho cô ta? Cho dù tôi bị sốc bởi cô ta không biết bao nhiêu lần, tôi nhớ chẳng có lần nào là ý tốt cả. Tôi chậm rãi uống hết bịch sữa.
3
Làm xong giấy tờ, tôi đưa mắt nhìn đồng hồ, mười giờ mười phút tối rồi. Đứng dậy vươn người xong, tôi đến bên bậu cửa sổ của khách sạn, từ đây có thể nhìn thấy nóc sở cứu hỏa bên cạnh. Sau khi rời khỏi bệnh viện, tôi thuê phòng khách sạn rồi bắt tay vào làm di chúc cho ông Kondo ngay. Không thể tin được là tôi vừa làm giấy tờ vừa khóc một lần nữa. Ông ấy để lại các đồ điện gia dụng như tủ lạnh, lò vi sóng, ti vi cho văn phòng phúc lợi xã hội, để lại tiền mặt trong ngân hàng và tiền bảo hiểm tử vong cho vợ cũ, để lại chậu hoa địa lan và hoa yucca cho bác hàng xóm... Trong bản di chúc giản dị ấy là cả cuộc đời của ông Kondo.
Lúc ăn cơm với ông ấy, tôi có hỏi bảng xếp hạng những điều vui vẻ trong cuộc đời ông ấy là gì. Ở vị trí số bốn là cuộc sống tân hôn, hai vợ chồng cãi nhau, cả một tuần không mở miệng nói với nhau câu nào. Ở vị trí số ba chính là lúc hai người thi gan nhẫn nại ăn hết thức ăn tự nấu. Nguyên nhân là do lúc nấu bữa tối, ông Kondo nêm ít gia vị quá, vợ ông ấy mới tức lên, nêm thức ăn mặn chát. Chẳng ai chịu ai, mấy ngày liền ăn thứ thức ăn kinh khủng đó. Ông ấy vừa kể lại vừa cười.
Nếu là tôi thì sẽ có bảng xếp hạng như thế nào nhỉ? Là lúc tìm thấy thứ văn phòng phẩm hiếm có mà mình vẫn hằng tìm kiếm? Hay là lúc phát hiện ra đôi giày mà mình vẫn phân vân không biết có nên mua hay không được giảm giá? Hay là chuyện gì khác nhỉ? Tôi chỉ nhớ được mấy chuyện này thôi. Nhưng mà cả đời tôi cũng chẳng mấy khi gặp bi kịch. Cái này...
Ông Kondo bảo rằng cho dù ông ấy tiếp xúc với người khác, vẫn thấy cô đơn trong lòng, làm cái gì cũng cảm thấy không thỏa mãn. Có phải cũng có người như tôi, mang trong lòng nỗi trống vắng? Nếu thế... tôi cũng cảm thấy có chút khích lệ.
Tiếng chuông điện thoại vang lên, tôi trở lại bàn làm việc, bộ phận lễ tân báo Sakaguchi gọi điện đến, tôi bèn bảo họ nối máy. Lập tức tiếng cúp máy vang lên, giọng Sakaguchi vọng lại bên tai:
“Ừ, anh nghe lời nhắn rồi.”
“Đợt công tác của em bị kéo dài nên mai em không đi cổ vũ anh thi đấu kiếm đạo được. Này, anh chưa tìm được ai à? Cứ mỗi lần thi đấu lại nhờ vợ cũ đi cổ vũ thì thật là...
“Anh cũng thấy thế đó.” Giọng anh ấy giống như đang nén cười. “Có việc gì phức tạp sao?”
“Cũng không phải là phức tạp. Vì em nhận thêm vụ khác ở đây.”
“Lại là vụ của cô Natsuko phải không?”
“Cũng nhân vụ đó. Này, nếu xếp hạng những điều vui vẻ nhất trong đời thì vị trí số một của anh là gì?”
“Sao tự nhiên lại hỏi thế?” Anh ấy cao giọng vì ngạc nhiên. “Điều vui vẻ trong đời à, đời còn dài lắm, thế mà đã xếp hạng rồi à?”
“Bảng xếp hạng ở thời điểm hiện tại ấy.”
Tôi vừa đợi câu trả lời từ Sakaguchi vừa đưa tay miết lên vỏ hộp băng cassete.
“Để anh nghĩ đã.” Sakaguchi đáp. “Ngẫu nhiên nhớ lại vài chuyện, nhưng cái đó có thật sự nằm trong bảng xếp hạng không thì anh chưa thể quyết định được. Cho anh thêm Chút thời gian.”
“Cũng được.”
“Nói thật lòng thì...”
“Sao?”
“Tất cả ký ức mà anh nhớ ra đều có bóng dáng của em trong đó, nên anh thấy hơi dao động. Có vẻ như sắp đi đến kết luận rằng anh đã đánh mất điều gì đó vô cùng quan trọng trong đời. Anh thấy sợ.”
Tôi khẽ cười. Người đề nghị ly hôn chính là Sakaguchi. Anh cúi đầu tạ lỗi với tôi, bảo là mình có người khác rồi, chúng mình chia tay thôi. Tôi kết hôn với Sakaguchi bởi vì bất cứ chuyện gì anh cũng đều thẳng thắn nói cho tôi biết. Nhưng ở trường hợp này, chẳng phải anh nên nói dối hay sao? Tôi không cảm thấy đau đớn nhưng lại thấy đáng tiếc, vì tôi khá thích cuộc sống hôn nhân với anh.
Tôi được nhận căn hộ mà hai vợ chồng từng sống chung, nhưng đã bán nó đi. Tiền bán nhà, một phần tôi dùng trả nốt tiền vay ngân hàng để mua nhà, phần còn lại thì mua một căn hộ be bé khác phù hợp với cuộc sống độc thân của mình.
Khoảng một năm sau, Sakaguchi liên lạc với tôi, bảo là trước khi tính đến chuyện tái hôn, anh với người phụ nữ kia thấy không hòa hợp nên đã chia tay rồi. Tôi mới hỏi: “Thế nên?” Anh đáp: “Anh muốn chúng ta làm bạn.”
Tôi cũng nhất thời cao hứng mà đồng ý với đề nghị đó. Sau đó, chúng tôi tiếp tục mối quan hệ bạn bè có chút không rõ ràng này.
Tôi hỏi “người bạn” đó: “Anh có hay làm di chúc không?”
“Có làm mấy lần rồi. Nhưng mà cũng hiếm khi mấy vụ này vào tay anh. Nếu có khách hàng, đương nhiên là anh cũng muốn làm, nhưng anh mang cái danh chuyên tư vấn pháp luật doanh nghiệp mất rồi. Ở chỗ Tetsuko thì thế nào? Lĩnh vực chuyên trách của bên đó cũng khá rộng nhỉ?”
“Gọi là rộng cũng vì em đang nghĩ đến việc ra làm riêng, vụ gì đến tay cũng đều nhận hết. Giờ trở thành luật sư cái gì cũng tư vấn mất rồi. Nhưng mà làm di chúc thì cũng hiếm khi. Cái này ở Nhật cũng không phổ biển mấy đúng không?”
“Do bên công chứng cũng làm được. Cái gì? Vụ lần này có liên quan đến di chúc hả? A, hay là cô Natsuko sửa lại di chúc để có lợi cho mình?”
Thật buồn cười là Sakaguchi lại có suy nghĩ giống tôi. Dù chưa gặp lần nào nhưng anh tự nhận là fan của Natsuko, còn tính mời cô ta đến dự hôn lễ của chúng tôi. Nhưng bố mẹ tôi phản đối kịch liệt nên dự định đó không thực hiện được.
Khả năng Natsuko tiếp cận ông Keiichiro để lừa đảo thông qua kết hôn như trước đây là khá cao. Vì đối với Natsuko, đàn ông chính là con mồi. Chỉ với lý do là chưa bao giờ đặt chân đến, Natsuko đã bắt đầu cuộc sống ở Hirosaki. Ban đầu, cô ta làm việc ở một quán cơm kamameshi[[4]], nhưng chỉ được hai tháng đã bỏ việc. Chỉ cần hai tháng, cô ta đã có thể tìm được người đàn ông đưa tiền cho mà tiêu rồi. Ngay sau đó, cô ta gặp được ông Keiichiro, chủ một cửa hiệu cầm đồ lâu năm. Hàng xóm xung quanh kể rằng cũng có nhiều người được mai mối tái hôn với ông ấy nhưng ông ấy từ chối tất cả, nuôi con trai khôn lớn một cách nghiêm khắc và hết mình với việc kinh doanh. Và rồi vào năm sáu mươi ba tuổi, ông ấy gặp Natsuko. Có người nói đó là do vận may, cũng có người nói đó là món quà cuối cùng mà ông trời ban tặng. Có lẽ là cả hai đều đúng cũng nên.
“Bảng xếp hạng của Tetsuko thì thế nào?”
Nghe Sakaguchi hỏi, tôi đổi ống nghe từ tai trái sang tai phải, đáp: “Để em nghĩ đã.”
“Trời, em cũng vậy à?”
Tôi không nói ra rằng trong bảng xếp hạng của tôi chẳng có ký ức nào liên quan đến anh cả, cứ thế mà cúp máy. Giờ tôi đã có thể không làm người khác tổn thương ngay lúc ấy. Theo cách nói của Miyuki, cái này có lẽ là do tuổi ngày càng lớn.
4
Vừa mở cánh cửa văn phòng ra, tôi đã nghe tiếng chào giòn giả của Miyuki: “Luật sư về rồi đấy à!”
“Tôi về rồi đây.” Tôi đáp, đưa cái túi giấy cho Miyuki. “Quà đặc sản của Aomori.”
“Cảm ơn cô nhé!” Miyuki vui vẻ tiếp nhận.
Tôi xác định Ogiwara không có sau bàn làm việc rồi mới về bàn mình. Lập tức Miyuki mang trà đến cho tôi. Tôi lấy giấy tờ trong túi ra đưa cho chị ấy. “Đây là di chúc. Nhờ chị cất hộ và viết hóa đơn thanh toán hộ tôi. Tôi có ghi lại trong giấy đính kèm rồi, tất cả hóa đơn chị cứ đề địa chỉ bệnh viện là được.”
“Luật sư à, cái này cũng khá nhiều nhỉ? Thế tổng cộng là bao nhiêu bản di chúc vậy ạ?”
“Sáu người.”
“Nhiều thế à?”
“Người này giới thiệu cho người khác cũng đang nằm viện. Mọi người đều có nỗi lo lắng cả mà.”
“Luật sư về lúc nào thế? Nhiều người nhờ cậy thế này chắc phải tối muộn hôm thứ Bảy mới về được nhỉ?”
“Không đâu, tối muộn Chủ nhật tôi mới về cơ.”
“À, vất vả quá! Khổ thân luật sư quá! Nhưng mà này, tôi trông luật sư không mệt gì cả mà có vẻ như tươi tắn hơn đấy. Cô gặp chuyện gì vui ở Aomori sao?”
“Trông tươi tắn sao? Cũng không có gì đặc biệt cả.”
“Thế, à?”
Miyuki mang vẻ mặt nghi hoặc trở về bàn của mình. Tôi kéo ngăn kéo ra, đang phân vân không biết hôm nay nên dùng cây bút nào thì giọng của Miyuki vang lên: “Băng cassette cũng lưu lại phải không ạ?”
“Vâng, cái đó là thay cho thư đấy. Lúc nào người lập di chúc mất, chúng ta sẽ giao lại cho từng người theo nguyện vọng của người đó. Chị lưu lại hộ tôi với.”
“Hay là tôi cũng làm như vậy nhỉ.”
Tôi ngẩng mặt nhìn Miyuki thì thấy chị ấy đang ngoảnh mặt về phía này. “Viết thư thì hơi khách sáo quá đúng không? Nhưng nói chuyện thì khác. À, nếu mà là tôi thì băng hai trăm bốn mươi phút cũng không đủ nhỉ?” Miyuki cười phá lên, rồi giọng chị ấy trở nên nghiêm túc hơn: “Thế nhưng chắc chắn họ sẽ nghe hết nhỉ? Vì lúc đó tôi không còn trên thế gian này nữa mà.”
“Nếu chị muốn lập di chúc, tôi sẽ giúp.”
“Vâng, nhất định rồi. Nhưng tôi chỉ nói đùa thôi, tôi thì có bao nhiều tài sản mà viết di chúc.”
“Tiền nhiều ít không quan trọng. Trong số các bản di chức mà tôi làm lần này, có người muốn tặng năm mươi nghìn yên cho có nhân viên quán cơm hộp, người lúc nào cũng thêm thức ăn cho ông ấy. Lại có người muốn gửi cho mối tình đầu cách đây sáu mươi năm của mình ba mươi nghìn yên.”
Miyuki thì thào: “Vậy ư? Ừ nhỉ.”
Tôi uống hết cốc trà rồi vươn tay lấy hồ sơ trong tủ ra. Có tiếng chuông điện thoại reo, Miyuki bắt máy. Tôi bắt đầu viết, chưa được bao nhiều đã sai, thế là tôi lấy băng xóa trong ngăn kéo ra để sửa. Năm, sáu năm trước, lúc bút xóa ra đời, tôi đã phải kêu lên cảm thán. Thế nhưng khi băng xóa xuất hiện, tôi càng sốc hơn gấp mấy lần. Trong một thời gian dài, mỗi khi viết sai, tôi chỉ có cách dùng bút xóa tô lên, thổi phù phù cho nó nhanh khô rồi mới viết đè lên đó. Nhưng giờ, với băng xóa, có thể chỉ cần xóa mỗi chữ viết sai. Cuộc đời tôi cứ bình thản trôi qua, thế mà cuộc cách mạng cải tiến công cụ xóa chữ đã đạt được thành tựu đáng kể.
Tôi nghe Miyuki nói chuyện điện thoại rằng sẽ liên lạc ngay với Ogiwara, liền liếc về phía tấm bảng trắng, thấy cột công việc của Ogiwara không ghi gì cả. Miyuki cúp máy, cao giọng bảo: “Rắc rối cho luật sư Ogiwara rồi đây.”
Gần đây Miyuki khá bất mãn với Ogiwara, luôn có thể ngay lập tức bốc hỏa. Đứng quay mặt về phía bàn của Ogiwara, chị ấy nói: “Tôi đã nhắn vào máy nhắn tin rồi mà không thấy anh ấy liên lạc lại gì cả. Chắc chắn là do con bé đó bảo là “anh đi, em buồn lắm” này nọ đây mà.”
Miyuki đứng trước cái bàn làm việc lộn xộn của Ogiwara, nhấc hồ sơ và giấy tờ lên tìm cái gì đó. Chị ấy cực ghét cô gái có vẻ ngoài chỉ khoảng mười mấy tuổi mà Ogiwara đang hẹn hò. Khoảng hai, ba tháng trước, Miyuki bắt đầu nghi ngờ Ogiwara đang yêu đương gì đó từ việc anh ấy thay đổi áo quần đang mặc, không đặt lịch làm việc, chậm liên lạc lại khi có tin nhắn, vv... Tuần trước, sự nghi ngờ của Miyuki đã được khẳng định. Lúc Miyuki đang ở một mình trong văn phòng thì có một cô gái đến hỏi có Ogiwara ở đây không. Thái độ của cô gái như thể là đang đến thăm công ty mà người nhà đang làm việc ấy. Tôi thì không rõ thái độ đó như thế nào nhưng linh cảm của Miyuki về những chuyện thế này chưa bao giờ sai nên e rằng cô gái đó chính là người đang có mối quan hệ yêu đương với Ogiwara. Miyuki kể lại rằng trông cô ta không giống con gái nhà đàng hoàng, mặc váy ngắn bên ngoài tất chân màu đen, thêm vào đó là đôi giày cao gót màu trắng.
“Luật sư Tetsuko,” Miyuki vừa tìm đồ vừa gọi, nếu cô ra làm riêng thì dẫn tôi theo với được không?”
“Vâng?”
“Vì tôi không thể nào đi theo luật sư Ogiwara được nữa. Tôi rất kính trọng luật sư Ogiwara. Anh ấy nghiêm túc với khách hàng của mình, không quan trọng tiền thù lao bao nhiêu, lúc nào cũng bỏ rất nhiều thời gian cho các vụ mà minh thụ lý. Đấy là điều quá tuyệt vời vì về kinh doanh thì mấy chuyện đơn giản tôi cũng có thể giúp mà. Tôi từng tự hào vì mình làm việc cho một luật sư đặt sự hài lòng của khách hàng lên trên lợi nhuận.” Chị ấy thở dài. “Nhưng mà bị con bé mới tí tuổi đầu xoay trong lòng bàn tay thì thật là... Cứ nhắm mắt làm ngơ, chiều chuộng hết mức các tật xấu của bạn gái, chất lượng công việc thì đi xuống. Thật hết chịu nổi rồi.”
Tôi cười khổ, lại dõi mắt xuống đống giấy tờ. Ra làm riêng... Tôi cũng đã nghĩ tới việc này. Thời còn làm thực tập sinh tư pháp, tôi có năm năm làm luật sư tập sự, lúc đó cũng mong ước mình có thể độc lập mở một văn phòng luật. Khi trở thành luật sư, tôi lại nghĩ rằng chẳng cần chịu rủi ro để mở văn phòng tư vấn luật làm gì. Nghề luật sư là nghề rất hay bị nợ tiền tư vấn, mở văn phòng thì nào là tiền thuê văn phòng, tiền lương nhân viên, rất tốn kém. Đây chẳng phải nghề mà chỉ cần lấy được chứng chỉ hành nghề quốc gia là an nhàn, cũng như các nghề khác, chỉ những người có khả năng mới có thể thành công.
Xong công việc giấy tờ, mười một giờ sáng, tôi sửa soạn ra ngoài. Vẫn chưa thấy Ogiwara liên lạc, bỏ lại một Miyuki đang sắp sửa bùng nổ, tôi rời khỏi văn phòng. Ăn trưa ở một quán ăn nhanh xong, tôi lên tàu đi bốn mươi phút đến nhà hàng nơi có hẹn với Keisuke. Được nhân viên hướng dẫn đến chỗ ngồi nhìn ra bãi đỗ xe, tôi ngồi đợi anh ta. Nhà hàng có vẻ thiếu người phục vụ hay sao mà còn rất nhiều bàn chưa được dọn. Tôi ngoảnh mặt ra nhìn ngắm bãi đỗ xe. Trước một chiếc xe ô tô đang đỗ có hai bà mẹ đang trò chuyện, ba đứa trẻ đang chơi cùng nhau bên cạnh. Hai bà mẹ này trông có vẻ trẻ hơn tôi, từ kiểu tóc, trang phục cho đến cách cười đều giống hệt nhau.
Tôi đã có thể sống một cuộc sống như họ. Trước khi tôi tính đến chuyện sinh con thì đã bị Sakaguchi đề nghị ly hôn, tôi không còn cơ hội có đứa con của riêng mình. Nếu có con, người như tôi có thể chuyên tâm vào việc nuôi dạy con cái không nhỉ? Nếu tôi có con, khi được thông báo mình chỉ còn sống không được bao lâu thì phải làm sao? Tôi cũng sẽ sắp xếp kế hoạch tương lai cho con mình sao? Có lẽ điều đó phụ thuộc vào số tuổi của đứa trẻ, càng bé thì càng phải lo lắng nhiều, sự vất vả chắc là khác với việc sống một mình, chết lẻ loi.
Lúc này, một chiếc xe màu trắng chạy vào bãi đỗ xe, lùi gọn gàng vào ô đỗ được kẻ vạch. Bước xuống xe chính là Keisuke, hình như anh ta chưa nhìn thấy tôi nên bước thẳng về hướng cửa nhà hàng. Anh ta đeo cà vạt và mặc áo sơ mi trắng, bên ngoài khoác một chiếc áo gió, sau lưng có in thương hiệu cửa hàng bán xe ô tô mà anh ta đang làm việc. Tôi vươn cổ dõi theo bóng anh ta bước vào nhà hàng. Thấy anh ta vào, tôi đứng dậy cúi đầu chào. Nhận ra tôi, anh ta nhanh chóng bước đến ngồi xuống đối diện. Gọi món xong, anh ta chỉnh lại tư thế. “Tôi đã tìm hiểu về tài sản để lại rồi. Về cơ bản là tôi muốn kiện đòi hủy bản di chúc kia, nhưng giờ tôi chỉ muốn đòi phần tài sản mà mình đáng được hưởng với tư cách người thừa kế thôi[[5]]. Với tôi thì bản di chúc đó không có hiệu lực, tôi không thay đổi quan điểm về điều này. Tuy nhiên, tôi cho rằng đã là người lớn thì cũng nên biết nhượng bộ. Cho nên với tư cách là con trai, được pháp luật đảm bảo về quyền thừa kế, tôi yêu cầu được hưởng một nửa tài sản. Từ khi biết đến sự tồn tại của di chúc, gửi yêu cầu đòi phần tài sản đáng được thừa kế trong vòng một năm là được đúng không? Hôm nay vội quá nên không chuẩn bị kịp nhưng tôi sẽ nhờ luật sư tư vấn, sau này phiền cô liên lạc chính thức với luật sư nhé.”
Tôi nhìn thẳng vào mắt Keisuke, anh ta lập tức tránh đi, nhìn sang bên cạnh. “Chẳng thân thiết chút nào cả, tôi với bố đó. Ông ấy là một người cha nghiêm khắc, chẳng mấy khi để lộ sự yêu thương dành cho con cái. Chính bố là người đã đuổi tôi ra khỏi nhà. Tôi cũng không định sẽ lập nghiệp ở thành phố. Đó chỉ là mong ước của bố tôi mà thôi. Cho nên... tôi rời khỏi cái nhà đó. Thỉnh thoảng tôi có về thì ông ấy cũng chẳng vui vẻ gì. Nơi đó không có chỗ cho tôi. Từ bé tôi đã cảm thấy xa lạ rồi. Cho nên đổ lỗi cho tôi vì đã để bố lại một mình thật ra cũng không hoàn toàn xác đáng.”
Món katsu-kare[[6]] mà Keisuke gọi được bưng ra. Tôi nói: “Anh cứ tự nhiên!” Còn tôi thì gọi thêm một ly cà phê nóng nữa với cô phục vụ đang quay sang tôi chờ đợi. Rồi tôi im lặng nhìn ra bãi đỗ xe, lúc này mấy mẹ con kia đã không thấy đâu nữa, chỉ còn mỗi chiếc xe trắng của Keisuke đang đỗ. Chắc mới rửa xe hay sao mà chiếc xe trông bóng loáng. Trong lúc ngắm chiếc xe, tôi chợt nghe mình lên tiếng: “Nếu xếp thứ hạng những điều vui vẻ trong cuộc đời, vị trí số một của anh Keisuke là gì ạ?”
Có vẻ như Keisuke vừa đút cơm vào miệng nên hai má phồng to lên. Tôi nói tiếp: “Cô Natsuko đề ra việc xếp hạng này và nó trở nên khá phổ biến trong bệnh viện. Trò đi hỏi các bệnh nhân về cái này cũng thú vị, ví dụ như phân vân xem cái nào là số bốn, cái nào là số năm.” Giơ tay cầm cốc cà phê lên, tôi nói tiếp: “Vị trí số một trong những điều vui vẻ trong cuộc đời của bố anh chính là lúc anh được sinh ra đấy.”
Tôi nhăn mặt uống cà phê trong cốc. “Người bố như vậy, lúc con mình ra đời cũng rất vui sướng đấy thôi. Số hai là lúc anh vào tiểu học, đồng hạng là lúc anh vào cấp hai. Cho đến vị trí số mười, tất cả đều là những ký ức về anh.”
“Cô muốn nói gì?” Ngữ khí của anh ta có vẻ nặng nề.
Tôi lắc đầu. “Tôi cũng chẳng biết mình muốn nói gì. Tôi cho rằng con người chỉ là không hiểu nhau, trong mối quan hệ nam nữ hay cha con, mẹ con đều như vậy cả. Những điều vui sướng trong cuộc đời bố anh, tất cả đều là vì anh, thế tại sao lại quyết định không để lại tài sản cho anh chứ?”
“Tôi cũng muốn hỏi câu đó đấy.”
Keisuke để thìa xuống, cúi đầu nhìn đĩa cơm còn hơn một nữa.
Tôi hỏi: “Anh có nhớ gần nhà anh có một phòng khám răng không?”
Anh ta ngẩng mặt lên. “Phòng khám... răng?”
“Vâng. Cả anh và bố anh đều rất sợ đi chữa răng đúng không? Bác sĩ ở đó nhớ bố con anh rõ lắm. Lúc đó anh còn nhỏ, sợ hãi ngồi trên ghế nha khoa, tay nắm chặt đai quần bố mình đang đứng bên cạnh. Bố anh cũng mang vẻ mặt sợ hãi như anh, nhưng vẫn luôn đứng bên cạnh chiếc ghế nha khoa. Có lẽ vì anh nắm chặt lấy đai quần nên bố anh mới cứ thế đứng bên cạnh. Bộ dạng hai bố con cùng chịu đựng việc trị liệu như thế gây ấn tượng rất mạnh với bác sĩ.”
“Chuyện hồi nhỏ thôi.” Giọng anh ta có vẻ kích động, anh ta cầm lấy thìa tiếp tục ăn.
Tôi ngắm dáng vẻ buồn bực ăn cơm cà ri của anh ta, chợt nhớ lại lúc bàn luận việc lập di chúc với các bệnh nhân trong bệnh viện ở Hirosaki. Tôi đã thử hỏi người có ý định để lại tài sản cho bốn đứa con rằng ông ấy có hiểu được tấm lòng của người cha nhất quyết không để lại một xu nào cho con trai không. Người đàn ông tám mươi tuổi ấy đáp rằng ông ấy không làm được nhưng từ ngày xưa đã có cách yêu con như vậy rồi. Nghe nói có thời, thay vì yêu thương bằng cách nuông chiều, người ta đề cao cách yêu thương để cho con tự lập, không cho nó dựa dẫm vào tiền bạc cũng như mối quan hệ của bố mẹ. Nếu đó là sự thật thì đúng là một cách yêu thương quá khó khăn, đối tượng được yêu cũng chẳng dễ chịu gì. Ít nhất thì ngoài bản di chúc, nếu ông Keiichiro để lại vài dòng cho con trai mình thì hay biết mấy. Nếu không viết được thư thì một vài lời cũng được. Như vậy Keisuke sẽ hiểu được tâm ý của bố mình, có lẽ cũng chẳng muốn đòi tài sản nữa.
Con người chỉ là không hiểu nhau thôi.
5
Cái hồ này nằm cách Hirosaki năm kilômét về phía nam. Thông tin về hồ cũng được đăng trên các cuốn sách hướng dẫn du lịch, ngay trước ga Hirosaki cũng có mấy tấm bảng hướng dẫn đường đi đến hồ.
Đứng trên bờ ngắm mặt hồ, tôi chợt thấy hai chiếc thuyền hiện ra. Vì hồ uốn cong về bên trái nên không thấy rõ toàn bộ. Tôi bước về chỗ cho thuê thuyền. Tiếng chim kêu văng vẳng đâu đây. Bước lên bậc thang bằng gỗ, tôi nói chuyện với cô gái ngồi trong quầy. Cô ấy bảo tôi chờ ở góc cà phê bên cạnh, tôi bèn ngồi xuống chỗ ban công vươn ra ngoài mặt hồ. Làn gió mang hơi ấm thổi tóc tôi tung bay.
Một vài sợi tóc dính vào son trên môi, tôi lấy tay hất tóc ra. Tôi sợ gió thổi tóc làm son dính lên mặt mất nên cho tay vào túi tính lấy gương ra soi. Ánh mắt tôi dừng lại trên túi hồ sơ, bất giác tôi cười khổ.
Lúc nãy tôi đến bệnh viện để tìm Natsuko, kết quả lại có năm bệnh nhân ở đó muốn nhờ tôi lập di chúc cho. Mỗi lần tôi đến bệnh viên đều có thêm vài khách hàng mới. Lúc tôi thông báo với Natsuko rằng luật sư của Keisuke đã nộp yêu cầu đòi phần tài sản đáng được thừa kế lên rồi, cô ta liền hét lên giận dữ rằng không bao giờ để lại đồng nào cho anh ta, tất cả là của cô ta cơ mà. Thế là tôi mới giải thích cho cô ta biết rằng cho dù có di chúc thì anh con trai vẫn có quyền yêu cầu phần tài sản mình đáng được hưởng. Cho nên nếu ra tòa thì vì thời gian quen biết giữa cô ta và ông Keiichiro khá ngắn, hai người lại không có hôn thú, nên khả năng tòa chấp nhận yêu cầu của phía Keisuke là khá cao. Tôi muốn cô ta suy nghĩ xem có nên tranh đấu tại tòa không vì khả năng thắng rất thấp, hay là chia một nửa tài sản ông Keiichiro để lại cho Keisuke và kết thúc vụ việc tại đây. Thế là Natsuko giậm chân bình bịch giữa sảnh bệnh viện, thật vô cùng xấu hổ. Đây là lần đầu tiên tôi thấy người lớn làm cái trò giậm chân bình bịch này. Người xung quanh nhìn chằm chằm nhưng cô ta chẳng để ý, cứ vừa giậm chân vừa hét lên: “Chết tiệt, chết tiệt!” Hai mươi phút sau, cô ta mới trở lại phòng bệnh. Vì để ý thấy có nhiều “con mồi” ở đây quá nên Natsuko xem bệnh viện như đại bản doanh, nghe nói đã xâm nhập được vào phòng bệnh của “con mồi” tiếp theo.
Nhìn bóng lưng Natsuko quay về phòng bệnh, không hiểu sao tôi chẳng thấy sốc, chỉ bất giác muốn nói với theo: “Mong cô giúp đỡ!” Tôi cũng ngạc nhiên với bản thân mình.
Tôi biết cô ta chăm chăm vào tài sản của người khác... Tôi cũng hiểu rõ bản chất tệ hại của cô ta... Nhưng tôi lại mong rằng bằng sức mạnh của mình, cô ta có thể làm giảm nỗi sợ hãi trước cái chết của các bệnh nhân. Khi trao đổi với nhau bảng xếp hạng những điều vui sướng, chỉ trong giây lát thôi, có lẽ họ đã được giải thoát khỏi nỗi khổ đau. Tôi mong Natsuko có thể tiếp tục ở lại đây mãi mãi. Mong ước như vậy, chuyện gì đã xảy ra với tôi?
Tôi tìm thấy chiếc gương cầm tay, liền đưa lên mặt soi. Năm phút sau, một người đàn ông trung niên chậm rãi tiến đến, tôi bèn đứng dậy đón ông ta. Người đàn ông mang khuôn mặt tròn hơi gãy trông như hình hạt đậu ấy tự giới thiệu tên mình là Kosaka rồi ngồi xuống bên cạnh tôi, cũng nhìn ra mặt hồ. Tôi giải thích lại sự việc đã nói qua điện thoại, rồi lấy máy ghi âm ra, ấn nút chạy. Lúc nghe giọng ông Kondo vang lên, tôi lại thấy đau đớn trong lòng. Chịu đựng nỗi đau, tôi lắng tai nghe giọng của ông ấy, dù vang lên từ chiếc máy trước mặt nhưng dường như vọng lại từ nơi xa lắm. Ngắm nhìn cành cây vươn dài trên mặt nước, tôi sâu sắc cảm nhận được sức sống mãnh liệt trong đó. Nhưng giờ đây chúng tôi lại đang lắng nghe giọng nói của một người đã không còn trên thế gian này nữa. Đến lúc ông Kondo nói “Cảm ơn ông,” tôi dừng máy lại rồi lấy túi hồ sơ trong cặp ra.
“Như bác đã nghe bác Kondo nói trong băng, trên di chúc cũng có ghi là bác Kondo để lại cho bác một số sách. Đây là danh sách các cuốn sách đó, tất cả là tám mươi hai cuốn. Bác có nhận không ạ?”
Ông Kosaka đưa tay trái run run lên lau mắt, một lần nữa tôi thấy tim mình đau nhói. Dõi mắt theo những con sóng lăn tăn trên mặt hồ, tôi đợi ông Kosaka bình tĩnh lại.
“Tại sao.... gần mà.” Tôi nghĩ là ông Kosaka đang thầm thì tự nói với mình thì đột nhiên ông ấy nói to lên: “Nếu được báo, tôi đã đến, nếu biết ông ấy nằm viện tôi sẽ đến, đến chăm sóc ông ấy. Tại sao ông ấy lại không báo cho tôi chứ?”
Tôi không lên tiếng, chỉ im lặng nhìn ông Kosaka. Với vẻ mặt đau khổ, ông ấy kể: “Chẳng lẽ trong lòng ông ấy vẫn xem tôi là cậu học sinh nghèo ngày xưa. Giống như ông ấy đã nói đó, tôi thấy nhiều sách thì thích lắm, thế nên hay đến nhà Kondo chơi. Lúc đó đang là cấp hai. Lên cấp ba thì thế nào nhỉ? Hình như có chút xa cách hơn. Tôi ra làm việc ở Akita[[7]], lúc bắt đầu cuộc sống ở ký túc xá của công ty, tôi cũng chẳng mấy khi về quê. Có về cũng chỉ toàn nghe thấy mấy tin đồn xấu rằng ông ấy rượu chè be bét. Có lẽ là do lòng chính nghĩa, tôi đến tận nhà ông ấy khuyên nhủ. Căn nhà của ông ấy rất đẹp, có cả cái kho lớn, vậy mà lại dần bán hết đi.” Khuôn mặt ông ấy trông như sắp khóc. “Tôi đã quên mất chuyện về ông ấy, vậy mà ông ấy vẫn nhớ là tôi thích đọc sách. Nếu tôi đi thêm mấy lần... không, chỉ cần một lần nữa thôi cũng được, đến thăm ông ấy thì hay biết mấy, chỉ thế thôi cũng đã có thể khuyên nhủ ông ấy bỏ rượu rồi. Tại sao tôi lại bỏ cuộc chứ? Có lẽ tôi thấy trước mắt còn nhiều chuyện quan trọng hơn ông ấy. Tôi là một kẻ bạc bẽo.”
Đúng lúc này, một cậu bé chạy lại, ôm chân ông Kosaka, gọi: “Ông ơi!”
Ông ấy xì mũi sạch sẽ rồi mới cúi người ôm cậu bé đặt lên đùi. Cậu bé bắt đầu nói chuyện bi bô với ông ấy nhưng tôi nghe chẳng hiểu gì cả. Ông Kosaka cứ “Ừ, vậy à,” rồi vuốt nhẹ đầu cậu bé. Đột nhiên từng giọt nước mắt lăn dài trên má ông ấy. Tôi tránh nhìn vào mắt ông Kosaka, chuyển ánh mắt đến cành cây vươn về phía mặt trời. Cành lá tắm trong ánh nắng long lanh. Tôi bỗng sững sờ, lặng cả người, trong chớp mắt, dưới ánh nắng, tôi như nhìn thấy khuôn mặt của ông Kondo. Lúc này, cảm giác ấm áp lan tỏa trong tim tôi. Có lẽ tôi đã giúp được ông ấy. Trong mười hai năm làm luật sư, tôi đã giải quyết nhiều vụ rắc rối nhưng cảm giác này là lần đầu tiên tôi có được.
Là luật sư, tôi chẳng cứu được ai. Chẳng thể kéo dài mạng sống của ông Kondo, cũng chẳng thể nào làm giảm nỗi hối hận và nỗi buồn cho ông Kosaka. Nhưng tôi có thể giúp hoàn thành tâm nguyện của ông Kondo về mặt pháp luật, có thể truyền đạt lại cho người thừa kế tâm ý của người đã khuất. Đây có phải là lý do tôi được sinh ra không? Đặt tay lên ngực, thật kỳ lạ, dường như có ai đó cấp phép cho tôi được tồn tại trên cuộc đời này. Tôi muốn một lần nữa nhìn thấy nụ cười của ông Kondo nên cứ mãi dõi mắt theo ánh nắng.
❀ ❀ ❀
[1] Tên “Natsuko”, Hán tự gồm chữ “Hạ” (mùa hạ) ghép với chữ “tử” (đứa bé).
[2] Một loại mì làm từ hạt soba (kiều mạch), là món ăn truyền thống của người Nhật.
[3] Món ăn làm từ thịt cá xay nhuyễn trộn với bột và lòng trắng trứng, sau đó được quấn quanh thanh tre hay thanh kim loại rồi rán hoặc hấp lên.
[4] Một món cơm kiểu Nhật, trong đó cơm được hấp trong lồng tre, mùi vị rất phong phú vì có rất nhiều thứ có thể trộn vào cơm như ngũ cốc, thịt, cá, hay nghêu sò, hải sản.
[5] Về cơ bản, tài sản người đã mất để lại sẽ được chia như trong di chúc. Nhưng với những trường hợp người đã mất để lại di chúc nhường toàn bộ tài sản cho người tình thì gia quyến sẽ rất đáng thương. Thế nên điều 1028 Bộ luật dân sự của Nhật Bản đã quy định phần tài sản mà một số người thừa kế đáng được hưởng, như vợ, chồng, con cái, bố mẹ. Theo đó, vợ/chồng hay con cái có thể hưởng một nửa, bố mẹ được hưởng một phần ba tài sản người đã mất để lại, còn anh chị em không được hưởng.
[6] Món cơm và thịt heo tẩm bột rán, rưới thêm nước cà ri lên, thường ăn kèm với một ít củ cải muối.
[7] Tỉnh bên cạnh tỉnh Aomori, nơi quê nhà của các nhân vật trong chương truyện này.