Hát Trong Bão Lửa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 13 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ix

❊ ❊ ❊

Nhớ ngày huấn luyện ở ngoài Bắc, ở xã Quyết Tiến, có hôm mười giờ đêm, Minh ra ngõ huýt gió, đám thanh niên làng đi chơi về khuya hỏi nhau, sao có chim hót đêm nhỉ, hót hay quá.

Có hôm, Minh ra chợ, đi sau mấy thôn nữ, anh huýt gió, các thôn nữ nhà ta tưởng chim bay trên đầu, nhìn lên, không thấy, quay sau không thấy. Một lát, Minh lại huýt gió. Đừng nghĩ đó là chuyện tào lao, mà phải nghĩ đó là một cái tài của Minh khều, đâu phải ai cũng làm được.

Tuy nhiên, tài ấy có lúc gây phiền hà. Theo Minh kể, năm mười tám tuổi, Minh quen một cô gái ở làng bên. Vô tình thấy một cô đi chợ qua đường làng mình, Minh đạp xe theo sau. Cô gái cứ quay lại thì không còn tiếng chim, quay đi thì chim lại hót, cứ thế cho đến lúc cô bé về đến nhà. Minh đứng cổng nhìn vào, cô bé nhìn ra, thấy một chàng trai cao, gầy nhưng có khuôn mặt kẻng trai, cô đi ra hỏi anh tìm ai, Minh lém lỉnh, tôi hỏi nhà cô có bán chim giống không, cô bé thật thà nói nhà mình không có chim giống nào cả. Cô bé vui tính mời Minh vào nhà. Bố mẹ cô bé đi làm đồng chưa về, không hiểu cố tình hay vô tình khoe tài, Minh huýt gió điệu nghệ. Cô bé tròn mắt:

- Ô, thì ra chính anh là chim hót, đi theo em từ làng bên về đây. Anh tài quá, nhà anh ở đâu, anh làm gì?

- Tôi ở xã bên cạnh đây thôi, vừa học xong lớp mười mà.

- Thế có đi bộ đội không, hay là đi đại học.

- Trên cho đi đâu thì đi đó.

Cô gái nói đàn ông phải vào bộ đội mới được anh ạ. Thế đã có người yêu chưa. Minh nói mới mười tám thì yêu cái gì. Cô gái nói thế thì phải đi bộ đội vài năm cho ra dáng con người. Anh huýt gió và làm chim nữa đi, anh làm chim hay lắm.

Minh ngắm cô gái đến ngơ ngẩn vì cô khá xinh đẹp. Cô giục hai, ba lần Minh mới huýt gió. Lúc mỏi mồm cũng là lúc bố mẹ cô bé đi làm về. Minh chuồn và vẫn nghe cô bé nói: “Thỉnh thoảng anh đến nhà chơi, đi bộ đội thì cho em biết đấy, không là em sẽ giận”.

Chà chà, lời cô gái cứ như mía lùi ép ra nước đổ vào tai người nghe, nó trôi tuột xuống, xuống dạ dày. Đúng là muôn nẻo tình yêu cũng không qua khỏi đường xuống dạ dày. Bảy tối liền Minh đến nhà đều thấy có một, hai chàng trai đang ngồi với cô bé. Anh huýt gió, cô bé đi ra, mời vào, cô bảo anh đừng ngại, đó là các bạn trai cùng xóm. Minh mạnh dạn bước vào - chà chà, hai chàng trai kia với bốn con mắt long lên dữ tợn. Minh chào mà họ không thèm trả lời. Cô bé giới thiệu: “Đây là anh Tình, con bác chủ nhiệm hợp tác xã thôn em, anh Hoán là con bác phó chủ tịch xã này”. Ngồi đúng mười phút, không chàng trai nào nói ra một lời, trừ cô bé luôn miệng mời ba anh uống nước nụ vối, ngon lắm. Không chàng nào nâng chén, cứ tưởng là Minh đứng lên chào mọi người đi ra. Ai ngờ hai chàng trai kia xin phép về trước, mỗi người một xe đạp Phượng Hoàng mới coong. Cô bé tiễn bạn, năm phút quay vào, Minh không biết mở miệng bằng câu gì thì cô gái đã liến thoắng hỏi: “Anh có mấy anh, em? Bố mẹ làm gì?”. Minh trả lời ngắn gọn. Rồi vẫn ngồi, miệng như bị dính keo. Sau bốn lăm phút, Minh ra về, đi được khoảng năm mươi bước chân, bốn thanh niên xông ra - một tay nói:

- Mày còn sang, tao sẽ đánh cho một trận, đó là người yêu của tao. Hôm nay cảnh cáo mày mấy cái tát.

Cả bọn lao vào nhưng may, có ánh đèn pin đi lại rất gần, đó là mấy anh chị dân quân cơ động của xã đi tuần tra ban đêm. Cả bọn bỏ chạy. Minh cũng bỏ chạy. Thế mà đã gần tám năm rồi, Minh và cô bé không biết tên nhau. Không hiểu cô bé lấy chồng chưa, bởi sau đó bảy ngày, Minh nhập ngũ...

Mấy ngày nay, tôi thấy Đội trưởng Trần Dũng gầy hơn trước nhiều. Ăn không hết suất cơm. Tôi hỏi anh sao thế. Anh chỉ nói nhỏ: “Không sao đâu, Hải ạ, đồng chí cứ lo phần chuyên môn đi”.

Dũng cũng không nhắc nhở anh em những chuyện nhỏ như phải đi ngủ sớm, không được kể chuyện tiếu lâm quá tục tĩu. Mắt anh luôn nhìn ra xa, không hiểu anh đang nghĩ điều gì. Lạ vì hai hôm nay Dũng rất im lặng . Do vậy tôi nghĩ cách gọi riêng Họa My ra nói chuyện. Chỉ có Họa My, may ra Trần Dũng mới nói ra điều gì đó. Họa My giãy nảy:

- Em chịu thôi, đội phó đi mà tìm hiểu.

Nhưng rồi Họa My cũng bắt chuyện được với Dũng. Họa My kể lại với tôi, lạ quá anh Hải ạ, anh Dũng không nói lắp bắp, không lặp lại “coi như là... ”, mà nói rất dễ nghe, dịu dàng, kể chuyện mà anh cứ nhìn đi đâu...

Không nói “coi như là...” thì ra, có thể người ta không có khả năng truyền đạt ý nghĩ của mình trước đám đông, nhưng trước một người thì nói rất hay thầy giáo dạy toán lớp mười của tôi cách đây tám năm, không giảng hay được trước gần năm mươi học sinh, nhưng khi tôi đến nhà thầy nhờ giải bài toán khó, thầy nói rất dễ hiểu.

- Chuyện của Trần Dũng thế này anh Hải ạ! - Họa My nói tiếp - Em trai anh Dũng hy sinh ở bên Lào. Tuần trước, anh Dũng nhận được tin từ một người anh họ cùng xã. Người anh họ trên đường hành quân vào Nam, nghe nói có đội văn công xung kích, đã tìm đến, khi đơn vị tạm dừng hai ngày lấy sức.

Ý định tìm Dũng, nếu không gặp thì xem ké đơn vị nào đó đang được văn công phục vụ, rồi về. May quá, đã gặp được Dũng. Anh định không nói chuyện buồn của gia đình Dũng, nhưng cách nói chuyện, nét mặt của anh đã làm Dũng nghi. Trước đó, Dũng mấy đêm liền không ngủ, có gì như linh tính chuyện xấu sẽ xảy ra. Anh mơ toàn thấy ác mộng. Thấy em trai anh đi tìm anh, máu me đầy mặt. Mấy đêm liền như thế.

Kể cho Họa My nghe, mắt Dũng ngấn nước. Anh dặn Họa My không được kể cho đồng chí nào trong đội nghe. Nếu kể, tức là trái lệnh chỉ huy, và gieo rắc bi quan trong đội ngũ. Họa My nghe Dũng kể cũng nghẹn cổ, nước mắt lăn ra, bởi cô ít khi thấy đàn ông trưởng thành chảy nước mắt. Đàn ông mà khóc, tức là có chuyện lớn, chẳng lành.

Nghe Họa My kể, mọi mặc cảm về Dũng ở trong tôi tan biến, tôi định sang gặp Dũng nhưng nhớ lời Họa My dặn, tôi lại thôi.

*

- Cháy rồi, cháy rồi các đồng chí ơi!

- Một thằng Ních-xơn nữa bị chết cháy rồi!

Chúng tôi đang ở Ban chỉ huy trận địa, được bố trí ăn, nghỉ, luyện tập. Nghe tiếng reo hò từ phía trận địa dội về, mọi người vùng chạy ra sân nhìn lên trời: Kia rồi, chiếc máy bay như một đống giẻ tẩm xăng bùng cháy đang di chuyển nhanh về phía tây theo chiều đi xuống, mỗi lúc một nhanh bởi sức hút của trái đất. Thằng giặc lái kịp nhảy dù, nó rơi xuống cánh rừng gần đây. Bộ đội công binh, thanh niên xung phong đã bủa vây, sau hai tiếng đồng hồ, người ta phát hiện nó đằng sau gốc cây, mắt nó ngơ ngác khi nhìn những họng súng chĩa vào mặt, nói lơ lớ vài câu tiếng Việt: “Tôi xin hang, tôi đoi lăm, cho tôi ắn”.

Ở ngoài Bắc, chúng tôi đều biết ngoại hình những chiếc máy bay qua phim ảnh, hoặc qua trực tiếp thấy chúng nó bay trên trời, nhưng chưa nhìn thấy máy bay Mỹ cháy trực diện. Nay nhìn rõ ràng rằng máy bay Mỹ bị pháo binh ta bắn rơi. Trông nó như đống giẻ bị tẩm dầu rồi đốt bỏ kẻo ô nhiễm không khí trần gian...

Chúng tôi quay vào, các đồng chí chỉ huy trận địa vui mừng bắt tay từng người. Sơn Ca hỏi một câu mà tôi cũng chưa nghĩ ra:

- Đồng chí thủ trưởng tiểu đoàn ơi, vì sao mà đạn súng trường cũng bắn rơi máy bay ạ?

Đồng chí tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn pháo binh, đơn vị mới vừa bắn rơi máy bay giảng giải:

- Máy bay hiện đại bao nhiêu thì khi bị dính đạn càng dễ cháy, dễ bị rơi bấy nhiêu. Viên đạn súng trường nếu bắn trúng thùng xăng trên máy bay, nó sẽ bùng cháy, thậm chí, nó chỉ cần làm đứt một sợi dây điện nhỏ ở bộ máy quan trọng nhất thì máy bay không hoạt động được, và sẽ bị rơi, nếu phi công tài ba, họ có thể bình tĩnh xử lý cho máy bay hạ cánh. Nhưng trường hợp như thế rất hiếm, nhất là, phi công của giặc thì chỉ có lối thoát là nhảy dù. Còn phi công Liên Xô, Việt Nam, máy bay đã bị hỏng hóc, hết nhiên liệu, vẫn tìm cách hạ cánh an toàn.

Hay! Có thế mà tôi, và chắc là nhiều người không nghĩ ra. Cảm ơn Sơn Ca nhé. Lúc ăn cơm, tôi nói nhỏ với Sơn Ca như vậy. Tôi nói nhờ Sơn Ca mà tôi biết vì sao đạn súng trường mà hạ được máy bay.

Ăn cơm xong, không khí chiến thắng vẫn còn dâng đầy trong lời nói, ánh mắt mỗi người. Chiều hôm đó, các đồng chí chỉ huy ở đây cho biết, toàn tuyến Trường Sơn, mười một máy bay Mỹ bị hạ trong ngày, sáu giặc lái bị bắt sống, còn năm thằng bị chết thui. Chắc là dù bị mắc kẹt, không mở được...

Vui chuyện, đồng chí tiểu đoàn trưởng nói chính trị viên tiểu đoàn của chúng tôi là Trần Văn Báu, đồng chí hát hay và cũng sáng tác thơ, truyện ngắn. Đồng chí Báu, đề nghị hát để các đồng chí văn công nghe.

Đồng chí Báu đứng lên nói: “Tôi mà hát trước mặt các đồng chí văn công thì khác gì múa rìu qua mắt thợ. Tôi xin đọc một bài thơ vui thôi nhé”. Anh em văn công nhao nhao đề nghị đồng chí cứ hát. Đành phải hát, đồng chí này quê Thanh Hóa, hát bài “Chào sông Mã anh hùng”.

Chúng tôi ngạc nhiên thật sự vì giọng của đồng chí Báu rất chuyên nghiệp. Vỗ tay nhiệt liệt. Có ắc-coóc của Bình cóc, đồng chí hát say sưa, giọng vang, khỏe, trong sáng. Họa My lại đề nghị đồng chí song ca với cô bài “Trai anh hùng gái đảm đang”, sáng tác của Đỗ Nhuận. Xong ngay, quả là tuyệt. Đẹp đôi quá, Tuấn cười nói to.

Hát xong, Châu trống không quên đề nghị đồng chí Báu đọc hoặc ngâm một bài thơ vui. Đồng chí Báu nói: “Các đồng chí văn công nữ đừng cười nhé, vì bài này tôi viết cho vui thôi. Cứ đọc đi ạ”. Chính trị viên Báu đọc luôn: “Chúa nặn ra nam giới/ Đặt tên là A-đam/ Xương sườn thừa một chiếc/ Chiếc thừa này hơi dài/ Lần đầu tiên tạc tượng/ Chúa luống cuống run tay/ Cắm đuôi nhầm phía dưới/ Thế lại là điều hay/ Muốn tác phẩm sống động/ Chúa bẻ sườn A-đam/ Nặn một người phụ nữ/ Đặt tên nàng Ê-vaChỉ vì thiếu vật liệu/ Ê va không có đuôi/ Chúa vắt óc suy nghĩ/ Nhưng phải đành buông xuôi/ Thiếu một phần cơ thể/ Ê-va buồn biết bao/ Ôm A-đam thủ thỉ: Mượn cái đuôi tí nào. Xin hết ạ!”.

Đám nam giới vỗ đùi bèn bẹt, cười ha hả. Đám nữ giới đỏ mặt, đấm vai nhau thùm thụp. Chờ mọi người cười xong, đồng chí tiểu đoàn trưởng nói: “Đồng chí Trần Văn Báu, nguyên giáo viên dạy văn cấp hai, mới ba mươi tuổi, chưa có vợ, vẫn còn phòng không nhân dân, xung phong nhập ngũ đấy. Đã bảy năm ở Trường Sơn...”.

... Đường Trường Sơn là đường huyền thoại sẽ mãi mãi ghi vào lịch sử của dân tộc. Chúng tôi đã có năm buổi phục vụ bộ đội xăng dầu ở năm điểm. Điểm có nhiều người xem nhất là gần một trăm người, ít nhất là ba người.

Phải khâm phục những chiến sĩ công binh của quân đội ta. Chao ôi, nhìn ống dẫn xăng dầu to như cột đình, rất nặng, trong điều kiện máy bay giặc ngày đêm vần vũ trên bầu trời, rồi thì biệt kích, thám báo dò la, và trong điều kiện lắp đặt chủ yếu là thủ công vậy mà chiến sĩ công binh chúng ta đã qua sông, qua suối, qua rừng, qua đèo hàng trăm kilômét đường ống dẫn dầu nhưng không bị kẻ thù phát hiện. Việc có đoạn ống bị bom Mỹ ném trúng, dầu bốc cháy là do ném bom bừa bãi chứ không phải là bị phát hiện bởi bộ đội chúng ta ngụy trang rất khéo.

Chỉ năm buổi phục vụ bộ đội xăng dầu, chúng tôi càng thêm khâm phục bàn tay trí óc của họ. Vì công việc bí mật, chúng tôi không được phép hỏi ống dẫn bắt đầu từ đâu, nay đã lắp đặt đến địa danh nào. Chỉ biết rằng anh em bộ đội xăng dầu cũng lưu luyến chúng tôi khi rời đi phục vụ điểm khác. Không riêng gì bộ đội xăng dầu, mà các chiến sĩ khác ở Trường Sơn, ai chưa được xem văn công đều tiếc rẻ, nhưng họ vẫn hy vọng bởi không chỉ có đội “Hoa phong lan” của chúng tôi, mà ngoài Bắc đang tăng cường một số đội nữa...

*

Rồi sáu tháng mùa mưa cũng qua đi, nhưng mật độ đánh phá của Mỹ thì không có gì thay đổi, vẫn ác liệt, tàn bạo. Các trận địa pháo bảo vệ đường Trường Sơn thường nằm cách mặt đường năm trăm mét đường chim bay, phải ở chỗ đất cao, không bị che khuất tầm nhìn của cây rừng. Quanh ụ pháo đắp bằng đất cao một mét năm mươi, dày một mét được ngụy trang bằng cành cây xanh, nòng pháo bọc vải nhuộm màu xanh. Ụ đất xung quanh cũng được trồng cỏ. Nếu trận địa bị phát hiện, lại phải di chuyển chỗ khác. Ở Trường Sơn, bộ đội ta có sáng kiến làm trận địa giả, nòng pháo là những thân cây được sơn đen. Mỹ đã mất khá nhiều bom quăng vào mục tiêu giả ấy.

Ở hậu phương, tôi đọc báo, nghe đài thấy nói trận địa pháo bảo vệ các trọng điểm trên đường giao thông, cầu, phà... thì lại ngỡ là trận địa ở ngay mặt đường. Vào đây mới thấy, các trận địa ở cách xa mặt đường, xa trọng điểm như đã nói ở trên. Đặt trận địa như thế mới có thể quan sát được giặc trời một cách dễ dàng, tránh thiệt hại một cách tối đa cho quân ta. Và vì thế, chúng tôi khi phục vụ các trận địa pháo cảm thấy an toàn, phục vụ xong lại về ở khu vực chỉ huy nghỉ ngơi.

Khu chỉ huy trận địa nào cũng vậy, có một nhà lợp lá cây rừng, hoặc cỏ tranh, gọi là hội trường của đơn vị. Đây là nơi tiến hành hội họp của Ban chỉ huy tiểu đoàn, của các chỉ huy đại đội khi tiểu đoàn triệu tập, cũng là nơi đón khách ở binh trạm xuống. Nhà nằm sâu dưới mặt đất. Mái che chỗ giọt gianh cách mặt đất khoảng năm mươi centimet để có ánh sáng. Xung quanh nhà cũng đắp ụ đất, cao khoảng bốn mươi centimét, dày một mét. Có hệ thống giao thông hào đi xuống, và tỏa ra các hầm chữ A ở bên ngoài ngôi nhà.

Chúng tôi nghỉ ngơi, ăn ở đây, và nhiều khi phục vụ cán bộ từ binh trạm xuống hoặc chỉ huy các đại đội trong tiểu đoàn.

Ngoài trận địa, mỗi ụ pháo là một khẩu đội. Họa My, Sơn Ca, Minh khều, tôi... do hát đơn ca, nhiều lần đứng hẳn lên mâm pháo để đồng đội nhìn rõ mặt. Phục vụ ở từng khẩu đội không thể múa, diễn kịch được mà chỉ là hát, độc tấu sáo, tấu nói, chính Tuấn cười sáng tác một bài tấu có tựa đề là “Quả lựu đạn chày gừng bằng gỗ”. Nội dung nói về một nữ dân quân đi tập quân sự, chồng đi bộ đội vắng nhà, chị cứ đêm đêm để quả lựu đạn bằng gỗ dưới gối để cho dễ ngủ. Chồng về phép, thấy vậy hỏi, vợ trả lời: “Nhìn thấy nó để em càng nhớ đến anh”. Lời văn bình dị, nhưng ngôn ngữ lắt léo, Tuấn đọc đến đâu, chiến sĩ ta cười đến đấy. Văn chương có hàm chứa đến sự liên tưởng nên... anh em thoải mái cười...

... Mùa mưa dai dẳng đã qua. Không còn những đợt cả tuần mới có cơm, còn thì chỉ ăn lương khô. Mưa ướt củi, có gạo mà thèm cơm. Thỉnh thoảng gặp xe ra, xin mỗi xe một ít xăng, rồi đổ cát vào bếp trộn xăng vào, lửa cháy mới có cơm ăn.

Ban chỉ huy các trận địa pháo phòng không, đại đội trưởng các đội rà phá bom mìn cho đến binh trạm đều quan tâm đến chúng tôi. Các đồng chí chỉ thị cho cấp dưới rằng, không được để các đồng chí văn công bị đói ăn, thiếu nước uống. Cán bộ, chiến sĩ ở Trường Sơn đã chia sẻ, nhường các đồng chí văn công. Phải đảm bảo an toàn tính mạng cho toàn đội, không được để xảy ra sơ suất điều gì. Đặc biệt phải quan tâm giúp đỡ các đồng chí nữ diễn viên.

Anh em chúng tôi trong đội đều cảm động trước sự quan tâm ấy cho nên sẵn sàng phục vụ bất kỳ lúc nào có yêu cầu. Nhớ lại bao nhiêu những ngày mưa trơn vừa qua, có những điểm phục vụ xa chỗ chúng tôi nghỉ ngơi, các đồng chí ở đơn vị mà chúng tôi sẽ đến đã cử người mang võng để khiêng các nữ diễn viên. Nhưng chỉ có những đoạn đường khó đi hoặc đèo dốc thì chị em mới để đồng đội khiêng võng, còn lại là đi bộ với nhau. Vừa đi vừa nói chuyện, hỏi thăm quê quán. Thậm chí chúng tôi vừa đi vừa hát chay cho các đồng chí khiêng võng nghe.

Tôi hát trước, sau là Họa My, Minh khều, rồi đến Sơn Ca, rồi cả những diễn viên múa cũng hát theo. Tiếng hát át cả tiếng mưa rơi. Các đồng chí khiêng võng quen rồi nên cứ đi băng băng, chúng tôi phải cố mới theo được. Mệt đứt hơi mà vui. Họa My, Sơn Ca vì nằm võng mà hát nên những lúc giai điệu có chỗ vút cao lại phải ngồi dậy.

Mồ hôi của các đồng chí khiêng võng tuôn ròng ròng. Mệt mỏi nhưng không thể ngồi nghỉ bởi không thể ngồi xuống đất ướt. Ba lô đeo lưng như nặng hơn, ngoài mặc áo mưa, lắm lúc giẫm phải đống bùn, quai dép cao su bị tuột, lại đứng lại giúp nhau rút. Châu trống nói đùa một câu: “Bây giờ nếu có em nào đẹp như Họa My, như Sơn Ca bảo tôi cõng đi rồi sẽ lấy làm chồng tôi cũng chịu”. “Cậu nói thế, lỡ nay mai vợ đau đẻ trời mưa thì sao?”. “Thì... thì lại nhờ anh em bà con trong họ võng đi chứ sao?”.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Nguyễn Thanh Hương

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.