Kho Báu Vua Solomon

Lượt đọc: 142 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
Con Đường Của Solomon

❊ ❊ ❊

Chúng tôi dừng lại bên ngoài hang động, cảm thấy có đôi chút ngớ ngẩn.

Sir Henry cất lời: “Tôi sẽ quay lại.”

Good hỏi: “Tại sao?”

“Vì tôi chợt nghĩ rằng—vừa rồi chúng ta thấy—biết đâu lại là anh trai tôi.”

Ý nghĩ này hoàn toàn mới mẻ, thế là chúng tôi quay lại nơi đó để kiểm chứng. Sau ánh sáng chói lọi bên ngoài, mắt chúng tôi, dẫu đã mỏi nhừ vì dán chặt vào tuyết, nhất thời chẳng thể xuyên thủng màn bóng tối trong hang. Tuy nhiên, chẳng mấy chốc chúng cũng quen dần với ánh sáng mập mờ, và chúng tôi tiến về phía xác chết.

Sir Henry quỳ xuống, đăm đăm nhìn vào khuôn mặt ấy.

Anh thở phào nhẹ nhõm: “Tạ ơn Chúa, không phải anh trai tôi.”

Bấy giờ tôi mới bước lại gần để quan sát. Đó là thi thể của một người đàn ông cao lớn ở độ tuổi trung niên, với những đường nét sắc sảo, mái tóc điểm bạc và bộ ria mép đen dài. Làn da ngả vàng óng, căng chặt lấy khung xương. Ngoại trừ thứ trông như tàn tích của một đôi tất bằng len, toàn bộ quần áo đã bị lột sạch, để lộ bộ khung xương khô khốc trần trụi. Ngữ quanh cổ cái xác đã cứng đờ vì giá lạnh là một chiếc thánh giá bằng ngà màu vàng.

Tôi thốt lên: “Quái lạ, đây là ai chứ?”

Good hỏi: “Anh không đoán ra sao?”

Tôi lắc đầu.

“Thì ra là cụ Dom José da Silvestra chứ ai—còn ai vào đây nữa?”

Tôi há hốc miệng: “Không thể nào, ông ấy mất cách đây ba trăm năm rồi cơ mà.”

Good hỏi lại: “Thế anh có biết điều gì ngăn cản ông ấy tồn tại suốt ba nghìn năm trong cái không khí này không? Chỉ cần nhiệt độ đủ thấp, thịt thỏ hay thịt cừu sẽ vẫn tươi nguyên mãi mãi chẳng khác gì thịt cừu New Zealand, và Chúa biết ở đây lạnh đến mức nào. Mặt trời chẳng bao giờ chiếu tới đây; cũng chẳng có con thú nào bén mảng đến để cắn xé hay phá hoại. Chắc chắn tên nô lệ mà ông ấy từng nhắc đến trong bản viết tay đã cởi quần áo cho ông và để ông lại đây. Một mình hắn thì không thể chôn cất ông nổi. Nhìn kìa!” Cậu ta tiếp lời, cúi xuống nhặt một khúc xương có hình thù kỳ lạ, một đầu được mài nhọn, “đây chính là ‘khúc xương chẻ’ mà Silvestra từng dùng để vẽ bản đồ.”

Chúng tôi sững sờ ngắm nhìn, quên bén cả nỗi khốn khổ của chính mình trước cảnh tượng phi thường và có vẻ như kỳ diệu này.

Sir Henry gật đầu: “Đúng vậy, và đây là nơi ông ấy lấy mực,” rồi anh chỉ vào một vết thương nhỏ trên cánh tay trái của cụ Dom. “Đã bao giờ có ai chứng kiến một chuyện thế này chưa?”

Sự việc giờ đây đã rành rành ra đấy, thú thật là nó khiến tôi hoàn toàn kinh hoàng. Kìa vị lão ông đã khuất đang ngồi đó, người có những chỉ dẫn được viết từ chừng mười thế hệ trước đã dẫn lối chúng tôi đến chốn này. Kìa trong lòng bàn tay tôi là chiếc bút thô sơ mà ông từng dùng để viết nên những dòng đó, và quanh cổ ông là cây thánh giá mà đôi môi hấp hối của ông từng hôn lên. Nhìn ngắm ông, trí tưởng tượng của tôi như dựng lại được màn kịch cuối cùng của cuộc đời: người lữ hành chết vì lạnh lẽo và đói khát, nhưng vẫn cố gắng truyền lại cho đời bí mật lớn lao mà ông đã khám phá ra—sự cô độc khủng khiếp trong cái chết của ông, minh chứng cho điều đó đang hiện diện ngay trước mắt chúng tôi. Thậm chí tôi còn tưởng như mình nhận ra trên những nét mặt khắc khổ ấy một nét tương đồng với người bạn bất hạnh của tôi—Silvestre, hậu duệ của ông, người đã qua đời trong vòng tay tôi hai mươi năm về trước; nhưng có lẽ đó chỉ là trí tưởng tượng của tôi mà thôi. Dẫu sao đi nữa, ông vẫn ngồi đó, một hoài niệm buồn bã về số phận thường trói buộc những kẻ dám dấn thân vào chốn vô định; và chắc chắn ông sẽ còn ngồi đó, mang chiếc vương miện uy quyền đầy kính sợ của cái chết, qua bao thế kỷ chưa thành hình, để làm kinh hoàng ánh mắt của những kẻ lang thang như chúng tôi, nếu lỡ có ai một lần nữa đến xâm phạm sự cô độc của ông. Cảnh tượng ấy đè bẹp chúng tôi, những kẻ vốn đã gần kiệt sức vì giá lạnh và đói lả.

Sir Henry cất giọng trầm trầm: “Chúng ta đi thôi; khoan đã, chúng ta sẽ cho ông ấy một người bầu bạn,” rồi anh xốc lấy thi thể của người Hottentot Ventvögel, đặt nằm cạnh thi thể của cụ Dom già. Tiếp đó, anh cúi xuống, giật đứt sợi dây đã mục của cây thánh giá đeo quanh cổ da Silvestra, bởi những ngón tay anh đã tê cóng chẳng thể tháo nổi. Tôi tin rằng đến giờ anh vẫn giữ nó. Tôi nhặt lấy chiếc bút xương, và giờ đây nó đang nằm trước mặt tôi khi tôi viết những dòng này—thỉnh thoảng tôi vẫn dùng nó để ký tên.

Rồi bỏ lại hai con người ấy—một kẻ da trắng kiêu hãnh của thời đại trước và một người Hottentot tội nghiệp—cùng canh gác vĩnh viễn giữa muôn trùng tuyết trắng, chúng tôi lết ra khỏi hang vào khoảng ánh nắng mặt trời chào đón, tiếp tục bước chân đi, thầm tự hỏi không biết còn bao nhiêu tiếng đồng hồ nữa trước khi chính chúng tôi cũng sẽ trở thành như họ.

Đi được chừng nửa dặm, chúng tôi đến mép của cao nguyên, bởi chóp núi thực ra không nhô lên ngay chính giữa, dẫu nhìn từ phía sa mạc thì có vẻ là như vậy. Dưới kia có gì chúng tôi chẳng thể thấy, vì cảnh vật đang quấn quýt trong những cuộn sương mù ban mai. Tuy nhiên, chẳng mấy chốc, những tầng sương phía trên hơi tan đi, hé lộ ở tận cuối dốc tuyết thoai thoải một khoảng cỏ xanh mướt rộng chừng năm trăm thước dưới chân chúng tôi, có một con suối đang róc rách chảy qua. Nào chỉ có thế. Bên dòng suối, sưởi ấm dưới ánh mặt trời rực rỡ, là một bầy linh dương lớn chừng mười đến mười lăm con—ở khoảng cách ấy chúng tôi không thể phân biệt được chúng thuộc loài nào.

Cảnh tượng ấy dâng tràn trong lòng chúng tôi niềm vui khôn tả. Nếu tóm được chúng, chúng tôi sẽ có thừa thãi thức ăn. Nhưng vấn đề là làm sao để làm được điều đó. Lũ thú cách xa tới sáu trăm thước, một khoảng cách quá xa cho một phát súng, và chẳng thể trông mong gì khi sinh mạng chúng tôi đang treo lơ lửng trên kết quả của nó.

Chúng tôi nhanh chóng bàn bạc xem có nên thử rình bắt con mồi hay không, nhưng cuối cùng đành ngậm ngùi gác lại. Trước hết, hướng gió không thuận lợi, hơn nữa, dù có cẩn thận đến đâu, chúng tôi chắc chắn vẫn sẽ bị phát hiện khi lọt thỏm giữa nền tuyết lóa mắt mà chúng tôi buộc phải băng qua.

Sir Henry nói: “Thôi được, chúng ta đành thử vận may từ chỗ này vậy. Quatermain, nên dùng súng trường liên thanh hay súng săn express đây?”

Đây lại là một câu hỏi khó. Súng trường liên thanh Winchester—chúng tôi có hai khẩu, Umbopa mang cả khẩu của tội nghiệp Ventvögel lẫn khẩu của mình—có tầm ngắm lên tới một ngàn thước, trong khi súng express chỉ ngắm được đến ba trăm rưỡi, vượt quá khoảng cách đó thì việc bắn chỉ mang tính chất đoán mò nhiều hơn. Mặt khác, nếu trúng đích, đạn express thuộc loại “tự nở” sẽ có khả năng hạ gục con mồi cao hơn rất nhiều. Quả là một vấn đề hóc búa, nhưng tôi đã quyết định rằng chúng ta phải đánh cược và dùng súng express.

Tôi bảo: “Mỗi chúng ta nhắm vào con linh dương ở phía trước mình. Hãy nhắm thật chuẩn vào bả vai và ngắm cao lên; còn Umbopa, anh hãy hô khẩu lệnh để tất cả chúng ta cùng bóp cò một lúc.”

Rồi một khoảng lặng trôi qua, ai nấy đều dồn hết tâm trí ngắm bắn một cách chuẩn xác nhất, quả thật một con người sẽ phải làm thế khi biết rõ mạng sống của mình đang phụ thuộc vào phát súng ấy.

Umbopa hô bằng tiếng Zulu: “Bắn!”, và gần như ngay khoảnh khắc đó, ba khẩu súng trường vang lên đinh tai; ba làn khói đục lơ lửng trước mặt chúng tôi trong giây lát, và hàng trăm tiếng vang dội bay vút qua lớp tuyết lặng lờ. Chẳng mấy chốc, khói tan đi, hé lộ ra—ôi, vui mừng biết bao!—một con linh dương lớn đang nằm ngửa, quằn quại điên cuồng trong cơn hấp hối. Chúng tôi thét lên vì chiến thắng—chúng tôi được cứu rồi—chúng tôi sẽ không phải chết đói. Dẫu thân hình rệu rã, chúng tôi vẫn lao cắm cổ xuống sườn dốc tuyết ngăn cách, và chỉ mười phút sau phát súng, tim và gan của con vật đã nằm trước mặt chúng tôi. Nhưng lúc này một rắc rối mới lại nảy sinh: chúng tôi chẳng có củi, thế nên chẳng thể nhóm lửa để nấu chín chúng. Chúng tôi chưng hửng nhìn nhau.

Good bảo: “Những kẻ đang chết đói thì không nên đòi hỏi cầu kỳ; chúng ta phải ăn thịt sống thôi.”

Chẳng còn cách nào khác để giải quyết tình thế tiến thoái lưỡng nan này, và chiếc bụng đói cồn cào khiến đề xuất ấy bớt phần ghê rợn hơn so với bình thường. Thế là chúng tôi lấy phần tim và gan vùi vào một đám tuyết trong chốc lát để làm nguội. Sau đó, chúng rửa sạch chúng trong làn nước lạnh giá của con suối, và cuối cùng là ngấu nghiến ăn. Nghe có vẻ đáng sợ thật đấy, nhưng thành thật mà nói, chưa bao giờ trong đời tôi được nếm món gì ngon đến thế miếng thịt sống ấy. Chỉ trong vòng mười lăm phút, chúng tôi như biến thành những con người khác. Sức sống và sự minh mẫn trở lại với cơ thể, những nhịp đập yếu ớt bỗng mạnh mẽ trở lại, và dòng máu lại rần rật chảy qua huyết quản. Nhưng vì dặn lòng phải ghi nhớ hậu quả của việc ăn quá no trên cái dạ dày đang đói lả, chúng tôi cẩn thận không ăn quá nhiều, dừng lại khi bụng vẫn còn chút cồn cào.

Sir Henry thốt lên: “Tạ ơn Chúa! Con vật khốn kiếp ấy đã cứu mạng chúng ta. Nó là con gì thế, Quatermain?”

Tôi đứng dậy bước lại xem xét con linh dương, bởi tôi cũng không chắc chắn lắm. Nó to khoảng bằng một con lừa, với cặp sừng cong lớn. Chưa bao giờ tôi thấy con vật nào như thế; loài này hoàn toàn xa lạ với tôi. Nó có bộ lông màu nâu, thoang thoảng những sọc đỏ, và lớp lông khá dày. Mãi sau này tôi mới khám phá ra rằng người bản xứ ở vùng đất tuyệt vời ấy gọi loài linh dương này là “inco”. Chúng rất hiếm, và chỉ được tìm thấy ở những vùng cao nguyên lạnh giá nơi không một loài thú nào khác có thể sinh sống. Con vật này đã trúng đạn khá chuẩn ở phần cao của bả vai, dẫu rằng viên đạn của ai đã hạ gục nó thì đương nhiên chúng tôi không tài nào biết được. Tôi tin rằng Good, vẫn còn tự đắc với phát súng tuyệt vời vào con hươu cao cổ ngày nào, thầm nhận vinh quang ấy về phần chiến công của mình, và chúng tôi chẳng buồn đính chính lại.

Mải mê lấp đầy chiếc bụng đói nên nãy giờ chúng tôi chẳng có thời gian để ngó nghiêng xung quanh. Nhưng giờ đây, sau khi phân công Umbopa cắt lấy phần thịt ngon nhất mà chúng tôi có thể mang theo, chúng tôi bắt đầu quan sát cảnh vật quanh mình. Sương mù đã tan biến hết vì lúc này đã là tám giờ sáng, mặt trời đã hút sạch hơi nước, thế nên chúng tôi có thể thu trọn toàn bộ phong cảnh trước mắt vào trong một cái nhìn. Tôi chẳng biết phải diễn tả thế nào về bức tranh toàn cảnh tuyệt mỹ đang mở ra trước mắt. Chưa bao giờ tôi thấy cảnh tượng nào tương tự, và có lẽ cũng chẳng bao giờ được thấy lại lần nữa.

Phía sau và bên trên chúng tôi sừng sững đôi gò tuyết trắng của Sheba, còn bên dưới, cách chỗ chúng tôi đứng chừng năm ngàn thước, là ngút ngàn những miền quê phẳng lặng đẹp đến nao lòng. Nơi thì những mảng rừng rậm rạp vươn cao, nơi thì dòng sông lớn uốn lượn dải lụa bạc. Phía bên trái trải rộng một vùng thảo nguyên hay đồng cỏ nhấp nhô trù phú, nơi chúng tôi chỉ có thể lờ mờ nhận ra vô số đàn thú hoặc gia súc, ở khoảng cách ấy thì không thể phân biệt nổi. Vùng đất rộng lớn này dường như được bao bọc bởi bức tường thành là dãy núi xa tít tắp. Phía bên phải, địa hình có phần đồi núi hơn; nghĩa là những ngọn đồi đơn độc nhô lên giữa vùng đất bằng phẳng, đan xen giữa những khoảng đất canh tác mà ta có thể nhìn thấy chi chít những cụm lều hình mái vòm. Cảnh tượng bày ra trước mắt chúng tôi tựa như một tấm bản đồ, nơi các con sông lóe sáng như những con rắn bạc, và những đỉnh núi tựa rặng Alps đội vòng hoa tuyết cuộn xoắn hoang dã vươn lên uy nghi, trong khi trùm lên tất cả là ánh nắng ngập tràn niềm vui cùng hơi thở của sự sống hạnh phúc chốn thiên nhiên.

Có hai điều kỳ lạ khiến chúng tôi chú ý khi ngắm nhìn. Thứ nhất, vùng đất trước mặt chúng tôi hẳn phải cao hơn ít nhất ba ngàn thước so với sa mạc mà chúng tôi vừa băng qua, và thứ hai, tất cả các con sông đều chảy từ Nam ra Bắc. Như chúng tôi đã phải trả giá bằng những đớn đau, chẳng có chút nước nào ở sườn phía nam của dãy núi khổng lồ mà chúng tôi đang đứng, nhưng ở mặt phía bắc lại có rất nhiều dòng suối, phần lớn dường như hợp lưu vào con sông lớn mà chúng tôi có thể thấy đang uốn lượn chảy xa mãi vượt quá tầm mắt.

Chúng tôi ngồi xuống một lúc lặng lẽ ngắm nhìn khung cảnh tuyệt diệu ấy. Chẳng mấy chốc Sir Henry lên tiếng.

Anh nói: “Trên bản đồ chẳng phải có nhắc đến Con đường Lớn của Solomon hay sao?”

Tôi gật đầu, vì mắt vẫn đang đăm đăm hướng về miền đất xa xôi.

“Kìa, nhìn kìa; nó ở đằng kia kìa!” và anh chỉ tay lệch về bên phải chúng tôi một chút.

Good và tôi cùng nhìn theo, và ở đó, uốn lượn trải dài về phía đồngg bằng, là thứ trông giống như một con đường cái quan rộng lớn. Ban nãy chúng tôi không thấy nó vì khi vươn tới vùng đồng bằng, nó đã rẽ khuất sau một vùng địa hình gồ ghề. Chúng tôi chẳng nói gì, hoặc chí ít là không nói nhiều; chúng tôi đang dần đánh mất cảm giác ngạc nhiên. Không hiểu sao việc tìm thấy một kiểu đường sá La Mã nào đó ở vùng đất xa lạ này lại chẳng có vẻ gì là quá bất thường đối với chúng tôi cả. Chúng tôi chấp nhận thực tế ấy, thế thôi.

Good bảo: “Thôi được, nó chắc phải nằm sát ngay chúng ta nếu ta rẽ chéo sang phải. Hay là chúng ta lên đường nhỉ?”

Đó là một lời khuyên đúng đắn, và ngay sau khi rửa mặt mũi tay chân ở con suối, chúng tôi bắt đầu hành động. Khoảng một dặm đường hay hơn, chúng tôi băng qua những tảng đá lớn và những đám tuyết, cho tới khi bất ngờ leo lên đỉnh một gò đất nhỏ và nhìn thấy con đường nằm ngay dưới chân mình. Đó là một con đường tuyệt đẹp được đẽo tạc từ những tảng đá nguyên khối, rộng ít nhất năm mươi thước và có vẻ được gìn giữ rất tốt; dẫu điều kỳ cục là nó có vẻ bắt đầu từ đúng chỗ đó. Chúng tôi bước xuống và đứng trên mặt đường, nhưng chỉ cách phía sau chúng tôi đúng một trăm bước chân, về hướng đôi gò của Sheba, nó lại biến mất, toàn bộ bề mặt ngọn núi rải rác những tảng đá lớn đan xen với các vạt tuyết.

Sir Henry hỏi: “Quatermain, anh nghĩ sao về thứ này?”

Tôi lắc đầu, chẳng thể tài nào hiểu nổi.

Good nói: “Tôi hiểu rồi! Con đường này chắc chắn đã chạy vắt qua dãy núi và băng qua sa mạc ở phía bên kia, nhưng cát ở đó đã vùi lấp nó mất rồi, còn ở trên này thì nó bị xóa sổ bởi một đợt phun trào núi lửa nào đó của dung nham nóng chảy.”

Ý kiến này nghe có vẻ hợp lý; dù sao thì chúng tôi cũng chấp nhận lời giải thích đó và tiếp tục xuôi núi. Chuyến hành trình đi xuống trên con đường hùng vĩ ấy với cái bụng no nê quả là một trời một vực so với lúc leo lên qua lớp tuyết khi đang đói lả và gần như chết cóng. Quả thực, nếu không vì những hồi ức u ám về số phận bi thảm của tội nghiệp Ventvögel, cùng cái hang ác mộng nơi hắn bầu bạn với cụ Dom già, thì chúng tôi đã cảm thấy phấn chấn hẳn lên, dẫu cho trước mắt vẫn là những hiểm nguy chưa rõ hình thù. Cứ mỗi dặm đường chúng tôi đi qua, bầu không khí lại trở nên dịu ngọt và êm ả hơn, còn vùng đất trước mắt lại bừng sáng một vẻ đẹp rực rỡ bội phần. Riêng về phần con đường, chưa bao giờ tôi được thấy một công trình kỹ thuật nào nhường ấy, dẫu Sir Henry bảo rằng con đường lớn băng qua đèo St. Gothard ở Thụy Sĩ cũng rất giống như thế. Chẳng có khó khăn nào là quá lớn đối với kỹ sư Cổ đại đã vạch ra nó. Có đoạn chúng tôi đi đến một khe núi rộng tới ba thước và sâu ít nhất một trăm thước. Vực thẳm bao la ấy thực chất đã được lấp đầy bằng những khối đá đẽo gọt khổng lồ, khoét rỗng những vòm cửa dưới đáy làm đường cho nước chảy qua, để rồi con đường vẫn hiên ngang vắt qua bên trên. Ở một đoạn khác, nó được đẽo tạc theo hình chữ chi bám vào sườn một vách đá dựng đứng sâu năm thước, và ở đoạn thứ ba thì xuyên hầm qua chân một sườn đồi chắn ngang, một đoạn dài khoảng ba chục thước hay hơn.

Tại đây, chúng tôi nhận thấy hai bên vách hầm được chạm trổ những hình thù kỳ lạ, phần lớn là các nhân vật mặc áo giáp đang đánh xe ngựa. Có bức điêu khắc vô cùng tinh xảo, tái hiện cả một khung cảnh chiến trận với một đoàn tù binh đang bị áp giải đi ở phía xa.

Sau khi ngắm nghía công trình nghệ thuật cổ xưa này, Sir Henry nhận xét: “Ừ thì, gọi đây là con đường của Solomon cũng được, nhưng theo ý kiến khiêm tốn của tôi thì người Ai Cập đã đặt chân đến đây từ trước khi dân tộc của Solomon bén mảng tới. Nếu đây không phải là tác phẩm của người Ai Cập hay Phên-i-ki thì tôi dám cá nó cũng rất giống.”

Đến giữa trưa, chúng tôi đã tiến xuống núi đủ sâu để tới được vùng có cây cối. Đầu tiên chúng tôi gặp những bụi cây mọc thưa thớt, rồi chúng xuất hiện ngày một dày đặc hơn, cho tới tận khi chúng tôi thấy con đường uốn lượn xuyên qua một khu rừng bạc bạt ngàn tương tự như những loài cây có thể thấy trên sườn Núi Bàn ở Cape Town. Trong suốt những chuyến phiêu lưu, chưa bao giờ tôi bắt gặp chúng ngoài trừ ở Cape, và sự xuất hiện của chúng ở đây khiến tôi vô cùng ngạc nhiên.

Good ngắm nghía những tán lá lấp lánh với vẻ hào hứng rõ rệt, nói: “A! Ở đây có rất nhiều củi rồi, chúng ta hãy dừng lại nấu chút bữa trưa thôi; tôi sắp tiêu hóa hết miếng tim sống kia mất rồi.”

Chẳng ai phản đối điều này, thế là rời khỏi con đường, chúng tôi hướng về một con suối đang róc rách chảy cách đó không xa, và chẳng mấy chốc đã nhóm lên được một đống lửa củi khô bập bùng cháy rực. Cắt ra những tảng thịt dày cộm từ con linh dương inco mà chúng tôi mang theo, chúng tôi đem xiên vào những mũi gậy nhọn rồi hơ nướng hệt như cách người Kafir vẫn làm, và ăn chúng với tất cả sự ngon miệng. Sau khi đã no nê, chúng tôi châm tẩu thuốc và đắm mình vào sự tận hưởng mà so với những gian khổ vừa qua, nó tựa như chốn bồng lai tiên cảnh.

Con lạch với hai bên bờ phủ kín những thảm dương xỉ vĩ đại đan xen với những chùm măng tây dại mềm mại cất tiếng ca vui vẻ bên cạnh chúng tôi, làn gió dịu dàng mơn man qua kẽ lá những tán cây bạc, chim bồ câu gù vang quanh đó, và những chú chim rực rỡ sắc màu chao lượn như những viên ngọc sống từ cành này sang cành khác. Quả là một chốn thiên đường.

Sự ma mị của chốn này kết hợp với cảm giác choáng ngợp khi đã bỏ lại sau lưng mọi hiểm nguy, cùng miền đất hứa cuối cùng cũng chạm tới, dường như đã ru ngủ chúng tôi vào sự tĩnh lặng. Sir Henry và Umbopa ngồi trò chuyện với nhau bằng thứ tiếng pha trộn giữa tiếng Anh bồi và tiếng Zulu chợ búa với giọng trầm thấp nhưng vô cùng nghiêm túc, còn tôi thì nằm nhắm hờ đôi mắt trên chiếc giường dương xỉ ngát hương ấy mà ngắm nhìn họ.

Chẳng mấy chốc tôi không thấy Good đâu nữa, bèn đảo mắt tìm xem cậu ta đã đi đâu. Chẳng bao lâu sau, tôi thấy cậu ta đang ngồi bên bờ suối, nơi cậu vừa tắm táp xong. Cậu chẳng mặc gì ngoài chiếc áo sơ mi flannel, và bản tính vô cùng ngăn nắp vốn có nay đã trỗi dậy, cậu đang tất bật thực hiện một cuộc đại tu sửa trang điểm hết sức kỳ công. Cậu đã giặt chiếc cổ áo cao su non, rũ thật sạch quần, áo khoác và áo vest, rồi xếp chúng lại thật gọn gàng cho đến khi sẵn sàng mặc lên người, miệng thở dài buồn bã khi săm soi những vết rách và lỗ thủng chằng chịt trên đó—hậu quả tất yếu từ chuyến hành trình kinh hoàng vừa qua của chúng tôi. Sau đó, cậu cầm đôi giày, dùng một nắm dương xỉ cọ sạch rồi cuối cùng bôi lên đó một lớp mỡ mà cậu đã cẩn thận cất giữ từ miếng thịt inco, cho đến khi chúng trông có vẻ... lịch sự hơn hẳn so với trước. Sau khi dùng một lúp lờ săm soi chúng một cách đầy phán đoán, cậu xỏ giày vào và bắt đầu một công đoạn mới. Từ trong một chiếc túi nhỏ mang theo, cậu lấy ra một chiếc lược bỏ túi có gắn một chiếc gương nhỏ xíu, và soi mình trong đó. Hình như cậu vẫn chưa vừa ý, liền tiến chải chuốt mái tóc của mình một cách cực kỳ cẩn thận. Rồi cậu khựng lại một lát để ngắm nghía hiệu quả; vậy mà vẫn chưa thỏa đáng. Cậu sờ lên cằm, nơi bộ râu lởm chởm tích tụ từ mười ngày nay đang mọc um tùm.

Tôi thầm nghĩ: “Chắc chắn là hắn không định cạo râu đấy chứ.”

Thế mà đúng là thế thật. Cầm miếng mỡ vừa dùng để bôi trơn đôi giày, Good rửa thật sạch nó dưới dòng suối. Rồi lại thọc tay vào túi lấy ra một chiếc dao cạo bỏ túi có khung bảo vệ, loại thường được mua bởi những kẻ sợ đứt tay hoặc những người sắp sửa đi biển. Tiếp đó, cậu xoa bóp mặt và cằm thật lực bằng lớp mỡ rồi bắt đầu. Rõ ràng đó là một quá trình đau đớn, vì cậu cứ rên rỉ liên tục, còn tôi thì buồn cười đến quặn cả ruột khi quan sát cậuật lộn với đám râu cứng như bàn chải ấy. Thật quá quái dị khi một gã đàn ông lại đi nhọc công cạo râu bằng một mẩu mỡ ở một chốn khỉ ho cò gáy thế này và trong hoàn cảnh ngặt nghèo của chúng tôi. Cuối cùng cậu cũng thành công trong việc dọn sạch đám râu bên má phải và cằm, thì bỗng nhiên tôi—kẻ đang theo dõi—chợt nhận ra một tia chớp xẹt ngang qua ngay sát đầu cậu.

Good tung người đứng phắt dậy với một tiếng chửi thề (nếu không phải là dao cạo an toàn thì chắc chắn cậu đã cắt cổ mình rồi), và tôi cũng vậy, nhưng không chửi thề, và đây là cảnh tượng đập vào mắt tôi. Đứng cách chỗ tôi không quá hai chục thước, và cách Good mười thước, là một nhóm người. Họ rất cao lớn, da màu đồng, và vài người đội những vàm lông vũ màu đen lớn cùng áo choàng ngắn bằng da báo; đó là tất cả những gì tôi nhận thấy vào khoảnh khắc ấy. Đứng trước họ là một thiếu niên chừng mười bảy tuổi, tay vẫn giơ cao và thân hình chồm về phía trước theo tư thế của một bức tượng Hy Lạp đang phóng lao. Rõ ràng tia chớp vừa rồi là do một thứ vũ khí mà cậu ta vừa ném đi gây ra.

Khi tôi nhìn sang, một người đàn ông già dặn mang dáng dấp binh sĩ bước lên từ nhóm người, túm lấy tay thiếu niên và nói gì đó với cậu ta. Rồi họ tiến thẳng về phía chúng tôi.

Lúc này Sir Henry, Good và Umbopa đã chộp lấy súng trường và giương lên đầy đe dọa. Nhóm người bản xứ vẫn tiếp tục tiến đến. Tôi chợt nghĩ rằng họ hẳn chẳng biết súng trường là thứ gì, bằng không họ đã chẳng tỏ thái độ khinh suất đến thế.

Thấy rằng cơ hội sống sót duy nhất nằm ở việc hòa giải, tôi liền hét lớn với những người khác: “Hạ súng xuống!”

Họ tuân lệnh, và tôi bước lên phía trước cất tiếng chào người lớn tuổi vừa ngăn cản cậu thanh niên.

Tôi cất tiếng bằng tiếng Zulu, dẫu chẳng biết nên dùng ngôn ngữ nào: “Chào các vị.”

Trước sự ngạc nhiên của tôi, họ hiểu được tôi.

Lão già đáp lời: “Chào ngươi,” quả thực không phải bằng cùng một thứ tiếng, mà bằng một thứ phương ngữ gắn kết gần gũi đến mức cả Umbopa lẫn tôi đều không gặp chút khó khăn nào khi hiểu ông ta. Quả thật, như chúng tôi đã phát hiện ra sau đó, ngôn ngữ được sử dụng bởi tộc người này là một dạng tiếng Zulu cổ xưa, mang sự liên hệ với nó giống như tiếng Anh của Chaucer đối với tiếng Anh thế kỷ mười chín.

Ông ta hỏi tiếp: “Các ngươi từ đâu đến? Các ngươi là ai? Và tại sao mặt của ba người lại trắng trẻo, còn mặt của kẻ thứ tư thì lại giống hệt mặt những người con của mẹ chúng ta?” rồi ông chỉ tay về phía Umbopa. Tôi nhìn Umbopa khi ông ta nói thế, và chợt lóe lên trong đầu tôi rằng ông ấy đã nói đúng. Khuôn mặt của Umbopa trông hệt như những khuôn mặt của nhóm người trước mặt, và vóc dáng vạm vỡ của anh cũng vậy. Nhưng tôi chẳng có thời gian để ngẫm nghĩ về sự trùng hợp này.

Tôi nói, cố tình cất giọng thật chậm để ông ta có thể hiểu: “Chúng tôi là những kẻ lữ hành và đến trong hòa bình, còn người này là người hầu của chúng tôi.”

Ông ta đáp: “Ngươi nói dối; chẳng có kẻ lữ hành nào có thể vượt qua ngọn núi nơi vạn vật đều phải diệt vong. Nhưng những lời dối trá của các ngươi thì có nghĩa lý gì chứ?—nếu các ngươi là người lạ thì các ngươi phải chết, bởi không một kẻ lạ mặt nào được phép sống trên vùng đất của tộc Kukuanas. Đó là luật của nhà vua. Hỡi những kẻ lạ mặt, hãy chuẩn bị chết đi!”

Tôi hơi chao đảo trước câu nói này, nhất là khi thấy tay của một vài gã trong nhóm lén lút lần xuống bên hông, nơi mỗi người dắt một thứ trông giống như một con dao lớn và nặng.

Good cằn nhằn: “Tên khất đó đang nói cái quái gì thế?”

Tôi lạnh lùng đáp: “Hắn bảo chúng ta sắp bị giết.”

“Ôi chúa ơi!” Good rên rỉ; và theo thói quen mỗi khi bối rối, cậu đưa tay lên hàm răng giả, kéo hàm trên xuống rồi thả cho chúng bật ngược lại cắn vào hàm với một tiếng lách cách. Đó là một cử chỉ vô cùng may mắn, bởi chỉ ngay giây tiếp theo, đám đông người Kukuanas đầy uy nghiêm liền đồng thanh thét lên một tiếng kinh hoàng và giật lùi lại mấy thước.

Tôi hỏi: “Có chuyện gì thế?”

Sir Henry thì thầm đầy phấn khích: “Là hàm răng của cậu ta đấy. Cậu ấy vừa cử động chúng. Lấy chúng ra đi Good, lấy ra mau!”

Cậu ta tuân lệnh, thong thả trượt bộ hàm vào trong tay áo sơ mi flannel.

Chỉ trong tích tắc, sự tò mò đã chiến thắng nỗi sợ hãi, và đám đông chậm chạp tiến lại gần. Dường như họ đã quên béng đi ý định thân thiện ban đầu là muốn giết chúng tôi.

Lão già trang nghiêm hỏi: “Hỡi những người lạ, tại sao gã béo này (chỉ tay về phía Good, kẻ chẳng mặc gì ngoài đôi bốt và chiếc áo sơ mi flannel, mới cạo râu được một nửa), người có thân thể mặc quần áo nhưng chân lại trần trụi, người mọc râu ở một bên mặt đau ốm còn bên kia thì không, và kẻ đeo một con mắt lấp lánh trong suốt—tại sao, ta hỏi ngươi, hắn lại có hàm răng biết tự cử động, có thể rời khỏi quai hàm rồi tự quay về theo ý muốn?”

Tôi bảo Good: “Hãy há miệng ra,” và cậu ta lập tức ngoạm môi lại, nhe hàm cười với lão già hệt như một con chó dữ, phơi bày trước ánh mắt kinh ngạc của lão hai đường lợi đỏ hỏn hoàn toàn trống trơn không một chiếc răng nào giống như một chú voi mới lọt lòng. Cả đám đông há hốc miệng.

Họ hét lên: “Răng của hắn đâu rồi? Rõ ràng mắt chúng ta vừa thấy cơ mà.”

Quay đầu lại thật chậm với vẻ khinh bỉ khôn cùng, Good quơ tay qua miệng. Rồi cậu lại nhe răng cười, và kìa, hai hàm răng tuyệt đẹp lại hiện ra.

Bấy giờ, chàng thanh niên vừa ném con dao bỗng ngã vật xuống thảm cỏ và tru lên một tràng dài đầy kinh hãi; còn về phần lão già, hai chân ông ta run lẩy bẩy vì sợ.

Ông ta lắp bắp nói: “Ta thấy các ngươi chính là thần linh; có kẻ nào sinh ra từ người mẹ mà lại mọc râu một bên mặt còn bên kia thì không, hay có con mắt tròn trong suốt, hoặc hàm răng biết cử động, tự tan biến rồi lại mọc ra như thế bao giờ? Xin hãy tha tội cho chúng tôi, hỡi các chúa công.”

Quả là một vận may lớn, và khỏi phải nói, tôi đã chộp lấy cơ hội đó ngay lập tức.

Tôi nở nụ cười đế vương, đáp: “Được tha tội. Không, các ngươi phải biết sự thật. Dẫu chúng ta cũng là con người giống như các ngươi, nhưng chúng ta đến từ một thế giới khác; chúng ta đến,” tôi tiếp lời, “từ ngôi sao sáng nhất tỏa sáng vào ban đêm.”

Đám đông thổ dân kinh ngạc đồng thanh rên lên: “Ồ! Ồ!”

Tôi tiếp tục: “Phải, quả thực là chúng tôi đến từ đó”; và tôi lại mỉm cười nhân từ khi thốt ra lời nói dối động trời ấy. “Chúng tôi đến để ở lại với các ngươi một thời gian ngắn, và ban phước cho các ngươi bằng sự hiện diện của mình. Hỡi những người bạn, các ngươi sẽ thấy rằng ta đã chuẩn bị cho chuyến thăm này bằng cách học ngôn ngữ của các ngươi.”

Đám đông lẩm bẩm: “Quả đúng là vậy, quả đúng là vậy.”

Lão già chêm vào: “Chỉ có điều, thưa chúa công, ngài học dở tệ.”

Tôi trừng mắt nhìn ông ta đầy phẫn nộ, và lão ta rụt cổ lại. Tôi tiếp tục: “Giờ đây hỡi những người bạn, các ngươi có thể nghĩ rằng sau một cuộc hành trình dài dằng dặc thế này, chúng ta sẽ nỡ lòng nào trả thù cho một màn đón tiếp như vậy, biết đâu lại giáng đòn tử thần xuống cái bàn tay hống hách đã—mà tóm lại là—ném một con dao vào đầu kẻ có hàm răng lúc ẩn lúc hiện.”

Lão già van xin: “Xin hãy tha mạng cho nó, hỡi các chúa công; nó là con trai của nhà vua, và ta là chú của nó. Nếu có chuyện gì xảy ra với nó, cái mạng của nó sẽ bắt ta đền tội đấy.”

Chàng thanh niên phụ họa với vẻ đầy quả quyết: “Vâng, đúng là thế thật.”

Tôi phớt lờ màn tung hứng này, nói tiếp: “Có lẽ các ngươi vẫn còn nghi ngờ năng lực báo thù của chúng ta. Đợi đã, ta sẽ cho các ngươi thấy. Nào, hỡi tên chó săn và nô lệ (hướng về phía Umbopa với giọng hung hăng), hãy đưa cho ta cái ống ma thuật biết nói ấy”; và tôi nháy mắt ra hiệu về phía khẩu súng express của mình.

Umbopa hiểu ý, và với một cử chỉ gần giống như nụ cười nhất mà tôi từng thấy trên khuôn mặt trang nghiêm của anh, hắn đưa khẩu súng cho tôi.

Anh cúi đầu sâu thẳm nói: “Nó đây thưa Chúa tể của các Chúa tể.”

Ngay trước khi xin khẩu súng, tôi đã nhận ra một con linh dương klipspringer đang đứng trên một mảng đá cách đó chừng bảy mươi thước, và quyết định đánh cược phát súng này.

Tôi vừa chỉ vào con vật trước mặt nhóm người vừa nói: “Các ngươi thấy con linh dương kia chứ. Hãy nói cho ta biết, liệu một kẻ sinh ra từ người mẹ có thể giết chết nó từ khoảng cách này chỉ bằng một tiếng nổ không?”

Lão già đáp: “Thưa chúa công, điều đó là không thể.”

Tôi điềm đạm đáp: “Thế mà ta sẽ giết chết nó đấy.”

Lão già mỉm cười. “Điều đó chúa công không thể làm được đâu,” lão đáp.

Tôi giương súng lên ngắm chuẩn con linh dương. Nó là một con vật nhỏ, và việc bắn trượt nó là điều hoàn toàn có thể được tha thứ, nhưng tôi thừa hiểu rằng lúc này mình không được phép trượt.

Tôi hít một hơi thật sâu, rồi từ từ bóp cò. Con linh dương đứng im như tượng đá.

“Pằng! Cộp!” Con linh dương chồm lên không trung rồi ngã vật xuống tảng đá chết tươi.

Một tiếng rên rỉ đầy kinh hãi đồng loạt phát ra từ nhóm người trước mặt.

Tôi điềm tĩnh nhận xét: “Nếu các ngươi muốn có thịt, hãy ra khiêng con linh dương đó về đi.”

Lão già ra hiệu, và một kẻ thuộc hạ bước đi, chốc sau quay lại mang theo xác con klipspringer. Tôi hài lòng nhận ra mình đã bắn trúng ngay phía sau bả vai nó. Họ quây quần xung quanh thi thể tội nghiệp của con vật, kinh hãi nhìn chằm chằm vào lỗ đạn.

Tôi nói: “Các ngươi thấy đấy, ta không nói những lời suông.”

Chẳng có câu trả lời nào vang lên.

Tôi tiếp tục: “Nếu các ngươi vẫn còn nghi ngờ uy lực của chúng ta, hãy để một kẻ trong số các ngươi đứng lên tảng đá kia để ta biến hắn thành thế này.”

Chẳng một ai tỏ ra có ý định muốn làm theo gợi ý đó, cho đến tận khi con trai nhà vua lên tiếng.

“Nói hay lắm. Hỡi chú của con, ngài hãy lên đứng trên tảng đá đi. Phép thuật mới chỉ giết được một con linh dương thôi. Chắc chắn nó không thể giết được một người đâu.”

Lão già tỏ ra không mấy hào hứng với gợi ý này. Thực ra, lão có vẻ bị tổn thương.

Lão vội vã thốt lên: “Không! Không! Đôi mắt già nua của ta đã thấy đủ rồi. Bọn họ quả thực là phù thủy. Hãy đưa họ yết kiến nhà vua đi. Tuy nhiên, nếu ai muốn có thêm bằng chứng, cứ việc đứng lên tảng đá để cái ống ma thuật kia trò chuyện với hắn.”

Một làn sóng từ chối diễn ra vô cùng đồng lòng và vội vã.

Một kẻ lên tiếng: “Đừng lãng phí phép thuật tốt đẹp lên những thân xác khốn khổ của chúng tôi; chúng tôi đã mãn nguyện rồi. Tất cả tà thuật của tộc nhân chúng ta chẳng tài nào sánh được với thế này đâu.”

Lão già cất giọng đầy nhẹ nhõm: “Quả đúng là vậy; không mảy may nghi ngờ gì nữa, đích thị là thế. Lắng nghe đây, những đứa con của các Vì Sao, những đứa con của con mắt sáng ngời và hàm răng biết cử động, những kẻ gầm thét như sấm và tước đoạt mạng sống từ đằng xa. Ta là Infadoos, con trai của Kafa, từng là vua của tộc Kukuana. Còn thiếu niên này là Scragga.”

Good lầm bầm: “Hắn suýt nữa thì tóm cổ tớ đấy.”

“Scragga, con trai của Twala, vị vua vĩ đại—Twala, phu quân của hàng ngàn bà vợ, thủ lĩnh kiêm chúa tể tối cao của tộc Kukuanas, người gìn giữ Con đường Lớn, nỗi kinh hoàng của kẻ thù, kẻ nghiên cứu Hắc thuật, thủ lĩnh của hàng trăm ngàn chiến binh, Twala Mắt Một, Kẻ Đen tối, Kẻ Đáng sợ.”

Tôi cao ngạo đáp: “Được rồi, thế thì hãy dẫn chúng ta đi yết kiến Twala. Chúng ta không trò chuyện với những kẻ hạ đẳng và thấp kém.”

“Thưa các chúa công, xin vâng, chúng tôi sẽ dẫn đường; nhưng con đường rất dài. Chúng tôi đang đi săn cách nơi ở của nhà vua ba ngày đường. Nhưng xin các chúa công hãy kiên nhẫn, chúng tôi sẽ dẫn các ngài đi.”

Tôi hờ hững nói: “Được thôi; thời gian còn dài phía trước, bởi chúng ta đâu có phải chết. Chúng ta sẵn sàng rồi, hãy dẫn đường đi. Nhưng này Infadoos, và cả ngươi nữa Scragga, hãy cẩn thận đấy! Đừng có giở trò khỉ gió nào với chúng ta, đừng giăng bẫy cáo nào cả, bởi trước khi bộ não bùn đất của các ngươi kịp nghĩ tới chúng thì chúng ta đã thừa sức thấu tỏ và trả thù rồi. Ánh sáng từ con mắt trong suốt của kẻ đi chân trần và mặt râu một nửa sẽ tiêu diệt các ngươi và càn quét qua vùng đất của các ngươi; hàm răng biết tàng hình của hắn sẽ bám chặt lấy các ngươi rồi ngấu nghiến các ngươi, cả vợ con các ngươi nữa; những ống ma thuật sẽ lớn tiếng tranh biện với các ngươi và biến các ngươi thành những cái sàng đấy. Hãy cẩn thận!”

Lời tuyên bố hùng hồn này đạt hiệu quả vô cùng mỹ mãn; thực ra, có lẽ chúng ta cũng chẳng cần nói to tát đến thế, bởi đám bạn mới của chúng ta đã sớm bị khuất phục trước uy lực của nhóm quá sâu rồi.

Lão già cúi đầu thật sâu, lẩm bẩm hai từ “Koom Koom”, mà sau này tôi mới phát hiện ra đó là khẩu lệnh chào mừng hoàng gia của họ, tương đương với câu Bayéte của tộc Zulus, rồi quay người lại dặn dò đám thuộc hạ. Bọn họ liền lập tức chộp lấy toàn bộ hành lý tư trang của chúng tôi để mang hộ, ngoại trừ duy nhất những khẩu súng trường mà dù thế nào đi nữa họ cũng cương quyết không chạm vào. Họ thậm chí còn túm lấy cả quần áo của Good, thứ mà độc giả hẳn còn nhớ là đã được xếp gọn gàng ngay ngắn bên cạnh cậu. Cậu ta trông thấy liền lao bổ vào, thế là một cuộc cãi vã lớn nổ ra.

Lão già ngăn lại: “Xin chúa công mang con mắt trong suốt và hàm răng biết tan biến đừng chạm vào chúng. Chắc chắn nô lệ của ngài sẽ lo mang vác mấy thứ đó.”

Good gân cổ lên bằng thứ tiếng Anh cáu kỉnh: “Nhưng tôi muốn mặc chúng vào!”

Umbopa dịch lại.

Infadoos đáp: “Không đâu chúa công, lẽ nào chúa công lại muốn che đậy đôi chân trắng ngần tuyệt đẹp của mình (dẫu da ngăm đen nhưng Good sở hữu làn da trắng đến kỳ lạ) khỏi tầm mắt của các bề tôi hay sao? Chúng tôi đã mạo phạm điều gì khiến ngài phải làm thế chứ?”

Đến đây tôi suýt phì cười nức nẻ; và trong lúc đó, một gã trong bọn đã ôm đống quần áo cắm cổ chạy trước.

Good gầm lên: “Mẹ kiếp! Tên phản chủ da đen ấy dám vơ lấy cái quần của tao rồi kìa.”

Sir Henry bảo: “Này Good, cậu đã xuất hiện ở vùng đất này với một thân phận nhất định, và cậu phải sống đúng với cái vai trò ấy. Cậu tuyệt đối không thể mặc quần lại được nữa. Từ nay về sau, cậu phải sống chung với chiếc áo sơ mi flannel, một đôi bốt và chiếc lúp lờ.”

Tôi nói: “Đúng thế, và với bộ râu mọc một bên mặt còn bên kia thì trụi lủi. Nếu cậu thay đổi bất cứ thứ gì trong số đó, người ta sẽ nghĩ chúng ta là những kẻ bịp bợm. Tôi rất tiếc cho cậu, nhưng nghiêm túc đấy, cậu buộc phải thế. Nếu họ bắt đầu nghi ngờ chúng ta, mạng sống của chúng ta sẽ chẳng đáng một xu rách đâu.”

Good ủ rũ hỏi: “Cậu thực sự nghĩ thế sao?”

“Tôi nghĩ thế thật. ‘Đôi chân trắng ngần tuyệt đẹp’ và chiếc lúp lờ của cậu giờ đây chính là đặc điểm nhận diện của nhóm chúng ta, và như Sir Henry đã nói, cậu phải sống đúng với nó. Hãy thấy may mắn vì cậu vẫn còn đi bốt và thời tiết thì ấm áp đi.”

Good thở dài thườn thượt chẳng nói thêm câu nào nữa, nhưng cậu ta phải mất ròng rã nửa tháng trời mới quen nổi với bộ y phục thiếu thốn mới mẻ ấy.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.