Dự án Lisa là vụ án đầu tiên mà tôi từng làm việc với cơ quan thực thi pháp luật. Nhưng ngay cả khi tôi tìm kiếm danh tính của Lisa – một phần tốt đẹp của năm 2015 và 2016 – tôi vẫn tiếp tục giúp những người con nuôi xác định người thân ruột thịt thông qua DNAAdoption. Sau khi vụ án đó được khép lại, theo thông tin lan truyền trong cộng đồng thực thi pháp luật rằng tôi tìm ra được Lisa Jensen là ai, sự cân bằng trong công việc nghiên cứu phả hệ của tôi thay đổi. Tôi nhận được rất nhiều đề nghị qua điện thoại và email từ các thám tử trên khắp đất nước nhờ hỗ trợ giải quyết vụ án nan giải mà họ ưa thích – đôi khi vụ án khiến họ vướng mắc trong nhiều thập kỷ. Tôi quyết định rằng mình phải tiếp tục cố gắng giải quyết những vụ án này, vì vậy tôi đồng ý với một số lời đề nghị. Bỗng nhiên tôi làm việc cho một số vụ án hình sự bên cạnh các trường hợp con nuôi.
Di truyền phả hệ, như tôi đề cập, là công việc tốn nhiều thời gian. Tôi nhớ rằng khi tôi bắt đầu làm việc với Karen Corbeil, cô đã ước tính rằng theo trung bình, việc tìm kiếm tổ tiên không xác định/con nuôi cần mất tối thiểu 1.000 giờ để giải quyết – có nghĩa là nếu bạn dành 20 giờ làm việc mỗi tuần thì có thể mất một năm để giải quyết một trường hợp. Điều này đã được chứng minh trong vụ án của Lisa Jensen, tôi mất hơn một năm để giải quyết. Với sự gia tăng dung lượng của các cơ sở dữ liệu như AncestryDNA và 23andMe thì điều đó không còn đúng nữa và tôi thường có thể giải quyết một trường hợp bố mẹ không xác định trong vòng 1 hoặc 2 ngày.
Còn một điều nữa mà tôi sớm biết về DNA - đó là mọi câu trả lời mà bạn khám phá ra đều dẫn đến một câu hỏi khác. Một câu hỏi mà bạn có thể cảm thấy bị thúc giục để trả lời.
Đó là vụ án với tên Dự án Lisa.
Không lâu sau khi tôi và nhóm của mình phát hiện ra danh tính thực sự của Lisa Jensen thì một trong những thành viên trong nhóm của tôi, Junel Davidson, đã phát hiện ra một mối liên hệ đáng ngạc nhiên.
Sau khi biết mẹ của Lisa là Denise Beaudin, chúng tôi được biết rằng Denise – trước khi biến mất vào năm 1981 cùng với bạn trai lúc bấy giờ là Bob Evans – đã sống ở Goffstown, một thị trấn nhỏ thanh bình chỉ cách thành phố Manchester vài phút lái xe, ở miền nam New Hampshire. Bản đồ là một phần quan trọng trong nghiên cứu phả hệ truyền thống, chẳng hạn như để hình dung các tuyến đường di cư: đường sông, đường tàu hỏa, tuyến đường qua các vùng núi. Với tư cách là một nhà nghiên cứu phả hệ dày dạn kinh nghiệm, Junel đã tập hợp các bản đồ khu vực quê hương của Lisa theo những gì cô thường làm khi điều tra một vụ án. Trong một thoáng phát hiện, khi nhìn vào bản đồ của New Hampshire, Junel nhận thấy rằng Manchester chỉ cách Allenstown vài dặm về phía nam, Allenstown – một cộng đồng nhỏ với dân số dưới 5.000 người, nổi tiếng với Công viên Bear Brook, một khu rừng bảo tồn trải rộng 10.000 mẫu Anh (khoảng hơn 4000 hecta).
Công viên Bear Brook, Junel nhớ lại, là hiện trường của một tội ác thực sự gây ám ảnh mà vẫn chưa được giải quyết trong hơn 40 năm – một vụ án giết 4 mạng người.
Junel tự hỏi - có phải khoảng cách gần giữa Manchester và Allenstown cho thấy mối liên hệ giữa các vụ án hay không?
Một cách độc lập, nhưng đồng thời, hai người khác nữa đã làm việc chăm chỉ trong suốt vụ án Lisa Jensen - Ashley Rodriguez, Giám đốc Điều tra án tại Trung tâm Quốc gia về Trẻ em bị Mất tích và Bóc lột (the National Center for Missing and Exploited Children – NCMEC) ở Washington DC, và người giám sát của cô ấy, Carol Schweitzer – cũng nhận thấy hai thành phố gần nhau ra sao, và hỏi cùng một câu hỏi – liệu vụ án Lisa Jensen và những vụ giết người ở Bear Brook có liên quan đến nhau không? Họ đã liên lạc với cơ quan thực thi pháp luật bằng linh cảm phán đoán của mình.
“Tôi nhận được một cuộc gọi từ Ashley Rodriguez và cô ấy nói, ’Chúng tôi đang xử lý vụ án này, những vụ giết người ở Bear Brook,” cảnh sát Peter Headley nhớ lại. “Chúng tôi nhận thấy một số điểm tương đồng”.
Sau cuộc gọi đó, cảnh sát Headley đã liên lạc lại với tôi.
⚝ ⚝ ⚝
Trong suốt cuộc đời của mình, những bí ẩn đã luôn kêu gọi tôi tới giải đáp.
Những nỗ lực đầu tiên của tôi để giải thích những điều bí ẩn, không xác định diễn ra trên Đảo Bắc (North Island) của New Zealand, ở vùng ngoại ô yên tĩnh của thành phố Remuera ở Auckland, New Zealand, nơi tôi lớn lên cùng bố mẹ và hai em trai. Khi tôi biết đọc, tôi đọc mọi thứ mà tôi có trong tay, bao gồm bộ sưu tập tiểu thuyết khoa học viễn tưởng khủng bố của bố tôi với những trang bìa tục tĩu (mẹ tôi hơi lo lắng về điều đó). Tuy nhiên, sách đọc mà tôi yêu thích là bách khoa toàn thư. Tôi vẫn còn nhớ bộ bách khoa toàn thư quý giá mà mẹ tôi mua riêng cho tôi, với bìa da màu hạt dẻ trang nhã, viền vàng và có chữ trên gáy sách. Tôi thường là lôi một tập ra và ngồi trên sàn đọc từ đầu đến cuối, không ngừng bị mê hoặc bởi tất cả những thông tin mới. Cho đến ngày nay, tôi là người sẽ đọc bất cứ thứ gì, kể cả vỏ một hộp sữa, nếu đó là tất cả những gì tôi có ở gần.
Hồi đó mẹ tôi bảo tôi có tâm trí châu chấu. Ý của bà ấy là quá trình suy nghĩ của tôi không hoàn toàn tuyến tính, hoặc ít nhất là không giống với suy nghĩ của bà. Tôi có xu hướng đặt những câu hỏi mà thoạt đầu có vẻ lạ lùng và lạc đề với bà ấy. Nhưng khi tôi tiếp tục đặt câu hỏi, mẹ tôi có thể thấy rằng trên thực tế, tôi đang xoay quanh chủ đề, tiếp cận nó từ những góc độ kỳ lạ, và cuối cùng thấu hiểu được một điều. Đây thực sự là cách trí óc tôi hoạt động – tôi biết được rằng tôi nhìn nhận mọi thứ hơi khác so với hầu hết mọi người.
Khi còn là một cô bé, tôi thu thập những con côn trùng mà tôi thấy đẹp đẽ và hấp dẫn, còn hầu hết những loài khác thì thực sự không có giá trị. Những con côn trùng này vừa hấp dẫn tôi vừa làm tôi bực bội. Tại sao chúng trông như vậy? Làm thế nào mà chúng hoạt động? Điều gì làm cho chúng trở nên đặc biệt? Tôi bắt đầu với những con sâu bướm nhỏ mà tôi tìm được khi chúng đang bò quanh những cái cây trong vườn của nhà tôi, và tôi giữ chúng trong những hộp diêm nhỏ mà tôi bới lên sau khi bị bố tôi ném đi. Tôi có thắc mắc về sâu bướm, vì vậy tôi nhẹ nhàng thực hiện những thí nghiệm: liệu chúng có phát triển mạnh khi ăn một số loại thực vật nhất định chứ không phải những loại khác? Phân của chúng có đổi màu không nếu tôi cho chúng ăn những bông hoa có màu khác nhau?
Vì một số lý do, tôi cần phải biết những điều này.
Sau đó, tôi tìm hiểu về wetas, một loài côn trùng cỡ lớn cùng họ với dế phổ biến ở New Zealand. Thường thường, khi gia đình tôi đi đến bãi biển, nơi côn trùng không có kẻ săn mồi, tôi rất vui khi phát hiện ra những con wetas có kích thước bằng loài gặm nhấm và những con bọ cánh cứng sừng dài khổng lồ khiến người khác vô cùng kinh hãi. Bà nội tôi có một người bạn, Bruff – một người canh phòng những vụ cháy rừng hoặc do bom, người đứng ở một tòa tháp biệt lập trong dãy núi Waitakere rậm rạp ở phía tây Auckland trong 6 tuần liên tục. Ông ấy hỏi tôi có muốn bắt thử những con côn trùng to hơn, kỳ lạ hơn cho bộ sưu tập của mình hay không. Tôi nói “có” một cách dứt khoát.
Bruff quay lại với một con rết màu xanh to bằng bàn tay và những sinh vật kỳ lạ khác mà ông ấy đã thu thập được cho tôi, cắm trong một hộp xì gà lớn. Nhìn thấy chúng khiến mẹ tôi hét lên.
Nhìn lại, tôi có thể thấy được đây không chỉ là tò mò của thời thơ ấu. Nếu có điều gì đó mà tôi không biết thì nó sẽ trở thành điều tôi cần biết. Bất kỳ chỗ trống nào trong kiến thức của tôi đều là một cơ hội để tôi học hỏi – một cơ hội mà tôi cảm thấy cần phải nắm bắt. Tôi không bao giờ chỉ muốn hiểu một chút về một chủ đề, tôi muốn biết về nó càng nhiều càng tốt. Chẳng hạn, năm 10 tuổi, tôi thuộc lòng bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học. Tại sao? Bởi các yếu tố hóa học hấp dẫn tôi, và tôi cần biết nhiều hơn nữa.
Tôi không hoàn toàn nhận ra mình như vậy cho đến một ngày nhiều năm sau, trong một cuộc trò chuyện với người con trai đã trưởng thành của tôi, Christopher, tôi thấy cậu chàng rút điện thoại ra để nghiên cứu ngay một chủ đề xuất hiện trong cuộc trò chuyện của chúng tôi. Cậu ấy không biết gì về chủ đề này, và cậu cần phải biết. Mình cũng làm vậy, tôi nghĩ. Mình cũng làm y như thế. Tôi cần biết những gì tôi không biết. Từ việc nhận ra đặc điểm ở người khác, tôi hiểu điều gì đang thúc đẩy mình.
Có điều gì đó khác về cách bộ não của tôi hoạt động mà cuối cùng lại giúp ích cho tôi với tư cách là một nhà nghiên cứu di truyền phả hệ. Khi tôi còn nhỏ, tôi nhận ra rằng mình có thể ghi nhớ các sự vật và sự kiện thông qua thị giác, thường tốt hơn người lớn. Tôi biết được điều này khi tôi sống với bà nội tôi, người mà chúng tôi gọi là Mumma, trong vài tháng khi tôi còn học trung học.
Khi ông nội tôi, một cựu vận động viên đua ngựa và huấn luyện ngựa, qua đời khi còn khá trẻ vì một cơn đau tim nghiêm trọng, bà nội tôi vận dụng những gì bà biết về ngựa và các cuộc đua ngựa để trở thành nhà cái. Người bà khắt khe của tôi (người mà bọn trẻ chúng tôi đặt biệt danh là Nữ hoàng Victoria) bị mang tai tiếng bởi nghề nghiệp mới, và cấm bố tôi đưa chúng tôi đến thăm bà vào bất kỳ ngày nào diễn ra các cuộc đua ngựa. Bố tôi, tất nhiên, đã phớt lờ chỉ thị, và khi chúng tôi đến thăm, tôi thấy bà tôi ngồi trong góc để điện thoại, điếu thuốc lủng lẳng trên môi, ly rượu gin trên tay, đặt cược qua điện thoại.
Bà cũng tổ chức một trò chơi bài theo luật, cách bà và bạn bè của mình đánh bạc nhiều hơn tiền lẻ một chút. Khi tôi 15 tuổi và đến sống với bà, bà sẽ để tôi tham gia vào các trò chơi của mình. Bà ấy sẽ đặt cược cho tôi một vài đô la và cho tôi ngồi cùng một chiếc bàn lớn với những người chơi quen thuộc của bà, bao gồm cả người canh phòng cháy nổ Bruff. Trò chơi có thể là bài xì tố, hoặc đánh bài uống rượu, hoặc một số trò chơi cờ bạc khác. Tôi không mong đợi giành chiến thắng; tôi rất vui mừng khi được mời đến chơi.
Hóa ra tôi chơi bài khá giỏi. Khi chơi một trò chơi mà trong đó các quân bài được lật ngửa rồi úp xuống, tôi có thể hình dung các quân bài được lật và ghi nhớ quân bài nào là quân bài được úp xuống. Tôi thắng rất nhiều ván liên tiếp nhờ khả năng ghi nhớ hình ảnh này. Tôi chắc chắn rằng, không giống với tôi, Bruff và những người khác không thích thú gì với năng lực mới được phát hiện của tôi, và tôi biết sự thật là hai anh trai của tôi cũng thấy không thích thú khi tôi rủ họ chơi bài ở nhà, họ nhanh chóng chán nản và từ chối chơi tiếp với tôi (cho đến bây giờ họ vẫn từ chối).
Trong nhiều năm, tôi dựa vào khả năng này để hình dung các sự kiện ở quá khứ trong đầu, giống như xem một bộ phim. Nếu tôi không nhớ chỗ để chìa khóa ô tô, tôi có thể chỉ cần mở đoạn phim về các hành động của mình trong vài giờ qua và “xem” chính xác nơi tôi để chúng. Trong các bài kiểm tra, tôi có thể mường tượng ra các ghi chú trên lớp của mình giống như cách tôi viết chúng vào vở. Tôi đoán Ian Fleming, tác giả của các cuốn sách về James Bond, có thể sở hữu một kiểu trí nhớ giống vậy; một trong những cuốn sách của anh ấy có một cảnh mà anh mô tả Bond cũng làm điều tương tự để gợi nhớ lại một sự kiện.
Sau này, khi tôi nghiên cứu về di truyền phả hệ, khả năng này trở nên khá hữu ích, vì tôi thấy rằng tôi có thể nhớ được các mối quan hệ giữa mọi người chỉ bằng cách hình dung vị trí của họ trên một cây phả hệ cụ thể, kể cả khi đó là cây mà tôi không nhìn đến trong nhiều ngày.
Một ngày nào đó, kỹ năng này sẽ giúp tôi sắp xếp được một lượng lớn đến kinh ngạc các tên, ngày tháng và sự kiện xuất hiện trong nhiệm vụ phá án những vụ giết người khủng khiếp ở Bear Brook.
Vài đứa trẻ chơi trốn tìm trong rừng là những người đầu tiên tìm thấy chiếc thùng – một chiếc thùng bằng kim loại, màu xanh lục, rỉ sét, có thể tích 55 ga-lông (khoảng hơn 200 lít) nằm nghiêng trong đống lá khô gần một cây bạch dương khẳng khiu. Những đứa trẻ chạy quanh chiếc thùng cũ và đá vào cái nắp đậy kín của nó, chỉ để cho vui, cho đến khi cái nắp bung ra và một túi rác màu đen đổ ra ngoài. Điều đó làm lũ trẻ hoảng sợ, và rồi chúng chạy tán loạn.
Vài ngày sau, vào ngày 10 tháng 11 năm 1985, một thợ săn đi lang thang trong cùng một khu rừng ở Công viên Bang Bear Brook tại New Hampshire, một khu rừng rậm bảo tồn có rất nhiều nai, nai sừng tấm, gà tây, có thể có gấu đen, và rải rác các khu cắm trại, lều, bếp nấu bằng đá, những con đường mòn leo núi và những con đường rộng lớn cô độc nằm dọc theo những thung lũng và rặng núi phủ đầy thông. Người thợ săn bắt gặp chiếc thùng kim loại rỉ sét bị đá đổ và những thứ bên trong tràn ra. Anh ta nhìn vào túi rác màu đen và thấy thứ gì đó kinh khủng đến nỗi phải mất 10 năm anh ta mới có thể đi săn trở lại trong khu rừng đó.
Một bàn chân người ló ra từ một vết rách trên túi rác.
Người thợ săn đã báo cảnh sát, và những thứ khủng khiếp vừa được phát hiện đã được tìm và nhặt về. Các bác sĩ pháp y ở New Hampshire đã xác định được những gì có trong túi rác – thi thể bị chặt chân tay và bị phân hủy nghiêm trọng của không chỉ một mà hai người, một phụ nữ và một bé gái. Họ đã bị chặt xác, bọc trong ni lông và dán chặt lại bằng băng keo cách điện. Phán đoán lớn nhất là hai người phụ nữ này đã bị sát hại vài năm trước đó.
Thật không may, các thi thể đã bị phân hủy quá mức trầm trọng dẫn đến việc xác định danh tính các nạn nhân dường như là điều không thể. Sau nhiều tháng điều tra, hài cốt được đưa đi chôn cất và an táng trong một chiếc quan tài bằng thép để có thể bảo quản tốt hơn phòng sau này cần khai quật. Chiếc quan tài được chôn bên dưới một bia mộ được hiến tặng có ghi:
Đây là nơi chôn cất hài cốt không ai biết (ngoại trừ Chúa) của một phụ nữ ở độ tuổi 23-33 và một bé gái tầm 8-10 tuổi. Cầu mong linh hồn họ được bình yên.
15 năm trôi qua, và vụ án giết 2 mạng người vẫn chưa được giải quyết.
Sau đó, vào năm 2000, Sĩ quan Cảnh sát bang New Hampshire – John Cody, người được giao phụ trách vụ án từ lâu chưa có lời giải này, quyết định dựng lại hiện trường vụ án trong khu rừng rộng lớn mênh mông của Công viên Bear Brook.
Ở đó, anh đã có một khám phá gây sốc.
Chỉ cách nơi người thợ săn tìm thấy chiếc thùng kim loại đầu tiên vào năm 1985 khoảng 100m, Sĩ quan Cảnh sát Cody tìm thấy một chiếc thùng rỉ sét khác.
Khi các nhân viên điều tra mở chiếc thùng ra, họ tìm thấy thi thể đã bị phân hủy của 2 nạn nhân khác – cả hai đều là bé gái – được bọc trong ni lông và dán lại bằng băng keo cách điện.
⚝ ⚝ ⚝
Hiện tại đã có 4 nạn nhân bị giết không xác định được danh tính, 3 trong số họ là trẻ em, và mức độ khẩn cấp của vụ án từ lâu chưa có lời giải được nâng lên một mức mới. Vụ án giết 2 mạng người giờ trở thành vụ giết 4 mạng người, cảm giác bất an bao trùm lên Allenstown, một ngôi làng nhỏ xinh đẹp với dân số khoảng 4.700 người và rộng 20 mẫu Anh (khoảng hơn 8 hecta), một nửa diện tích trong đó đã bị đầm lầy sâu và rừng rậm của Công viên Bear Brook nuốt chửng.
DNA trên nhiễm sắc thể thường lấy từ xương và mô của mỗi nạn nhân trong số 4 nạn nhân đã bị nhiễm DNA của vi khuẩn và không thể tạo thành một mẫu cho phép nhận dạng các thi thể. Nhưng các nhân viên điều tra đã có thể thu được DNA ty thể (mtDNA), từ đó cho phép họ kết luận rằng người phụ nữ và hai đứa trẻ có quan hệ mẹ con. Đứa trẻ thứ ba không có mối quan hệ với những nạn nhân còn lại về mặt ty thể và vẫn hoàn toàn là một bí ẩn.
Mặc dù có sự phát triển mới đáng kinh ngạc này nhưng vụ án lại tiếp tục đi vào ngõ cụt.
15 năm nữa lại trôi qua trước khi Junel Davidson, cũng như Ashley Rodriguez và Carol Schweitzer tại NCMEC, phát hiện ra mối liên hệ giữa Allenstown và Manchester. Sự tò mò của họ đã tiếp thêm sinh lực cho cuộc điều tra về các vụ án giết người.
Và khi đó, các nhà điều tra đã biết thêm một chút thông tin về Bob Evans/Gordon Jenson, người đàn ông từng là bạn trai sống cùng nhà của Denise Beaudin vào năm 1981 – và là kẻ đã bắt cóc Lisa Jensen, con gái của Denise sau khi Denise biến mất.
Sinh ra ở Colorado vào một ngày trước đêm Giáng sinh năm 1943, Evans bỏ học trung học tại Arizona để gia nhập Hải quân Hoa Kỳ, nơi anh ta được đào tạo trở thành thợ điện. Anh ta kết hôn vào năm 1969, có 1 người con trai và 3 người con gái, nhưng vợ anh ta đã mang các con đi và rời bỏ anh ta ngay sau khi sinh đứa con thứ tư. Cô ấy khai rằng cô từ bệnh viện về nhà sau khi sinh và phát hiện ra vết bỏng do thuốc lá gây ra trên mông của con trai mình – hành động tàn ác tương tự mà sau này Bob Evans đã làm với Lisa Jensen. Nhiều năm sau, khi cảnh sát thẩm vấn con trai của Bob Evans, anh ấy nhớ rằng bố đã đốt mình bằng thuốc lá và mô tả Evans có đôi mắt của người chết.
Sau khi ly hôn vào năm 1978, Evans di chuyển khắp đất nước và rồi đến Manchester, New Hampshire. Ở đó, anh ta bị bắt vào năm 1980 vì viết chi phiếu khống và ăn trộm điện bằng cách chuyển hướng dòng điện. Chỉ 1 năm sau, vào năm 1981, Evans biến mất khỏi Manchester cùng với bạn gái mới của anh ta, Denise Beaudin và con gái của Denise, Lisa.
Sau đó, Bob Evans lấy tên hiệu là Curtis Kimball và bị bắt vì lái xe trong tình trạng say xỉn – và gây nguy hiểm cho Lisa lúc ấy còn nhỏ, người ngồi trong xe với anh ta ở Cypress, California vào năm 1985. Evans/Kimball đã bỏ trốn khỏi thành phố trước khi anh ta có thể bị truy tố và có thêm một danh tính nữa – Gordon Jensen. Với cái tên Gordon Jensen, anh ta đã bỏ rơi Lisa sau khi họ ở lại khu nghỉ dưỡng Santa Cruz Ranch RV vào năm 1986, nhưng một lần nữa anh ta lại trốn thoát, biến mất và đổi tên. Cuối cùng, với cái tên là Gerry Mockerman, anh ta bị bắt vào năm 1988 vì nghi ngờ ăn cắp một chiếc xe ô tô, và cảnh sát đã điều tra ra nhiều danh tính giả của anh ta. Cuối cùng chính tội bỏ rơi Lisa vào năm 1986 đã đưa anh ta vào tù – nhưng không lâu, Evans/Kimball/ Jensen chỉ ngồi tù hai năm vì tội bỏ rơi Lisa, và khi được thả, anh ta bắt đầu cuộc sống mới ở Richmond, California. Trong nhiều năm, bất cứ thành tích phạm tội mới nào mà anh ta gây ra đều không bị phát hiện. Năm 2001, anh ta kết hôn với Eunsoon Jun, một nhà hóa học ngoài 40 tuổi, buổi lễ tổ chức ở sân sau nhà cô, nơi cả hai cùng chung sống. Đó không phải là một cuộc hôn nhân chính thức.
Lúc đó, Bob Evans có một tên hiệu mới – anh ta giờ là Larry Vanner.
Và, khi là Vanner, anh ta có một bi kịch bí ẩn mới cần giải thích – sự biến mất của vợ anh ta chỉ vài tháng sau khi buổi hôn lễ thân mật diễn ra, Vanner nói với một người bạn của Jun rằng Jun đã tự mình rời khỏi thành phố, nhưng người bạn đó tỏ ra nghi ngờ. Cô ấy đã báo với cảnh sát rằng Jun sẽ không bao giờ rời đi mà không nói lời tạm biệt trước. Đó đơn giản không phải là cách cô ấy hành xử. Người bạn đó tiếp tục thúc giục cảnh sát cho đến khi họ cử cảnh sát đến nhà của Jun ở Richmond để xem xét xung quanh. Trong một khu vực tầng hầm, họ đã tìm thấy một thứ kỳ lạ:
250 pound (khoảng hơn 100kg) cát vệ sinh cho mèo chất thành một đống lớn.
Cảnh sát đã đào qua những đống cát, mỗi lần đều lôi ra một nắm đầy bụi, cho đến khi họ phát hiện ra điều kinh hoàng – một cái xác bị chặt thành nhiều mảnh được bọc bằng ni lông và băng keo cách điện.
Đó là những phần thi thể của Eunsoon Jun, có vẻ bị giết bằng búa tạ.
Cảnh sát đã đưa Vanner vào thẩm vấn. Anh ta tình nguyện cho lấy dấu vân tay, có lẽ vì tin rằng sẽ cần thời gian để dấu vân tay của anh ta được xử lý và đến lúc đó anh ta có thể biến mất. Nhưng kể từ lần cuối cùng chạm trán với pháp luật của anh ta nhiều năm trước đó, công nghệ lấy dấu vân tay đã được cải tiến rất nhiều, và các dấu vân tay của Vanner, được xử lý theo thời gian thực, ngay lập tức chỉ ra những tội ác mà anh ta đã gây ra với hai tên hiệu – Bob Evans và Gordon Jensen.
Điều đó đủ để cảnh sát bắt giữ Vanner và, sau khi điều tra thêm, buộc anh ta tội giết người cấp độ hai vì việc giết chết Eunsoon Jun.Vanner đã không nhận tội, nhưng tại một phiên điều trần trước khi xét xử, anh ta đã khiến các công tố viên ngạc nhiên khi đột ngột thay đổi lời khai của mình thành nhận tội. Đại úy Roxane Gruenheid của Sở Cảnh sát hạt Contra Costa, người bắt đầu cuộc điều tra về danh tính của Lisa Jensen, tin rằng Vanner thay đổi lời khai vì anh ta nghe lỏm được cô đề cập đến mối liên hệ giữa anh ta với vụ án của Lisa tại tòa án.
“Tôi nghĩ… anh ta tin là nếu anh ta nhận tội”, Gruenheid giải thích với một phóng viên, “Tôi sẽ ngừng điều tra những việc trong quá khứ của anh ta”.
Các nhà chức trách đã kết án Vanner 15 năm tù. Anh ta đã thụ án 7 năm tại Nhà tù High Desert ở Susansville, California, và vào năm 2010, anh ta chết ở đó vì những nguyên nhân tự nhiên.
Có vẻ như một hồ sơ phạm tội dài và ghê tởm cuối cùng đã kết thúc với tội ác cuối cùng được ghi lại.
Nhưng phải vậy hay không?
Vị trí của Bob Evans (tôi sẽ gọi anh ta như vậy) ở Manchester, New Hampshire khi là bạn trai sống cùng với Denise Beaudin, khoảng cách gần giữa Manchester và Allenstown, New Hampshire, và những điểm tương đồng trong vụ án giết Eunsoon Jun và các vụ giết người ở Công viên Bear Brook (nạn nhân tử vong bởi chấn thương do vật tày gây ra, bị chặt thành nhiều mảnh, bọc trong ni lông và dán lại bằng băng keo cách điện) đã khiến các nhân viên điều tra như cảnh sát Headley chú ý Bob Evans nhiều hơn như một nghi phạm của các vụ giết người ở Công viên Bear Brook.
Đối với cảnh sát Headley, đây là một phán đoán cảm tính đáng để theo đuổi. Anh ấy đã liên hệ với Michael Kokoski, giám sát viên của Đơn vị Cảnh sát Điều tra các Vụ trọng án tại New Hampshire vào thời điểm đó, và Headley nói: “cùng với nhau, chúng tôi bắt đầu xâu chuỗi sự việc”.
Vào khoảng thời gian này, Headley đã gọi cho tôi và đưa tôi cùng tham gia vào vụ án. Anh ấy muốn biết liệu phương pháp mà chúng tôi sử dụng để xác định danh tính của Lisa hiện giờ có thể giúp họ xác định 4 nạn nhân bị sát hại tại Bear Brook, và xác định cả Bob Evans thực sự là ai hay không.
Điều này thật thú vị. Mặc dù lúc ấy tôi đang điều tra một số vụ án hình sự khác nhưng vụ Công viên Bear Brook là một vụ án nan giải trong 40 năm và rất có thể Bob Evans là một kẻ giết người hàng loạt. “Có, tôi tin rằng có thể xác định được danh tính các nạn nhân trong vụ án tại Bear Brook”, tôi nói như vậy với cảnh sát Headley trong cuộc gọi đầu tiên của hai chúng tôi về vụ án – “nhưng tôi cần DNA trên nhiễm sắc thể thường của từng nạn nhân trong số 4 nạn nhân và của Bob Evans”. Vấn đề lớn là vào thời điểm đó không lấy được DNA nào như vậy, từ cả 4 nạn nhân và Evans.
Có một mẫu DNA đã được lấy từ Evans khi anh ta bị bắt vì lái xe trong tình trạng say rượu với tên Curtis Kimball, nhưng không đủ DNA trích xuất từ mẫu đó để sử dụng. Thật không may, khi anh ta chết trong tù vào năm 2010, không có người thân nào đến nhận hài cốt của anh ta, và anh ta đã được hỏa táng. Tro cốt của Evan (lúc đó là Vanner) đã bị ném xuống biển, tước đi mọi cơ hội lấy được DNA có thể sử dụng được từ cơ thể anh ta.
Ban đầu, việc này tưởng chừng là một rào cản không thể vượt qua – không có DNA của anh ta thì chúng tôi chẳng thể làm gì cả.
Nhưng sau đó tôi nhớ lại một điều mà tôi từng đọc, một thực tế ít được trông thấy nhưng vì một lý do nào đó đã luôn đeo bám tôi và giờ đây nó đã phát huy công dụng. Tôi nhớ rằng khi các tù nhân ở California chết, họ sẽ tự động được khám nghiệm tử thi, và một ít máu của họ sẽ được rút ra và đưa vào các bộ lọc thấm hút chuyên dụng. Sau khi máu khô, mẫu máu có thể được lưu trữ lại một cách an toàn. Mẫu máu đó được gọi là Thẻ Máu.
Có khi nào Larry Vanner đã được khám nghiệm tử thi và nguồn DNA của anh ta được giữ lại? Cảnh sát Headley cho biết anh sẽ kiểm tra nó.
Thật vậy, anh ấy phát hiện ra rằng Vanner đã được khám nghiệm tử thi, mẫu tóc và thẻ máu đã được tạo ra.
Nhưng không có gì đảm bảo rằng hệ thống hình sự tại California vẫn còn lưu trữ mẫu tóc và Thẻ máu trong kho. Cảnh sát Headley đã phải điền hết mẫu đơn này đến mẫu đơn khác chỉ để nhờ được người tìm kiếm các đồ vật từ khám nghiệm tử thi. Cuối cùng, anh biết rằng thẻ máu và mẫu tóc của Vanner lấy ở California được lưu trữ tại một cơ sở ở Nevada. Cần phải có nhiều biểu mẫu và chữ ký hơn để lấy được chúng.
Cuối cùng, Headley biết được rằng sau một số năm nhất định, các thẻ máu sẽ bị hủy theo thông lệ. Khi một nhân viên tìm kiếm hồ sơ thẻ, anh ta thấy rằng thẻ của Vanner đã chính thức được lên kế hoạch tiêu hủy.
⚝ ⚝ ⚝
Nhưng – nó vẫn chưa bị phá hủy.
Headley đã thành công lấy được tấm thẻ, và với sự may mắn đó, chúng tôi có thể trích xuất và xét nghiệm DNA của Vanner. Chẳng bao lâu sau, chúng tôi bắt tay vào xây dựng một cây phả hệ tự biện từ những sự trùng khớp của anh ta mà chúng tôi có thể sử dụng để nhận dạng. Giống với vụ án của Lisa Jensen, tôi không có gì ngoài DNA của anh ta để làm việc: Tôi không biết anh ta đến từ đâu, các danh tính giả của anh ấy đều có tuổi và ngày sinh khác nhau, anh ta nói được nhiều thứ tiếng, bao gồm cả tiếng Pháp và có thể có mối liên hệ với Quebec. Tôi tranh thủ sự giúp đỡ của Junel trong việc xác định anh ta là ai.
Chúng tôi làm xét nghiệm cả nhóm đơn bội Y-DNA và DNA trên nhiễm sắc thể thường. Anh ta hầu như không có bất kỳ kết quả trùng khớp Y-DNA nào và các kết quả trùng khớp DNA trên nhiễm sắc thể thường của anh ta không đặc biệt cao cho thấy rằng tổ tiên của anh ta có lẽ là những người nhập cư khá gần đây. Chúng tôi mất một thời gian dài để tìm ra tổ tiên chung tồn tại gần đây nhất (MRCA) để cho một tổ hợp DNA trên nhiễm sắc thể thường trùng khớp của Vanner. Cuối cùng, chúng tôi tìm thấy người tổ tiên chung này, cho phép chúng tôi xây dựng tất cả các nhánh hậu duệ của MRCA và xác định 10 hậu duệ là nam của MRCA phù hợp nhất với tiêu chí về tuổi tác của Vanner.
Về lý thuyết, một trong số họ là Larry Vanner.
Junel Davidson và tôi, mỗi người đã cầm máy tính xách tay của mình, rà soát các hồ sơ công để tìm thông tin về 10 người đàn ông này, tìm kiếm ảnh hoặc bất kỳ thứ gì khác có thể giúp chúng tôi rút ngắn danh sách, và có thể tìm ra người thực sự là Vanner.
Chúng tôi cho rằng người mà đã sử dụng tên giả trong nhiều năm sẽ có hồ sơ tương tự như Denise Beaudin, người có lẽ đã chết. Nói cách khác, vào một thời điểm nào đó trong đời, anh ta sẽ ngừng lập các hồ sơ hiện hành, như bằng lái xe, giấy chứng nhận kết hôn, giấy chứng nhận ly hôn, giấy khai sinh của con cái. Chúng tôi cũng biết rằng anh ta là một thợ điện được đào tạo và đã tiếp tục làm việc với khả năng đó. Trong khi nghiên cứu 10 người đàn ông, chúng tôi phát hiện ra đối với một người trong số họ, Terry Rasmussen, mọi dấu vết trở nên mờ nhạt sau khi anh ta ly hôn ở hạt San Mateo, California. Junel lấy được một bản sao giấy ly hôn của anh ta. Nghề nghiệp của Terry Rasmussen được ghi là – thợ điện.
Sau đó – chúng tôi tìm thấy một thứ. Một bức ảnh cũ thời trung học của Terry Rasmusen. Người đàn ông trong bức ảnh trông khá quen - rất quen thuộc. Trên thực tế, anh ta trông rất giống Bob Evans/Larry Vanner. Chúng tôi xác định được anh ta thực sự là ai chưa?
⚝ ⚝ ⚝
Theo nghiên cứu thêm về người đàn ông trong bức ảnh thì biết được tên đầy đủ của anh ta là Terry Peder Rasmussen. Giấy chứng nhận ly hôn tiết lộ rằng Rasmussen có một người con trai, và bằng chứng cuối cùng chứng tỏ chúng tôi xác định đúng người đó là xét nghiệm Y-DNA được thực hiện trên người con trai. Cậu ta có kết quả trùng khớp với DNA được trích xuất từ thẻ máu. Bob Evans/Gordon Jensen/Larry Vanner chính là Terry Peder Rasmussen.
Có được cái tên đó trong tay, cảnh sát Headley đã tìm thấy các hồ sơ việc làm và các dữ liệu khác giúp anh biết được một số quá khứ của Rasmussen. Anh ta có nhiều tên mà cảnh sát Headley không biết: Jerry Gorman, Don Vannerson, Ulos Jensen. Anh ta có rất nhiều tên giả và danh tính đến nỗi báo chí cuối cùng đã đặt biệt danh cho anh ta là Sát nhân tắc kè hoa. Rasmussen rõ ràng là người cực kỳ thông minh, có khả năng duy trì những luồng thông tin giúp anh ta chiếm được danh tính của người khác.
Cảnh sát Headley nói: “Tất cả các tên mà anh ta sử dụng đều đến từ những người thật mà anh ấy đã gặp. Năm 1988, anh ta bị bắt cùng một chiếc xe bị đánh cắp và lấy tên là Gerry Mockerman. Anh ta biết ngày sinh và số an sinh xã hội của người đàn ông này. Sau đó, tôi nói chuyện với Gerry Mockerman thật và anh ấy nói rằng giấy tờ tùy thân của anh ấy đã bị đánh cắp khỏi chiếc xe tải của mình 18 tháng trước đó. Rassmussen là một tên thông minh với trí nhớ phi thường”.
Đối với Rassmussen, việc thông minh hơn các nhân viên điều tra là một trò chơi mà anh ta có vẻ thích thú.
“Tôi luôn cố gắng sống theo phương châm rằng, không có thứ gì có thể đánh bại sự thật”, anh nói với một người thẩm vấn tại nhà tù. “Nhưng đôi khi thật khó để tìm ra sự thật là gì”.
Tuy nhiên, DNA của Rasmussen không nói dối.
Hồ sơ việc làm cho thấy Rasmussenn, với danh tính là Bob Evans, làm việc trong một thời gian ngắn với tư cách là một nhân viên bảo trì cho một công ty ở New Hampshire có tên là Công ty Cáp Carol.
Hóa ra, Công ty Cáp Carol nằm rất gần hiện trường các vụ án giết người ở Công viên Bear Brook.
Thế nhưng đó không phải tất cả. Thực ra Denise Beaudin đã từng làm việc một thời gian ngắn tại Công ty Cáp Carol cùng thời điểm Rasmussen làm việc ở đó.
Đây chỉ đơn giản là một trong nhiều mối liên hệ dẫn đến một sự trùng hợp ngẫu nhiên, và đúng như vậy, bằng chứng tiếp tục chồng chất lên nhau. Nghiên cứu sâu hơn cho thấy rằng các dây cáp điện được sử dụng để buộc thi thể của 4 nạn nhân tìm thấy trong thùng kim loại ở Công viên Bear Brook được sản xuất bởi Công ty Cáp Carol. Và kết quả phân tích DNA của Rasmussen cũng trùng khớp với DNA được tìm thấy từ một trong những chiếc thùng kim loại rỉ sét, càng thể hiện anh ta có liên quan.
Cuối cùng, và gây sốc nhất, một xét nghiệm so sánh DNA của 4 nạn nhân tại Công viên Bear Brook tiết lộ rằng Terry Rasmussen là bố ruột của một nạn nhân là trẻ em – người mà không có quan hệ với 3 nạn nhân còn lại.
Sát nhân tắc kè hoa, có vẻ như cũng là kẻ giết người ở Công viên Bear Brook.
Cảnh sát Headley đã gửi tất cả những phát hiện của chúng tôi đến Đơn vị Điều tra các Vụ án nan giải tại New Hampshire, và Rasmussen chính thức được xác định là nghi phạm giết người đằng sau các Vụ án mạng ở Allenstown.
⚝ ⚝ ⚝
Điều vẫn chưa biết được đó là danh tính của các nạn nhân. Người phụ nữ có phải là mẹ của Lisa Jensen, Denise Beaudin? Và 3 đứa trẻ còn lại là ai?
Thật không may, DNA bị nhiễm tạp chất lấy được từ các nạn nhân không hữu ích cho các loại xét nghiệm mà chúng tôi cần thực hiện để xác định danh tính của họ. Về mặt kỹ thuật, DNA người bị nhiễm tạp chất trong các mẫu có thể được khuếch đại, nhưng quá trình này sẽ mất rất nhiều chi phí và tốn thời gian. Đáng buồn thay, có vẻ như chúng tôi đang đi vào ngõ cụt.
“Tại thời điểm này, về những gì khoa học có thể làm để giúp xác định họ đến từ đâu và họ là ai, chúng tôi đang ở lằn ranh cuối cùng” Benjamin Agati – Trợ lý Bộ trưởng Tư pháp Cấp cao của New Hampshire đã dứt khoát tuyên bố tại một cuộc họp báo năm 2015.
Theo tôi biết được, ông ấy đã nói đúng.
Nhưng tôi cũng biết rằng, trong lĩnh vực bùng nổ như di truyền phả hệ, điều là đúng lúc này chưa chắc về sau còn là đúng.
⚝ ⚝ ⚝
Vào tháng 3 năm 2017, khi đang lướt mạng trên iPad của mình, nhảy từ trang này sang trang khác và cập nhật một số sách thì tôi bắt gặp một bài báo đặc biệt.
Bài báo đó viết về một nhà di truyền học cổ sinh tại Đại học California, Santa Cruz. Tên ông ấy là Richard Ed Green. Tiến sĩ Green là người được biết đến nhiều nhất trong số các nhà khoa học đồng nghiệp nhờ nghiên cứu về bộ gen của người Neanderthal. Trên thực tế, ông ấy là thành viên của nhóm phát triển công nghệ giải trình tự gen giúp đọc DNA được tách chiết từ xương hóa thạch. Giáo sư Green đã giúp sắp xếp toàn bộ bộ gen của người Neanderthal, một việc giúp ích cho các nhà khoa học nghiên cứu về sự tiến hóa của loài người. Như Giáo sư Green sau này đã nói, “Chúng ta từ không có bộ gen cổ xưa xác thực nào, nay thành hàng trăm hàng nghìn bộ gen”.
Tuy nhiên, bài báo mà tôi đọc không liên quan đến công việc của ông ấy với người Neanderthal hay một chuyên môn khác của ông ấy, xương khủng long. Bài báo là nói về việc nhận dạng hài cốt trong một chiếc quan tài nhỏ được chôn dưới một tấm bê tông trong một ngôi nhà đang được cải tạo ở San Francisco. Một người khai quật thấy chiếc xẻng của mình va vào một thứ gì đó rắn chắc, đó là một chiếc quan tài làm bằng gang dài 37 inch (khoảng gần 100cm) được trang trí công phu với những ô kính nhỏ bên trên. Bị nhét chặt bên trong chiếc quan tài không có không khí là hài cốt được bảo quản tốt của một bé gái, 2 hoặc 3 tuổi, mặc chiếc váy thêu màu trắng, với một cây thánh giá làm bằng hoa oải hương trên ngực, những cánh hoa hồng và lá bạch đàn rải xung quanh cô bé. Đứa trẻ đang nắm một bông hồng, và không thấy có bia mộ.
Bí ẩn về danh tính của bé gái nhỏ đã thu hút trí tưởng tượng của cư dân địa phương, và khi các phương tiện truyền thông quốc gia đăng tải câu chuyện, mọi người trên khắp đất nước đặt câu hỏi – Tại sao cô bé lại được chôn cất ở đó một mình? Tại sao chiếc quan tài của đứa trẻ được trang trí công phu như vậy? Cô bé ấy là ai?
Nghiên cứu cho thấy chiếc quan tài đặc biệt của cô bé – được chôn cách đây 145 năm – bị bỏ lại tại địa điểm này khi khoảng 29.000 bộ hài cốt khác được khai quật từ Nghĩa trang Odd Fellows ở San Francisco vào năm 1902, và được cải táng ở Colma, phía nam San Francisco, nhờ vậy những ngôi nhà mới có thể được xây dựng trên khuôn viên nghĩa trang cũ.
Hơn một thế kỷ sau, người ta đã phát hiện ra chiếc quan tài và khi nó được khai quật, bé gái có thể được cải táng trong một chiếc quan tài lớn hơn. Nhưng trước khi cô bé được cải táng, một nhà khảo cổ học, Jelmer Eerkens, đã lấy được vài sợi tóc dài 3 hoặc 4 inch (khoảng 10cm) trên đầu của đứa trẻ. Ông hy vọng phân tích hóa học của tóc có thể giúp xác định chính xác năm mất của cô bé và khu vực cô bé sống. Mục tiêu là tìm ra cô bé ấy là ai và đặt cho cô bé một cái tên.
Tuy nhiên, Eerkens biết rằng không thể sử dụng DNA từ sợi tóc mất chân để xác định danh tính đứa trẻ. Vào thời điểm đó, người ta có thể trích xuất DNA ty thể từ những sợi tóc mất chân, có lẽ có thể tìm được mối quan hệ mẹ con với những người khác.
Nhưng để xác định chính xác một người, cần phải có DNA trên nhiễm sắc thể thường và vào thời điểm đó, người ta tin rằng trong một sợi tóc mất chân không có DNA trên nhiễm sắc thể thường. Khi tóc phát triển, các tế bào sẽ trải qua cơ chế thường được lập trình của tế bào chết hoặc chết theo chương trình của tế bào, trong thời gian đó người ta tin rằng DNA nằm trong nhân tế bào hoặc nằm trên nhiễm sắc thể thường bị suy giảm một cách vô vọng.
Chính Giáo sư Ed Green đã phát hiện ra rằng, trên thực tế, những đoạn nhỏ của DNA trên nhiễm sắc thể thường vẫn còn sót lại và những đoạn này có thể phân tích được.
Elissa Davey, giám đốc của Dự án Garden of Innocence, một nhóm từ thiện phi lợi nhuận cung cấp dịch vụ chôn cất đàng hoàng cho những đứa trẻ vô danh – và đang giám sát việc cải táng cho bé gái trong quan tài – đã gọi điện cho Giáo sư Green và hỏi xin ông giúp đỡ xác định hài cốt của cô bé ấy. Giáo sư Green, một người thực sự cuồng mê lĩnh vực tội phạm, đã đồng ý thử.
Sinh ra tại một thành phố nhỏ ở Conyers, Georgia, Green đã bỏ học Đại học Georgia sau năm thứ hai vì nhận thấy việc học chuyên ngành kinh doanh của mình “chán đến phát ngán”, ông nói. Mãi cho đến khi ông ấy đăng ký vào lại trường đại học và tham gia một lớp di truyền học nhập môn (với sự thúc đẩy của cố vấn), một tia lửa đã được thắp lên và cuộc đời của Green đã thay đổi. “Di truyền học là thứ thực sự quan trọng và nó là một sự khám phá đối với tôi rằng công việc của bạn có thể tìm ra những thứ mà chưa ai tìm ra”, ông ấy nói. “Tôi yêu nó và tôi thực sự tận hưởng nó”.
Khi ông nhận được cuộc gọi từ Elissa Davey về cô bé trong quan tài, Green đang là trợ lý giáo sư kỹ thuật sinh học phân tử tại Trường Kỹ thuật Baskin tại UC Santa Cruz. Khi làm việc tại Phòng thí nghiệm môn di truyền học cổ sinh ở UC Santa Cruz, ông ấy đã cố gắng điều chỉnh kỹ thuật mà ông đã sử dụng khi tách chiết DNA từ hóa thạch khủng long lâu đời để chiết lấy DNA từ một sợi tóc mất chân có tuổi đời ít nhất một thế kỷ.
Một bài báo viết về Giáo sư Green giải thích rằng, việc phân tích DNA bị suy giảm như vậy “giống như cắt một chồng báo thành hoa giấy, tung các mảnh giấy lên không trung vào một ngày lộng gió, rồi cố gắng ghép chúng lại thành một thứ gì đó mà bạn có thể đọc được”. Hay như chính Green đã nói: “Đó là công việc thực sự khó khăn trong phòng thí nghiệm và là một quá trình thử và sai”. Quá trình đó rất chông gai và bảng trắng mà Green sử dụng để vạch ra các phép tính hết được lấp đầy rồi lại xóa đi rất nhiều, rất nhiều lần.
Ông nói: “Không dễ dàng gì để đưa ra các giải pháp. Đó là sự khác biệt giữa việc được hướng dẫn cách đánh bóng chày và sau đó có thể thành công đánh trúng một quả”.
Ông ấy mất khoảng một năm trước khi có được thứ gì đó mà ông ấy tin rằng có thể giúp xác định danh tính của bé gái.
Để kiểm tra kỹ thuật mới của mình, ông ấy tạo một tệp kiểu gen từ một sợi tóc của chính mình và tải nó lên GEDmatch. Ông ấy muốn biết liệu tệp DNA trên nhiễm sắc thể thường có nguồn gốc từ mô nang có hoạt động giống như tập được tạo từ DNA trên nhiễm sắc thể thường được tách lấy từ nước bọt hay không. Nói cách khác, DNA từ tóc mà ông ấy tải lên GEDmatch có khớp với bất kỳ ai không?
Thật mừng là, DNA từ tóc của Giáo sư Green trùng khớp với chính những người thân họ hàng mà ông có quan hệ thông qua tệp DNA dựa trên nước bọt của mình.
“Đó là khoảnh khắc Eureka của tôi”, ông nói.
Ông ấy lấy một vài sợi tóc từ phần hài cốt trong chiếc quan tài nhỏ và tạo một hồ sơ về gen thích hợp cho việc sử dụng. Vào thời điểm đó, các nhà nghiên cứu do Elissa Davey hướng dẫn đã nghiên cứu kỹ các sơ đồ quy mô xây dựng của nghĩa trang Odd Fellows – nghĩa trang từng tồn tại tại địa điểm ngôi nhà đang được cải tạo, cũng như các hồ sơ sinh, tử, hôn nhân và tài sản qua hàng trăm năm, tất cả những việc đó nhằm để xác định hai gia đình mà cô bé có thể thuộc về (một quá trình, Davey nói, mà một số nhà nghiên cứu đã phải dành ra tổng cộng khoảng 3.000 giờ). Một nhà phả hệ tình nguyện đã tập hợp được một trong những cây gia phả từ những năm 1600 và xác định vị trí một người họ hàng còn sống đồng ý gửi mẫu DNA nước bọt.
Giáo sư Green nói: “Đó quả thực là công việc thực tế cần hoàn thành”.
Tiếp đó, hồ sơ DNA của cô bé trong quan tài được so sánh với hồ sơ của người họ hàng còn sống.
Sẽ trùng khớp ư?
Trên thực tế, cô bé và người họ hàng trùng khớp 12,5% về bộ gen, các bộ gen chỉ có thể đồng nhất với nhau khi là giữa các hậu duệ trực hệ.
Họ đã tìm ra cô bé. Bé gái trong quan tài là bà dì của người họ hàng còn sống, và tên cô bé là Edith Howard Cook. Hồ sơ tử vong cho thấy cô bé qua đời vào năm 1876 khi mới 2 tuổi 10 tháng 15 ngày do marasmus, một thuật ngữ chỉ tình trạng suy dinh dưỡng nghiêm trọng có thể xảy ra do rối loạn bên trong hoặc nhiễm trùng. Edith được cải táng trên một ngọn đồi dốc ở Nghĩa trang Greenlawn, ngay phía nam San Francisco, trong một buổi lễ có sự tham dự của người họ hàng còn sống họ Cook - chắt của Edith, Peter Cook, khi đó 82 tuổi – cũng như Giáo sư Green, người đã tìm thấy cách để tìm lại danh tính của cô bé. Elissa Davey đã nói trong bài phát biểu của mình ngày hôm đó: “Tên họ là một phẩm giá mà mỗi con người xứng đáng có được. Để được gọi là gì đó”.
Khi tôi đọc về Giáo sư Green và công việc của ông ấy với những sợi tóc mất chân trong trường hợp Edith Cook, đó là một khoảnh khắc Eureka. Tôi biết rằng có tóc của cả 4 nạn nhân ở Công viên Bear Brook. Và đây là một kỹ thuật có thể sử dụng được để trích xuất DNA trên nhiễm sắc thể thường từ tóc mà không cần đến chân tóc! Đây là một bước đột phá đáng lưu tâm, và nó đến ngay khi tôi đang bước vào ngõ cụt trong vụ án ở Bear Brook. Cảm ơn, Thiên thần hộ mệnh.
Sau khi đọc xong bài báo, tôi thực sự cảm thấy phấn khích đến choáng váng. Gần đây tôi mới biết được rằng DNA hiện có trong vụ án Bear Brook nhiễm tạp chất quá nặng nên không thể sử dụng được, và tôi chán nản trước kết quả đó. Nhưng bây giờ, ở đây, tôi đang đọc được một bước đột phá về công nghệ trong di truyền phả hệ có thể giúp tôi giải quyết những vụ án nan giải của mình. Sự tình co may mắn của những sự kiện đến cùng lúc này thật thần kỳ, và tôi hầu như không thể tin được vào sự may mắn của mình.
Tôi gọi cho cảnh sát Headley và đề nghị anh ấy liên lạc với Giáo sư Green để xem liệu ông ấy có hứng thú hợp tác với tôi trong việc xác định danh tính các nạn nhân trong vụ án tại Bear Brook hay không. May mắn thay, Giáo sư bảo rằng ông ấy đã sẵn sàng cho thử thách. Tôi hẹn ông ấy ăn trưa tại nhà hàng Whole Enchilada ở Moss Landing, một nơi nằm giữa hai địa điểm của chúng tôi ở hai phía đối diện Vịnh Monterey. Tôi đặt món mà mình hay ăn, Chili Verde, trong khi Giáo sư Green gọi món enchiladas. Cuộc trò chuyện của chúng tôi gồm rất nhiều các chủ đề – công việc của tôi với tư cách là luật sư về bằng sáng chế, tình yêu của ông ấy với công nghệ sinh học, những ngày đầu nghiên cứu về bộ gen, sự phát triển của ông ấy trong việc trích xuất DNA từ tóc. Tôi cũng thuật lại ngắn gọn cho ông ấy biết về các vụ án giết người tại Bear Brook đang bị đình trệ.
Giữa chúng tôi có sự tương đồng, một phần là do hoàn cảnh của chúng tôi giống nhau – bằng cách nào đó, mặc dù cả hai chúng tôi đều không có bất kỳ kinh nghiệm thực thi pháp luật nào, nhưng cả hai đột nhiên cùng tham gia phá án.
Giáo sư Green nói: “Tôi nghĩ rằng sau cô bé trong quan tài, công việc của tôi đối với những trường hợp như thế này đã kết thúc, và sau đó Barbara xuất hiện. Không mất nhiều công sức để đưa tôi cùng tham gia; trên thực tế, tôi bị cuốn hút ngay từ lúc đầu”.
Giáo sư sau đó đã giải thích với cảnh sát
Headley khi ông chính thức gia nhập nhóm của chúng tôi, “Việc này nghe có vẻ thú vị hơn DNA của khủng long”.
⚝ ⚝ ⚝
Giáo sư Green bắt tay ngay vào việc phát triển một quy trình trích xuất DNA trên nhiễm sắc thể thường từ các sợi tóc của mỗi người trong số 4 nạn nhân – tóc đã để trong thùng tiếp xúc với môi trường trong 40 năm. Ông phát hiện ra rằng, lớp biểu bì của thân tóc bảo vệ vỏ não, nơi chứa DNA, khỏi bị hư hại. Truy xuất DNA là một quá trình gồm hai bước. DNA trong thân tóc là những mảnh nhỏ, vì vậy bước đầu tiên là ghép DNA lại với nhau bằng một quy trình gọi là Giải trình tự bộ gen (Whole Genome Sequencing – WGS. Từ đó, ông ấy sử dụng một thuật toán để tạo một hồ sơ DNA (cụ thể là một hồ sơ SNP – sẽ nói thêm sau) mà tôi có thể tải lên GEDmatch và Family Tree DNA.
Giáo sư Green đã phải liên tục cải tiến và tinh chỉnh thuật toán mà ông đã nghĩ ra để trích xuất ra hồ sơ DNA từ tệp bộ gen. Khi ông ấy hoàn thành một loạt các cải tiến, Giáo sư Green sẽ gửi cho tôi tệp kết quả, tôi sẽ tải tệp này lên GEDmatch để đánh giá chất lượng của hồ sơ về gen được tạo ra.
Tôi có một tập hợp gồm bố mẹ và con cái đã biết (Rasmussen và con gái của anh ta) và một tập hợp có khả năng thứ hai, người phụ nữ trong thùng thứ nhất và hai đứa trẻ có quan hệ về ty thể, một đứa trong thùng thứ nhất và một đứa trong thùng thứ hai. Thông tin đó có lợi cho việc đối chứng của tôi. Một vài lần đầu, tôi không nhận được kết quả trùng khớp phù hợp giữa bố mẹ và con cái, chỉ khoảng một nửa lượng DNA dự kiến trùng khớp. Giáo sư Green tiếp tục tinh chỉnh thuật toán của mình, và sau một vài lần lặp lại, tôi đạt được mức độ trùng khớp mong đợi cho bố mẹ và con cái, cho cả Rasmussend và con gái của anh ta cũng như cho người phụ nữ chưa xác định và hai cô bé có quan hệ về ty thể. Ngoài ra, hai cô bé cũng trùng khớp với nhau ở mức độ mong đợi đối với chị em cùng cha khác mẹ chứ không phải chị em ruột.
Quá trình xác định độ tin cậy của phương thức tách triết DNA từ tóc đã mất hơn một năm. Nhưng đó là thời gian hợp lý, bởi nếu không có công việc của Tiến sĩ Green, sẽ không có cách nào để xác định được các nạn nhân của Bear Brook.
Bây giờ tôi được nghiên cứu bằng Phương pháp luận để bắt đầu xác định các nạn nhân. Đối với người phụ nữ, tôi có thể nhanh chóng xây dựng một cây phả hệ tự biện từ các kết quả trùng khớp của cô và xác định một MRCA vì tôi có các kết quả trùng khớp cao. Tôi có thể xác định được cái tên có khả năng là của nạn nhân là người phụ nữ trưởng thành tại Bear Brook chỉ trong vòng vài ngày.
Tôi biết được cô ấy là Marlyse Honeychurch.
Biết được danh tính của cô ấy có nghĩa là chúng tôi cũng có thể tìm ra tên của hai nạn nhân trẻ em là con gái của cô ấy.
Tôi gửi email cho cảnh sát Headley với tên của Marlyse, điều từ lâu bị cho là bất khả thi. Đột nhiên, việc xác định những linh hồn đáng thương trong Công viên Bear Brook đã thành công. Đây là một trong những khoảnh khắc vui sướng của việc khám phá khiến tất cả những tháng ngày tìm tòi nghiên cứu và khó khăn trở nên đáng giá. Khoảng thời gian ngắn ngủi mà tôi có thể là người duy nhất trên thế giới biết chắc chắn rằng một bí mật được chôn kín từ lâu cuối cùng không còn là bí mật nữa.
Tôi ước mình có thể nói rằng cảm giác vui thích kỳ lạ này kéo dài hằng ngày hoặc thậm chí hàng tuần liền, nhưng đối với tôi, nó chỉ thoáng qua. Trước hết, mọi thứ về những vụ giết người ở Bear Brook đều tối tăm, buồn bã và bi thảm.
Việc giải quyết vụ án không phải để ăn mừng, mà là để chiêm nghiệm. Đó là sự kết thúc tốt nhất cho một chuỗi các sai trái không thể cứu vãn được, một chút khoan dung sau những đau khổ bất tận. Đó là điều đáng để biết ơn, và thậm chí có lẽ là điềm báo cho những thành công trong tương lai nhằm ngăn chặn một số tội ác bất chính. Nhưng cảm xúc của việc tìm kiếm và phát hiện ra danh tính của nhân không thể tách rời khỏi thực tế trừng các nan phạt dành cho những vụ giết người.
Cảm giác này thật mới mẻ với tôi. Tìm được người thân ruột thịt của người con nuôi hầu như luôn là khoảnh khắc chiến thắng, của lời hứa và tiềm năng, thậm chí có thể là sự cứu rỗi. Thật dễ dàng để ăn mừng những chiến thắng như vậy, như tôi làm khi tham dự buổi đoàn tụ gia đình vui vẻ của bà Ellen Law, 98 tuổi ở San Bernardino. Ngay cả vụ án của Lisa Jensen cũng đã kết thúc với một ghi chú tích cực và khẳng định cuộc sống với việc phát hiện ra rằng ông ngoại của Lisa vẫn còn sống. Nhưng vụ án giết người ở Bear Brook từ lâu vẫn chưa tìm ra lời giải thì khác. Quá nhiều thứ đã mất mát nên không thể cho phép bất cứ điều gì khác ngoài cảm giác hài lòng thoáng qua khi cuối cùng nó đã được giải quyết.
Trong một ghi chú bên lề, một người phụ nữ tên là Rebekah Heath – một thủ thư nghiên cứu đến từ Connecticut và là một người gần như cả đời hâm mộ những vụ án giết người bí ẩn, người yêu thích loạt phim Miss Marple của Agatha Christie đã đặc biệt quan tâm đến vụ án tại Bear Brook và đã dành 10 năm để tự mình nghiên cứu xác định danh tính 4 nạn nhân. Vụ án trở thành một cuộc thập tự chinh cho tay thám tử nghiệp dư này. Cuối cùng, cô ấy tìm thấy các tin nhắn trên một diễn đàn phả hệ về 2 người phụ nữ mất tích – một người mẹ 24 tuổi và cô con gái nhỏ, Sarah McWaters. Cả hai gần như khớp với độ tuổi ước tính của 2 trong số các nạn nhân tại Bear Brook. Heath đã tìm hiểu xung quanh và tìm thấy một người họ hàng kể cho cô nghe nhiều hơn về người mẹ: cô ấy sinh ra ở Fairfield, Connecticut và có 2 cô con gái, mỗi đứa là con của cô với những người chồng cũ. Năm 1978, cô giới thiệu người bạn trai mới nhất của mình với mẹ, bà đã nói với cô rằng bà nghĩ người đàn ông đó quá già so với cô.
Cuộc tranh cãi diễn ra sau đó tồi tệ đến nỗi người phụ nữ phải rời khỏi ngôi nhà ở La Puente California và biến mất khỏi cuộc đời mẹ cô. Lần cuối cùng các thành viên trong gia đình nhìn thấy hoặc nghe được tin tức về người mẹ hoặc các con của cô ấy là khoảng vào Lễ tạ ơn năm 1978.
Tên người phụ nữ là Marlyse Honeychurch. Và tên của người bạn trai của người phụ nữ mất tích này? Terry Rasmussen. Chính kết luận của Junel và tôi rằng Bob Evans là Terry Rasmussen đã cho phép Rebekah kết nối các điểm trong nghiên cứu của cô ấy khi cô biết rằng anh ta từng là bạn trai của Marylyse.
Tôi chưa bao giờ liên lạc với Rebekah Heath và chỉ sau này mới biết về nghiên cứu của cô ấy. Tôi dễ dàng công nhận và ngưỡng mộ sự kiên trì mà cô ấy đã thể hiện trong việc tìm kiếm những câu trả lời. Tôi cũng có thể đoán được sự thất vọng mà cô ấy cảm thấy khi không có cách nào để xác nhận sự khám phá của mình. Rebekah Heath đại diện cho những bước tiến to lớn mà một nhà nghiên cứu tận tâm có thể đạt được để giải quyết các vụ án nan giải đã lâu, cũng như giới hạn của những gì có thể đạt được nếu không có DNA.
May mắn thay, nhờ chuyên môn của Giáo sư Green, tôi có thể xác nhận rằng người phụ nữ trưởng thành là Marlyse Honeychurch. Cảnh sát ở New Hampshire đã thu thập các mẫu DNA từ hai người chị em gái còn sống của Marlyse, một người em trai cùng cha khác mẹ và một mẫu từ một trong những người chồng cũ của cô, được cho là bố của một trong hai cô con gái của Honeychurch, Marie Elizabeth Vaughn.
Khi tôi tải những mẫu này lên GEDmatch, tôi có thể xác nhận chắc chắn danh tính của 3 trong số 4 nạn nhân của vụ sát hại tại Bear Brook – Marylse Honeychurch và 2 cô con gái nhỏ của cô ấy, Marie Vaughn và Sarah McWaters.
Thông tin mà tôi tìm được về các nạn nhân đã kể lại một câu chuyện buồn và đau đớn. Marlyse Elizabeth Honeychurch, sinh ra ở Connecticut vào năm 1954, là học sinh năm hai trung học ở Stamford, Connecticut, khi cô và mẹ chuyển đến nam California. Năm 1970, Marlyse đăng ký vào trường trung học Artesia ở Lakewood, và bắt đầu hẹn hò với một người bạn trai. Chỉ một năm sau, đôi trẻ kết hôn ở Las Vegas; Marlyse vẫn còn là một thiếu nữ. Tháng 12 năm đó, Marlyse hạ sinh một bé gái đặt tên là Maria.
Sau đó, người mẹ và cô con gái đi đến nhiều nơi – quay lại Stamford, Connecticut, rồi tới Fall River ở Maine, rồi quay lại Lakewood, California. Marlyse và bố Marie ly hôn vào năm 1974, cùng năm đó cô kết hôn với người chồng thứ hai; họ có với nhau một người con gái, Sarah, vào năm 1977, trước khi ly thân. Gia đình của Marlyse gặp cô lần cuối vào tháng 11 năm 1978, ngay sau khi cô giới thiệu họ với bạn trai mới của mình vào lễ Tạ ơn.
Có vẻ như Marlyse và Rassmussen đã chuyển đến Manchester, nơi Marlyse có thể đã lấy một danh tính mới, Elizabeth Evans – tên được tìm thấy trên một tài liệu liên kết với địa chỉ ở Manchester của Rasmussen.
Năm 1985, 7 năm sau lần cuối cùng gia đình Marlyse nhìn thấy cô, thi thể của 1 phụ nữ và 3 đứa trẻ được tìm thấy trong 2 thùng kim loại ở Công viên Bear Brook – những nạn nhân mà hơn 30 năm sau, tôi xác định được là Marlyse Honeychurch và các con gái của cô.
Một bí ẩn ám ảnh kéo dài hàng thập kỷ phần lớn đã được giải đáp chỉ trong vài ngày sau khi hồ sơ DNA của các nạn nhân được tải lên GEDmatch. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử thực thi pháp luật Hoa Kỳ, DNA trên nhiễm sắc thể thường từ các mẫu tóc mất chân giúp phá được án – và lần đầu tiên di truyền phả hệ được sử dụng để xác định danh tính thực của một tội phạm.
Nạn nhân thứ tư vẫn chưa được xác định danh tính, ngoài sự thật rằng cô bé ấy, như chúng ta đã biết, là con gái ruột của Terry Rasmussen. Thật không may, các kết quả trùng khớp hiện tại mà tôi có cho đứa trẻ là khá thấp. Nhưng tôi không từ bỏ việc tìm ra danh tính của nạn nhân thứ tư này, và tôi có nhiều tiến triển. Đứa trẻ này cũng xứng đáng có một cái tên, và tôi đang tiếp tục nỗ lực khôi phục lại tên cho cô bé.
Trong khi đó, hài cốt của 3 nạn nhân còn lại tại Bear Brook hiện đã được xác định danh tính và được chôn cất lại. Tại một buổi lễ tưởng niệm ở nghĩa trang Saint John the Baptist ở Allenstown, New Hampshire, vào một ngày se lạnh tháng 11 năm 2019, một số người thân thích đã tụ tập để tưởng nhớ Marlyse Honeychurch và con gái cô Marie Vaughn – người khoảng 6 tuổi khi bị sát hại – với hài cốt của họ, được đựng trong 2 chiếc bình nhỏ, đặt cạnh nhau trong một cái hố đào dưới đất. Sarah McWaters, bé mới 1 tuổi khi qua đời, được chôn cất riêng gần những người thân họ hàng khác.
Ở Allenstown, một số người tham dự buổi lễ đã mang hoa cho Marlyse và những con gấu nhồi bông nhỏ cho Marie. Một bia mộ mới được đặt bên cạnh bia mộ cũ – tấm bia ghi là “những nạn nhân tử vong không ai biết (ngoại trừ Chúa)”. Tấm bia mới này bao gồm tên, ngày sinh và ngày mất, bằng chứng cho thấy Honeychurch và các con gái của bà đã sống và có giá trị. Anh chị em của Marlyse là David Salamon, Michelle Chagaris, Paula Hodges và Roxanne Barrow, những người đã không gặp hoặc không nghe được tin tức gì về em gái của họ trong suốt 34 năm, đến Allenstown từ California, Oregon và Oklahoma. Họ mặc những chiếc áo khoác mùa đông để chống lại cái lạnh vào buổi chiều, ngồi trên những chiếc ghế phủ nhung xanh và khóc khi bia mộ nặng nề mới được đè xuống đất, bên trên hai chiếc bình được chôn cất.
“Trong suốt nhiều năm, chúng tôi không ngừng tìm kiếm”, David Salamon, người em út chỉ mới 6 tuổi khi chị gái của anh biến mất, cho biết vào ngày diễn ra lễ tang. “Chúng tôi đã luôn tìm kiếm lại tìm kiếm và chúng tôi chưa bao giờ bỏ cuộc”. Khoảng 150 người đưa tang khác đã xuất hiện và tạo thành một vòng tròn che xung quanh gia đình Marlyse.
“Tình yêu chiến thắng tất cả mọi thứ”, chấp sự William R. Lavallee đã nói một cách trang trọng trong bài thuyết giảng bên mộ của mình. “Tình yêu có thể chiến thắng sự ghét bỏ và có thể chiến thắng cái chết”.
Chấp sự Lavallee cũng nói về tầm quan trọng của những gì đã được hoàn thành thay cho Marlyse và hai người con gái của cô.
“Cái tên là một thứ rất mạnh mẽ”, chấp sự nói. “Sở hữu một cái tên tạo nên sự khác biệt rất lớn. Họ không còn chỉ là 4 mạng người tại Allenstown. Họ có tên”.
Tôi không có mặt tại buổi lễ tưởng niệm, nhưng sau này khi đọc bài thuyết giảng của chấp sự Lavallee, tôi thấy nó rất cảm động. Trong một vụ án mà đã khơi dậy quá nhiều cảm xúc - tức giận, buồn bã, tuyệt vọng, hy vọng – thật khó để đưa ra bất kỳ kết luận mạch lạc nào về ý nghĩa của vụ việc. Nhưng những lời của chấp sự Lavallee đã làm sáng tỏ ý nghĩa đó.
Ít nhất, thế giới giờ đã biết 3 trong số những nạn nhân tại Bear Brook chưa được xác định từ lâu là ai và thế giới cũng biết ai là kẻ đã giết họ.
Đây là điều quan trọng. Như chấp sự đã thuyết giảng, nó tạo ra một sự khác biệt thực sự và có ý nghĩa.
Về điều này, ít nhất, tôi chắc chắn.