Học cách của Thảo già, tôi quyết không xuống thang với Họa My nhưng rồi phải... đầu hàng.
Sau hơn một tháng trục trặc, có lệnh vào Quảng Trị, tôi đành phải xuống thang với Họa My. Lấy tư cách đội phó, tôi xuống kiểm tra từng người việc sắp xếp tư trang. Đến chỗ Họa My, tôi nói nhỏ: “Em có nặng lắm không, san bớt để người khác đỡ cho. Họa My nói cảm ơn đồng chí thiếu úy phó tư lệnh trưởng, hơi nặng, nhưng tôi đã có người khác lo giúp”. Tôi chột dạ, nhưng sau câu nói, Họa My mỉm cười, tôi nghĩ hai từ “tư lệnh” do Họa My nghĩ ra để trêu tôi. Thế là tôi thở phào, khẽ nói:
- Thưa bà phó tư lệnh, tôi nghe rõ!
Thế là dàn hòa xong. Dọc đường hành quân, chúng tôi đi cạnh nhau. Đến những chỗ có dốc, tôi cố ý nắm vào tay Họa My kéo lên, Mỹ nắm tay Ngân xoăn, Thạch nắm tay Dung tẹt, Lê Đáng nắm tay Nga xù, Châu nắm tay Thủy dẹt, Minh khều nắm tay Hà cụt, tất nhiên, “thừa” bảy, tám anh nam giới vì cặp nào đi cặp đó rồi...
... Đến địa điểm tập kết, chúng tôi được Ban chỉ huy mặt trận Quảng Trị đón tiếp. Tất cả tắm, giặt rồi ăn trưa, sau đó ngủ một giấc thật đã. Ba giờ chiều nhận lệnh tối nay diễn phục vụ nhân dân vùng giải phóng.
Bữa cơm chiều hôm đó thật ngon. Tất cả chúng tôi không ai bảo ai đều ồ lên một tiếng vì mâm cơm có gà luộc thái lá chanh, cá rán, rồi rau cải luộc nước gà.. Rất nhiều rau. Các đồng chí trong Ban chỉ huy mặt trận Quảng Trị cùng ngồi ăn với chúng tôi. Đồng chí đại diện Ban chỉ huy nói: “Biết các đồng chí thiếu rau, chúng tôi đã cho anh em hậu cần lo để các đồng chí dùng đủ”. Đồng chí này nói tiếng Bắc. Tôi mạnh dạn hỏi, đồng chí ấy nói, tôi quê ở Bắc Ninh. Ô kìa, đồng hương với Họa My rồi. Đồng chí vui vẻ hỏi thăm Họa My và từng người. Đồng chí cho biết, đồng chí vào Nam từ một chín sáu mươi, trước có tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.
Đồng chí nói tiếp: “Chắc văn công các đồng chí cũng nghe đài rồi. Quảng Trị giải phóng, nay cũng đã được sáu tháng rưỡi rồi. Tình hình này sẽ giải phóng miền Nam rất mau. Địch cũng nhiều lần hô hào tái chiến Quảng Trị nhưng chúng ta đã giữ vững. Đối với các đồng chí văn công, phải ăn ngủ tốt để có sức phục vụ nhân dân và Quân giải phóng...”.
... Đêm biểu diễn thành công ngoài tưởng tượng: Không có máy bay Mỹ bay qua, buổi diễn không đứt đoạn. Sau đó, các mẹ các chị quây lấy chúng tôi, người thì cho hoa quả, người thì cho... trứng gà, cho gạo, đường, sữa, thịt, rồi giò chả. Chúng tôi cảm ơn bà con, chỉ nhận một ít đường sữa và hoa quả. Một bà mẹ khoảng bảy mươi tuổi nói:
- Các con từ miền Bắc vô đây phục vụ bà con cô bác, công sức to lắm, hãy nhận đi cho bà con cô bác ở đây vui lòng, má cũng có hai con vào Quân giải phóng.
Chúng tôi nhờ Ban chỉ huy mặt trận phân xử, đồng chí đứng lên cảm ơn bà con, và ngoài đường sữa, chỉ xin nhận thêm ba cân giò chả. Gạo, thịt... thì thôi.
Bà con cô bác còn nán lại. Các chị, các mẹ khen nữ diễn viên văn công miền Bắc đẹp quá, đẹp hơn cả mấy cô ca sĩ của đài Sài Gòn. Đẹp gái, hát hay nữa. Mọi người muốn chúng tôi ở lại mấy đêm nhưng đồng chí đại diện Ban chỉ huy mặt trận đã nói đại ý còn rất nhiều nơi đang chờ. Do đó, bà con thông cảm. Hết giặc rồi, tha hồ xem văn công chiếu bóng.
Sáng sau, cuộc chia tay diễn ra trong sự tiếc nuối của bà con cô bác và chúng tôi. Chúng tôi chưa thấy quả chôm chôm bao giờ. Vào đây mới biết mặt mùi hương vị quả chôm chôm. Đặc biệt, bà con cho khá nhiều chanh quả, rồi cả cam nữa. Với tôi, và chắc chắn là tất cả anh em trong đội có ấn tượng nhất bữa ăn tối qua: Gà luộc, rau cải luộc. Những thứ ngoài Bắc không thiếu nhưng vào Trường Sơn gần mười tháng rồi mới được ăn loại rau quen thuộc và phổ biến đó. Thịt gà chấm muối tiêu, lá chanh thái nhỏ như sợi thuốc lá. Nước rau cải ngọt đứ đừ vì luộc từ nước luộc gà.
*
Cả đội được vào thăm Thành cổ Quảng Trị. Không một viên gạch nguyên vẹn bởi, đạn pháo của Mỹ đã trút xuống đất này. Đồng đội tôi hy sinh đến chục ngàn người! Một mét vuông là một tấn bom. Khủng khiếp quá. Tôi chỉ thấy trên phim ảnh ở hậu phương chiếu lên cảnh phát xít Đức ném bom, nã pháo, đã là rùng rợn. Nhưng mấy tháng qua, chứng kiến tận mắt sự tàn khốc của chiến tranh mà kẻ xâm lược gây ra trên đất nước chúng ta, thì thấy Mỹ còn là bậc thầy của Hít-le về tội ác.
Di tích Thành cổ Quảng Trị, chúng tôi đã được xem từ lúc mười lăm tuổi - dù là những bức ảnh nhưng chúng tôi có thể hình dung rằng Thành cổ Quảng Trị có vẻ đẹp vừa cổ kính, thâm nghiêm, vẻ đẹp của một công trình văn hóa. Tôi vẫn ước ao sau này đất nước hết giặc, sẽ đi thăm di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh của đất nước, trong đó có Thành cổ Quảng Trị. Nhưng giặc chưa hết, tôi đã cùng đồng đội có mặt ở thành cổ đổ nát, may mà còn cái cổng thành.
Nghe những người còn sống, đã từng chiến đấu ở đây kể lại về những gương anh hùng trong tám mươi bảy ngày đêm ác liệt. Nói mưa bom, bão đạn thật không ngoa. Không phút nào ngưng tiếng súng. Cái sống và cái chết chỉ cách nhau một cái chớp mắt nhưng cứ lớp này ngã xuống, lớp kia lại đứng dậy.
Có bài thơ “Trăng non Thành Cổ” của ai đó viết về một nữ cứu thương, chỉ mới mười chín tuổi, rất xinh đẹp. Nữ cứu thương như con chim chích chuyền cành này sang cành khác băng bó cho thương binh, rồi tải thương. Rất tiếc, khi cờ giải phóng của ta cắm trên nóc Thành Cổ được gần hai ngày, chị giẫm phải mìn sát thương của giặc. Chị ra đi ở tuổi mười chín, tuổi đời còn quá trẻ, như một anh hùng. Tên chị là Minh Nguyệt - nghĩa là trăng sáng. Bài thơ của tác giả vô danh nào đó được chuyền tay đến hàng ngàn người. Họa My đã ngâm bài thơ này trong một đêm phục vụ đồng đội, Họa My đã khóc, câu thơ giữa chừng bị nghẹn trong họng.
... Một đồng chí trung đội trưởng kể rằng, trung đội đồng chí có ba mươi hai người, bổ sung đến chín lần quân số. Số hy sinh đến hai phần ba số còn lại bị thương nặng, về tuyến sau. Đồng chí trung đội trưởng may mắn chỉ bị ở phần mềm, tạm thời an dưỡng cho khỏe lại. Còn một chuyện mà đồng chí kể như đùa, đó là, trung đội của đồng chí có bốn anh chàng, tuổi quân, tuổi đời đều hơn đồng chí bốn năm. Cả bốn anh chàng đều có tật xấu là hay châm chọc người khác, có nói thành không, tham ngủ và... ăn thì... miễn kể. Vậy mà, cả bốn ông mãnh này đều đạt cả ba danh hiệu: Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt ngụy, Dũng sĩ diệt xe tăng trong những ngày đêm chiến đấu ở Thành Cổ.
Thế mới hay rằng: Đâu phải con người nào cũng hoàn thiện.
Nhưng, bù lại họ là những anh hùng, xông xáo chỗ nguy hiểm nhất. Cõng thương binh, vác thêm đạn, cũng không ngại. Và cả bốn chiến sĩ anh hùng này, không ai còn sống sót, họ ra đi vào ngày thứ tám mươi mốt của trận đấu, nghĩa là còn sáu ngày nữa thì Quảng Trị giải phóng. Họ ra đi để lại tiếc thương cho đồng đội ở lại. Bây giờ, chỉ thấy người ta nói về những chiến công của bốn chiến sĩ ấy...
... Tôi cùng Đội trưởng Trần Dũng được Chính ủy mặt trận Quảng Trị mời dự một buổi nói chuyện với một gã lính Mỹ đeo lon trung sĩ.
Thằng Mỹ này tuy cao lớn nhưng gọn gàng, không lạch bạch như mấy thằng giặc lái bị ta bắt sống ở miền Bắc hoặc ở Trường Sơn. Hắn nói tiếng Việt rất giỏi. Hắn khai rằng:
“Tôi là Rô-bớt, hai mươi bốn tuổi, mới tốt nghiệp đại học khoa triết học ở đại học Havard. Tôi ghét chiến tranh. Tôi có nghiên cứu văn hóa Việt Nam. Tôi thấy nước Mỹ đem quân sang Việt Nam là sai. Tôi tham gia phong trào sinh viên biểu tình chống chiến tranh, thế là bị bắt, bị vào lính. Và bị đẩy sang Việt Nam với lời hứa hẹn hão huyền rằng: Người dân Việt Nam sẽ đón tiếp người Mỹ lịch sự lắm. Nào có thấy lịch sự, có chăng chỉ có vài con điếm hạng bét ở vài thị xã và Sài Gòn, còn thì được đón tiếp bằng súng đạn của Việt cộng nhiều hơn. Chỉ vì nghe họ hứa: Sang Việt Nam ba năm, về sẽ cấp học bổng học lên tiến sĩ. Tôi cũng thấy lạ cho bọn Đại Hàn, bọn Úc, bọn Thái Lan. Nước Mỹ cho họ những gì mà lại vào Việt Nam chết thay cho các ông chủ Mỹ cơ chứ. Thân làm tay sai, làm lính đánh thuê thì khác gì làm răng cho chó sói. Không chết thì cũng gãy hết cả, để tiếng xấu cho đời sau, để nỗi đau cho vợ con, cha mẹ”.
Nghe nó nói, nhiều người không tin, nhưng nó nói, các ông phải tin tôi rằng không phải người Mỹ nào cũng thích chiến tranh. Chỉ có những ông chủ tư bản giàu có mà thôi. Các ông chủ tư bản sản xuất bom đạn, máy bay là hiếu chiến thôi. Bộ máy chỉ huy chiến tranh của Mỹ tập trung những tay tư bản đầu sỏ giàu sụ. Đây tôi có cuốn nhật ký, tin hay không là quyền... của các ông.
Tên Mỹ này nói giỏi tiếng Việt, không cần phiên dịch. Cuốn sổ của nó ghi cả tiếng Việt, tiếng Anh. Chúng tôi không được xem. Nó được trao ngay cho đồng chí chính ủy mặt trận. Cuốn sổ cỡ chín centimét nhân mười hai centimét nhét ở trong ngực áo.
Những đồng chí tham gia bắt sống nó kể rằng, một đồng chí đeo ống nhòm nhìn phía bên kia, có một tên Mỹ bắn chỉ thiên rồi nằm xuống. Sau đó, hắn quăng súng, bò về phía chúng ta. Chuyện lạ trong chiến tranh - nó nói ngay khi mà họng súng của mấy đồng chí ta chĩa vào họng nó:
“Tôi chạy sang phía các ông. Tôi không thích chiến tranh. Hãy cho tôi sống và gặp chỉ huy của các ông”.
Một thằng trung sĩ thì có gì gọi là giá trị về chiến lược, chiến thuật quân sự, nhưng rồi chính nó đã cho chúng ta hiểu thêm rằng, chỉ có những kẻ đầu trâu mặt ngựa trong các tập đoàn tư bản và các ông chủ Nhà trắng mới thích chiến tranh, thích cướp nước người bằng cái chết của bầy tôi: Là bọn tay sai ở nước mà chúng xâm lược và bọn đánh thuê chém mướn.
“Người Mỹ sẽ thua các ông. Nước Mỹ sẽ thua Việt Nam một ngày gần đây thôi, các ông hãy tin lời tôi”. Trung sĩ Rô-bớt nói.
Nó bị bắt sau khi Quảng Trị giải phóng năm ngày vì nó nằm trong đội ngũ giặc đánh tái chiến Quảng Trị. Lúc chúng tôi được gặp nó tức là nó bị bắt gần bảy tháng. Tôi có hỏi đồng chí chính ủy mặt trận sao vẫn giữ nó ở đây, không đem ra Bắc. Ông nói, rất thông cảm cho ông, vì lý do... quân sự.
Ở nhỉ, thế mà tôi quên mất.
*
Các đơn vị mà chúng tôi đến phục vụ, từ thủ trưởng đến lính ào ra đón. Tíu tít hỏi thăm, cứ như người nhà lâu ngày đi xa nay mới gặp.
Xem diễn viên nữ hát múa, đơn vị nào cũng đòi mang tên như: Đại đội Họa My, Đại đội Sơn Ca. Những lời nói cảm động, chân thành dành cho chúng tôi:
- Lâu lắm rồi, chúng tôi mới được xem văn công quân đội. Lời ca tiếng hát của các đồng chí làm chúng tôi thêm yêu đất nước, và cây súng trong tay chúng tôi càng phát huy hiệu quả mỗi khi giáp mặt với quân thù. Thay mặt tất cả những người lính ngoài mặt trận chúc các đồng chí mạnh khỏe. Hẹn ngày gặp lại tại Sài Gòn!
Có đơn vị xem hát hôm nay, mai lên đường sâu vào phía Nam.
Cả đội chúng tôi thật ngạc nhiên khi Trần Dũng lệnh không cho vào chương trình hát ca khúc chèo, dân ca quan họ, vì đồng bào và chiến sĩ quê ở miền Nam không hiểu dân ca Bắc Bộ là mấy. Tôi nói:
- Nhân dân không hiểu, chúng ta phải tuyên truyền cho mọi người hiểu, đây là vốn quý của dân tộc cơ mà.
Mọi người ủng hộ tôi. Họa My gặp Dũng nói rằng không nên bỏ những tiết mục mà đội trưởng đã nêu ra. Trần Dũng nói:
- Đồng chí yêu đồng chí Hải nên mới bênh vực mà thôi.
- Đây không phải là yêu hay không yêu, mà như đồng chí đội phó nói rồi, ta phải tuyên truyền dân ca miền Bắc cho mọi người hiểu.
- Nhưng ở đây nhân dân người ta không thích. Họ chỉ thích dân ca của vùng miền mà họ đã gắn bó lâu đời thôi.
Họa My cứng cỏi:
- Ai nói với đồng chí rằng bà con cô bác rồi bộ đội giải phóng là người miền trong này không thích chèo và quan họ!
Trần Dũng nói:
- Hai tối nay đồng chí và Sơn Ca hát chèo, hát quan họ, tôi thấy bà con ta xì xào, dửng dưng.
- Xì xào thế nào! Tôi thấy mọi người im lặng cơ mà.
- Đồng chí không có quyền chất vấn chỉ huy. Ở đây, tôi toàn quyền quyết định. Đồng chí có giỏi, hãy hát các điệu hò, điệu lý miền Trung, miền Nam xem sao nào.
Họa My reo to:
- Tôi sẽ hát, nhưng phải có cả hát chèo, hát quan họ nữa, đồng chí đồng ý không.
Trần Dũng lẩm bẩm chẳng qua là đồng chí muốn nêu cao cái tên của đồng chí mà thôi, muốn khoe mình mà thôi.
Lúc này, Họa My mới đúng là Họa My, cô nói gay gắt:
- Đồng chí đã quá sai! Tôi vào chiến trường để phục vụ. Có khả năng nào, tôi làm hết khả năng ấy. Đảng và quân đội đã cho phép như vậy, sao đồng chí bảo là tôi muốn khoe mình, muốn nêu cao cái tên mình. Đã vậy, tôi không cần chèo, không quan họ, không hò, không lý nữa. Cứ chương trình cũ mà làm.
Họa My quay ngoắt người, đi thật nhanh. Cô thuật lại với tôi chuyện trên, rồi nói:
- Ý anh Hải thế nào?
Tôi im lặng một lát rồi nói:
- Thế thì càng nhàn, khỏi phí sức. Cứ làm theo ý đội trưởng...
... Nhưng mấy đêm liền biểu diễn, đêm nào cũng rất nhiều cánh tay giơ lên từ phía khán giả, toàn giọng miền Trung, rồi Khu Năm, rồi Nam Bộ - những cán bộ, chiến sĩ Quân giải phóng, họ nói:
- Đồng chí Họa My ơi, hát chèo Bắc Bộ đi.
- Đồng chí Sơn Ca ơi, các đồng chí ơi hát cả quan họ nữa đi.
- Đồng chí Họa My ơi, “Hò giã gạo”, “Lý qua cầu”, “Lý chiều chiều” đi...
Thế là Dũng phải xuống thang. Anh chạy từ phía khán giả lên sau sân khấu nói:
- Họa My, Sơn Ca, Thanh Hải, Ngọc Thạch, Ngân, Tuấn nữa, các đồng chí, nhanh chóng đan xen các tiết mục dân ca nhé.
Sau mấy đêm đó, Trần Dũng tập họp đội. Anh thành thật nhận khuyết điểm, nhưng vẫn cố vớt vát nói mấy câu.
- Tôi cứ ngỡ ở trong này không hiểu dân ca miền Bắc bởi bao nhiêu năm tạm thời đất nước bị chia cắt. Mọi người lo đánh giặc, không có thời gian tìm hiểu dân ca miền Bắc.
*
Thạch là diễn viên múa, nhưng cũng có giọng hát khá. Anh cũng tham gia vào tốp nam và hợp ca nam nữ. Thạch ít nói, khi nói thì nhỏ nhẹ. Ngân xoăn, Thủy dẹt, Nga xù, Hà cụt đều nói về Thạch như vậy. Trong các cuộc kể chuyện vui, Thạch chỉ ngồi, nghe, chuyện cười dù buồn cười, dù cả đội ôm bụng cười, Thạch chỉ khẽ nhếch mép, vậy mà, anh chàng này ghê lắm đấy. Tâm ngẩm đánh ngầm chết voi, loi choi đánh voi không chết. Chiều nay, sắp ăn cơm, anh chàng kể một câu chuyện, không mà nhịn được cười:
Chuyện rằng có đứa em gái sang nhà chị gái, chị mới sinh cháu. Đêm anh rể ngủ nhà ngoài, do còn đợi ba tháng theo quy định của thầy thuốc, lò mới khô ráo, sạch sẽ. Em gái ngủ trong buồng với chị. Sáng dậy, cô em ra nhà ngoài, bảy giờ sáng mà anh rể vẫn ngủ chỉ mặc một quần cộc. Anh rể nằm ngửa, hai chân giạng ra, ở... đó, quần cộc phồng lên. Em vợ nhìn thấy lẩm bẩm trong miệng anh rể mình mặc quần cộc rộng thế mà lại còn lấy cái đũa dựng lên cho gió nó vào. Lẩm bẩm xong, lại vào nói với chị gái, chị gái đỏ mặt nói:
- Con tẩm nhà quê này, đấy mà là đũa à.
Ha ha ha!
Tuần trước, Dung kêu mất một cái áo mặc trong người áo đông xuân cộc tay. Thì ra, Thạch đã lén lấy áo khi Dung phơi ngoài bụi cây, rồi nhét vào gối của mình. Châu trống phát hiện ra, liền hỏi, Thạch nói: “Tớ thích... thích mùi của Dung nên lấy cái áo nhét vào gối cho đỡ thèm ấy mà”. Châu hỏi “Cậu ngửi người Dung rồi à?”. “Ờ!”. “Ngửi bao giờ. Ngửi mấy lần rồi. Ngửi ở đâu?”. “Lúc Dung ngồi cạnh tớ, nhờ tớ rút lại cái dây buộc giày ấy mà”. “Nhưng làm sao mà ngửi được”. “Thì cô ta cúi xuống đi giày, tớ giả vờ cúi theo, để mũi sát gáy cô ta mà”.
Ha ha ha... Châu trống cười phá lên thì Thạch nét mặt rất nghiêm trang: “Không đùa đâu. Bí mật đấy”.
Châu trống sau này có kể với tôi là Thạch khỏe lắm. Hồi ở ngoài Bắc, ngủ với Châu trống, Thạch úp mặt vào lưng Châu mà..., Châu buồn cười và thấy nhột, khó chịu, phải ngủ riêng.
Mấy hôm sau tôi hỏi Thạch sẽ lấy Dung làm vợ, sau khi trở về chứ. Thạch im lặng rõ lâu mới nói khẽ nếu Dung yêu mình thì sẽ cưới thôi.
Trông Thạch khờ khạo, việc làm cũng có vẻ chậm. Anh em gắn cho hỗn danh là Thạch khờ từ lúc mới thành lập đội ở ngoài Bắc. Do cứ gọi Thạch khờ, nên có lần Sơn Ca gọi anh Thạch khờ ơi, ăn cơm thôi. Thạch nói khờ cái khờ thôi, còn không khờ cái không khờ đâu nhé.
Trông bề ngoài thế thôi nhưng lên sân khấu, mặt Thạch tươi lắm, diễn viên múa có hạng đấy. Lần đầu tiên, sau gần một năm ở với nhau, Thạch nói chuyện riêng với tôi:
- Cái áo đông xuân của Dung ấy mà, hay lắm, anh Hải ạ.
- Hay thế nào?
- Đúng là... mùi phụ nữ, dễ chịu, hấp dẫn một cách khó tả lắm. Nhưng tôi vừa lén đem trả cho Dung rồi.
- Anh để cái áo vào chỗ nào?
- Hì hì, gọi riêng Dung ra, nói rõ là bốn tháng nay, anh nhét áo em vào cái gối của anh, anh gối đầu lên đó, dễ ngủ lắm. Mà ngủ say nữa, bom nổ cũng không nghe thấy.
- Dung phản ứng thế nào?
- À à... Dung nói đồ quỷ, sao không nói ngay với người ta, người ta cho cái khác... mà gối. Tôi hỏi cho cái gì, Dung chỉ cười và bảo, bao giờ ra Bắc sẽ nói... Theo anh Hải, Dung cho cái gì.
- Tôi cũng chịu, biết sao được. Ha ha, thế là xong rồi đấy!
*
- Anh Hải ạ, tôi thề không tìm được cô nào như Thuận, tôi sẽ không lấy vợ, ở một mình thôi.
- Anh nói về hình thức hay nội dung?
- Cả hình thức và nội dung.
- Ở đội ta có Sơn Ca, Ngân xoăn, Nga xù, Thủy dẹt chẳng lẽ không bằng Thuận của anh?
- Bằng về hình thức, nội dung các cô ở đội ta cũng tuyệt nhưng, với tôi, phải là Thuận, tôi mới yêu.
- Vết thương lòng, chả lẽ mười năm rồi mà vẫn chưa lành hẳn hay sao, thuốc thời gian với anh lẽ nào không có hiệu nghiệm?
- Khó, khó lành. Ngày còn huấn luyện ở làng Quyết Tiến, nhiều cô ở làng ấy có vẻ thích tôi, nhưng anh thấy đó, tôi dửng dưng... mặc dù tôi có hàm răng vẩu!
Đó là chuyện của Tuấn cười...
... Làng Nguyệt Hà của Tuấn cười có một thiếu nữ trẻ, đẹp. Nhiều trai làng bản địa và các trai làng đến rồi bỏ chạy, chỉ có Tuấn cười, càng xán lại gần. Thuận không chê nhưng nói không thể lấy Tuấn, mặc dù bố mẹ Thuận chỉ đồng ý cho Tuấn làm rể. Bố hỏi, Thuận nói:
- Con không yêu anh ta.
- Nó vẩu răng nhưng tính nết, sức khỏe, trình độ văn hóa của nó không... vẩu!
- Con không lấy ai ở làng này, huyện này, bố mẹ ạ.
- Nếu không phải mày chê rằng Tuấn vẩu, hô răng thì chê nó ở điểm gì?
- Không chê, mà không hợp duyên thôi bố ạ.
- Cứ lấy nhau sẽ hợp. Như bố và mẹ mày đâu có yêu nhau đâu, nhưng rồi... ở được ngần ấy năm nay rồi đấy.
Nhưng bố Thuận không nghe được câu nói mà bố mẹ Tuấn đã oang oang giữa chợ rằng:
- Cu Tuấn nhà tôi cũng không lấy cái Thuận nhà ông Kèng.
Có người nói cô Thuận cũng xinh đẹp và ngoan, chăm lao động đấy chứ. Mẹ Tuấn nói đẹp ngoan thì các bà rước về mà làm con dâu.
Nguyên nhân rất đơn giản là ông nội của Thuận trước kia làm mõ làng. Đến bố Thuận cũng vậy. Sau một chín bốn nhăm, không còn mõ làng nữa nhưng đầu óc phong kiến còn quá nặng nề, nó như một loại bệnh khó chữa ăn sâu vào đầu óc dân chúng. Đến nỗi năm một chín sáu lăm, văn công tỉnh về làng diễn vở chèo “Quan Âm Thị Kính” có màn “Xã trưởng mẹ Đốp”, người xem ở làng này ngứa mồm nói: “Đấy, đấy, bà Kèng, vợ ông Kèng đấy”...
Rồi, ngược lại cái hồi chín năm đánh Pháp, bố Kèng vào du kích, anh em trong xã cùng đi nói với nhau cho lão Kèng vác mõ, có giặc đến thì: “Bớ chiềng làng chiềng chạ, Tây đã đến...”. Anh Kèng chán đời, bỏ về. Sau năm một chín năm tư bị quy là bỏ ngũ, dinh tê đầu hàng. Vậy là anh em cô Thuận là những người bị ảnh hưởng lý lịch.
Khổ vậy đấy. Mõ là hạng cùng đinh, vậy mà ngay cả người nghèo ở xã của Tuấn cũng khinh rẻ, bảo mõ là giống tham ăn, một mình một mâm. Họ cứ lấy quá khứ để bôi đen vào hiện thực. Cô Thuận là út trong gia đình có bảy chị em: ba chị gái xong đến ba anh trai, ba chị đều lấy chồng thiên hạ, lấy chồng nhà nghèo, ba anh trai cũng lấy vợ thiên hạ, cũng con gái nhà mõ xưa. Không anh nào được đi bộ đội.
Thuận yêu Tuấn lắm nhưng chỉ vì nghe bố mẹ Tuấn nói vậy, nên Thuận chủ động chia tay. Biết chuyện, Tuấn nói với bố mẹ:
- Nhà ta nghèo rớt mồng tơi, cành cao lá dài gì mà chê người ta, không cho con lấy cái Thuận, con sẽ bỏ cái nhà này cho mà xem. Con không dọa đâu.
Tuấn bàn với Thuận bỏ lên Tây Bắc khai hoang. Nhưng đi đâu bây giờ, hộ khẩu người ta quản chặt chẽ lắm. Thế rồi xảy ra việc Mỹ ném bom miền Bắc, Tuấn xung phong nhập ngũ đợt đầu...
- Anh Hải ạ - Tuấn cười nói tiếp - Thuận hát cũng rất hay, có đi dự tuyển văn công tỉnh, xã không chứng vào lý lịch, không cắt hộ khẩu thì ai người ta dám nhận. Vào đội văn nghệ xã chắc cũng không được nên Thuận cũng không xin vào. Vậy mà đã bảy năm đi qua, tôi không nhận tin gì của Thuận, bởi ngày tôi nhập ngũ, cũng là ngày Thuận bỏ làng đi đâu không rõ. Có người nói, chắc là Thuận đến nhà chị gái lấy chồng ở mạn ngược. Nếu nay mai trở về, Thuận chưa lấy chồng, tôi sẽ cưới làm vợ.
- Chà, lãng mạn gớm nhỉ.
- Ảnh của Thuận đây, anh Hải.
Trong ảnh là một thiếu nữ, đứng tựa vào khóm hoa, chụp cận cảnh. Tôi cũng xuýt xoa: “Đẹp, đẹp lắm, không kém Họa My”.
- Nếu còn sống trở về, tôi sẽ đi tìm Thuận, anh Hải ạ.
- Lỡ cô ấy lấy chồng rồi thì sao?
- Tôi sợ đầu óc phong kiến nó đã thành rễ bám chặt vào cái đầu của quá nhiều người nên ở đâu thì Thuận cũng khó lấy chồng.
- Biết đâu chỉ có quê của anh mới vậy chứ các quê khác không thế đâu.
- Nghĩa là, sẽ có người đã lấy Thuận làm vợ.
- Có thể lắm chứ.
Tuấn cười thở một hơi thật dài.
*
Bỗng nhiên ba hôm liền, cả ngày và đêm không thấy máy bay Mỹ quần đảo trên trời. Thì ra, từ ngày mười tám tháng mười hai năm một chín bảy hai, Mỹ tập trung máy bay ném bom Hà Nội. Cái đài bán dẫn của đội bị hết pin. Tôi chạy sang chỗ Trần Dũng hỏi anh có rõ gì không. Dũng nói, vừa nghe các đồng chí Tỉnh đội Quảng Trị nói: Mỹ ném bom Hà Nội. Tin loang nhanh như gió cuốn. Chúng tôi tìm đến nhau, ngồi với nhau, lo cho Hà Nội. Liệu Hà Nội có đứng vững. Tôi tự động đến khu vực Tỉnh đội Quảng Trị nghe tin tức.
Vừa theo dõi mười hai ngày đêm Hà Nội trên máy thu thanh nhưng ở trong này, chúng tôi vẫn lên sàn diễn. Khán giả rất đông, có nhiều bà con cô bác trong vùng giải phóng Quảng Trị đi bộ mười kilômét để xem văn công bộ đội, ai cũng khen các o miền Bắc đẹp, nhất là tốp ca nữ bài “Cô gái Sài Gòn đi tải đạn” của Lư Nhất Vũ. Họa My, Sơn Ca, Ngân xoăn... mặc quần đen, áo bà ba, quấn khăn rằn. Chu cha, các o miền Bắc giống các o trong này quá ta, đẹp quá.