Bài ca của một con chim chiền chiện ngân lên trong khoảng không phía trên chiến địa. Những con mòng biển từ ngoài khơi bay vào. Những con én duyên dáng trở về sau chuyến di trú đến những vùng xa xôi của châu Phi đang tìm những chỗ trước kia chúng làm tổ giờ không thấy đâu nữa. Một khóm vi-ô-lét gần một gốc cây bị cháy đen đang đùa trong gió mơn man. Một cây bồ công anh nở hoa vàng. Một con thằn lằn nằm phơi nắng trên một hòn đá dưới đáy một hố trái phá. Những ngọn đồi phía xa xa đã khoác lên mình những dải màu tươi tắn. Dần dần, ý nghĩa của chúng tôi không cưỡng nổi sự quyến rũ của sức sống mới. Mùa xuân đến rồi. Liệu chúng tôi có được về nhà trước khi những chiếc lá kia rụng xuống hay không?
Chiến tranh còn kéo dài đến bao giờ đây?
Buổi sáng ngày lễ Phục sinh. Mặt trời mọc với sức mạnh mới, không chịu để những đám mây và mưa mai phục. Vài người chúng tôi chúc nhau “Lễ Phục sinh vui vẻ”. Mừng Chúa phục sinh. Sẽ có cơ hội mới cho loài người. Chúng tôi đã chịu đựng đủ đau thương rồi. Giờ hãy để chúng tôi được ngoảnh mặt về phía ánh sáng. Những người Ý làm việc trên đường và trên bến tàu nói to “Buona Pasqu” và đưa cho chúng tôi những con cừu con làm bằng đường. Tối. Mặt đường rung chuyển: một đoàn người Ý rước một chiếc kiệu phủ đầy hoa, trên đó có một bức tượng Nữ thánh Madonna mang khuôn mặt trắng như thể được làm bằng phấn trắng. Những người khênh kiệu đi theo hàng đôi, vừa đi vừa hát. Có những cái mặt hoạt họa và nhiều con dao dính máu thò ra từ bức tượng. Họ nói với chúng tôi rằng “Người Mẹ đau khổ” của họ sẽ được rước đến nhà thờ Pieta trước khi trời tối.
Tu viện Monte Cassino. Một đỉnh đồi được bao phủ bởi màn khói. Bầu trời chi chít những chiếc máy bay ném bom, những thung lũng dội lại tiếng động cơ gầm rú của chúng. Những khẩu súng công thành đang điên cuồng gieo rắc cái chết. Những bức tường dày của tu viện đã bắt đầu rung. Những mảng trần nhà sập xuống. Đàn bà và trẻ con bị chôn vùi. Không còn một vật sống nào tồn tại. Ôi, những phụ nữ người Ý khốn khổ, đáng thương, không có khả năng tự bảo vệ mình. Đây là chúa Giêsu của các bà, các chị đây. Và các bà, các chị là những đứa con của thời kỳ Phục hưng đấy. Còn chúng tôi? Chúng tôi là những đứa con của hủy diệt.
Hai người lính tại một bốt đóng quân đang nhìn một người đàn ông cầm một cây thánh giá lớn đi xuống sườn núi - một nhóm các linh mục túm tụm lại quanh ông ta. Họ biến mất trong màn khói.
“Nhân danh Chúa, họ đã đi đến gặp tên đồ tể già” một người lính nói.
Nhưng, không, họ lại loạng choạng xuất hiện trở lại. Người đi đầu cầm cây thánh giá giơ cao như thể họ là một đám rước của buổi sáng ngày Lễ Phục sinh.
Khói tan. Hai người lính nhìn lên cái đống cháy đen đã từng là một tu viện.
“Không có tu viện ấy nơi này sẽ chẳng bao giờ còn được như trước đây nữa,” một trong hai người lính nói với bạn của mình.
“Giờ thì tất cả thành tro bụi rồi. Một số người chỉ vui khi tất cả mọi thứ đều thành tro bụi.”
Cassino thất thủ vào ngày mười tám tháng Năm.
Hai người lính liên tục tống những hạt đậu vào miệng, chỉ ăn không nói.
“Vì Chúa,” cuối cùng một trong hai người nói trong khi bỏ thìa xuống.
“Hãy để Chúa ra ngoài chuyện này,” người kia nói.
Chúng tôi ngồi trong những cái hố nhìn những đoàn lính Mỹ đi qua. Những chàng trai khá đấy. Nhiều tuần nay, lính được đưa đến tới tấp. Vùng tạm chiếm trở nên náo động. Các hố súng được đào khắp nơi. Hoạt động trinh sát được đẩy mạnh. Hàng dặm hàng rào dây thép được thiết lập. Đồ tiếp tế được chuyển vào. Vùng này sắp chật như nêm đến nơi rồi. Quân Đức hầu như không bắn nữa. Chúng đang tận dụng hầu hết mọi cơ hội có được. Về đêm bầu trời phía trên bến cảng đỏ rực.
Người Mỹ vẫn cứ vênh váo như thường thấy. Trông cứ như thể họ cóc cần chúng tôi. Chúc may mắn, các anh Mẽo, nếu các anh có thể tự mình chấm dứt cảnh bi thảm ở vùng này thì cứ việc. Chúng tôi cảm thấy một niềm vui sướng khôn tả trước ý nghĩ được đập tan cánh cửa của cái nơi giam hãm mình để thoát khỏi cái bình nguyên này mãi mãi.
Người ta nói quân của chúng tôi ở phía nam đang tiến qua Cassino và đang truy đuổi quân Đức đến thung lũng Liri theo hướng đồi Alban.
Chúng tôi thức cả đêm. Chúng tôi biết điều này rồi sẽ xảy ra. Để người Mỹ làm một mình thì quá lắm. Như thế là đòi hỏi quá nhiều. Chúng tôi sẽ tham gia với họ trong đợt tổng tấn công này. Trời sẩm tối, chúng tôi rời vị trí của mình tiến quân qua những dải đất hẹp nhấp nhô, qua cả một mạng lưới chằng chịt những con lạch, những con suối. Đây là mảnh đất chúng tôi đã dẫm chân lên khi nó còn trơ trụi, xơ xác. Giờ chúng tôi nối gót nhau đi trên những lớp cỏ dày nhất. Trong cái im ắng chết người, chúng tôi đi qua Kings và hướng tới một thung lũng, rồi từ đó, chúng tôi ngược lên một con đường hơi dốc. Chúng tôi dừng lại nghỉ đêm và lập các trạm gác. Nhưng chẳng ai nghỉ ngơi được. Liên tục có những đoàn quân đi qua chỗ chúng tôi đóng trại, lúc nào có những lời thì thầm căng thẳng. Đang đêm trời đổ mưa. Cuộc tấn công bắt đầu lúc 5 giờ 45 phút ngày hôm nay, 23 tháng 5. Nó sẽ bắt đầu bằng loạt đạn pháo như thường thấy. Người ta hứa sẽ cung cấp cho chúng tôi một màn che khói và nhiều xe bọc thép. Công việc của chúng tôi là bảo vệ sườn trái của quân Mỹ để họ có thể tiến qua đồi Alban và dồn tập đoàn quân số 10 của Đức đang rút lui khỏi Cassino vào bẫy. Đại đội của chúng tôi được lệnh chiếm giữ một trang trại ở cuối một vườn nho dài ba trăm thước.
Bình minh lên. Những ngọn đồi hiện ra mờ mờ trên nền trời phía bắc. Liệu lần này chúng tôi có gặp may và có tiến lên được những ngọn đồi kia không hay phải nằm lại dưới chân đồi? Chúng tôi lại tràn trề hi vọng và tràn trề mong đợi.
Một cậu lính cố kéo một vật nặng qua lớp bùn để rồi cuối cùng phải bỏ cuộc trong thất vọng. “Chúa ơi,” cậu ta gào lên. “Tại sao chúng ta lại phải đổ máu như thế này chứ?”
Suốt hơn một tuần lễ, chúng tôi đã chiến đấu ở phòng tuyến Caesar của quân Đức. Chúng tôi rơi vào tầm ngắm của những khẩu 75 li đặt trên những tháp pháo xe tăng. Mỗi trọng điểm đều bị đánh thọc sườn bằng những khẩu súng chống tăng cố định và di động. Trong và sau những phòng tuyến, quân Đức gan lì cố thủ trong những hầm sâu. Những bãi mìn của quân Đức là mồ chôn những chiếc xe tăng của đối phương. Thời tiết không ủng hộ cho những đợt ném bom. Chúng tôi phải vất vả ngăn không cho quân Đức đánh bật chúng tôi ra khỏi một vườn quả nằm ở ven đê. Campoleone là một pháo đài. Khoảng đất nhô lên ấy là nơi lý tưởng cho phòng thủ. Chỗ ấy chằng chịt những khúc quanh, những ngả rẽ, những đoạn lên xuống nhấp nhô, những ngõ và đường cụt. Không một rãnh nước nào chúng tôi đi qua chưa bị chặn lại. Không có dãy gò đồi nào chưa được sử dụng làm điểm phòng thủ. Không có con mương nào không bị súng máy của quân Đức lia qua. Để chiếm lấy những ngôi làng, những ngôi nhà xây bằng gạch vữa, xây bằng đá, chúng tôi đã dội tới những chỗ ấy cả một trận mưa đạn pháo và cả một màn khí phốt pho trắng. Sau đó chúng tôi xông vào, để rồi lại bị đánh bật ra. Quân Đức không vội chuồn. Thậm chí khi các công sự của chúng đã biến mất trong bụi đất và khói bom, quân Đức dường như vẫn luôn có khả năng xuất hiện, sẵn sàng đối đầu tiếp với chúng tôi. Những tên lính này sẽ không bỏ rơi những đồng đội đang lâm nguy ở Cassino.
Cực chẳng đã, chúng tôi buộc phải tập hợp các lực lượng của mình cố tấn công một lần nữa. Chúng tôi lại thất bại, chúng tôi lại mất người. Về phòng thủ thì quân Đức là một cái đầu cứng khó mà đập vỡ được. Không sợ hãi, không hoảng loạn. Rút về, chống cự, tấn công, rút về, chống cự, tấn công…
Chúng tôi ngần ngại, run rẩy. Vài người trong số chúng tôi được cử đi xuống cánh đồng lúa mì gần đó để tìm một số đồng đội đang bị thương. Rất thận trọng, chúng tôi đi qua những đám lúa mì cao, tìm kiếm, sờ sẫm trong bóng tối.
Đã hai giờ sáng. Chúng tôi đã làm những gì có thể cho những người chúng tôi tìm thấy trên đồng lúa mì. Chúng tôi quá căng thẳng không tài nào ngủ được, và đằng nào thì ngay khi trời sáng chúng tôi cũng lại phải chiến đấu rồi. Thay vì ngủ chúng tôi ngồi gật gà gật gù trong những cái hố cá nhân, chuẩn bị vũ khí.
“Nói cho tớ biết đi, Dick. Bọn tớ đang ngồi bên ngoài khoảng trống thung lũng Mejerda hi vọng tiến được vào Tunis chăng? Hay bọn tớ đang ngồi ở một chỗ nào đó bên ngoài thành Rome? Có quan trọng không nhỉ? Campoleone ư? Giờ là tháng Một hay tháng Năm nhỉ? Tháng Năm. Dick chết tại chính vườn nho này bốn tháng trước. Chúa ơi!”
Có tin đồn người Mỹ không tiến qua đồi Alban được và giờ đang kéo qua tiền tuyến trên núi về phía chúng tôi. Chúng tôi không biết tin vào cái gì nữa. Chúng tôi hết móc-fin rồi.
Chúng tôi đi xuống phía cuối vườn nho tìm quân Đức và chúng tôi tìm thấy một toán lính Mỹ đang đi tìm chúng tôi. Họ nói, suốt nhiều dặm quanh đó không hề có bóng quân Đức.
Nhìn này, anh bạn, chỉ một giờ trước thôi… nhìn xem, anh nghĩ ai đã giết một lô những anh bạn ngồi dựa vào tường kia hả? Các anh muốn nói là chiến tranh kết thúc rồi chứ gì? Cho chúng tôi điếu thuốc đi.”
Một anh chàng vừa mới tới nói đã có một ít lính Mỹ ở Rome. Nhưng quân Đức biến rồi. Thế có nghĩa là tập đoàn quân số 10 của chúng đã chuồn. Ai thèm quan tâm chứ? Chúng tôi vẫn còn sống, thế là được rồi.
Một miếng bánh mì còn ấm và một miếng khác bị cắn dở nằm trên một cái bậc dài cho chúng tôi biết quân Đức chỉ vừa mới rút đi.
Một cậu lính Anh ngồi xuống, gạt bùn khỏi giày; một cậu khác giặt sơ mi. Chiến thắng nghĩa là thế này sao?
Không gì có thể cướp đi của chúng tôi niềm vui được trèo lên những quả đồi này. Đứng ở trên này quay nhìn xuống bình nguyên và biển quả cũng đáng. Chúng tôi đang leo lên những con đường hẹp dẫn tới Albano. Đây chính là những con đường mà quân Đức từng sử dụng. Chúng quá hẹp để cho phép cả một đoàn quân đi qua. Những người nông dân đang lần về nhà của mình. Những con người thấp lùn rắn chắc như những cây gỗ tếch, đội đồ đạc trên đầu, những con người bị xoáy trong những cơn giông tố, không gục ngã. Đâu đâu cũng có những cây ăn trái, những cánh đồng đầy những cọc trồng nho, những bụi ô-liu, và những khu vườn có tường rào vây quanh. Một cây tuyết tùng với cái tán nhiều lớp đứng sừng sững. Một cây sồi lớn, với hàng nghìn cánh lá rung rinh vẫy chào. Một con bướm giáp màu đỏ tắm nắng trên một ống khói phía trên một ngôi nhà có tường trắng. Một hàng thông chạy dài tít tắp xuống tận chân đồi.
Người người đang tiến về Rome. Những người chiến thắng đi bên cạnh những đoàn tù binh mệt mỏi, hốc hác, người dính máu. Thậm chí cả một đám lính say mèm cũng đang đi Rome. Họ lảo đảo bước đi trên đường đông đúc, say vì rượu nẫng được của ai đó, và bị một con nhím nhỏ có dây buộc bám theo sau. Một cậu trong đám lính say bỗng nhiên đổ sập người về phía trước. Giờ đến một người khác, một người khác nữa. Máu chảy trên đường. Những viên đạn bắn tỉa của Đức bay vèo qua chúng tôi, bắn vào những bức tường đá làm bụi vữa bắn tung tóe. Khốn thật, chúng tôi không muốn bị giết ở chặng này. Quân Đức đã bị bao vây và đang bị tiêu diệt. Họ có bắt được thằng khốn đã giết những người say hay không? Có, họ túm cổ hắn lôi ra; và trước khi một đồng đội của chúng tôi bắn hắn, hắn nói bằng thứ tiếng Anh rất chuẩn: “Chúa phù hộ cho các người.” Thêm mấy phát súng nữa, nhưng lần này chỉ là những người lính trút bực dọc lên trời. Tiếng chuông nhà thờ vọng tới tai chúng tôi chắc hẳn là thứ duy nhất tốt đẹp còn lại ở Latium này.
Chúng tôi như đang đi trong cơn mê. Một ngày tuyệt vời. Mặt trời chiếu sau lưng chúng tôi, gió mơn man đùa trên mặt chúng tôi. Những thân cỏ cao uốn mình theo gió. Bầu trời xanh đầy máy bay. Chúng tôi trèo lên những ngọn đồi; chinh phục được một đỉnh cao để thấy một đỉnh cao khác hiện ra. Một thị trấn bị hủy diệt. Một con suối trơ trọi. Chúng tôi đi qua những con phố trống vắng, đổ nát, qua một nhà thờ bị bỏ hoang, đi xuống những bậc đá uốn lượn, đi qua những cống dẫn nước, những biệt thự với những ô cửa sổ có những hình hoa văn bằng sắt nhìn ra những khu vườn, đi qua những cổng vòm. Hai giờ chiều, chúng tôi dừng lại gần một tháp chuông để ăn. Vài người thích ngủ hơn ăn và cứ thế nằm vật xuống cỏ dày ngay bên lối đi trông như thể đã kiệt sức. Nửa giờ sau chúng tôi lại tiếp tục lên đường, cậu Bert vừa bước đi vừa kể cho chúng tôi nghe giấc mơ cậu ấy đã trải qua. Cậu ấy nói, cậu ấy mơ thấy mình đứng dưới chân đồi Alban nhìn xuống bình nguyên Latium trải dài ra phía biển. Ánh sáng rất yếu. Cậu ấy không biết lúc bấy giờ là hoàng hôn hay là bình minh nữa. Sau đó cậu ấy nghe thấy tiếng lạo xạo rất lạ và cậu ấy nhìn xuống đường thấy một đám lính đang cúi đầu bước đi, bám vào nhau mà đi, lê bước lên đồi. Có bốn hay năm người gì đó, người đội mũ người không, có cậu khắp người bị quấn băng còn thấm máu. Họ cùng bám lấy một lá cờ rách bươm. Chỉ khi đi tới gần chỗ cậu ấy và chỉ khi cậu ấy sắp sửa cất tiếng nói với họ, cậu ấy mới nhận ra một viên sĩ quan đang đứng ở bên đường nhìn xuống một cuốn sách dày mà anh ta cầm trên tay. Đám lính kia không hề liếc nhìn Bert hay viên sĩ quan, họ cũng không hề nhìn lên, nhưng khi họ lê bước qua chỗ cậu ấy, một người trong số họ bỗng cất giọng trầm trầm:
“Đại đội một, trung đoàn Panzer-Grenadier số 9.”
“Nhưng sao chỉ có năm người thôi,” viên sĩ quan cầm cuốn sách nói. “Những người khác đâu?”
“Ngủ rồi,” đám đàn ông cầm cờ đáp.
Bert nói rằng khi mắt cậu ấy đã quen với thứ ánh sáng lờ mờ, cậu ấy mới nhận ra có những tốp lính khác đang leo lên sườn đồi. Những tốp lính ấy tiến vào từ phía biển. Trong khi họ bước đi họ không hề nhìn lên. Cậu ấy cảm thấy vài người trong số họ sắp đổ sập xuống ngay trước mặt cậu ấy, nhưng không hiểu bằng cách nào họ vẫn cứ tiếp tục lê bước lên đồi, hết tốp này đến tốp khác.
“Đại đội B, tiểu đoàn 1, quân đội Ai Len.”
“Nhưng sao chỉ có ba người thôi. Những người khác đâu cả rồi?”
“Ngủ rồi.” Tiếng đáp khẽ như một tiếng thở dài.
“Đại đội A, tiểu đoàn Ranger 1.”
“Nhưng sao chỉ có hai người thôi. Những người khác đâu cả rồi?”
“Ngủ rồi.”
“Đại đội 2, quân Hoàng gia 2/7.”
“Nhưng sao chỉ có sáu người. Những người khác đâu cả rồi?”
“Ngủ rồi.”
Đi sau họ là một người thân thể bị dập nát tả tơi, không có mặt, đi một mình, không có cờ.
“Anh lính,” tiếng nói khẽ cất lên.
“Anh lính, anh lính,” tiếng nói dội lại trong gió.
Tiếp đó là một đám người Ý, quần áo quét lê trên đất cát, ôm những đứa trẻ và những gói bọc, im lặng bước đi.
“Các cậu biết rồi đấy.” Bert nói, “chẳng hiểu sao, khi tớ tỉnh dậy gần cái tháp chuông đó tớ thấy tớ đang khóc.”
Đúng lúc đó chúng tôi đi qua một đứa trẻ người Ý đang ngồi trên bậc cửa của một ngôi nhà mải mê mặc váy cho búp bê, một chiếc nơ trắng nhỏ trên mái tóc đen của đứa bé. Chúng tôi lặng lẽ bước đi.
Đường đến Rome đây ư?