Trời đã xế chiều, mặt trời xiên những tia nắng chéo bụi bặm khắp căn phòng nơi chúng tôi ngồi, mẹ tôi và tôi, nhâm nhi tách trà loãng từ những chiếc tách sứ xương. Mẹ tôi chỉ cao 1m50, thấp hơn trước kia do tuổi tác đã làm cơ thể bà teo tóp và chứng loãng xương đã làm cong cột sống của bà. Da trên khuôn mặt của bà mỏng trong mờ và nó tạo thành những nếp gấp mềm mại khi bà cười, giống như bây giờ.
Bà ôm một cây đàn banjo-ukulele – một vật gia truyền đã treo nhiều năm trong phòng ăn của bố mẹ tôi. Đó là một kỷ vật quý giá đã từng thuộc về người anh trai yêu quý của mẹ tôi, Reginald Joseph. Bây giờ, bà tặng nhạc cụ này cho tôi.
“Mẹ có chắc là mẹ muốn tặng nó cho con không?” Tôi hỏi.
Mẹ tôi gật đầu. “Giữ nó cho Christopher”, bà nói, ngừng lại để lấy hơi. “Có lẽ thằng bé có thể học chơi nó”.
Tôi lấy cây đàn banjo-ukulele từ bà. Tôi lướt tay trên mặt gỗ nhẵn bóng. Đó là gỗ óc chó tự nhiên, một màu vàng sa tanh ấm áp với những nốt sần sẫm màu. Một chiếc móng gảy đàn mắc vào một mảnh vụn nhỏ trên lớp ván gỗ mỏng trên lưng nó. Tất cả các dây trừ một sợi dây đều bị đứt và treo lủng lẳng trên chiếc cổ đàn duyên dáng. Tôi gảy dây còn lại.
Plink, plink, plink.
Trong sự yên tĩnh của một vài buổi chiều, tôi hầu như vẫn có thể nghe thấy những âm thanh ngọt ngào mà những sợi dây bị đứt và lớp ván gỗ mỏng này từng tạo ra.
Rốt cuộc, đây không phải là đàn banjo-ukulele thông thường. Đó là nhạc cụ mà chú Reg của tôi mua nhiều năm trước đó bằng tiền lương của mình khi còn là một thợ đúc kim loại tập sự; nhạc cụ mà ông chơi cho bạn bè của mình nghe quanh đống lửa trại đốt bằng củi rều trên bãi biển khi còn là một thiếu niên; nhạc cụ ông ấy đã chơi lại một lần nữa cho đội quân mệt mỏi của ông khi họ chen chúc trên những chiếc xe tải vận chuyển để trở về căn cứ sau một ngày dài xuất kích trong Thế chiến II.
“Reg và cây đàn banjo-uke ma thuật của ông ấy cũng đã thành công trong các cuộc tụ họp bạn bè ở Mess”, bố tôi, người đã lái chiếc Spitfire dưới sự chỉ huy của Reg, nói với tôi nhiều năm sau đó. “Những bài hát bọn bố hát rất tục tĩu và đôi khi có thể hơi quá đáng, nhưng với tính cách của Reg ông ấy chỉ nhận được những tràng pháo tay”.
Đây cũng là nhạc cụ mà mẹ tôi nhận được trong một kiện hàng gửi từ Lực lượng Không quân, cùng với một bức điện tín từ Bộ Chiến tranh thông báo rằng anh trai Reg của bà đã hy sinh trong chiến đấu. Cây đàn banjo-uke ma thuật và một số đồ đạc khác là tất cả những gì còn lại của Reg.
Và vì vậy, ông sẽ chỉ còn sống trong ký ức, trong những bức ảnh và trong những câu chuyện, và trong âm thanh của một mảnh gỗ óc chó bị vỡ, một món quà quý giá từ quá khứ của gia đình.
⚝ ⚝ ⚝
Rất nhiều người trong chúng ta, những người đã nghiên cứu về gia phả của mình, đã có được những khoảnh khắc hồi tưởng ngọt ngào như vậy, khi những người thân đã khuất từ lâu đột nhiên trở nên rõ ràng hơn, có lẽ giải thích một đặc điểm mà bản thân chúng ta sở hữu hoặc một thiên hướng mà chúng ta không bao giờ có thể hiểu được. Nhiều người trong chúng ta cũng có những bí ẩn nho nhỏ khó nói – một vụ ngoại tình chỉ được tiết lộ hàng thập kỷ sau, một quyết định chuyển chỗ ở mà không giải thích được, một sự xoay chuyển hoặc khúc ngoặt bất ngờ nào đó trong các đường tuyến tính mà chúng ta hình dung mô tả quá trình phát triển của tổ tiên chúng ta qua thời gian.
Tôi tham gia nghiên cứu về DNA và phả hệ rất lâu trước khi được cảnh sát Peter Headley liên hệ vào năm 2015, và tôi có một số ý tưởng về bản chất không ổn định của việc xây dựng cây phả hệ. Nhưng khi tôi bắt đầu làm việc với tư cách là một nhà điều tra di truyền phả hệ, cố gắng giải quyết các vụ án hình sự nan giải kéo dài, tôi có được cái nhìn sâu sắc mới về sự phức tạp đáng kinh ngạc của sự kết nối giữa con người với nhau, và cũng về phả hệ và bản thân tôi.
Cụ thể, tôi đang tìm hiểu về những thôi thúc, động lực và sự kiện có thể xác định sự kiện cá nhân – nhu cầu nói dối hoặc thay đổi danh tính; những áp lực xã hội khiến một số gia đình tan nát; những mong muốn và thôi thúc quyết định hướng đi của cuộc đời chúng ta. Những quyết định rủi ro cuối cùng lại gây tiếng vang qua nhiều thế hệ, và những mất mát phải chịu đựng và vượt qua để các gia đình tiếp tục cuộc sống.
Tôi có được một góc nhìn sâu sắc và phong phú hơn về bản chất con người, và tôi có thể áp dụng những gì đã học để nghiên cứu gia phả của mình.
Tôi sẽ cho bạn một ví dụ. Không lâu sau khi tôi cùng mẹ dùng bữa trà chiều muộn tuyệt vời đó, khi tôi đang ngủ trong nhà vào ngày 14 tháng 11 năm 2006 thì điện thoại reo lên vào lúc 1 giờ sáng. Tôi nhận ra giọng nói của em dâu tôi, Lesley, nhưng tôi không hiểu cô ấy đang nói gì. Đó là một điều gì đó về bố mẹ của chúng tôi.
Dần dần, rồi nhanh chóng, tôi hiểu được. Đã có một tai nạn. Một tai nạn xe hơi. Bố tôi đang lái xe và chiếc xe ấy tông vào một cái cây.
Bố tôi đang được chăm sóc đặc biệt, bị thương nặng.
“Còn mẹ thì sao?” Tôi hỏi.
Lesley trả lời, “Bà đã mất rồi”.
Tôi nhớ rằng em trai tôi, Grant, đã bắt máy và cố gắng làm dịu đi những lời lẽ bộc trực của Lesley bằng cách kể cho tôi nghe những gì người làm dịch vụ tang lễ đã chia sẻ với cậu ấy:
“Bà chết ngay lập tức. Bà bị đập đầu vào bảng điều khiển khi chiếc xe đâm vào gốc cây”.
Những lời này nhằm mục đích xoa dịu, nhưng chúng không làm được điều đó. Nước mắt lăn dài trên má tôi khi tôi lập tức nhớ lại hình ảnh mẹ tôi – Veronique nhẹ nhàng vẫy tay tạm biệt tôi sau khi trao cho tôi cây đàn banjo-uke quý giá của anh trai bà. Khi ấy bà vẫn thật đẹp. Bà ấy luôn xinh đẹp.
Và bây giờ, bà ấy đã ra đi. Theo lời mẹ tôi nói với những người ngoài gia đình, bà mất ở tuổi 88.
Nhưng tôi biết được rằng nó không đúng sự thật.
Tôi bắt đầu đặt câu hỏi về dòng thời gian trong cuộc đời của mẹ tôi khi tôi còn học trung học. Bà ấy luôn gọi hai anh trai Ian và Reg là những người anh “anh cả” của mình, nhưng điều đó không hợp lý với tôi. Hồ sơ chiến tranh của hai “người bác” của tôi cho thấy họ sinh ra ở New Zealand. Và mẹ tôi, tôi biết, sinh ra ở Newcastle trên sông Tyne ở Anh, nơi gia đình bà đã sống trước khi ông bà tôi di cư đến New Zealand vào năm 1913.
Nếu mẹ tôi trẻ hơn những người anh em sinh ra ở New Zealand của bà, thì lẽ ra bà cũng phải sinh ra ở New Zealand – vậy mà bà đã không sinh ra ở đó.
Có phải mẹ tôi nói dối chúng tôi về tuổi của bà hay không? Bản chất là một người yêu thích khám phá bí ẩn, tôi quyết định rình mò một chút. Khi tôi còn là một thiếu niên ở trường trung học, tôi lục ví của mẹ tôi và xem bằng lái xe của bà. Giấy phép lái xe ghi năm bà sinh không phải năm 1920 như bà đã khiến chúng tôi lầm tưởng, mà đúng hơn là năm 1907. Mẹ tôi lược bớt 12 tuổi so với tuổi thực của bà và bất kỳ người thân nào biết tuổi thật của bà đều phải thề giữ bí mật (khi chị chồng tiết lộ tuổi thật của mẹ, mẹ tôi không nói chuyện với bác ấy trong 2 năm).
Bố tôi là một trong số ít người biết sự thật thực ra mẹ tôi 40 tuổi khi lấy bố tôi (ông 28), và 41 tuổi khi bà sinh tôi. Và khi bà qua đời trong vụ tai nạn ô tô đó, bà đã 99 tuổi.
Tôi không bị sốc trước phát hiện của mình, cũng như chưa bao giờ đối chất với mẹ về điều đó. Với bất cứ điều gì, tôi cảm thấy hài lòng vì đã giải được câu đố, và đó là tất cả. Trong những năm qua, và không có bất kỳ cuộc trò chuyện nào về điều này với mẹ tôi, tuổi thật của bà đơn giản không còn là một bí mật trong gia đình của chúng tôi; tất cả chúng tôi chỉ biết vậy.
Sau tai nạn, tôi trở về New Zealand để ở bên bố tôi trong thời gian ông hồi phục, đầu tiên là trong Phòng Chăm sóc Đặc biệt trong 2 tháng, sau đó là hồi phục chức năng trong 1 tháng nữa. Tại nhà của bố tôi, tôi xem qua một số giấy tờ trong văn phòng của ông và biết được rằng, ngoài việc lừa dối những người bạn thân nhất của bà về tuổi tác, mẹ tôi còn lừa dối công ty bảo hiểm của bà và các tập đoàn khác. Có vẻ như mẹ tôi xoay xở để tạo được một cú lừa khá ấn tượng trong nhiều thập kỷ.
Tại sao bà ấy làm điều đó? Tại sao đối với bà ấy việc trẻ hơn bố tôi lại quan trọng? Tôi chưa bao giờ hỏi bà những câu hỏi này, vì vậy tôi sẽ không bao giờ biết lý do của bà ấy.
Nhưng bây giờ, với kinh nghiệm mà tôi có được với tư cách là một nhà điều tra di truyền phả hệ, tôi hiểu rõ hơn rằng những hành vi lừa dối như vậy không phải là hiếm – rằng mọi người thao túng danh tính của họ theo những cách khác nhau và vì những lý do khác nhau một cách khá thường xuyên.
Điều không phải là một bí ẩn đối với tôi là làm thế nào mẹ tôi có thể làm được điều đó. Bà ấy có một vẻ đẹp trẻ trung không tuổi. Trong những bức ảnh cưới của bố mẹ, bố tôi – kém mẹ tôi 12 tuổi – lại trông lớn tuổi hơn trong hai người, chủ yếu là vì những trải nghiệm đau khổ trong chiến tranh đã lấy đi nhiều tóc của ông và khiến khuôn mặt ông thêm già nua, nhưng cũng là vì mẹ tôi rất xinh đẹp vì khi bà 40 tuổi nhưng lại trông như mới 20. Khi Veronique bước sang tuổi 80, bố tôi mời bà đi ăn trưa để ăn mừng tại một nhà hàng giảm giá cho những ai trên 65 tuổi. Khi họ thanh toán, họ thấy cô hầu bàn đã tự động giảm giá cho bố tôi – chứ không phải cho mẹ tôi. Trên thực tế, bà ấy phải đưa ra bằng chứng cụ thể để đủ điều kiện được giảm giá.
Mẹ tôi rất thích kể câu chuyện đó.
Tuy nhiên, điều khiến tôi buồn là việc nhận ra rằng mẹ tôi mong chờ đến thế nào khi bước sang tuổi 100 và nhận được một lá thư từ Nữ hoàng (tất nhiên, chính quyền Anh biết tuổi thật của mẹ tôi). Chỉ một tuần sau ngày sinh nhật hoành tráng đó, lẽ ra bà sẽ kỷ niệm 60 năm ngày cưới và nhận được một lá thư khác từ Nữ hoàng. Thật đau thương khi bà ấy đã qua đời trước khi những cột mốc này đến.
Vậy thì điều đó có nghĩa là gì khi mẹ tôi mất nhiều thời gian như vậy để tạo ra, về bản chất, một danh tính mới cho chính mình?
Tôi không chắc chắn sau đó, và giờ tôi vẫn vậy. Sự bịa đặt của bà ấy giống như nhiều bước ngoặt đáng ngạc nhiên và thường gây sốc mà chúng ta thường gặp khi bắt đầu bóc tách các lớp phả hệ. Nó cũng khiến tôi nghĩ về khái niệm danh tính. Trong quá trình nghiên cứu DNA của mình, tôi thường bắt gặp những khoảnh khắc khi dữ liệu tiết lộ một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của một người nào đó – một cuộc tình, một sự ghẻ lạnh, một đứa con ngoài giá thú. Đôi khi tôi có thể thấy rõ những sự kiện này đã thay đổi cuộc đời của một người như thế nào, hướng họ đến số phận này thay vì số phận khác. Tại sao những người này lại làm những điều đó – đây là điều mà tôi thường không thể xác định được. Có phải họ chỉ đơn giản là cố gắng xác định họ là ai và cuộc sống của họ sẽ như thế nào? Thoát khỏi một danh tính mà họ không thấy thoải mái? Mù quáng làm theo bản năng?
Điều này dẫn đến những câu hỏi thậm chí còn lớn hơn: có phải danh tính của chúng ta được xác định chủ yếu bởi DNA của chúng ta – bởi sự lộn xộn của các phân tử, axit, dãy xoắn và mã mang các thông tin di truyền của chúng ta về sự phát triển, chức năng và hành vi?
Hay chúng ta được tự do xác định danh tính và định hình số phận của mình bằng cách tái tạo lại bản thân trên đường đời, hoặc có lẽ bằng cách bớt đi một vài năm trong lịch?
⚝ ⚝ ⚝
Đôi khi, tôi học được rằng, mong muốn được trở thành thành viên của một gia đình có thể là động lực mạnh mẽ và mang tính quyết định nhất trong cuộc đời của một người. Tôi học được điều này từ những vụ án hình sự và trường hợp con nuôi mà tôi làm việc, và từ một câu chuyện trong quá khứ của chính tôi.
9 tháng kể từ ngày máy bay Đức bắn rơi chiếc Spitfire của bố tôi và buộc ông phải hạ cánh xuống một cánh đồng vào năm 1943, bố tôi nhận được một lá thư gửi cho ông tại trại tù Stalag Luft III. Thư từ một người phụ nữ là vị hôn thê của ông ấy, và bà ấy có một tin quan trọng.
Bà ấy nói với ông rằng bố tôi là người bố đáng tự hào của một cậu bé mới sinh.
11 tháng sau, khi bố tôi hồi hương, ông đã cố gắng tìm vị hôn thê của mình và cậu bé mà ông tin là con trai mình. Nhưng một gia đình khác đã nhận nuôi đứa trẻ và việc nhận con nuôi không thể đảo ngược. Về phần cậu bé tên Robin, cậu được kể rằng bố cậu là Jack Rae (bố tôi), một anh hùng chiến tranh đã hy sinh trong chiến đấu.
Nhiều năm sau, khi Robin tròn 21 tuổi, cuối cùng anh cũng được quyền xem hồ sơ nhận con nuôi của mình. Khi lấy được chúng, anh biết được rằng người đàn ông mà anh biết là bố ruột của mình – Jack Rae – thực ra vẫn còn sống và đang sinh sống ở New Zealand.
Robin liên lạc với bố tôi, người lúc đó đã kết hôn với mẹ tôi và có 3 đứa con với bà, trong đó có tôi.
Bố tôi, người thường tiết lộ rằng ông ước đứa con đầu lòng của mình là con trai thay vì tôi, đã rất vui mừng trước phát hiện không thể chối cãi rằng ông thực sự có một đứa con đầu lòng là con trai, và ông rất vui khi nghe tin từ Robin và muốn đưa anh ấy đến New Zealand để sống với chúng tôi. Mẹ tôi hoàn toàn phản đối ý tưởng đó. Tôi nhớ bố mẹ tôi tranh cãi gay gắt về một người tên là Robin, mặc dù tôi không biết người này là ai.
Cuối cùng, mẹ tôi kiên quyết không cho Robin vào nhà của chúng tôi.
Nhưng Robin không bỏ cuộc. Anh ấy tin rằng mình có một người bố là một anh hùng chiến tranh, và anh ấy đã giữ chặt niềm tin đó, gần như liều mạng, trong suốt 30 năm sau đó.
Có lần anh đưa vợ và hai con sang New Zealand để gặp bố tôi, một chuyến thăm không có kết quả tốt đẹp (những đứa trẻ đối xử thô lỗ với mẹ tôi, bà đã đuổi tất cả chúng ra khỏi nhà.) Năm 1980, khi tôi sống ở Texas, Robin đã yêu cầu được gặp tôi. Em trai Grant của tôi lúc đó có một ngôi nhà ở California và em ấy cùng vợ bay tới Texas để ở cùng tôi, và tất cả chúng tôi tiếp đón Robin ở nhà tôi. Robin trông không giống bố tôi chút nào (có điều, anh cao 1m63, trong khi tất cả những người đàn ông họ Rae đều thấp) và tôi nghi ngờ rằng anh có liên quan với chúng tôi.
Vào khoảng năm 2000, Robin đề nghị bố tôi thừa nhận quan hệ bố con của mình. Sự thừa nhận này sẽ cho phép Robin có được quốc tịch New Zealand và chuyển đến đó cùng gia đình. Anh ấy đã gửi cho bố tôi một tờ đơn kiến nghị mô tả chi tiết hoàn cảnh thụ thai của anh ấy, như một bằng chứng rằng anh ấy thực sự là con trai của bố tôi. Khi bố tôi yêu cầu tôi xem xét tờ đơn, tôi gạch bỏ tất cả các bằng chứng mang tính giai thoại của Robin và thay vào đó nói thêm rằng anh ấy phải nộp phí để xét nghiệm DNA trước khi bố tôi đồng ý giúp đỡ anh ấy bằng mọi cách.
Xét nghiệm DNA cho thấy Robin không có quan hệ huyết thống với bố tôi.
Robin làm một thí nghiệm khác để chắc chắn, và cũng cho kết quả như vậy.
Điều đó lẽ ra đã kết thúc vấn đề, nhưng không.
Chẳng hạn, bố tôi đổ lỗi cho tôi vì đã hủy hoại mối quan hệ của ông với Robin và tước đi đứa con trai đầu lòng mà ông luôn mong mỏi. Về phần Robin, anh ấy không chịu từ bỏ ảo tưởng của mình rằng bố anh ấy là một anh hùng chiến tranh, và anh ấy đã để bố tôi ký tên vào đơn kiến nghị xác nhận quan hệ bố con sau lưng tôi. Robin đã đệ trình nó lên tòa án địa phương và tòa án đã chấp thuận nó - mở đường cho Robin xin quốc tịch New Zealand.
Làm thế nào mà anh ấy thuyết phục được bố tôi rằng họ có quan hệ ngay cả sau khi xét nghiệm ADN?
Robin giải thích với bố tôi rằng, ca phẫu thuật bắc cầu mạch vành tim hở đã làm thay đổi DNA của ông – một điều không thể xảy ra – do đó giải thích cho việc thiếu DNA trùng khớp.
Robin thậm chí đã cùng bố tôi tham dự cuộc hội ngộ của các phi công Spitfire và phi hành đoàn của Ohio Hoa Kỳ tại Malta vào năm 2005. Tôi cũng ở đó, và tôi được chứng kiến, ở mọi nơi anh ấy đến, bố tôi tự hào giới thiệu Robin với mọi người là “con trai tôi”, trong khi quên giới thiệu tôi. Nghe bố nói đi nói lại lời nói dối này khiến tôi vô cùng đau lòng. Tôi khó có thể tin rằng ngay cả sau khi khi thấy bằng chứng, ông ấy cũng nuôi dưỡng ảo tưởng ấp ủ rằng đứa con đầu lòng của mình là con trai. Rõ ràng là cả Robin và bố tôi đều muốn bỏ qua xét nghiệm DNA và tiếp tục giấc mơ chung của họ. Ngay cả các em trai của tôi cũng nói với tôi rằng hãy để mọi chuyện qua đi.
Họ nói: “Điều đó làm cho bố hạnh phúc. Đâu có hại gì?”
Nhưng tôi sẽ không làm vậy.
Đối với tôi, đây là lừa lọc, thuần túy và đơn giản. Hơn nữa, ngay cả khi đó, nhiều năm trước khi tôi theo đuổi di truyền phả hệ, tôi vẫn tôn trọng tính thiêng liêng của DNA. Robin có phải là con trai của bố tôi hay không, DNA cho thấy anh ấy không phải. Giả vờ như ngược lại là một hành vi phạm tội mà tôi không thể bỏ qua. Tôi nhờ một người bạn của tôi, một luật sư đang làm việc ở New Zealand, thông báo cho các nhân viên phụ trách nhập cảnh rằng Robin đã thất bại trong xét nghiệm DNA và đơn kiến nghị xác nhận quan hệ bố con của anh ấy là giả mạo. Tôi cũng cung cấp cho họ một bản sao kết quả xét nghiệm DNA. Thế là đủ để bản kiến nghị bị loại bỏ.
Cuối cùng, Robin không bao giờ sống cùng bố tôi ở New Zealand. Nếu anh ấy là con trai của bố tôi, anh ấy sẽ được chào đón. Nhưng sự thật đơn giản là anh ấy không phải như vậy.
Một số bạn có thể nghĩ rằng hành động của tôi hơi khắc nghiệt. Có nguy hại gì không khi cho phép bố tôi và Robin có ảo tưởng của họ? Tôi hiểu rằng bản chất của con người là muốn trải nghiệm những điều mà chúng ta đã bỏ lỡ, những điều mà chúng ta thấy bạn bè của mình đang tận hưởng - những bữa tối vui vẻ trong lễ Tạ ơn những chuyến đi chơi vui vẻ cùng gia đình, sự thân thiết của anh chị em yêu thương, tất cả những điều đó. Tin tôi đi, tôi hiểu sự thôi thúc ấy.
Chỉ là đây có thể là một tưởng tượng phi thực tế và thậm chí có hại. Và điều đó có thể dẫn đến sự đau đớn lần thứ hai của những người đã từ chối bạn những điều này ngay từ đầu. Nó cũng có thể gây nguy hiểm cho gia đình bạn, những người yêu thương và cần bạn lúc này.
Lời nói dối mà mẹ của Robin nói với Robin về quan hệ bố con của anh ấy đã khiến tôi và gia đình tôi tổn thương, nhưng nó cũng khiến Robin không thể biết được sự thật về thân phận của anh ấy.
Cuối cùng, có lẽ, tất cả chúng ta phải tự quyết định ý nghĩa của việc trở thành một gia đình. Gia phả là một công cụ mạnh mẽ có thể kết nối chúng ta với cội nguồn sâu xa nhất của mình và hiểu sâu hơn về gia đình và bản thân chúng ta. Nó có thể làm cho chúng ta giàu có hơn và có nhiều sắc thái cảm xúc hơn. Trong 20 năm qua, tôi tin rằng tôi thực sự được hưởng lợi từ việc hiểu rõ hơn về gia đình và bản thân mình thông qua lăng kính mới của tôi về cấu trúc và động lực gia đình.
Việc truyền lại các đặc điểm nhân dạng qua các thế hệ có thể là một điều thực sự đẹp đẽ và kỳ diệu. Khi còn nhỏ, tôi yêu thích bộ sưu tập của mình về những thứ mà người khác coi là những con côn trùng ghê tởm và gớm ghiếc từ tự nhiên. Sau đó, nhiều năm sau, khi một ngày nọ cậu con trai nhỏ Christopher của tôi về nhà với một con nhện tarantula to và đầy lông lá và tuyên bố đó là thú cưng mới của nó, tôi không hề thắc mắc chuyện quái quỷ gì đang diễn ra trong đầu nó. Tôi biết nó là gì.
Chính lực hút đó đã gắn kết các thành viên trong gia đình với nhau.
⚝ ⚝ ⚝
Vào một đêm mùa xuân ấm áp năm 1992, ở vùng ngoại ô Riverdale lành mạnh của thành phố Salt Lake gần bờ sông Weber, một người đàn ông đột nhập vào một ngôi nhà bình thường.
Kẻ đột nhập, cao và to lớn, bước vào qua một cánh cửa kính trượt. Anh ta lặng lẽ rón rén trong bóng tối cho đến khi tìm thấy một bé gái 11 tuổi trong phòng ngủ của cô bé. Anh ta kề dao vào cổ cô bé và bảo em đừng la hét. Sau đó, anh ta quấn băng keo vải quanh mắt cô bé. Trong khi anh ta giữ lấy em trong im lặng, cô bé có thể nghe thấy tiếng bố mẹ em bước vào bếp và bật đèn lên. Cô nghe thấy tiếng tủ mở và ai đó rót chất lỏng vào ly. Ý nghĩ Ý kỳ lạ của em là cảm giác con dao lướt trên cổ em thật nhẹ nhàng làm sao. Sau đó, em ấy gửi một lời cầu xin thầm lặng tới bất cứ ai trong nhà bếp:
Làm ơn đến phía góc và kiếm con.
Nhưng cũng xin đừng đến phía góc.
“Tôi không biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu họ kiểm tra tôi”, sau này cô nhớ lại đêm đó.
Đèn bếp vụt tắt. Một cửa phòng ngủ đóng lại. Lại là im lặng. Người đàn ông đưa cô bé ra khỏi nhà, lên chiếc Pontiac Firebird của anh ta và chở em đến một bãi đậu xe hoang vắng.
Ở đó, anh ta đã tấn công tình dục cô bé.
“Tôi nghĩ mình sắp chết”, cô nói.
Cô bé, Nichole Eyre, đã sống sót qua nguy hiểm, nhưng nỗi kinh hoàng của đêm đó không bao giờ cô quên được. Đó là nỗi kinh hoàng mà được nhiều người khác biết đến, dưới bàn tay của chính người đàn ông đó. Năm 1991, anh ta chui qua cửa sổ phòng ngủ của một cô gái trẻ và dùng súng hãm hiếp cô; năm 1996 anh ta tấn công một phụ nữ ở Laramie, Wyoming; năm 2001, anh ta đột nhập vào một ngôi nhà, trùm tất da chân lên trên đầu, trói 5 người trong gia đình đó rồi hãm hiếp người mẹ và cô con gái 19 tuổi. Phương pháp của anh ta luôn nhất quán: dùng vũ lực mở cửa kính trượt, trói nạn nhân, dùng dao hoặc súng. Kẻ tấn công đó đã thực hiện ít nhất 11 vụ tấn công tình dục và một vụ giết người, và sau 4 vụ tấn công trong cùng một thành phố, anh ta đã có một biệt danh.
Kẻ hiếp dâm ở Clearfield (The Clearfield Rapist).
Anh ta trở thành một trong những người đàn ông bị săn đuổi và truy nã gắt gao nhất trong cả nước, nhưng anh ta đã trốn tránh được điều tra trong suốt 10 năm phạm tội của mình.
Sau đó, anh ta đã dừng lại.
Cảnh sát đã không ghi nhận được bất kỳ tội ác nào liên quan tới anh ta nữa. Họ cũng không đạt được bất kỳ tiến triển nào trong việc xác định danh tính anh ta. Các thám tử và nhân viên điều tra đến rồi đi, các giả thuyết được phát triển rồi lại bị loại bỏ, nhưng vụ án Kẻ hiếp dâm ở Clearfield đã trở nên nan giải, và con quái vật vẫn còn là một bí ẩn ám ảnh chưa có lời giải trong suốt 3 thập kỷ kéo dài.
⚝ ⚝ ⚝
Lần đầu tiên tôi nghe được từ thám tử Kyle Jeffries của Sở Cảnh sát Thành phố Clearfield vào ngày 4 tháng 10 năm 2017. Thám tử Jeffries đã biết công việc của tôi từ lâu trong vụ án Lisa Jensen, và anh ấy đã liên hệ với tôi vài tháng trước khi bắt được Sát nhân Golden State.
Clearfield là thành phố ở phía bắc Utah, nơi xảy ra 4 vụ gây án của Kẻ hiếp dâm Clearfield. Sở cảnh sát của thành phố bắt đầu một cuộc điều tra đầu tiên vào năm 2000, trong khi loạt vụ án đang xảy ra. Họ thậm chí còn có được lệnh truy tố DNA John Doe – được ban hành cho những kẻ tình nghi chỉ được biết đến qua dữ liệu di truyền của họ như một cách để bắt đầu truy tố chính thức và ngăn chặn việc đi đến hết thời hiệu. Tuy nhiên, một thập kỷ nữa trôi qua mà không có đầu mối nào khả quan, và vụ án trở nên không có lời giải.
Sở cảnh sát Clearfield đã mở lại vụ án vào năm 2012 và sắp xếp để đưa nó lên chương trình truyền hình điều tra tội phạm có thật Cold Justice, hy vọng điều đó sẽ tìm ra được những manh mối mới. Điều đó đã không xảy ra. Vào năm 2017, Bộ đã chỉ định một người mới làm nhân viên điều tra chính trong vụ án Clearfield: thám tử Kyle Jeffries.
“Tôi được Angela Williamson [bên Trung tâm Quốc gia về Trẻ em Mất tích và bị bóc lột] cung cấp thông tin liên lạc của chị”, thám tử Jeffries đã viết cho tôi trong email của anh ấy vào năm 2017. “Tôi điều tra một số vụ cưỡng hiếp nan giải trong vài năm qua và chúng tôi biết có 11 nạn nhân được xác định có liên quan đến DNA của một nghi phạm”.
Thám tử Jeffries tự hỏi liệu tôi có thể giúp đỡ anh ấy không.
Cuối cùng chúng tôi gọi điện và nói về vụ việc. Tin tốt là Jeffries có DNA của kẻ hiếp dâm, và số lượng rất nhiều. Tôi và thám tử đã thảo luận rất nhiều câu hỏi: Liệu DNA từ hiện trường vụ án 25 năm trước có đủ tốt để sử dụng không? Thời gian giữa thời điểm bị hãm hiếp và thu thập mẫu DNA có quá lâu không? Mẫu có được xử lý đúng cách không, cả vào thời điểm lấy mẫu và trong 2 thập kỷ tiếp theo?
Nhưng ngay cả trước khi xác định được những điều đó, chúng tôi phải chuyển DNA tại hiện trường vụ án – trong trường hợp này, có trong bộ kit dùng cho hành vi hiếp dâm thành một tệp SNP có thể tải lên GEDmatch.
Để được giúp đỡ, tôi đề nghị chúng tôi nên tìm đến Giáo sư Ed Green.
Trước đó, tôi mô tả sự xuất sắc của Giáo sư Green trong việc thu thập DNA từ tóc mất chân đã giúp tôi và nhóm Dự án Lisa xác định được ba nạn nhân trong vụ giết người ở Bear Brook. Giáo sư Green vẫn rất thích làm việc với các mẫu pháp y, và ông ấy cũng đồng ý giúp tôi trong vụ án Kẻ hiếp dâm ở Clearfield.
Tôi đề nghị thám tử Jeffries gửi một mẫu DNA tại hiện trường vụ án cho Giáo sư Green để ông ấy có thể tạo một hồ sơ SNP từ DNA chiết xuất từ mẫu tinh dịch. Khi làm việc với các mẫu tóc, ông ấy đã thực hiện Giải trình tự bộ gen, nhưng có một sự khác biệt. DNA của tóc ở dạng các đoạn nhỏ; đối với DNA của tinh dịch, đầu tiên ông ấy phải cắt DNA thành các đoạn nhỏ. Rồi từ đó, các thủ tục là như nhau. Ông ấy đã tốn mất vài tháng, nhưng rồi Giáo sư Green đã quay lại và gửi cho tôi một hồ sơ SNP, mà vào tháng 7 năm 2018, tôi tải lên cả GEDmatch và FamilyTreeDNA.
Vài ngày sau, một danh sách các kết quả trùng khớp đã được đăng trên cả hai trang web. Hầu hết vụ gây án của Kẻ hiếp dâm ở Clearfield đều xảy ra ở Utah và nhiều kết quả trùng khớp đầu tiên của chúng tôi là từ Utah, cho thấy rằng kẻ hiếp dâm có thể đến từ tiểu bang này. Một trong số họ trùng khớp rất cao với kẻ hiếp dâm – một phụ nữ cách tên Alice được ước tính là chị em họ với khoảng gen là 840,6cM. Để so sánh, kết quả trùng khớp cao nhất từng xuất hiện trong vụ án Sát nhân Golden State là anh em họ đời thứ hai, vì vậy việc có một người anh chị em họ ruột trong số các kết quả trùng khớp đầu tiên mà chúng tôi có thực sự là một điều tuyệt vời.
Hoặc vì tôi nghĩ vậy.
Chúng tôi nghiên cứu về Alice và một trong những thành viên trong nhóm của tôi, Cynthia Stormer, đã tìm thấy một thông cáo nhỏ do con trai của Alice đăng trên trang phả hệ. Thông cáo đề cập đến hồ sơ nhận con nuôi ở Ohio của mẹ anh ấy. Hóa ra, người trùng khớp ở mức chị em họ ruột đầu tiên mà chúng tôi có đã được nhận nuôi. Cô biết ai là mẹ ruột của mình nhưng không biết bố ruột của mình. Chúng tôi xác định được dòng họ ngoại của cô ấy nhưng nó không có mối quan hệ với bất kỳ người có kết quả trùng khớp nào khác với DNA tại hiện trường vụ án của chúng tôi, điều đó có nghĩa là rất có thể mối quan hệ đó đến từ dòng họ nội của cô ấy.
Đó là tin xấu số 1.
Thám tử Jeffries đã liên hệ với các cán bộ ở Ohio và đề nghị họ cung cấp hồ sơ nhận con nuôi của Alice, trong đó có tên khai sinh của cô ấy và chúng tôi hy vọng có cả tên bố ruột của cô. Nhưng một cán bộ nói với Jeffries rằng tòa nhà chứa những hồ sơ nhận con nuôi đó đã bị cháy hết.
Tin xấu số 2.
Thông tin hữu ích duy nhất mà Alice có thể chia sẻ với chúng tôi khi thám tử Jeffries phỏng vấn cô ấy là một ký ức mà cô ấy có từ lâu lắm rồi – họ khai sinh của cô ấy, cô ấy nhớ lại, có thể là Burns, mặc dù cô không chắc lắm.
Chúng tôi cũng được biết rằng con trai của Alice, Travis, đã xét nghiệm DNA tại Ancestry. com. Nếu thám tử Jeffries có thể thuyết phục Travis giúp tôi bằng cách chia sẻ các kết quả trùng khớp của anh ấy trên Ancestry với tôi, tôi có thể lục tung trang web để xác định bất kỳ kết quả trùng khớp nào với anh ấy nhưng không trùng khớp với họ hàng bên nội của anh và yêu cầu họ tải hồ sơ DNA của mình lên GEDmatch, để cung cấp cho tôi các điểm dữ liệu bổ sung cho cây phả hệ tự biện mà tôi đang xây dựng. Điều này sẽ giúp tôi xác định được bố của Alice, điều này cũng sẽ giúp tôi xác định được kẻ hiếp dâm Clearfield. Những người anh chị em họ ruột sẽ có chung ông bà, vì vậy kẻ hiếp dâm Clearfield phải là con trai của một trong những anh chị em ruột của bố Alice.
Trong khi thám tử Jeffries tranh thủ sự giúp đỡ của Travis, tôi nghiên cứu về kết quả trùng khớp cao tiếp theo của chúng tôi, Mary, một người chị em họ xa hơn.
Tôi xác định được hai người có quan hệ họ hàng với Mary (Carl và Bertha), đồng thời xác định được tổ tiên chung tồn tại gần đây nhất cho những người này, Edward. Về mặt lý thuyết, bước tiếp theo sẽ là xây dựng các nhánh hậu duệ của Edward.
Nhưng có một vấn đề khác.
Cả Carl và Bertha đều đến từ Utah và cả hai đều là bố mẹ của nhiều người con. Đối với MRCA, Edward có 4 người vợ; ông thực hiện chế độ đa thê và ông cùng 4 người vợ đã có chung 25 người con, có thể họ đã có gia đình riêng. Xây dựng lại tất cả các dòng dõi hậu duệ của MRCA sẽ đòi hỏi khối lượng công việc và thời gian làm việc đặc biệt nhiều, gần như không thể đo lường được.
Tin xấu số 3.
Tôi biết rằng có thể có những thách thức khi làm việc với các gia đình ở Utah, nhưng trước đây tôi chưa từng gặp số lượng hậu duệ nhiều đến nản chí như vậy (số lượng hậu duệ mà tôi sẽ tìm kiếm lên tới hàng nghìn). Tôi chỉ có thể đoán xem sẽ mất bao lâu để xây dựng dù chỉ một phần nhỏ của những nhánh đó – khoảng thời gian không được tính bằng ngày hoặc tuần mà bằng tháng và có thể bằng năm. Một trong những thành viên trong nhóm của tôi trong vụ này là một tín đồ Mormon, người thường làm việc với các vụ án bên ngoài Utah, và cô ấy hiểu cảm giác của tôi. “Chào mừng đến với thế giới của tôi”, cô nói.
Tuy nhiên, có vẻ như tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc ít nhất là cố gắng sắp xếp qua vô số hậu duệ này. Thông qua thám tử, tôi đề nghị các mẫu DNA chấp thuận tham khảo từ một vài người thuộc một trong những nhánh có vẻ hứa hẹn hơn, nhưng họ đều không trùng khớp với kẻ hiếp dâm ở Clearfield. Ngay từ đầu, tôi nhận ra rằng mình phải rất may mắn mới đi đúng hướng, nếu không, cuộc điều tra sẽ bị chậm lại một cách vô vọng. Tôi quyết định tạm thời từ bỏ nghiên cứu về gia đình Edward và thay vào đó tập trung vào việc tìm ra ai là bố của Alice bằng cách sử dụng các kết quả trùng khớp từ AncestryDNA của Travis
Thật không may, Travis có vẻ khá miễn cưỡng khi giúp đỡ chúng tôi. Thông qua thám tử Jeffries, tôi đề nghị với anh ấy – tôi sẽ giúp xác định ông bà ngoại cho anh ấy, đó là điều mà anh ấy đang cố gắng làm, nếu anh ấy chia sẻ các kết quả trùng khớp từ AncestryDNA của mình với tôi.
Cuối cùng, cũng có một tin tốt đẹp: Travis đã đồng ý với thỏa thuận.
Và rồi – lại lần nữa, một cải tiến công nghệ mới lại xuất hiện đúng lúc. Công cụ mới này được gọi là What Are The Odds? (WATO). Sử dụng lượng DNA trùng khớp mà một người chưa xác định danh tính có với nhiều người khác nhau trong cây phả hệ tự biện, WATO tính toán tỷ lệ về vị trí trong cây phả hệ tự biện mà người chưa xác định danh tính có thể phù hợp – chính xác là điều tôi cần để tìm ra ai là Alice và ai là kẻ hiếp dâm ở Clearfield.
Giải quyết vấn đề bố của Alice là ai sẽ giúp tìm ra ai là kẻ hiếp dâm ở Clearfield, vì vậy tôi bắt đầu với dự án đó. Alice không có nhiều kết quả trùng khớp cao trên FTDNA, nhưng Travis có rất nhiều người thuộc nhánh bên ngoại trùng khớp cao trên AncestryDNA. Một trong những người có kết quả trùng khớp thuộc cây phả hệ tôi xây dựng là Nettie. Cô ấy trùng khớp ở mức quan hệ là chị em họ ruột cách nhau 1 đời với Travis, vì vậy cô ấy sẽ là chị em họ ruột của Alice.
Và rồi nó đã xuất hiện. Họ của ông ngoại Nettie là Burns. Burns! Đó là tên họ mà Alice đã nghĩ có thể là họ khai sinh của mình.
Tôi quyết định gian lận một chút trên WATO. Nếu cả Alice và Travs đều có trên AncestryDNA, thì về mặt lý thuyết, Alice sẽ có số lượng DNA trùng khớp nhiều gấp đôi so với số lượng DNA trùng khớp của Travis với các nhánh bên ngoại của anh ấy. Vì vậy, tôi điền các kết quả trùng khớp trên AncestryDNA của Travis vào cây phả hệ tự biện giống như những kết quả trùng khớp với Alice và nhân đôi số lượng DNA trùng khớp. Ví dụ, độ trùng khớp của Travis với Nettie là 426cM. Trong cây phả hệ tôi điền là trùng khớp 852cM với Alice.
Tiếp đó, tôi nhập cây phả hệ tự biện của Alice và thông tin trùng khớp vào WATO. WATO ước tính rằng vị trí có tỷ lệ cao nhất đối với Alice trên cây là cháu gái của Joseph Burns. Joseph và vợ của ông có 3 người con trai, George, John và James, cùng 4 người con gái, một trong số đó là mẹ của Nettie. Bố của Alice là người anh em trai nào? Alice sinh năm 1947 và tôi ước tính rằng Kẻ hiếp dâm ở Clearfiled sinh vào khoảng năm 1971. George và John lần lượt sinh năm 1925 và 1927, nhưng James thì mãi đến năm 1937 mới ra đời – quá trẻ để có thể trở thành bố của Alice. Về mặt lý thuyết thì George hoặc John sẽ là bố của Alice.
Theo cáo phó của George, ông qua đời ở tuổi 42 và không có con cái.
James có thể là bố của Kẻ hiếp dâm ở Clearfield nếu anh ta sinh năm 1971, nhưng anh ấy không có con trai, chỉ có con gái.
Tôi nghiên cứu về người anh em trai thứ ba, John Burns, và tìm thấy tên của đứa con trai duy nhất được liệt kê của anh ấy: Rex. Lúc đó, thám tử Josh Carlson, một nhân viên mới của Sở Cảnh sát Thành phố Clearfield, đã tiếp quản vụ án từ thám tử Jeffries. Thám tử Carlson đã lấy được ảnh bằng lái xe của Rex. Nếu Rex giống với bản phác thảo của cảnh sát về kẻ hiếp dâm, có vẻ như chúng tôi sẽ tìm ra người đàn ông mình muốn. Kẻ hiếp dâm ở Clearfield, phải là Rex.
Tuy nhiên, Rex trông không giống bất kỳ điểm gì với các bản phác thảo tổng hợp, thậm chí rất khác.
Đó là một khoảnh khắc gây chán nản – tất cả chúng tôi chờ đợi khoảnh khắc khám phá ấn tượng mà dường như chúng tôi sắp sửa đạt được. Nhưng tôi không cho phép bản thân quá mất tinh thần. Tôi có đủ kinh nghiệm từ những vụ án hình sự lớn khác mà tôi tham gia để hiểu rằng những khúc mắc và thất bại chỉ đơn giản là một phần của cuộc chơi. Câu hỏi đúng đắn cần đặt ra là: bước thụt lùi này cho chúng ta biết điều gì về điều cần tìm tiếp theo?
Kết luận rõ ràng nhất là một người nào đó đã bị thiếu trong cây phả hệ tự biện của chúng tôi. Theo cây phả hệ, John là người anh em trai duy nhất có con trai và Rex là con trai duy nhất của John Burns; không có ai khác trong nhánh phù hợp với hồ sơ. Nếu cây phả hệ của chúng tôi đúng thì đây là hậu duệ nam duy nhất nên anh ta phải là kẻ hiếp dâm Clearfield.
Nhưng rõ ràng, anh ta không phải. Điều đó chỉ có thể có một ý nghĩa.
Tôi gọi cho thám tử Carlson và nói, “Phải có một người đàn ông khác trong gia đình này”. Một ai đó, vì bất cứ lý do gì, đã không xuất hiện.
Chúng ta cần thám tử Carlson lấy mẫu DNA từ Rex. Đó sẽ không phải là một mẫu chấp thuận – chúng tôi không thể mạo hiểm tiếp cận trực tiếp người đàn ông này vì anh ta có khả năng là họ hàng gần với kẻ hiếp dâm thực sự ở Clearfield. Thay vào đó, thám tử Carlson kêu gọi thu DNA một cách bí mất. Các nhân viên của anh ấy đã phát hiện ra Rex và nhặt lấy miếng rác họ đã theo dõi thấy anh ta vứt bỏ một cách kín đáo. Họ đã thu thập một số vật phẩm và sử dụng DNA thu được từ các vật phẩm thông qua cơ sở dữ liệu tội phạm rộng rãi của FBI, CODIS.
Để thành công với CODIS thì cần phải có một nhân dạng giống hệt nhau. Với Rex thì không có điều đó. Cũng giống như việc không có bất kỳ điểm tương đồng nào với bản phác thảo của cảnh sát đã gợi ý, Rex không phải là Kẻ hiếp dâm Clearfield.
Điều này cũng vô cùng gây thất vọng. Cảnh sát trưởng đã đưa ra quyết định lấy mẫu DNA chấp thuận từ Rex và gửi nó cho FamilyTreeDNA.
Bây giờ chúng tôi có DNA của Rex, nó sẽ chỉ ra chính xác ai đã mất tích trên cây phả hệ của chúng tôi. Khi mẫu được xử lý xong, kết quả một lần nữa khẳng định điều chúng tôi biết: Rex không phải là kẻ hiếp dâm Clearfield.
Nhưng – chúng tiết lộ rằng Rex là anh em cùng cha khác mẹ của kẻ hiếp dâm.
Đây là một bước đột phá lớn. Bây giờ chúng tôi biết rằng có một người anh em cùng cha khác mẹ ngoài kia, người chưa được xác định danh tính trong nghiên cứu của chúng tôi nhưng đã tồn tại và người đó phải là Kẻ hiếp dâm ở Clearfield. Nhưng làm thế nào chúng tôi tìm thấy anh ta?
Chúng tôi nghiên cứu về bố của Rex, John Burns, và được biết rằng ông ấy từng là một tài xế xe tải đường dài. Đó không phải là tin tốt nhất, vì điều đó có nghĩa là ông ấy có thể có một đứa con ở bất cứ đâu dọc theo bất kỳ tuyến đường vận tải nào ông ấy đi qua. Chúng tôi xem cáo phó của John Burns, nhưng nó không đề cập bất cứ điều gì về người anh em cùng cha khác mẹ bí ẩn mà chúng tôi tìm kiếm hoặc nêu tên bất kỳ đứa con nào không được biết đến.
Cáo phó đã đề cập rằng, một trong những người con trai của Burns đã qua đời trước ông. Chúng tôi điên cuồng tìm kiếm bất kỳ tài liệu tham khảo nào khác về người con trai đã mất này và chúng tôi tìm thấy một bản cáo phó khác.
Cáo phó này cho biết đứa con trai đã chết khi mới hai tháng rưỡi tuổi.
Tuy nhiên, cáo phó cũng cho biết người con trai đó đã chết nhưng một người anh em cùng cha khác mę vẫn còn sống sót.
Anh ta ở đó – người anh em cùng cha khác mẹ đã mất tích.
Cáo phó thậm chí còn liệt kê tên của người anh em cùng cha khác mẹ này: Mark Douglas Burns.
Chúng tôi nghiên cứu về Mark Burns và có hai khám phá đáng chú ý.
Đầu tiên là anh ta cũng là một tài xế xe tải đường dài, và tuyến đường chính của anh ta là Xa lộ Liên tiểu bang 80 – đường cao tốc xuyên lục địa đi qua Utah, Wyoming và Idaho. Tất cả các nạn nhân bị hãm hiếp đã biết đều sống trong các khu chung cư dọc theo Xa lộ Liên tiểu bang 80.
Một thực tế gây sốc khác: vào năm 1974, Mark Douglas Burns bị kết tội và bị kết án tử hình trong phòng hơi ngạt ở Bắc Carolina. Các luật sư của anh ta đã đệ trình một số kháng cáo dựa trên luật giảm án tử hình cho những tội phạm sau một ngày nhất định. Burns đã phạm tội trước ngày đó, nhưng các luật sư của anh ta vẫn kháng cáo và một thẩm phán đã bỏ bản án tử hình. Burns đã mãn hạn tù và cuối cùng được trả tự do và trở về nhà của mình ở Utah.
Tội ác đã đưa anh ta vào Death Row là gì? Hiếp dâm.
Thám tử Carlson đã sắp xếp để thẩm vấn Mark Douglas Burns ngay khi anh ta trở về nhà sau một chuyến vận chuyển bằng xe tải. Vào ngày 25 tháng 9 năm 2019, 2 năm sau lần đầu tiên tôi được thám tử Jeffries liên lạc, các sĩ quan từ Sở Cảnh sát tại Clearfield đã tập trung bên ngoài cửa trước ngôi nhà ngoại ô dễ chịu của Burns ở Ogden, Utah, đồng thời bật camera trên người. Thám tử Steve Swenson gõ cửa, và vài giây sau, một người đàn ông lớn tuổi mặc quần jean xanh, áo phông đỏ và đi tất xám ra mở cửa.
“Anh là Mark?” Anh hỏi.
“Đúng?”
“Xin chào, tôi là thám tử Swenson, anh thế nào rồi?”
“Tôi khỏe, còn anh?”
“Này, tôi cần anh đến nói chuyện với tôi một phút”,Swenson nói, ra hiệu cho Burns bước ra ngoài.
“Được thôi”, Burns nói.
“Chúng tôi cần đưa anh đến sở cảnh sát cùng chúng tôi, tôi có một số câu hỏi cho anh và tôi có một nhân viên điều tra khác muốn nói chuyện với anh”.
“Về cái gì?”
“Ừ, anh biết đấy, tôi không biết”.
Thám tử Swenson khám xét Burns, và một nhân viên điều tra khác vào nhà anh ta để lấy đôi giày quần vợt Nike màu xanh của anh ta từ tủ quần áo cạnh tường phòng ngủ và chìa khóa nhà của anh ta từ một cái giỏ trên tủ quần áo trong phòng ngủ của anh ta.
“Đây là chuyện gì?” Burns hỏi lại. “Anh thực sự đang còng tay tôi sao?”
“Tôi phải làm như vậy”, thám tử Swenson nói. “Tôi không có lựa chọn nào khác”.
Cảnh sát đã kết luận chắc chắn rằng Mark Douglas Burns có liên quan đến 11 vụ tấn công tình dục từ năm 1991 đến 2001. Nạn nhân lớn tuổi nhất là 52 tuổi, nạn nhân trẻ tuổi nhất là 11 tuổi. Vào tháng 2 năm 2020, Burns đã nhận tội với 17 tội danh – bao gồm 8 tội danh tấn công tình dục nghiêm trọng và 6 tội danh bắt cóc nghiêm trọng nữa (thời hiệu đã hết hiệu lực đối với một số tội ác trước đó của anh ta và ban đầu anh ta chỉ bị buộc tội vì những tội ác đã phạm từ năm 2000 đến 2001).
“Bộ não của tôi không hoạt động bình thường”, Burns tuyên bố trong phiên tuyên án vào tháng 4 năm 2020. “Tôi là một kẻ lệch lạc về tình dục. Tôi là một kẻ săn mồi. Tôi có một ham muốn không thể cưỡng lại được. Nó không thể thỏa mãn được… Tôi chưa bao giờ thừa nhận điều đó với bất kỳ ai”.
Burns cũng bày tỏ nguyện vọng mong anh ta được giảm án tử hình. “Nhận tội và đi tù không sửa chữa được những gì tôi làm”, anh ta nói. “Tôi sẽ đề nghị tòa án đừng thương xót tôi, bởi tôi không xứng đáng”.
Điều ước cuối cùng của Burns đã không được thực hiện. Thay vào đó, Thẩm phán Quận hạt, Davis John Morris đã kết án Burns 14 thời hạn 16 năm tù giam, cộng thêm 3 thời hạn 6 năm tù giam, tất cả sẽ phải thi hành lần lượt – tổng mức án là 242 năm tù.
Nhưng thế không phải tất cả. Trong quá trình điều tra, cảnh sát biết được rằng Burns không nhất định đã dừng chuỗi gây án của mình vào năm 2001. Trên thực tế, vào năm 2001, anh ta đã nghỉ việc ở công ty mà anh ta từng làm việc và gia nhập một công ty khác để anh ta có một tuyến đường vận tải mới, mở ra cơ hội rằng có những tội ác khác của anh ta chưa được kết tội. Khi thẩm vấn, Burns đã thú nhận nhiều vụ cưỡng hiếp khác, cũng như việc anh ta tham gia vào một vụ án nan giải kéo dài gần 2 thập kỷ – vụ giết người tàn ác của Sue Ellen Gunderson Higgins năm 2001 ở Evanston, Wyoming. Anh ta nói với cảnh sát rằng anh ta đã “chán” những vụ hãm hiếp và chuyển đến Evanston để thực hiện một vụ cướp có vũ trang. Burns quan sát Sue Ellen, 28 tuổi, tấp vào đường lái xe của nhà cô ấy, sau đó gõ cửa nhà cô ấy với tư cách là một thành viên phòng thương mại đã đánh mất bút. Bên trong nhà, Burns đã bắn vào đầu Sue Ellen trước khi lấy trộm một số tiền và thẻ tín dụng – tất cả xảy ra trong khi đứa con trai 2 tuổi của cô đang chơi ở sân sau.
Vào tháng 12 năm 2020, Thẩm phán Joseph Bluemel ở Wyoming đã tuyên cho Burns thêm một bản án tù chung thân vì tội giết Sue Ellen Higgins. Ông ấy cũng lệnh cho Burns trả số tiền 7.200 đô la cho gia đình nạn nhân của anh ta, để trang trải chi phí cho đám tang của Sue Ellen và thay tấm thảm đẫm máu trong nhà cô.
Vụ án Kẻ hiếp dâm ở Clearfield vẫn là một trong những vụ án khó khăn và phức tạp mà tôi từng tham gia. Đã có lúc tưởng chừng như một giải pháp có thể mãi mãi nằm ngoài tầm với. Tuy nhiên, lúc đó, tôi học được cách tin tưởng vào DNA. DNA giống như một sợi dây leo trên một ngọn núi vô cùng dốc: nếu chúng ta cứ bám theo nó và kéo lấy nó, thì cuối cùng nó sẽ đưa chúng ta lên đến đỉnh. Và, một lần nữa, nó đã làm được như vậy.
⚝ ⚝ ⚝
Tôi vẫn đang điều tra các vụ tấn công tình dục ở Clearfield khi Sát nhân Golden State bắt vào vụ bắt giữ tháng 4 năm 2018 – và khi hậu quả từ Joseph DeAngelo đã làm rung chuyển lĩnh vực di truyền phả hệ đến tận cốt lõi của nó.
Việc bắt được một kẻ giết người hàng loạt khét tiếng như vậy sau 40 năm sẽ trở thành tin tức quốc tế bất kể phương pháp nào được sử dụng để tìm ra hắn, nhưng ngay từ đầu, câu chuyện các phương tiện truyền thông đưa tin chỉ là về cách chúng tôi tìm ra hắn cũng như về sự thật rằng cuối cùng anh ta đã bị bắt. Tiết lộ rằng cơ quan thực thi pháp luật đã sử dụng các trang web di truyền phả hệ phổ biến để xác định DeAngelo đã thu hút một cơn bão quan tâm chú ý đến vụ án.
How a Genealogy Site Led to the Front Door of the Golden State Killer (tạm dịch: Làm thế nào mà một trang về phả hệ đã chỉ dẫn đến trước cửa nhà của Sát nhân Golden State), New York TIMEs công bố.
What the Golden State Killer Case Means for Your Genetic Privacy (tạm dịch: Vụ án Sát nhân Golden State có ý nghĩa gì đối với quyền riêng tư về gen của bạn), một tiêu đề của Reuters.
Một bài báo khác tuyên bố: Want to See My Genes? Get a Warrant (tạm dịch: Bạn muốn xem gen của tôi? Hãy lấy lệnh yêu cầu).
Và từ tờ Washington Post: The Ingenious and Dystopian Technique Police Used to Hunt the Golden State Killer Suspect (tạm dịch: Kỹ thuật tinh vi và khủng khiếp mà cảnh sát sử dụng để săn lùng nghi phạm là Sát nhân Golden State.)
Khủng khiếp? Phản ứng ban đầu của giới truyền thông về vụ bắt giữ cho thấy chúng tôi vượt qua một ranh giới đạo đức hiểm họa nào đó mà không bao giờ có thể vượt qua được. Tôi rất ngạc nhiên trước phản ứng này, mà tôi tin rằng đã nói quá. Như tôi viết trước đó, tôi thấy cách công nghệ mới có thể tạo ra những phản ứng cảm xúc mà không phải lúc nào cũng phù hợp với thực tế hiện tại. Ví dụ, không phải là chúng tôi phát minh ra một kỹ thuật DNA mới để tìm ra kẻ sát nhân tôi sử dụng Phương pháp luận do DNAAdoption. org phát triển trong nhiều năm trong các trường hợp xác định bố mẹ cho con cái của mình, không có bất kỳ tranh cãi nào. Sự phát triển mới duy nhất là chúng tôi sử dụng kỹ thuật này để xác định một nghi phạm tội phạm bạo lực chứ không phải bố mẹ ruột thịt không xác định.
Trong vài tuần và vài tháng sau khi DeAngelo bị bắt, những câu hỏi ban đầu đã phát triển thành một cuộc tranh cãi hoàn toàn.
Trong một bài báo năm 2019 có tựa đề The Messy Consequences of the Golden State Killer Case (tạm dịch: Hậu quả lộn xộn của vụ án sát nhân Golden State), tạp chí The Atlantic tuyên bố: “Các công cụ nhằm mục đích đoàn tụ các gia đình hiện đang được ‘dùng để khiến các gia đình tống các thành viên của họ vào tù’”, trích lời một nhà phả hệ có kinh nghiệm. Một số bài báo cho rằng chúng tôi vi phạm điều Bốn trong tu chính hiến pháp – quyền của mọi người được đảm bảo an toàn về người, nhà ở, giấy tờ và tài sản của họ, chống lại các cuộc khám xét và tịch thu vô lý – bằng cách truy cập dữ liệu trên các trang phả hệ. Phản ứng ngược đối với các trang di truyền phả hệ cũng khắc nghiệt không kém. Các nhà phê bình nắm bắt được thực tế là người dùng trang web không được thông báo rằng dữ liệu DNA của họ có thể được sử dụng bởi cơ quan thực thi pháp luật.
Vào tháng 5 năm 2019, các phóng viên được biết rằng GEDmatch đã giúp các nhân viên điều tra trong một vụ án khác theo cách vi phạm Điều khoản dịch vụ sửa đổi của trang web. Các điều khoản mới này chỉ cho phép nhân viên pháp luật sử dụng trang web trong các trường hợp liên quan đến tội phạm bạo lực hoặc nhận dạng hài cốt người chưa xác định danh tính và chỉ khi các hồ sơ thực thi pháp luật được xác định như vậy.
Trong một vụ mới được báo cáo, GEDmatch đã cho phép phòng xét nghiệm DNA tải tệp lên GEDmatch để họ có thể sử dụng điều tra di truyền phả hệ để xác định nghi phạm đã tấn công một phụ nữ lớn tuổi trong nhà thờ. Vụ tấn công tuy đẫm máu nhưng không gây chết người, nạn nhân cũng không bị cưỡng hiếp. Về mặt chuyên môn, vụ tấn công không phải là một trong hai tội phạm được phép tải DNA tại hiện trường vụ án lên GEDmatch.
Curtis Rogers, người đồng sáng lập GEDmatch, đã giải thích quyết định tiếp nhận vụ án của mình bằng cách nói: “Chà, nhìn này, anh ta không giết cô ấy nhưng anh ta cách đó chỉ vài inch. Tôi sẽ bỏ qua điều đó lần này thôi”.
Những lời chỉ trích sau đó không đặc biệt lan rộng, nhưng đủ dữ dội để khiến Rogers thực hiện một thay đổi lớn đối với GEDmatch vào tháng 5 năm 2018.
Trước những lời chỉ trích, người dùng GEDmatch đã tự động được gia nhập để giúp thực thi pháp luật khi đăng ký. Rogers đã loại bỏ tính năng đó và tự động loại bỏ mọi người dùng trong cơ sở dữ liệu. Giờ đây, người dùng phải tự mình chọn tham gia để cho phép dữ liệu của họ khớp với các tập của công việc thực thi pháp luật.
Qua một đêm, hàng loạt hồ sơ DNA có sẵn để đối sánh thông qua GEDmatch đã giảm từ hơn 1 triệu xuống còn chính xác bằng 0.
May mắn thay, ngay trước khi điều đó xảy ra, Gene by Gene, công ty mẹ của FamilyTreeDNA đã thay đổi Điều khoản Dịch vụ để cho phép tải các tệp pháp y lên cơ sở dữ liệu của mình. Điều đó có nghĩa là ngay cả sau khi GEDmatch chọn tất cả người dùng của mình không tham gia hỗ trợ cơ quan thực thi pháp luật, chúng tôi vẫn có một cơ sở dữ liệu tốt để làm việc. Mặc dù vậy, có vẻ như rõ ràng là cánh cửa cơ hội đặc biệt đã mở ra cho cơ quan thực thi pháp luật vào năm 2017 với công việc của chúng tôi về vụ án Lisa Jensen, lần đầu tiên, bắt đầu đóng lại.
Động thái này của GEDmatch đã gây ra tranh cãi trong cộng đồng phả hệ, nhưng thiệt hại đã xảy ra – một trang web vô cùng hữu ích đối với tôi trong vụ án nan giải của mình, đột nhiên, không còn nữa. Có, người dùng có tùy chọn để chọn tham gia và cung cấp dữ liệu của họ giúp đối sánh với cơ quan thực thi pháp luật và nhiều người đã làm như vậy – tôi được biết cho đến nay đã có khoảng 350.000 người dùng đã cho phép bằng cách “chọn tham gia”. Nhưng đây vẫn chỉ là một phần nhỏ so với số lượng người dùng có hồ sơ DNA trước đây để so khớp. Điều tra di truyền phả hệ là một trò chơi số. Tuy nhiên, bạn đã thấy đó, đây là một trở ngại lớn.
Không lâu sau, một cuộc tranh cãi khác nổ ra. Trang tin tức BuzzFeed đã đưa tin – lần đầu tiên – rằng Bennett Greenspan và trang web của công ty anh ấy, FamilyTreeDNA, đang làm việc với FBI về vụ án Sát nhân Golden State mà không thông báo cho người dùng. Bennett bị chỉ trích nặng nề vì đã bí mật thay đổi Điều khoản dịch vụ của trang web để phù hợp với cơ quan thực thi pháp luật và vì đã đích thân cho phép luật sư Steve Kramer của FBI tải hồ sơ DNA của Sát nhân Golden State lên Family TreeDNA.
Cuối cùng, Bennett cũng đã thực hiện các thay đổi, mặc dù không quyết liệt như những thay đổi do GEDmatch thực hiện – người dùng FamilyTreeDNA ở Hoa Kỳ tự động được chọn tham gia đối sánh theo luật nhưng cũng có cơ hội lựa chọn từ chối. Những thay đổi cũng quy định rằng các tệp bên thực thi pháp luật sẽ chỉ được tải lên FamilyTreeDNA sau khi được xem xét chính thức trên cơ sở từng trường hợp cụ thể và chỉ dành cho các vụ giết người, tấn công tình dục, bắt cóc trẻ em hoặc xác định danh tính hài cốt của con người.
Tôi không nhận ra điều đó trong 2 năm đầu làm việc với cơ quan thực thi pháp luật, nhưng những năm đó là khoảng thời gian độc nhất vô nhị đối với những người điều tra di truyền phả hệ như tôi. Số lượng người đăng ký các trang web di truyền phả hệ ngày càng tăng như GEDmatch và FamilyTreeDNA đã tăng tỷ lệ trùng khớp với các thành viên ruột thịt trong gia đình và khiến việc bắt giữ những tên tội phạm như Sát nhân Golden State trở nên khả thi, cụ thể là bằng cách phơi bày lỗ hổng mà những tên tội phạm này thậm chí còn không biết mình có, và cũng không thể thoát khỏi: cấu trúc di truyền của bọn họ.
Tuy nhiên, đột nhiên, lỗ hổng đó đã giảm đi đáng kể và vẫn còn phải xem liệu chúng ta có thể có một lượng lớn các kết quả trùng khớp tiềm năng với DNA của thủ phạm tội ác bạo lực một lần nữa hay không.
Nhưng không chỉ những thay đổi tại Famiy TreeDNA và GEDmatch mới tác động đến việc chống tội phạm khi sử dụng IGG, mà còn là những thay đổi trong Điều khoản dịch vụ tại các công ty như MyHertage, sau vụ án Sát nhân Golden State, đã thay đổi điều khoản dịch vụ của họ thành cấm tải lên các tệp DNA với mục đích phá án. Kết quả trùng khớp là công cụ trong tìm ra Sát nhân Golden State là ai và được lấy từ đâu? Trên MyHeritage. Nếu tôi bắt đầu tìm kiếm Sát nhân Golden State theo các hạn chế hiện tại – và giả sử không có kết quả trùng khớp đáng kể mới nào đột nhiên xuất hiện trên FamilyTreeDNA hoặc GEDmatch (nơi họ sẽ tự chọn để tham gia) – thì tôi sẽ không thể xác định được Joseph James DeAngelo ngày hôm nay.
⚝ ⚝ ⚝
Tất cả những tin tức ban đầu về vụ bắt giữ DeAngelo đều không nhắc đến tên tôi, vì tôi yêu cầu giấu tên. Tuy nhiên, có 3 điều đã xảy ra khiến tôi phải xem xét lại việc ẩn danh.
Trong những tháng sau khi DeAngelo bị bắt, các nhà phả hệ khác đang làm việc trong các vụ án hình sự khác nhau đã bước ra ánh đèn sân khấu để thảo luận về công việc của họ. Nếu họ không sợ công khai, tại sao tôi phải sợ?
Sau đó, một ngày nọ, con trai Christopher của tôi đến gặp tôi và nói với tôi rằng, cậu tin cuối cùng tôi nên bước ra và thừa nhận vai trò của mình trong việc giải quyết vụ án.
“Mọi người cần biết mẹ đã làm gì”, cậu nói đơn giản.
Tôi cảm động trước niềm tự hào của cậu con trai dành cho tôi, và tôi nhận được rất nhiều sức mạnh từ điều đó. Nếu Christopher không sợ tôi công khai việc tôi tham gia vào việc xác định danh tính Joseph DeAngelo, thì tại sao tôi phải sợ? Có con trai bên cạnh, sẵn sàng đối mặt với bất cứ điều gì xảy ra tiếp theo, đã tạo ra tất cả sự khác biệt trên thế giới đối với tôi.
Trên hết, tôi nhận được một cuộc gọi từ Cảnh sát Peter Headley. Anh vừa xem một bài thuyết trình trong đó một nhà phả hệ khác dường như cho thấy rằng cô ấy đã giải quyết vụ án Sát nhân Golden State. Trong cuộc gọi của mình, Headley nhấn mạnh rằng tôi cần phải công khai và nói ra sự thật. Cuối cùng tôi nói với anh ấy rằng tôi đồng ý với việc công khai danh tính, và anh ấy đã liên lạc với Paul Holes. Paul đã gửi một tweet vào ngày 22 tháng 8 năm 2018:
Nhà di truyền phả hệ đã giúp tìm ra #Sát nhân Golden State đã cho phép tôi tiết lộ tên của cô ấy – Barbara Rae-Venter. Nếu không có sự giúp đỡ của Barbara, có lẽ chúng tôi vẫn đang xây dựng cây phả hệ. Cô ấy đã giúp chúng tôi xây dựng cây và chuyên môn của cô ấy là vô giá.
Và như vậy đó. Đột nhiên, các phóng viên gọi tới. Các đề nghị phát biểu tại các sự kiện và diễn đàn đổ về. Tạp chí Nature đã ghi tên tôi vào danh sách “10 người quan trọng trong ngành khoa học năm 2019” của họ. Tạp chí TIME đã đưa tôi vào danh sách “100 người có ảnh hưởng nhất” năm 2019. Trong bài viết của TIME về tôi, Paul Holes được trích dẫn nói rằng “cô ấy đã cung cấp cho cơ quan thực thi pháp luật công cụ mang tính cách mạng nhất kể từ khi xét nghiệm pháp y ra đời vào những năm 1980.
Tất cả điều này cực kỳ tâng bốc và vượt xa bất kỳ phản ứng nào mà tôi từng tưởng tượng. Điều đó cũng có một chút quá sức. Cảm giác giống như mở một cánh cửa và không chắc chắn điều gì đang chờ đợi ở phía bên kia. Một mặt, tôi coi mình là một người kín đáo, không muốn nổi tiếng hay thậm chí là người của công chúng. Tôi khá hài lòng với cuộc sống hưu trí yên bình, thú vị mà tôi tạo ra cho mình, và tôi chắc chắn không muốn phá vỡ điều đó. Mặt khác, một phần trong tôi tự hỏi liệu ẩn danh có phải là một sai lầm hay không. Rất nhiều người khác nhau đã lên tiếng và tuyên bố đã xác định được Sát nhân Golden State – ngay cả những người mà theo như tôi biết thì không liên quan gì đến vụ án. Và điều đó, đối với tôi, hoàn toàn sai trái, và tôi cảm thấy buộc phải nói ra sự thật ngay lập tức, ngay cả khi ánh đèn sân khấu khiến tôi không thoải mái.
Có một lý do khác khiến tôi quyết định công khai.
Tôi nhớ thời mình còn là một phụ nữ trẻ lấn sân sang lĩnh vực truyền thống của nam giới. Tôi nhớ lại cách tôi bị đối xử phân biệt và được trả lương thấp hơn so với các đồng nghiệp nam của mình, và tôi nhớ đến những rào cản nhân tạo để thăng tiến vượt quá một mức nhất định. Tôi nghĩ về cách tôi dành cuộc đời mình chống lại những rào cản đó và chiến đấu vượt qua chúng. Và tôi nhận ra rằng trách nhiệm của tôi là giúp những người phụ nữ khác làm điều tương tự, và thậm chí có thể gặp khó khăn hơn tôi.
Dựa trên dữ liệu thu thập từ cuộc khảo sát Điều tra dân số năm 2020, nhân viên nữ làm việc toàn thời gian, quanh năm trong tất cả các công việc trên khắp Hoa Kỳ kiếm được 83 xu so với 1 đô la mà nam giới kiếm được – mức chênh lệch tiền lương là 17%. Khoảng cách này chắc chắn tồn tại trong lĩnh vực khoa học: theo một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Xã hội học Hoa Kỳ, các nhà khoa học nam làm việc cho các cơ quan liên bang của Hoa Kỳ như Viện Y tế Quốc gia và Cơ quan Bảo vệ Môi trường “kiếm được nhiều tiền hơn các đồng nghiệp nữ của họ… do các hoạt động tuyển dụng phá vỡ các tắc nhằm đảm bảo sự công bằng quy và mức lương cao hơn cho các loại vị trí mà các cơ quan thuê nam giới đảm nhận”.
Phụ nữ cố gắng tham gia vào lĩnh vực thực thi pháp luật phải đối mặt với sự thiên vị mang tính văn hóa tương tự. Trên thực tế, vào năm 2020, chỉ có 13% tổng số nhân viên thực thi pháp luật làm việc toàn thời gian ở Hoa Kỳ là nữ.
Điều này cần phải được sửa chữa. Một trong những mục tiêu của tôi là chứng kiến nhiều phụ nữ tham gia vào khoa học hơn, một ngành học mà nam giới thống trị từ lâu. Ngày càng có nhiều phụ nữ trở thành nhà khoa học trong những năm qua và sự chênh lệch về tiền lương theo giới tính có xu hướng giảm bớt khi phụ nữ lên được vị trí cao hơn trong công ty. Tuy nhiên, tôi muốn thấy mọi thứ thay đổi hơn nữa. Tôi muốn khuyến khích nhiều phụ nữ hơn nữa trở thành nhà khoa học, không phải vì bất kỳ mức độ nổi tiếng nhỏ nào mà họ có thể đạt được, mà vì những gì phụ nữ có thể mang lại cho công việc – một cách suy nghĩ, lập luận và nhìn nhận thế giới khác. Đó là tổng hợp những nét tiêu biểu và kinh nghiệm cá nhân của tôi với tư cách là một người phụ nữ, và thậm chí cả những điều kỳ quặc của cá nhân tôi, đã cho phép tôi làm những gì tôi làm. Và bây giờ, tôi rất muốn thấy nhiều phụ nữ hơn mang những quan điểm và trí thông minh độc đáo của họ đến với khoa học. Lĩnh vực này sẽ tốt hơn nhiều nếu họ trong đó.
Vì vậy, nếu câu chuyện của tôi có thể truyền cảm hứng cho một nhà khoa học trẻ ở đâu đó theo đuổi ước mơ của cô ấy, thì câu chuyện của tôi là một câu chuyện đáng kể.
⚝ ⚝ ⚝
Thần thoại Hy Lạp chứa đầy những con quái vật kỳ cục – Hydra, Cerberus, nhân mã, quái vật một mắt, Medusa tóc rắn – nhưng ngay cả những con quái vật thần thoại này cũng là nửa người, và do đó chúng có thể bị đánh bại hoặc tiêu diệt.
Tuy nhiên, để khiến một con quái vật thuần túy biến mất, người ta không thể đẩy nó ra xa.
Người ta phải kéo nó lại gần hơn. Bởi nó đến từ bóng tối và bóng tối giúp con quái vật thu được sức mạnh của nó. Chừng nào nó còn là bí ẩn, con quái vật có thể tự do chui vào ý thức của chúng ta, biết rõ rằng nỗi sợ hãi sâu thẳm nhất bên trong chúng ta sẽ tô điểm cho nó, khiến nó trở nên kinh khủng hơn. Chỉ có hành động vạch trần nó mới có thể tước đi vũ khí lợi hại nhất của nó. Để khiến một con quái vật lùi bước, bạn phải kéo nó ra khỏi bóng tối, vì nó sẽ co quắp lại dưới ánh sáng.
Bây giờ, đã đến ngày nhìn thấy con quái vật co quắp lại.
Sau khi Joseph DeAngelo bị bắt, một câu hỏi hóc búa đã xuất hiện – Bây giờ thì sao? Điều gì sẽ xảy ra khi bạn bắt gặp một kẻ như thế và cố gắng bắt hắn phải đền tội? Hệ thống nào có thể đối đầu với sự tàn ác dã man của những gì mà con người này đã tạo ra? Còn hàng chục người sống sót thì sao? Liệu họ có buộc phải sống lại nỗi kinh hoàng mà họ phải chịu đựng cách đây rất lâu không?
Điều gì sẽ xảy ra với Joseph DeAngelo bây giờ?
Trong những ngày sau khi anh ta bị bắt, không có cáo buộc chính thức nào chống lại anh ta trong khi các ủy viên công tố quận trên khắp California tranh nhau kết nối anh ta với các vụ án hiếp dâm hoặc giết người chưa có lời giải ở hạt của họ. Vào thời điểm đó, DeAngelo bị giam giữ và rất “t nói”, một quan chức ghi chú lại. Anh ta bị giam trong phòng giam nhỏ tại Nhà tù Chính của hạt Sacramento, được đánh giá tâm lý và đặt trong tình trạng giám sát chống tự tử. Không ai đến thăm anh ta, và không có phóng viên hay nhiếp ảnh gia nào được phép tiếp cận anh ta.
Sau đó, cuối cùng, vào ngày 27 tháng 4 năm 2018, 3 ngày sau khi anh ta bị bắt, thế giới đã có nhận diện đầu tiên về Sát nhân Golden State.
Vào lúc 1 giờ 45 phút chiều, bên trong phòng xử án nhà tù đông đúc của Tòa án Tối cao Sacramento, một nhân viên đã mở một cánh cửa an toàn phía sau băng ghế của thẩm phán, và một tù nhân bước ra.
Anh ta đang ngồi trên xe lăn, cổ tay bị còng vào ghế, mặc áo phông trắng bên trong bộ áo liền quần cổ chữ V màu cam tiêu chuẩn. Anh ta bị hói đầu, chỉ còn những sợi tóc bạc quanh thái dương và đôi má hồng hào. Đầu anh ta lơ đãng nghiêng sang một bên, và đôi mắt anh nheo lại thành khe nhỏ. Anh ta có vẻ điềm tĩnh, hoặc ít nhất là bị chói mắt. Anh ta nhận thức thấy sự lộn xộn điên cuồng của những người quay phim và nhiếp ảnh gia chen chúc nhau trong một góc của căn phòng nhỏ, hay hàng chục người – một số trong họ là nạn nhân – chen chúc nhau trên các hàng ghế. Anh ta nhìn xuống đất hoặc nhìn lên quan tòa, vẻ mặt trống rỗng của anh ta không thể hiện điều gì.
“Joseph James DeAngelo có phải là tên hợp pháp thực sự của anh không?” Chủ tọa Thẩm phán Sacramento Michael Sweet đã hỏi anh ta.
Trong tiếng thì thầm nhỏ nhất – “Có”.
“Xin lỗi, gì cơ?”
“Vâng”, anh ta nói lại, chỉ to hơn một chút.
Chỉ 4 phút sau, phiên điều trần buộc tội đầu tiên của DeAngelo kết thúc, và anh ta được đưa trở lại qua cánh cửa an toàn mà không cần phải nhận tội trước 2 cáo buộc sơ bộ: vụ giết 2 mạng người Brian và Katie Maggiore vào năm 1978 (vụ án phức tạp đến mức không có gì ngạc nhiên khi luật sư của anh ta trì hoãn việc bào chữa). Thái độ lảng tránh và biểu cảm bối rối của DeAngelo luôn thường trực trong thời gian đó.
Trong suốt hơn 40 năm, người đàn ông này chỉ là một tập hợp các chi tiết sơ sài, gần đúng – có thể cao khoảng 1m80, nặng khoảng hơn 80kg có thể là giày cỡ 9; mang mặt nạ trượt tuyết màu đen trong một số cuộc tấn công; rất thích ăn cắp đồ đạc trong gia đình như đồ trang sức và heo đất. Qua nhiều năm, hàng ngàn phóng viên đã viết những câu chuyện về anh ta, mặc dù không ai có thể nhìn thấy anh ta rõ ràng hơn những người còn lại chúng tôi.
Nhưng bây giờ, cuối cùng chúng ta cũng đã tận mắt nhìn thấy anh ta – rốt cuộc không phải là một con quái vật, mà là một ông già đáng thương. Tất nhiên, tất cả chỉ là dối gạt.
⚝ ⚝ ⚝
Những người hàng xóm đã nhìn thấy DeAngelo ngay trước khi anh ta bị bắt cho biết anh ta khỏe mạnh và nhanh nhẹn, và các nhân viên giám sát anh ta đã xác nhận điều này. Tôi được xem các video về DeAngelo trong phòng giam của anh ta sau khi anh ta bị bắt; video sẽ không được phát hành ra công chúng trong 2 năm nữa. Chúng cho thấy DeAngelo đi lại dễ dàng và nhanh nhẹn trong phòng giam nhỏ của mình, vươn vai và thực hiện các động tác chống đẩy, và thậm chí còn nhanh nhẹn leo lên đỉnh một giá kim loại để che bóng đèn cố định bằng giấy màu nâu – một hành động kỳ lạ khi anh ta phủ chăn lên đèn và ti vi tại một số hiện trường vụ án của mình. Anh ta không hề tỏ ra yếu đuối hay bị tổn hại về thể chất. Anh ta chắc chắn không cần xe lăn. Năng lực thể thao cho phép anh ta trốn thoát cảnh sát bằng cách nhảy qua hàng rào và lao xuyên qua rừng 40 năm trước có thể đã giảm bớt, nhưng nó không biến mất.
Cũng không có sự nhạy bén về đầu óc cần thiết để thực hiện những tội ác phức tạp của mình. Trong các video, DeAngelo có vẻ kiên quyết và có mục đích khi anh ta dọn dẹp và sắp xếp phòng giam của mình. Một video quay được anh ta thủ dâm.
Tuy nhiên, trong phòng xử án, DeAngelo thu mình sau chiếc mặt nạ bất lực ốm yếu. Đó là một hành động rẻ tiền và tồi tệ, và không có sức thuyết phục đặc biệt – ý nghĩ phổ biến là anh ta rõ ràng đang giả vờ trong trạng thái ngẩn ngơ.
Đúng vậy, Joseph DeAngelo được hưởng sự bảo vệ đầy đủ của hiến pháp, trong đó bao gồm quyền giả định vô tội và quyền bào chữa mạnh mẽ. Và không, anh ta không bắt buộc phải hành động theo bất kỳ cách cụ thể nào khi xuất hiện trước tòa.
Mặc dù vậy, sự lờ phờ giả vờ của anh ta là một sự xúc phạm nữa đối với những nạn nhân còn sống và gia đình của những người bị sát hại – một sự từ chối đứng lên và đối mặt với những người chỉ tội anh ta.
Bỏ qua màn trình diễn của DeAngelo, phiên điều trần đầu tiên căng thẳng chỉ là bản xem trước nhỏ nhất về phiên tòa thực tế của anh ta sẽ như thế nào. Sự phức tạp mà vụ xét xử như vậy đưa ra thật đáng kinh ngạc. Diane Howard, luật sư công được chỉ định đại diện cho DeAngelo, cho biết cô dự kiến sẽ nhận được hàng trăm nghìn trang hồ sơ và bằng chứng trong quá trình điều tra, và trả lại khi chỉ có 2 cáo buộc giết người. Điều gì sẽ xảy ra khi nhiều tội danh giết người được thêm vào? Và hàng chục vụ hãm hiếp? Bang California có phải đưa ra hàng triệu trang bằng chứng không? Còn tất cả các tội án đã hết thời hiệu thì sao; chúng sẽ chỉ đơn giản là bị lãng quên? Thế còn tất cả các vụ trộm và đột nhập vào nhà mà không có DNA nào được phục hồi thì sao?
Còn các nhân chứng thì sao? Hàng tá thám tử, nhân viên điều tra, cảnh sát trưởng, đặc vụ FBI, cảnh sát, công tố viên và ủy viên công tố quận, những người đều có liên quan đến án được phá? Làm thế nào mà các tội án đã xảy ra ở nhiều hạt khác nhau có thể được hợp nhất thành một vụ án có cơ sở? Một số người dự đoán rằng một thử nghiệm như vậy sẽ không chỉ là vụ xét xử dài nhất trong lịch sử California – có thể kéo dài trong nhiều năm – mà còn là tốn kém nhất, với mức giá có khả năng lên đến 20 triệu đô la trở lên.
Tuy nhiên, ngay cả khi tất cả những điều đó bằng cách nào đó có thể được quản lý, thì sẽ không phải là quá tàn nhẫn sao khi buộc những nạn nhân bị hiếp dâm còn sống sót và gia đình của những người đã chết phải tái hiện một cách sống động, kéo dài hàng tháng trời, về nhiều tội ác khủng khiếp của Sát nhân Golden State, mỗi tội ác đều được kể lại một cách chi tiết?
Việc đó thuộc về bang California, và đặc biệt là công tố viên chính trong vụ án, luật sư hạt Sacramento, Anne Marie Schubert, để đối mặt với cơn ác mộng về pháp lý, chuyên môn, hậu cần và đạo đức này, đồng thời tìm ra một cách nào đó hợp lý để đưa Kẻ sát nhân Golden State chịu trách nhiệm trước công lý, một lần và mãi mãi.
⚝ ⚝ ⚝
Khi Paul Holes tweet tên tôi vào tháng 8 năm 2018, tôi không còn xa lạ với lĩnh vực điều tra di truyền phả hệ. Lúc đó, tôi giải quyết hết vụ án này đến vụ án khác trong gần 4 năm. Tôi không có nhiều thời gian để ngồi và ngẫm nghĩ về sự thay đổi đáng kể trong cuộc đời tôi; thành thật mà nói, tôi chỉ là quá bận rộn. Nhưng khi tôi nghĩ về điều đó, tôi cảm thấy vô cùng ngưỡng mộ và cảm kích. Tôi rất biết ơn vì đã có cơ hội làm công việc ý nghĩa như vậy khi nghỉ hưu, và tôi không hề xem nhẹ trách nhiệm đi kèm với nó.
Trên thực tế, tôi rất nghiêm túc với công việc mình đang làm – và tôi thấy nó rất bổ ích – đến nỗi tôi cảm thấy buộc phải chấp nhận mọi vụ án mới đến với mình. Biết rằng mình có thể xác định được nghi phạm trong một vụ án hình sự sau nhiều thập kỷ đổ vỡ và bế tắc khiến tôi khó mà từ chối vụ án, vì vậy tôi đồng ý tham gia vào mọi cuộc điều tra mà tôi được đề nghị tham gia.
Và trong những ngày và tuần sau dòng tweet của Paul Holes, đã có rất nhiều lời đề nghị. Trong vòng 6 tháng kể từ khi công khai công chúng, tôi xử lý khoảng 50 vụ án nan giải.
8 tháng sau khi DeAngelo bị bắt, tôi nhận được một cuộc gọi từ Tim Horne thuộc Sở Cảnh sát hạt Orange & Hillsborough, Bắc Carolina.
Tim khao khát theo đuổi sự nghiệp thực thi pháp luật. Chú và bố của anh ấy đều làm trong lĩnh vực kinh doanh. Trong hơn hai thập kỷ làm nhân viên điều tra, anh ấy đã “làm tất cả”, Tim nói – hiện trường vụ án, phỏng vấn tại hiện trường, các vụ án giết người. Anh ấy cũng học tại trường danh tiếng Học viện Pháp y Quốc gia ở Tennessee. 20 năm trước, anh ấy đã đảm nhận vai trò lãnh đạo điều tra một vụ án từ Trung sĩ Bobby Collins, người đứng đầu đơn vị điều tra của hạt Ocean đã nghỉ hưu. Đó là một vụ án đầy thách thức đặc biệt phản ánh sự nản lòng mà nhiều nhân viên pháp luật phải đối mặt trong khi chờ đợi công nghệ DNA bắt kịp nhu cầu phá án trong thế giới thực.
Tim nói với tôi: “Tôi đảm nhận 4 vụ điều tra giết người lớn trong sự nghiệp của mình và giải quyết được 3 vụ trong số đó. Đây là vụ duy nhất tôi chưa giải quyết được”.
Tim kể cho tôi nghe thêm về vụ án. Vào buổi chiều nóng nực ngày 28 tháng 9 năm 1998, một nhân viên cảnh quan đang dọn sạch cỏ dại và bụi thông trên một dải đất nhiều cây cối có tên là Industrial Drive dọc theo Xa lộ Liên tiểu bang 85 ở Mebane, Bắc Carolina, một thành phố có khoảng 7.200 dân cách khoảng 46 dặm về phía tây bắc của Raleigh. Người nhân viên bắt gặp một đống cành cây đổ xuống ngay bên trong hàng cây và bên dưới tấm biển quảng cáo khổng lồ của Howard Johnson cao chót vót trên I-85. Ở đó, người công nhân nhìn thấy một thứ giống như một quả bóng màu trắng cách đống cành cây vài bước chân. Anh ấy bước vào để nhìn kỹ hơn và thấy rằng đó không phải là một quả bóng.
Đó là một hộp sọ người, bị mặt trời tẩy trắng sáng.
Người nhân viên đã gọi cho Sở Cảnh sát hạt Orange, và một trong những nhân viên cảnh sát đầu tiên có mặt tại hiện trường là Tim Horne.
Tim nói: “Tôi nhớ đó là một ngày nóng nực và tôi đang mặc một chiếc quần màu xám mới. Chúng tôi tìm kiếm qua tất cả những bụi gai và đến cuối ngày, quần của tôi bị rách thành từng mảnh”. Những gì anh ấy và các nhân viên cảnh sát khác tìm thấy vô cùng đáng lo ngại – quần áo nằm trên đống cành cây: một đôi giày thể thao 2XS Sports đen trắng, tất ống màu trắng và quần đùi kaki Fox Polo Club.
Bộ quần áo được treo trên bộ xương của một cậu bé.
Tim ghi chú các manh mối liên quan – không có máu tại hiện trường, cho thấy cậu bé đã bị giết ở một nơi nào khác; không có vết dao trên xương hoặc vết đạn trên hộp sọ, cho thấy đứa trẻ có thể đã bị bóp cổ; 2 tờ 20 đô la và 1 tờ 10 đô la được tìm thấy trong quần đùi của cậu bé, một số tiền bất thường đối với một đứa trẻ; răng cho thấy bằng chứng của trị liệu nha khoa. Nhân viên điều tra ước tính hài cốt đã ở đó được khoảng 4 tháng và cho rằng đây là một vụ giết người. Giờ đây, các nhà điều tra phải đối mặt với điều mà một tờ báo gọi là “một trong những bí ẩn hiếm gặp nhất và đáng sợ nhất mà họ có thể phải đối mặt – việc phát hiện ra bộ xương của một đứa trẻ không xác định danh tính”.
Các công cụ nhận dạng duy nhất có sẵn sau đó là phân tích côn trùng, hồ sơ nha khoa, khuôn đất sét và báo cáo trẻ em mất tích. “Tôi không muốn trở thành người liên quan đến vụ đó”, một tài xế xe tải địa phương nói với Raleigh’s News & Observer. “Cậu bé đó có thể đến từ Atlanta hoặc D.C. − bất cứ đâu”. Các nhà điều tra đã đưa ra một bản phác thảo tổng hợp về một cậu bé tóc đen có vẻ khoảng 10 tuổi, nhưng vụ án vẫn bị đóng băng và lảng tránh việc giải quyết trong 20 năm sau đó, rất lâu sau khi nó có một biệt danh hấp dẫn trên phương tiện truyền thông: Cậu bé dưới biển quảng cáo (The Boy Under the Billboard).
Tim Horne đã chọn ở lại điều tra vụ án suốt thời gian đó. Tim nói: “Đối với chúng tôi, chúng tôi chỉ gọi đó là vụ Cậu bé nhỏ (the Little Boy). Đó là cách chúng tôi nhìn thấy cậu ấy: cậu ấy là một đứa trẻ”. Trong nhiều năm, Tim đã lái xe qua biển quảng cáo của Howard Johnson trên I-85 hàng trăm lần và lần nào anh cũng nghĩ về cậu bé vô danh. Và anh ấy đã để tập hồ sơ vụ án cồng kềnh của cảnh sát bên dưới bàn làm việc, nơi nó luôn cản trở anh ta mỗi khi anh xoay người trên ghế. “Ngày nào tôi cũng dùng chân đập vào nó”, anh nói. Đó là cố ý. Tim muốn được nhắc nhở liên tục rằng công việc của anh ấy vẫn chưa kết thúc.
Tim gắn bó với vụ án cho đến năm anh ấy nghỉ hưu, 2018. Anh ấy đã hoãn ngày cuối cùng của mình vài tháng, đến ngày 31 tháng 12 năm 2018, để anh ấy có thể tiếp tục làm việc với vụ án và thậm chí có thể giải quyết nó trước khi anh ấy rời đi. Một phát súng cuối cùng. Tháng 11 năm đó, chỉ còn 2 tháng nữa là đến ngày nghỉ hưu, Tim gọi điện cho tôi.
“Tôi theo vụ án này trong 20 năm và tôi chỉ còn vài tuần nữa trong sự nghiệp của mình, và chị có thể tìm ra cậu ấy vào cuối năm không?” Horne hỏi tôi. Tôi nói với anh ấy tôi sẽ cố gắng.
Tôi đọc về vụ án và thu thập thông tin có sẵn. Có một mẫu DNA đã được chiết xuất từ mô cứng trong xương của cậu bé và đã có một giả định từ lâu rằng cậu bé có khả năng là người da trắng hoặc người gốc Tây Ban Nha. Tôi cũng được biết thám tử phụ trách vụ án trước đó đã liên hệ với một công ty phân tích kiểu hình DNA nổi tiếng để thực hiện một số phân tích ban đầu về vụ án, nhưng cuối cùng xác định rằng nó không đáp ứng tiêu chí của họ cho vụ án mà họ sẽ xử lý. Về cơ bản, tôi bắt đầu lại chỉ với hồ sơ DNA.
Tôi pha một ly cà phê Americano, ngồi vào bàn ăn trong phòng ăn, mở máy tính xách tay và bắt đầu làm việc. Tôi nhận được số kit trên GEDmatch cho hồ sơ DNA và truy cập thông tin trùng khớp. Điều đầu tiên tôi nhận thấy là công ty kiểu hình đã tải hồ sơ của nạn nhân lên GEDmatch Classic.
Nhưng họ đã không tải nó lên bản mở rộng mới của trang web có tên là GEDmatch Genesis.
Genesis được tạo ra để theo kịp những thay đổi trong công nghệ chip – các thế hệ chip mới được sử dụng để tạo cấu hình SNP (SNP về cơ bản là dấu vân tay DNA của chúng ta). Các chip cải tiến được thiết kế để cung cấp thông tin phức tạp hơn về người làm bài kiểm tra.
Một con chip cải tiến như vậy được gọi là Global Screening Array, hay chip GSA. GEDmatch Genesis được tạo để xử lý dữ liệu từ các công ty phả hệ mà đã chuyển sang sử dụng chip GSA và trang web này có thể so sánh hồ sơ DNA từ các công ty xét nghiệm khác nhau, cho dù họ sử dụng chip trước đó hay chip GSA. Genesis bắt đầu như một trang web beta (vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm), nhưng cuối cùng GEDmatch Classic sẽ được hợp nhất vào Genesis, tạo ra một cơ sở dữ liệu GEDmatch duy nhất.
Nhưng trở lại năm 2018, khi tôi bắt đầu làm việc với vụ Cậu bé dưới biển quảng cáo, một hồ sơ DNA vẫn phải tải hồ sơ DNA của bạn lên cả Classic và Genesis. Nhóm các nhà phả hệ trước đó đã không tải tệp lên Genesis và đó đã trở thành nhiệm vụ đầu tiên của tôi. Vì tôi không có bản sao DNA của nạn nhân nên tôi yêu cầu phòng nghiên cứu trước tải hồ sơ SNP của họ lên Genesis cho tôi.
Đây là một trong những khoảnh khắc thiên thần hộ mệnh của tôi. Bản tải lên cho ra một kết quả trùng khớp mà chưa ai từng thấy.
Một kết quả trùng khớp ở mức quan hệ anh chị em họ cách nhau một đời.
Điều này thật phi thường. Với một kết quả như thế này, tôi biết mình có thể giải quyết vụ án và có thể giải quyết nó một cách nhanh chóng. Nhưng còn nhiều hơn nữa. Tôi chạy tiện ích hỗn hợp trên GEDmatch và biết được rằng Cậu bé Billboard có 50% là người da trắng và 50% là người châu Á. Phòng nghiên cứu DNA trước đây từng xử lý vụ án đã tiến hành phân tích nhóm đơn bội từ DNA của nạn nhân và xác định rằng nhóm đơn bội Y-DNA của cậu bé là R1b – nhóm đơn bội bên phía người bố xuất hiện thường xuyên nhất ở Tây Âu. Điều này gợi ý rằng bố của cậu bé là người da trắng và mẹ cậu là người châu Á. Thông tin đó, cùng với kết quả trùng khớp ở mức anh em họ cách nhau một đời, đã tạo ra một con đường xác định danh tính rõ ràng cho cậu bé.
Tôi gọi cho Horne vào ngày 26 tháng 12 năm 2018 – chỉ 5 ngày trước khi anh ấy nghỉ hưu – và đưa cho anh ấy tên của người trùng khớp cũng như bố mẹ của người này. Tôi nói với anh ấy rằng nếu một trong hai người bố mẹ này có một người anh chị em ruột có con lai, thì Cậu bé dưới biển quảng cáo phải là con trai của người anh chị em ruột đó.
Chúng tôi đang đến rất gần. Rất gần.
Horne nhanh chóng để lại một số tin nhắn cho bố của người trùng khớp, người đó đã không trả lời. Sau đó, với sự giúp đỡ của bạn gái Krista Schultz, anh ấy đã tìm kiếm trên Facebook và các nguồn khác và tập hợp danh sách 20 người trong vòng quen biết của người cha, rồi gọi điện cho từng người. Tim nói: “Tôi gọi cho 20 người dở hơi và không ai bắt máy. Cơ hội còn lại là gì? Vì vậy, tôi phải để lại 20 tin nhắn và hy vọng ai đó sẽ gọi lại”.
Cuối cùng, một người đã làm điều đó. Tim đang ở nhà trên giường, nửa thức nửa ngủ và nửa xem ti vi thì chuông điện thoại reo. Đó là một phụ nữ đến từ Ohio nói rằng cô ấy đã kết hôn với người thuộc gia đình được đề cập và nói với Tim rằng cô ấy sẽ gọi điện xung quanh để tìm hiểu những gì có thể biết về nạn nhân trẻ tuổi. Cuối cùng, cô ấy đã kết nối anh với dì của đứa trẻ.
“Anh đã tìm thấy Bobby”, người dì nói khi Tim gọi cho cô lần đầu tiên.
Cứ như vậy, Tim đã có được một cái tên. Sau 20 năm, anh có được một cái tên – Bobby.
Tim nhớ lại: “Tôi viết nó ra một tờ giấy và khoanh tròn nó nhiều lần đến nỗi mực ăn hết giấy.
Bố ruột của người trùng khớp cuối cùng đã trả lời cuộc gọi của Tim và ông ấy kể cho Tim nghe về câu chuyện. Ông ấy xác nhận rằng mình có một người anh trai đã kết hôn với một người phụ nữ đến từ Hàn Quốc và có một đứa con tên là Bobby, và ông nói rằng người anh đã không gặp hoặc nghe nói về Bobby trong một thời gian. Ông cho biết bố của cậu bé nói với ông rằng Bobby và mẹ cậu đã trở về Hàn Quốc.
Bobby, giờ đây chúng tôi biết, là Robert Adam Whitt, và cậu ấy mới 10 tuổi.
Và chúng tôi biết rằng bố của Bobby là John Russell Whitt, người đang thụ án tù dài hạn vì tội cướp có vũ trang hàng chục nạn nhân tại các máy ATM vào thời điểm chúng tôi xác định được con trai của anh ta.
Nhưng còn mẹ của Bobby thì sao? Điều gì đã xảy ra với cô ấy?
⚝ ⚝ ⚝
Vào ngày 13 tháng 5 năm 1998, lúc 1 giờ 30 phút chiều – khoảng 4 tháng trước khi người làm vườn phát hiện thi thể của Bobby Whitt ở Mebane, Bắc Carolina – một người đàn ông đang nhặt những lon nhôm rỗng để tái chế dọc theo con đường có tên là Casual Drive, ngay gần Xa lộ Liên tiểu bang 85 ở hạt Spartanburg, Nam Carolina. Người đàn ông thò tay qua đống đổ nát và nhìn thấy một thứ gây sốc:
Đôi chân của một người phụ nữ kẹt trong đống đổ nát.
Người đàn ông đã lấy điện thoại và gọi cho cảnh sát hạt Spartanburg, họ đã đến hiện trường và tìm thấy thi thể khỏa thân của một phụ nữ. Người phụ nữ cao khoảng hơn 1m60, nặng khoảng 65kg và trông khoảng từ 30 đến 45 tuổi. Cô ấy có mái tóc xoăn đen và đôi mắt nâu, và cô ấy sơn móng tay màu hồng nhạt trên ngón tay và ngón chân. Có một vết sẹo đặc biệt dài 10cm trên cánh tay trái của cô ấy và cô ấy bị mất 9 chiếc răng. Thi thể không có dấu hiệu phân hủy, điều mà cảnh sát cho là tin tốt.
“Thường thì những thi thể này bị vứt ở Xa lộ Liên bang và vào thời điểm ai đó tìm thấy chúng, chúng chỉ còn là những bộ xương”, nhân viên điều tra của hạt nói với The Greenville News. “Chúng tôi rất may mắn vì chúng tôi có một số bằng chứng ở đó”.
Các nhà điều tra đoán người phụ nữ này là người gốc Á, và họ hy vọng ai đó biết cô sẽ sớm bước ra cung cấp thông tin. Nhưng không có ai cả. Không có bằng chứng sẵn có giúp xác định thi thể. Nhiều tháng trôi qua, và vụ án trở nên không có lời giải. Tình trạng vẫn như vậy trong hai thập kỷ tiếp theo – giống như vụ án của cậu bé dưới Biển quảng cáo, hài cốt của cậu bé được tìm thấy 4 tháng sau đó cách nơi tìm thấy thi thể người phụ nữ khoảng 200 dặm về phía đông, dọc theo chính Xa lộ Liên tiểu bang – I-85.
Khi Tim và tôi xác định được cậu bé Bobby Whitt, vào năm 2018, chúng tôi cũng biết được tên mẹ ruột của cậu ấy – Myoung Hwa Cho.
Với sự giúp đỡ của Trung tâm Quốc gia về Trẻ em Mất tích và Bị bóc lột, chúng tôi xác định rằng Myoung Hwa Cho chính là Jane Doe – người chưa xác định được danh tính được tìm thấy dọc theo I-85 ở Spartanburg, SC, vào năm 1998. Chúng tôi cũng xác nhận rằng cô ấy đã kết hôn với John Russell Whitt – bố của Bobby Whitt.
Bây giờ là lúc để nghe từ chính John Whitt.
Khi Tim lần đầu tiên nói chuyện với Whitt, trong một nhà tù liên bang ở Ashland, Kentucky, Whitt phủ nhận việc giết vợ và con mình, bất chấp sự thúc giục của các thành viên khác trong gia đình để làm rõ vụ án. Nhưng Tim sẽ không để anh ta ra thoát tội. Bây giờ Tim đã kết thúc ngày làm việc cuối cùng tại sở cảnh sát, và bước vào tháng cuối cùng của thời gian nghỉ phép chưa được sử dụng - về mặt chuyên môn thì vẫn chưa nghỉ hưu. Vì vậy, anh ấy tiếp tục làm việc với vụ án. Trong nhiều cuộc phỏng vấn với Whitt, anh ấy đã cố gắng lấy được lòng tin của người tù.
Sau đó, chỉ vài ngày trước ngày nghỉ cuối cùng của anh ấy, Tim đã thúc đẩy Whitt lần cuối để anh ta nói ra sự thật.
“Tôi nói, ’Nghe này, Russ, nếu anh muốn đợi, được thôi, nhưng tôi biết cậu bé là con của anh” Tim nhớ lại. “DNA của người mẹ trùng khớp với đứa trẻ, và anh đã kết hôn với cô ấy, vì vậy tôi biết cậu bé là con trai anh. Và anh ta chỉ nói, ’Anh biết không, anh nói đúng. Được rồi, đến đây, tôi sẽ cho anh biết những gì tôi biết.”
Vào ngày 31 tháng 1 năm 2019, ngày làm việc chính thức cuối cùng của Tim Horne, anh đã lái xe 6 giờ đồng hồ và đến Ashland và nhận lời thú tội của Whitt.
Tim nói: “Anh ta bước vào và ghi xuống từng chi tiết cuối cùng – điều kiện hiện trường vụ án, vết thương đã gây ra như thế nào, ngày tháng và thời gian. “Chúng tôi nhận được toàn bộ lời thú tội, tôi lái xe về nhà, đi ngủ, thức dậy và tôi nghỉ hưu. Vào ngày cuối cùng tại chức, tôi phá một vụ giết 2 mạng người”.
Vào ngày 12 tháng 8 năm 2019, John Russell Whitt hầu tòa tại hạt Orange để kết tội giết người cấp độ một đối với con trai mình. Sau đó, anh ta được đưa trở lại phòng giam của mình ở Kentucky, nơi dự kiến sẽ thả tự do cho anh ta đối với tội cướp có vũ trang vào năm 2037. Vào tháng 1 năm 2020, Whitt đã nhận tội giết cả vợ và con trai mình, đã gần có thể khép lại vụ án.
Tim Horne, hiện đã nghỉ hưu hoàn toàn, còn một việc cuối cùng cần giải quyết.
Trong 20 năm, anh đã giữ cho ký ức về Cậu bé dưới biển quảng cáo sống mãi, không bao giờ cho phép Bobby biến mất mãi mãi trong phòng lưu trữ bằng chứng. Tim nói: “Tôi có cảm giác giống với tất cả các thám tử tham gia vụ án này – rằng đây là đứa trẻ của tôi. Và bây giờ anh đã biết tên của cậu bé, cũng như danh tính của mẹ cậu, giờ anh có thể cho họ đoàn tụ và cho họ một nơi để yên nghỉ. Vì vậy, anh tình nguyện lái xe hỏa táng của Bobby Whitt đến Ohio, nơi người thân sẽ tổ chức một lễ tưởng niệm cho Bobby và mẹ cậu ấy.
Vào giữa tháng 5 năm 2019, Tim đã mang chiếc bình đựng tro cốt vào chiếc xe tải Toyota Tundra màu bạc đời 2006 của mình. Anh mở cửa sau và cẩn thận đặt chiếc bình lên một chiếc ghế. “Sau đó, tôi kéo hết dây đeo vai ra và thắt chặt quanh bình”, anh nói. “Không đời nào cậu ấy lại ở trong cốp xe. Cậu ấy đi cùng tôi, thắt dây an toàn suốt quãng đường”.
Tim và bạn gái Krista đã lái xe 459 dặm từ Raleigh đến núi Orab, Ohio, chủ yếu nằm trên Xa lộ Liên tiểu bang 77 Bắc và 64 Tây. Ngay cả khi họ dừng lại dọc đường, họ cũng không để chiếc bình trong xe. Tim nói: “Điều cuối cùng tôi sợ sẽ xảy ra là ai đó đột nhập vào xe tải và lấy trộm chiếc bình”. “Vì vậy, chúng tôi mang cậu ấy đi khắp mọi nơi trong chiếc túi lớn của Krista. Các quán ăn, các điểm dừng chân nghỉ ngơi, khắp mọi nơi”.
Tim thậm chí còn mang theo chiếc bình trong chuyến thăm sở thú.
Tại núi Orab, Bobby được đoàn tụ với mẹ của mình là Myoung. Ngày 18 tháng 5 năm 2009, gia đình tổ chức tang lễ chính thức cho họ. Không có nhiều thông tin về việc làm thế nào hoặc tại sao Myoung kết hôn với John Russell Whitt, mặc dù có một bức ảnh cũ cho thấy cô ấy ôm Bobby còn rất nhỏ trước cây thông Noel được trang trí và các gói quà. Vẻ mặt của cô gợi lên niềm vui và sự mãn nguyện. Các chi tiết khác về Myoung và con trai cô hiện lên: cô là một người mẹ yêu thương và chăm chỉ như thế nào, người thường phải làm hai công việc cùng lúc để chăm sóc con trai mình; Bobby là một đứa trẻ vô tư điển hình, yêu thích khủng long và Công viên kỷ Jura; cậu bé vốn dĩ rất tốt bụng và đáng yêu, và đôi khi đưa đồ chơi của mình cho bạn bè vì chúng muốn chơi; như một người tham dự đã nói, cậu bé “luôn nở nụ cười trên môi và ánh mắt lấp lánh như thế nào”.
Ngày hôm sau, Bobby và Myoung được an nghỉ cùng nhau.
Trước ngày hôm đó, tất cả những gì Bobby để lại làm vật kỷ niệm là một cây thánh giá nhỏ bằng gỗ – hai tấm ván gỗ được đóng đinh vào nhau dựa xiêu vẹo vào một hàng rào dây thép cũ kỹ gần nơi hài cốt của cậu bé đã được tìm thấy, với những miếng dán đã phai màu và bong tróc, trên đó có nội dung ngắn là “Bé trai 1998”.
Giờ đây, như Tim đã hứa với bản thân và cậu bé, Bobby có một nơi, bên cạnh mẹ mình, để có thể yên nghỉ như họ đáng được nhận.
Tim Horne nói, đó là lần đầu tiên điều tra di truyền phả hệ được sử dụng để giải quyết một vụ án giết người ở Bắc Carolina.
⚝ ⚝ ⚝
Sau 20 năm tìm kiếm để rồi đi vào những ngõ cụt điên cuồng của Tim Horne, DNA đã giúp tôi giải quyết vụ án Cậu bé dưới biển quảng cáo trong vòng chưa đầy 48 giờ.
Dù bạn có tin hay không, đó thậm chí không phải là vụ án nhanh nhất mà tôi từng giải quyết. Khi bạn có được kết quả trùng khớp đầu tiên cao, chẳng hạn như anh em họ ruột, đôi khi bạn có thể phá một vụ án chỉ trong vài giờ. Vụ án Sát nhân Golden State thì khác: kết quả trùng khớp đầu tiên của chúng tôi là người anh chị em họ đời thứ ba, và vì vậy chúng tôi mất đến 63 ngày. Nhưng ngay cả vậy, đó cũng chỉ là một cái chớp mắt so với 4 thập kỷ thất vọng trước của họ.
Tôi nhìn thấy một xu hướng. Giống như Paul Holes, thám tử Tim Horne đang ở giai đoạn cuối của sự nghiệp điều tra kéo dài, và anh ấy tìm đến tôi như một phương án cuối cùng – một cơ hội cuối cùng để giải quyết một vụ án đã ám ảnh anh ấy trong nhiều năm. Có một kiểu đối xứng với điều này – giới hạn của các kỹ thuật thực thi pháp luật truyền thống đối mặt với điều tra di truyền phả hệ mới xuất hiện đầy hứa hẹn.
Tất nhiên, tất cả các vụ án tôi giải quyết đều đòi hỏi rất nhiều phương pháp điều tra truyền thống - nghiên cứu, phỏng vấn, đi lại thu thập thông tin. Nhưng cũng đúng là những vụ án này có thể đã không bao giờ được giải quyết nếu không có công cụ là điều tra di truyền phả hệ mới xuất hiện sáng chói, ít nhất là đối với Paul Holes và Tim Horne, vào cuối một chặng đường dài và không phải là quá sớm.
Với mỗi vụ án mới, tôi hiểu rõ hơn một chút về khoảng thời gian quan trọng đối với công việc thực thi pháp luật – và đối với những người cống hiến và theo đuổi công lý như Paul và Tim.
⚝ ⚝ ⚝
Vào tháng 4 năm 2019, gần 1 năm sau khi Joseph DeAngelo bị bắt, các công tố viên từ 6 hạt của California đã tập trung tại một tòa án ở Sacramento và tuyên bố họ cố gắng để kết án tử hình trong vụ án của Sát nhân Golden State.
Vào thời điểm đó, thống đốc bang California, Gavin Newsom, đã tuyên bố hoãn thi hành án tử hình ở bang này, nhưng các công tố viên vẫn quyết tâm. Với DeAngelo đang đứng gần đó trong lồng giam tại phòng xử án – trong bộ đồng phục tù nhân màu cam và có vẻ mặt bàng hoàng như lúc bị buộc tội 1 năm trước đó – các công tổ viên đã liệt kê những vụ án đặc biệt có thể bị kết án tử hình.
Thông điệp của họ – nếu tội ác của DeAngelo không đáng bị án phạt nặng nhất, thì tội ác nào có thể?
Họ phớt lờ lệnh cấm của Thống đốc vì một lý do đơn giản: lệnh cấm ấy có thể chỉ là tạm thời và có thể được dỡ bỏ sau 1 hoặc 2 năm. Trong khi đó, phiên tòa xét xử Joseph DeAngelo có thể còn nhiều năm nữa mới bắt đầu. Vụ án, mọi người đều biết, vô cùng phức tạp. Từ hành vi phạm tội đầu tiên được biết đến của hắn, vụ đột nhập năm 1975 và trộm 50 đô la từ một con heo đất, đến vụ hãm hiếp và giết hại dã man một phụ nữ 18 tuổi vào năm 1986, tội ác cuối cùng được biết đến của hắn, Sát nhân Golden State đã gây án ít nhất 13 vụ giết người, hàng chục vụ hãm hiếp và khoảng 160 tội án bạo lực khác có thể là một
– loạt tội ác tàn bạo nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Trong khoảng thời gian đó, hắn đã gây ra những cái chết, sự tàn phá và thiệt hại khôn lường, và những chấn thương tâm lý mà hắn gây ra cho hàng vạn người dân không bao giờ có thể tính được. Nếu DeAngelo, người chưa đưa ra bất kỳ lời bào chữa nào, không nhận tội, thì rất nhiều tội danh trong số đó sẽ cần được chứng minh riêng lẻ trước tòa ngoài mọi nghi ngờ hợp lý.
Có một mối quan tâm khác – thời gian trôi qua. DeAngelo đã 74 tuổi khi anh ta bị bắt, và không có gì đảm bảo rằng anh ta sẽ còn sống trong nhiều năm mà một phiên tòa sẽ cần. Viễn cảnh DeAngelo chết trước khi đối mặt với sự đền tội thích đáng không được ai hoan nghênh. Nhiều nạn nhân của anh ta cũng đã lớn tuổi, và việc chờ đợi một phiên tòa có nguy cơ tước đi cơ hội đối chất với DeAngelo, và cuối cùng nhìn thấy anh ta đối mặt với công lý. Tuy nhiên, nếu DeAngelo từ chối nhận tội, các công tố viên có thể làm gì khác ngoài việc chuẩn bị cho một phiên tòa?
Hóa ra là có một cách khác.
Vào tháng 6 năm 2020 – tức là hơn 2 năm sau khi DeAngelo bị bắt – các công tố viên thông báo rằng họ đã đạt được thỏa thuận với bị cáo và luật sư của anh ta. Nếu các công tố viên đồng ý bỏ án tử hình, DeAngelo sẽ nhận 88 tội danh giết người, hiếp dâm và các tội danh khác, bao gồm cả những tội hiếp dâm đã hết thời hiệu. Đối với lời thỉnh cầu này, DeAngelo sẽ bị kết án chung thân mà không có khả năng được ân xá.
Thỏa thuận này mất nhiều tháng để hoàn thành, và vẫn có khả năng DeAngelo có thể từ chối nó vào phút cuối, nhưng hiện tại có vẻ như đã tránh được một phiên tòa, tiết kiệm được hàng triệu đô la và nhiều tháng chờ đợi đau đớn. Một phiên điều trần nhận tội đã được ấn định vào ngày 29 tháng 6 năm 2020 và tại đó, về lý thuyết, DeAngelo sẽ thừa nhận tội lỗi của mình.
Sau khi thỏa thuận được công bố, Anne Marie Schubert, Luật sư hạt Sacramento, đã mời tôi tham dự phiên điều trần nhận tội vào ngày 29 tháng 6 và cùng những người còn lại trong nhóm điều tra của chúng tôi ở đó.
Đó sẽ là cơ hội để tôi tận mắt nhìn thấy Sát nhân Golden State.
Đối với tôi, điều quan trọng là cuối cùng đã chấm dứt vụ án này. Đó là vụ án thực sự lớn đầu tiên đối với tôi – lần đầu tiên điều tra di truyền phả hệ được sử dụng để xác định và bắt giữ một kẻ giết người nguy hiểm – và tôi muốn thấy vụ án được khép lại và cất đi, một lần và mãi mãi, như một kết thúc thành công như chúng tôi có thể đã hy vọng. Tôi có cảm giác chúng tôi đã hoàn thành một điều gì đó có ý nghĩa thực sự và tôi biết cả thế giới đang theo dõi. Nếu tất cả nỗ lực của chúng tôi không dẫn đến kết án và bỏ tù Joseph DeAngelo, thì điều đó có thể có tác động tiêu cực đến việc sử dụng IGG trong tương lai.
Phiên điều trần nhận tội của DeAngelo sẽ không diễn ra trong phòng xử án. Một phòng xử án không thực tế vì đại dịch Covid-19, đòi hỏi các biện pháp an toàn như không nhét quá nhiều người vào những không gian nhỏ, kín. Thay vào đó, công tố đã thuê phòng khiêu vũ lớn tại Đại học bang Sacramento, một không gian rộng lớn có kích thước bằng một nhà chứa máy bay. Một sân khấu tạm bợ nâng cao được dựng lên ở một đầu của phòng khiêu vũ, và hàng trăm chiếc ghế, đặt cách nhau 2m, chất đầy căn phòng. Đó là một bối cảnh khác thường cho một phiên điều trần nhận tội, tuy nhiên, đó là một vụ án bất thường diễn ra trong những thời điểm bất thường.
Tôi lái xe 3 giờ về phía bắc từ nhà của tôi ở hạt Monterey, California, đến Sacramento, tòa nhà quốc hội của bang, và chỉ để gặp Paul Holes lần thứ hai. Anh ấy và tôi thường xuyên nói chuyện qua điện thoại, nhưng chúng tôi chỉ gặp nhau một lần, vì vậy thật tuyệt khi cuối cùng được tụ họp với anh ấy và các thành viên khác của Đội Công lý. Điều tra di truyền phả hệ có thể là công việc đơn độc, và cuộc gặp gỡ của chúng tôi ở Sacramento là một cái gì đó giống như một phần thưởng. Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta đều có cảm giác thành tựu và tự hào, nhưng cũng có sự e ngại: công việc đưa Kẻ sát nhân Golden State ra trước công lý vẫn chưa hoàn thành.
Chỉ có thể dự phiên điều trần khi được mời, tôi xác nhận với ban tổ chức và ngồi vào chiếc ghế được đánh số của mình ở giữa phòng khiêu vũ. Mọi người đều đeo khẩu trang. Chỗ ngồi nhanh chóng được lấp đầy và tôi có thể nói rằng nhiều người tham dự là nạn nhân và người thân của nạn nhân. Đột nhiên, tôi chợt nhận ra nhiều người trong số họ đã chờ đợi 40 năm để tên này bị đưa ra trước công lý vì những gì anh ta đã làm. 40 năm. Tôi cảm thấy một sự nặng nề trong phòng, một cảm xúc dữ dội, và cả một nỗi buồn. Xung quanh tôi, tôi có thể nghe thấy tiếng người lặng lẽ khóc và sụt sịt. Tôi không mong sẽ có cảm xúc mạnh như vậy, nhưng nó giống như một cơn thịnh nộ tập thể rộng lớn quét qua căn phòng. Đây không chỉ là một thủ tục pháp lý. Đây là một cái điều gì đó linh thiêng và quan trọng. Đây là một sự bồi tội.
Một cách buồn bã, Chủ tọa là thẩm phán của Tòa án Tối cao, Michael G. Bowman, đã ngồi vào vị trí trung tâm của sân khấu tạm thời. Các công tổ viên được chỉ định từ mỗi hạt đi lên phía bên trái sân khấu khi các vụ án của họ được gọi tên, luật sư hạt từ Ventura và Contra Costa, từ Yolo và Tulare, từ Santa Barbara và Alameda và hạt Orange. Bên phải trên sân khấu là các luật sư bào chữa – và cuối cùng chính là bị cáo.
Một nhân viên đưa anh ta lên trên sân khấu khi anh ta gục xuống trên chiếc xe lăn, miệng há hốc, như thể anh ta bị hội chứng căng trương lực. Anh ta mặc một bộ áo liền quần màu cam sáng và đeo một tấm che mặt bằng nhựa trong suốt. Anh ta không bao giờ nhìn lên mà thay vào đó nhìn chằm chằm xuống chân mình. Anh ta thậm chí còn trông ốm yếu hơn so với lần điều trần đầu tiên trước công chúng 2 năm trước đó. Anh ta trông không xấu xa hay nguy hiểm. Trông anh ta như một ông già yếu ớt không hiểu chuyện gì đang xảy ra xung quanh mình.
Lúc đó, tất cả chúng tôi đều biết đó là lừa gạt.
Tôi cảm thấy một cơn tức giận đột ngột, dữ dội, sau đó là sự ghê tởm. Không còn có thể trốn tránh các nạn nhân của mình, DeAngelo thậm chí không có lễ độ thích hợp để xuất hiện tại phiên điều trần với tư cách chính mình. Thay vào đó, anh ta dựng lên một bức tranh biếm họa thảm hại về một nạn nhân không hiểu chuyện. Nếu không còn có thể luồn cúi mình an toàn trong bóng tối, giờ đây anh ta sẽ biến mất trong chính mình, và lại trở thành một ẩn số.
Đó là hành động hèn nhát cuối cùng của anh ta. Nó khiến tôi phát ốm.
Thẩm phán Bowman triệu tập phiên điều trần. Vụ kiện số 18FE008017 – Người dân bang California kiện Joseph James DeAngelo đang được tiến hành. Hầu hết các phiên điều trần nhận tội không kéo dài hơn 1 giờ và nhiều phiên điều trần được đẩy nhanh và kết thúc nhanh chóng. Nhưng không phải vụ này. Nó được lên kế hoạch diễn ra từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều, nhưng Thẩm phán Bowman đã cho phép nó kéo dài thêm 2 giờ nữa. Sau đó, một người bạn của tôi là cựu công tố viên đã nói với tôi rằng điều đó rất bất thường khi một thẩm phán cho phép các công tố viên nói nhiều về vụ án của họ; thông thường, thẩm phán thích đẩy nhanh mọi thứ. Tuy nhiên, Thẩm phán Bowman đã cho các công tố viên tất cả thời gian họ cần để đứng trước mặt ông ta và kể lại toàn bộ loạt tội ác của Sát nhân Golden State.
Khi mới bắt đầu điều tra vụ án, tôi nghiên cứu khá nhiều về kẻ giết người, tội ác và phương pháp của hắn. Nhưng điều đó không giúp tôi chuẩn bị cho những gì chúng tôi nghe trong phòng khiêu vũ đó. Từng người một, từng công tố viên đứng dậy và kể câu chuyện về nhiều nạn nhân và những người sống sót từ hạt của họ, không phóng đại nhưng cũng không bị giảm tránh. Một người sống sót, chúng tôi được cho biết, “đã chứng kiến DeAngelo bắn bố cô ấy 2 phát từ khoảng cách 3m, [trước khi] DeAngelo quay về phía cô ấy và đá 3 phát vào mặt cô”. Chúng tôi được biết rằng, sau khi trói một nạn nhân khác bằng một sợi dây ni lông trắng, DeAngelo đã cưỡng hiếp cô ấy và “bắn khẩu súng lục của hắn vào sau đầu cô”. Anh ta dùng dao ấn mạnh vào thái dương bên trái của một nạn nhân đến khi máu chảy xuống mặt và làm bẩn gối của cô, trước khi đe dọa cô: “Nếu cô cử động hoặc gây ra tiếng động nào, tôi sẽ đâm con dao này vào cơ thể cô”.
Rõ ràng là anh ta đã dùng một chiếc cờ lê kẹp ống để đập vào mặt một người phụ nữ và làm gãy chiếc răng mà cô ấy vừa mới chi 2.000 đô la để sửa.
Cứ thế tiếp diễn, một sự thuật lại những sự kiện khủng khiếp về sự xấu xa và đồi bại vô biên. Trải qua tất cả, DeAngelo ngồi lặng lẽ trong trạng thái sững sờ được tạo ra của mình. Tôi đọc hàng trăm bài báo và báo cáo về Sát nhân Golden State, nhưng chỉ đến khi tôi nghe tội ác của hắn được kể lại theo cách này, trước sự chứng kiến của kẻ tấn công và nạn nhân của hắn, tôi mới cảm thấy nỗi kinh hoàng thực sự về những gì đã xảy ra. Nó thật choáng ngợp. Những người phụ nữ lớn tuổi ngồi cạnh tôi là nạn nhân của anh ta, và họ đã khóc trong suốt phiên điều trần. Khi vụ án của họ được đưa ra, họ đứng vững vàng và nhìn chằm chằm vào DeAngelo, không bao giờ nhìn đi chỗ khác, không bao giờ che giấu nỗi đau của mình. Tôi cảm thấy mình giống như một nhân chứng trong một nghi lễ vừa đáng sợ lại vừa đầy sức mạnh, và là một nghi lễ hoàn toàn cần thiết.
Tuy nhiên, nghe về tội ác của anh ta chỉ là một phần của quá trình.
Phần khác là nghe anh ta thú nhận với chúng.
Sau khi các cáo buộc trong từng trường hợp được đọc to, Thẩm phán Bowman quay sang DeAngelo và yêu cầu anh ta nhận tội. Với lời thỉnh cầu đầu tiên, căn phòng hoàn toàn im lặng khi tất cả chúng tôi đều căng thẳng để nghe câu trả lời của anh ta. Lúc đầu, anh ta chỉ ngồi đó và không nói gì. Từng giây dài trôi qua. Sự căng thẳng trong phòng như có thể sờ thấy được. Có phải anh ta vẫn đùa giỡn với mọi người, và định không nhận tội?
Và rồi, bằng một giọng yếu ớt, gần như không thể nghe thấy, cuối cùng anh ta nói ra một từ duy nhất.
“Nhận tội”.
Nhiều lần, khi mỗi lời buộc tội được đọc lên, anh ta nói:
“Nhận tội”.
Các tội án khác được quy cho DeAngelo nhưng giờ đã quá thời hiệu cũng được nêu ra, và đối với những tội ác đó, DeAngelo có một lời biện hộ khác, cũng hầu như không thể nghe được, và thậm chí không phải là một câu mạch lạc:
Với mỗi người, anh ta nói, “Tôi thừa nhận”.
Tôi thừa nhận. Tôi thừa nhận. Tôi thừa nhận. Đối với những nạn nhân của những tội án đã hết thời hiệu của anh ta, khi nghe những lời này, tôi có thể cảm nhận được, họ xúc động một cách mãnh liệt – một sự xác minh nhỏ nhoi mà họ có thể đã tin rằng sẽ không bao giờ đến.
Sau đó, phiên điều trần đã kết thúc. Một sĩ quan xoay DeAngelo một vòng và đẩy anh ta ra khỏi sân khấu, vào một căn phòng phía sau và khuất tầm nhìn lần nữa.
Đáng lẽ tôi phải thực hiện một số cuộc phỏng vấn với giới truyền thông sau phiên điều trần, nhưng tôi lên lịch lại. Tôi cạn kiệt cảm xúc, suy sụp đến mức không thể trò chuyện với bất kỳ ai.
Theo một cách nào đó, phiên điều trần đã xác nhận công việc khó khăn mà tất cả chúng tôi bỏ ra. Nó chứng minh rằng công việc của chúng tôi hoàn toàn đáng giá. Bắt đầu với một kết quả di truyền về gen thấp như vậy, 62cM, nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục và đã có thể tìm thấy một số kết quả cao hơn. Và sau đó, 63 ngày sau lần đầu tải hồ sơ DNA tại hiện trường vụ án lên GEDmatch, chúng tôi có thể xác định được nghi phạm. Tôi biết rằng trong bối cảnh của một vụ án không có lời giải trong 40 năm, 63 ngày nghe có vẻ như là tốc độ cực nhanh. Nhưng không phải như vậy. Tất cả chúng tôi trong Đội công lý đã làm việc rất nhiều giờ đồng hồ mỗi ngày. Cộng tất cả số giờ mà các bên điều tra và thực thi pháp luật đã bỏ ra, bạn sẽ có kết quả là hàng nghìn, hàng nghìn giờ làm việc.
Một trong những điểm quan trọng là sự đánh giá sâu sắc về mức độ mạnh mẽ và hệ quả của công nghệ mới này. Đó là một yếu tố thay đổi cuộc chơi tuyệt đối, và việc chứng kiến Joseph DeAngelo thú nhận tội ác của mình sau 40 năm trốn chạy công lý đã khẳng định mạnh mẽ điều đó. Giờ đây, người ta có thể giải quyết các vụ án nan giải với tốc độ chóng mặt – không chỉ 1 hoặc 2 vụ mỗi năm, mà có thể là hàng trăm vụ.
Đây sẽ là một bước ngoặt trong lịch sử thực thi pháp luật Hoa Kỳ – nếu công cụ mới đáng kinh ngạc này vượt qua được nhiều thách thức về mặt đạo đức đối với nó.
Tuy nhiên, vào ngày hôm đó, tôi không tin rằng bất kỳ ai trong phòng khiêu vũ có thể phản đối nó, hoặc đánh giá thấp tác động của nó đối với hàng nghìn người bị ảnh hưởng bởi Sát nhân Golden State. 2 năm trước đó, Joseph James DeAngelo không phải là nghi phạm và có thể tin rằng anh ta sẽ hoàn toàn an toàn khi ẩn danh.
Nhưng vào ngày nay, anh ta ngồi trước thế giới, thu mình lại trong một vẻ ngoài hoang mang kỳ cục, không thể đối mặt với các nạn nhân của mình và được trù định đến một phòng giam nhỏ, nơi sẽ là nơi ẩn náu cuối cùng của anh ta trong những ngày còn lại.