Đội văn công xung kích mang tên “Hoa phong lan” được thành lập sau Tết Nguyên đán năm một ngàn chín trăm bảy mươi hai để phục vụ bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến ở Trường Sơn từ Quảng Bình vào sâu đến Quảng Trị.
Đội gồm một số diễn viên của Đoàn Văn công Tổng cục và ở Đội Tuyên truyền Quân khu Ba, Thành đội Thủ đô.
Đội biên chế hai mươi bốn người. Trung úy Trần Dũng, ba mươi hai tuổi do Đoàn Tổng cục Chính trị cử sang làm đội trưởng. Đội phó là tôi - Hải, Thiếu úy hai mươi sáu tuổi, công tác ở Thành đội Thủ đô. Tôi như có máu nghệ thuật bẩm sinh. Biết thổi sáo, sử dụng thành thạo năm loại nhạc cụ dân tộc, giọng hát được giới chuyên môn đánh giá như chuyên nghiệp dù tôi chưa qua một trường lớp đào tạo chính quy nào.
Tổ diễn viên hát gồm có Trà My (Hoàng Thị Trà My), Lê Thị Kim Sơn (Sơn Ca), và nam giới là Duy Minh hai mươi hai tuổi, người Quảng Ninh, Mạnh Cường hai mươi bốn tuổi, người Bắc Giang.
Tổ múa có nữ Kim Ngân, Thu Nga, Quang, Thạch là hai nam giới.
Tổ kịch có Tuấn, Đức, Dung, Hà. Tổ nhạc có tám người: Sáo trúc: Lê Mỹ, người Phú Thọ, ắc-coóc-đê-ông: Văn Bình, người Hòa Bình, trống: Vũ Châu, người Vĩnh Phúc. Ba chiếc vi-ô-lông do ba nam giới là Lân béo, Tuệ còm, Cường tổ ong. Cả ba là người Nam Định. Một tam thập lục do Thủy, người Thái Nguyên sử dụng. Lê Thảo, ba mươi tám tuổi, duy nhất trong đội là có vợ con ở quê, anh là tổ trưởng tổ nhạc, nghệ sĩ đàn bầu và sử dụng được bốn nhạc cụ dân tộc nữa (tam, tứ, nguyệt, thập lục).
Người cuối cùng là Yến, nữ phục trang đạo cụ, khi cần cũng đóng một vai phụ trong các vở kịch ngắn. Ăn uống nghỉ ngơi do đơn vị mà chúng tôi đến phục vụ sẽ giúp đỡ. Cấp trên đã có văn bản gửi từ trước một tuần lễ khi chúng tôi lên đường.
Tổ hát có bốn người, nhưng khi cần hát đồng ca, Dũng, Tuấn, Hải và Ngân tổ múa cũng tham dự được.
Đội được trang bị một máy phát điện hai người khiêng được. Dàn âm thanh công suất vừa đủ cho biểu diễn dã chiến.
Trước lúc vào mặt trận, Đội được tập trung học chính trị, học mười lời thề của Quân đội nhân dân Việt Nam, mặc dù các anh chị đã ở trong các đơn vị đều đã biết. Nhưng vẫn phải học lại. Ngoài Lê Thảo quân hàm thượng úy và Dũng quân hàm trung úy, tôi thiếu úy, còn lại anh chị em mới hạ sĩ đến chuẩn úy. Các diễn viên nữ đẹp nổi bật trong sắc xanh quân phục. Chúng tôi cũng tập đeo ba lô, mỗi người ba mươi kilôgam đi bộ hành quân ban đêm mười kilômét, sáng tập chuyên môn ca, nhạc, chiều học chính trị, tối lại tập hành quân. Tóm lại như một chiến sĩ chuẩn bị ra trận. Chỉ Dũng và tôi được đeo súng ngắn.
Về tên gọi các diễn viên, tất cả đều gọi bằng bí danh hoặc nghệ danh, đề phòng bọn tâm lý chiến giở trò bỉ ổi mà chúng đã từng làm.
Từ năm một nghìn chín trăm sáu lăm đến năm một nghìn chín trăm sáu tám, do một sự vô tình nào đó, chúng nhặt được một bản danh sách một trung đội Quân giải phóng có tên tuổi quê quán, phiên hiệu đơn vị. Số cán bộ, chiến sĩ này là người miền Bắc, chúng rêu rao trên Đài Phát thanh Sài Gòn rằng số cán bộ, chiến sĩ này đã về đầu hàng chính nghĩa quốc gia, đang được sung sướng... Tóm lại là chúng vẽ những cái bánh thật ngon. Đây là một đòn rất hiểm độc. Do đó, trong đội văn công xung kích mang tên “Hoa phong lan”, ai cũng mang một nghệ danh, ví như Trà My là Họa My, Kim Sơn là Sơn Ca. Tôi (Hải) là Nguyễn Đại Bàng. Đội trưởng Trần Dũng là Văn Lê... Giấy tờ tùy thân cũng mang cái tên như thế. Lỡ bọn tâm lý chiến có nhặt được thì đồng đội, người thân cũng không lo lắng.
Không ít trường hợp ở miền Bắc, có anh nghe lén đài địch, nghe thấy Nguyễn Văn B, Lê Văn H,... đã chiêu hồi về chính quyền quốc gia, đã tung tin rằng, bộ đội ta có nhiều người theo địch thế. Rồi gia đình nhà đồng chí B., H. đó đã lo lắng, hoảng loạn, xấu hổ không dám nhìn dân làng.
Thế mới biết đòn tâm lý chiến nguy hiểm không kém bom đạn của chúng ném xuống đất này. Do vậy, việc giữ bí mật là điều cần thiết.