Kho Báu Vua Solomon

Lượt đọc: 142 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Tôi Gặp Sir Henry Curtis

❊ ❊ ❊

Thật kỳ lạ khi ở độ tuổi của tôi — vừa tròn năm mươi lăm vào sinh nhật vừa rồi — tôi lại cầm bút viết lại một cuốn hồi ký. Tự nhũ không biết câu chuyện này sẽ trôi về đâu khi tôi đặt dấu chấm hết, giả sử tôi còn có thể đi đến tận cùng của chuyến hành trình ấy! Tôi đã trải qua không ít thăng trầm trong đời, một cuộc đời mà tôi cảm thấy khá dài, có lẽ bởi tôi đã sớm bươn chải từ khi còn quá trẻ. Vào cái tuổi mà những đứa trẻ khác còn cắp sách đến trường, tôi đã tự mưu sinh bằng nghề buôn bán tại vùng Thuộc địa cũ. Từ đó đến nay, cuộc đời tôi chỉ quẩn quanh với buôn bán, săn bắn, chiến đấu và khai mỏ. Thế nhưng, chỉ mới tám tháng trước tôi mới thực sự tích lũy được một gia tài đáng kể. Giờ đây số tiền ấy đã rất lớn — dù tôi còn chưa nắm rõ chính xác là bao nhiêu — nhưng chắc chắn tôi sẽ không vì nó mà trải qua mười lăm hay mười sáu tháng vừa qua thêm một lần nào nữa; không, dù có chắc chắn rằng mình sẽ bình an vô sự trở về đi chăng nữa, kèm theo cả đống tài sản kia đi nữa. Nhưng ngặt một nỗi, tôi vốn là kẻ nhút nhát và căm ghét bạo lực; hơn thế nữa, tôi đã gần như phát ngấy với những cuộc phiêu lưu. Tự hỏi sao mình lại đi viết cuốn sách này cơ chứ: việc này vốn chẳng phải sở trường của tôi. Tôi chẳng phải nhà văn, dù vô cùng kính trọng Cựu Ước cùng tập truyện “Ingoldsby Legends”. Để tôi thử ghi lại các lý do xem sao, cốt để biết mình có thực sự có lý do nào không.

Lý do thứ nhất: Vì Sir Henry Curtis và Đại úy John Good đã ngỏ lời đề nghị.

Lý do thứ hai: Vì tôi đang phải nằm dưỡng bệnh ở Durban này với cơn đau nhức ở chân trái. Kể từ cái vụ con sư tử quái ác đó vồ lấy tôi, chứng bệnh này cứ có dịp là tái phát, và hiện tại đang hành hạ dữ dội khiến tôi càng thêm què quặt. Chắc chắn trong răng sư tử phải có nọc độc, bằng không sao cứ hễ vết thương vừa lành là lại tái phát, mà ngặt nỗi thường lại đúng vào cái thời điểm trong năm mà bạn từng bị chúng cắn xé cơ chứ? Thật oái oăm cho một kẻ đã bắn hạ sáu mươi lăm con sư tử hoặc hơn thế nữa trong suốt cuộc đời mình, như tôi đây, lại để con thứ sáu mươi sáu nhai chân như nhai một miếng trầu thuốc. Nó làm đảo lộn cả nếp sinh hoạt thường nhật, và gác lại mọi chuyện khác, tôi vốn là người ngăn nắp nên chẳng mấy ưa điều đó. Thôi, xin gác chuyện này sang một bên.

Lý do thứ ba: Vì tôi muốn thằng bé Harry của tôi — đang theo học y khoa tại bệnh viện ở Luân Đôn — có thứ gì đó giải trí và đỡ nghịch ngợm trong dăm ba tuần. Công việc bệnh viện đôi khi thật tẻ nhạt và chán ngắt, bởi ngay cả việc mổ xẻ những xác chết rồi cũng đến lúc ngấy tận cổ, và dẫu cuốn hồi ký này có thế nào đi nữa thì chắc chắn nó cũng sẽ chẳng buồn tẻ đâu, nó sẽ thổi chút sinh khí vào những ngày tháng đọc truyện phiêu lưu của chúng tôi cho thằng bé Harry.

Lý do thứ tư và cũng là cuối cùng: Bởi vì tôi sắp sửa kể lại câu chuyện kỳ lạ nhất mà đời tôi từng ghi nhớ. Nghe có vẻ buồn cười làm sao, nhất là khi trong truyện chẳng có bóng hồng nào — ngoại trừ Foulata. Khoan đã! Lại còn mụ Gagaoola nữa chứ, nếu mụ thực sự là đàn bà chứ không phải quỷ sứ. Nhưng mụ đã sống ít nhất là một trăm tuổi, thế nên chẳng còn chuyện chồng con gì được nữa, vì thế tôi xin phép không tính mụ vào. Dù sao đi nữa, tôi có thể tự tin khẳng định rằng toàn bộ câu chuyện này hoàn toàn vắng bóng váy vóc đàn bà.

Thôi, tôi đarh phải cúi đầu nhận ách vậy. Đường đi nước bước thật trắc trở, và tôi cảm thấy cứ như xe đang lún sâu đến tận trục bánh. Nhưng, “sutjes, sutjes”, như cách gọi của người Boer — dẫu tôi chịu thua chẳng biết họ đánh vần thế nào — chậm mà chắc. Một cỗ xe ngựa khỏe khoắn rồi cũng sẽ vượt qua tất cả, miễn là bầy vật kéo không quá kiệt sức. Bạn chẳng bao giờ làm nên trò trống gì với những con bò tót gầy mòn cả. Giờ thì bắt đầu thôi.

Tôi, Allan Quatermain, ngụ tại Durban, Natal, Quý ông, xin tuyên thệ và rằng—Đó là cách tôi mở đầu bản cung khai trước quan tòa về cái chết thương tâm của tội nghiệp Khiva và Ventvögel; nhưng ngẫm lại cách ấy có vẻ không ổn lắm để bắt đầu một cuốn sách. Hơn nữa, rốt cuộc tôi có phải là quý ông không? Thế nào là một quý ông? Tôi chẳng thể định nghĩa rạch ròi, thế mà tôi từng giao thiệp với đám người da đen—không, tôi sẽ gạch bỏ từ “da đen” ấy đi, bởi tôi chẳng lấy gì làm thích thú gì với nó. Harry con trai ta ạ, trước khi đọc xong câu chuyện này, con sẽ thấy ta từng quen biết những người bản địa thực thụ là quý ông, và ta cũng từng biết những kẻ da trắng thấp hèn dẫu lắm tiền nhiều của lại vừa chân ướt chân ráo từ quê nhà sang thì chẳng ra gì.

Dù sao đi nữa, tôi sinh ra đã là một quý ông, dẫu cả đời này tôi chẳng làm gì khác ngoài việc làm một tay buôn bán kiêm thợ săn nghèo khó lang thang đây đó. Liệu tôi có giữ được phẩm chất ấy hay không thì tôi chẳng dám chắc, tùy các bạn tự phán xét vậy. Chúa mới thấu hiểu tôi đã gắng sức nhường nào. Trong đời, tôi từng hạ sát không ít kẻ, nhưng chưa bao giờ ra tay một cách tàn nhẫn hay vấy máu người vô tội, mà tất cả chỉ vì để tự vệ. Đấng Tối Cao ban cho chúng ta sự sống, và tôi cho rằng Ngài muốn chúng ta bảo vệ nó, ít ra tôi vẫn luôn hành xử theo châm ngôn đó, và tôi hy vọng điều ấy sẽ không bị lôi ra phán xét khi giờ phút của tôi điểm đến. Thôi nào, thế gian này vốn tàn nhẫn và đầy rẫy bất công, ngặt nỗi mang tiếng kẻ nhút nhát mà tôi lại cứ vướng vào bao trận chiến phen. Tôi chẳng rõ đúng sai thế nào, nhưng ít ra tôi chưa bao giờ trộm cắp, dẫu có lần tôi từng lừa của một người Kafir cả đàn gia súc. Nhưng ngặt một nỗi hắn đã chơi khăm tôi một vố đau, và điều đó cứ dằn vặt tâm can tôi mãi đến tận bây giờ.

Thôi nào, tính ra cũng đã khoảng mười tám tháng kể từ lần đầu tiên tôi hội ngộ Sir Henry Curtis cùng Đại úy Good. Mọi chuyện bắt đầu thế này. Dạo ấy tôi đang ngược lên vùng đất phía bên kia Bamangwato để săn voi và gặp phải vận hạn đen đủi. Chuyến đi ấy cái gì cũng trật lất, và đỉnh điểm là tôi ngã bệnh sốt rét nặng nề. Ngay khi vừa bình phục, tôi liền xuôi về Vùng Kim cương, bán hết số ngà voi đang có cùng cỗ xe ngựa và bầy bò kéo, giải tán đám thợ săn rồi lên xe bưu điện hướng về vùng Mũi Hảo Vọng. Sau một tuần la cà ở Cape Town, nhận thấy khách sạn chém đẹp tiền phòng, và đã ngắm chán chê mọi thứ từ khu vườn bách thảo — nơi theo tôi có lẽ sẽ đem lại phúc lợi lớn cho đất nước — đến Tòa nhà Quốc hội mới — mà tôi đoán chắc chẳng làm được tích sự gì sất — tôi quyết định quay trở lại Natal trên con tàu Dunkeld lúc bấy giờ đang neo đậu tại cảng để chờ chiếc Edinburgh Castle cập bến từ Anh quốc. Tôi mua vé lên khoang, và chiều hôm đó, những hành khách đi tuyến Natal từ chiếc Edinburgh Castle chuyển sang tàu chúng tôi, để rồi nhổ neo ra khơi.

Trong số những hành khách bước lên tàu, có hai người lập tức thu hút sự hiếu kỳ của tôi. Một vị quý ông chừng ba mươi tuổi, có lẽ là người sở hữu lồng ngực vạm vỡ cùng đôi tay dài nhất mà tôi từng thấy. Anh ta có mái tóc vàng rực, bộ râu vàng rậm rạp, những đường nét khuôn mặt sắc sảo cùng đôi mắt xám lớn sâu thẳm. Chưa bao giờ tôi thấy một người đàn ông nào khôi ngô tuấn tú đến thế, và chẳng hiểu sao anh ta cứ gợi cho tôi nhớ đến hình ảnh một chiến binh Đan Mạch thời cổ đại. Không phải tôi hiểu biết nhiều về người Đan Mạch cổ đâu, dẫu tôi từng quen một gã Đan Mạch hiện đại đã lừa mất của tôi mười bảng Anh; nhưng tôi nhớ có lần từng nhìn thấy bức tranh vẽ mấy vị anh hào đó, theo tôi hình như họ cũng là một dạng người Zulu da trắng. Họ nâng cốc uống rượu bằng những chiếc sừng lớn, và mái tóc dài buông xõa sau lưng. Khi ngắm nhìn người bạn đồng hành đang đứng cạnh cầu thang mạn tàu lúc bấy giờ, tôi thầm nghĩ giá như anh ta chịu nuôi tóc dài thêm chút nữa, khoác chiếc áo giáp xích lên bờ vai lực lưỡng ấy, rồi cầm trên tay chiếc rìu chiến cùng vạc sừng, hẳn anh ta có thể làm người mẫu hoàn hảo cho bức họa đó. Nhân tiện đây cũng là một điều kỳ lạ, và qua đó chứng minh dòng máu huyết thống chẳng thể phai mờ, mãi sau này tôi mới phát hiện ra rằng Sir Henry Curtis — tên của vị đại gia ấy — thực sự mang dòng máu Đan Mạch.[2]

[2] Ý kiến của ông Quatermain về người Đan Mạch cổ có vẻ khá mơ hồ; chúng tôi luôn hiểu rằng họ là những người tóc sẫm màu. Có lẽ ông đang nghĩ đến người Saxon.—Người biên tập.

Người đàn ông còn lại đang đứng trò chuyện với Sir Henry thì vóc người đậm đà, nước da ngăm đen và mang một phong thái hoàn toàn khác biệt. Tôi thoáng đoán ngay anh ta là một sĩ quan hải quân; chẳng rõ vì sao nữa, nhưng thật khó mà nhầm lẫn một người của binh chủng hải quân. Trong đời, tôi từng có dịp tham gia vài chuyến săn bắn cùng một số vị trong số họ, và họ luôn chứng tỏ mình là những người bạn tuyệt vời nhất, dũng cảm nhất và dễ mến nhất mà tôi từng gặp, dẫu một vài người trong số họ có tật hay lỡ miệng thốt ra những lời phạm thượng. Vài trang trước tôi từng đặt câu hỏi: Thế nào là một quý ông? Giờ tôi xin trả lời luôn: Nhìn chung thì một sĩ quan Hải quân Hoàng gia chính là câu trả lời, dẫu đôi khi đâu đó vẫn có thể xuất hiện một vài con cừu đen. Tôi mường tượng rằng chính nhờ những vùng biển khoáng đạt cùng hơi thở từ những ngọn gió của Chúa trời đã gột rửa tâm hồn họ, thổi bay mọi cay đắng khỏi tâm trí và nhào nặn họ thành những đấng mày râu đúng nghĩa.

Quay trở lại câu chuyện, phỏng đoán của tôi lại một lần nữa chuẩn xác; tôi dò la được vị khách da ngăm ấy quả là một sĩ quan hải quân, một trung úy mang thâm niên mười bảy năm phục vụ, vừa bị Nữ hoàng cho thôi việc với cái danh hiệu hàm chỉ huy trống rỗng, bởi chẳng còn cách nào để thăng chức cho anh ta nổi nữa. Đó chính là thực tế mà những kẻ phục vụ Nữ hoàng phải đối mặt: bị hất củi ra ngoài thế giới lạnh lẽo để tự bươn chải kiếm sống ngay đúng thời điểm họ bắt đầu thực sự hiểu rõ công việc của mình và bước vào độ tuổi chín muồi nhất của cuộc đời. Tôi đoán họ chẳng màng đến điều đó đâu, nhưng về phần mình, tôi thà kiếm miếng ăn bằng nghề thợ săn còn hơn. Dẫu đồng tiền kiếm được có thể cũng chẳng khấm khá hơn là bao, nhưng ít ra bạn sẽ chẳng phải hứng chịu quá nhiều những cú đá hậu phũ phàng.

Tra danh sách hành khách, tôi biết được tên vị sĩ quan ấy là Good—Đại úy John Good. Anh ta vóc người nở nang, chiều cao trung bình, nước da ngăm, đậm người và trông khá kỳ lạ. Anh ta cực kỳ tươm tất, cạo râu sạch sẽ nhẵn nhụi, và lúc nào cũng gắn một chiếc kính một mắt ở bên mi mắt phải. Chiếc kính trông cứ như mọc liền vào mặt ấy, vì chẳng hề có dây đeo, và anh ta chẳng bao giờ tháo ra ngoại trừ lúc lau chùi. Thoạt đầu tôi cứ tưởng anh ta ngủ luôn cả với chiếc kính đó, nhưng sau mới vỡ lẽ đó là một sự nhầm lẫn. Anh ta tháo kính bỏ vào túi quần khi đi ngủ, kèm theo cả hàm răng giả — anh ta có tận hai bộ hàm đẹp đẽ khiến tôi, vốn chẳng mấy dư dả về răng cỏ, phải thèm thuồng phạm vào điều răn thứ mười. Nhưng tôi lại đang nói dài dòng quá đà rồi.

Ngay sau khi tàu nhổ neo, màn đêm buông xuống mang theo thời tiết vô cùng khắc nghiệt. Một cơn gió lạnh buốt thốc lên từ đất liền, cùng một thứ sương mù Scotland nặng hạt chẳng mấy chốc đã đuổi sạch mọi người khỏi boong tàu. Còn con tàu Dunkeld thì chẳng khác gì một chiếc xuồng đáy phẳng, lại đang chạy tay không nên tròng trành dữ dội. Trông cứ như thể tàu sắp lật úp đến nơi, thế mà rốt cuộc nó vẫn đứng vững. Đi lại là điều bất khả thi, thế nên tôi đành đứng sát khu vực máy móc cho ấm áp, tự khuây khỏa bằng cách ngắm nhìn quả lắc được lắp ngay trước mặt, cứ chậm rãi đuay qua đưa lại theo nhịp tròng trành của con tàu, vạch ra góc nghiêng mà nó chạm tới mỗi lần tròng trành.

“Cái quả lắc đó lệch rồi; trọng lượng lắp không chuẩn,” một giọng nói có phần gắt gỏng bỗng vang lên ngay sát bên vai tôi. Ngoảnh lại, tôi bắt gặp viên sĩ quan hải quân mà tôi từng để ý lúc hành khách bước lên tàu.

“Thế ư, điều gì khiến anh nghĩ vậy cơ chứ?” tôi hỏi.

“Nghĩ vậy sao. Tôi chẳng nghĩ ngợi gì sất. Nhìn kìa” — anh ta chỉ tay khi con tàu vừa lấy lại thăng bằng sau một cú tròng trành — “nếu con tàu thực sự nghiêng đến mức độ mà cái vật đó chỉ báo, thì đời nào nó còn có thể đứng thẳng lại được nữa, thế thôi. Nhưng mà lũ thuyền trưởng thương thuyền này cái nào cũng một giuộc, lúc nào cũng cẩu thả đến phát bực.”

Đúng lúc đó tiếng chuông báo ăn tối vang lên, và tôi chẳng lấy làm phiền lòng chút nào, bởi thật là một cực hình khi phải nghe một sĩ quan Hải quân Hoàng gia bàn về cái đề tài đó. Tôi chỉ biết một chuyện còn tồi tệ hơn thế, đó là nghe một thuyền trưởng tàu buôn bày tỏ quan điểm thành thật của mình về các sĩ quan Hải quân Hoàng gia.

Đại úy Good và tôi cùng bước xuống phòng ăn, và ở đó chúng tôi thấy Sir Henry Curtis đã ngồi sẵn. Anh và Đại úy Good được xếp ngồi cùng nhau, còn tôi ngồi đối diện họ. Viên đại úy và tôi nhanh chóng bắt chuyện về việc săn bắn cùng đủ thứ chuyện trên đời; anh hỏi tôi rất nhiều điều, vốn là kẻ cực kỳ tò mò về mọi thứ, và tôi cố gắng đáp lời anh hết sức có thể. Chẳng mấy chốc câu chuyện chuyển sang loài voi.

“Ôi chao, ngài ơi,” một ai đó ngồi gần tôi lên tiếng, “ngài tìm đúng người rồi đấy; thợ săn Quatermain chắc chắn rành về voi hơn bất cứ ai nếu có thể.”

Sir Henry, từ nãy vẫn ngồi lặng yên lắng nghe cuộc trò chuyện của chúng tôi, liền giật mình trông thấy rõ.

“Xin lỗi ngài,” anh vừa nói, vừa nhoài người qua bàn, cất giọng trầm ấm, một âm chất phát ra từ lồng ngực vạm vỡ ấy nghe sao mà phù hợp đến thế. “Xin lỗi ngài, nhưng có phải ngài tên là Allan Quatermain không?”

Tôi đáp đúng vậy.

Vẻ mặt người đàn ông lực lưỡng không thốt thêm lời nào nữa, nhưng tôi thoáng nghe anh lẩm bẩm từ “may mắn” vào trong bộ râu.

Chẳng mấy chốc bữa tối kết thúc, và khi chúng tôi đang rời phòng ăn, Sir Henry liền bước tới ngỏ ý mời tôi vào khoang của anh để cùng rít tẩu thuốc. Tôi nhận lời, và anh dẫn đường đến khoang hạng sang trên boong tàu Dunkeld, một căn phòng thực sự rất rộng rãi và thoải mái. Vốn dĩ đó là hai khoang riêng biệt, nhưng khi Sir Garnet Wolseley hay một trong số những nhân vật tai to mặt lớn đó xuôi dòng qua đây trên con tàu Dunkeld, họ đã cho dỡ vách ngăn đi và từ đó chẳng dựng lại nữa. Trong khoang có một chiếc ghế dài, đặt kèm chiếc bàn nhỏ phía trước. Sir Henry sai người hầu đi lấy chai whisky, rồi ba chúng tôi cùng ngồi xuống và châm tẩu.

“Ông Quatermain,” Sir Henry Curtis cất lời khi người hầu đã mang chai whisky đến và châm đèn xong xuôi, “vào khoảng thời gian này của năm ngoái, tôi tin rằng ông đang ở một nơi gọi là Bamangwato, phía bắc Transvaal.”

“Đúng vậy,” tôi đáp, có phần ngạc nhiên khi vị quý ông này lại tường tận đến thế về hành tung của tôi, vốn dĩ chẳng phải là những điều được thiên hạ quan tâm cho lắm.

“Ông đến đó để buôn bán phải không?” Đại úy Good nhanh nhẩu xen vào.

“Đúng thế. Tôi đánh một xe hàng lên đó, dựng trại ngoài khu định cư và ở lại cho đến khi bán hết sạch.”

Sir Henry đang ngồi đối diện tôi trên chiếc ghế mây kiểu Madeira, hai tay gác lên mặt bàn. Giờ anh ngước lên, đăm đăm nhìn thẳng đôi mắt xám lớn vào khuôn mặt tôi. Tôi thoáng thấy một vẻ lo âu kỳ lạ ẩn hiện trong đó.

“Anh có tình cờ gặp một người tên là Neville ở đó không?”

“Ồ, có chứ; anh ta dựng trại ngay cạnh chỗ tôi trong nửa tháng để cho bầy bò nghỉ ngơi trước khi tiếp tục hành trình đi sâu vào nội địa. Vài tháng trước, tôi từng nhận được bức thư từ một luật sư hỏi xem tôi có biết tung tích của anh ta không, và tôi đã trả lời theo đúng trí nhớ tốt nhất của mình vào thời điểm đó.”

“Đúng vậy,” Sir Henry nói, “bức thư của ông đã được chuyển đến tay tôi. Trong thư ông viết rằng người đàn ông tên Neville ấy đã rời Bamangwato vào đầu tháng Năm trên một cỗ xe ngựa đi cùng một xà ích, một người dắt bò và một tay thợ săn người Kafir tên là Jim, với ý định nếu có thể sẽ tiến thẳng đến Inyati, trạm mậu dịch cuối cùng thuộc xứ Matabele, nơi anh ta sẽ bán xe ngựa và tiếp tục đi bộ. Ông cũng cho biết anh ta thực sự đã bán cỗ xe, bởi sáu tháng sau, ông tận mắt thấy chiếc xe nằm trong tay một thương nhân người Bồ Đào Nha — người đã kể lại rằng hắn mua được nó tại Inyati từ một người da trắng đã quên tên, và tin rằng người da trắng đó cùng người hầu bản địa đã khởi hành đi sâu vào nội địa trong một chuyến săn bắn.”

“Vâng.”

Đoạn, bầu khoảng lặng bao trùm.

“Ông Quatermain,” Sir Henry đột ngột lên tiếng, “tôi đoán là ông chẳng còn biết hay phỏng đoán thêm điều gì về lý do chuyến hành trình hướng bắc của — của anh Neville tôi, hay điểm đến cuối cùng của chuyến đi ấy chứ?”

“Tôi có nghe ngóng được vài điều,” tôi đáp rồi ngập ngừng dừng lại. Đó là vấn đề mà tôi không mặn mà gì cho cam khi phải đem ra bàn tán.

Sir Henry và Đại úy Good đưa mắt nhìn nhau, và Đại úy Good gật đầu.

“Ông Quatermain,” người đàn ông kia tiếp lời, “tôi sắp kể cho ông nghe một câu chuyện, đồng thời muốn xin lời khuyên, và biết đâu cả sự giúp đỡ từ ông nữa. Viên đại diện đã chuyển bức thư của ông cho tôi có nói rằng tôi hoàn toàn có thể tin tưởng tuyệt đối vào ông, vì ông, theo như anh ta kể, là người ‘nổi tiếng và được kính trọng khắp vùng Natal, đặc biệt tiếng tăm về sự cẩn trọng’.”

Tôi cúi đầu nhấp ngụm whisky pha loãng để che giấu sự bối rối, bởi tôi vốn là kẻ khiêm nhường — và Sir Henry tiếp tục câu chuyện.

“Anh Neville chính là em trai tôi.”

“Ồ,” tôi thốt lên ngạc nhiên, bởi giờ đây tôi đã nhận ra Sir Henry từng gợi cho tôi nhớ đến ai ngay lần đầu tiên gặp mặt. Người em trai của anh vóc người nhỏ nhắn hơn nhiều và để râu sẫm màu, nhưng nghĩ kỹ lại thì anh ta cũng sở hữu đôi mắt mang sắc thái xám y hệt cùng ánh nhìn sắc sảo tương tự; các đường nét khuôn mặt cũng chẳng khác là bao.

“Đúng vậy,” Sir Henry tiếp tục, “đó là người em trai duy nhất của tôi, và cho đến năm năm trước, có lẽ chúng tôi chưa từng rời xa nhau quá một tháng trời. Nhưng đúng vào khoảng năm năm về trước, một tai họa đã giáng xuống gia đình chúng tôi, chuyện vẫn thường xảy ra trong các gia đình. Chúng tôi đã cãi vã kịch liệt, và trong cơn giận dữ, tôi đã đối xử bất công với em trai mình.”

Đến đây, Đại úy Good liền gật đầu quả quyết với chính mình. Con tàu bỗng tròng trành một cú mạnh khiến chiếc gương soi gắn sát mạn phải đối diện phút chốc suýt chổng ngược lên đầu chúng tôi, và vì tôi đang ngồi đút tay vào túi quần ngước lên trên nên trông thấy rõ anh ta đang gật đầu lia lịa.

“Như tôi dám chắc là ông cũng rõ,” Sir Henry tiếp lời, “nếu một người qua đời mà không để lại di chúc, và chẳng có tài sản nào ngoài đất đai — gọi là bất động sản ở nước Anh — thì tất cả sẽ thuộc về người con trai cả. Chẳng may là đúng vào lúc chúng tôi mâu thuẫn thì cha chúng tôi qua đời mà không kịp lập di chúc. Ông đã chần chừ mãi không chịu viết di chúc cho đến khi quá muộn. Hậu quả là em trai tôi, vốn chẳng được cho ăn học bất kỳ nghề nghiệp nào, bỗng chốc rơi vào cảnh trắng tay. Lẽ dĩ nhiên, việc chăm lo cho nó là bổn phận của tôi, ngặt nỗi mâu thuẫn giữa anh em lúc ấy quá sâu sắc nên tôi đã chẳng — thật hổ thẹn khi phải thốt lên điều này (và anh thở dài nặng nhọc) — thò tay giúp đỡ nó lấy một tiếng. Không phải tôi tiếc rẻ sự công bằng dành cho nó, mà chỉ vì tôi cứ khăng khăng đợi nó mở lời trước, còn nó thì nhất định không chịu nhún nhường. Thật phiền toái khi phải làm phiền ông bằng ngần ấy chuyện gia đình, ông Quatermain, nhưng tôi buộc phải làm rõ mọi thứ, phải vậy không, Good?”

“Chuẩn xác, hoàn toàn chuẩn xác,” vị đại úy đáp. “Tôi tin chắc ông Quatermain sẽ giữ kín câu chuyện này cho riêng mình.”

“Tất nhiên rồi,” tôi đáp, bởi tôi vốn dĩ rất tự hào về sự kín kẽ của bản thân, thứ tiếng tăm mà Sir Henry vừa nhắc đến.

“Tốt lắm,” Sir Henry tiếp lời, “lúc bấy giờ em trai tôi vẫn còn giữ vài trăm bảng trong tài khoản. Chẳng nói năng gì với tôi, nó rút sạch số tiền ít ỏi ấy, đổi tên thành Neville rồi tha phương sang Nam Phi với hi vọng điên rồ là kiếm được cơ đồ. Mãi sau này tôi mới biết chuyện đó. Khoảng ba năm trôi qua, tôi chẳng nhận được tin tức gì về em mình dẫu đã viết thư thăm hỏi mấy bận. Chắc hẳn những bức thư đó chưa từng đến tay nó. Nhưng rồi thời gian cứ thế trôi đi, lòng tôi ngày càng lo lắng khôn nguôi về nó. Ông Quatermain ạ, tôi nhận ra một điều rằng máu mủ tình thâm bao giờ cũng đậm đà hơn nước.”

“Đúng thế,” tôi thầm nghĩ đến thằng bé Harry nhà mình.

“Ông Quatermain ạ, tôi ngộ ra rằng mình sẵn sàng đánh đổi một nửa cơ ngơi để biết chắc rằng George, người thân duy nhất còn lại trên đời của tôi, vẫn bình an vô sự, và rằng tôi sẽ có ngày gặp lại nó.”

“Nhưng anh chưa từng gặp lại, Curtis,” Đại úy Good chen ngang, liếc nhìn nét mặt của gã khổng lồ.

“Vâng, ông Quatermain, thời gian trôi qua, nỗi khát khao tìm kiếm xem em trai mình còn sống hay đã chết ngày càng cào xé tâm can tôi, và nếu nó còn sống thì phải đưa nó trở về nhà. Tôi bắt đầu cho tiến hành dò la khắp nơi, và bức thư của ông chính là một trong những kết quả đạt được. Xét đến cùng thì nó rất khả quan, bởi nó chứng minh rằng cho đến gần đây George vẫn còn sống, nhưng chừng đó vẫn chưa đủ. Thế nên, tóm lại là tôi quyết định tự thân cất bước sang đây tìm nó, và thật may mắn là Đại úy Good đã nhiệt tình đồng hành cùng tôi.”

“Vâng,” vị đại úy tiếp lời; “thấy anh ấy chẳng còn việc gì làm nữa cả. Bị Bộ Hải quân đuổi cổ ra đường với đồng lương hưu còm cõi. Và giờ thì có lẽ, thưa ngài, ngài có thể cho chúng tôi biết những gì ngài biết hoặc từng nghe về người đàn ông tên Neville đó chứ.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.