Mạch Buồn

Lượt đọc: 273 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời Bạt

❊ ❊ ❊

Một người bạn đã ra đi.

Anh đã uống cạn mạch buồn của mình.

Cuộc chiến của anh giờ đã lặng.

Năm 1970, sau khi được xuất bản ở Mỹ, cuốn MẠCH BUỒN của William Woodruff xuất hiện ở Anh và lập tức được ca ngợi. Cuốn sách đã gây được sự xúc động đặc biệt trong lòng những nhà phê bình ở Anh và họ miêu tả nó là “hiện thực đau thương” về “sự điên rồ cực độ của chiến tranh”. Với những lý lẽ thuyết phục, họ gọi cuốn sách là “áng văn sáng chói” chứa đựng một “mạch hình dung đầy chất thơ”, một “cận cảnh sống động” nắm bắt một cách trung thực đến mức gần như không thể chịu nổi cái “không khí chiến tranh”, “sự thật nguyên tính nhưng cuốn hút”, “nỗi sợ hãi chân thực của người lính trên chiến trường”.

Đặt Woodruff ngang hàng với Hugo, Stendhal, Hardy, Remarque, thậm chí Homer, các nhà phê bình đã liên hệ cuốn sách viết về chiến tranh này của ông với những tác phẩm của những nhà văn sáng giá ở Anh, những người đã miêu tả những nỗi kinh hoàng do chiến tranh gây ra trong cuộc Đại thế chiến 1914-1918. Sự liên hệ đó là hoàn toàn thích hợp, bởi Woodruff là người Anh - sinh ra ở Lancashire năm 1916; là lính của sư đoàn 1 bộ binh Anh trong Chiến tranh thế giới thứ hai, ông đã cùng đơn vị của mình đổ bộ lên Anzio và trực tiếp tham gia chiến đấu tại phòng tuyến Azio, một chiến trường ác liệt nhắc chúng ta nhớ đến mặt trận miền Tây trong Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Có lẽ những lý do này giải thích sự khác nhau căn bản giữa tác phẩm của Woodruff và một số tác phẩm xuất sắc của Mỹ có nội dung xoay quanh những trải nghiệm cá nhân trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Cuốn Company Commander (Đại đội trưởng) của Charles B. MacDonald, câu chuyện kể về một chỉ huy lính bộ binh ở châu Âu; cuốn Currahee! của Donald Burgett, một câu chuyện về những người lính dù trong cuộc xâm lược Normandy; cuốn The Damned Engineers (Những người lính công binh khốn khổ) của Janice Holt Giles, một tập hợp các bức thư của chồng bà gửi về từ châu Âu; và cuốn Pacific Dairy (Nhật ký Thái Bình Dương) của Patrick Fahey là những ví dụ. Dẫu hấp dẫn và giàu tính thông tin, không cuốn nào trong số những cuốn kể trên chuyển tải được tác động về mặt cảm xúc hay hàm chứa tính văn chương sâu sắc và thấm thía như tác phẩm này của Woodruff.

Chiến tranh là điều khủng khiếp, Sherman nói, nhưng gần một trăm năm sau theo Woodruff, chiến tranh là chết chóc. Giết và chết, giết và chết một cách bừa bãi và vô nghĩa, xảy ra ở cuối một tuyến dài, cái tuyến bắt đầu bằng những nhân tố căn bản là các chính sách, chạy qua những bộ máy huy động quan liêu, những chiến lược, tổ chức hậu cần, những học thuyết, những mưu mẹo, sự chỉ đạo, chạy tới chiến trường khốc liệt đẫm máu, nơi những người lính đương đầu với kẻ thù là những lưỡi cắt của bộ máy chiến tranh khổng lồ. Những người thuộc tuyến tiếp xúc là những đại diện quyền lực quân sự vô cảm của quốc gia.

Đó là chiến tuyến nằm ở Anzio, được hình thành và được phê chuẩn bởi những ủy ban cao nhất của nhà nước, được các cấp tham mưu và tướng lĩnh hàng đầu lên kế hoạch, được các tập đoàn quân, các quân đoàn, sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, trung đội, tiểu đội ra lệnh, và các mệnh lệnh được thực hiện bởi những người lính, những người chỉ có thể tuân theo mà không thể phản đối, tuân lệnh và chiến đấu.

Những cuộc đổ bộ xuống Anzio là một canh bạc được thiết kế ra để chiếm Rome một cách nhanh chóng. Chiếm lĩnh được miền nam nước Ý vào tháng Chín năm 1943, các tập đoàn quân Đồng minh của Anh và Mỹ vào cuối năm đó đều đã mệt mỏi. Lính tráng đã bị đánh liên tục dọc các ngọn núi dốc, những con sông nước xiết, những hành lang hẹp và những bình nguyên ven biển. Ở đâu họ cũng lọt vào con mắt và họng súng của quân Đức, một đối thủ rất thạo tận dụng các lợi thế tự nhiên về địa hình cho việc phòng thủ. Buộc phải nhượng bộ trước hỏa lực mạnh hơn hẳn của quân Đồng minh, quân Đức làm cho bước tiến của quân Đồng minh giảm tới mức chỉ còn như rùa bò. Quân Đức chặn quân Đồng minh trước cửa ngõ Cassino, ngay bên dưới Rome, điểm chỉ đường quan trọng duy nhất trong toàn bộ chiến dịch. Nếu quân Đồng minh không thể dẹp được những kẻ cố thủ lì lợm bằng một bước đột phá ngoạn mục thì họ sẽ chịu số phận bi đát là phải tiến theo một con đường dường như dài vô tận để tới thủ phủ của nước Ý.

Khi các lãnh đạo của quân Đồng minh phương Tây, Franklin D. Roosevelt và Winston S. Churchill, gặp Josef Stalin ở Tehran vào cuối năm 1943, họ đã quyết định thực hiện một cuộc tiến công vào Pháp từ nước Anh qua eo biển Channel, chiến dịch Overlord, vào mùa xuân. Vì cuộc tiến quân vào Normandy có vẻ như là một việc mạo hiểm đến liều lĩnh, Roosevelt và Churchill muốn giáng trước cho kẻ thù một đòn tâm lý thật mạnh. Rome, thành phố mà quân Đức kiên cường cố thủ, dường như quá thích hợp cho mục đích này. Nếu Rome thất thủ, rơi về tay quân Đồng minh trước khi lính Đồng minh vượt qua Channel, sự tiến quân vào Pháp sẽ có nhiều cơ hội thành công hơn.

Họ đã rót kế hoạch đó vào tai các tướng Harold Alexander và Mark WClark, những người chỉ huy lực lượng quân Đồng minh ở Italia. Vài tháng còn lại trước chiến dịch Overlord không cho phép các vị chỉ huy chiến trường có nhiều thời gian để tiến đến Rome. Vì cú thúc khó khăn và đau đớn đối với cái ủng Ý mang lại rất ít triển vọng cho thấy họ có thể đến được Rome trước mùa xuân, họ quyết định đi bằng đường thủy. Bằng cách đi vòng, tiến quân qua một địa hình khó khăn, bằng cách đưa quân lính và vũ khí, trang thiết bị và quân lương đến Anzio bằng tàu thủy, họ nghĩ họ sẽ tránh được các tuyến phòng thủ của quân Đức, đến được sau lưng chúng, đánh tập hậu, hất chúng ra khỏi Cassino, buộc chúng phải rút lui về Rome và rút xa hơn nữa. Những rủi ro về mặt chiến thuật là rất lớn, nhưng để chạy đua với thời gian họ buộc phải chấp nhận những rủi ro đó.

Mặc dầu việc chuyển quân bằng đường biển đến Anzio và những cuộc đổ bộ của quân Đồng minh diễn ra khá suôn sẻ, nguyên soái Albert Kesselring, người chỉ huy các lực lượng của quân Đức ở Ý không hề hoảng loạn. Chỉ huy lính của mình kiên quyết bám trụ ở Cassino trên mặt trận chính, ông ta tập hợp lực lượng lại ghìm chặt quân Đồng minh trong một khu vực nhỏ hẹp và chật chội quanh Anzio. Từ vị trí trên đồi Alban hướng ra cảng, các khẩu pháo của quân Đức vãi đạn tới tấp xuống những đơn vị lính quân Đồng minh. Từ phi trường gần Rome, máy bay của quân Đức oanh tạc và dội bom xuống các căn cứ của quân Đồng minh. Giữa biển Địa Trung Hải và núi, trên vùng Pontine Marshes cổ xưa được chính phủ hiện đại của Mussolini cho tiêu nước và khai hoang, những người lính đụng đầu nhau, giết nhau và chết. Lính quân Đồng minh và lính Đức đã đánh nhau giáp lá cà từ ngày 22 tháng 1 năm 1944, khi quân Đồng minh đặt chân lên bờ biển ở Anzio, cho đến ngày 25 tháng Năm, khi các lực lượng thuộc mặt trận chính kết nối được với khu vực đổ bộ.

Rome chỉ cách Anzio khoảng nửa giờ đi xe hơi, nhưng vào cái năm 1944 ấy, quân Đồng minh đã phải mất hơn bốn tháng mới tới được thành phố đó. Những người lính đã để lại vệt máu cùng nỗi thống khổ suốt dọc một vùng phong cảnh bị trái phá và bom đạn tàn phá tan hoang. Khu vực đổ bộ chỉ rộng chừng mười đến mười hai dặm, điểm xa nhất trong đất liền cũng chỉ xa tới bảy hoặc tám dặm, bị xiết lại, và ở bất cứ đâu cũng đầy rẫy hiểm nguy. Tình trạng dễ lộ, kiệt sức, chứng hoại thư do phải dầm chân suốt ngày đêm trong những cái hố sấp sểnh bùn loãng, cùng các vũ khí giết người đã khiến gần bảy mươi lăm nghìn người chết, bị thương, mất tích, bị què cụt, và gây đau đớn không kể xiết cho những người lính quân Đồng minh và lính Đức cùng những người dân Ý vô tội.

Đây là sự thật trần trụi của cái hoàn cảnh mà Woodruff đã kể lại trong câu chuyện của ông. Ông mang đến cho chúng ta không gì hơn là một gợi ý về bộ máy chiến tranh, bởi ông không quan tâm đến bộ máy quân sự. Ông chú ý đến cái tồi tệ khủng khiếp của chiến trường, một thế giới điên rồ, ông bị thu hút bởi hành vi của những con người bị kẹt cứng trong một hoàn cảnh không thể chịu đựng được và không tài nào hiểu nổi.

Bấy lâu nay chúng ta đã luôn cố ngụy trang, cố che đậy hoặc bỏ qua những gì xảy ra trên chiến địa, vì nó quá tàn khốc quá man rợ. Thay vì nói về những con người, chúng ta nói về những quân nhân, những đoàn quân, những đơn vị hay các lực lượng. Chúng ta nói về việc tiêu diệt kẻ thù hoặc đập tan ý chí chiến đấu của chúng, về việc chiếm lĩnh một địa bàn hay một quả đồi, về việc chọc thủng phòng tuyến địch, về việc diễn tập và đánh thọc sườn, ném bom và bắn trái phá, về việc giết hại dân thường, về việc tấn công và phòng ngự. Nhưng cái chúng ta thấy nổi lên trong phân tích cuối cùng là sự giết người. Dẫu những vấn đề tư tưởng hay những vấn đề chính trị là gì đi nữa, sự tồn tại của một quốc gia hay một xã hội hay một nhóm người dù đơn giản hay không đơn giản, điều kích động một người lính giáp mặt với kẻ thù là sự cần phải giết những người sẽ giết anh ta. Thú tính chăm chăm vào một mục đích này là nền tảng của chiến tranh, và Woodruff đã bóc trần nó không chỉ như cái bắt nguồn từ động cơ phi thường mà bắt nguồn từ nỗi sợ hãi và giận dữ sâu sắc.

Ernest Hemingway đã nói: “Đừng nghĩ chiến tranh không phải là tội ác cho dù nó cần thiết đến đâu, chính đáng đến mức nào. Hãy hỏi những người lính bộ binh và hãy hỏi những người chết mà xem”. Và Sidney Hook đã viết: “Vũ khí không mạnh hơn ý muốn đứng sau nó, và không khôn ngoan hơn những ý nghĩ dẫn dắt nó”. Như Woodruff đã nêu rõ, vấn đề là những con người trong cảnh tàn sát điên rồ không có thời gian cũng không có có xu hướng nhận biết hay suy nghĩ về các sự kiện, các đức tính hay chân lý, tư tưởng hay lối sống đã thúc đẩy chiến tranh. Tuyến lửa, thứ có thể không hơn gì một cái hố trên mặt đất, trong chốc lát loại những điều đó ra. Nhưng như Woodruff đã gợi ý, chúng tồn tại vượt trên và tồn tại đằng sau nỗi kinh hoàng, và rốt cuộc chúng làm những con người trụ được và làm cho hầu hết họ chịu đựng được sự tàn bạo.

Ngoài những chi tiết về thời gian, về địa điểm, về vũ khí, chiến tranh từ thời Thucydides, thời Xenophone cho đến chiến tranh Việt Nam, không khác mấy. Nếu sự thúc đẩy hàng đầu trên chiến trường là bản năng tự bảo toàn tính mạng, thì thường đứng ở vị trí thứ hai, thật nghịch lý, là lòng can đảm và sự hi sinh quên mình. Vì Woodruff hầu như không ca ngợi những trận đánh hay cái chết. Ông đã viết ra một bản cáo trạng chống lại sự vô ích của chiến tranh, một lời cảnh cáo chống lại sự thoái hóa và đê tiện, và, đặc biệt hơn, một bằng chứng về hi vọng. Ông viết: “Sau bốn năm chiến tranh, điều kì diệu đã chuội khỏi hầu hết mọi thứ trên đời. Lòng cao thượng vẫn còn đó”. Và nếu lòng cao thượng biến mất khỏi thế giới của chúng ta, lạy Trời đừng để điều đó xảy ra, thì sẽ chẳng còn gì hết ngoài sự tuyệt vọng.

William Woodruff, một giáo sư danh dự giảng dạy nghiên cứu sinh chuyên ngành lịch sử của đại học Florida, là một ví dụ sống về sức mạnh tinh thần của con người, về cách hàn gắn vết thương của những con người đã từng trải qua nỗi kinh hoàng trước cảnh chết chóc rùng rợn. Cống hiến cho công việc nghiên cứu và giảng dạy, với sự nhạy cảm thể hiện văn hóa và văn minh, giáo sư Woodruff là niềm vinh dự của trường đại học nơi ông công tác, và bất cứ nơi đâu ông tới.

Trong cuốn sách này của ông, nhân vật chính là chiến tranh. Những nạn nhân của nó là những người đàn ông chiến đấu trên chiến trường, những người không căm ghét kẻ thù của mình, mà căm ghét bản thân chiến tranh. Mũi nhọn của ông là cuộc đấu tranh để sống còn trong sự hủy diệt. Lô-gic của ông không phải về đúng hay sai mà về chết hay sống. Tác phẩm của ông miêu tả vị trí của con người trong chiến tranh và tập trung không phải vào các anh hùng cá nhân mà vào chủ nghĩa anh hùng đại chúng. Đạo đức ông đề cập đến là sự tiếp tục tồn tại trong hỗn loạn và đau thương, là lòng cao thượng, lòng cao thượng của sự hi sinh quên mình vì người khác.

Tại sao ông lại viết cuốn sách này? Ông trả lời: “Để kể về chiến tranh qua những ấn tượng rời rạc trong tâm trí của những con người”. Trong sự tìm tòi để thể hiện những cảm xúc đầy sức nặng đó, ông đã tìm kiếm “cái phổ quát, cái gần gũi, và cái vĩnh hằng”. Ông đã “vẽ lên một bức tranh về những con người tôi biết trong cái khung cảnh ngộ khốn khổ của nhân loại”. Tất cả những ai có mặt ở cả hai phía của mặt trận “đều bị kẹt trong cùng một tình thế tiến thoái lưỡng nan của con người”. Câu chuyện của ông là văn chương, và cũng là lịch sử, bởi như Woodruff nói: “Nếu lịch sử cho ta thấy con nười cảm nhận và suy nghĩ, sống và chết như thế nào trong quá khứ, thì mục đích của nghệ thuật, hay của văn chương, hay của lịch sử không khác gì nhau: tìm kiếm bản chất của thân phận con người”.

Đây thực sự là đề tài của ông, và ông đã xử lý nghiên cứu của mình bằng kỹ năng và hiểu biết hết sức sâu sắc. Tưởng chừng như đơn giản trong ngôn từ và hình ảnh, sợ hãi và bối rối, thẳng thắn và thản nhiên trong quan điểm, Mạch Buồn giúp chúng ta hiểu bản chất của con người trong một thế giới nơi mà cho đến nay vẫn chưa có giải pháp thay thế cho sự tàn phá của chiến tranh.

Martin Blumenson

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 17 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.